Một người viết đã bỏ bút

6 phản hồi

Lời dẫn: Tôi vừa nhận được email này của TS Nguyễn Hữu Liêm. Cảm giác là buồn. Tôi không tin những lí do anh nêu ra, song, tôi tôn trọng nó. Ở thế giới Việt ngữ, không có chỗ cho những cây bút đứng giữa hai làn đạn. Khi sự viết không còn mục đích tối thượng là tri thức lương thiện và trung dung, người ta bắt buộc phải chấp nhận xu hướng chính trị bầy đàn hoặc từ bỏ đam mê.

————————————————–

Từ phía trái

Nguyễn Hữu Liêm

Từ văn sang võ: Giã từ internet

Bấy lâu nay tôi vắng bóng trên khoảng không gian báo chí này.  Lý do là cái cột xương sống lưng và cái cổ của tôi, nếu ngồi lâu trước máy vi tính một tí là chúng nó mỏi nhừ và đau nhức.  Tôi bèn quyết định là phải giảm đi số lượng thời gian mà tôi ngồi đọc và viết bằng máy như vậy.  Tôi quyết định là mình phải thay đổi phương thức sinh hoạt của mình.  Chừng tuổi này rồi, mình đâu còn trẻ hơn nữa đâu mà lạm dụng thân thể.  Phải chăm lo sức khoẻ của mình.

Tôi thấy nhiều người bạn tôi khoảng chừng 50 đến 60 mang đủ chứng bệnh đau nhức xương gân.  Chỉ vì cái tội là họ ít hoạt động chân tay quá.  Suốt ngày mà ngồi trước bàn phím vi tính để mà tham dự vào sinh hoạt chữ nghĩa của thế giới ảo, thì bất cứ cái cổ máy thân thể nào cũng phải suy sụp.  Tôi thấy đàn ông Việt Nam có nhiều thói quen tật xấu rất có hại cho cơ thể và sức khoẻ.  Tật hút thuốc lá.  Nhậu nhẹt quá độ.  Ít thể dục thể thao.  Ăn uống thất thường và không đúng tiêu chuẩn dinh dưỡng.  Có người thì làm việc quá sức.  Thức khuya dậy sớm, lo lắng đủ điều.  Càng lo thì càng hút thuốc và uống rượu nhiều hơn.  Cứ thế, nên tuổi già đến sớm.  Nhiều anh bạn chỉ mới ngoài 50 mà hình dong thì già như là các cụ ngày xưa ở tuổi trên 60 vậy.  Có người đã ngã lăn ra chết sớm.  Có người nằm liệt giường vì bại liệt.  Con người ta có thể chăm lo tu sửa căn nhà, chiếc xe, nhưng lại quên đi cái căn nhà, cổ máy cơ thể mà đang cưu mang cuộc đời, sự sống cho chính mình.

Tôi cũng nằm trong những người đàn ông đó.  Khi cái xương ở lưng bị đau cột sống, khi cái cổ tê lên vì suốt ngày ngồi đánh máy vi tính thì cơ thể của mình đã khóc lên để cho tôi thay đổi cách sống hằng ngày.  Tôi thử đi bộ, hay chạy thể thao, nhưng cũng chẳng giúp ích gì nhiều.  Đi bác sĩ Kaiser của Mỹ thì bọn nó đòi giải phẫu xương gân.  Tôi nghe ba cha bác sĩ Mỹ là tôi bực mình.  Cái gì cũng giải phẫu cả!  Làm như cái thân tôi là cái máy cắt cỏ hiệu Honda không bằng.  Đi bác sĩ chỉnh hình thì cũng chỉ giảm đau tạm thời.

May thay, nhờ được sự giới thiệu của anh bạn, vốn là người em của người bạn lâu năm vừa qua đời vì bị tai biến mạch máu não, nên tôi đã ghi danh đi học võ theo trường phái Y Võ Đạo (Yvodo) ở San Jose của Võ sư Bảo Truyền.

Lúc còn tuổi thiếu niên ở ngoài Trung Việt, tôi cũng có học chút ít Takewondo của Đại Hàn.  Nhưng tôi bỏ lâu lắm rồi.  Học võ kiểu ngày xưa là chỉ vì muốn đánh lộn, vì hiếu thắng.  Nay thì tôi học võ cho sức khoẻ.  Theo phương pháp của Y Võ Đạo, tôi thấy kết quả đến với tôi khá nhanh chóng.  Đây là môn phái nhấn mạnh đến Y học trước, rồi đến Võ thuật sau.  Chỉ trong vòng hai tháng là ba cái nhức lưng, mỏi cổ biến mất.  Tôi ăn ngon hơn , ngủ yên giấc nhiều.  Bà xã tôi thì còn cho rằng tóc tôi đã ít bạc đi và xem ra “đẹp trai” hơn.  Mỗi lần tôi tập khoảng hai giờ, mỗi tuần từ hai đến bốn lần.  Sau khi tập, mồ hôi ra nhiều, người khoẻ và thoải mái lắm.  Có thang thuốc nào tốt hơn nữa?  Thầy Bảo Truyền nói rằng, “Mình phải chê bác sĩ; đừng để bác sĩ chê ta.”  Ông nhấn mạnh câu nói nghe rất quen nhưng tôi đã không nằm lòng, “Sức khoẻ là tài sản quý báu nhất.” Chuyện có giản dị như vậy mà tôi nay đến giờ này mới nhận thức ra.

Gia nhập môn phái Y Võ Đạo, tôi chỉ là anh chàng mới nhập môn, mang đai trắng trinh nguyên.  Vào đây mới biết là có những đàn anh võ sư đai đen nhiều đẳng mà mình quen biết từ lâu mà không biết họ là võ sư.  May mà chưa lần nào đánh lộn với họ!  Những thế tấn, thế luyện nội công, gân cốt, thế đánh, thế đá… phải bắt đầu với nhiều nỗ lực khó khăn, nhưng lại thích thú.  Cơ thể của tôi bấy lâu nay chưa hề bị thử thách một cách tích cực và hiệu năng như thế. Chúng ta ai cũng phải nhớ rằng bất cứ cái gì cũng phải được huấn luyện, phải chịu khó, nỗ lực, quyết tâm mới thành đạt được.

Hôm trước Võ sư Bảo Truyền lên San Jose thăm võ đường, tôi mới có dịp đích thân gặp gỡ ông và lắng nghe ông diễn giảng về y võ học.  Tôi nói với ông rằng, tôi đã nghe tiếng của võ sư hai mươi năm nay ở San Jose này.  Nếu hồi đó mà tôi ý thức được sức khoẻ thì tôi đã xin làm môn đệ của ông từ trước; nếu vậy thì ngày nay tôi cũng phải đang mang ít nhất là đai đen và chắc là khoẻ mạnh hơn nhiều.  Ông cười thân mật và khuyên tôi cố gắng nhiều hơn.  Đai đen hay sức khoẻ sẽ đến.  May mà tôi chưa đau ốm gì nguy hiểm lâu dài.  Thời gian học y võ đối với tôi vẫn còn khá rộng.  Tôi nói đùa với ông rằng trong vòng 10 năm, tôi có thể sẽ dùng ngón tay mà chọc thủng quả dừa xanh để lấy nước dừa uống.  Ông cười bảo, “Sức mạnh và khả năng để chọc thủng quả dừa nằm trong đầu chứ không chỉ ở trên ngón tay mà thôi.”  Tôi nhớ đến câu nói của người Mỹ, “Nơi nào có ý chí thì nơi đó sẽ có con đường.”

Tôi về nhà thuyết phục bà vợ và đứa con gái cùng đi học.  Bà xã thôi thì nghe lời ngay.  Còn đứa bé 15 tuổi thì năn nỉ mãi nó mới chịu đi.  Cả nhà cùng đi học võ với nhau rất là vui.  Phụ nữ, con gái với thân thể mềm dẽo nên họ làm những động tác thuần nhuyễn, còn tôi thì khá hơn về những đòn quyền đấm đá.  Đôi khi ở nhà, tôi và bà xã tôi thực tập đánh võ với nhau.  Tôi tuyên bố với các võ sư huấn luyện viên rằng tôi phải lên đai đen trước bà xã, chứ không là tôi đâu còn ăn hiếp bà như xưa nay được nữa.  Cả võ đường cùng cười vang.  Đứa con gái sau vài tuần tập luyện, nay cũng bắt đầu thích học võ.  Tôi nói với nó về trường hợp của cô Annie Le ở đại học Yale bị giết thảm khốc bởi một đồng sự.  Tôi phân tích rằng nếu cô ta đã có học võ thì chỉ cần một nhát chém tay hay là một thế đá gọn là có thể đánh gục tay sát nhân kia, chứ đâu phải bị chết oan như vậy.  Con gái tôi lắng nghe và đồng ý.  Ở đời, tôi bảo nó, chúng ta không nên ăn hiếp ai, nhưng cũng đừng để ai ăn hiếp mình, nhất là khi con là phái nữ yếu đuối.

Nếu bạn đang đọc đến đây và là một người suốt ngày ngồi trước bàn chữ vi tính, lướt sóng, tham gia cuộc vui của thế giới internet, thì tôi mong bạn hãy nhìn lại thói quen sinh hoạt của mình.  Tôi không muốn lên giọng đâu.  Tôi chỉ lấy từ kinh nghiệm thân thể của tôi và các người tôi quen biết để nhắn nhủ với bạn.  Sức khoẻ là ưu tiên thứ nhất.  Đối với cái thế giới ảo, e-mail, Twitter, My Space, You-Tube, ba cái websites Đàn Chim Việt, talawas, Damau, Tienve, X-Cafe, VnExpress, Take2tango, Giaodiem, Vietcatholic…bàn chuyện thế gian, chuyện con người, chuyện chính trị, chuyện Việt Nam, bạn từ từ hãy rời xa chúng dần đi.  Lâu lâu dừng chân qua cho vui thôi, chứ đừng có sa đà trên thế giới mạng bạn ơi!  Không lẽ giờ này, với chừng đó tuổi, “ngũ thập tri thiên mệnh,” mà bạn vẫn cứ tham gia các trận chiến ảo suốt ngày tranh cãi, mắng mỏ nhau về lỗi phải những chuyện của quê nhà từ thế kỷ trước.  Người nhà quê có nói rằng, “Không có mợ chợ cũng đông,”  hơi đâu mà quan tâm quá về những chuyện xưa, chuyện đã qua, chuyện tào lao thế sự.  “Hãy để cho những kẻ đã chết tự chôn lấy chính họ.”  Đừng vướng vào làm gì cho nó khổ thân và khổ gia đình, chồng vợ, con cái.  Cũng đừng có “bức xúc” về những chuyện mình không làm gì được.  Đừng có ham muốn tên tuổi của mình xuất hiện trên các trang nhà đó – để mà viết văn, làm dáng, chứng tỏ kiến thức, trổ tài tranh luận bắt bẻ nầy nọ mần chi.  Trong khi cái cơ thể đang yếu dần, nhức mỏi thì bạn lại không chăm sóc.  Chuyện nhà thì nhác, chuyện chú bác thì lại siêng.  Hãy bỏ thời gian, hằng ngày hay ít ra là một tuần vài ba ngày, một ngày vài giờ để tập thể thao, yoga, học võ thuật.  Cái gì quan trọng nhất thì phải lo trước tiên.  Đó là nghệ thuật sống đúng cách của con người.

Đến đây, tôi muốn nhắc bạn lời cầu nguyện của người Tây Âu xưa cũ.  “Xin cho tôi đủ nghị lực để thay đổi những gì tôi có thể;  bình an để chấp nhận những gì không thể; và trí tuệ để phân biệt giữa hai.”  Bạn ạ! Sức khoẻ là điều mà bạn có thể thay đổi ngay từ bây giờ.

Nhu và cương trong quan hệ Việt – Trung

Để lại phản hồi

Iskander Rehman

Viết riêng cho BBCVietnamese.com

Ở Việt Nam, đã có lúc chỉ khi xảy ra các vụ bắt bớ những người cổ vũ dân chủ hay các yếu nhân của Giáo hội Công giáo mới làm truyền thông chú ý.

Lãnh đạo Việt – Trung khẳng định tăng cường quan hệ

Giờ đây, một nhóm mới, bất ngờ hơn đã gia nhập hàng ngũ những người bị chính thể trừng phạt.

Trong vài tháng qua, ngày càng có nhiều những người dân tộc chủ nghĩa cáo buộc Hà Nội ngả theo Bắc Kinh, đã hứng chịu sự tấn công của nhà nước dành cho nhà báo và blogger.

Với hơn 21 triệu người dùng internet và ước tính có 3, 4 triệu blog, nhà nước Việt Nam ngày càng khó kiểm soát mạng, và internet đã trở thành phương tiện diễn ngôn chính cho những ai chỉ trích chính sách.

Suốt một năm rưỡi qua, Trung Quốc đã là tâm điểm của những tranh cãi dữ dội qua mạng, từ chuyện ra oai quanh Trường Sa – Hoàng Sa, hay quyết định tranh cãi của chính phủ Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho phép Chinalco của Trung Quốc khai thác bauxite trên Tây Nguyên.

Trong quá khứ, Đảng rất ủng hộ phong trào dân tộc chủ nghĩa, nhưng nay đối với một bộ phận lãnh đạo Việt Nam, thái độ bài Hoa ngày càng rõ trên blog dường như trở thành vật cản ngoại giao chứ không phải là nguồn sức mạnh.

Các vụ bắt bớ gần đây có vẻ như được dẫn dắt bởi cơ quan tình báo quân đội bí ẩn có tên Tổng Cục Hai. Cơ quan này, có tin nói là thành lập đầu thập niên 1980, đã trở thành vũ khí ưa thích của phe bảo thủ trong cuộc tranh giành quyền lực trước Đại hội XI, dự kiến tổ chức vào 2011.

Tranh chấp chính trị

Đại hội XI sẽ quyết định các vị trí lãnh đạo chủ chốt và cơ cấu quyền lực trong nhiều năm sau này.

Vì thiếu vắng tranh luận ý thức hệ thực sự, nên chính sách của Hà Nội với Trung Quốc dường như trở thành điểm phân rẽ chính giữa phe cải tổ và bảo thủ.

Blogger Mẹ Nấm sau khi được thả đã ngừng blog

Đa số chuyên gia cho rằng việc trấn áp các blogger dân tộc chủ nghĩa có thể được xem là sự thể hiện quyền lực của nhóm bảo thủ, mà dường như đang thắng thế sau khi ông Tô Huy Rứa được vào Bộ Chính trị.

Dĩ nhiên thật vô cùng khó để bất kỳ ai ngoài ban lãnh đạo Đảng có thể dự đoán cuộc tranh đấu nội bộ sẽ đi tới đâu. Nhưng người ta biết rằng chính sách kinh tế tự do của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã làm mất lòng nhiều thành viên truyền thống hơn trong Đảng, những người lo sợ sự cởi mở sẽ dần dần đưa tới khao khát có tự do chính trị. Mặc dù ông Dũng vẫn có thể dựa vào các đảng viên trẻ hơn, bớt đầu óc ý thức hệ và ủng hộ cải cách kinh tế hướng ngoại, nhưng khó khăn tài chính gần đây của Việt Nam cũng khiến nước này phụ thuộc nhiều hơn vào đầu tư của nước láng giềng phương Bắc.

Sự phụ thuộc ngày càng tăng vào Bắc Kinh cho tới nay đã được phe bảo thủ khéo léo sử dụng cho ưu thế chính trị. Đã có những tin đồn khó chịu xuất hiện, cáo buộc Thủ tướng Dũng nhận hối lộ trong dự án bauxite. Đợt sóng tin vỉa hè gần đây rất giống với cái gọi là “vụ án T4”, được cho là do Tổng cục Hai dàn dựng, cáo buộc nhiều lãnh đạo đã nhận tiền của CIA. Ảnh hưởng gia tăng của Tổng cục Hai đem lại lo ngại trong một số đảng viên rằng nếu tình báo quân đội không được kiểm soát, thì Việt Nam có thể đang đi theo hướng của Pakistan, nơi nhiều thành phần của cơ quan tình báo quân đội khét tiếng ISI đã thiết lập cấu trúc quyền lực riêng phục vụ cho nghị trình của họ.

Chính sách mâu thuẫn

Đợt tranh đấu chính trị mới đây chỉ càng làm tăng thêm sự phức tạp trong quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc.

Cũng trong năm nay, Việt Nam hoàn tất hợp đồng 1.8 tỉ đôla với Nga để mua sáu tàu ngầm hiện đại. Theo ước đoán của tạp chí Jane’s Intelligence Review, ngân sách quốc phòng hàng năm của Việt Nam chỉ là 3.6 tỉ đôla. Vụ mua bán này là dấu hiệu rõ gửi cho Bắc Kinh rằng Hà Nội muốn phát triển chiến lược phòng vệ biển cho các tuyên bố chủ quyền của mình.

Chuyên gia về Việt Nam lâu năm, Carlyle Thayer, mô tả chính sách của Hà Nội với Trung Quốc là “theo đuổi chiến lược tổng hòa giữa hữu hảo, nhờ tới quốc tế và phòng hờ với Trung Quốc”.

Mặc dù nhận xét này mới đầu nghe như đa phương quá mức và vô lý về mặt chiến lược, nhưng ta có thể cho rằng thái độ yêu ghét Trung Quốc – dao động giữa phòng thủ và ương bướng – cũng chẳng phải là chuyện mới mẻ. Nó đã in sâu trong nhận thức chiến lược của Việt Nam đối với nước láng giềng.

Quan hệ Việt – Trung mang tính bất cân xứng

Trong tác phẩm China and Vietnam: The Politics of Asymmetry (2006),GS. người Mỹ Brantly Womack nhận định quan hệ Việt – Trung “là ca thú vị của mối quan hệ bất tương xứng lâu dài”.

Bản sắc Việt Nam độc đáo ở chỗ nó hình thành nhờ cả việc thông qua cũng như đối chọi lại với ảnh hưởng Trung Hoa. Trong một nghìn năm Bắc thuộc, Việt Nam đã chịu ảnh hưởng của kẻ chiếm đóng. Trong khi quá trình Hán hóa trở nên sâu đậm trong giới tinh hoa và quý tộc Việt Nam, thì người nông dân lại vẫn trung thành với lề lối truyền thống và khác với giới quý tộc, họ không chịu từ bỏ Phật giáo để đi theo Nho giáo.

Ta gần như có thể tìm thấy sự tương đồng với các sự kiện đang diễn ra ở Việt Nam: nhiều người thuộc tầng lớp quý tộc mới đang ngả về Trung Quốc, trong khi thường dân, được đại diện bởi các blogger và những nhà hoạt động trên mạng, lại bảo vệ bản sắc và quyền lợi dân tộc.

Khi phải đánh giá dấu ấn văn hóa in hằn trong ngoại giao của Việt Nam với Trung Quốc, đã có người cho rằng quan hệ Việt – Trung bắt rễ trong quan niệm Khổng Nho về thầy và trò, và rằng nếu thỉnh thoảng căng thẳng nổ ra trong 40 năm qua, đó là vì sau khi Việt Nam đã củng cố vị thế một quốc gia hiện đại sau cuộc chiến Đông Dương, nước này tìm cách thay thế quan hệ giám hộ bằng một quan hệ bình đẳng hơn.

Khi trấn áp các nhà báo và blogger theo chủ nghĩa dân tộc, Đảng có nguy cơ khơi sâu khoảng cách lịch sử giữa người nông dân và giới tinh hoa trong thái độ với TQ.

Iskander Rehman

Đây là chuyện không dễ dàng gì, như Brantly Womack giải thích: “Với một láng giềng như thế, Việt Nam mắc kẹt trong sự khó xử. Họ cần hòa bình với Trung Quốc hơn là Trung Quốc cần, nhưng nếu họ cho phép Trung Quốc chèn ép để dịch chuyển viên đá xác định biên giới, họ để mất tự chủ và bản chất dân tộc.”

Ban lãnh đạo Việt Nam sẽ phải tìm cách vượt qua tình thế tiến thoái lưỡng nan to lớn này trong những năm tới.

Nhưng có một điều chắc chắn: khi trấn áp các nhà báo và blogger theo chủ nghĩa dân tộc, Đảng có nguy cơ khơi sâu khoảng cách lịch sử giữa người nông dân và giới tinh hoa trong thái độ với Trung Quốc.

Nếu điều đó xảy ra, Đảng sẽ tự đánh mất điều mà Hồ Chí Minh từng gọi là “vũ khí bí mật” hiệu nghiệm nhất của Việt Nam – lòng yêu nước nồng nàn của nhân dân.

Iskander Rehman có bằng thạc sĩ Chính trị học ở Viện Chính trị học tại Paris, hiện là nghiên cứu sinh tiến sĩ ở CERI (Centre d’Etudes et de Recherches Internationales) tại Paris. Ông hiện làm luận án về Chiến lược Biển của Ấn Độ. Bài viết này thể hiện quan điểm riêng của tác giả.

Truyện ngắn dang dở: Hà Nội và Em

2 phản hồi

Đó là một mùa khô kiệt kỷ lục, các đế móng xù xì và thô kệch của cầu Long Biên phơi hết ra gió bấc. Nước Hồng hà sánh đặc cặn phù sa, ra vẻ nông choèn như vũng trâu đầm. Những con tàu xuôi ngược ngày nào mắc cạn bãi bồi, nằm ngả nghiêng say rượu. Nghe bảo ở thượng nguồn, bờ sông có chỗ dựng cao như vách núi. Râm ran báo động những vụ sụt lở gây chết người.

“Anh vẫn yêu Hà Nội chứ?” – Ngân trêu chọc bằng cách nhắc lại những ngôn từ hoa mỹ của Quỳnh ngày hai mươi tuổi – “Anh yêu em như yêu một vết thương hóa thân. Anh yêu em như yêu Hà Nội”.

Quỳnh cười nhưng không thấy ngượng. Chỉ nghĩ đến cái thuở bồng bột, lắm khi anh đã đỏ mặt. Hài nhất là vụ nhầm ruột thư. Những lời rất đỗi nồng nàn Quỳnh gửi Hà Nội đã đến một địa chỉ ở Hải Phòng và ngược lại. Dẫu gì anh cũng tin phố biển hoa phượng thời sinh viên chả đời nào ghen tị. Tình cảm dành cho những vùng đất cùng cội rễ văn hóa là thứ có thể đắp bồi, tôn cao nhau lên, chứ chẳng bao giờ chia vụn hoặc đối kháng.

***

“Cứ tưởng em sẽ dẫn anh đi xem cầu mới Vĩnh Tuy – Thanh Trì?” – Quỳnh khéo nhắc Ngân và cũng nhắc chính mình kỷ niệm một mùa thu.

Hôm ấy Quỳnh nhận được thư Ngân bảo Hà Nội thu rồi, hoa sữa chẳng đợi ai đâu. Tốn hai cuộc điện tín qua lại. Bức điện cụt ngủn từ bưu điện bờ Hồ là của Ngân: “Cụ bà mất, về gấp”. Ông giáo già nghiêm khắc, thuyền trưởng Việt Nam đầu tiên đi vòng quanh thế giới, chẳng đặng thì đừng phẩy tay cho Quỳnh hoãn thi. Cụ ngoại Quỳnh người Hà Nội, góa phụ Án sát sứ Sơn Tây nếu còn sống sẽ thượng thọ một trăm hai mươi tuổi. Đáng ghi vào kỷ lục Guiness lắm chứ.

“Anh càng bớt cái vẻ hăng say đến với hoa sữa thì sẽ càng gắn bó với Hà Nội hơn. Hoa sữa chỉ lãng mạn với khách lạ thôi” – Ngân tạt cho Quỳnh một gáo nước lạnh khi vừa bước xuống ga Hàng Cỏ. Mấy ngày trời se mát, họ sóng đôi xe đạp đi tìm hiểu ba chiếc cầu bắc qua sông Hồng.

Đầu tiên là kết cấu sắt thép xám xịt kềnh càng mang tên Long Biên, cắm sâu vào lòng Hà Nội cổ bằng cung đường hỏa xa. Các mã nối cong vênh, đám đinh tán trốc lở ám muội lãng quên. Có cảm giác chiếc cầu cứ oằn xuống, mỗi khi chuỗi bánh xe lửa bất tận rên rít những vòng lăn. Ngân hơi thất vọng nhưng không phản bác vì Quỳnh cho đây là vết sẹo nô lệ của mảnh đất này, từ công nghệ thực dân cùng thời với tháp Eiffel đến cái tên khéo chọn khi độc lập. Theo sách Thủy Kinh chú, năm Kiến An thứ mười ba (208), Tôn Quyền chia Giao Chỉ bộ làm Quảng Châu và Giao Châu. Sở trị Giao Châu đặt tại Long Biên. Khi xây thành có giao long đến khoanh mình bên mé nước ở bến phía bắc và phía nam, nhân đấy cải ra Long Uyên nghĩa là rồng cuộn.

Cầu Long Biên và địa danh Long Biên thời Tây Hán có thể không nằm cùng một chỗ. Cũng như Lãng Bạc, nơi Hai Bà Trưng thất bại ít khả năng là Hồ Tây. Gần hai ngàn năm trước mực nước biển rất cao, Hà Nội phải chăng là đáy của một cái hồ cực lớn. Nên nghĩ Long Biên, trị sở Giao Châu ở đâu đó gần sông Đuống. Quá trình biển lùi xảy ra đồng thời với bồi đắp thiên nhiên và nhân tạo. Do đó, không khập khiễng và quá bóng bẩy nếu cho rằng Hà Nội là người con vạm vỡ của sông Hồng. Những chiếc cầu, bằng tên gọi rất riêng của mình, ít nhiều ẩn dụ dòng lịch sử dâu bể.

Sau Long Biên cả hai tranh nhau chọn Chương Dương hay Thăng Long trước. Chương Dương xuất hiện từ năm 950. Ngô Quyền mất, Dương Tam Kha mắc tội thoán nghịch nhưng Ngô Xương Văn không giết mà chỉ giáng xuống làm Trương Dương công và ban thực ấp. Sau này chữ Trương viết trại ra Chương để thành Chương Dương. Đến đời Trần, trận Chương Dương lừng lẫy đã mở cửa phản công thắng lợi cho cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông của Đại Việt. Trần Quang Khải từng đọc vang bốn câu thơ hào sảng ngày khải hoàn: “Đoạt sáo Chương Dương độ – Cầm Hồ Hàm tử quan – Thái bình tu trí lực – Vạn cổ thử giang san”.

***

Trên đường công tác, Quỳnh quá cảnh Hà Nội để đợi con chim sắt của một hãng hàng không giá rẻ. Anh ở trọ tại khu Tây ba lô phố Bảo Khánh, quận Hoàn Kiếm. Lưỡng lự mãi rồi Ngân cũng đến gặp Quỳnh bằng ô tô riêng tự lái. Cô đã chuẩn bị sẵn câu đối thoại biện hộ trong đầu: “Anh đừng trồ lên như thế. Em chưa giàu đâu, chung cư mới, không nhà cho thuê, không trang trại cuối tuần. Chiếc xe này tồn tại bởi tính chất công việc, nơi làm và phụ trợ tiền xăng của liên doanh. Hẳn nhiên là có phần sĩ diện truyền thống Tràng An nữa”.

Ngân chưa kịp xa lạ với chính cô ngày nào, Quỳnh bảo thế, ai biết có thể còn mặn mà hơn. Anh tìm lại được cô qua blog, qua tấm ảnh thiếu nữ áo dài phố cổ xưa cũ và những dòng tâm sự riêng tư, vô tình để ở chế độ public, một đêm Ngân mất ngủ.

Chẳng rõ khi xưa họ có từng hẹn nhau đến với ngàn năm Thăng Long không nữa. Kẻ nam người bắc, tình yêu đôi lứa đã trở thành hoài niệm nhưng tình yêu Hà Nội trong họ chợt tươi mới dâng trào.

Thăng Long cách Quỳnh hàng ngàn cây số và cách Ngân một cuộc sống bề bộn cơm áo, với khói bụi, tắc đường và cả nước lụt. Bước chân mưu sinh thường nhật của Ngân khuất tù trong con đê lừng lững. Nền Hà Nội đã ngang bằng đáy sông. Hồng hà bao năm rồi không còn chăm bẵm Hà Nội bằng nguồn sữa phù sa mênh mang của mình? Dòng Tô Lịch nên thơ lạc mẹ, ngày càng co hẹp, ngày một nặng mùi.

Ngân chẳng nhớ thời gian qua cô đã tới lui cầu Thăng Long mấy lần, trong chức năng giao thông của nó. Hôm nay hơi khác, bên người bạn thích khám phá chiều sâu văn hóa, cầu Thăng Long hiển hiện hình ảnh rồng bay của hoàng đế khai quốc Lý Công Uẩn. Ngân không tin ý nghĩa biểu trưng của bay là không thể bay. Bay bổng chất chứa khát vọng hướng thượng trên mọi bình diện, đặc biệt hơn ở tư duy. Quan trọng là sự cân bằng giữa nhu cầu và khía cạnh thực tế, nếu không giấc mơ bay lượn chỉ đơn giản là vượt thoát, trốn chạy. Những giá trị phi vật thể của Hà Nội ngàn năm, đây đó vẫn được thể hiện với bề ngoài rất thiếu tương xứng, nếu không muốn nói là đối lập. Bàng quan với lịch sử là vô ơn, là mất gốc, là tự tha hóa. Ở thái cực khác, hiện tượng khoác áo thánh cho quá khứ lại biến nhiều bài học máu xương trở thành tuồng tích lãng mạn, chỉ mang tính giải trí hoặc tuyên truyền nhất thời.

Họ đi bộ dọc triền đê từ chỗ gửi xe, rồi len lỏi theo một mương thoát nước của chợ Long Biên để ra bãi giữa. Mây trắng cứ bay. Hà Nội như vừa hết thu. Một tên đường, một con phố, một kiến trúc không đơn giản là thực hữu. Trong nó vẫn âm thầm tuần hoàn những giá trị đã được chắt lọc/đào thải, bảo vệ/hủy phá, kế thừa/giũ bỏ. Trầm tích dưới dòng thời gian là ngọc là vàng của mảnh đất thần kinh đô hội này.

Chiếc xe bốn chỗ háo hức bon về phía nam Hà Nội với hai cung cầu đang xây là Vĩnh Tuy và Thanh Trì. Nghe nói chúng rất cao và rất dài. Sản phẩm thế kỷ hai mốt cơ mà. Nhưng đáng tiếc đường vào Thanh Trì chưa thông. Vĩnh Tuy còn tệ hơn thế, chưa hợp long. Họ sa lầy giữa một mặt bằng toàn bùn đỏ nhớp nháp và cơ man những ổ voi.

***

Trong khi chờ xe cứu hộ, Ngân và Quỳnh bước tới những bờ ruộng bỏ hoang. Hương đồng chiều chợt gần chợt xa. Hào phóng gió.

Quỳnh ít ảo tưởng. Nếu Ngân là vợ anh, nàng khó mặc nhiên miễn nhiễm với buồn khổ, thậm chí đứt đoạn. Anh chưa kịp già để tin hẳn vào số phận, nhưng cứ lờ mờ một căn nguyên đổ vỡ mang dấu ấn mùa thu. Anh từng bứt mình khỏi nàng như xẻo bỏ một vết thương đầy mê mị và nông nổi chủ quan. Anh đã hòa nỗi đau ấy vào biển cả suốt những năm tháng trẻ trai. Không suy suyển! Càng bế tỏa mảnh pha lê ký ức, những góc cạnh tinh khôi nhất càng sắc nhọn hơn. Thay một lời xin lỗi, anh đã hẹn gặp Ngân. Còn hơn là tha thứ, Ngân lại bên anh. Và Quỳnh biết anh vẫn yêu nàng, như yêu Hà Nội.

“Em có hạnh phúc không?” – Hình như Quỳnh lỡ lời. Câu hỏi rỗng rễnh. Sáo. Kịch. Hỏi để mà hỏi, cho bớt chống chếnh chăng?

“Nói chung là ổn định. Vẫn chưa đủ phải không anh?” – Ngân thì thầm như tâm sự với chính mình – “Đôi khi em thèm quay quắt một chút tự do, một tí phá cách, một lần vượt rào. Phụ nữ mà. Trong khuôn khổ thôi”.

“Đàn ông cũng thế Ngân à. Nhưng bọn anh không hy vọng kẻ khác sẽ ra ân mà luôn kiên nhẫn tranh giành. Tự do trước hết là trách nhiệm cho nên từ chối tự do đồng nghĩa với ao hóa, đầm lầy hóa sinh mệnh”.

Khi nào Hà Nội của họ không còn bị vây bọc bởi những bờ đê, những con rồng giả uốn lượn theo oai linh rồng thật mang tên sông Hồng? Khi nào vô số mặt hồ tự nhiên lẫn nhân tạo của Hà Nội thông nối với nhau và với nguồn phù sa tươi màu thịnh vượng ngoài bãi giữa? Họ không phủ nhận công lao của lớp lớp tiền nhân đã đắp đê, hộ đê dọc dài lịch sử. Họ tin phá đê và nạo vét sông Hồng cũng là xây dựng. Họ luôn luôn sở hữu niềm tin tích cực ấy bởi họ biết tin tưởng là ngưỡng bậc bước lên hành động, bước đến thành công.

Niềm tin ấy không cô độc. Hà Nội đang mở rộng, nó đứng cao hơn về phía tây, tựa lưng vào núi Tản, chạm tay tiếp nhận sức sống Đà giang. Dưới hạ lưu hai chiếc cầu nữa đang mọc lên, đang khó nhọc mở ra những con đường thông suốt. Những cái tên thật ý nghĩa, cứ như vô tình nhưng hết sức hứa hẹn: Vĩnh Tuy – Mãi mãi yên ổn, hòa bình; Thanh Trì – Mặt nước trong lành, không tù đọng.

Thảo Điền

24.11.2008

Ghi chú: Truyện ngắn này còn dang dở. Năm 2009 tôi không “phát” đường truyện ngắn vì chẳng còn hứng thú đăng báo nữa. Truyện ngắn cuối cùng tôi viết là Tự kỷ ám thị, từ tháng 4.2009.

Một bài thơ cũ

5 phản hồi

Ngủ

*

Chết một giấc dài

Hóa ra trong mơ còn nhạc

Gác cao

Thanh lặng

Gà cảnh gáy sai giờ

*

Chết một giấc dài

Mở mắt ra thấy toàn tượng sáp

Nụ cười

Câu nói

Tăm tắp nét khuôn

*

Chết một giấc dài

Bao nhiêu năm

Chật chội cõi riêng

Nhát hèn

Im tiếng

*

Chết một giấc dài

Thịt da nhăn như xác ướp

Nền khảo cổ hãnh tiến

Bảo thủ

Ngu đần

*

Chết một giấc dài

Đất nghèo

Vẫn giàu có lương tri

Vẫn tự sướng

*

Chết một giấc dài

Đỉnh màn ướt

Đáy quần nhớp nháp

Muỗi vo ve hát khúc đầm lầy

*

Chết một giấc dài

Ai kẻ không dám dậy?

Ngủ dưới ánh mặt trời

Mà hay?

*

Nhiều giấc chết dài

Nối nhau thành một cuộc đời vô nghĩa

*

Sài Gòn 2008

Truyện ngắn Man Đảo

1 phản hồi

Man đảo

Trương Thái Du

“Đèn dầu đơi… Đèn dầu đơi. Mua dầu khuyến mãi đèn. Ô! Xin lỗi. Mua đèn khuyến mãi dầu!”. Quý rao hàng rất nhiệt tình. Hắn xí xô bằng tiếng Anh như thế này “Oils lamp… Oils lamp. Buy oils get fee lamp. Oh! Sorry. Buy lamp get fee oils…”.

Thổ dân Papua New Guinea vây quanh Quý càng lúc càng đông. Hắn quay mòng mòng bên cửa hàng tạp phẩm dã chiến: một tấm bạt rách bày đủ các thứ từ kim, chỉ, dao cạo râu, búp bê, áo thun, quần short đến đèn dầu. Sự nhạy bén của Quý thật đáng nể. Biết chắc chuyến này tàu được thuê chở gỗ ở các đảo nam Thái Bình Dương về Nhật, Quý đã đánh rất nhiều hàng từ mấy sạp chợ Xóm Chiếu gần cảng Sài Gòn để phục vụ “thượng đế ở trần”.

“Cu con, mày đi đâu đấy?” – Quý gọi giật tôi lại – “Giúp tao bán với, không thì mất hết”.

“Chẳng sao đâu. Tôi cá với anh người ở đây lành lắm. Tôi vào sâu trong bản thăm thú, đổi mì gói lấy con gà tơ và ít rau tươi”.

“Thổ tả!” – Quý rủa – “Mày đã mua mấy xô quặng vàng, không nhớ à?”.

Chuyện đó xảy ra ở cảng Rabaul. Người bản xứ đi thuyền độc mộc có càng chống lắc ra dụ cả tàu mua “quặng vàng”. Họ nhón một ít hạt tơi như cát thả xuống biển. Qua làn nước trong văn vắt, màu vàng lung linh mời gọi ánh mặt trời và tất cả chúng tôi. Không ai bảo ai, thủy thủ Việt Nam dấm dúi thu gom mỗi người mấy xô quặng. Họ bán rẻ như vé số, dại gì không mua một giấc mơ. Nhưng chiêm bao kết thúc quá sớm, khi ông đầu bếp già biết được và cảnh tỉnh. Thời trẻ ông từng học nghề thợ bạc. Ông bảo vàng là kim loại trơ nên nó thường kết thành vẩy vụn gần nguyên chất trong thiên nhiên chứ không thể hòa lẫn với sa thạch.

“Đảo này chưa có điện, họ chưa biết gian xảo đâu. Anh hãy gọi đèn dầu là ánh sáng văn hóa huyền ảo phương Đông cho nó oai. Thế mới kích thích người mua” – Tôi an ủi Quý trước khi hướng về những mái nhà sàn cheo leo nép mình vào vách núi.

***

Khe hở giữa hai ngọn núi nhỏ chồm ra biển là bãi cát đẹp, nơi Quý đang đứng bán hàng. Bờ suối thoai thoải chính giữa dẫn tôi vào ngôi làng của thổ dân nam đảo. Người ở đây da đen bóng, vóc dáng trung bình khá, nam nữ đều tóc xoăn dính chặt đầu. Họ ngụ dưới những mái lá giống như ở Tây Nguyên Việt Nam nhưng đơn giản hơn. Gần như cả làng đã chạy ra mép biển xem hoặc mua hàng.

Trước đây cộng đồng này sống sâu trong rừng, giữa một thung lũng hẹp, dân số chỉ khoảng hai trăm, chia thành vài chục bếp lửa. Ngôn ngữ của họ là một trong tám trăm năm mươi ngôn ngữ bản địa Papua New Guinea. Những người cao niên bảo khoảng năm đời trước, tổ tiên họ thoát ra khỏi cuộc chiến tàn bạo tại một hòn đảo nào đó rất xa. Hành trình vượt biển vô vọng dài dằng dặc, phó mặc cho may rủi trên một dòng hải lưu hiền hòa, đưa đoàn lưu dân đến cửa lạch này.

Lãnh tụ đầy quyền lực của họ là lão thầy cúng gia truyền, suốt đời vun vén lời nguyền mang tên đại dương: biển cả – cánh cửa trá hình của địa ngục, đầy tội ác và bất trắc,

Khi các công ty khai thác lâm sản đa quốc gia tới đây, thầy cúng truyền đời thứ tư đã quyết liệt phản đối, đồng thời cấm tiệt dân bản đi làm thuê. Không có nhân công giá rẻ tại chỗ, tốc độ tàn sát rừng rất chậm, nhiều tháng mới có một tàu biển vừa vừa đến ăn hàng.

Những nhà truyền giáo mắt xanh xuất hiện, mọi sự bắt đầu thay đổi. Quyền lực của thầy cúng bị chúa trời lấn át. Xung đột âm ỉ cháy trong làng. Thòng lọng đã thắt lại khi thầy cúng đánh thuốc độc nguồn nước sinh hoạt, giết hơn nửa đội công nhân đốn gỗ được gửi tới từ thành phố Rabaul, thủ phủ quần đảo. Các nhà lập pháp, hành pháp và tư pháp chung tay bắt bỏ tù gần như toàn bộ đàn ông trong gia tộc thầy cúng. Người ta dỡ làng cũ, dọn đến gần biển để tiện bề đi lại, phục vụ công trường thu gom và phân loại gỗ. Các chuyến tàu ùn ùn buông neo.

***

Tôi bước vào một kiến trúc tre nứa lớn có lẽ mang chức năng như nhà rông ở Việt Nam.

“Xin chào” – Tôi giật mình. Trong góc tối nhất của gian phòng ánh lên màu da trắng xanh trung niên, giọng mũi khọt khẹt y như lão hoa tiêu tôi từng gặp tại cảng Brisbane nước Úc.

“Chào anh” – Tôi nhìn về tấm bảng đen trên vách. Một bài học tiếng Anh vỡ lòng chưa xóa.

“Bọn mày lại đến đây bán rượu hả?”

“Hôm kia canô hải quan tịch thu hết rồi. Riêng tôi thì chẳng liên can. Không phải đạo đức gì, tôi là thủy thủ học việc, chưa rành buôn lậu”. Có lẽ ông ta biết chuyện nhiều thuyền viên trên tàu lén bán rượu Maxime Bình Đông cho công nhân khai thác gỗ.

“Uống nước trà nhé. Trà Papua nấu từ lá rừng” – Williams mời tôi. Thì ra anh ta là giáo viên Anh ngữ của một tổ chức phi chính phủ, đến làng tám tháng nay.

Williams kể anh đang sống giữa một cộng đồng sắc tộc bán khai. Tôi hỏi Williams người ở đây có hiểu khái niệm bán khai là gì không. Hắn trả lời tất nhiên không. Tôi bảo ngôn ngữ của thế giới văn minh tởm lợm và nguy hiểm lắm. Tôi không tin mình đến từ thế giới “bên trên”. Định vị “phía ngoài/vượt khỏi” (beyond), “ở dưới” (below) nền văn minh đang thống trị nhân loại (the reigning civilization) theo cách Williams dùng, hàm chứa một âm mưu, biến kẻ nghe thành con nợ[1].

Williams cười khùng khục. Y bảo nước Úc có hẳn những hội đoàn suốt đời đấu tranh cho tôn chỉ của tôi, thậm chí nó còn mang giá trị triết học và tôn giáo. Y hỏi tôi đọc các tư tưởng ấy trên internet hả? Tôi nói tôi chẳng ở đây nhưng tôi cũng biết, trai gái lớn lên hoang dại. Đến độ tuổi nào đó họ sẽ nhìn vào mắt nhau để quyết định có chung ngủ trên thảm lá rừng không. Thế là thành gia đình, tình yêu. Họ tiến bộ hơn chúng ta. Họ không dùng ngôn ngữ bóng bẩy để lừa phỉnh chăn gối. Họ không đánh giá quần áo, giày dép, địa vị và túi tiền trước hôn nhân.

Williams nói hai bề chiếc lá chẳng bao giờ cùng màu. Hắn nghĩ tiêu chí xem xét một cộng đồng văn minh là nhân phẩm, ý thức của mỗi con người về nhân phẩm, sự lớn mạnh của khuynh hướng bảo vệ nhân phẩm trong tổng hòa các mối quan hệ xã hội. Nếu tôi chỉ nhìn bên dưới chiếc lá thì tôi chẳng bao giờ thấy giá trị của mặt trời được chất diệp lục chắt chiu, tinh kết… Pháp luật không thể diệt trừ được cái ác, cũng như nhà tù thường làm con người xấu xa hơn – Williams quả quyết như đinh đóng cột – Xã hội văn minh giúp đỡ sự lương thiện có lợi thế thượng phong. Cái ác không còn thì bói đâu ra quảng tâm.

Tôi không bắt bẻ được lý lẽ của Williams nhưng tôi nói tư duy của hắn xa lạ với nền tảng nhị nguyên phương Tây, nơi đúng/sai, được/mất luôn luôn rạch ròi. Williams bảo tất nhiên bề nổi của văn minh phương Tây là chợ vòm toàn cầu, rặt những con buôn người có máu mặt, hậu duệ của lũ cướp biển/bức sát/xâm lăng/diệt chủng mấy thế kỷ trước.

“Anh biết chứ chưa hiểu, anh bạn à” – Williams thật thà thổ lộ – “Chỉ khi nào anh vượt qua cái biết, xóa bỏ tín điều của thông tin, anh mới bắt đầu hiểu. Chẳng hạn những đứa trẻ phải học rất nhiều để tranh vẽ của chúng mất đi sự non nớt, trong khi các họa sĩ tài danh thì luôn cố gắng giũ bỏ mọi kiến thức để trở về đường nét vụng dại, ngây thơ”.

“Anh từng đọc Lão Tử của Á Đông?” – Tôi hỏi khó Williams – “Cảm ơn anh giúp tôi hiểu ông hơn. Văn minh tất yếu phải phát triển theo chu trình, con người sẽ không phí hoài quá khứ, dù đó là cái ngày hôm qua ăn lông ở lỗ”.

“Cảm giác mất mát tự thân khi sinh hoạt giữa dân chúng hiền hòa nơi đây là có thật. Hãy vào làng chơi đi, anh sẽ trải qua những phút giây sống ra sống khá kì ảo và đáng giá”. Williams chào tạm biệt tôi.

***

Mấy gói mì tôm mang theo, tôi đổi được một con gà giò. Dân chúng thích khẩu vị mì lắm. Họ gọi mì là râmi theo âm Nhật vì mì được người Nhật đem đến đây đầu tiên.

Tôi ngược chiều với hàng đoàn dân làng trở về nhà từ bãi biển. Họ vừa đi vừa cười nói vui vẻ và không ngớt chào hỏi. Tay ai cũng nâng niu ít nhất một món hàng Việt Nam. Đến mép nước tôi chẳng thấy Quý đâu. Chiếc canô hắn thuê cũng mất dạng. Chết tiệt – tôi rủa thầm. Tôi đi ké Quý trong khi hắn nghĩ canô hắn bỏ tiền thuê, tôi trèo lên thì phải bán hàng cùng hắn. Lỗi là ở tôi. Trong thế giới đèn điện, mọi thứ phải tự hiểu là nên trao đổi sòng phẳng.

Con gà bị trói ngơ ngác và bắt đầu quáng vì ánh ngày sắp tắt. Tôi ngồi xuống cạnh biển. Cố gột hết suy nghĩ vẩn vơ, tôi tận hưởng những làn gió thanh sạch đang luồn dần vào bóng đêm.

“Mày lên nhà tao ăn tối đi. Chút tao kiếm thuyền đưa mày về” – Chủ nhân ngôi nhà sàn gần biển nhất đang đứng sau lưng tôi. Theo hướng ngón tay trỏ của ông, ánh đèn dầu leo lét.

Vợ và hai con của Kapoo quây quần giữa nhà. Họ đang dùng một chảo tinh bột nhiều xơ được trần quết nhuyễn mịn. Họ bảo đấy là thứ củ địa phương, mọc hoang bìa rừng. Tôi khách khí thò ra con gà và hỏi Kapoo có rượu chứ. May quá, chiếc chai dẹp Kapoo lục được trong vách lá góc nhà là thứ Rhum Tanduay Philippine nổi tiếng, chứ không phải Maxime Bình Đông chế từ cồn công nghiệp pha loãng, tẩy bột màu và lắng cặn bằng thuốc trừ sâu tại quận Tư, Sài Gòn.

Kapoo kể, ngày ông còn bé, cả làng bất ngờ bị cấm thịt gà, không rõ lý do. Họ chỉ cắt tiết chúng khi hiến tế rồi ném xác xuống vực, ra biển. Ăn “gà thần” là tội lỗi tày trời và sẽ bị trừng phạt. Mùa hạn hán kinh hoàng nọ, do thực phẩm thiếu thốn, dần dần dân làng bắt đầu lén lút sử dụng lại nguồn chất đạm này. Lão thầy cúng độc địa nửa kín nửa hở, không khuyến khích nhưng cũng không truy xét gắt gao. Hắn biến toàn bộ con dân của mình, kể cả gia tộc hắn, thành những kẻ phạm tội. Vô hình chung luật “cấm ăn gà” trở thành công cụ cai trị hữu hiệu. Thầy cúng mua chuộc tai mắt chỉ điểm khắp nơi. Mỗi khi cần hậu thuẫn, thỏa hiệp hay “chuyên chính”, ông ta lấy ngay con bài tẩy “giết gà” ra trấn áp. Cha Kapoo hàm oan vì một nhúm lông gà chôn sơ sài bên bờ suối, gần mái ấm của mình. Tất nhiên đa số gà của làng là gia cầm thả hoang, nó mang danh nghĩa những đứa con của mẹ rừng. Quá nhục nhã khi bị qui là kẻ cắp, cha Kapoo đã bảo toàn nhân phẩm của mình bằng cái chết tự nguyện đầy đau đớn. Trước khi tắt thở ông cố gắng trăn trối với con cái rằng ông vô tội. Cả cộng đồng đều phạm luật thì phải xem lại luật pháp. Thứ “hương ước” vô cảm kia là cạm bẫy chứ không phải đội cấm vệ quân nghiêm khắc của thần công lý.

Bữa rượu gần tàn. Williams bước vào tự nhiên như người thân của Kapoo. Anh ta pha trò: “Lại sự tích kim kê hả bác Kapoo?”. Williams hỏi Kapoo từ “luật pháp” bằng tiếng Anh dịch sang tiếng mẹ đẻ Kapoo là gì. Kapoo bảo một nửa “thầy cúng” một nửa “gà rừng”. Tôi bỗng rùng mình. Tội ác sẽ xây dựng hang ổ kiên cố tại những xứ sở mà hình luật là lưỡi kiếm sinh sát vô lương của kẻ cầm quyền. Nói man rợ chưa đúng lắm, nó “hạ cấp” hơn man rợ mấy bậc.

***

Williams đứng trên bờ vừa mở dây thuyền vừa vẫy tay chào. Anh bảo Kapoo nhất thiết phải tường thuật chuyện ăn thịt người cho tôi nghe rồi cười vang bến nước. Tiếng chèo tay nhè nhẹ nhưng dứt khoát. Ánh đèn dầu thôn xóm khuất nhanh khi thuyền rẽ trái. Trời tối đen như mực. Bóng núi đổ xuống hãi hùng, bên cạnh lời kể đều đều và chậm rãi của Kapoo.

“Chưa xưa lắm, cách làng tôi bảy cái thác hoặc mười bốn ngày chèo thuyền thì đụng một bộ lạc hung dữ, còn nguyên tục ăn thịt người. Khi phạm vào bậc thang tội trạng cao nhất, bất kể giới tính, trẻ già, kẻ thủ ác sẽ bị mổ. Ngày thi hành án luôn là lễ hội ai ai cũng náo nức mong đợi. Dân tình hả hê lấy máu tội nhân vẽ mặt nhảy múa. Món thịt người “nướng mọi” nghe bảo thơm vỡ mũi và ngon tuyệt trần, đặc biệt là sợi tủy xương cẳng chân béo ngậy chỉ dành cho thủ lĩnh.

Lạ là các nạn nhân không ra vẻ khủng hoảng. Họ có niềm tin mãnh liệt về kiếp sau huy hoàng nếu được “an táng” trong bụng đồng loại. Cho nên suốt tuần trăng “ân huệ” họ rất tích cực tẩm bổ để da thịt mỡ màng và luôn hát hò, thậm chí bứt dây trói, dậm dật những vũ điệu ma quỉ.

Khi “văn minh phá rừng nguyên sinh” tràn tới, con trai cả tù trưởng xin làm nghĩa tử một đốc công da trắng và muốn du ngoạn thế giới bên ngoài. Vị đốc công đem anh về Bamaga thành phố quê hương ông, bang Queensland. “Thái tử” mười tuổi được học hành. Chưa kịp đến ngưỡng vị thành niên hắn đã đổ đốn hippy, rượu chè, hút sách. Cha nuôi đành phải trả hắn về nơi chôn nhau cắt rốn.

Xa rừng lâu ngày, “thái tử” trở nên vô dụng và thô vụng giữa đời thường của bộ lạc. Hơn nữa, hắn còn nguyền rủa quyền lực của cha đẻ mình. Hắn phỉ báng tiên tổ và tất cả lề thói hủ lậu. Cuối cùng trong một cơn rượu chè điên loạn hắn đã phạm tội hiếp dâm kiêm loạn luân. Tù trưởng truất thừa kế của hắn và tuyên bố sẽ mở đại tiệc thịt người.

Kẻ tội đồ gào thét và tuyệt thực suốt tuần trăng ân huệ. Bộ da bọc xương của hắn thỉnh thoảng lại thều thào những câu cú như thơ không vần, lổm ngổm các khái niệm phương Tây, nào là tự do, nhân tính, phẩm giá, thân phận, số kiếp, định mệnh… Tất nhiên nhân dân không hiểu mà lại tỏ vẻ ngạc nhiên, vì hắn đánh mất truyền thống lạc quan trường tồn của tiền nhân khi đối mặt với tử thần.

Bữa thịt người thất bại thảm hại. Máu tử tội xám đặc như chì lỏng. Các bó cơ mỏng, dính chặt vào xương bốc mùi thum thủm. Bộ óc sàn sạn những cát. Mấy dây tủy vón cục và đen như đá cuội… Tù trưởng khởi phát bệnh thần kinh. Ông tuyên bố thượng đế đã chết, thiên đàng đã cấm cửa những kẻ hiến tế và vĩnh viễn hủy bỏ nghi thức man mọi”.

Kapoo dừng lời vừa lúc vách núi lặn xuống biển. Tôi đã nhìn thấy ánh điện sáng rực trên con tàu của mình.

Quý đang chong đèn vớt mực ở chiếu tiếp đất của cầu thang mạn. Hắn hồn nhiên chào Kapoo và tôi. Tôi mượn Quý mấy con mực đang chóc chách búng trong xô để nấu bát mì đãi Kapoo. Thứ hải sản tươi rói này nếu có thêm vài lá cải xanh mướt làm dáng thì ngon không thể tưởng tượng. Tôi lụi cụi trong bếp nên không để ý Quý đã lén ngoắc Kapoo về phòng hắn “tiếp thị” rượu. May mà trong túi Kapoo chỉ còn hơn mười Kina (khoảng chục Mỹ kim) nên anh lấy mỗi một chai Maxime Bình Đông.

“Ông dám bán cho bạn tôi rượu giả à?” – Tôi vặc Quý – “Thật là đê tiện”.

Quý sấn tới, túm cổ áo tôi gầm gừ: “Thằng oắt con, mày động vào miếng ăn của tao là tao ném mày xuống biển đấy”.

Kapoo luống cuống xổ một tràng bản ngữ líu lo rồi nhảy vào chắn giữa Quý và tôi. Phải giải thích mãi về “công nghệ” sản xuất rượu Kapoo mới sáng ra, dù anh không có chút ý niệm nào về thuốc trừ sâu. Tôi đành vứt chai rượu đi và đền Kapoo nửa thùng mì.

***

Tiễn Kapoo xong tôi lê bước về căn phòng sáu thước vuông của mình và nằm vật ra, chẳng thèm bật đèn. Tôi quên rất nhanh mọi thứ ruồi bu, trừ sự ám ảnh lạnh toát của câu chuyện ăn thịt người và quyết tâm bảo vệ nhân phẩm của cha Kapoo. Ngoài cửa sổ kín nước hình tròn, không gian đen đặc, quánh lên mớ lộn xộn vô minh. Tôi bỗng ước ao có một chiếc canô máy, để rẽ sóng trốn chạy con tàu rỉ sét đang dung chứa mình, dù trước mặt là màn đêm bất tận. Tôi sẽ mở hết gas, mơn trớn gió, băng lướt vào phía trong tâm hồn phẳng phiu xanh rượi bình minh hải hồ, cảm nhận tối đa gia tốc như biểu hiện rõ ràng nhất của tự do, của bay bổng và thoát ly.

Những tiếng động nhỏ nhẹ quen thuộc xuyên qua vách ván ép. Chắc chắn buồng ngủ cạnh bên đang nén chặt đám thủy thủ khát nước, ngồi đồng sát phạt nhau. “Tái phân bổ lợi nhuận buôn lậu rượu âm phủ” –  họ vẫn hài hước đểu giả như thế.

Cái chết là cuộc trốn chạy cuối cùng chăng? Tôi không biết. Thiên đường được khai sáng cho người sống, bởi đang sống lúc nào cũng đồng nghĩa với đang chết. Sống, nói cho vẹn toàn, là gì nếu không phải hành trình đến sự chết.

Có lẽ nhận thức bật ra hôm ấy, đã kết liễu tình yêu viễn dương trong tôi. Vài năm sau tôi bỏ biển và những hành trình trót mang tên chết chóc nhưng đôi khi đầy lãng mạn và thử thách, để kiếm tìm một cuộc mưu sinh khác. Tôi hoài mong nơi ấy không có nỗi bi quan đánh đồng sự sống và cái chết. Nơi ấy tồn tại niềm khát khao sáng tạo của chúa trời, mãi mãi vinh danh lẽ hiếu sinh, dẫu rằng luôn bị giới hạn bằng những đơn vị đời người.

Thảo Điền 11.2008


[1] Các từ tiếng Anh được trích trong công bố Nobel Văn chương 2008.

Bài viết cũ hơn

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 26 other followers