Còm của tôi trên talawas

5 phản hồi

Tôi đã không viết thêm gì nữa, sau hàng mấy trăm cái còm phản hồi bài viết của tôi. Chẳng có gì chán hơn là đi giải thích mình viết vậy có ý gì. Tuy vậy đêm nay đọc còm của ông Phú Thư, bỗng cảm thấy cần phải cảm ơn ông ấy.
Phú Thư nói:

Thưa ông Tôn Văn,

Chúng tôi đã hiểu rằng cả hai ông Huy Đức và Trương Thái Du đều mượn chuyện bên Đức để bày tỏ quan điểm của mình về tình trạng hiện tại ở Việt Nam, và quả thật rằng chúng tôi không dám nghi ngờ về kiến thức lịch sử của hai ông này. Nếu cứ mãi bàn xa hơn về tình hình đất nước của người của người ta thì e rằng đã đi xa ngoài đề tài của các ông ấy rồi, cho nên chúng tôi không dám trao đổi thêm về nước Đức. Chúng tôi chỉ muốn nhờ ông giải thích cho rằng các ông đã dùng cái lý gì để khẳng định rằng sự “thống nhất” (1975) của Việt Nam là “nỗ lực của toàn dân”?

Hy vọng rằng các ông sẽ giải thích bằng thứ trí tuệ sáng tỏ mà không đánh đồng toàn dân Việt Nam = toàn người cộng sản = toàn Đảng = toàn quốc… như là chúng tôi được biết bằng cái thứ trí tuệ rất ư là mù mờ. Xin chưa bàn đến hai chữ CHÍNH & TÀ, vì bỗng dưng tôi lại nhớ ngài chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết quá xá.

———————————————————

Thưa ông Phú Thư,

Tôi nhẹ cả người khi đọc comment của ông. Tôi viết bài này khá đứt đoạn vì ngại ngần, giữa thời điểm nhạy cảm với những người đọc cảm tính. Tôi cũng thấy talawas duyệt đăng trong sức ép vô hình của tự do ngôn luận mà tất cả chúng ta hướng tới. Cũng như Huy Đức, chuyện nước Đức với tôi cũng chỉ là nói mượn mà thôi. Tôi ngạc nhiên với niềm tin khá dễ dãi với các giá trị phương Tây của tác giả Huy Đức. Do đó trong bài này tôi đã dẫn câu thơ của Việt Phương.

Tôi cũng suy nghĩ khá nhiều về nội hàm thống nhất. Tôi tự hỏi tại sao ý tưởng cho rằng Bắc Việt xâm lăng Nam Việt chỉ tồn tại ở một thiểu số rất nhỏ. Với sự trải nghiệm giới hạn của mình, tôi tin hòa bình và thống nhất là ý chí chủ đạo của dân tộc Việt Nam trong các diễn biến “giải phóng” 1975. Đây chính là điểm mấu chốt nói lên sự khác nhau trong việc nhìn nhận vấn đề giữa tôi và Huy Đức.

Tôi không đổ hết trách nhiệm “độc lập – tự do” cho sự nghiệp “giải phóng” mà nêu rõ đó phải là nghĩa vụ “sau giải phóng” của mỗi người, nó chính là một phần nội hàm “văn hóa” mà tôi đề cặp đến.

Tôi theo dõi tất cả comment của mọi người trên talawas, blog Nguyễn Quang Lập, Huy Đức và Trương Duy Nhất. Chất lượng bạn đọc ở đâu thấp nhất thì ở đó người ta chửi tôi nhiều nhất, thậm chí họ chẳng hiểu tôi và Huy Đức thực sự nói về điều gì. Thật đáng buồn!

Truyện ngắn: Tự kỷ ám thị

3 phản hồi

Người ta hay gọi một người lớn ngây thơ là đứa trẻ con to xác. Ngược lại thì hơi khó hiểu. Nhưng rõ ràng, có gã già đầu nào đó trốn trong cơ thể thiếu niên của tôi. Tôi ít nói đến độ thành ngữ ngậm tăm hoàn toàn không phù hợp. Tôi không câm. Từ khi ý thức hiện hữu, tôi bị nghe nhiều quá, vượt tải. Sự im lặng đã được lựa chọn như một hành vi, chứ không phải thái độ.

Tôi không nhớ tiếng ru và sữa mẹ. Tôi chẳng rõ song thân mình bắt đầu cãi nhau như cơm bữa sau hay trước khi sinh tôi. Nào ai biết họ mâu thuẫn ra sao. Các màn tranh luận diễn ra bất tận, dai như một con mực ống trăm tuổi phơi khô quá nắng. Ngày này qua ngày khác, không kiêng giờ giấc, giọng kim và lời trầm đối nhau chan chát.

Hình như tôi bị phát vào mông lúc một tuổi, dù tôi rất ít khóc nhè. Cô ôsin theo lệnh bà chủ, chuyển kênh tivi liên tục tìm các đoạn quảng cáo mỗi lần cho tôi ăn dặm. Từ rất sớm, tôi thừa biết các chương trình quảng cáo chỉ là rác nghe nhìn, đầy dối trá. Tôi đã phản đối bằng cách cứ ngậm bột đến khi nó chảy thành nước. Mẹ tôi không ngần ngại sử dụng bạo lực để tôi phải nuốt.

***

Tôi cho rằng mọi âm thanh xung quanh mình chỉ toàn là tiếng ồn và ghét cay ghét đắng chúng. Nhà cũ tôi ở vốn là hiệu thuốc tây bán sĩ của mẹ và phòng mạch của cha. Hai mặt tiền thật lớn nhìn ra những con lộ giao thông và giao thương sầm uất. Khách ra vào nườm nượp. Tiếng xe cộ cháy tai. Khói bụi đặc quánh tựa sương sớm. Bụng mang dạ chửa nhưng mẹ tôi gần như không bỏ việc ngày nào. Bà chạy đi chạy lại như thoi đưa giữa phòng kinh doanh một công ty to, nơi bà có biên chế, và cơ sở làm ăn này. Có năm mẹ còn nằm trong nhóm những cá nhân đứng đầu danh sách nộp thuế nhiều cho nhà nước, được lên báo. Thiên hạ trầm trồ. Thực ra bà chỉ giúp công ty và các bác sĩ kê đơn lách thuế mà thôi. Công đoạn này phức tạp lắm. Tôi nghe phong phanh thế. Bà luôn tự hào vì đã chọn đúng cái nghề bất chấp suy thoái. Kinh tế lụn bại, con người bi quan luôn đẻ thêm bệnh. Khám bệnh và bán thuốc không phát đạt mới lạ. Thuở đời, ai lại trả treo với chính sinh mạng của mình?

Ổ bụng mẹ chật hẹp và ngột ngạt, xoay trở rất khó. Tôi định vòng hai tay che tai nhưng hậu đậu thành ra nhau quấn cổ. Mấy lần tôi suýt chết vì máu không lên được não. Mẹ sinh mổ cấp cứu cũng do cớ sự ấy. Cha tôi luống cuống, nổi nóng với trực ban lề mề. Bà nọ thù vặt, liền xếp mẹ con tôi vào căn phòng cạnh mô tơ thang máy. Vừa mở mắt, tôi đã ê lợi bởi tiếng rin rít khó chịu trong một bệnh viện yên tĩnh và vắng lặng bậc nhất xứ này.

Khi tôi lên sáu, cha mẹ li dị. Cha dùng mọi thủ đoạn để giành quyền nuôi tôi. Đừng lầm. Ông không yêu tôi hơn một vài đứa con rơi của ông như đồn thổi. Ông muốn là người chiến thắng trước mẹ. Thực ra ông lọt vào bẫy của bà. Mẹ chỉ lưu ý việc phân chia tài sản. Gã luật sư láu cá mẹ thuê đã khiến cha tôi phân tán tư tưởng. Ông mải giành con mà quên bẵng thị trường bất động sản đang sốt co giật.

Tôi bị ném vào một trường nội trú có tiếng vì sĩ diện của cha. Nó uy tín đến nỗi các bậc phụ huynh đáng kính không thèm để ý môi sinh kinh khủng xung quanh. Cổng trường bị chèn ép bởi dãy phố chợ trời thượng vàng hạ cám, từ đồ ăn cắp đến hải sản và thịt rừng vĩnh viễn tươi ngon trong phân urê hoặc hóa chất công nghiệp.

Tôi lỡ sinh ra trong tiếng ồn thì phải tập sống chung với nó hoặc phớt lờ. Tôi đóng dần lỗ tai mình lại, song song với việc tự rèn luyện để trở thành một người đọc khẩu hình nhuần nhuyễn. Trong lớp tôi luôn hướng lên bảng đen, nơi cô giáo đứng khua môi như máy. Ngoài giờ thì tôi dán mắt vào truyền hình, vào những cái mồm từ nhiều vùng miền khác nhau. Tôi chết mê chết mệt các chương trình thế giới động vật. Tôi yêu quí loài thú bởi chúng ít nói còn hơn tôi nữa. Dù sao tôi vẫn luôn bị ép nói, ép đọc trong lớp.

Tôi học khá đều các môn. Chính sự khó nhọc khi giao tiếp của tôi làm cô giáo chủ nhiệm nghi ngờ tôi bị tự kỷ ám thị. Ơn trời, tôi được cha đưa đi khám bệnh khắp nơi. Những cuộc du ngoạn hiếm hoi, chẳng đặng thì đừng, đôi khi làm không khí thoáng hơn. Các bác sĩ chuyên khoa múa mép đắn đo, trì hoãn đưa ra kết luận cuối cùng. Cũng vì cha tôi khá giả. Nói thẳng tuột tôi không bị bệnh, hóa ra họ tự cắt mạch thu nhập của mình ư?

Cha tôi là bác sĩ phẫu thuật. Ông bí mật kinh doanh nội tạng. Phòng mạch của ông là một địa chỉ tư vấn uy tín nhất nhì thành phố này. Các con bệnh “tiền nhiều như quân Nguyên” thường truyền nhau số điện thoại của cha. Bệnh nhân cần thay thận? Cha tôi sẽ thông báo xuống các chân rết tìm giúp một loạt “cảm tình viên” tiềm năng đang ôm mộng “xóa nghèo”. Mọi xét nghiệm tiền phẫu đều do chính cha tôi thực hiện và lưu hồ sơ cẩn thận. Càng về sau cha càng nhàn. Ngân hàng nội tạng sống vật vờ bên lề cuộc sống của ông, lắm phen đáp ứng cho cả người nước ngoài. Để tránh luật pháp nhòm ngó, cha luôn luôn đưa con bệnh và người bán nội tạng du lịch có thời hạn ở một số quốc gia tân tiến về y tế trong khu vực. Công việc rất suôn sẻ. Xuất ngoại về ông lão sáu mươi có thể lấy vợ hai, gã lực điền bần cùng thừa tiền sửa nhà, chữa bệnh cho con. Cha tôi có thêm bát cháo… yến gửi nhờ nhà băng.

Cha và mẹ vẫn gặp nhau luôn, không vì thỉnh thoảng phải bàn giao tôi. Cha cần kê đơn đặc biệt chống thải ghép theo danh mục thuốc tồn kho của mẹ. Có lần tôi hỏi mẹ cha giàu cỡ nào. Khẩu hình mẹ nhoay nhoáy, cha có thể nuôi mười gia đình đến khi ông trăm tuổi. Tôi thắc mắc mẹ cũng thế chứ. Mẹ vênh mặt lên: “Còn khuya! Mười cha mày chưa bằng tao”. Tôi nhờ mẹ phân biệt giúp tôi giàu và no. Mẹ chun mũi “Như nhau cả”. Tôi mô tả những con thú buồn ngủ trong các thước phim thế giới động vật. Loài hung dữ nào cũng trở nên hiền lành vô cùng khi đầy bụng. Sư tử chỉ săn hưu nai lúc đói, bằng bản năng. Cha tôi vẫn trữ mồi khi đã no dăm kiếp. Đó là sự tham lam. Đó đích thị là dã man.

Mẹ cho tôi một cái tát thật đau. Bà giẩu mỏ “Đồ bệnh hoạn, tự kỷ ám thị. Mày câm đi”. Tôi không ngạc nhiên. Nếu vẫn tròn mắt như bị phát vào mông lúc một tuổi, thì tôi đã không đóng tai và chỉ đọc khẩu hình trên miệng người đời.

***

Cha tôi bảo trồng cây dưỡng tâm, nuôi cá dưỡng thần. Ông có hẳn một trang trại bạt ngàn hoa trái trên ngọn đồi thấp cách thành phố hơn trăm cây số. Mỗi kỳ nghỉ hè tôi chỉ mong được cha đẩy về đó như khất nợ. Khi ấy tai tôi sẽ lại mở ra, nghe gió luồn qua những mầm cây đang cựa quậy trong đêm. Bạn của tôi là hẳn một trời sao. Vạn chớp nháy triệu năm bỗng thành lời dịu ngọt trong mắt. Tôi gọi những vệt băng sáng là nụ cười của bầu trời. Chúng lấp lánh niềm lạc quan cô độc, nối đến tận bình minh đỏ nhừ (hứa hẹn toàn nóng nực, bức bối).

Ban ngày, nếu không quẩn quanh giữa vòng rào kẽm gai khép kín quả đồi mênh mông, tôi lại lên tầng áp mái. Bên một khung cửa chớp hút gió và lấy sáng hình tròn, tôi dùng chiếc viễn vọng kính có độ nét cao quét xuống những mái lá xa tít. Hình như đó là nửa xóm nghèo (nghĩa là nghèo hơn cả nghèo). Có lẽ họ nhập cư từ một vùng đồng bằng đất chật người đông phía bắc. Khẩu hình của họ nhanh, nhẹ, các âm tiết dứt khoát.

Hơn chục nóc nhà ôm ấp một lớp tiểu học vách tre nứa tan hoang. Bảng đen rỗ dầy như gương mặt một tên ma cô dắt gái trên phim ảnh. Con người sống với nhau không hẳn thừa chan hòa. Ánh mắt họ luôn trĩu nặng sự thiếu thốn nhiều mặt.

Tôi bỗng bàng hoàng nhận ra một cậu bé lem luốc trong xóm và tôi giống nhau như hai giọt nước. Chắt lọc thông tin từ viễn ảnh sinh hoạt và những động thái hằng ngày của cậu, tôi tạm ước đoán cậu chẳng có cha. Thi thoảng rậm rật chân tay phá phách, cậu hay bị bà lão tóc bạc lưng còng chửi là đồ con hoang. Mẹ cậu lao động theo mùa vụ rất bấp bênh. Ở đây học sinh tiểu học bị dồn hết vào một lớp. Cậu đã xong ban chót, chưa quá lớn để đi làm giúp mẹ nên đành rong chơi, đánh khăng, đào dế, bắt chim cho hết tuổi. Mẹ cậu bảo còn phải đầu tư nhiều cơm gạo thì cậu mới cứng cáp, mới có thể về xuôi nhập với giòng người lao động không kỹ năng.

Một buổi trưa cậu đang nằm võng nghêu ngao hát một bài ca thiếu nhi về trường lớp, đường làng, hàng cọ và mùi thơm sách vở thì mẹ về. Mẹ cậu than vãn công ăn việc làm. Cậu bảo sáng nay gió mát ru cậu tuột vào một giấc lành. Trong mơ cậu thấy mình được làm chủ một chiếc hộp gỗ chắc chắn, gồm xi và bàn chải đánh giày mới cứng như anh Cu nào đó. Ngày ngày cậu lang thang giữa phố thị, đêm ngủ lang vắt vẻo bậc hè hàng quán, nhưng kiếm được khối tiền gửi về cho mẹ.

Bà mẹ cay đắng ôm con vào lòng vỗ về. Bà bảo thành phố nhiều cạm bẫy lắm. Đánh giày cũng có đại ca, ông trùm khu vực và phải cống nộp tô thuế. Rồi bà cũng đi về phía ánh sáng đèn điện với cậu nhưng không phải lúc này. Bà mong cậu sẽ gặp được cha mình trong hàng triệu người đàn ông mặt mũi bóng nhẫy nơi ấy. Bà sẵn sàng đổi lòng căm thù một kẻ cưỡng dâm lấy một người cha giúp cậu. Chỉ cần cậu có nơi nương tựa, có mảnh ruột thịt dư thừa, để mà tự tin kiếm sống…

***

Cuối tuần. Cha tôi đi nước ngoài. Chẳng biết ông làm chuyến du hí hay tháp tùng người bệnh thập tử nhất sinh. Tôi phải ngủ lại với nhóm bạn ngoại tỉnh. Bị xem tivi hai ngày trên tầng thượng ở nhà hay đứng đến tê chân bên cửa sổ trường học nhìn xuống chợ trời, với tôi đều nhàm chán như nhau.

Kìa… Hình như hai mẹ con người hàng xóm của tôi. Họ đã xuôi đồng bằng rồi ư? Cậu bé ngồi trên chiếc hộp gỗ mơ ước. Bà mẹ đang xoa dầu gió lên vết bầm hình năm ngón tay khéo in lên má cậu. Ánh mắt xa xót. Đáng lý bà nên dùng bọc nước cam vàng khè ướp đá chườm cho cậu, thay vì cứ ép thằng bé uống hết, như sợ phí của.

Khoảng cách giữa tôi và họ khá xa khi nhìn bằng mắt thường. Khẩu hình tôi đọc không trơn tru và đầy đủ:

“…máu loãng… người ta chê… không tới lượt…”

“Mấy tuổi… sẽ vào đó… giúp…”

“Lá gan… đi lâu… chăm nom con…”

“… sợ… chết…”

“Bác sĩ… điện thoại… tuần sau… uy tín… nổi tiếng… nhân đạo…”

“Đừng mẹ… Đừng mẹ… lớn nhanh…”

“Về quê… tiền… nhà… quán nhỏ… đầm ấm… vô lo…”.

***

“Ba về trước đi. Con muốn đến thăm một người bạn”. Tôi nhất quyết không bước vào xe. Sao tôi ghét mùi nước hoa nồng nặc dậy ra từ mặt da, mặt nệm trong ấy đến thế.

“Thằng dở người” – Cha tôi vừa thở vừa mắng sau khi đã lôi tuột tôi vào băng ghế trước – “Nếu người ta thay được óc, hôm kia tao đã mua cho mày một bộ óc”.

“Đồ sát nhân!” – Tôi hét lên – “Chẳng lẽ bà mẹ tội nghiệp đi xét nghiệm để bán gan lại chào hàng thêm bộ não của con mình?”.

“À, tao chỉ chớm nghĩ khi bà ta kể về gia cảnh thôi” – Cha quay ngoắt sang, trợn mắt nhìn tôi. Lưỡi ông liu líu, môi mấp máy: “Sao… sao mày biết mụ ấy…?”.

“Ông lái cẩn thận vào. Chẹt xe sẽ đi tù đấy. Vô tình giết người là mục xương. Không nhởn nhơ như cố ý giết người, buôn cỗ lòng đồng loại đâu” – Thách thức là võ của tôi mà, từ những lần ngậm bột thành nước cơ.

“Con mẹ mày dạy mày thế phải không? Đồ vô ơn! Tao làm gì thì cũng vì mày. Mày sẽ đi du học bằng những đồng tiền mày cho rằng lấm máu?”.

“Ông không buôn xác tử tội, không tham gia giết người lấy nội tạng chứ?”

“Mày đọc báo lá cải cho tao nghe đấy hả? Chuyện mấy xứ man mọi ấy còn xa nơi này lắm”.

“Nếu lúc tôi sắp đẻ, ông có lên trang trại, có vào rừng vào suối rồi hiếp dâm ai đó thì ông liệu mà đi tìm con ông đi. Nó giống ông như đúc như tạc”.

Tôi dứt mắt khỏi cha. Tôi không nhìn miệng ông nên không rõ ông nói gì. Tôi điếc vĩnh viễn rồi mà. Cha vừa lái xe vừa lấy điện thoại ra, khua chân múa tay. Tiếp theo, điện thoại của tôi rung bần bật. Mẹ tôi gọi. Có điều gì làm bà bực mình đến nỗi quên mất rằng tôi không nghe được. Bà phải nhắn tin cho tôi chứ. Một lúc sau mới có chữ: “Thằng bố mày điên rồi hả? Chuyện trăng hoa lăng loàn của lão tao có kể cho mày nghe bao giờ đâu mà mày đặt điều?”.

Về đến nhà tôi cứ ngồi lỳ trong phòng khách. Cha lấy lại bình tĩnh một cách lạnh lùng. Ông rót rượu rồi ực từng tợp lớn. Bể cá cảnh lung linh đèn trang trí hắt lên khuôn mặt cha những vệt xanh quỉ sứ. Mãi đến khi say mèm ông mới mở cửa và chỉ tay ra đường, lép nhép môi: “Mày đi tìm em mày đi. Mày biết nó ở đâu phải không? Muộn lắm rồi, mẹ nó đã lên máy bay lúc sáng. Tao không thể hoãn ca mổ ấy lại dù nó chưa bắt đầu. Bệnh nhân tai to mặt lớn chết thì cả sản nghiệp của tao sẽ tiêu tan. Hay mày thích bị gậy?”.

“Tôi sẽ theo nó đánh giày chứ không về lại đây đâu”. Tôi không phải một đứa trẻ tự kỷ ám thị. Tôi thừa quyết đoán để bước ra khỏi nấm mộ cho kẻ sống, nhưng lại không đủ can đảm nói một câu cay nghiệt hơn với người cha tội lỗi của mình.

Vỉa hè hầm hập của mùa khô đón tôi. Dòng thác xe cộ gầm rú, lầm lũi cuốn mình vào ánh đèn đêm đô thị như muôn vạn con thiêu thân không biết mình sẽ bị nướng trong lửa. Những cao ốc cá mập sáng trưng, miệng ngoác to lười nhác, lơ đễnh nuốt vào từng mảng người sang trọng sạch sẽ nhưng vô hồn như phù du đại dương.

Tôi nghe. Tôi nghe rất rõ. Nhảy nhót run rẩy trên nền tạp âm bát nháo phố phường là tiếng khóc của chú nai con lạc mẹ đang bị bầy sói ức hiếp. Tôi chỉ là một đứa bé mỏng manh yếu ớt, thừa kháng thể nhân văn nhưng chưa mất hẳn khát khao ruột thịt. Em trai tôi sẽ cho tôi sức mạnh và niềm tin nguyên thủy, trong bản năng sinh tồn vốn có. Tôi chính là nó, là giấc mơ đô hội bẽ bàng. Vẻ mặt nhem nhuốc của em không hề mất đi nơi tôi, nó chỉ ẩn lắng vào phía trái hình hài bóng bẩy này, rồi rỉ ra bất tận trên khóe mắt u sầu trước tuổi. Chúng tôi thà mắc kẹt giữa dòng chảy xú uế, còn hơn buông thả, để rồi suốt đời giam mình trong bể phốt của một lối sống đang lên ngôi.

Tội nghiệp những kẻ hèn…

9 phản hồi

Định viết một bài “nghiên cứu” phản ứng của người đọc sau bài “Đọc bức tường Berlin của Huy Đức”, nhưng ngẫm vụn vặt quá, lại thôi.

Nói chung là chuyện cảm tính “chửi” lý tính thì chẳng xa lạ gì.

Một số khá đông các còm phản ứng bài viết của tôi một cách thiếu văn hóa, dẫn đầu là bài của nhà văn – nhà giáo Phạm Toàn chỉ gây cho tôi sự thương hại chính họ. Thật vậy, vì hèn nhát nhưng thích nói chuyện dân chủ và cách mạng các thứ, nên họ đã đồng hóa bản thân mình với Huy Đức, đau nỗi đau mất việc của Huy Đức, và cuối cùng chỉ nhìn bài viết của tôi bằng cảm tính bồng bột và thiếu suy nghĩ.

Đặc biệt Phạm Toàn, từ bài Bauxite trở đi, ông ấy cứ nhắc đến công an, cái còng trong các bài viết chụp mũ tôi.  Tôi chợt nhớ đến bác Huệ Chi từng kể đã tưởng mình bị bắt khi an ninh sân bay mời vào khám hành lý. Hóa ra những người chủ trương trang web Bauxite đang bị nỗi ám ảnh bắt bớ tù tội. Tâm lý này đã được nhà văn Orhan Pamuk lý giải qua tác phẩm Tuyết. Xin dẫn lời lãnh tụ cách mạng của Tp Kars, kịch sĩ Sunnay: “Tôi cũng cực hèn, thật đấy! Ở đất nước này chỉ những kẻ hèn nhát mới sống sót được thôi. Nhưng như mọi kẻ hèn nhát, con người vẫn tưởng tượng ra một ngày đẹp trời sẽ làm được một việc cực kỳ anh hùng, đúng không nào?”.

Nếu những người như nhà văn Nguyễn Khải, Tô Hải xem việc nói ra mình là thằng hèn là đủ, là hoàn thành sứ mệnh cao cả  sau một đời… hèn; thì Phạm Toàn có lẽ đang ảo tưởng mình đã hết hèn bằng hành động chống khai thác Bauxite và chống Tàu bằng… miệng.

Đấy, tôi tội nghiệp họ là vì vậy.

P/S: Các bạn thích chính trị xã hội nên tìm đọc quyển Tuyết của Orhan Pamuk, Nhã Nam in, các bạn sẽ thấy có sự tương đồng đáng ngạc nhiên giữa xã hội VN và Thổ, như đã từng thấy qua áng văn của Axit Nêxin.

Lê Văn Tám có thật hay là nhân vật hư cấu?

5 phản hồi

Lê  Văn Tám! Anh là ai?


Nguyễn Văn Thịnh


Dư luận từ râm ran đến ngày càng rộ lên về chuyện tấm gương hy sinh anh hùng của một thiếu niên ở Sài gòn trong những ngày đầu Nam bộ kháng chiến mà trong tâm trí  của nhiều thế hệ người Việt Nam, hơn nửa thế kỷ qua vẫn coi như ngọn đuốc sống sáng ngời tinh thần yêu nước.

Người ta càng lưu tâm nhiều hơn vì tin ấy chính thức tung ra từ mấy người trong giới sử đã có thương hiệu qúa quen thuộc với nhiều người. Trước hết là ông Phan Huy Lê  nói tại cuộc gặp mặt các nhà làm phim ở Hà Nội đầu năm 2005, lại có tạp chí Xưa và nay của ông Dương Trung Quốc đăng hồi ký của nhà hoạt động cách mạng lão thành ở miền Nam là ông Dương Quang Đông xác nhận điều đó. Sự kết hợp nhịp nhàng giữa báo nói, báo viết về một sự kiện thiếu tính chân xác của lịch sử đang thành một chấn động dây truyền trong lòng người lẽ ra không đáng có!

Theo ông Lê, đấy là  điều ông cần phải nói ra, trước hết là trách nhiệm của người làm sử có lương tâm, sau là  trả món nợ với anh Trần Huy Liệu – bậc thầy của ông đồng thời là nhà cách mạng lão thành kiêm sử gia đáng kính.

Dựa vào tin thu trên mạng, tóm lược như sau: Lúc đang làm Bộ trưởng Thông tin tuyên truyền (thời điểm 1946-1948?), ông Trần Huy Liệu đã viết về một nhân vật thiếu nhi Lê  Văn Tám tự tẩm xăng vào người và chạy vào đốt kho xăng của giặc Pháp ở Thị Nghè. Ông Lê nói: Lúc sáng tác ra câu chuyện Lê Văn Tám, anh Liệu có nói với tôi rằng: Bây giờ vì nhiệm vụ tuyên truyền nên tôi viết tài liệu này, sau này khi đất nước yên ổn, các anh là nhà sử học nên nói lại giùm tôi, lỡ khi đó tôi không còn nữa. Lúc đó ông Trần Huy Liệu đã là một nhà hoạt động xã hội lớn thì sao có thể thổ lộ gan vàng với cậu bé Lê mươi mười lăm tuổi?!

Nhà văn Phan Vũ thì  kể rằng ông không biết chuyện đốt kho xăng có  thật không nhưng theo yêu cầu của công tác tuyên truyền, ông dựng phim truyền hình (?) vào dịp Cách mạng tháng Tám nên lấy tên Tám đặt cho nhân vật là hợp với tập quán của người Nam bộ. Tình tiết này không hợp lý vì mãi tới năm 1973, Hà Nội mới có truyền hình, tuy nhiên cho tới nay chưa từng dựng một phim nào về Lê Văn Tám.

Được biết thời điểm ông Phan Vũ viết vở kịch Lửa cháy lên rồi với nhân vật trung tâm là thiếu nhi Lê Văn Tám vào khoảng 1953-1954 ở chiến khu Nam bộ và đã diễn cho bà con vùng kháng chiến xem trước khi tập kết ra Bắc. Suốt mấy năm sau, vở kịch được công diễn trên nhiều sân khấu các thành phố lớn và học đường ở miền Bắc mới giải phóng, góp phần nhen lên trong lòng lớp thiếu niên lúc ấy ngọn lửa của lòng yêu nước. Sau đó không thấy vở kịch công diễn nữa, vì sao thì không rõ nhưng hình ảnh ngọn đuốc sống đã in đậm trong lòng nhiều người, nhất là khi cuộc chiến đấu chống Mỹ xâm lược càng vào những thời điểm gay go quyết liệt, tấm gương của những dũng sỹ diệt Mỹ ở miền Nam sáng lên cùng với hình ảnh của ngọn đuốc sống Lê Văn Tám như một dòng chảy tự nhiên từ cậu bé Gióng sọ dừa đến Trần Quốc Toản Phá cường địch báo hoàng ân

Nhiều người lớn tuổi kể  rằng trong kháng chiến chống Pháp, ở vùng tự  do phía Bắc, có viết chuyện nhiều thiếu niên nêu những tấm gương hy sinh dũng cảm, trong đó có chú bé đốt kho xăng ở Sài Gòn. Chuyện do ai viết ra thì không nhớ và cái tên Lê Văn Tám xuất hiện từ lúc nào, do ai khởi xướng cũng không không mấy ai để ý. Vậy có tư liệu lưu trữ lại không?

Trên báo Cựu chiến binh TP.HCM số 269 ngày 20/10/2008, có nêu ý kiến trao đổi của Đại tá, hội viên Hội Cựu chiến binh quận X Võ Thanh Khiết như sau:

Kho xăng dầu Thị  Nghè thực ra là một trạm trung chuyển của hãng dầu Shell để xuất hàng cho các khách hàng mua sỉ  không lớn lắm, thường đến nhận hàng bằng xe tải hay ghe thuyền. Nó nằm trên bờ tây rạch Văn Thánh, ngay sát đầu cầu trên đường Ngô Tất Tố ngày nay, cách chợ Thị Nghè vài trăm thước, nên thường được gọi là Kho xăng dầu Thị Nghè. Thực hiện chủ trương tiêu thổ kháng chiến, ngày 17/10/1945, Lê Văn Tám được giao nhiệm vụ đột nhập vào kho này, dùng chai xăng đốt phá, bị xăng bắt cháy vào người thành ngọn đuốc sống và anh dũng hy sinh. Gương anh dũng hy sinh trong khi làm nhiệm vụ của Tám đã động viên chúng tôi rất nhiều trong chiến đấu lúc bấy giờ. Đó là chuyện có thật 100%, không phải hư cấu như người ta nói.

Còn Kho đạn Sở thú, thường gọi như  vậy do nó nằm trên  đường Docteur Angier (nay là  đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, ngang với Bảo tàng lịch sử  thành phố trong khuôn viên Thảo cầm viên) là  một kho đạn quy mô không lớn, nghe nói nó thuộc Trung đoàn thuộc địa số 11 (11è Ric) trước kia, nó cách Kho xăng dầu Thị Nghè hơn 500 mét, bị một đơn vị vũ trang của ta đánh nổ đêm 8/4/1946 nhằm triệt phá tiềm lực chiến tranh của giặc.

Cả  hai sự kiện lịch sử trên diễn ra cách nhau về thời gian, không gian và khác biệt nhau cả về tính chất hồi đầu Nam bộ kháng chiến, được báo chí kháng chiến và báo chí nội thành Sài Gòn lúc ấy phản ánh khá đầy đủ, có thể sưu tra để phản ảnh lịch sử đúng sự thật vốn có của nó.

Vậy là sự kiện mà  ông Dương Quang Đông nêu ra mới chỉ đúng nửa phần sự thật vì đó là trận đánh Kho đạn Thị Nghè với sự hy sinh của các chiến sỹ  Kakim, Kỷ và Ny, coi như là có thật. Còn đánh cháy Kho xăng Thị Nghè lại là  một sự thật khác nhưng người chiến sỹ cảm tử ấy là ai?

Vậy ngọn đuốc sống là hoàn toàn không có thật hay chỉ cái tên là không thật? Đặt cho cùng một nhân vật cái tên Tám – Lê Văn Tám có là sự trùng hợp ngẫu nhiên giữa nhà sử học, nhà văn và dư luận ở những thời gian và không gian khác nhau không? Ai có thể làm rõ ra chuyện này?

Chúng tôi trực tiếp gặp  Đại tá Võ Thanh Khiết vào dịp Quốc khánh năm nay (2009) và lược nhanh vài nét trong buổi chuyện trò  thân tình vui vẻ.

– Người viết: Xin ông cho biết sơ luợc trích ngang về qúa trình tham gia kháng chiến.

– Đại tá VTK: Tôi sinh năm 1929, quê ở xã Tân Bửu, Trung Huyện, tỉnh Chợ Lớn (nay thuộc địa bàn huyện Bình Chánh và Bến Lức). Năm 1940 tôi lên học ở Sài Gòn. Sau ngày Nhật đảo chánh Pháp 9/3/1046, tôi về  quê, tham gia Thanh niên tiền phong. Ngày 24/8/1945, tham gia cướp chính quyền ở tòa Bố tỉnh Chợ Lớn. Sau đó làm liên lạc cho báo Kèn gọi lính của ta. Sau ngày 23/9,  Ủy ban kháng chiến Sài gòn rút ra đóng tại xã tôi thì tôi làm liên lạc cho Ủy ban, thường xuyên ra vào thành phố lấy tin tức. Lúc đó vùng Thị Nghè còn là ngoại đô, là nơi tranh giành quyết liệt giữa ta và địch, có cả lính Vệ quốc đoàn Nam tiến cùng chiến đấu với các lực lượng võ trang của địa phương. Khoảng cuối tháng 10 năm đó, khi quân của Le Clerk tăng viện cho mặt trận Sài gòn thì quân ta rút khỏi Thị Nghè. Năm 1947, tôi vào du kích Hạ Trung Huyện, rồi lên tiểu đoàn 308 Nguyễn An Ninh do anh Huỳnh Văn Một chỉ huy, liên tục chiến đấu ở vùng Chợ Lớn cho đến năm 1950…

– Người viết: Lúc đó  ông có biết chuyện cháy Kho xăng Thị Nghè  không?

– Đại tá VTK: Thời gian đó cơ quan Ủy ban còn đóng sát nách Sài Gòn, tôi ra vào nội đô thường xuyên sao không biết. Tôi nói rõ để anh biết. Khi tôi là học sinh trường Pétrus Ký, điểm chính hiện nay thì quân Nhật biến thành trại lính của nó rồi. Trường tôi chuyển về học tại trường Trưng Vương ngày nay, sát ngay Sở thú, kế bên là Thị Nghè. Đám học sinh nội trú chúng tôi thường ra đó chơi, đá banh rồi nhảy xuống tắm ở cái hồ kế đó, nước trong và mát lắm. Bởi thế vùng này tôi rành lắm.

– Người viết: Vậy Kho xăng Thị Nghè và Kho đạn Sở Thú là hai căn cứ khác nhau?

– Đại tá VTK: Đúng! Khác nhau về địa điểm và cả về tầm cỡ. Thực ra gọi là Trạm xăng Thị Nghè thì  đúng hơn vì nó chỉ là một Đại lý bán sỷ xăng dầu của tư nhân thì làm chi có lính bố phòng. Nó nằm kề bên bờ con rạch gần chợ, thuyền ghe hoặc xe ô tô đều ra vô được. Tôi còn nhớ rõ đó là một căn nhà thấp, nền đất, không rộng lắm, mái tôn xập xệ, vách là những tấm gỗ mảnh đóng thưa, trong nhà chứa nhiều thùng phuy, tới nơi sặc hơi dầu. Chung quanh có một lớp rào kẽm gai sơ sài, có ai đột nhập vào cũng không khó khăn gì. Còn Kho đạn Sở Thú là một doanh trại, toàn lính lê dương canh gác, lại gần Tổng hành dinh của tướng Le Clerk nên được bố phòng cẩn mật.

– Người viết: Cả hai trận  đánh ông đều biết?

– Đại tá VTK: Đạn nổ điếc tai, lửa khói ngất trời thì cả thành phố ai mà không biết. Hôm sau đồn rầm lên những tin truyền khẩu rồi mới là trên báo chí. Do đơn vị nào đánh thì không biết nhưng thiệt hại của nó và tâm lý địch, ta thì biết. Dù không chính xác nhưng báo chí của nó đã nêu lên một phần sự thật.

– Người viết: Lúc đó  ông đã biết người đánh trạm xăng là ai? tên gì  và do đơn vị nào tổ chức chưa?

– Đại tá VTK: Theo tôi thì  trận đánh Kho đạn ngày 18/4/1946 phải có tổ  chức chu đáo và có nhiều người phối hợp mới tiến hành được. Các anh chịu khó tìm xem. Trong hồi ký Những năm tháng không thể nào quên của Đại tướng Võ Nguyên Giáp do nhà văn Hữu Mai chấp bút có nói đến trận đánh này. Còn cháy Trạm xăng Thị Nghè tháng 10 năm trước thì dù tổ chức hay cá nhân nào có ý đồ đều dễ thực hiện, nhất là lúc đó phong trào tiêu thổ kháng chiến đang cao. Dù chỉ là một trạm chứa nhưng vài chục tới trăm phuy xăng dầu 200 lít cùng cháy rần rần thì cả thành phố đều biết, gây sự phấn chấn trong lòng người lúc đó đang căm thù quân xâm lược. Trận nào báo chí nó cũng chỉ nói là bị Việt Minh đánh. Nhưng vụ cháy trạm xăng, qua tin tức nội bộ nói là do một em bé tên Tám đốt. Em Tám chứ không nêu đủ họ danh Lê Văn Tám như sau này đâu.

– Người viết: Ông có nghe những thông tin trái chiều về ngọn đuốc sống hay không?

– Đại tá VTK: Tôi có  nghe và cảm thấy buồn. Ông Trần Huy Liệu là một sỹ phu tâm huyết, người mà trước sau tôi vẫn rất kính trọng. Tôi chỉ nói được rằng vụ  cháy trạm xăng Thị Nghè là có thật, tôi là một chứng nhân! Còn tiến hành thế nào thì làm sao biết được. Vùng này lúc đó phức tạp, cả ta và tây đều không làm chủ được, tập trung rất nhiều trẻ em lang thang cơ nhỡ và có tinh thần đánh tây hăng lắm. Mà vũ khí chỉ cần một que diêm hay cái hộp quẹt thôi. Khi lửa phật lên, xăng phụt ra bắt cháy, ai cũng phải có phản xạ vọt chạy thoát ra. Gọi là ngọn đuốc sống cũng không có gì là qúa. Có thể nào ông Trần Huy Liệu hư cấu ra một chuyện trùng với sự thật đã xảy ra trước đó cả năm trời, ở cách xa ông hàng ngàn kilômét?! Còn cái tên Tám xuất hiện từ đâu, muốn làm rõ ra cũng không là điều dễ. Hãy coi như một cái tên lịch sử.

Trong cuộc sống, nhất là  trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt, nhiều sự kiện bi hùng khó được minh xác cả về hành tung và nhân vật. Khắp thế giới này ở đâu cũng thế, nó thường bị phủ lên màu huyễn hoặc tùy thuộc sự kiện ấy lớn hay là nhỏ cùng với bối cảnh xảy ra. Nhất là khi nó được diễn tả bằng những hình tượng văn học thì tùy theo tư duy trừu tượng của người nghệ sỹ sáng tạo nên những nhân vật hoặc phi lý thì chết yểu, hoặc hợp với yêu cầu chính đáng của lịch sử nhân vật sẽ thành thần tượng bất tử trong sinh hoạt tinh thần của một cộng đồng. Tại sao người Việt tin Phù Đổng Thiên Vương là có thật dù ai cũng hiểu nó pha nhiều huyền thoại? Tại sao người Trung Hoa tin ông Quan Vân Trường đức độ, tài ba, uy vũ cả lúc sống đến khi đã chết? Tại sao ở thế kỳ XV, khi nước Pháp không còn được là cái bóng của chính mình, người ta lại tin cô thôn nữ thất học Jeanne d’Arc, lúc 12 tuổi đã nhận được thiên khải của Chúa truyền cho sứ mệnh thống lãnh quân đội Pháp đánh bại quân xâm chiếm Anh? Tại sao người nữ chiến binh dũng cảm ấy lúc 18 tuổi cầm quân đã qua mặt bao nhiêu thống lĩnh, được coi như người làm nên chiến thắng cho nước Pháp trong cuộc chiến tranh 100 năm với người Anh? Năm 19 tuổi, cô bị bắt. Từ bị coi như kẻ dị giáo, bị thiêu trên giàn hỏa, rồi lại được giải oan, coi như một tín đồ tử vì đạo, được ban phúc lành, rồi được Giáo hoàng phong thánh, là niềm tự hào của nước Pháp và được các văn nhân nghệ sỹ tài danh như Shakespeare, Voltaire, Schiller, Verdi, Tchaikovsky, Twain, Shaw… lấy làm hình tượng sáng tác tôn vinh.

Thực tế suốt mấy mươi năm chiến đấu kiên cường giải phóng non sông, đồng bào và chiến sỹ ta đã nêu những tấm gương hy sinh chịu đựng để giữ lòng sắt son trung kiên với nước không bút mực nào tả hết, những tấm gương anh hùng dũng cảm không tiếc thân mình cho thắng lợi cuối cùng cũng không sao kể hết ra. Hạnh phúc thay cho nhà văn có nhân vật của mình được hóa thân thành con người thật giữa đời và sống mãi trong lòng nhân dân. Chú bé nào được mang danh Lê Văn Tám tượng trưng cho tuổi trẻ Việt Nam anh hùng chẳng khác gì chú bé Gavơrốt của kinh thành Paris mà hôm nay tới đó, người ta vẫn tưởng như có bóng chú thấp thoáng trên những ngã phố, quảng trường. Những con người như thế đã làm đẹp cho lịch sử dù không làm nên lịch sử nhưng họ xứng đáng bước vào trang sách những em thơ.

Ngọn  đuốc sống là hìmh tương nghệ thuật mà sự rung cảm xuất thần của nhà văn đã dựng nên và cũng không ngờ nó còn sáng mãi. Sự việc chỉ có một người hành động mà đã không còn. Ai biết được chú bé ấy có một mái nhà ở đâu đó hay chú là đứa trẻ lang thang lấy góc chợ, lề đường làm nhà, lúc đánh giày, lúc bán lạc rang? Người mẹ kia có thể là má Tư, dì Tám thương tình đứa trẻ bơ vơ và chú ngả vào lòng? Đời người lính chiến có khi sống chết ngoài quy luật. Đã không là bản báo công thành tích để tuyên dương công trạng thì sao lại đòi phải có thân nhân hay đơn vị đứng ra xác nhận và cần biết chú đúng 10, 12, 15 hay 17 tuổi làm chi? Có ai vô cảm vô tâm tới mức đi đo đếm quãng đường bé em chạy khi trên mình đầy lửa chính xác là bao nhiêu mét? Ai đã từng được nhìn tấm hình nổi tiếng bé gái Phúc trần truồng vì phỏng lửa bom của giặc Mỹ vào năm 1972, chỉ có thể nhạt nhòa nước mắt thương tâm chớ ai còn lòng nào hỏi con đường em đã chạy được bao xa? Mà vị sử gia hàng đầu của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam còn đủ lòng bình thản đi tìm bác sỹ tham vấn xem khi lửa xăng đang bốc cháy trên người một chú bé 10 tuổi, liệu khả năng sẽ chạy được bao xa?! Để làm gì?! Tôi rất cảm phục ý kiến của một cư dân mạng luhanhhoangviet: Thật ra thì trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ của nhân dân ta, những hành động anh hùng nhiều lắm, có điều là họ hy sinh vì đất nước nhưng tên tuổi thì không được ai biết đến. Có thể trong số họ không có ai tên là Lê Văn Tám nhưng những việc họ đã làm cũng không kém đâu. Dù Lê Văn Tám là một nhân vật tưởng tượng thì tôn vinh anh cũng là thể hiện lòng nhớ ơn tới những người đã hy sinh vì đất nước, chẳng có gì là sai cả!

Trong cuộc trả lời phỏng vấn qua điện thoại sau đó của nhật báo Người Việt, phóng viên hỏi : Ông Trần Huy Liệu nói ra với ông (PHL) điều đó vào lúc nào? Ông Lê trả lời: Ông Trần Huy Liệu nói với tôi rất nhiều lần câu chuyện này vào những năm cùa thập kỷ 1960, vài năm trước khi ông Liệu mất, có cả mấy người cùng biết hiện nay đang còn sống. Khác như ông nói ở phần trên! Lúc này ông Lê mới tốt nghiệp Đại học – Khoa Sử, được giữ lại làm cán bộ giảng tại Trường Đại học, ông Trần Huy Liệu  làm Viện trưởng Viện Sử học Việt Nam. Thầy trò lúc phiếm có thể nói với nhau những chuyện trái của nghề viết lách mà trò coi như di ngôn, cần phải thanh minh cho người thầy tiết tháo. Trái lại, những tư tưởng chính kiến sáng rỡ của thầy lưu rành rành trong sách, được nhiều người trân trọng coi như di huấn thì trò lại xé toạc đi! Ông làm đầu trò kích xúi người ta dựng dậy thây ma của những kẻ bán nước hại dân trong khi ông thâm trầm khôn khéo xô đổ những tượng đài yêu nước! Hẳn ông biết giữa triều, vua Lê Thánh Tông từng mắng nhiếc mấy sử quan ăn ở hai lòng:… Các ngươi bảo nước ta là hàng phiên bang đời xưa, thế là người theo đạo chết, mang lòng không vua. Các ngươi nay thờ chủ này mai thờ chủ khác chỉ vì lợi lộc, sao trong lòng không tự xấu hổ mà chết ư?

Muốn trung thực phải trung thành trước đã.

Nói hết ra sự thật  để làm xao xuyến lòng người, chưa hẳn là người có lương tâm.


Thành phố Hồ Chí  Minh ngày 5 tháng 9 năm 2009

Nguồn Phongdiep.net

Đọc “Bức tường Berlin” của Huy Đức

14 phản hồi

04/09/2009 | 10:04 sáng | Chưa có phản hồi.

Tác giả: Trương Thái Du

Chuyên mục: Chính trị – Xã hội, Thế giới
Thẻ: >

Bàng bạc trong bài viết “Bức tường Berlin” là nỗi niềm độc lập tự do. Nó không khác mấy nội hàm ở khẩu hiệu “Không có gì quí hơn độc lập tự do” của Hồ Chí Minh. Song, nếu Hồ Chí Minh đào sâu nỗi niềm độc lập – tự do trong Tuyên ngôn Độc lập của mình thì rất tiếc, nhà báo Huy Đức lại sử dụng “độc lập, tự do” như một cái cớ khập khiễng để nhẩy múa trên những sử liệu một chiều.

Lịch sử nào? Lịch sử của “Bức tường Berlin” mà Huy Đức trưng ra là thứ lịch sử theo nhãn quan phương Tây. Để hiểu “nhãn quan phương Tây” khách quan thế nào, chúng ta đã có 80 năm nô lệ được khoác vào mỹ từ “khai hóa”. Hoặc gần đây hơn, vào ngày 25.1.2006, Nghị viện châu Âu đã thông qua Nghị quyết 1481 kết án mấy chục năm chủ nghĩa cộng sản kinh viện và giáo điều, toàn trị. Khoan hãy nói đến nội dung Nghị quyết 1481, về mặt hình thức, phương Tây chưa có thứ gì tương tự cho hàng ngàn năm Trung cổ man rợ dưới ách nhà thờ La Mã, cả trăm năm diệt chủng ở châu Mỹ, châu Phi và một phần châu Á. Chỉ điều đó thôi, đã thấy “nhãn quan phương Tây” chưa chắc không mang tính thù hằn và phục vụ mục đích chính trị trước mắt.

Có một câu nói cũng của Tagore, ít lòe loẹt hơn slogan tôi thấy trong blog Osin[1], đại ý là phải dung nạp được những giá trị vĩ đại của nền văn minh phương Tây, mới có thể đứng vững trước sự đê hèn cùng cực luôn mặc định trong nó. Dân tộc Việt Nam là dân tộc đầu tiên của nhân loại đã đoạt được giải “Nobel vệ quốc” vào năm 1972, nhưng phương Tây lại đặt tên phần thưởng cao quí ấy một cách hài hước là “Hòa bình”, nên người đại diện của họ là Lê Đức Thọ đã phải ngẩng cao đầu bên những hố bom còn nóng hổi để từ chối. Đây là cạm bẫy của ngôn ngữ, sự lệch pha giữa hai nền văn minh hay là thủ đoạn chính trị? Thật khó lý giải.

Vì khoác lên “bức tường ô nhục” nỗi niềm tự do và độc lập dưới nhãn quan của kẻ chiến thắng cuối cùng, tác giả Huy Đức đã vô tình bỏ sót một lý do sụp đổ lớn lao của nó là ý chí thống nhất của người Đức, dân tộc Đức. Khát khao tự do? Đúng nhưng chưa đủ. Người Đức còn có khát khao thống nhất. Khi một nền văn hóa này muốn thôn tính nền văn hóa kia người ta gọi là xâm lăng, song, khi hai nửa của một nền văn hóa bị ngoại bang chia rẽ muốn tái hợp thì phải gọi nó bằng một từ kép đầy nước mắt và quá đỗi gần gũi với người Việt Nam, đó là thống nhất. Nỗi niềm thống nhất vẫn luôn là vấn đề thời sự của truyền thông toàn cầu dưới tên Hàn Quốc – Triều Tiên. Nó bị bỏ sót trong trường hợp nhà báo kỳ cựu Huy Đức là một ngạc nhiên lớn của tác giả bài này.

Thống nhất là đoàn kết, là tập hợp sức mạnh nội tại, là mục đích tối thượng của đa nguyên tư tưởng. Khi một tư tưởng “lạ” và đầy phiến diện được quần chúng tung hô, tôi thấy đáng lo ngại hơn là vui mừng. Bản thân “xét lại” luôn có hai mặt trái phải điều hòa, chỉ sử dụng mặt trái của “xét lại” (ở đây là quan điểm một phía về bức tường Berlin), e rằng tác giả bài báo “Bức tường Berlin” thích đánh đổ hơn là xây dựng, thích a dua nhai lại với thiện chí (nhưng áp đặt, cực đoan) của Tây phương[2] hơn là cân nhắc, suy xét và áp dụng chúng đúng nơi, đúng chỗ.

Cái nồng nhiệt thiếu lý tính với những giá trị bề nổi của phương Tây trong bài “Bức tường Berlin” của Huy Đức, thật ra không mới. Xưa kia, Việt Phương đã từng cay đắng chỉ ra sự ngây thơ chết người của tư duy xã hội bắc Việt một thời: “Đồng hồ Liên Xô tốt hơn đồng hồ Thụy Sĩ / Trăng Trung Quốc tròn hơn trăng nước Mỹ”.

Hình ảnh những bó hoa tươi trong các “nghĩa trang dân lập” mà Huy Đức sử dụng rất xúc động, nhưng quả tình nó không thể phản ánh đầy đủ sự phức tạp của Thế chiến thứ Hai, nguyên nhân trực tiếp dẫn đến việc hình thành Bức tường Berlin. Quân Đồng minh với vai trò cốt cán của Mỹ đã tính toán “xương máu” rất kỹ trước khi quyết định “nhường bước” cho Hồng quân thọc sâu vào hang ổ cuối cùng của chủ nghĩa phát xít. Tư duy “con buôn” trên sinh mệnh những người cùng chiến hào nhưng khác ý thức hệ chưa được xem xét cẩn trọng. Có những viên gạch trong Bức tường Berlin hằn sâu dấu ấn nghi kỵ, thiếu tin tưởng với một đối tác “láu cá” giảm thiểu “dây máu” nhưng tích cực “chia phần”.

Không có gì ấu trĩ hơn khi đơn giản hóa, lành mạnh hóa và có phần thánh hóa con người chính trị của văn minh Tây phương. “Bức tường Berlin” của Huy Đức đã tuột sâu vào vũng lầy nhị nguyên tốt – xấu phân minh tách bạch, thiếu biện chứng và hời hợt. Là một người đọc lý tính, tôi mong chờ ở Huy Đức những bài báo sâu sắc, hơn là chuỗi cảm nghĩ nông cạn của một du khách cưỡi ngựa xem hoa trong viện bảo tàng. “Bức tường Berlin” và những nhược điểm của nó rất dễ trở thành “ổ gà” cho những cái đầu nóng hổi cảm tính và dễ bị thiên kiến lôi kéo.

Cuối cùng, tôi thấy mình hoàn toàn đồng cảm với câu kết của Huy Đức: “Một cuộc chiến không còn được coi là “giải phóng” nếu những gì mà nhân dân cuối cùng được hưởng không phải là độc lập tự do”. Tuy nhiên độc lập tự do, hay nói rộng hơn nữa là dân chủ và nhân quyền, suy cho cùng, luôn là một hành trình gian khó và dài lâu. Nó luôn bắt đầu bằng văn hóa và kết thúc trên mặt trận văn hóa, chứ không thể lập tức nảy mầm sau khi khói súng vừa tan (hãy xem trường hợp Iraq chẳng hạn). Và hơn hết, nó là một quá trình tự thân đắt giá, những yếu tố và bài học ngoại lai nếu có, chỉ nên coi là tham khảo có giới hạn và chọn lọc. Thật nguy hiểm khi xem đấy là hình mẫu để học đòi, rồi cố sức “trèo tường” và “đập tường”. Bức tường Berlin xây bằng gạch đá và dây thép gai đã biến mất chỉ sau một đêm, nhưng những gì ngăn cách và hủy hoại mối quan hệ giữa người và người cùng một chủng tộc, mười lăm năm sau vẫn chưa dễ vượt qua. Washington Post gọi đấy là “the wall in the mind”, bức tường trong não bộ[3].

Ảo tín vào những điều không tưởng của một người lính xuất thân từ nông dân luôn dễ hiểu hơn ảo tín của một nhà báo chính trị xã hội già dặn nơi phồn hoa. Tôi rất hy vọng sẽ được trao đổi thêm với tác giả Huy Đức dưới hình thức blog, để nhận ra những thiên kiến đáng trách và sự hãn hữu của đầu óc mình.

Sài Gòn 2

31.8.2009

© 2009 Trương Thái Du

© 2009 talawas blog


[1] Slogan trên blog Osin: Cái cây tìm sự cô đơn ở trên cao / Ngọn cỏ tìm sự đông đảo ở dưới đất. (Tagore)

[2] Ý của nhân vật Ka, trong tiểu thuyết Tuyết của nhà văn Thổ Nhĩ Kỳ Orhan Pamuk, Nobel 2006.

[3] http://www.washingtonpost.com/ac2/wp-dyn/A18734-2004Apr16?language=printer

Bài viết mới hơn

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 41 other followers