Tín điều trong trống đồng Việt Nam

Leave a comment

Theo Ben Kiernan trong quyển Viet Nam: A history from earliest times to present (2017), kỷ nguyên đồ đồng tại vùng đất là nước Việt Nam ngày nay diễn ra muộn hơn Lưỡng Hà, Trung Hoa (3000 – 2800 BC) hay Ai Cập và Âu Châu (2200 – 2000 BC) rất nhiều. Nó cùng thời với mảnh đất Thái Lan, chỉ vào khoảng 1500 – 1400 BC.

Theo nghiên cứu “The Distribution of Bronze Drums of the Heger I and Pre-I Types: Temporal Changes and Historical Background“, của sử gia người Nhật Keiji Imamura, quá trình hình thành và phát triển trống đồng được chia làm 4 giai đoạn như liệt kê bên dưới, kèm theo họa đồ phân bổ. Các diễn giải và khớp nối lịch sử theo sau là của chúng tôi.

  1. Giai đoạn thứ nhất, phase 0, TK 4 đến TK 3 trước công nguyên:

Phase0

Phát tích trống đồng có lẽ là từ Vân Nam. Nhánh thứ nhất lan truyền xuống châu thổ sông Hồng dọc theo Hồng hà và Đà giang. Nhánh thứ hai đến đầu nguồn Tây Giang ở Quảng Tây. Ở giai đoạn này trống đồng chưa xuất hiện tại Đông Sơn – Thanh Hóa.  Cuối TK 4 BC, Vân Nam đã bị người Sở thôn tính. Chuyện này ghi rõ trong Sử Ký: “Bắt đầu từ thời Sở Uy Vương (339 BC – 329 BC), đã sai tướng quân Trang Kiểu theo thượng lưu Trường giang chiếm các vùng phía tây đất Ba và Kiềm Trung. Trang Kiểu là hậu duệ của Sở Trang Vương ( 613 BC – 591 BC). Kiểu đến hồ Điền, rộng ba trăm dặm, xung quanh đất đai bằng phẳng phì nhiêu trải dài cả ngàn dặm, dùng binh lính trấn áp rồi gộp vào nước Sở. Kiểu muốn quay về Sở báo tin, nhằm lúc Tần đang đánh Sở để chiếm Ba quận và Kiềm Trung quận (316 BC), đường bị chặn, bèn quay lại xưng vương xứ Điền, đổi cách ăn mặc, sinh hoạt bằng tập quán bản địa như tù trưởng”.

  1. Giai đoạn thứ hai, phase 1, TK 3 đến TK 1 trước công nguyên:

Phase1

Dưới sức ép thực dân của người Sở rồi sau đó là người Tần và Hán, trống đồng bắt đầu thiên di về phía nam tạo nên đỉnh cao Đông Sơn. Phase 1 này cũng xuất hiện ở Miến Điện, Thái Lan và Nam Lào.

  1. Giai đoạn thứ ba, phase 2, TK 1 trước công nguyên đến TK 2 sau công nguyên:

Phase2

Đông Sơn trở thành trung tâm trống đồng cho đến khi Mã Viện đánh vào Cửu Chân. Từ Cửu Chân, người Đông Sơn đã giong buồm xuống phía nam chạy giặc. Đó là lý do các đảo ở Indonesia xuất hiện dày đặc trống phase 2. Số lượng trống đào được đến năm 2017 đã lên đến 50 chiếc (Ben Kiernan – 2017).

  1. Giai đoạn thứ tư, phase 3, TK 2 sau công nguyên trở đi:

Phase3

Người Hán đã làm chủ những vùng đồng bằng màu mỡ ven biển và cao nguyên Vân Nam trù phú. Các bộ tộc bản địa đi sâu vào rừng rồi lại ngược lên Quảng Tây. Văn hóa trống đồng bỗng bừng sáng ở trung lưu Tây Giang rồi khiêm tốn là một nét văn hóa dân tộc thiểu số ở Hoa Nam từ đó đến nay.

Điều đặc biệt nên lưu ý là Quảng Đông, xứ sở của người Âu Việt, con cháu nước Việt chiến quốc, địa bàn nước Nam Việt của Triệu Đà hoàn toàn không xuất hiện một chiếc trống đồng nào cả. Ở phase 1, Quảng Tây trong thời điểm các bộ tộc Lạc Việt đang bị tấn công, đồng hóa và Hán hóa dữ dội nhất, cũng thấy rất ít trống đồng.

***

Lần theo dấu vết trống đồng, chúng tôi thấy muộn nhất là ở thế kỷ thứ 4 trước công nguyên người Thái cổ ở Vân Nam đã đặt chân đến miền bắc Việt Nam. Ở khía cạnh ngôn ngữ, học giới nói chung đã công nhận Mon – Khmer là lõi ngôn ngữ của các cư dân bản địa Việt Nam thời đồ đá. Sắc dân này có nước da đen như người Khmer, Champa. Hình thái xã hội bộ lạc săn bắt hái lượm, lãnh tụ là tộc trưởng. Một số từ Việt có gốc Mon – Khmer tiêu biểu như sau: Con – Koun; Cháu – Chau; Tay – Dai; Một – Moui; Hai – Pir; Ba – Bei; Bốn – Buon; Năm – Pram; Bầu (bí) – Lpầu; Khèn (kèn) – Khèn; Khố (quần)- Kho-ô; Mẻ – Khmés; Ná (cung nỏ) – Sna…

Thời điểm 400 BC – 300 BC có khả năng là lúc lớp vỏ nông nghiệp Thái cổ đi vào tiếng Việt đồng thời với trống đồng. Văn minh lúa nước và công nghệ luyện kim của trống đồng đã thiên di xuống từ Vân Nam. Xã hội chuyển hóa lên hình thức liên minh các bộ lạc có tù trưởng (chiefdom). Lớp vỏ Thái cổ cùng với hệ thống thanh điệu của nó đã phủ lên tiếng Việt: mương, đồng ruộng, vịt, bún – pún, dứa, ớt… Bằng chứng rõ nét của sự hợp chủng là các từ đẳng lập Việt (Mon – Khmer) – Thái: Chim Chóc, Chó Má, Mặt Nạ…

Sớm nhất là sau năm 81 BC, bắt đầu ở Cửu Chân và sau đó tại quận Giao Chỉ và Nhật Nam người Hán thâm nhập Việt Nam. Từ đó ngôn ngữ Việt được khoác lên bộ áo ngoài rực rỡ nhất, lòe loẹt nhất, chiếm đến 70% từ vựng Việt Ngữ.

Giai đoạn cuối của trống đồng Vân Nam – Đông Sơn bất ngờ bừng sáng tại Quảng Tây từ thế kỷ thứ 2 sau công nguyên là một chi tiết thú vị, nếu chúng ta liên kết với cuộc nổi dậy của Hai Bà Trưng năm 40 – 43.

Hiện trên mạng lưu truyền rất nhiều thông tin cho rằng có những đền thờ Hai Bà Trưng ở rất sâu trong đất Trung Quốc. Họ giải mã bằng hệ địa – chính trị hiện đại và cho đó là dấu hiệu lãnh thổ Lạc Việt từng một thời rộng mênh mông. Rất tiếc, chúng tôi chưa thấy một tài liệu thuyết phục nào cả, trừ bài thơ thời Lê, thế kỷ 15 có tựa “Đề Khâm Châu Trưng nữ tướng miếu – 題欽州徵女將廟” của Nguyễn Thiên Túng.

Giả thiết của chúng tôi là: Từ năm 43 AD đến 100 AD, khi người Hán đã chiếm xong các vùng đồng bằng màu mỡ, giao thông thuận tiện, ven biển hoặc ở các cửa sông, phần lớn người Lạc Việt đã bỏ xứ ra đi. Trên bộ họ tỏa đi mọi hướng, lên rừng phía tây thành người Mường, xuôi nam hoặc ngược bắc đến lãnh thổ Champa sau này hoặc Quảng Tây. Trên biển, xuất phát từ Thanh Hóa, người Lạc Việt xuôi gió mùa đông bắc xuống các đảo Indonesia. Duy nhất nhánh Lạc Việt ở Quảng Tây đã bảo tồn thành công văn hóa trống đồng từng bị Mã Viện âm mưu tận diệt. Sau thời Đông Hán họ tự gọi mình là người Lý, người Lê. Hiện nay lại có thêm tên Tráng tộc, Thủy tộc…

ZH_06-02

Ảnh: Lễ hội trống đồng của người Tráng ở Quảng Tây – Trung Quốc ngày nay.

Trống đồng tại đỉnh cao rực rỡ Đông Sơn – Thanh Hóa của nó hoàn toàn suy tàn, nằm yên dưới nhiều thước đất trong 1800 năm đằng đẵng. Đó chính là lý do sử gia Lê Tắc, hậu duệ của thứ sử Giao Châu thời Đông Tấn ghi nhận các bộ tộc nhỏ sử dụng trống đồng còn ở lại Việt Nam quãng thế kỷ 14 là Man Tử (bọn mọi) hoặc Liêu Tử (bọn hoang dã hung ác). Nguyên văn Hán ngữ trong An Nam Chí Lược như sau:

獠子: 獠子者蠻子異名也. 多隸湖廣雲南. 有服役於交阯. 又有雕題鑿齒者. 種類頗多. 古載有頭形獠子, 赤裩獠子, 鼻飲獠子. 皆居巖窟或橧巢, 飲蘆酒, 好戰敵. 擊銅鼔以髙大者為貴. 鼔初成置庭中設酒招同類來者盈門. 豪富女子以金銀釵擊鼔叩畢留與主人. 或云銅鼔乃諸葛亮征蠻鉦也.

Liêu tử: Liêu tử là tên khác của bọn mọi (Man tử). Đa phần cư trú ở Hồ Quảng (đây là một khu hành chính thời Nguyên và Minh, bao gồm phía nam Hồ Bắc, Hồ Nam, phía đông Trùng Khánh, bắc Quảng Đông và một vài vùng của Quảng Tây) và Vân Nam. Họ cũng phục dịch ở quận Giao Chỉ. Thêm nữa họ còn vẽ trán, cà răng. Có nhiều chủng loại. Sách xưa liệt kê Liêu tử đầu hình (có lẽ là búi tóc), Liêu tử mặc khố đỏ và Liêu tử tị ẩm (theo chúng tôi là uống rượu bằng cần trúc). Họ đều sinh sống cư trú ở hang động trên núi cao hoặc nhà sàn. Họ hay uống các vò rượu có cần trúc hoặc sậy, thích đánh nhau, gõ trống đồng, trống càng to lớn thì càng quý giá. Trống vừa đúc xong thì đặt giữa sân, bày rượu, mời đồng loại đến chật nhà. Con gái các nhà giàu (làm khách) thường dùng những chiếc thoa bằng vàng hoặc bạc gõ vào trống, chúc mừng xong thì trao tặng luôn cho chủ nhân. Có người nói rằng trống đồng chính là chiêng của Gia Cát Lượng khi nam chinh đánh mọi.

***

Trống đồng từ Mã Viện (Mã Viện Liệt Truyện – Hậu Hán Thư) vốn chỉ được xem như nguyên liệu để nấu chảy đúc ngựa đồng, cột đồng; đến Lê Tắc coi đó là sản phẩm của những sắc dân bán khai, là 1300 năm. Các cổ vật này rõ ràng không được người Hán hoặc giới tinh hoa phong kiến Việt Nam đánh giá cao. Với người Hán thì thật dễ hiểu, đồ đồng Thương Chu của họ đã tinh xảo và mang tính mỹ thuật hàng đầu nhân loại. Nhà Tần đã đúc được những tượng ông trọng nặng 1000 thạch là khoảng 10,9 tấn. Về phía người Việt, điều hợp lý có thể nhìn nhận ở đây là họ đã tự cho mình là một chi Hán, ít nhất là về mặt văn hóa. Do đó sự vô cảm với trống đồng đã diễn ra rất tự nhiên. Hơn nữa trống đồng là vật phẩm tuy có giá trị thẩm mỹ nhất định, nhưng nó phục vụ đời sống (tập hợp dân chúng khi có chiến tranh) và tín ngưỡng (gõ ở các lễ hội cầu mưa hoặc mừng mùa mới) trong không gian bộ lạc bé nhỏ. Dưới các triều đại phong kiến Việt Nam, trống đồng vô dụng và hẳn nhiên đã bị quên lãng.

Tình cờ, các công trình khảo cổ học Đông Sơn đầu thế kỷ 20 trùng với thời điểm người Việt Nam hiện đại đang xây dựng cho mình mô hình nhà nước dân tộc để giải phong kiến và giành lại độc lập từ thực dân Pháp. Trống đồng bỗng trở thành vưu vật mang tính biểu tượng mà trời đất ban cho mảnh đất hình chữ S, niềm tự hào quá khứ xa xăm, dù lúc đó cổ sử Việt hãy còn tuyệt đối mù mờ.

Sản phẩm dễ thấy nhất của nhà nước dân tộc là tinh thần dân tộc, đôi khi khá thiên lệch. Tinh thần ấy đã phong tỏa và làm biến dạng mọi công trình khảo cổ trống đồng trên đất nước Việt Nam. Cô lập nó khỏi các thành tựu khảo cổ trống đồng ở trong khu vực, từ Indonesia, Thái Lan, Lào, Miến Điện, đến Trung Quốc. Người Việt ngày nay đa số đặt cược vào trống đồng một nền văn minh bản địa thuần Việt rực rỡ, vĩ đại hơn văn minh Trung Hoa rất nhiều. Nhưng đáng tiếc đó chỉ là một tín điều mang bản chất tôn giáo yếm thế và tự ti.

Saigon @2017

 

Comment by Tích Dã

Leave a comment

Entry này tôi xin copy toàn bộ comment của cụ Tích Dã vào đây, để rộng đường dư luận. Tôi không muốn để chúng dưới các bài viết của mình, sợ nó gây loãng nội dung.

1.

Cổ sử Việt Nam trước thời Hai Bà Trưng cũng giống cổ sử Trung Quốc thời Ngũ Đế (Hoàng Đế-Chuyên Húc-Nghiêu-Thuấn-Vũ) vậy. Đây đều là chưa có văn hiến (chữ viết) để chép sử, hoàn toàn đều là truyền thuyết ở các địa phương.

Chẳng hạn Thái Sử Công khi chép về thời Ngũ Đế đã viết rằng: “Nhiều học giả kể chuyện Ngũ Đế, đều là chuyện rất xưa rồi. Mà sách 《Thượng thư》 chỉ chép chuyện từ thời vua Nghiêu về sau, còn Bách gia kể chuyện Hoàng Đế, lời văn của họ không rành mạch, khiến cho những kẻ sĩ đọc sách cũng khó mà bàn luận được những chuyện ấy. Khổng Tử truyền lại lời giảng 《Tể Dư vấn Ngũ Đế đức》 và 《Đế hệ tính》 nhưng cũng có các nhà Nho khác không truyền dạy được. Tôi từng đi về phía tây đến núi Không Đồng, phía bắc qua quận Trác Lộc, phía đông đến ở bờ biển, phía nam xuôi miền Giang-Hoài, đến đâu các bô lão cũng đều kể chuyện chỗ cũ của Hoàng Đế-Nghiêu-Thuấn, phong tục mỗi nơi vốn có khác, nhưng đều khá đúng mà không khác với lời văn trong sách cổ. Tôi lại xem sách 《Xuân thu》, 《Quốc ngữ》, thấy các sách ấy càng làm sáng tỏ cho các chuyện kể trong 《Tể Dư vấn Ngũ Đế đức》 và 《Đế hệ tính》 vậy. Chỉ là vì người ta không chịu xem xét kĩ càng, nhưng thực ra những chuyện ấy đều không phải sáo rỗng đâu. 《Thượng thư》 có chép sót nhiều chuyện, nhưng các chuyện liên quan đều có thể thấy được ở các sách. Nếu không chăm đọc xét kĩ thì không biết được ý nghĩa của các lời văn ấy, đấy gọi nhìn kém nghe ít thì khó mà biết được. Tôi lần lượt biện luận các chuyện ấy, chọn những chuyện rành mạch trong các sách, cho nên chép thành chuyện đầu của Bản kỉ.”

Trung Quốc có văn hiến (chữ viết) vào thời nhà Thương. Có chép sử vào thời nhà Chu, đặt chức Thái sử để chép sử. Do đó từ thời nhà Chu về sau, người Trung Quốc bắt đầu chép sử, hoặc như Khổng Tử soạn sách Xuân thu kể chuyện nước Lỗ, các nước chư hầu thời Xuân thu-Chiến quốc đều có chép sử của mình, cho nên Thái Sử Công mới có tư liệu để chép Bản kỉ-Thế gia của các nhà Hạ-Thương-Chu, lại thêm tham khảo các sách đương thời của Bách gia chư tử để chép Liệt truyện chủ yếu về thời Xuân thu-Chiến quốc về sau. Trước đó thời Ngũ Đế hoàn toàn là truyền thuyết trước khi có văn hiến. Những chuyện về thời Ngũ Đế được lưu truyền trong dân gian, nơi có các di tích như đất phong tước, kinh đô, lăng mộ của Ngũ Đế, vì niên đại đã rất xa cho nên các sách đời sau chép khác nhau và mâu thuẫn nhau.

Ví dụ chuyện thời vua Nghiêu. 《Sử kí – Ngũ Đế bản kỉ 》chép theo 《Thượng thư 》(Nghiêu điển-Thuấn điển) của Khổng Tử là vua vua Nghiêu nhường ngôi cho vua Thuấn, nhưng 《Trúc thư kỉ niên》 của tác giả khác thời Chiến quốc lại chép vua Nghiêu bị vua Thuấn cầm tù mà cướp ngôi. Các sách thời Tần-Hán về sau như 《Đế vương kỉ》, Quát địa chí cũng chép vua Nghiêu đóng đô ở đất Bình Dương, hoặc đất Đào Đường. Đại khái là như vậy. Dù là truyền thuyết rất xưa, nhưng khảo cổ di chỉ Đào Tự ở huyện Tương Phần tỉnh Sơn Tây đã chứng minh nhưng ghi chép ấy là đúng, chứ không phải hư cấu. Hay nói đúng là vua Thuấn là nhân vật lịch sử có thật.

Trở lại với lịch sử Việt Nam chuyện về Hùng Vương (Lạc Vương) và An Dương Vương cũng như chuyện Ngũ Đế vậy. Các sách địa phương chí của các tác giả người Trung Quốc khi chép về Giao Chỉ (An Nam) như 《Giao châu ngoại vực kí》, 《Giao châu kí》, 《Nhật Nam truyện》, 《Nam Việt chí》, 《Quảng châu kí》có chép về Giao Chỉ có ruộng Lạc, các chức Lạc vương, Lạc hầu, Lạc tướng, An Dương Vương đóng đô ở huyện Phong Khê (tức huyện Tây Vu thời Hán hay huyện Bình Đạo thời Ngô-Tấn), chuyện Triệu Đà đánh phá An Dương Vương… Và khảo cổ di chỉ Cổ Loa đã chứng minh ghi chép trên là đúng, hay nói đúng là An Dương Vương là nhân vật lịch sử có thật. Các di chi văn hóa Đông Sơn (thời đại đồ đồng) là minh chứng không thể chối bỏ cho thời đại Hùng Vương (Lạc Vương) và An Dương Vương trong lịch sử Việt Nam. Vừa phù hợp với sách xưa và khảo cổ.

Vua Thuấn là thời đại đồ đá bắt đầu chớm vào thời đại đồ đồng ở Trung Quốc là cũng có thật, huống chi Hùng Vương và An Dương Vương đã bước vào thời đại đồ đồng (di vật tiêu biểu là trống đồng). Đã bước vào thời đại đồ đồng là bước tiến khoa học kĩ thuật lớn của người Việt cổ, đẩy nhanh sản xuất, khai thác đất đai, của cải sẽ dư thừa, và bắt đầu xuất hiện nhà nước phân cấp quý tộc (thủ lĩnh) và dân thường. Cùng thời xung quanh đất Giao Chỉ (An Nam) như ở Vân Nam cũng có nước Điền, ở Qúy Châu cũng có nước Dạ Lang, ở Quảng Tây có nước Tây Âu vậy.

Chuyện phía nam Giao Chỉ có nước Việt Thường, xuất hiện đầu tiên trong sách 《Thượng thư đại truyện》của tác giả Phục Thắng (伏勝) đầu thời Hán. Sau đó tác giả Phạm Diệp đã dựa vào đó mà chép vào 《Hậu Hán thư- Nam Man Tây Nam Di liệt truyện》. Trong khi sách 《Trúc thư kỉ niên》 chỉ chép Việt Thường hiến chim trĩ cho nhà Chu mà không chép Việt Thường ở phía nam Giao Chỉ. Nhưng không hẳn là không đúng. Người Trung Quốc khi thống trị Giao Chỉ đãđặt chân lên đó đã phát hiện ra chỗ cũ vốn là nước Việt Thường thời nhà Chu ở phía nam Giao Chỉ không phải là không đúng, chứ không phải hư cấu.

《水經注》卷三十六溫水引《林邑記》曰:九德,九夷所極,故以名郡。郡名所置,周越裳氏之夷國。
《Thủy kinh chú 》quyển 36 Ôn thủy dẫn 《Lâm Ấp kí》chép: Quận Cửu Đức là chỗ tận cùng của Cửu Di, cho nên đặt tên quận như vậy. Tên quận đặt ra là vì quận ấy vốn là nước Việt Thường của người Di thời nhà Chu.

《Tấn thư -Địa lí chí》cũng chép quận Cửu Đức đặt ra vào thời nhà Ngô gồm có huyện Việt Thường. Các sách Địa lí chí đời sau đều chép quận Cửu Đức vốn là đất của Việt Thường thời xưa. Quận Cửu Đức đúng là phía nam quận Giao Chỉ như sách 《Thượng thư đại truyện》 và 《Hậu Hán thư – Nam Man Tây Nam Di liệt truyện》 chép.

Do vậy 《An Nam chí lược》 chép cõi Nam Giao thời xưa (tức theo ý sách này thì đất An Nam là đất Nam Giao thời xưa ) là Việt Thường thời nhà Chu là không đúng, chỉ đúng một phần. Tức là An Nam (Nam Giao) thời nhà Trần của Lê Tắc gồm 3 quận Giao Chỉ-Cửu Chân-Cửu Đức thời Hán-Tam quốc-Tấn, trong đó Cửu Đức là nước Việt Thường thời nhà Chu.

 

2.

Lại thêm 3 dị bản về An Dương Vương nữa:

《史記》卷百一十三南越列傳第五十三索隱引《廣州記》云:交趾有駱田,仰潮水上下,人食其田,名為駱人。有駱王、駱侯。諸縣自名為駱將,銅印青綬,即今之令長也。後蜀王子將兵討駱侯,自稱為安陽王,治封溪縣。後南越王尉他攻破安陽王,令二使典主交阯、九真二郡人。
《Sử kí》 quyển 113 Nam Việt liệt truyện 53 Sách ẩn (Đường – Tư Mã Trinh soạn) dẫn 《Quảng châu kí》chép:

Quận Giao Chỉ có ruộng Lạc, dân trông nước thủy triều lên xuống mà làm ăn ở ruộng ấy nên đặt tên là người Lạc. Có các chức Lạc Vương-Lạc hầu, các huyện tự đặt chức Lạc tướng đeo ấn đồng dải xanh, tức là chức Lệnh-Trưởng ngày nay vậy. Sau đó con vua Thục đem quân đánh Lạc Hầu, tự xưng là An Dương Vương, trị ở huyện Phong Khê. Sau nữa vua Nam Việt là Úy Tha đánh phá An Dương Vương, sai hai sứ giả điển chủ người hai quận Giao Chỉ-Cửu Chân.

___________________

《北堂書鈔》卷第一百二十五武功部十三引劉欣期《交州記》云:安陽王者其城在乎道縣之東北林賀周相睪通徐作神弩趙曲者南越王佗之孫屢戰不克矯託行人因得與安陽王女媚珠通截弦而兵既重交一戰而霸也。
《Bắc đường thư sao》 quyển 125 Vũ công bộ 13 (Đường – Ngu Thế Nam soạn) dẫn 《Giao châu kí》 của Lưu Hân Kì chép:

An Dương Vương có thành ở phía đông huyện Bình Đạo, có (người thần là) Cao Thông làm ra nỏ thần. Triệu Khúc là cháu của vua Nam Việt tên Đà nhiều lần đến đánh nhưng không thắng, bèn muợn cớ gửi người sang nhân đó mà thông giao với con gái của An Dương Vương là Mị Châu, cắt đứt dây nỏ mà đem binh sang đánh nữa, bèn một trận là thắng.

_____________

《舊唐書》卷41志第二十一地理四引《南越志》:交趾之地,最為膏腴。舊有君長曰雄王,其佐曰雄侯。後蜀王將兵三萬討雄王,滅之。蜀以其子為安陽王,治交趾。其國地,在今平道縣東。其城九重,周九里,士庶蕃阜。尉佗在番禺,遣兵攻之。王有神弩,一發殺越軍萬人,趙佗乃與之和,仍以其子始為質。安陽王以媚珠妻之,子始得弩毀之。越兵至,乃殺安陽王,兼其地。
《Cựu Đường thư》 (Hậu Tấn – Lưu Hú soạn) quyển 41 Chí 21 Địa lí 4 dẫn 《Nam Việt chí》 chép:

Đất quận Giao Chỉ rất là màu mỡ, ngày xưa có quân trưởng gọi là Hùng Vương, phụ tá là Hùng Hầu. Sau có vua Thục đem ba vạn lính đánh diệt Hùng Vương đi. Vua Thục nhân đó cho con mình làm An Dương Vương, trị đất Giao Chỉ. Đất nước ấy ở phía đông huyện Bình Đạo ngày nay. Thành nước ấy có chín vòng, chu vi chín dặm, dân chúng đông đúc. Úy Đà đóng đô ở thành Phiên Ngu phát binh sang đánh. Vương có nỏ thần bắn một phát giết một vạn quân Việt. Triệu Đà bèn hòa với vương, rồi sai con mình tên là Thủy làm con tin. An Dương Vương đem con gái tên là Mị Châu gả cho Thủy, Thủy thấy được nỏ thần bèn hủy đi. Kịp khi quân Việt đến liền giết An Dương Vương, chiếm cả nước ấy.

_____________________________

Dù có dị bản khác nhau, An Dương Vương có sách chép là vượt biển bỏ trốn, có sách chép là bị quân Nam Việt giết, hoặc có bản là Triệu Đà đánh An Dương Vương hoặc có sách chép cháu của Triệu Đà là Triệu Khúc đánh An Dương Vương, nhưng đều chép An Dương Vương đóng đô Phong Khê (huyện Bình Đạo) và bị quân Nam Việt đánh phá và mất nước. Niên đại An Dương Vương cùng thời với nước Nam Việt của Triệu Đà ở thế kỉ 3-2 TCN, các sách địa phương chí đời sau chép chuyện An Dương Vương sớm nhất là thời Tấn (thế kỉ 3 SCN), chỉ cách thời đại An Dương Vương khoảng 5-6 thế kỉ. Cũng là gần hơn nhiều so với chuyện vua Nghiêu, các sách chép ấy còn đáng tin hơn chuyện vua Nghiêu. Vua Nghiêu cũng được chứng minh là thật rồi, vậy thì An Dương Vương còn thật hơn nhiều.

 

3.

Chuyện thần thoại Thần cung bảo kiếm của tác giả người Choang ở Quảng Tây rõ ràng là có cốt truyện với nhân vật khác hẳn chuyện Mị Châu-Trọng Thủy của Việt Nam. Chuyện Mị Châu-Trọng Thủy tức An Dương Vương-Triệu Đà được ghi trong sách địa phương chí của người Trung Quốc khi họ đặt chân lên Việt Nam thời xưa. Niên đại lại khác xa trời vực. Một bên chép bằng văn ngôn cổ văn có giá trị lịch sử, một bên là văn bạch thoại chỉ có giá trị văn học. Cơ bản không thể so sánh với nhau được!

Truyện Thần cung bảo kiếm có thể phản ánh lịch sử Quảng Tây thời xưa mà thôi, không phản ánh lịch sử Việt Nam. Quảng Tây và Việt Nam là 2 vùng đất có địa lí và lịch sử-nhân vật khác nhau. Triệu Đà có thể “hòa tập Bách Việt” ở Quảng Tây với vua Tây Âu và vua Lạc Việt, nhưng lại đánh phá An Dương Vương ở Việt Nam. Ở Việt Nam có di tích Cổ Loa là thời đại An Dương Vương nhưng ở Quảng Tây lại không có. Vua Tây Âu ở Quảng Tây không phải là An Dương Vương ở Việt Nam.

Còn chính sách “hòa tập Bách Việt” (和集百越) của Triệu Đà thực ra nó có nguồn gốc thế này:

Sử kí – Nam Việt liệt truyện: 高帝已定天下,為中國勞苦,故釋佗弗誅。漢十一年,遣陸賈因立佗為南越王,與剖符通使,和集百越,毋為南邊患害,與長沙接境。Cao Đế đã bình định thiên hạ, vì Trung Quốc khổ ải, cho nên tha cho Đà mà không đánh. Năm thứ 11 thời nhà Hán (năm 196 TCN), sai Lục Giả sang nhân đó lập Đà làm Nam Viêt Vương, cùng chặt phù thông sứ, sai phải hòa tập Bách Việt, chớ gây hại ở biên giới phía nam, tiếp giới với nước Trường Sa.

Hán thư – Cao Đế kỉ 十一年夏五月,詔曰:「粵人之俗,好相攻擊,前時秦徙中縣之民南方三郡,使與百粵雜處。會天下誅秦,南海尉它居南方長治之,甚有文理,中縣人以故不耗減,粵人相攻擊之俗益止,俱賴其力。今立它為南粵王。」使陸賈即授璽綬。它稽首稱臣。Năm thứ 11, mùa hạ, tháng 5, chiếu rằng: “Tục của người Việt là hay đánh đấu lẫn nhau, ngày trước nhà Tần dời dân Trung Nguyên xuống ở ba quận miền nam, sai ở lẫn với người Bách Việt. Gặp lúc thiên hạ diệt nhà Tần, quan Úy quận Nam Hải tên là Đà làm quân trưởng trị ở phương nam rất có văn lí, người Trung Nguyên do đó không bị hao tổn, tục đánh đấu lẫn nhau của người Việt ngày càng ngừng, đều nhờ sức của Đà. Nay lập Đà làm Nam Việt Vương.” Sai sứ là Lục Giả sang trao cho ấn thao. Đà cúi đầu xưng thần.

________________

Rõ là tục người Bách Việt ưa đánh đấu lẫn nhau, nhà Hán lo ngại việc ấy sẽ gây hại biên giới phía nam, cho nên lệnh cho Triệu Đà phải hòa tập với họ, tức là người Việt ở lẫn với người Trung Nguyên trong ba quân miền nam đấy thôi, tức là Nam Hải, Quế Lâm và Tượng Quận. Nhưng sau đó Triệu Đà khi Lữ Hậu chết (năm 180 TCN) đã đem binh uy hiếp hối lộ Mân Việt ở Phúc Kiến và Tây Âu ở một phần Quảng Tây và Lạc ở Việt Nam, bắt các nước ấy thần phục.

 

4.

《尚書大傳》卷四大誥曰:

交阯之南有越裳國。周公居攝六年,制禮作樂,天下和平。越裳以三象,重譯而獻白雉,曰道路悠遠,山川阻深,音使不通,故重譯而朝。成王以歸周公。公曰:德不加焉,則君子不饗其質。政不施焉,則君子不臣其人;吾何以獲此賜也?其使請曰:吾受命吾國之黃耇,曰久矣天之無烈風澍雨,意者中國有聖人乎?有則,盍往朝之。周公乃歸之於王,稱先王之神,致以薦於宗廟。周德既衰,於是稍絕。

《Thượng thư đại truyện》quyển 4 Đại cáo chép:

Phía nam của xứ Giao Chỉ có nước Việt Thường. Vào thời Chu Công nhiếp chính được sáu năm, chế lễ tác nhạc, thiên hạ hòa bình, người nước Việt Thường đến qua quan Tượng tư, nhiều lần phiên dịch mà dâng chim trĩ trắng, nói rằng: “Đường lối xa xăm, sông núi ngăn cách, tin tức không thông, cho nên nhiều lần phiên dịch mà đến chầu.” Thành Vương đem (chim trĩ trắng) cho Chu Công. Chu Công nói: “Đức không gia thêm cho người thì quân tử không hưởng vật dâng tặng của người. Chính lệnh không ban đến cho người thì quân tử không bắt người thần phục. Ta có cớ gì mà lấy vật dâng tặng này?” Sứ giả nước ấy xin rằng: “Tôi vâng mệnh ông già nước tôi cho rằng đã lâu rồi trời không nổi mưa dầm gió lớn, nghĩ là Trung Quốc có bậc thánh nhân chăng? Nếu vậy thì hãy đến chầu bậc ấy.” Chu Công bèn đưa về cho vương, xưng là vì tiên vương có thần nên mới vậy, đem đến cúng tế ở tông miếu. Về sau đức nhà Chu suy, do đó (người nước Việt Thường) bèn cách tuyệt.

___________________________

《今本竹書紀年》周紀成王曰:

九年春正月,肅慎氏來朝,王使榮伯錫肅慎氏命。十年,越裳氏來朝。

《Kim bản trúc thư kỉ niên》Chu kỉ Thành Vương chép:

Năm thư chín (năm 1107 TCN) , mùa xuân, tháng giêng, người nước Túc Thận đến chầu, vương sai Vinh Bá ban lệnh cho người nước Túc Thận. Năm thứ mười (năm 1106 TCN), người nước Việt Thường đến chầu.

______________

《晉書》卷一十五地理志下曰:

九德郡吳置,周時越常氏地。

《Tấn thư》quyển 15 Địa lí chí hạ chép:

Quận Cửu Đức đặt ra thời nhà Ngô, là đất của nước Việt Thường thời nhà Chu.

_______________

《梁書》卷五十四列傳第四十八諸夷曰:

林邑國者,本漢日南郡象林縣,古越裳之界也。

《Lương thư》quyển 54 Liệt truyện 58 Chư Di chép:

Nước Lâm Ấp vốn là huyện Tượng Lâm quận Nhật Nam thời nhà Hán, thuộc cõi nước Việt Thường thời xưa vậy.

___________________

Vậy xem ra nước Việt Thường thời nhà Chu rộng dài từ quận Cửu Đức (thời Tấn) bao quát cả quận Nhật Nam (thời Hán), tức là một dải đất từ tỉnh Hà Tĩnh đến đèo Hải Vân ngày nay. Đó cũng là nguyên nhân nhà Nguyễn từng muốn đặt tên nước là Nam Việt với nghĩa chữ Nam là đất An Nam và đất Việt Thường vậy, nhưng nhà Thanh sợ trùng với nước Nam Việt thời Hán nên đổi lại thành Việt Nam như ngày nay.

 

5.

Thực ra trang sử Việt đầu tiên phải kể đến Sử kí của Đỗ Thiện thời nhà Lí (thế kỉ 11-12) Đại Việt sử kí của Lê Văn Hưu thời Trần (thế kỉ 13-14)) nhưng đều thất truyền. Ngoài ra còn có Việt sử lược thời nhà Trần (thế kỉ 13-14) bị lưu lạc sang Trung Quốc ở Tứ khố toàn thư của nhà Thanh.

《越史略》卷上國初沿革曰

昔黄帝既建萬國,以交趾逺在百粤之表,莫能統屬,遂界於西南隅,其部落十有五焉,曰交趾、越裳氏、武寧、軍寧、嘉寧、寧海、陸海、湯泉、新昌、平文、文郎、九真、日南、懐驤、九德,皆《禹貢》之所不及。至周成王時,越裳氏始獻白雉,《春秋》謂之闕地,《戴記》謂之雕題。至周莊王時,嘉寧部有異人焉,能以幻術服諸部落,自稱碓王,都於文郎,號文郎國。以淳質爲俗,結繩爲政,傳十八世,皆稱碓王。越勾踐嘗遣使来諭,碓王拒之。周末,爲蜀王子泮所逐而代之。泮築城於越裳,號安陽王,竟不與周通。秦末趙佗據欝林、南海、象郡以稱王,都番禺,國號越,自稱武皇。時安陽王有神人曰臯魯,能造栁弩,一張十放,教軍萬人。武皇知之,乃遣其子始為質,請通好焉。後王遇臯魯稍薄,臯魯去之。王女媚珠又與始私焉,始誘媚珠求看神弩,因毁其機。馳使報武皇,武皇復興兵攻之,軍至,王又如初,弩折,衆皆潰散,武皇遂破之。王銜生犀入水,水為之開,國遂屬趙。

《Việt sử lược》 quyển thượng Quốc sơ duyên cách chép:

Ngày xưa Hoàng Đế đã dựng muôn nước, thấy đất Giao Chỉ xa ở ngoài cõi Bách Việt, chẳng thể thống thuộc được, bèn giới hạn ở góc tây nam, trong đó có mười lăm bộ lạc có tên là: Giao Chỉ, Việt Thường Thị, Vũ Ninh, Quân Ninh, Gia Ninh, Lục Hải, Thang Tuyền, Tân Xương, Bình Văn, Văn Lang, Cửu Chân, Nhật Nam, Hoài Hoan, Cửu Đức, đều không được chương《Vũ cống》chép đến. Đến thời Thành Vương nhà Chu, người bộ Việt Thường Thị bắt đầu dâng chim trĩ trắng, sách 《Xuân thu》 gọi là Khuyết Địa, sách 《Đái kí》 gọi là Điêu Đề. Đến thời Trang Vương nhà Chu, ở bộ Gia Ninh có người (thần) dị có thể dùng ảo thuật chinh phục các bộ lạc, tự xưng là Đối (Hùng/Lạc) Vương, đóng đô ở bộ Văn Lang, hiệu là nước Văn Lang, phong tục còn thuần phác, chính lệnh dùng lối thắt nút, truyền mười tám đời đều xưng là Đối Vương. Vua nước Việt tên là Câu Tiễn từng sai sứ đến dụ nhưng Đối Vương chống lại. Cuối thời nhà Chu thì bị con vua Thục tên là Phán đuổi đi mà thay ngôi. Phán đắp thành ở bộ Việt Thường, xưng hiệu là An Dương Vương, cũng không thông sứ với nhà Chu. Cuối thời nhà Tần có Triệu Đà chiếm giữ các quận Uất Lâm-Nam Hải-Tượng Quận để xưng vương, đóng đô ở thành Phiên Ngu, đặt tên nước là (Nam) Việt, tự xưng là Vũ Hoàng (Đế). Bấy giờ An Dương Vương có người thần tên là Cao Lỗ làm nên chiếc máy nỏ một phát bắn mười mũi tên để dạy cho một vạn quân. Vũ Hoàng biết được, bèn sai con mình tên là Thủy sang làm con tin, xin thông hảo vậy. Sau đó vương đối đãi Cao Lỗ ngày càng bạc, Cao Lỗ bỏ đi. Con gái của vương là Mị Châu lại tư thông với Thủy, Thủy dụ Mị Châu lấy nỏ thần ra cho mình xem, nhân đó phá nỏ ấy đi rồi sai sứ về báo cho Vũ Hoàng, Vũ Hoàng liền phát binh lại đánh, quân đến thì vương lại như trước lấy nỏ ra bắn nhưng đã gãy, quân đều tan vỡ. Vũ Hoàng bèn phá được. Vương ngậm sừng tê lội xuống nước, nước vì thế rẽ ra, nước bèn thuộc về họ Triệu.

_______________________

Thời Hùng Vương và An Dương Vương chưa có văn hiến, chỉ truyền miệng, được đời sau ghi chép lại đầu tiên trong sách địa phương của người Trung Quốc khi họ đến Việt Nam. Cũng tương tự như thời Ngũ Đế của Trung Quốc vậy. Do đó khó tránh có nhiều ghi chép sai biệt nhau. Người đời sau chỉ nên gạn lọc khơi trong, suy kĩ nghĩ sâu để chọn lấy những điều cốt yếu thôi. Với điều kiện thuận lợi tài liệu số hóa dễ dàng như ngày nay, đều này không còn khó như người thời xưa nữa, cộng với khảo cổ phát hiện văn hóa Đông Sơn cùng các di tích thời kì đồ đồng ở Việt Nam cũng đủ để xác định thời đại Hùng Vương và An Dương Vương rồi.

 

6.

– Truyện kể Thần cung bảo kiếm của người Choang thế kỉ 20 là cổ tích cho nên nhân vật chính không có tên tuổi, chỉ gọi chung là công chúa Lạc Việt hay hoàng tử Tây Âu. Không như truyện dã sử Việt Nam có tên tuổi rõ ràng con gái An Dương Vương là Mị Châu, con trai vua Nam Việt là (Triệu)Thủy.

– Truyện người Choang không ghi rõ nước Tây Âu-Lạc Việt đóng đô ở đâu. Truyện dã sử Việt Nam ghi rõ An Dương Vương đánh phá Hùng Vương đóng đô ở huyện Phong Khê (huyện Bình Đạo), ghi rõ vua Nam Việt đóng quân ở huyện Vũ Ninh.

– Truyện kể người Choang ra đời muộn ở thời hiện đại, cho nên cốt truyện phức tạp của người hiện đại, nhiều tình tiết rối ren. Truyện dã sử Việt Nam thời cổ đại lúc con người còn chất phác, nội dung ngắn gọn súc tích rõ ràng.

– Truyện kể người Choang chủ yếu ca ngợi tình đoàn kết “hòa tập Bách Việt” của 2 nước được xem là tiền thân của người Choang là Tây Âu và Lạc Việt ở Quảng Tây, là ước vọng của người Choang về tinh thần đoàn kết để chống kẻ thù là yêu tinh (vốn con rùa đen). Truyện dã sử Việt Nam chủ yếu cảnh báo tinh thần chống ngại xâm về âm mưu ở rể để làm gián điệp của Triệu Đà.

______________

Tóm lại truyện người Choang nhiều khả năng là người hiện đại sáng tạo nên, chỉ là truyện cổ tích, chứ không có ý nghĩa nghiên cứu lịch sử gì hết.

 

7.

 

Truyện ngắn “Một chuyến dã ngoại gặp thần tiên”, tác giả Tích Dã kính tặng Trương tiên sinh:

Trương Thái Du làm một chuyện về di tích Cổ Loa ở huyện Đông Anh, lần lượt đi khắp trong ngoài, giật mình thảng thốt mà than rằng:

– “Đây vốn là thành cung cũ của An Dương Vương thời xưa ư?”

Buổi trưa Du vào quán trọ nghỉ gần đấy, sau nửa ngày ruong ruổi thì ngả lưng lúc nào chẳng hay, chợt thấy một người cao lớn dáng vẻ thanh tục, rầu trắng như cước, tay cầm một cái nỏ màu vàng tựa trên vai, thấp thoáng trong làn mây cười lớn mà rằng:

– “Hậu sinh kia có biết nỏ thần này không?”

Du hỏi:

– “Trưởng lão có phải là An Dương Vương? Là nỏ thần thật sao?”

Trưởng lão cười rằng:

– “Ta là Cao Thông làm ra nỏ thần này. Ngươi muốn bắn thử không?”

Du nói:

– “Hậu sinh không dám, chỉ là không tin.”

Trưởng lão bèn giương nỏ về phía chân trời xa bắn một phát, hàng trăm mũi tên vàng bay loạn xạ về phía kia, kéo theo đó là tiếng gươm giáo loảng xoảng, tiếng người ngựa gào thét từ xa vọng lại, ầm ầm một góc trời.”

Du sợ hãi không hiểu vì sao, trưởng lão bèn trấn an:

– “Kia là tiếng người ngựa quân Nam Việt xưa kia khi trúng tên nỏ này đấy. Triệu Đà ở Phan Ngu, cũng là anh hùng một thời, nhân loạn chiếm giữ Nam Hải xưng đế một góc, kéo quân đến đây thì bị như vậy đấy.”

Du hỏi:

– “Đà mà đến được đây sao? Xa như vậy, mà đến làm gì?”

Trưởng lão nói:

– “Hậu sinh chắc đọc qua chuyện xưa nay người ta đánh đấu vì danh lợi thôi.”

Du hỏi tiếp:

– “Phan Ngu cách nơi này mấy núi bao sông, đi bằng gì được? Hậu sinh vốn là thủy thủ từng rong ruổi năm châu bốn biển đã biết khó khăn của việc đi lại thế nào, không nghĩ rằng người xưa người ngựa xe thuyền sao mà đến được đây?”

Trưởng lão đáp:

– “Ta vốn là người Thục, sau khi Thục mất nước không chịu làm tôi nhà Tần mà rong ruổi đến miền Điền Trì làm một tay thợ rèn ở chợ nước ấy dung thân qua ngày, tại đây ta may gặp một trưởng lão vốn biết thuật luyện đan làm được thuốc trường sinh bày cho thành thuốc trường sinh. Sau đó tôi vân du khắp nơi đến xứ Giao Chỉ này, nghe nói có người Thục là An Dương Vương làm vua ở đây, nể tình là cùng nước cũ bèn bày cho An Dương Vương làm nỏ thần này, bắn một phát hàng trăm mũi tên để giữ nước. Ta không câu thúc chuyện đời bèn lên núi tu tiên tiếp đến nay, có thể biết được chuyện cổ kim biết được kết cục An Dương Vương nên bỏ đi không màng chuyện đời nữa. Hậu sinh nghĩ xem từ đất Thục núi sông hiểm trở xuống đây còn được thì sá gì từ Phan Ngu chỉ cách một eo biển Đông đi thuyền một tuần là đến được, Đà đem thuyền chở binh đến đây, đóng quân ở cạnh núi Trâu Sơn, xưa kia vốn là vùng lầy lội gọi bến Lãng Bạc.”

Du nói:

– “Vào thời Hậu Hán thì Mã Phục ba cũng từng đóng quân ở đấy để đánh nhau với Bà Trưng, lịch sử lập lại kì lạ như vậy sao?”

Trưởng lão cười to một tiếng:

– “Ngươi nghe đến đây tất tự hiểu cả rồi, ta không cần nói nữa.”

Rồi tiến lại cho Du xem nỏ thần, quả đúng là thần diệu. Du cảm tạ cúi đầu vái lạy, kịp khi ngẩng đầu lên thì không thấy trưởng lão đâu nữa, chỉ còn một làm khói như dải lụa trắng lên vút tận trời cao, cũng vừa lúc tỉnh giấc.

 

8.

Anh Du mới là kì dị. Anh nói không tin sách Thủy kinh chú dẫn Giao châu ngoại vực kí, nhưng anh lại tin theo Hậu Hán thư chép con trai Lạc tướng Chu Diên tên là Thi chứ không phải Thi Sách? Xin thưa là Hậu Hán thư mà Phạm Diệp chép về việc Mã Viện đánh Hai Bà Trưng là chẳng khác gì nội dung trong Thủy kinh chú dẫn Giao châu ngoại vực kí đâu. Hay nói cách khác Phạm Diệp đã tham khảo Giao châu ngoại vực kí. Hoặc ít ra Giao châu ngoại vực kí và Hậu Hán thư chép khá giống nhau, và 2 tài liệu này chép là đáng tin cậy.

Ví dụ:

Hậu Hán thư – Mã Viện liệt truyện chép: 又交阯女子徵側及女弟徵貳反,徵側者,麊泠縣雒將之女也,嫁為朱鳶人詩索妻,甚雄勇。交阯太守蘇定以法繩之,側怨怒,故反。… 援將樓船大小二千餘艘,戰士二萬餘人,進擊九真賊徵側餘黨都羊等,自無功至居風,斬獲五千餘人,嶠南悉平。援奏言西于縣戶有三萬二千,遠界去庭千餘里,請分為封溪、望海二縣,許之。援所過輒為郡縣治城郭,穿渠灌溉,以利其民。
Lại nữa có người con gái quận Giao Chỉ là Trưng Trắc và em gái là Trưng Nhị làm phản, Trưng Trắc là con gái Lạc tướng huyện Mê Linh, gả làm vợ người huyện Chu Diên là Thi Sách, rất hùng dũng, Thái thú Tô Định lấy hình pháp để ràng buộc, Trắc giận cho nên phản… Viện đem hơn hai nghìn chiếc thuyền lầu lớn nhỏ, hơn hai vạn chiến sĩ đến đánh giặc dư đảng của Trưng Trắc là bọn Đô Dương ở quận Cửu Chân, từ huyện Vô Công (Thiết) đến huyện Cư Phong bắt chém hơn năm nghìn người, miền Kiệu Nam đều bình định. Viện tấu nói huyện Tây Vu có ba vạn hai nghìn hộ, cõi này cách xa sở trị hơn một nghìn dặm, chia chia thành hai huyện Phong Khê-Vọng Hải, nhà vua hứa cho. Viện qua chỗ nào liền giúp quận huyện sửa thành quách, thông ngòi khơi lạch để làm lợi cho dân.

Thủy kinh chú – Diệp Du hà dẫn Giao châu ngoại vực kí chép: 後朱鳶雒將子名詩,索麊泠雒將女名徵側爲妻,側爲人有膽勇,將詩起賊,攻破州郡,服諸雒將皆屬徵側爲王。…馬援以西于治遠,路逕千里,分置斯縣,治城郭,穿渠通道溉灌,以利其民。…建武十九年九月,馬援上言:臣謹與交趾精兵萬二千人,與大兵合二萬人,船車大小二千艘,自入交趾,于今爲盛。十月,援南入九真,至無切縣,賊渠降,進入餘發,渠帥朱伯棄郡亡入深林巨藪,犀象所聚,羊牛數千頭,時見象數十百爲羣。援又分兵入無編縣,王莽之九真亭,至居風縣,帥不降,竝斬級數十百,九真乃靖。Sau con trai Lạc tướng huyện Chu Diên tên là Thi lấy von gái Lạc tướng huyện Mê Linh tên là Trưng Trắc làm vợ, Trắc là người có đảm dũng cùng Thi nổi dậy đánh phá châu quận, chinh phục các Lạc tướng, đều theo Trắc Trắc làm vương… Mã Viện thấy huyện Tây Vu trị ở xa, đường đi một nghìn dặm, xin chia huyện ấy (thành hai huyện Phong Khê-Vọng Hải), sửa thành quách, khơi lạch mở đường dẫn nước để làm lợi cho dân… Năm Kiến Vũ thứ 19, tháng 9, Mã Viện tấu nói: “Thần cẩn thận đem một vạn hai nghìn lính tinh nhuệ người Giao Chỉ cùng họp với đại quân cả thảy là hai vạn người, hai nghìn chiếc thuyền xe lớn nhỏ, từ khi vào quận Giao Chỉ đến nay thêm thịnh.” Tháng 10, Viện vào phía nam đến Cửu Chân, đến huyện Vô Thiết, cừ soái giặc xin hàng, vào đến huyện Dư Phát thì cừ soái là Chu Bá bỏ quận trốn vào rừng sâu bãi lớn, chỗ ấy tê tượng tụ họp, có đến mấy nghìn con bò-dê, bấy giờ thấy mấy trăm con voi họp thành bầy. Viện lại chia quân vào huyện Vô Biên, tức là đình Cửu Chân thời Vương Mãng, kịp khi đến huyện Cư Phong thì cừ soái không hàng, bắt chém mấy trăm thủ cấp, từ đây quận Cửu Chân mới yên.

________________________

Thấy rằng hai sách chép khá giống nhau, nhưng Giao châu ngoại vực kí chép nhiều thông tin hơn. Hậu Hán thư chép gọn hơn. Do đó không thể phủ nhận giá trị tư liệu lịch sử của nó được. Giao châu ngoại vực kí lại cho ta biết thông tin chồng Bà Trưng tên là Thi (bị Hậu Hán thư chép nhầm là Thi Sách) đã cùng Bà Trưng nổi dậy chứ không phải bị Thái thú Tô Định giết hại từ đầu. Đây chẳng phải là thông tin anh Du từng theo đuổi sao?

 

9.

Lại nói về Lạc Việt và Tây Âu. Đây là tên gọi hổ lốn quy chụp như từ Bách Việt thôi. Người thời Hán chưa có khái niệm tiếng Tày-Thái hay Việt-Mường như ngày nay, cứ thấy dân Bách Việt có gì chung là gọi như vậy, cũng như các tên gọi Man-Di, Di-Việt vậy.

Người thời Hán là Giả Quyên Chi miêu tả thổ dân đảo Hải Nam (bấy giờ là dân 2 quận Châu Nhai-Đam Nhĩ) là: “Người Lạc Việt cha con tắm cùng sông, cùng nhau uống rượu bằng mũi, không khác gì cầm thú.” (駱越之人父子同川而浴,相習以鼻飲,與禽獸無異。)

Phạm Diệp trong sách Hậu Hán thư – Nhâm Diên liệt truyện cũng miêu tả thổ dân Bắc Việt Nam (các quận Cửu Chân-Giao Chỉ) là: “Người Lạc Việt không có lễ pháp cưới gả, nhân đó háo dâm, không họp đôi lứa, không biết tình cha con, không có đạo vợ chồng… Thời Bình Đế, người quận Hán Trung là Tích Quang làm Thái thú Giao Chỉ dạy bảo dân Di, dần dần biết lễ hóa, tiếng tăm sánh với Diên.” (駱越之民無嫁娶禮法,各因淫好,無適對匹,不識父子之性,夫婦之道。… 平帝時,漢中錫光為交阯太守,教導民夷,漸以禮義,化聲侔於延。)

Hậu Hán thư – Mã Viện liệt truyện chép: “Điều tấu luật Việt khác luật Hán hơn mười điều, bèn cùng nêu rõ phép cũ với người Việt, từ đó người Lạc Việt vâng theo phép cũ của Mã tướng quân. Viện ưa cưỡi ngựa, giỏi phân biệt ngựa tốt, ở quận Giao Chỉ thu được trống đồng của người Lạc Việt đúc thành tượng ngựa, về dâng lên nhà vua.” (條奏越律與漢律駮者十餘事,與越人申明舊制以約束之,自後駱越奉行馬將軍故事。援好騎,善別名馬,於交阯得駱越銅鼓,乃鑄為馬式,還上之。)

_____________________________

Do đó các sách thời Hán nói người bản địa Giao Chỉ-Cửu Chân là người Lạc Việt (駱越). Lạc (駱) đồng âm với Lạc (雒).

________________________

Còn về người Âu Việt (甌越), chính là người Ư Việt/Vu Việt ở miền Giang-Hoài. Không biết lúc nào mà người ta nhầm lẫn người Tây Âu là người Âu Việt.

Chiến quốc sách – Triệu sách chép: “Cắt tóc, vẽ mình, xăm hình lên cánh tay, cài vạt áo bên trái, là dân Âu Việt. Răng đen, xăm trán, đổi dải mũi cài trâm, là dân Đại Ngô.” (被髪文身,錯臂左衽,甌越之民也。� ��齒雕題,鯷冠秫縫,大吳之國也。) Đây là miêu tả về dân hai nước Ngô và Việt của người nước Triệu thời Xuân thu-Chiến quốc. Ngô-Việt ở Giang Tô và Chiết Giang ngày nay. Việt bị Sở diệt, dời về Chiết Giang, dựng nước ở đấy, thời Hán gọi là nước Đông Âu (東甌), đóng đô ở thành phố Ôn châu ngày nay. Thành phố Ôn Châu tỉnh Chiết Giang ngày nay cũng gọi tắt là Âu (甌), là có nguồn gốc từ tên gọi Âu Việt (甌越) vậy. Từ đây mới có tên gọi Tây Âu (西甌) để phân biệt với Đông Âu.

Âu (甌) có khi các sách chép là 嘔 hoặc 漚 mặt chữ có khác nhưng cùng đọc âm là Âu (ōu).

Hoài Nam Tử – Nhân gian huấn chép quân Tần đánh Bách Việt như sau: “Ba năm không cởi giáp giãn nỏ, sai quan Giám tên là Lộc không làm cách gì để chở lương được, bèn đem lính đào kênh mà thông đường chở lương, đến đánh với người Việt, giết quân trưởng Tây Âu là Dịch Hu Tống. Nhưng người Việt đều vào giữa rừng rậm, ở với cầm thú, không chịu để quân Tần bắt.” (三年不解甲弛弩,使監祿無以轉餉,又以卒鑿渠而通糧道,以與越人戰,殺西嘔君譯吁宋。而越人皆入叢薄中,與禽獸處,莫肯為秦虜。)

Sử kí – Nam Việt liệt truyện chép: “Được hơn một năm, Cao Hậu chết, liền bãi binh. Đà nhân đó đem binh uy hiếp biên giới, lấy tài vật lối lộ người các nước Mân Việt, Tây Âu, Lạc, bắt họ thần phục theo mình, đông tây hơn vạn dặm.” (歲餘,高后崩,即罷兵。佗因此以兵威邊,財物賂遺閩越、西甌、駱,役屬焉,東西萬餘里。)

Hán thư – Nam Việt liệt truyện chép: “Vả lại miền nam ẩm ướt, người Man Di ở giữa chỗ ấy; phía tây có nước Tây Âu, dân nước ấy nửa là bọn gầy yếu, cũng ngoảnh mặt về phía nam xưng vương; phía đông có nước Mân Việt, dân nước ấy có mấy nghìn người cũng xưng vương.” (且南方卑溼,蠻夷中;西有西甌,其眾半羸,南面稱王;東有閩粵,其眾數千人,亦稱王。)

Vậy là Tây Âu (西甌) là nước phía tây Nam Việt. Cùng với các nước Mân Việt (閩越) và Lạc (駱) đã bị Triệu Đà đem binh uy hiếp và tài vật hối lộ mua chuộc sau thời gian Lữ Hậu chết (năm 180 TCN).

Triệu Đà chiếm giữ 3 quận Nam Hải-Quế Lâm và Tượng Quận ở phần lớn Lưỡng Quảng xưng vương dựng nước Nam Việt khoảng năm 204-203 TCN sau khi nhà Tần đã bị diệt. Do đó các nước Mân Việt (閩越), Tây Âu (西甌) và Lạc (駱) là ở ngoài phạm vi 3 quận của Triệu Đà. Vậy thì Mân Việt ở Phúc Kiến, Tây Âu có lẽ ở một phần Quảng Tây và Lạc thì chỉ có ở Việt Nam mà thôi.

_____________________

Sử kí – Kiến Nguyên dĩ lai hầu giả niên biểu chép: “Hạ Lịch Hầu, vì trước đây làm Tả tướng Âu Lạc chém Tây Vu Vương có công phong Hầu.” (下酈以故甌駱左將斬西于王功侯。)

Tây Vu Vương (西于王) có lẽ cũng như Thương Ngô Vương (蒼梧王) đều là vương quốc phân quyền của Nam Việt ở các vùng đất khác nhau. Thương Ngô Vương là vua quận Thương Ngô. Tây Vu Vương là vua nước Tây Vu. Nước Tây Vu sau đó là huyện Tây Vu thuộc quận Giao Chỉ. Huyện Tây Vu là huyện lớn, theo như báo cáo của Mã Viện thời Hậu Hán có 3 vạn 2 nghìn hộ (nếu tính 1 hộ 5 người thì khoảng 15-16 vạn dân), ngang ngửa với quận Cửu Chân, như vậy huyện Tây Vu này đáng để phong vương rồi. Huyện Tây Vu tách thành 2 huyện Phong Khê-Vọng Hải, tức là nơi bản bộ đóng đô của An Dương Vương trước kia. Cho nên nếu Nam Việt phong cho một vị tước vương thống trị ở huyện Tây Vu sánh ngang với vua nước Thương Ngô là Triệu Quang thì cũng không lấy gì làm lạ.

 

10.

 

Lại nói Tây Vu Vương (西于王), cùng thời Nam Việt được phong tước vương thì có mấy ai đâu. Vua Nam Việt tự xưng đế, vậy thì chư hầu phong vương như Thương Ngô Vương (蒼梧王) và Tây Vu Vương (西于王) cũng không lạ. Có lẽ Tây Vu Vương ở Giao Chỉ xa không hàng quân Hán như Thương Ngô Vương nên bị thuộc quan là Tả tướng Âu Lạc là Hoàng Đồng chém để hàng nhà Hán. Cùng thời ở các nước Bách Việt và Tây Nam Di may ra cũng chỉ có mấy tước vương thôi như Dạ Lang Vương (夜郎王) ở nước Dạ Lang, Điền Vương (滇王) ở nước Điền, Mân Việt Vương (閩越王) và Dao Vương (繇王) ở nước Đông Việt hoặc Đông Âu Vương (東甌王) ở nước Đông Âu, hoặc Trường Sa Vương (長沙王) ở nước Trường Sa.

Do đó Tây Vu Vương (西于王) phải có địa vị cao như thế nào mới được phong vương. Tước vương gắn liền với một vùng đất (quận, huyện, nước). Vậy thì Tây Vu Vương (西于王) chính là vua của nước Tây Vu, tức là huyện Tây Vu quận Giao Chỉ thời Hán về sau mà thôi.

11.

 

Cũng không loại trừ Tây Vu Vương (西于王) là Tây Âu Vương (西甌王) , tức là vua nước Tây Âu, có thể sau khi Triệu Đà uy hiếp mua chuộc thì vua nước Tây Âu vẫn được phong vương. Vì trong tiếng Hán cổ thì từ Vu (于) dùng qua lại với Ư (於), đọc biến âm thành Âu (甌). Do đó Tây Âu (西甌) có thể đọc thành Tây Vu (西于). Ví như người Ư Việt (於越) ở Chiết Giang có sách còn chép thành Vu Việt (于越), cũng tức chép thành Âu Việt (甌越).

 

 

Trang Việt sử đầu tiên

Leave a comment

The learner always begins by finding fault, but the scholar sees the positive merit in everything. – Hegel

Dưới đây là nguyên văn trang đầu tiên của quyển quốc sử Việt Nam đầu tiên còn lưu giữ được cho đến ngày nay, đó là An Nam Chí Lược của Lê Tắc, được viết vào khoảng năm 1335. Sách này nằm trong bộ sử thứ chín của “Khâm định tứ khố toàn thư” nhà Thanh. Lê Tắc vốn gốc họ Nguyễn ở khu vực Thanh Hóa ngày nay, hậu duệ của Thứ sử Giao Châu Nguyễn Phu thời Đông Tấn (317 – 420).

annamchiluoc

古南交周號越裳,秦名象郡。秦末,南海尉趙佗擊併之,自立國僣號。西漢初,髙帝封為南越王。歴數世其相吕嘉叛,殺其王及漢使者。孝武遣伏波將軍路博德平南越,滅其國,置九郡,設官守任。今安南居九郡之內,曰交阯、九真、日南是也。後歴朝沿革,郡縣不一。五季間,愛州人吳權領交阯。後丁、黎、李、陳相繼篡奪。宋因封王爵。官制刑政稍效中州。其郡邑或仍或革,姑槩存之。

Âm Hán Việt: Cổ Nam Giao Chu hiệu Việt Thường, Tần danh Tượng quận. Tần mạt, Nam Hải úy Triệu Đà kích tính chi, tự lập quốc thiết hiệu. Tây Hán sơ, Cao đế phong vi Nam Việt vương. Lịch số thế kì tương Lữ Gia bạn, sát kì vương cập Hán sứ giả. Hiếu vũ khiển Phục ba tướng quân Lộ Bác Đức bình Nam Việt, diệt kì quốc, trí cửu quận, thiết quan thủ nhậm. Kim An Nam cư cửu quận chi nội, viết Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam thị dã. Hậu lịch triều duyên cách, quận huyện bất nhất. Ngũ Quý gian, Ái châu nhân Ngô Quyền lĩnh Giao Chỉ. Hậu Đinh, Lê, Lý, Trần tương kế soán đoạt. Tống nhân phong vương tước. Quan chế hình chánh sảo hiệu trung châu. Kì quận ấp hoặc nhưng hoặc cách, cô khái tồn chi.

Dịch nghĩa: Cõi Nam Giao ngày xưa, nhà Chu gọi là Việt Thường, tên thời Tần là Tượng quận. Cuối Tần, quan úy quận Nam Hải là Triệu Đà đánh chiếm thôn tính, tự lập quốc và dùng đế hiệu. Đầu Tây Hán, Cao đế Lưu Bang phong Triệu Đà làm Nam Việt vương. Sau khi trải qua nhiều đời, thừa tướng Lữ Gia ở đấy làm phản, giết Nam Việt vương và sứ giả nhà Hán. Vũ đế chí tôn sai Phục ba tướng quân Lộ Bác Đức bình định Nam Việt, diệt quốc, trí đặt chín quận, thiết lập quan chức trấn nhậm. Nước An Nam ngày nay từng thuộc chín quận ấy, bao gồm ba quận là Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam. Sau khi trải qua sự thay đổi của nhiều triều đại, quận huyện không còn tương đồng. Đến thời Ngũ Quý (907 – 960), Ngô Quyền, người Ái châu thống lĩnh Giao Chỉ. Sau thì đến các họ Đinh, Lê, Lý, Trần nối nhau tiếm đoạt. Nhà Tống dựa vào đó mà phong vương tước. Quan chế pháp lệnh hình luật (ở trung ương) mô phỏng khá giống Trung Quốc. Bậc quận huyện thì có chỗ chiếu theo, có nơi khác biệt, (sau đây) tạm sơ lược lưu biên.

Phân tích: Về cơ bản, đây là quan điểm sử học Việt Nam thời Trần. Các tài liệu lịch sử phong kiến cũng như hiện đại sau này hầu như tiếp thu hoàn toàn nội hàm ở đây để diễn giải quá khứ dân tộc. Hai chỗ chúng tôi gạch chân phía trên là hai sai lầm của sử gia, dẫn đến việc suy đoán cổ sử Việt Nam thiên lệch và thiếu logic.

1.Tính bản địa: Châu thổ sông Hồng vốn được gọi là quận Giao Chỉ từ thời Tây Hán, chín quận phía nam trong đó có quận Giao Chỉ lại được gọi là Giao Chỉ bộ. Do đó ba quận Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam được cho là Nam Giao Chỉ (bộ). Nó tương đương với cụm chữ Hán ở “Nam Man Tây Nam Di Liệt Truyện” trong Hậu Hán Thư: “Giao Chỉ chi nam”. Từ đó các sử gia phong kiến Việt Nam thống nhất cho rằng Nam Giao Chỉ chính là Nam Giao, một địa danh trong sách Thượng Thư ở tận thời Nghiêu Thuấn cách đó hơn 3000 năm. Nghĩa là trong suốt 3000 năm, người Việt, nước Việt hầu như không thay đổi…

2.Tính hư cấu: “Nam Man Tây Nam Di Liệt Truyện” trong Hậu Hán Thư chép: 交阯之南有越裳國Giao Chỉ chi nam hữu Việt Thường quốc. Nghĩa là phía nam Giao Chỉ có nước Việt Thường. Sự kiện Việt Thường này được nhắc đến sớm nhất là trong sách Trúc Thư Kỷ Niên xuất lộ từ một ngôi mộ thời Chiến Quốc. Khớp nối Việt Thường, nhiều khả năng là một từ phiếm chỉ được sáng tác trong sách dạy làm vua triều Chu, với vùng phía nam Giao Chỉ bộ là cách tư duy bất chấp thời gian và không gian.

Hai đặc tính trên đây của cổ sử Việt Nam, sẽ bị bác bỏ bằng tất cả các phương tiện khảo sát lịch sử xưa nay như cổ thư, khảo cổ, văn hóa, ngôn ngữ, phong tục… Đặc biệt chúng tôi sẽ bóc tách lịch sử thiên văn học Á Đông khỏi lịch sử Trung Quốc, từ đó soi chiếu ngược vào những khoảng trống còn mơ hồ. Điều này chắc chắn có tác động và những hiệu quả tương tự như Jared Diamond đã dùng Sinh vật học kiến giải lịch sử nhân loại trong “Guns, Germs, and Steel”.

Thần Cung Bảo Kiếm 神弓宝剑

3 Comments

Người dịch và bình dẫn: Trương Thái Du

Trích ebook: Khảo chứng tiền sử Việt Nam bằng Cổ thư và Thiên văn học

Lời dẫn:

Bản dịch cũ của dchph mà tôi đã tạm sử dụng trên blog và sách, khi chưa có văn bản gốc đối chiếu, vốn là sản phẩm trôi nổi trên mạng của một người ít am tường lịch sử cũng như ngôn ngữ và văn hóa Trung Quốc. Nội dung mà dchph dịch không sát với sách, nhiều chỗ không hiểu vấn đề. Chẳng hạn công chúa Lạc Việt bắn một góc buồng cau thì dịch là xuyến trầu, ngữ cảnh vốn so sánh từng trái cau như yết hầu của con người, là mục tiêu mà công chúa dễ dàng xạ tiễn. Từ đó lại lấy văn hóa trầu cau Bắc Việt mô tả tình keo sơn ân ái của hoàng tử và công chúa, vốn đã được truyện ví von với hình ảnh bản địa đặc thù của nó là: “Không rời nhau như con chim chào mào luôn quấn quít bên bụi cỏ mực ngoài bờ ruộng, như lá liền cành.”

Đặc biệt truyện cổ tích này cũng xác nhận biên giới Tây Âu và Lạc Việt là Mãn Giang trong hệ thủy Tây Giang, một con sông rất nhỏ cách thành phố Nam Ninh về phía bắc khoảng 143km, cách Ngô Châu (Quảng Tín, Thương Ngô) về phía tây khoảng 367km, và cách thành phố Cao Bằng – Việt Nam khoảng 200km về phía đông bắc. Đây cũng có lẽ là biên giới phía tây của nước Nam Việt, hoàn toàn không dính dáng gì đến châu thổ sông Hồng.

Nước Nam Việt, căn cứ vào Sử Ký, Hán Thư và Hậu Hán Thư, là một vương quốc phân quyền, diện tích khoảng 2.500.000 km2, có giám quan tên Cư Ông ở Quế Lâm, Tần vương Triệu Quang cùng họ Triệu với Triệu Đà ở địa bàn quận Thương Ngô nhà Hán sau này. Trung tâm Thương Ngô là Quảng Tín, tức thành phố Ngô Châu bên dòng Tây Giang ngày nay.

Tây Âu được ghi nhận trong Hán Thư, là sự rút gọn của Tây Âu Lạc của Sử Ký. Âu Lạc xuất hiện trong 9 ngữ cảnh của các sách sử chính thống nhà Hán. Nó chính là tên bản địa của nước Nam Việt. Tây Âu chỉ có khả năng chính là Tây Âu Lạc, khớp với sự kiện Hoàng Đồng chém Tây Vu vương (nghĩa là vị vương phía tây Nam Việt).

TayAuLacViet

Ảnh 1: Biên giới Nam Việt – Lạc Việt xác định trong truyện ở vị trí đánh dấu đỏ.

Truyện cổ tích Thần Cung Bảo Kiếm dưới đây bao gồm bản dịch và nguyên văn Hán ngữ giản thể in tại quyển sách cùng tên 神弓宝剑. Người kể là bô lão nông dân Tráng tộc (Tày – Nùng) huyện Long Châu, Quảng Tây, Trung Quốc. Người sưu tập và chỉnh lý là Lam Hồng Ân -蓝鸿恩. Nhà xuất bản Văn Nghệ Dân Gian Trung Quốc – Bắc Kinh 1985, từ trang 65 đến trang 73.

Longzhou

Ảnh 2: Địa bàn huyện Long Châu – Quảng Tây có màu hồng nhạt.

Cụm từ “和揖百越 – Hòa tập Bách Việt” trong sách vốn có nguồn gốc “和集百越 – Hòa tập Bách Việt” từ Sử Ký của Tư Mã Thiên. Bản chất của nó là một thuật ngữ địa chính trị thể hiện Pax Sinica cổ đại (nền thái bình được duy trì bởi bá quyền Trung Hoa). Do đó Thần Cung Bảo Kiếm phản ánh những âm mưu chính trị của Triệu Đà nói riêng và nhà Hán nói chung đối với đại gia đình các liên minh bộ tộc Bách Việt tại châu thổ sông Tây Giang. Thần Cung Bảo Kiếm chắc chắn chứa đựng một phần không nhỏ trò tâm lý chiến, đi kèm với việc mua chuộc quý tộc bản địa của triều đình Nam Việt đã được tường thuật trong Sử Ký và Hán Thư, nhằm an dân trên con đường thực dân hóa mảnh đất phía nam Trung Hoa.

Thần Cung Bảo Kiếm là sự kết hợp các nét văn hóa dân gian bản địa với nhân vật lịch sử Triệu Đà. Có khả năng nó là bản gốc của cổ tích Mỵ Châu Trọng Thủy ở Việt Nam. Ở góc độ nào đó, nó phản ánh thực tế xã hội Lạc Việt: Kính sợ yêu ma quỷ thần, tôn trọng thầy cúng đồng cốt, tục ở rể, ăn trầu cau, các xung đột nội tại thường diễn ra trong cộng đồng…

TCBKCover


Thần Cung Bảo Kiếm

Ngày xưa, vua Nam Việt Triệu Đà có một thanh bảo kiếm do hoàng đế nhà Hán ban tặng. Thân kiếm được nạm khảm bốn chữ bằng ngọc quý “Hòa tập Bách Việt”. Mỗi khi đêm đến, kiếm tỏa sáng, xác thực đúng là bảo vật. Vua Nam Việt đem kiếm này tặng cho nước Tây Âu, vua Tây Âu lại sai con trai mình đưa kiếm đến nước Lạc Việt. Các nước dùng kiếm làm quà để biểu hiện tình hữu nghị, ý nguyện muôn đời hòa hảo.

Hoàng tử nước Tây Âu đeo bảo kiếm, lên đường tới Lạc Việt. Ngày nọ, khi chàng vừa đến kinh thành nước Lạc Việt, bỗng nghe phía trong tường thành ồn ào tiếng nói cười và hoan hô, chẳng hiểu chuyện gì gây ra náo nhiệt, chàng bèn trèo lên đầu tường xem xét.

Thì ra công chúa Lạc Việt đang tập bắn cung, vì không trật phát nào, nên được reo hò cổ vũ.

Trước đó vài năm, nước Lạc Việt bị một con thủy yêu tác quái, nước triều từ biển vô duyên vô cớ vọt dâng lên bờ, nhấm chìm vô số ruộng vườn thôn xóm nhà cửa, cuốn trôi vô số gia cầm bò dê, khiến cho trăm họ điên đảo lưu lạc không chốn dung thân.

Vua Lạc Việt chẳng có giải pháp nào, chỉ biết mời thầy đồng cốt đến niệm chú làm phép. Con thủy yêu này cuối cùng cũng nhảy lên khỏi mặt nước nói rằng, trừ khi vua Lạc Việt gả công chúa cho nó, nếu không nó sẽ cử binh tiêu diệt vương quốc. Vua Lạc Việt không có cách đối phó, bèn phải đáp ứng, nhưng yêu cầu thủy yêu phải tự đem thân đến cung đình cầu hôn. Ai ngờ khi con yêu quái đến, mọi người đều thấy, rốt cuộc nó chỉ là một con rùa đã thành tinh. Thủy yêu đầu rắn dài thượt, đuôi thỏ, thân lùn tịt trên lưng lại đeo cái mai hình đấu đong gạo trông tựa như giáp trụ. Công chúa thấy thế hận ngút trời, nghiến răng nghiến lợi, hết sức phẫn uất, rút đao đang đeo bên mình, lạnh lùng chặt bay đầu con quy tinh không chút phòng bị. Chỉ kịp nghe tiếng thét “giết này” thì yêu quái đã ngã lăn xuống đất chết tươi.

Nghe đồn sự thần thông của con yêu quái nằm ở bộ móng vuốt, nếu như móng vuốt vẫn còn, dù chết vẫn có thể sống lại. Do đó công chúa bèn chặt đứt bốn chân rùa, cậy lấy móng dùng làm lẫy nỏ. Từ đó trở về sau, tài cung nỏ của công chúa tiến bộ vượt bậc, bắn không bao giờ trượt, có thể buông tên trúng yết hầu bất cứ kẻ nào, không chệch một ly. Nhờ đó uy danh của công chúa truyền ra khắp nơi, ai cũng biết nàng có cây cung thần. Hôm ấy nàng lại đến sân tập bắn cung trong thành nội, giương nỏ, căng dây, buông tay phóng tên, chỉ thấy mũi tên thẳng hướng lao về một cành nhỏ của thân cổ thụ, không nghiêng không ngả, xuyên vào chính giữa một chùm cau, lập tức nghe tiếng chùm cau rơi xuống đất. Lúc này trên đầu tường thành bỗng vang lên tiếng vỗ tay và hoan hô.

Công chúa quay đầu nhìn, thấy một người đang ngồi trên tường thành trộm xem nàng bắn cung. Nàng nổi giận. Lẽ nào kẻ này đã ăn mật hổ dữ nhưng chưa thành? Liền giương cung bật tên, hướng thẳng đến ngực hoàng tử mà bắn. Lập tức hoàng tử rút bảo kiếm, chờ mũi tên bay gần đến mình thì dùng kiếm gạt nhẹ, tên rơi rụng xuống đất như chim sa.

Công chúa bắn liền ba phát, hoàng tử gạt ba lần, ba mũi tên đều nằm chỏng chơ dưới đất.

Công chúa nhận thấy người này không phải phàm nhân, bèn đến trước mặt hỏi hoàng tử là ai, đến kinh thành làm gì. Hoàng tử trả lời ta là con trai vua Tây Âu, đến đây nhằm diện kiến vua Lạc Việt, muốn cùng nước Lạc Việt kết giao hòa hảo, xin công chúa dẫn ta đến gặp nhà vua.

Công chúa có một chút do dự, trong lòng thầm nghĩ, đeo bảo kiếm lợi hại tìm gặp vua cha, nếu như có âm mưu hành thích chẳng lẽ sẽ thất bại ư! Nàng bèn yêu cầu hoàng tử một trong hai điều kiện tùy chàng chọn lựa. Thứ nhất là không thể đeo bảo kiếm vào cung, nên phải gửi cho nàng trông nom hộ. Hai là nếu vẫn không muốn xa rời kiếm báu, thì mong chàng phải chịu khó bị trói bằng dây thừng khi diện kiến phụ vương.

Hoàng tử đồng ý cách thứ hai, liền bị công chúa trói lại sau đó dẫn đi gặp vua Lạc Việt. Hoàng tử thấy nhà vua, lập tức dâng lên bảo kiếm “Hòa tập Bách Việt”, thay mặt vua cha nước Tây Âu biểu thị ước nguyện hai nước muôn đời hòa hảo.

Lạc Việt vương rất vui vẻ. Thấy hoàng tử cao to đẹp trai, cử chỉ nhã nhặn, ngôn ngữ không thô lậu, có ý muốn kén chọn chàng làm rể. Vua bèn hỏi ý công chúa thế nào? Kì thực công chúa đối với hoàng tử đã sớm có lòng ái mộ, nghe phụ vương hỏi, nàng đỏ mặt trả lời: “Xin tùy cha định liệu”.

Sau đó vua Lạc Việt chủ trì hôn lễ, hoàng tử và công chúa mau chóng thành vợ chồng, hai người rất đỗi thương yêu nhau, không rời nhau như con chim chào mào luôn quấn quít bên bụi cỏ mực ngoài bờ ruộng, như lá liền cành.

Chưa được bao lâu, hoàng tử bỗng được tin vua Tâu Âu lâm bệnh nặng, chàng bèn nói lời giã từ Lạc Việt vương và công chúa. Công chúa sợ đường không an toàn nên đưa bảo kiếm “Hòa tập Bách Việt” cho chồng mang theo. Công chúa đưa tiễn hoàng tử đến mười dặm trường mà hai người vẫn còn quyến luyến chưa rời nhau.

Từ lúc hoàng tử trở về nước, công chúa bỗng nhận ra cung thất thật trống vắng và lạnh lẽo, trong lòng thường cảm thấy oán hận sầu muộn, biếng nhác luyện võ bắn tên. Hằng ngày nàng cứ phảng phất thấy hình bóng hoàng tử đi tới đi lui phía ngoài cung điện, chẳng hiểu sao chàng không bước vào. Khi mở cửa sổ nhìn ra, công chúa chỉ thấy một con quạ khoang cất lên một tiếng “ya” rồi bay đi mất.

Một buổi sáng nọ, công chúa vừa ra khỏi hoàng cung, bỗng thấy một người nhảy qua bờ tường tiến đến, nhìn kỹ hóa ra chính là hoàng tử mà ngày đêm nàng vẫn nhung nhớ. Công chúa vui mừng khôn xiết, chả thèm hỏi chàng ở đâu về, dẫn luôn vào cung thất. Vừa bước vô, hoàng tử này lập tức tiến về chỗ treo thần cung, ngắm nghía sờ nắn. Công chúa cảm thấy kỳ lạ, bèn nói: “Mới đi mấy ngày, chàng đã không nhận ra nó ư?” Hoàng tử hỏi: “Tại sao toàn bụi bặm thế này?” Công chúa trả lời: “Từ khi chàng về nước, em một mình cô đơn, chả có hứng thú luyện cung”.

Hoàng tử này liền đến bên tường lấy thần cung xuống. Công chúa cảm giác hành động có gì đó bất thường, dấn tới cản lại, hoàng tử nói: “Uy danh của công chúa là dựa vào cây nỏ thần này, ta yêu nỏ thần, cũng chính là yêu công chúa vậy”. Nói xong y giương cung ra phía ngoài cửa để bắn, chỉ thấy mũi tên rời khỏi dây, vặn vẹo lẩy bẩy chúi mũi xuống đất, chưa bay được bao xa đã hết đà rơi rụng.

Công chúa nói: “Cây thần cung này nhờ móng quy tinh làm lẫy mới có thần lực, không dùng lẫy, bắn không chuẩn đâu, lẽ nào chàng và thiếp bao lâu nay là vợ chồng, mà chàng không nhớ nổi điều này”.

Hoàng tử trả lời: “Không phải ta quên, là công chúa không nhớ đưa móng rùa cho ta làm lẫy, xin nàng đưa đây ta xem thử, để ta thử sức đôi tay này nào”.

Công chúa vốn thực thà, bèn lấy móng rùa cất trong áo đưa cho hoàng tử, chợt phát hiện hoàng tử không đem theo bảo kiếm về, bèn hỏi: “Hoàng tử, sao không thấy chàng đeo bảo kiếm”.

Hoàng tử đột nhiên trở nên căng thẳng hoảng sợ, đáp: “Là ta nhớ công chúa quá, lén trốn vua cha về đây, rồi ta sẽ trở lại nơi ấy lấy kiếm”.

Hoàng tử nói xong, liền gắn móng rùa vào làm lẫy nỏ, nhảy ra ngoài, biến thành một con quạ khoang cất lên hai tiếng “ya ya” rồi bay mất.

Tin này đến tai vua Lạc Việt, ngài liền triệu tập đại thần để thương nghị. Mọi người đều cho rằng đây là âm mưu của nước Tây Âu, lừa lấy thần cung, bước đi tiếp theo của họ nhất định sẽ là xâm lăng Lạc Việt. Chi bằng nắm lấy thế chủ động, hưng binh tấn công Tây Âu trước.

Trong lúc ấy vua nước Tây Âu vừa mất, cả nước thương cảm buồn đau, hoàng tử đang mặc đồ tang làm lễ, an táng nhà vua. Bỗng tin dữ truyền đến, rằng vua Lạc Việt đã thân chinh cầm quân đi vào biên giới, chàng cảm thấy thật là lạ lùng. Hoàng tử nghĩ nhất định đã có sự hiểu lầm, muốn một mình cưỡi ngựa đi ra trận tiền hỏi cho ra lẽ. Chàng chẳng thèm cải trang, đeo bảo kiếm “Hòa tập Bách Việt” nhảy lên yên ngựa, chẳng khác một đám mây được cơn gió thổi ào đi, phi về phía biên ải.

Hoàng tử chạy đến vùng tiếp giáp hai nước, chưa đến nơi, thì binh mã của vua Lạc Việt đã tràn ngập khắp núi đồi đồng ruộng, đen kịt như mây đen đem mưa tới cuối ngày. Chỉ thấy họ lội qua sông suối chảy xuống Mãn Giang làm bọt nước nổi lên đục ngầu, quân đi đến đâu nơi ấy lều bều xác cá, trông như đá cuội trộn giữa cát đất; binh mã đạp băng qua sơn thạch, sơn thạch mòn lở; đi qua dốc núi, cỏ cây gẫy gập, vụn thành bụi mù; giẫm lên đường xá, đất đắp đường bong vỡ.

Hoàng tử có mỗi một mình, làm sao trụ nổi trước ngần ấy binh mã! Chàng đành hướng thẳng đến chỗ chiếc lọng vàng đang trương lên, nơi ấy nhất định phải là vị trí trú đóng của vua Lạc Việt hoặc công chúa.

Hoàng tử cũng thuộc loại người vũ dũng phi thường, chỉ thấy chàng một mình một ngựa, mặc áo trắng, cưỡi ngựa cũng trắng, lao đi như một trận cuồng phong cuốn theo mây trắng, hướng đến chỗ đám người ở giữa một hàng rào dựng bằng tre gai, hàng rào ngả đổ rào rào. Vua Lạc Việt ngồi trên lưng ngựa chợt thấy người ngựa xung quanh bắt đầu tao loạn, binh tướng hoảng hốt, lại thấy một người một ngựa xông thẳng đến chỗ mình, bèn ra lệnh bọn binh tướng giương cung lắp tên, nhất tề nhắm về hoàng tử mà bắn. Hoàng tử có bảo kiếm bên mình, liền rút ra múa gạt, tên bắn đến quanh chàng đều rơi rụng cả, chẳng một chiếc nào đến gần được người chàng.

Lúc này công chúa cũng nâng giáo nhảy lên lưng ngựa, phóng ra phía trước, mũi giáo hướng thẳng đến xương ức giữa ngực hoàng tử mà đâm. Hoàng tử vội vàng che phía đông, lánh phía tây, liên tục dùng bảo kiếm đỡ mũi giáo, vừa chạy vừa nói: “Tại sao công chúa nổi giận thế này, tự nhiên xuất quân xâm phạm biên giới, lại còn muốn tự tay giết chết chồng mình?”

Công chúa trả lời: “Nhà ngươi hay lắm, phụ vương ta đã làm gì phật lòng ngươi? Ta đối xử với ngươi tệ bạc chăng? Dám cả gan ăn trộm nỏ thần quốc bảo, cái thứ mi vô tình vô nghĩa thiếu nhân tâm, không giết đi thì còn mặt nào đứng trước phụ vương? Không giết mi làm sao hóa giải được nỗi hận trong tim trong óc ta?

Hoàng tử nghe thấu chuỗi hờn oán, bỗng ngẩn người ra, chẳng hiểu sự tình thế nào, công chúa lợi dụng lúc hoàng tử hoang mang, lập tức đâm mũi giáo về phía trước. Hoàng tử đang giữ bảo kiếm “Hòa tập Bách Việt” bên mình, nó có thể tự động phòng tránh bất trắc, chỉ nghe “giết này” một tiếng, không những bảo kiếm chặn được ngọn giáo bạc của công chúa, mà còn làm gãy đầu nhọn.

Sau đó hoàng tử nhảy xuống ngựa, quỳ trước mặt công chúa, hai tay dâng lên thanh bảo kiếm “Hòa tập Bách Việt”, rồi khóc mà nói: “Tưởng ta và nàng ân nghĩa vợ chồng, chẳng có chuyện gì xảy ra. Vì phụ thân mắc trọng bệnh nên phải từ biệt mà về nhà, vốn nghĩ khi cha già khỏe mạnh rồi sẽ lại cùng công chúa đoàn tụ. Ai ngờ phụ vương đã hết tuổi trời, đã quy tiên rồi. Nay cả nước đang cử tang lễ, bỗng nghe tin nước nàng hưng binh tràn vào biên giới; để cứu chúng dân, ta liền không sợ chết, đến trước trận tiền. Nàng muốn giết ta thì dễ lắm, chỉ sợ nàng mắc mưu kẻ xấu. Nói ta ăn trộm nỏ thần quốc bảo ư, làm gì có điều này? Giờ đây để biểu thị tâm địa ta thuần chính, xin hiến bảo kiếm; muốn giết thì cứ giết, muốn chặt đầu xin cứ chặt!” Hoàng tử nói xong, hai tay vẫn giữ bảo kiếm đưa lên cao.

Công chúa nhận bảo kiếm rồi, đang do dự không biết phải xử trí như thế nào, vua Lạc Việt ở phía sau liền nổi trận lôi đình và ra lệnh: “Mọi người nghe đây, khi ta hô đếm một, hai, ba, công chúa vẫn chưa giết thằng cẩu tử này, chứng tỏ nó bị con chó mê hoặc, chúng bây hãy bắn vạn phát tên, giết chết cả hai, nếu đếm đến hai, công chúa đã giết con chó này, tất cả sẽ thu cung tên lại, không được nhầm lẫn”.

Lệnh đã ban ra, quân lính cùng nhau lần lượt bao vây hoàng tử và công chúa, họ giương nỏ nạp tên, chuẩn bị sẵn sàng.

Hoàng tử nói: “Công chúa, cầu xin nàng giết ta đi! Đừng vì ta mà gặp nạn…”

Công chúa suy đi nghĩ lại, chợt ngộ ra rằng hoàng tử đánh cắp thần cung nhất định do con yêu quái biến thành, không có cách nào biện giải được với phụ vương, bèn khóc toáng lên.

Lúc này đã nghe phụ vương bắt đầu đếm: “một, hai…”

Chưa đếm đến ba, hoàng tử lo sợ công chúa và mình cùng bị loạn tiễn bắn chết, chàng liền chụp lấy bảo kiếm đưa lên cổ mình cắt một nhát, một dòng máu tươi vọt ra.

Công chúa nhảy vội xuống ngựa, ôm chặt thi thể hoàng tử trong lòng mình, rồi gục xuống thân người chàng mà khóc không ngừng.

Vua Lạc Việt đột nhiên la lên “ôi chao” một tiếng, lấy tay đè lên ngực, rồi ngã xuống. Các tướng cấp bách bước lại giúp đỡ, thì thấy sau lưng vua bị cắm một mũi tên, xuyên ra tận trước ngực. Mọi người quay đầu cùng nhìn, thì ra là con rùa thành tinh, tay cầm thần cung, dương dương đắc ý ở phía sau đỉnh núi gầm thét cười vang.

“Nỏ thần đã đến tay ta rồi!”

Nói xong, nó nhảy một phát, liền biến thành một con quạ khoang, bay đến bên công chúa, xà xuống đất lúc lắc cái đầu, hiện lên nguyên hình yêu quái: đầu rắn, đuôi thỏ, thân lùn tịt trên lưng lại đeo cái mai hình đấu đong gạo trông tựa như giáp trụ…

Con yêu tinh nói: “Công chúa, nàng và ta có duyên phận, chúng ta kết hôn nhé!” Nói xong, liền muốn đến vồ quặp công chúa.

Công chúa đột nhiên quay đầu tát cho nó một phát, con yêu tinh bị đánh nổi đom đóm, hoa mắt, đứng không vững, bèn quay đầu, vọt nhảy lên dốc cao và nói:

“Công chúa nghe đây, khi biến thành hoàng tử đến cung điện của nàng, ta vẫn chưa lấy lại được móng vuốt, nên không dám đến gần nàng. Giờ đây móng đã về lại với chủ cũ, ta lại trở nên mạnh mẽ, cộng với nỏ thần trên tay, ta có thể lấy mạng nàng bất cứ khi nào, ta yêu cầu nàng lập tức đáp ứng trở thành vợ ta, nếu không nỏ thần này sẽ hướng đến nàng mà bắn, đời nàng sẽ chấm dứt ngay lúc này.”

Công chúa nổi điên nhìn y một cái, không thèm trả lời.

Con yêu tinh đột nhiên lăn quay trên mặt đất, xong biến thành hình dạng hoàng tử và tiến lên phía trước, trơ tráo cả cười nói: “Công chúa, nếu quả nàng yêu mến bề ngoài hoàng tử như thế này, ta sẽ vĩnh viễn biến thành hoàng tử, chúng ta làm phu thê nhé!”

Công chúa đột nhiên nhớ đến bảo kiếm “Hòa tập Bách Việt” của hoàng tử có thể chống được thần cung, nàng liền dũng cảm rút bảo kiếm ra. Con yêu tinh tức khắc cảm thấy một làn hơi lạnh vù vù hướng đến uy hiếp, nó vội vàng quay đầu lại, xoay tròn trên mặt đất, lại biến thành một con quạ khoang bay lên đỉnh dốc.

Tại đó nó quát tháo công chúa: “Nếu như nàng không đáp ứng, ta sẽ bắn tên đây!”

Công chúa phi người lên ngựa, múa kiếm báu, tiến đến con yêu tinh, yêu tinh liền giương nỏ lắp tên nhằm công chúa mà bắn. Mũi tên kia bay đến bên công chúa, nàng liền dùng bảo kiếm chắn đỡ làm nó rơi xuống đất, liền ba phát đều diễn ra như thế. Lúc này công chúa đã ruổi ngựa đến trước mặt con yêu tinh, nó biết không thể chống lại được, bèn bỏ chạy ra phía bờ biển.

Yêu tinh chạy đến bờ biển, liền quay đầu nói với công chúa đang truy đuổi: “Công chúa giỏi lắm, cảm ơn nàng đã tiễn ta ra bờ biển, cuối cùng vẫn còn một câu này với nàng, nếu nàng không lấy ta, ta lại khiến cho nước biển dâng tràn ngập hết đất nước của nàng, nàng và toàn bộ người dân sẽ làm mồi cho tôm cá, đến lúc đó nàng mới biết sự lợi hại của ta!”

Yêu tinh nói xong, bèn nhảy xuống biển. Công chúa sợ không đuổi kịp, vội vàng từ đất liền phóng bảo kiếm về phía yêu tinh. Chỉ nghe một tiếng “giết này” đầu con yêu tinh liền bị bảo kiếm chém đứt. Công chúa làm gì cũng cẩn thận, sợ yêu tinh lại hoàn hồn, tác oai tác quái, nên băm nát xác nó ra, rải khắp những vùng đồi núi hoang dã, khiến nó mãi mãi không thể tái hợp được.

Nàng nhìn ngắm thanh bảo kiếm rồi buồn thảm òa khóc. Những giọt nước mắt rơi xuống biển, đám trai sò đón lấy, tạo thành châu ngọc, dòng máu tươi trẻ của hoàng tử tan vào đất đai Lạc Việt, hóa thành một dòng suối trong vắt. Ngày nay, những người ở bên bờ biển nếu đánh bắt trai sò mà gặp trân châu, nhất định sẽ đem đến dòng suối do khí huyết hoàng tử tạo nên để làm sạch. Tương truyền, dùng nước ấy mà rửa trân châu, sẽ làm trân châu càng trở nên ngời sáng và thanh khiết vô cùng.


 

神弓宝剑

本文口述者:农老爹,壮族,农民,广西,龙州县金龙公社楼板烟屯人。

搜集整理者:蓝鸿恩。

中国民间文艺出版社 – 北京 1985.

——————————–

从前,南越王赵佗得到汉皇帝送他的一把宝剑。这剑身上有宝石镶嵌成的“和揖百越”四个字。一到夜晚这剑就闪闪发光,确实是个宝物。南越王把这宝剑转送给西瓯国,西瓯国又派他的王子把宝剑送到骆越国去。各国用它表示友情,愿意永世和好。

西瓯国王子佩着宝剑,走到骆越国来。那天,他走到骆越国的京城边,就听见墙内传来一阵欢笑声和喝彩声,心想里边一定有什么热闹,于是就爬到墙头上来观看。

原来是骆越王的公主正在那里射箭,因为箭无虚发,故博得一片叫好声。

前些年,这骆越国碰到一只水妖作怪,海潮无缘无故地涌上岸,淹没无数庄稼房屋,吞没无数家禽牛羊,闹得这里的老百姓颠沛流离无家可归。

骆越王没法,只好请巫师来念咒作法。这水妖竟然跃出水面来说,除非骆越王把公主嫁给他,否还要兴兵前来灭国。骆越王无奈,便答应下来,但一定要水妖亲自到宫廷来求亲。谁知那妖怪来到宫廷,大家一看,竟是一只乌龟变成的妖精。只见他长着蛇的头,兔的尾,矮墩墩的还背着一副像斗篷似的甲胄。公主一看恨得咬牙切齿,气愤不过,抽出佩刀,冷不防对准那乌龟精的脖颈砍去。只听“咔嚓”一声,乌龟精倒在地上死了。

那乌龟精的神通全靠他那爪子,如果爪子还在,即使死了仍可复为人形,活转过来。所以公主就把乌龟精四个脚砍下来,割下爪子,用来做弓弩的扳机。自那以后,公主箭法大有进步,箭蔚无虚发,说要射中你的咽喉,不会偏到你的下巴上去。从此公主便威名远扬,人人都知道公主有把神弓。这天,她又来院墙内的校场练箭,举起弓弩,拉开弦,把手一放,只见那箭直向树枝条射去,真是不偏不倚,正中那挂着一串槟榔的枝条,槟榔串应声掉地。这时从墙头上传来叫好声、鼓掌声。

公主转过头来一看,见墙头上坐着一个人偷看她射箭。这一下可激恼了公主。难道这人吃了虏虎胆不成?便搭箭弦,手一松,那箭就直向王子的胸口射来。说时迟那时快,只见王子抽出宝剑,等到那支羽箭射到面前,王子用剑轻轻一拨,那箭就像散了骨架的鸟一样,掉下地来。

公主一连射了三箭,王子一连拨掉三次,三支箭都落到地上。

公主觉得这人不凡,便走上前来问王子是哪里人,来京城要干什么。王子说自己是西瓯国的王子,是来面见骆越王,要和骆越国结为友好国邦,要求公主带他去见骆越王。

公主犹豫了一下,心想,佩着宝剑去见父王,如果他要行刺可不得了!便对王子提出两个办法法,任由他选择其中一个。一个是不能佩剑进宫,宝剑由她照管;一个是如果一定要佩剑,必须用绳捆:捆绑去面见父王。

这王子同意第二个办法,就这样被公主绳索捆绑以后带去见骆越国王。王子见到骆越王后,立即呈上“和揖百越”宝剑,并代表自己的父王向国王表示要永世和好。

骆越王十分高兴。见到这王子长得英俊,举止文雅,言语不俗,有意招他为驸马。他便问公主意下如何?其实公主对王子早已有爱慕之心,一听父王问话,反而不好意思地红起脸来,便说:“由父王做主!”

在骆越王的主持下,王子和公主很快便结婚了,两人恩爱非常,如同那田边的白头翁和黑黑墨草碰在一起,叶子就胶粘起来一样。

不久,王子接到西瓯国王病危的消息,便来辞别骆越王和公主。公主怕路上不安全,便把“和揖百越”宝剑给王子佩上。公主送出十里,两人还依依不舍。

自从王子回国之后,公主顿觉宫室里冷冷清清,心中常常感到郁闷,武也懒得练了,箭也懒得射了。她每天都仿佛看见王子在庭院里走来走去,可总不见他推门进来。当她推开窗门一看,只见是一只乌鸦“呀”的一声飞走了。

有一天早上,公主刚走出庭院,突然见一个人跳过墙来,仔细一看,原来正是她日夜想念念自的王子。公主喜欢非常,也没有仔细问他从哪里来,便带进房里来。这王子一走进屋里,就立即向挂着的神弓走去,瞧瞧摸摸。公主感到奇怪,便说:“才离别几天,就不认识了?”那王子说:“怎么这上边都布满了灰尘啦?”公主说:“自从你回国之后,我孤单一人,哪还有闲心练弓呀!”

那王子一下就从墙上取下神弓。公主觉得这举动有些不正常,正要上前阻拦,只见那王子说:“公主威名全靠这把神弓,我爱神弓,也就是爱公主了。”说着,举起神弓,向窗外射去,只见那箭离开弓弦,便斜斜抖抖地向前飞去,没飞多远就掉落地下。

公主说:“这神弓全靠乌龟精的爪子做扳机才有神力,没有这扳机,箭就射不准了,难道你和我做了那么久的夫妻,倒把这忘了。”

那王子说:“不是我忘了,是公主忘了给我乌龟爪的扳机,请公主拿出来给我看看,让我也好练一下臂力。”

公主信以为真,就从怀里拿出乌龟精的爪子做的扳机来,刚一交到那王子手上,便发觉这王子没将宝剑带回来,便问:“王子,你的宝剑怎么不佩带回来?”

那王子突然然慌张起来,说:“是我怀念公主,私自离开父王出来的,我这就回去取剑再来。”

那王子说完,手执神弓和乌龟精爪子做的扳机,向地下一滚,竟然变成一只乌鸦,“呀”、“呀”地叫了两声飞走了。

这消息传到了骆越王那里,他就召集大臣们来商议。都说这是西瓯国王的阴谋,骗走了神弓,下一步一定是来侵骆越国了。为了取得主动,一定要先兴兵攻打西瓯。

正在这时西瓯国王刚死,举国哀悼,王子正披麻戴孝,安葬父王。忽然传信来,说骆越王亲自提兵犯境,感到奇怪。他心想一定是发生了什么误会,单人独骑前去问个清楚明白。他也没改装,凭身佩着“和揖百越”宝剑飞身上马,就如一阵风送着一朵白云一样,向边关飞去。

王子跑到边关一看,不得了,骆越王的兵马满山遍野,黑压压像傍晚雨天的乌云。只见他们涉过的河水留下满江泡沫,到处有死鱼浮起,犹如沙滩上的鹅卵石;这些兵马踏过山石,山石崩塌;走过草坡,骨草寸断,碎成尘埃;走过大路,大路尘土飞扬…

王子一个人如何挡得住这干军万马!只好向黄伞张盖的方向冲去,因为那地方一定是骆越王或者公主驻扎的地方。

这王子也是勇武非常,只见他一人一马,身上穿白,坐骑也是白的,就像一阵风送着一朵白云,向人群组成的篱笆那边冲去,只见人篱纷纷倒下。骆越王坐在马上忽见自己的人马骚乱起来,闪过人群,只见一人一骑向着自己方向冲来,便命令众兵将引弓搭箭,齐向王子方向射来。王子有宝剑在身,只见他挥舞着宝剑,那些射来的箭在他周围纷纷落下,一支也不能近身。

这时公主也提枪上马,冲向前去,枪尖直向王子的心窝刺来。王子急忙东躲西闪,接连用宝剑架开枪尖,赶忙说:“公主为何这么恼怒,竟然出兵侵犯边界,还要亲手杀死自己的丈夫!”

公主说:“你做的好事,我的父王有什么对不起你的?我有什么对不起你的?竟敢偷我们的国宝神弓,还准备兴兵灭国,你这样无情无义的负心人,不杀你何以面见我的父王?不杀你何以解我心头之恨?”

王子听了这番话,愣了一阵,不知是怎么回事,公主以为王子心虚了,便一枪刺来。王子身上那把“和揖百越”宝剑,可以自动防身,只听“咔嚓”一声,不但把公主的银枪挡住,而且把枪头也削断了。

这时王子翻身下下马,跪在公主面前,双手献上“和揖百越”宝剑,哭丧着脸说:“想我和公主恩爱夫妻,从没有什么过意不去。只因父王重病才辞别回家,本想父王好了就回去和公主团聚。谁知父王天年已尽,归天上去了。如今全国举哀,却见你国兴兵前来犯境;为了拯救生民,才顾不得死活,前来冲阵。你要杀我非常容易,只恐你误上坏人的当。说什么偷盗你的国宝神弓,这是哪有的?现在为了表明我的心地纯正,愿献上宝剑;要杀就杀,要剁就剁!”说完,双手把宝剑捧上。

公主接了宝剑,正在犹豫不决的的时候,骆越王却在后边大发雷霆,下着命令:“大家听着,如果我喊一、二、三,公主还不把狗才杀了,说明她被那狗才迷住了,你们就给我万箭齐发,把他们两人一起杀死;如果喊到二,公主杀了那狗才,你们大家都给我收起弓箭来,不得有误!”

一声令下,众兵将个个把公主和王子包围起来,张弓搭箭,对准了他们。

王子说:“公主,就请你杀死我吧!免得你也遭难……”

公主想着想着,也醒悟到那个偷骗宝弓的王子一定是精怪变的,无奈父王不容辩解,便哭泣起来。

这时,听到骆越王喊起“一、二……”

没有喊到三,王子担心公主和自己一起被乱箭射死,便拉过宝剑向自己脖颈一抹,进出一道鲜血,就倒地死了。

公主跳下马来,把王子尸体紧紧抱住,伏在王子的身上痛哭不止。

骆越王这时突然“哎哟”一声,用手护着胸,倒下去了。众将忙过来扶着,只见背后插过一支箭,穿透了前胸。众人回过头来一看,原来是那乌龟精,手执神弓,扬扬得意地在后面山头狞笑。

“神弓到我手里来了!”

说着,只见他一跳,便变成一只乌鸦,朝公主这边来,落在地上翻了一个筋斗,现了原形:蛇的头,兔子尾,矮墩墩的,披着像斗篷一样的甲胄……

乌龟精说:“公主,还是你和我有缘分,我们结婚吧!”说完,就要上前来攫住公主。

公主突然回头给他一巴掌,把乌龟精打得两眼昏花,乌龟精站立不住,翻了一个筋斗,跳到高坡说:

“公主听着,当我变成王子到你的宫院时,还没得到我的爪子,所以不敢接近你。如今爪子已归还原主,我已成为金刚之身,加上神弓在手,我可以随时要你的命,我限你立刻答应做我的妻子,否则这神弓向你一射,你也就活到现在为止了。”

公主怒目而视,没有讲话。

那乌龟精突然在地上一滚,竟变成王子的模样走上前来,嬉皮笑脸地说:“公主,如果你爱王子这个模样,我就永远变成这样,我们做夫妻吧!”

公主突然记起王王子那“和揖百越”宝剑是可以挡住神弓的宝物,便猛地抽出宝剑。乌龟精顿时感觉有一股冷飕飕的寒气向他逼来,赶紧缩起头来,在地上打个滚,又变成一只乌鸦飞上高坡。

乌龟精在高坡上对公主喊着:“你如果不答应,我要放箭了!”

公主飞身上马,挥着宝剑,朝乌龟精冲来,乌龟精便拿起神弓搭起箭向公主射去。谁知那箭射到公主身边,便给宝剑挡住落到地上了,一连三箭都是如此。这时公主已跑到乌龟精面前,乌龟精知道抵挡不住了,便向海边逃去。

当乌龟精跑到海边,便回头对着追赶他的公主说:“好公主,谢谢你送我到海边来,最后还是提那句话,如果你不嫁给我,我就让这海水向你的国家倒灌过来,把你和你国家的人民,全部拿来喂鱼喂虾,到那时你方知道我的厉害!”

乌龟精说完,就要跳下海去。公主怕来不及近他身边,急匆匆地把宝剑向乌龟精掷过去。只听“咔嚓”一声,乌龟精的头被宝剑砍下来。公主一小做二不休,生怕这乌龟精还了魂再出来作怪,把他剁成碎泥,撒到荒坡上,叫他永世再也不能凑合起来。

公主对着那“和揖百越”宝剑哀哀哭泣。她的泪珠流到海里,被蚌含去,就成为珍珠了,而王子洒在骆越国土地上的鲜血,也化为一股清泉。到现在,海边的人如果剖开蚌得到珍珠,一定要拿到由王子血水变成的清泉里去洗。据说用这汪泉水洗过的珍珠,比其他的珍珠更洁净,更晶莹。


Saigon 8.2017 – 张泰游

 

 

吃了吗 – Ăn cơm chưa

Leave a comment

Thiên Chúa giáo, Hồi giáo, Do thái giáo: Thánh Kinh mô tả vườn Eden bờ xôi ruộng mật, thiên đường viên mãn. Đây phải chăng chính là mơ ước của con người trước cuộc sống nhọc nhằn khổ cực, y như viễn cảnh Jehovah đã rủa Adam trong Cựu Ước: “Trọn đời ngươi phải chịu khó nhọc mới có vật đất sanh ra mà ăn. Ngươi sẽ làm đổ mồ hôi trán mới có mà ăn.” Đó cũng là lý do người phương Tây mộ đạo luôn cảm ơn Chúa trước bàn ăn.

Hindu giáo, Phật giáo: Kinh Veda tả Niết bàn là tịch tĩnh, thỏa mãn, giải thoát. Theo Will Durant, nói cho cùng khởi đầu của nó cũng chính là giải thoát khỏi tự nhiên khắc nghiệt của tiểu lục địa Ấn Độ.

Đạo giáo, Nho giáo: Đi tìm bất tử, chân nhân phiêu du tang bồng nơi sơn cùng thủy tận. Thiên đường của người Á Đông cũng đủ đầy nhưng đặt biệt nổi bật là cây đào tiên trường sinh. Người ta chỉ đi tìm bất tử khi đã thỏa mãn cái ăn, cái mặc và có một đời sống tinh thần phong phú. Trên căn bản thổ nhưỡng và khí hậu, Á Đông cổ đại là nơi được thiên nhiên ưu đãi đặc biệt. Do đó tận gốc rễ của mình, tín ngưỡng Á Đông hoàn toàn khác biệt với tín ngưỡng Lưỡng Hà và Ấn Độ.

… cho đến khi trong Hán ngữ xuất hiện lời chào liên quan đến cái ăn: “吃了吗 – Ăn cơm chưa”. Nó cũng rất phổ biến ở Việt Nam cận đại cũng như Hàn quốc – “밥(을) 먹었어요?”.

moca1

Theo một số nghiên cứu, lời chào này ra đời muộn nhất là từ thời Minh và đã được người Bồ Đào Nha ghi chép vào sách vở khi đến giao thương và truyền đạo ở khu vực Phúc Kiến, Quảng Đông. Đây chắc chắn là hậu quả của nạn nhân mãn nếu căn cứ vào biểu đồ phát triển dân số Trung Quốc: 1000 năm từ Hán đến cuối thời Đường nhân khẩu khá ổn định ở mức 60 đến 80 triệu. Sau đó là các bước nhảy lên 110 triệu của Tống và Minh. Đầu nhà Thanh nó đã vọt đến 140 triệu. Trong khi đó khoa học và kỹ thuật hầu như dẫm chân tại chỗ, đất đai hẳn không còn màu mỡ như từng được tả thực ở thời Chu cách đó hơn 2000 năm trong Kinh Thi.

Người châu Âu thoát khỏi dã man nhờ Thiên Chúa giáo, một nhánh tôn giáo Babylon. Thời phục hưng họ vồ vập khoa học Hy Lạp từ sử thư Lưỡng Hà, coi đó là phát tích của mình cũng như văn minh toàn nhân loại. Đến khi nô dịch được Ấn Độ lại cho rằng Ấn Độ mới nhất quả đất. Họ lờ đi thực tế, đối thủ nặng ký trực tiếp bên cạnh họ lúc ấy là đế chế Ottoman sừng sững trên nền móng Lưỡng Hà. Chủng Aryan có nguồn gốc Lưỡng Hà đã thắp sáng Ấn Độ từ màu da đến các tiền đề của văn minh. Đấy là chưa nói đến Á Đông, đi muộn hơn Lưỡng Hà 1000 năm nếu tính từ thời điểm thuần hóa cây trồng và vật nuôi đầu tiên nhưng rực rỡ không kém. Đặc biệt nó hoàn toàn độc lập từ bình minh lịch sử của mình và có những thành tựu vẫn được lưu giữ trong sách vở cho đến ngày nay: thiên văn, toán học, chiêm tinh, tín ngưỡng, triết học, nông nghiệp, thương mãi, thi ca, văn chương…

Lịch sử nhân loại đã và đang được viết bởi người phương Tây là thứ lịch sử đầy dẫy sai lầm. Nó vừa tuyệt đối vô ơn với Lưỡng Hà, ngộ nhận có chủ ý với Ấn Độ và ngấm ngầm phủ nhận Á Đông.

Việt đế, Nhật hoàng và Nho giáo

Leave a comment

Năm 214 BC Tần Thủy Hoàng xua 500 ngàn dân binh tràn xuống Bách Việt. Năm 211 BC Lâm Lộc đào Linh Cừ, thông nối thủy hệ Trường Giang và Tây Giang, giúp quân Tần chiếm Quế Lâm, Ngũ Lĩnh, Thương Ngô, Nam Hải. Cuối năm 208 BC đến đầu năm 207 BC Triệu Đà cát cứ một vùng đất rộng lớn phương nam rồi dần dần xưng Đế. Năm 196 BC Lưu Bang ép Triệu Đà hạ đế hiệu xuống vương tước, khuyên nhủ “Hòa tập Bách Việt”. Đây là thời điểm Pax Sinica cổ đại ra đời, đối xứng với Pax Romana phía tây bán cầu. Tần Thủy Hoàng là thiên tử Bắc triều đầu tiên tự xưng HOÀNG ĐẾ 皇帝 và dùng một câu Chu dịch của Nho thư làm slogan: “Nam diện hướng minh nhi trị”.

Trong suốt lịch sử của mình, vua chúa người Việt luôn mang nặng tâm tư của Triệu Đà và quyết phải dùng chữ Đế, dù đôi khi vẫn len lén áp dụng “trong đế ngoài vương” như họ Triệu xa xưa. Cho đến năm 1945, tuy nền phong kiến không còn, tư tưởng Nho giáo vẫn phảng phất trong tên hiệu của lãnh tụ Việt, dù chữ HƯỚNG đã bị ẩn sang chữ CHÍ. Pax Sinica cổ đại chính thức khai tử ở phía nam: “Nam diện CHÍ MINH nhi trị”

Ở phía đông, người Nhật thích dùng chữ Hoàng hơn chữ Đế. Họ phủ nhận Pax Sinica cổ đại từ năm 1868. Và lạ lùng thay, vua Nhật cũng dựa vào Chu dịch để mở ra thời đại “Minh Trị” và gọi tôn vị của mình là Thiên Hoàng: : “Nam diện hướng MINH nhi TRỊ

Hoàng và Đế hay Hoàng Đế, về bản chất là các thuật ngữ của học thuyết tín ngưỡng chính trị Nho giáo. Kể từ khi người Trung Quốc nửa muốn từ bỏ, nửa muốn làm mới nó ở đầu thế kỷ 20, Nho giáo đã tồn tại 2400 năm và đang ở hiện tình bất lực giữa thời cuộc. Chia đôi khoảng thời gian này ra, như mọi hình thức tôn giáo, chúng ta sẽ có nửa tích cực đi trước dài 1200 năm và nửa phản động đằng sau cũng khoảng 1200 năm. Điểm cực thịnh của Nho giáo rơi đúng vào triều ĐẠI ĐƯỜNG khi xã hội Trung Hoa đang lục tìm trong kinh Phật một ý nghĩa nội sinh nào đó.

Đầu thế kỷ 21, tư duy làm mới Nho giáo đang thắng thế ở Trung Quốc. Pax Sinica, như một số nhà nghiên cứu phương Tây đã chỉ ra, đang hồi sinh. 72 năm nay nước Nhật có ngủ ngon trong lòng Pax Americana? Còn các vị Việt đế đã tìm ra cho mình học thuyết chính trị hậu hiện đại nào chưa? Họ đã từng ướm thử Pax Russiana, nhưng rất tiếc nó không phù hợp.

1

Từ cuối thế kỷ 20 người Mỹ đã mường tượng ra Pax Universalis để thay thế Pax Americana đầy tai tiếng. Không rõ lý thuyết ấy phát triển đến đâu rồi.

Dr. Li Tana was wrong!

Leave a comment

Đây là trang thứ 2 tài liệu nghiên cứu “Jiaozhi in the Han Period Tongking Gulf” của Tiến sĩ sử học Li Tana, đại học quốc gia Australia, cựu cử nhân sử học đại học Bắc Kinh.

Litana

Nó là căn cứ của một số người Việt để phản bác quyển sách của tôi. Những cái sai của Li Tana trong đoạn ngắn này:

1. Căn cứ vào Sử Ký, Hán Thư và Hậu Hán Thư, không có chuyện sau năm 111 BC trung tâm quyền lực phía nam nhà Hán chuyển từ Quảng Đông – Phiên Ngu đến quận Giao Chỉ. Nó chỉ dời sâu vào nội địa khoảng 200km, dọc theo Tây Giang. Trị sở Quảng Tín – Thương Ngô ngày nay là thành phố Ngô Châu. Lý do của sai sót này: Nhầm lẫn giữa Giao Chỉ Bộ và Giao Chỉ Quận.

2. Căn cứ vào Sử Ký, Hoài Nam Tử, không có chuyện Linh Cừ được đào từ năm 223 BC (lúc Tần Thủy Hoàng chưa thống nhất thiên hạ) đến năm 214 BC. Thực ra Linh Cừ chỉ bắt đầu được đào vào năm 211 BC.

Như mọi sử gia thông tuệ và có bằng cấp khủng, Li Tana không thèm đọc sử liệu gốc (hay không thể đọc được cổ văn?), bà sử dụng các nghiên cứu chưa chắc đã đúng của những người đi trước được liệt kê chiếm đến 7/25 trang tài liệu. Tôi cũng chẳng rảnh để chỉ ra tất cả các sai sót của bà trong 18 trang nghiên cứu này.

Cái vô lối của một số đôc giả Việt nói riêng và học thuật Việt Nam nói chung là luôn suy tôn Tây hoặc Tàu, không cần phản biện hoặc kiểm chứng.

Older Entries

thôn Sấu

Quê hương yêu dấu (Dọc hành chấm đứng). Xin các bạn vui lòng ghi rõ nguồn và dẫn link đến trang này nếu đăng lại bài của tôi

thienthanh2017.wordpress.com/

Thượng thiện nhược thủy, thủy thiện lợi vạn vật nhi bất tranh - Lão Tử

Học Thế Nào

How We Learn

leminhkhaiviet

About Vietnamese Cultural History and Scholarship

Xuân Bình

Nhà báo tự do

Nguyễn Huy Hoàng

the star is fading

Nghiên cứu lịch sử

Các bài nghiên cứu, biên khảo và dịch thuật các chủ đề về lịch sử

Le Minh Khai's SEAsian History Blog

Always rethinking the Southeast Asian past

trinhythu

Trịnh Y Thư WordPress.com site

trandangtuan.com

Men lá rượu ngô trong

4th Avenue Café

Free non-fiction translation

WordPress.com

WordPress.com is the best place for your personal blog or business site.

Trương Thái Du's Blog

Văn chương thiên cổ sự - Đắc thất thốn tâm tri...

No More Goat Soup

No goats were harmed in any way while making this blog. (We did kill all the sheep though)