Lời cảm ơn

Leave a comment

Như một mối duyên bền, sau mười bốn năm xuất hiện trên BBC ở chủ đề lịch sử, lần này BBT lại đề nghị chúng tôi tự giới thiệu cùng bạn đọc quyển sách vừa xuất bản: “Khảo chứng tiền sử Việt Nam“, NXB Tổng hợp TP HCM 2018.

340 trang in 16cmx24cm, 118 ngàn chữ, trên 99 hình ảnh biểu đồ, viết bởi một người không chuyên sử, không qua đào tạo bài bản nhưng đã được bạn đọc đón nhận rất nồng nhiệt và cụ thể. Hơn 700 bản in trong tổng số 1000 đã được tiêu thụ sau ba tuần, chủ yếu phân phối trực tiếp thông qua tương tác facebook.

IMG_20181031_151233

Ảnh: Hàng trăm airway bill (vàng) và grab bill (trắng) đã chuyển hơn 700 quyển sách đến bạn đọc cả nước và bắc Mỹ.

 

Lời dẫn trên bìa sách với nhiều bạn đọc chắc chắn là khá khoa trương, chưa đủ khiêm tốn: “Sự kết hợp đầu tiên và duy nhất của Thiên văn, Thư tịch, Khảo cổ, Ngôn ngữ, Văn hóa, Phong tục và Di truyền để khám phá Việt sử”. Tuy vậy nó vẫn chứa đựng một phần sự thật, chúng tôi đã dùng mọi công cụ có thể sử dụng để truy tầm những góc khuất của cổ sử Việt Nam. Xin liệt kê ra đây một số kết quả điển hình:

  1. Từ Việt trong Việt Nam có xác suất rất cao mang nghĩa nước/vùng nước (water/water area) và được trừu tượng hóa thành quốc gia đầu tiên ở hạ lưu Dương Tử trên 4000 năm trước. Các âm khác ở Á Đông cũng có cùng tiền đề hình thành với Việt gồm Vũ ( trong Đại Vũ / Hạ Vũ), Chu (Nhà Chu), Lạc (Lạc Việt), Lang (Văn Lang)…
  2. Tên gọi nước Việt Nam, người Việt Nam thật ra có tuổi đời trên 700 năm, dưới triều đại rực rỡ của họ Trần. Hai chữ Việt Nam mà nhà Thanh ép Thế tổ Gia Long Nguyễn Ánh phải nhận có lẽ lấy từ Khâm Định Tứ Khố Toàn Thư của họ. Nó là thành quả ngoại giao cương trực và ngoạn mục giữa Đại Việt và nhà Nguyên. Có bằng chứng thư tịch xác nhận ngày 18.3 (âm lịch) năm 1292 hai tiếng thân thương Việt Nam đã vang lên giữa lòng Hà Nội, tại khu vực chùa Quán Sứ ngày nay.
  3. Chúng tôi đã tách được chủ lưu Âu Việt (Dương Tử) và phụ hợp Lạc Việt trong quá trình hình thành lịch sử và con người Việt Nam. Các căn cứ văn hóa, xã hội, phong tục khác biệt giữa Âu Việt và Lạc Việt đã chỉ ra người Lạc Việt chính là người Tai Kadai (Thái Tráng – Choang) cổ đại, tổ tộc của Hai Bà Trưng. Đến thời Lý Trần họ vẫn bị sách vở hoàng gia gọi là man mọi.
  4. Các hướng tiếp cận đã bổ sung cho nhau, đặc biệt là kết luận của công trình khám phá gene Việt được phiên bản trực tuyến của Nature công bố tháng 10.2017: “Đứng trên quan điểm nhân chủng học, kịch bản chung là người Việt Nam ngày nay có nguồn gốc dân tộc kép: thành phần chính đến từ Hoa Nam, chồng lên thành phần phụ từ hợp chủng Thái – Indonesia. Nam tiến có lẽ là từ khóa cho sự mô tả cấu trúc di truyền của người Việt Nam hiện đại”.

Chúng tôi mạnh dạn đề xuất mô tả ngắn gọn lịch sử Việt Nam như sau:

Trước năm 330 BC chủ nhân vùng đất từ bắc bộ Việt Nam đến Thanh Hóa – Nghệ An là các bộ tộc du canh du cư Austronesian, ngoại hình thấp lùn, da ngăm đen (giống người Chàm ngày nay). Khi Trang Kiểu đánh chiếm và ở lại làm vua vùng hồ Điền – Côn Minh – Vân Nam, một số bộ lạc tiền Thái Tráng (dáng người cao ráo, da trắng) ở đấy bỏ chạy theo sông Hồng và sông Mã xuống Việt Nam, hòa trộn với người Austronesian bản địa, xây dựng văn hóa bộ lạc hoặc liên minh bộ lạc Đông Sơn khá rực rỡ. Chủ nhân văn hóa này được Hán sử gọi là người Lạc Việt.

Ở thời điểm Công nguyên, người Hán bắt đầu thực dân hóa Việt Nam, đó là động lực và nguyên nhân cuộc nổi dậy của Hai Bà Trưng.

900 năm tiếp theo, Việt Nam là nơi hội tụ và hợp huyết của các nhóm người: Lạc Việt (da hơi ngăm, tầm vóc trung bình), Âu Việt con cháu Câu Tiễn di cư xuống từ lãnh thổ Mân Việt và Nam Việt cũ (da hơi sáng, tầm vóc trung bình, có tục cắt tóc xăm mình), quan binh người Hán viễn chinh đồn trú và tội nhân Hán đi đày hoặc lánh nạn (da trắng, cao lớn, đa số mắt một mí). Giới tinh hoa của xã hội Việt Nam khi ấy chắc chắn có dòng máu từ mẹ Lạc Việt nhưng mang đậm nét văn hóa Âu Việt và Hán.

Năm 938, Ngô Quyền ly khai khỏi Nam Hán, lấy tên cũ của Nam Hán là Đại Việt (năm 917) để dựng nước. Rõ ràng quốc danh Đại Việt hàm ý quyền lực Việt Nam khi ấy thuộc về người gốc Âu Việt và Nam Việt. Các họ Đinh – Lê – Lý – Trần tiếp nối sau đó có lẽ đều là người Việt Nam gốc Âu Việt hoặc Hán lai Âu Việt. Hậu quả là chính sử Việt Nam bắt đầu từ thời Trần đã đưa Triệu Đà làm vua khai quốc.

Đến thời Hậu Lê, hoàng gia gốc tiền Thái Tráng đầu tiên nắm quyền ở Việt Nam. Họ dần dần loại bỏ Triệu Đà khỏi sử sách. Người miền trong Thanh Hóa – Nghệ An – Hà Tĩnh (gốc tiền Thái Tráng chiếm ưu thế) không tin tưởng người phía bắc (nặng gốc Âu Việt và Hán). Sự kiện gia tộc Nguyễn Trãi bị tru di hoặc gia tộc của Mạc Đăng Dung tiếm quyền, nên được nhìn thêm dưới con mắt mâu thuẫn huyết thống và văn hóa, hơn là đơn tuyến chính trị.

Cuối Minh đầu Thanh, chính trị trung ương bắc triều hỗn loạn, làn sóng di cư từ Hoa Nam xuống Việt Nam dâng cao. Thuyết Đại Việt của Lưu Nham từ năm 917 sống lại. Quang Trung có lẽ đã rất tin tưởng các đô đốc hải quân gốc Phúc Kiến, Triều Châu, Quảng Đông và Hải Nam của mình. Ông mơ đến một nước Đại Việt hùng cường bao gồm cả Lưỡng Quảng. Giả thuyết trên càng có căn cứ hơn với đề xuất của Gia Long với Thanh triều, đặt tên mới Nam Việt cho đế quốc của ông. Nam Việt chính là phiên bản Đại Việt xưa hơn, gắn với tên tuổi Triệu Đà.

Giải pháp Việt Nam của Gia Khánh vừa uyển chuyển vừa khôn khéo loại trừ được mầm mống tư tưởng Đại Việt. Thập kỷ 30 của thế kỷ 20, Trung Quốc cũng đã phải đối mặt với một luận thuyết tương tự từ một quốc gia Đông Nam Á. Đó là thuyết Đại Thái, tuyên xưng lãnh thổ dân tộc Thái bao gồm cả Vân Nam và một số vùng đất Hoa Nam khác.

Ngày 2.9.1945 lãnh tụ Hồ Chí Minh khai sinh nước Việt Nam mới, kết thúc hơn một ngàn năm phong kiến. Tương tự như vua Nhật từng đặt niên hiệu MINH TRỊ, cụ Hồ đổi tên mình thành CHÍ MINH. Minh Trị hay Hướng Minh/Chí Minh đều xuất phát từ một câu Chu Dịch: Nam diện hướng minh nhi trị. Nó nói lên ý chí độc lập của một quốc gia có chủ quyền bên cạnh Trung Hoa, chia sẻ cùng đất nước của Chu Công các giá trị văn hóa phổ quát cũng như lịch sử và di truyền của tổ tiên.

***

“Khảo chứng tiền sử Việt Nam” dành một phần không nhỏ để dịch nhiều thiên cổ thư Trung Hoa liên quan đến cổ sử Việt Nam. Điều rất đáng tiếc của chúng tôi nằm ở bản dịch “Nam Man Tây Nam Di liệt truyện” gần 12 ngàn từ của Hậu Hán Thư. Do trình độ Hán văn tự học rất hạn chế, không tìm được chuyên gia hiệu đính và chưa từng có một bản dịch Việt ngữ đầy đủ để tham chiếu nên hẳn phải còn rất nhiều sai sót. Biết thế nhưng chúng tôi vẫn quyết định in và hẹn những bạn đọc khó tính ở các lần tái bản (nếu có). Rất mong các độc giả xí xóa cho tội của chúng tôi là “người đầu tiên” dám chuyển ngữ một sử liệu cấp một, từ thư khố hoàng gia Hán. Nó là tổng hợp những diễn biến gần như tức thời ở các địa phương đã được gửi về và lưu trữ tại triều đình.

Ngoài sai lỗi dễ biết và đã tự nhận thức được ở trên, “Khảo chứng tiền sử Việt Nam” chắc chắn không thiếu các luận điểm đầy tranh cãi, những góc tối rất cần thêm dữ kiện để tỏa sáng hoặc loại bỏ. Tác giả tin rằng dù nhỏ bé như một gợi ý, sự xuất hiện của bất cứ quyển sách sử nghiêm túc nào cũng luôn cần thiết cho xã hội. Xin các bạn hãy mở lòng đón nhận thành ý của chúng tôi.

Saigon 10.2018

truongthaidu@gmail.com

Kính mời mua sách in

5 Comments

Đáp ứng lời đề nghị nhiệt thành từ các bạn đọc của quyển ebook Khảo Chứng Tiền Sử Việt Nam, ISBN: 9781370154548, chúng tôi đã tiến hành xin giấy phép và thực hiện in ấn 1000 bản:

  • Bìa cứng toàn bộ, giấy couches 150 gsm.
  • Quy cách 16cmx24cm, may chỉ, vô keo, nặng 700gr/quyển.
  • Ruột tổng cộng 340 trang. 118 ngàn chữ, 99 hình ảnh và bản đồ minh họa, 16 trang màu, giấy trắng ford 70 gsm.

kctsvn

Các chuyên gia xuất bản dự báo số sách này, nhanh mất 6 tháng, lâu cỡ 10 năm mới đi hết. Với chúng tôi điều đó không quan trọng bằng việc đáp ứng sự mong mỏi của 100-200 bạn đọc đã có tấm lòng với cổ sử nước nhà.

IMG-86b3174afea50c936da069b25f814e66-V

Đến ngày 22.10, trên 550 quyển đã được chuyển phát thành công đến bạn đọc.

IMG_20181022_074004

Thể thức phát hành: Thanh toán theo giá bìa 230.000 VND/quyển, đến: Chủ tài khoản: Tăng Lệ Dung. Số tài khoản: 0601 5060 5108. Ngân Hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) – Phòng Giao Dịch Bình Trưng Tây – Chi nhánh Thủ Đức, TP HCM. SWIFTCODE: SGTTVNVX. Xin ghi rõ email hoặc điện thoại khi chuyển khoản.

Ngay sau khi thực hiện bước trên, xin mọi người vui lòng nhắn tin đầy đủ địa chỉ nhận sách, số điện thoại, các yêu cầu khác như triện tên tác giả, chữ ký và/hoặc đề từ, qua facebook [https://www.facebook.com/thaidutruong] hoặc email [truongthaidu@gmail.com]. Sách sẽ được dịch vụ chuyển phát Viettel gửi tận nhà bạn đọc trong thời gian ngắn nhất có thể. Free ship đến quyển cuối cùng.

Các địa chỉ phát hành chính thức: 

TP HCM – Sài Gòn: HIỆU SÁCH TRI VĂN. 162 Điện Biên Phủ, P.17, Q. Bình Thạnh
ĐT: 028. 66 832.872

Khu vực Hà Nội:

  1. Ms. Trịnh Thoa
  2. Ms Hoa – Hiệu sách Mụ Hoa – số 5 Đinh Lễ – Tràng Tiền – Hà Nội.

Khu vực Hạ LongThư viện Yến 96 NGUYỄN VĂN CỪ – HẠ LONG QUẢNG NINH. 0903222117

Các đơn hàng ship ngoài nước: Canada tiền ship khoảng 30 USD. Mỹ 23 USD. Bạn đọc có nhu cầu vui lòng check tỉ giá và chuyển paypal theo tài khoản: [truongthaidu@gmail.com].

Xin trân trọng kính mời mọi người đặt sách.

Cạnh Đền Bạch Mã – Hàng Buồm – Hà Nội

10.10.2018 

Nguồn gốc Phở và Bún

4 Comments

Đa phần các loại bột gạo (không phải làm từ lúa mạch) được viết bằng chữ Hán là Phấn 粉. Đây là phép hội ý dùng chữ Mễ 米 bên trái chỉ gạo, chữ Phân 分 bên phải chỉ chia nhỏ, xay nghiền nhuyễn và đồng thời làm âm cho Phấn 粉. Chữ Phấn trong Son Phấn cũng là Phấn 粉 này vì thời cổ bột gạo thường được dùng trong trang điểm.

Cổ âm của Phấn được các nhà ngôn ngữ học thế giới tái tạo khá thống nhất: Edwin Pulleyblank [punX], Trịnh Tường Phương [*pɯnʔ], S. Starostin [pǘn]… Đây chính là âm Bún trong Việt ngữ vậy, vừa khớp âm, vừa khớp nội hàm. Đặc biệt theo ghi nhận của Starostin, âm Bún hiện tại của Việt ngữ rất giống phương âm Hạ Môn – Phúc Kiến của chữ Phân 分 [pun].

Như vậy từ/âm Bún phải xuất hiện muộn nhất ở Việt Nam là vào thời Lý – Trần và nó mang/tương đồng với Mân âm, tiếng nói của tổ tiên hai dòng họ vĩ đại này.

Quá trình biến âm P/B thành PH chúng tôi có thể chỉ ra hằng hà sa số ví dụ: Ba/Bố/Phụ, Buồm/Phàm, Bụt/Phật… Và chắn chắn đó cũng là logic cho cổ âm Bún biến thành Phở ở đầu thế kỷ 20.

Hình 1: Bát phở Hà Nội điển hình.

pho_hanoi

Hình 2: Một bát ngưu nhục phấn 牛肉粉 (bún/phở thịt bò) đặc sản của tỉnh Hồ Nam – Trung Quốc.

pho_honam

Hình 3: Món Hà Phấn của người Phúc Kiến

Pho_PhucKien

Thành ra về từ nguyên, phở và bún chỉ là âm của một chữ Phấn 粉 duy nhất. Bún là Đường âm. Phở là Việt âm hiện đại. Âm Tây An và Tế Nam Sơn Đông là giống Phở nhất [fẽ]. Giống bởi quy luật biến âm tương đồng chứ không phải và không thể do vay mượn của nhau.

Sự liên kết Bún và Phở trong ngữ âm và sự phát triển ngôn ngữ đã trình bày ở đây sẽ bác bỏ bất cứ lập luận tráng men “gốc Pháp” nào vào món Phở. Kiểu tư duy thừa nô lệ và thiếu biện chứng ấy chỉ làm xấu hình ảnh của Phở đi mà thôi.

Phở là đặc sản Á Đông mang hương vị Việt, tiền thân của nó, từ ngữ âm đến hình thức thể hiện, là món Bún dân dã phổ biến khắp Hoa Nam và Việt Nam. Điều này chắc chắn chẳng mảy may làm sứt mẻ niềm tự hào của tất cả chúng ta về Phở.

Thạch Viên

9.2018 – T.T.Du

Nguồn gốc địa danh Sài Gòn, Đồng Nai và Huế

3 Comments

Sài Gòn ơi ta trả lại tên em
 Âm Triều Châu sao mà thân thương thế
 Những khúc cong, lượn như bầu vú mẹ
 Dòng Sông Tây nuôi mớm đất anh hào

 

Khởi đi từ tư duy hệ thống và phi tuyến tính, chúng tôi thấy rằng rất ít khi có một địa danh lẻ loi, từ trên trời rơi xuống. Mỗi địa danh đều gắn kết với ít nhất một địa danh khác, mà chúng tôi tạm gọi là “hệ địa danh”. Trong nội bộ một hệ địa danh nhất định, sự tương tác cũng như liên đới về phương hướng (đông tây nam bắc), ngữ nghĩa, ngữ âm, lịch sử hình thành và địa lý chắc chắn sẽ giúp chúng ta khám phá ra logic gần sự thật nhất, có độ thuyết phục cao nhất, từ ít cứ liệu nhất.

Đó là lý do chúng tôi quyết định khảo sát nguồn gốc các tên gọi Sài Gòn, Đồng Nai và Huế cùng một lúc.

Người Hoa từ trước đến nay đều viết bằng Hán tự tên thành phố bên bờ sông Sài Gòn là Tây Cống 西貢. Âm của Tây Cống trong tiếng Triều Châu (chi Mân Nam) gần với âm Sài Gòn nhất, theo nhu liệu ngữ âm của S. Starostin là [Saikoŋ].

Sách Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quý Đôn viết năm 1776 có dữ kiện “Năm 1674 Thống suất Nguyễn Dương Lâm vâng lệnh chúa Nguyễn đánh Cao Miên và phá vỡ lũy Sài Côn”. Sách Đại Nam Thực Lục ghi nhận chỉ 5 năm sau sự kiện trên, năm 1679 chúa Nguyễn đã phong chức, ủy lạo rồi sai Trần Thượng Xuyên và đoàn Hoa nhân tị nạn vào khai khẩn Đông Phố tức Biên Hòa – Đồng Nai ngày nay. Họ Trần người Lôi Châu, khu vực chủ yếu dùng phương ngôn Lôi Châu thuộc nhóm Mân ngữ.

Min_Languages.svg

Sơ đồ phân bổ Mân ngữ: Màu tím là nhánh Quỳnh – Lôi, đất bán đảo Lôi Châu và Quỳnh Châu (Hải Nam), nơi xuất phát của Trần Thượng Xuyên. Màu xanh Mân Nam (Southern Min) bao gồm toàn bộ đất Triều Châu và vùng ven biển Đài Loan.

Chúng tôi chưa tìm được đủ dữ kiện để minh xác Sài Côn hay [Saikoŋ] ra đời trước. Khả năng Lê Quý Đôn đã dùng hai chữ Sài Côn để ghi lại giọng đọc [Saikoŋ] đương thời (1776) vì rõ ràng người Khmer chưa bao giờ dùng từ này. Không có lý nào để họ gọi đồn lũy của mình bằng Mân âm hoặc Hán Việt âm. Và nếu Sài Côn là ký âm Hán Việt thì rất vô lý, họ sẽ dùng chữ Tây chứ không phải Sài.

Về ngữ âm và ngữ nghĩa, chúng ta thấy ngay Tây Cống 西貢 hầu như vô nghĩa, đặc biệt là chữ Cống. Do vậy Cống có thể là Hán tự ký âm bản ngữ Champa [krong] hoặc Khmer [ស្ទឹង – stoeng] chỉ dòng sông. Tiền lệ của nó là trường hợp âm [krong] bản địa đã được người Trung Nguyên viết thành Giang 江 (cổ âm đọc như chữ Công 工) chỉ sông Dương Tử từ thời Xuân Thu Chiến Quốc; hay Mekong được người Việt viết thành Cửu Long. Cũng có thể Cống chỉ liên quan với Krong/Stoeng ở cội nguồn Austronesian vì âm Kong trong tiếng Quảng Đông vừa chỉ Cảng 港 và Sông/Giang 江 như ta đã thấy trong từ Hongkong, chữ Hán là Hương Cảng 香港.

Như vậy phải chăng Tây Cống mang nghĩa dòng sông phía tây và Mân âm Lôi Châu (pha trộn giữa tiếng Quảng Đông và Triều Châu) của nó chính là Sài Gòn? Khi đọc lên, âm Sài Gòn sẽ có hai nghĩa, tùy ngữ cảnh: Cảng phía Tây hoặc Dòng sông phía Tây.

Nếu đi theo hướng suy luận này, chúng ta sẽ kết nối được Đồng Nai với Đông Nai. Tức là âm Đồng có khả năng là Mân âm Lôi Châu chỉ hướng Đông, hoàn toàn khớp với tương quan vị trí địa lý của nó với Đông Phố (Bến nước phía đông) và Tây Cống (dòng sông hoặc bến cảng phía Tây) trên thực địa. Đến đây thì Nai đã hiện ra dấu hiệu âm bản ngữ bị rút gọn, đơn âm hóa của Krong Binai (sông Cái) trong tiếng Champa!

tudienchamvietphap

Từ điển Chăm – Việt – Pháp của G. Moussay

Xét về lưu vực, lưu lượng dòng chảy và độ lớn, sông Đồng Nai ngày nay vẫn đóng vai trò sông Cái, sông Mẹ và sông Sài Gòn là một nhánh con phía tây của nó. Các tục danh đa dạng của Đồng Nai hầu như đều rút gọn từ cụm từ Nông Nại Đại Phố 農耐大浦, đến đây đã có thể hiểu là Bến cảng lớn của sông Cái phía Đông.

Saigon1

Vị trí và hình thế của sông Đồng Nai và Sài Gòn.

Nếu Đồng Nai tiên khởi mang nghĩa Sông Cái phía Đông và Sài Gòn chỉ Sông Con phía Tây, nó sẽ khớp với logic hình thành địa danh không chỉ tại Việt Nam xưa nay, mà còn ở cả Trung Quốc. Tên đất chính là tên sông: Hà Nam, Hà Bắc (vùng đất phía nam và phía bắc sông Hoàng Hà), Giang – Hoài (vùng đất nơi có sông Trường Giang và sông Hoài). Tiền Giang, Hậu Giang, Bắc Giang, Ninh Giang, Hà Giang, Hà Nam, Kiên Giang…

Trần Thượng Xuyên nam tiến từ vùng đất nói tiếng Mân muộn hơn người cùng họ và cùng ngôn ngữ mẹ đẻ của mình là Trần Kính trên dưới 600 năm. Không phải tình cờ mà ngày nay người ta gọi đất Hóa Châu xưa kia bằng Mân âm Huế của chữ Hóa. Triều đại mở đất Việt Nam đến Huế chính là Đông A, được lãnh đạo bởi các hậu duệ của Trần Kính. Âm Huế có lẽ đã là phương danh, tục danh tồn tại từ thời Trần Anh Tông (1276 -1320). Cũng chính Trần Anh Tông đã đổi tên đất An Sinh thành Đông Triều. Rất có thể đấy là dụng ý có tính toán kỹ lưỡng của tiền nhân để lưu lại dấu tích Mân ngữ – Triều Châu ngữ cho đời sau, giống hệt trường hợp địa danh Tân Triều ở Đồng Nai.

Từ 7 đến 8 tuổi, tác giả của bài viết này đã được sống một năm giữa vùng đất Bạc Liêu mênh mông “Dưới sông cá chốt – Trên bờ Triều Châu”, nghe những câu vọng cổ đêm mang nỗi hoài hương của di dân Hoa Nam thuở nào. Đến nay mới chợt hiểu:

Từ thuở mang cày đi mở cõi

Ngàn năm thương nhớ đất Triều Châu

Âm xưa còn đọng trong danh tại

Diết da câu vọng cổ Sáu Lầu

————————————————————————————————————————————–

Saigon - Đồng Nai 5.2018
Người Triều Châu: T.T.D

Mời đón đọc: Khảo chứng tiền sử Việt Nam – NXB Tổng Hợp TP HCM 2018

Tên gọi “Việt Nam” có từ khi nào?

8 Comments

Ngày 18.3 (âm lịch) năm 1292 Trương Lập Đạo dẫn đầu sứ đoàn nhà Nguyên đến Thăng Long. Ngày 19.3 tại Sứ quán, Thế Tử nhà Trần hỏi Lập Đạo đi đường chắc mệt nhọc lắm (驅馳 khu trì), Nguyên sứ trả lời: “天子不以越南為逺何以驅馳 – Thiên tử bất dĩ Việt Nam vi viễn hà dĩ khu trì”.

vietnam1

Bản dịch An Nam Chí Lược của Viện Đại Học Huế năm 1960 ghi: “Thiên tử không cho rằng nước An Nam là nơi xa cách, thì sứ thần ngại gì xông pha”. Một số người thông thạo Hán tự cho rằng Việt là vượt, nam ý chỉ phía nam, đại khái phải hiểu như sau: “Thiên tử không cho rằng đi phượt về phương nam là xa xôi thì làm sao dám mệt mỏi”.

Tuy nhiên An Nam Chí Lược không chỉ nhắc đến từ kép “Việt Nam” một lần duy nhất. Sau đây là các dẫn chứng tiếp theo.

  1. Khoảng năm 1321, bài thơ phụng dâng vua Trần Minh Tông tựa đề “Tặng thế tử Thái hư tử” của Lang trung Văn Tử Phương trong sứ đoàn nhà Nguyên có hai câu:

從此君臣保民社 – Tòng thử quân thần bảo dân xã

主恩長畀越南人 – Chủ ân trường tí Việt Nam nhân

Diễn nghĩa: Từ đây vua tôi của ngài gắng sức bảo vệ nhân dân và xã tắc. Ơn trên mãi mãi ban xuống cho người Việt Nam.

  1. Khoảng năm 1285 hoặc 1286, Trần Ích Tắc được vua nhà Nguyên đãi yến tiệc ở núi Vạn Tuế. Sự việc được chính họ Trần mô tả trong bài thơ “Vạn tuế sơn yến thị nhật trị tuyết” dưới bút danh Thiện Lạc lão nhân. Hai câu cuối:

越南羈旅陪班列 – Việt Nam ki lữ bồi ban liệt

咫尺光昭日月新 – Chỉ xích quang chiêu nhật nguyệt tân

Diễn nghĩa: Đoàn lữ khách Việt Nam từ phương xa được (ưu ái) xếp đặt ngồi ăn tiệc. Chỉ cách hào quang nhật nguyệt của thiên tử (nhà Nguyên) trong gang tấc.

  1. Cũng vào khoảng thời gian ở trên, An vũ sứ người Việt là Lại Ích Khuy trong bài “Nguyên nhật triều hội” tường thuật một buổi chầu đầu năm, mở đầu bằng hai câu xu nịnh:

聖日垂光被越南 – Thánh nhật thùy quang bị Việt Nam

驛亭官栁許停驂 – Dịch đình quan liễu hứa đình tham

Diễn nghĩa: Ánh mặt trời thần thánh (của Nguyên triều) trùm phủ đất Việt Nam. (Đến nỗi) ngựa cũng phải dừng lại ở gốc liễu trạm dịch (để bái vọng?).

  1. Cuối cùng cũng là năm 1292, trong sứ đoàn Trương Lập Đạo đã dẫn, bốn câu thơ tự sự của Lang trung Trần Cương Trung, người Chiết Giang, đất cũ Âu Việt có từ ghép Việt Nam như một xứ sở:

老母越南垂白髪 – Lão mẫu Việt nam thùy bạch phát

病妻燕北待黃昏 – Bệnh thê Yên bắc đãi hoàng hôn

蠻烟瘴雨交州客 – Man yên chướng vũ giao châu khách

三處相思一夢魂 – Tam xứ tương tư nhất mộng hồn

Diễn nghĩa: Mẹ đã già ở đất Việt phương nam xõa tóc trắng. Vợ đang bệnh chốn Yên bắc đợi hoàng hôn. (Trong khi đó tôi) lại phải làm khách Giao châu nơi sương hại mưa độc. Ba xứ ấy cứ quẩn quanh suy tưởng trong một giấc mộng.

***

Như vậy chỉ trừ Việt Nam trong thơ Trần Cương Trung nghĩa là đất Âu Việt xưa (Chiết Giang) ở phía nam để đối với đất Yên phía bắc (nơi có kinh đô nhà Nguyên), cả 4 ngữ cảnh còn lại đều có thể hiểu Việt Nam chính là Đại Việt hoặc An Nam.

Điều đó có nghĩa là tên gọi Việt Nam có tuổi đời trên 700 năm, dài hơn bất cứ mốc thời gian nào mà giới sử học từng đưa ra. Quan điểm biện chứng và phi tuyến tính của chúng tôi như sau:

  1. Đại Việt: Quốc danh thể hiện sự tự tôn, chứa hào khí Nam Việt xưng đế của Triệu Đà, hùng khí Đại Việt của Bá vương Câu Tiễn, tổ tiên nhà Trần ở cửa sông Dương Tử.
  2. An Nam: Quốc hiệu miệt thị của các triều đình phương bắc, ngụ ý tiểu quốc phải ngoan ngoãn chầu cống. Họ bỏ từ tố quan trọng nhất, chứa đựng bản sắc mấy ngàn năm của một cộng đồng văn hóa đặc thù là (Âu) Việt, ven biển từ cửa sông Dương Tử đến Việt Nam. Tương tự khi ta gọi ai đó là chú nhóc ngoan, mà chẳng cần tôn trọng tên riêng của nó.
  3. Việt Nam: Là giải pháp ngoại giao dung hòa 1 và 2, bỏ hai tính từ “đại” và “an”.

Ở góc nhìn này, tên gọi Việt Nam phải được xem như thành quả ngoại giao cương trực của Đại Việt trong hàng ngàn năm qua, nhằm xác định quyền độc lập và tự chủ của quốc gia. Sử học xưa nay chỉ ghi chép và lý giải tuyến tính các sự kiện, thiếu hẳn công tác đúng đắn là tái lập tư duy của cổ nhân trên sử liệu. Do đó người ta đã không bắt được ý tại, trong cái vỏ ngôn ngoại đơn giản đến thô lược, không phù hợp với truyền thống Á Đông thâm trầm và sâu sắc.

@01.3.2018

T.T.Du

Tết Việt và văn hóa Dương Tử

6 Comments

Tết Ta chắc chắn là đối tự của tết Tây từ khi tết Tây bắt đầu xuất hiện ở Việt Nam, trước tiên theo chân các giáo sĩ truyền giáo và ngay sau đó là áp đặt của chế độ bảo hộ Đại Pháp. Khi nói tết Ta, người Việt lúc ấy đứng về phía nền văn minh Nho giáo Á Đông lâu đời và những phong tục tập quán đã phổ quát mấy ngàn năm.

Tuy nhiên, sau hơn 80 năm nô thuộc, bị nhồi sọ và chia rẽ bởi tư tưởng và lịch sử bịa đặt của thực dân, tết Ta bỗng nhiên trở thành tết Việt cổ truyền. Người ta giải thích nó giống và trùng với tết Tàu bởi vì Việt là “bố” của Tàu, từ văn hóa, chữ viết đến di truyền. Tác giả tiên phong của thuyết này, không ai khác, là một linh mục tư duy bằng tiếng Pháp và tiếng Latin.

Thực ra ở thời tối cổ từ 12 đến 4-5 ngàn năm trước, loài người chỉ có hai mốc Hạ chí (ngày dài nhất, thời điểm nóng nực nhất trong năm) và Đông chí (ngày ngắn nhất, thời điểm lạnh nhất trong năm) để chọn làm ngày đầu năm. Muộn nhất là thời Chu, người Trung Hoa đã lấy ngày Đông chí đốt lửa tế trời. Người Việt ở Dương Tử, ngược lại, có lẽ đã chọn Hạ chí với lễ hội đua thuyền rồng.

Khi tích hợp nguyệt lịch vào nhật lịch, người Tàu gọi tháng chứa ngày Đông chí là Tý, tức tháng đầu năm theo 12 địa chi. Âm dân dã của Tý là Chuột gốc Hán Tạng. Năm 104 BC Hán Vũ Đế quyết định chuyển tết qua tháng Dần như ngày nay. Rõ ràng đây chính là Chinese New Year khi dịch sang tiếng Anh. Các gợi ý phế bỏ nguồn gốc China của nó để thành Lunar New Year vừa nông cạn vừa sai lầm bởi ngày nay nguyệt lịch chỉ còn mỗi người Hồi giáo sử dụng mà thôi. Lunar New Year là ngày tết Muharram của đạo Hồi chứ không thể là đầu năm của âm dương lịch (lunisolar calendar).

Theo Sử Ký, nhà Hạ ăn tết cũng vào tháng Dần, gần ngày Xuân Phân, nhà Thương chọn tháng Sửu. Người làm lịch xác định được mốc Xuân Phân và Thu Phân thì trình độ thiên văn phải cao hơn hẳn những ai chỉ mới biết dùng hai điểm Chí. Nói cách khác đi từ Hạ đến Chu hình như kèm theo là sự thụt lùi của thiên văn học ở giai đoạn đầu. Nó cho chúng tôi hình dung mơ hồ rằng có khi nhà Hạ đã vay mượn nền thiên văn tiên tiến Dương Tử. Rất hy vọng trong tương lai khảo cổ sẽ giúp minh định điều này.

Bánh chưng, bánh tét, bánh dày và bánh lá tre

 

 

 

Bánh Chưng chữ Hán là Chưng Bính 蒸餅. Bánh Dày là Bạc Trì Bính 薄持餅. Hai loại bánh này được đề cặp trong Chưng Bính Truyện ở Lĩnh Nam Chích Quái cuối thời Trần và gọi chung là Tiết Liệu 節料 – Đồ (bánh) cúng tết (tiết). Những tên gọi ấy đều có trong sách vở chữ Hán sớm nhất là thời Tấn, tuy nhiên theo mô tả thì hình thức và nội hàm hoàn toàn khác. Bánh chưng bánh dày Việt và các loại bánh Hán cùng tên đều được luộc hay chưng (như bánh trôi nước và bánh bao). Từ điển Thuyết văn và sách Thích Danh thời Đông Hán mô tả Tư 餈 loại bánh bánh bột hay bánh gạo.

Cùng nguyên liệu và cách nấu nhưng khác hẳn ở vẻ bề ngoài, người Hoa Nam di cư đến Nam Việt Nam từ Minh mạt trở đi cũng gói một thứ bánh vào dịp tết và gọi là Bánh Tét. Tét chính là âm của chữ Tiết 節 cách đây vài trăm năm [ciet]. Vậy Bánh Tét chính là bánh Tết. Đặc biệt, nhánh Thái Tráng có tên riêng Tày Nùng ở Việt Nam, hậu duệ chân truyền của văn hóa Lạc Việt, cũng có loại bánh chưng dài gọi là bánh Tày.

Bánh chưng và bánh dày được tác giả nhà Trần nối với Hùng vương, non nước thanh bình sau khi đánh bại giặc Ân. Mà giặc Ân thì rõ ràng chỉ bước tới sông Dương Tử mà thôi, không thể và không cách gì có thể hành quân đến châu thổ sông Hồng (lúc ấy còn là đáy biển).

Kiểu cách Bánh Dày xuất hiện dày đặc ở Hoa Nam và lan sang tận Nhật Bản, có rất nhiều cách gọi: Tổ bính 祖餅 (bánh cúng tổ tiên), Niên cao bính 年高餅 (bánh Tết), Đạo bính 稻餅 (bánh gạo),  Nhị bính 餌餅 (bánh bột), Từ/Tư Ba 糍/餈粑 (bánh dày). Tư 餈 âm Đông Hán đọc là [ʒjǝj], rất giống âm Dày. Chữ Tày trong Tày Nùng được ký âm bằng chữ Đại 岱, tiếng Thái Tráng đọc là [daej] nhưng Hán âm thời Lý Trần của nó [d(h)ǝ̄̀j] và [dʌ̀j] cũng khá tương đồng với dày trong Bánh Dày.

Như vậy khả năng rất lớn là các loại bánh tết làm bằng gạo nếp đều có nguồn gốc Dương Tử, nơi phát tích văn minh lúa nước (cung cấp nguyên liệu làm bánh) và du nhập vào Việt Nam theo các đoàn người di cư. Nếu phong tục gói bánh chưng bánh tét ngày tết là lõi văn hóa Đại Việt ở cửa sông Dương Tử thì làm bánh dày đã lộ rõ dấu hiệu Lạc Việt. Văn minh Dương Tử có lẽ ăn tết chính vào ngày Hạ chí, khác biệt với người Hoa Hạ dùng mốc Đông chí. Vì vậy bánh lá tre cúng đoan ngọ trong lễ hội thuyền rồng hẳn là mẹ đẻ bánh chưng và bánh tét. Hơn nữa, nó liên kết chặt chẽ với totem tre trúc: tượng hình cây măng, gói bằng lá tre. Người Dạ Lang cổ đại có truyện cổ tích Trúc vương đẻ ra từ một bọng tre bên bờ suối. Người Việt có truyền kỳ Thánh Gióng. Cậu bé Gióng lớn nhanh như thổi là tái hiện sự sinh trưởng của cây măng. Trong tiếng Việt, Gióng nghĩa là đốt tre, có quan hệ với Hán âm Tùy – Đường của ống tre là chữ Đồng 筒 [dōŋ]. Phương âm Giang (Tô Châu) và Chiết (Ôn Châu) ngày nay vẫn đọc là [doŋ]. Chính di dân Âu Việt đã đem câu chuyện này đến châu thổ sông Hồng và ký âm hơi lệch sang chữ Đổng 董 (Phù đổng thiên vương). Cơm nấu trong ống tre và bánh gói bằng lá tre là nền tảng không thể phủ nhận của Nhục tống.

Các loại bánh nếp nhân thịt ở Hoa Nam tiếng Hán là nhục tống 肉粽 nhưng đã phổ biến khắp Đông Nam Á bằng âm Mân Việt: Machang (Philippine), Má Chạng hoặc Bá Chạng (Việt Nam), Bah Tsàng (Thái Lan), Ba Cang (Malaysia), Bachang (Indonesia)… Âm [ba] và [ma] khớp với nhiều âm Hán Tạng chỉ cây tre. Người Malaysia gọi tre là Mambu, người Hà Lan ký âm thành Bamboes và đi vào tiếng Anh thành Bamboo. Như vậy Machang có thể dung chứa nguyên nghĩa bánh gói bằng lá tre của nó ở phiên bản đầu tiên là bánh cúng đoan ngọ. Ngoài ra chữ Hán cổ còn dùng Mo/Ma 饃 để chỉ loại bánh chưng hoặc hấp. Chữ Tống 粽 phương âm Hồ Nam và Triều Châu là [cang], âm Trung Nguyên là [ciuŋ]. Do vậy Machang cũng có khả năng chính là bánh chưng.

Với gốc tích Mân Việt rành rành của mình, nếu không phải nhà Lý và nhà Trần là các đoàn di dân đầu tiên đem bánh nếp nhân thịt đến Việt Nam, thì họ cũng là tác giả của việc cổ súy mạnh mẽ, kết dính với bánh dày bản địa Lạc Việt, nâng chúng lên hàng văn hóa quốc gia. Chứng thực cội nguồn bánh chưng bánh dày từ truyện cổ tích dân gian rồi viết xuống bằng chữ Hán Chưng Bính 蒸餅, Bạc Trì Bính 薄持餅 chính là nỗ lực xây dựng nền móng văn hóa Việt Nam đặc trưng cho muôn đời. Bánh Tày và bánh Tét vốn tròn và dài, bánh Dầy to – dẹp – tròn tượng hình Linga và Yoni trong nghi thức phồn thực bộ lạc, giống các đôi cóc trên trống đồng. Khi đổi qua hình thức vuông – tròn, chúng đã dung nạp ý niệm đất trời của Kinh Dịch, đánh dấu sự chuyển hóa sang tín ngưỡng độc thần của xã hội.

Tục gói bánh lá tre cũng xuất hiện ở một số bộ tộc Tây Nguyên Việt Nam là một chi tiết rất thú vị. Nếu Hai Bà Trưng là người Lạc Việt đầu tiên kháng Hán tại mảnh đất Việt Nam hiện đại thì Khu/Âu Liên là người Âu Việt đầu tiên tiếp nối tiền nhân sau đó gần 100 năm, trước cả Lý Bí. Thư tịch Hán đã ghi rõ ông họ Khu tên Liên. Khu và Âu đồng âm, đồng nghĩa, là Hán tự ký âm tiếng Giang – Chiết. Họ Âu là họ riêng biệt của người Âu Việt. Hình ảnh Khu Liên rất mù mờ trong Việt sử nhưng những chiếc bánh đoan ngọ bà con dân tộc còn gói trong lễ hội chứng thực sự có mặt của ông và dòng máu Dương Tử kiêu hùng chưa bao giờ phai nhạt.

Hoa đào

DuyVien

Cây đào thực ra là một loại mận dại bản địa khu vực đất tổ Hoa Hạ: Lan Châu, Cam Túc và dãy Tần Lĩnh ở Thiểm Tây. Nó được thuần hóa cách đây nhiều ngàn năm và hơn 2000 năm trước đã lan truyền đến Lưỡng Hà, Ai Cập và La Mã để rồi tỏa khắp thế giới như ngày nay. Tổng sản lượng đào thu hoạch hằng năm trên thế giới hiện tại gần bằng một nửa táo (apple).

Hoa đào đã đi vào văn hóa Hoa Hạ muộn nhất là đầu triều Chu. Kinh Thi có rất nhiều vần thơ đầy mỹ cảm nói về nó. Chẳng hạn: Đào chi yêu yêu – Chước chước kỳ hoa. Nghĩa là cây đào tươi tốt đang nở hoa rực rỡ. Thời ấy đất đai màu mỡ mênh mông, lãnh tụ nhân từ và chuộng tri thức, người Hoa Hạ thưa thớt nhưng chăm chỉ nên đủ đầy hạnh phúc. Nhìn cây đào nhiều sức sống, hoa đào bừng nở giữa giá rét trong khi các loài khác trụi trơ cành lá, nhân gian bèn gán vào những đoạn thân xù xì uốn lượn ý nghĩa trường sinh bất tử.

Sử Ký – Ngũ đế bản kỷ, mô tả biên giới của vị đế thứ hai trong ngũ đế là Chuyên Húc: 北至于幽陵,南至于交阯,西至于流沙,東至于蟠木Bắc đến vùng tăm tối lạnh lẽo U Lăng, nam đến vùng Giao Chỉ, tây đến miền sa mạc mênh mông, đông đến xứ sở của loài cây Bàn Mộc.

Bàn mộc ở đây chính là cây đào truyền thuyết, ba ngàn năm mới cho một mùa trái chín, hương vị thần tiên, con người ăn được thì sống mãi. Thân cây vạn năm nên thô ráp, tạo dáng rồng vờn.

Có lẽ muộn nhất là thời Hán, đã xuất hiện tục trồng đào ngoài sân, cắm một nhành hoa xuân trong nhà ở tiết nhật (tết nhất – ngày tết) cầu mong mọi người bình an hạnh phúc khang ninh thượng thọ. Hảo tục này đã theo người Hán đến Hoa Nam và Việt Nam, rồi tồn tại lâu dài và vững bền ở Bắc Việt cho đến ngày nay. Trong khi đó, thổ nhưỡng Nam Việt không phù hợp, hoa đào mất dấu. Người ta bèn tìm một giống cây dại bản địa gọi là Mai vàng rồi uốn dưỡng, vặt lá thúc nụ để có thứ hoa giông giống đào đưa hương ngày đầu năm âm lịch.

Năm Tuất nói chuyện Sói

Grey-wolf-snow

Tuất 戌 là địa chi thứ 11 trong lịch Trung Hoa. Nhiều khả năng 12 địa chi là chuỗi thuật ngữ thiên văn độc lập. Sau này, để dễ nhớ và dễ thuộc, giới chiêm tinh truyền bá mê tín chọn các con vật có âm gần giống áp vào thành 12 con giáp. Chẳng hạn Mão/Mẹo卯 âm giống miêu/mèo. Chu âm là [mhrū́]. Một loại mèo là Cầy hương (Civet Cat) âm của nó trong vài nhánh Hán Tạng là [thu] lại khá tương đồng với âm [thu] hay [thuo] chỉ con Thỏ trong một số nhánh khác, đây hẳn là lý do Mão/Mẹo được người Trung Quốc gán thành con Thỏ.

Tuất thời Chu đọc là [sw̥it], Hán âm cổ còn hiện diện ở Việt Nam là [sói], âm này hệ Hán Tạng còn lưu giữ ở một số chi như Konyak-Chang [sho], [šuo], [ʃɔ]. Con Chó ở Việt Nam còn gọi là con Cầy, hai âm này đều là âm Proto Mon Khmer [cɔ] và [cgəy]. Chó Má là từ ghép đẳng lập vì Má là âm Thái Tráng [ma].

Như vậy hoàn toàn có thể dùng Sói tượng trưng cho năm Tuất. Dịch Tuất/Sói thành Chó, năm Tuất thành năm Chó, biết đâu đã làm mất đi nhiều ý nghĩa nguyên thủy của Chu lịch.

***

Tóm lại ngày tết dân tộc Việt Nam có cái lõi Dương Tử là bánh chưng bánh tét và bánh dày, lấy thời điểm tết Tàu, dùng giống hoa đào do Tàu thuần hóa, cùng với trà Tàu, pháo Tàu (đã bị cấm) và nhiều thứ phụ trợ bản địa cũng như phi bản địa khác làm vỏ, tạo nên phong tục địa phương quyến rũ.

Văn hóa không có biên giới, dung nạp văn hóa lành mạnh chính là chủ động làm giàu cho cộng đồng thụ hưởng. Các hành vi phủ nhận trơ trẽn và hằn học bài bác văn hóa luôn luôn mang bản chất phản văn hóa.

taohua

Ảnh trên là một nét hoa đào Thiểm Tây tại công viên văn hóa Khương tộc. Xin các bạn cũng lưu ý, cổ Khương tộc chính là tổ tộc của nhà Hạ và nhà Chu, hai triều đại đã trừu tượng hóa vùng nước (Vũ là mưa và Chu là bãi bồi) thành quốc gia. Nước cũng chính là nguyên nghĩa của chữ Việt trong quốc danh Việt Nam ngày nay. Hào khí Dương Tử rõ nét nhất trong văn hóa Việt Nam chắc chắn chứa đựng tại hai câu thơ kiêu hùng của đức vua Trần Nhân Tông:

社稷兩回勞石馬

Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã

山河千古奠金甌

Sơn hà thiên cổ điện kim âu

Đại ý: “Xã tắc hai lần làm ngựa đá phải mệt nhọc. Non sông định lập từ ngàn xưa (đến nay) vẫn trọn vẹn cương thổ”. Kim âu ngoài nghĩa trọn vẹn cương thổ, trong ngôn ngữ Mân Việt chữ Âu cũng chỉ vùng nước và đồng âm với chữ Việt bộ Ấp mang hàm ý một quốc gia độc lập và tự chủ.

Khai bút xuân Mậu Tuất

16.2.2018 @T.T.Du

Xin mời các nhà xuất bản

4 Comments

Tựa bản thảo: KHẢO CHỨNG TIỀN SỬ VIỆT NAM – Researching of Vietnam Prehistory – Sự kết hợp đầu tiên và duy nhất của Thiên văn, Thư tịch, Khảo cổ, Ngôn ngữ, Văn hóa và Di truyền để khám phá Việt sử.

Bao gồm 111.333 chữ/từ/âm tiết, 206 trang A4 cỡ chữ Calibri 12. Trên 40 hình ảnh, bản đồ minh họa. Email tác giả: truongthaidu@gmail.com

Contents – Mục lục

Tiền dẫn

Phần mở đầu

Phần 1: Nam Giao, Giao Chỉ, Tượng quận, Cửu Chân và Nhật Nam là gì?

  1. Khái lược ngôn ngữ và tàng thư.
  2. Nam Giao 南交 và Chữ Giao bộ Đầu [亠]
  3. Nam Giao 南郊 – Chữ Giao bộ Ấp邑
  4. Nam Giao Bộ Đầu và Nam Giao Bộ Ấp là một
  5. Giao Chỉ 交阯 là gì?
  6. Tượng quận 象郡, thuật ngữ thay thế cho Giao Chỉ?
  7. Giao Chỉ thời Hán
  8. Cửu Chân 九真 và Nhật Nam 日南
  9. Kết luận

Phần 2: Khảo sát Việt sử trước năm 43 sau Công nguyên

  1. Văn minh Dương Tử, lãnh thổ, di truyền và ngôn ngữ.
  2. Tự nghĩa của Âu Việt và Lạc Việt
  3. Lõi Việt ngữ – Các âm chỉ song thân sinh thành
  4. Nguồn gốc Vân Nam của trống đồng?
  5. Dạ Lang, Văn Lang và Hùng Vương
  6. Dấu vết Totem
  7. Các nét đặc trưng Âu Việt
  8. Âu Lạc là gì?
  9. Ước đoán những gì đã diễn ra tại Việt Nam từ năm 111 BC đến 43 AD
  10. Người Việt Nam từ đâu đến?

Phụ lục 1: Một số sử liệu hữu quan.

  1. Tây Nam Di Liệt Truyện
  2. Đông Việt Liệt Truyện
  3. Nam Việt Liệt Truyện
  4. Nam Man Tây Nam Di Liệt Truyện
  5. Thần thoại: Thần Cung Bảo Kiếm

Phụ lục 2. Khái lược thiên văn và thiên văn cổ đại Trung Hoa.

  1. Khái lược
  2. Thiên văn học cổ đại Trung Hoa
  3. Các hình thức, tên gọi cột chỉ thị bóng nắng (gnomon) và ống ngắm bằng trúc
  4. Trái đất hình bán cầu?
  5. Hệ tọa độ sơ khai của mặt đất và bầu trời
  6. Quan hệ giữa tọa độ địa lý với chiều cao cột thổ khuê và độ dài bóng nắng
  7. Khái niệm địa trung, một cách giải thích nội hàm tên gọi Trung Quốc
  8. Di tích đài quan trắc thiên văn hậu kỳ đồ đá mới ở trung lưu Hoàng Hà
  9. Chén thánh của văn minh Trung Hoa nhìn từ thiên văn
  10. Thiên văn và toán học có thể soi sáng lịch sử
  11. Thiên văn khởi sinh tôn giáo độc thần.
  12. Kết luận

Phần Mở Đầu

Dưới đây là nguyên văn trang đầu tiên của quyển quốc sử Việt Nam đầu tiên còn lưu giữ được cho đến ngày nay, đó là An Nam Chí Lược của Lê Tắc, được viết vào khoảng năm 1335. Sách này nằm trong bộ sử thứ chín của “Khâm định tứ khố toàn thư” nhà Thanh. Lê Tắc vốn gốc họ Nguyễn ở khu vực Thanh Hóa ngày nay, hậu duệ của Thứ sử Giao Châu Nguyễn Phu thời Đông Tấn (317 – 420).

古南交周號越裳,秦名象郡。秦末,南海尉趙佗擊併之,自立國僣號。西漢初,髙帝封為南越王。歴數世其相吕嘉叛,殺其王及漢使者。孝武遣伏波將軍路博德平南越,滅其國,置九郡,設官守任。今安南居九郡之內,曰交阯、九真、日南是也。後歴朝沿革,郡縣不一。五季間,愛州人吳權領交阯。後丁、黎、李、陳相繼篡奪。宋因封王爵。官制刑政稍效中州。其郡邑或仍或革,姑槩存之。

Âm Hán Việt: Cổ Nam Giao Chu hiệu Việt Thường, Tần danh Tượng quận. Tần mạt, Nam Hải úy Triệu Đà kích tính chi, tự lập quốc thiết hiệu. Tây Hán sơ, Cao đế phong vi Nam Việt vương. Lịch số thế kì tương Lữ Gia bạn, sát kì vương cập Hán sứ giả. Hiếu vũ khiển Phục ba tướng quân Lộ Bác Đức bình Nam Việt, diệt kì quốc, trí cửu quận, thiết quan thủ nhậm. Kim An Nam cư cửu quận chi nội, viết Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam thị dã. Hậu lịch triều duyên cách, quận huyện bất nhất. Ngũ Quý gian, Ái châu nhân Ngô Quyền lĩnh Giao Chỉ. Hậu Đinh, Lê, Lý, Trần tương kế soán đoạt. Tống nhân phong vương tước. Quan chế hình chánh sảo hiệu trung châu. Kì quận ấp hoặc nhưng hoặc cách, cô khái tồn chi.

Dịch nghĩa: Cõi Nam Giao ngày xưa, nhà Chu gọi là Việt Thường, tên thời Tần là Tượng quận. Cuối Tần, quan úy quận Nam Hải là Triệu Đà đánh chiếm thôn tính, tự lập quốc và dùng đế hiệu. Đầu Tây Hán, Cao đế Lưu Bang phong Triệu Đà làm Nam Việt vương. Sau khi trải qua nhiều đời, thừa tướng Lữ Gia ở đấy làm phản, giết Nam Việt vương và sứ giả nhà Hán. Vũ đế chí tôn sai Phục ba tướng quân Lộ Bác Đức bình định Nam Việt, diệt quốc, trí đặt chín quận, thiết lập quan chức trấn nhậm. Nước An Nam ngày nay từng thuộc chín quận ấy, bao gồm ba quận là Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam. Sau khi trải qua sự thay đổi của nhiều triều đại, quận huyện không còn tương đồng. Đến thời Ngũ Quý (907 – 960), Ngô Quyền, người Ái châu thống lĩnh Giao Chỉ. Sau thì đến các họ Đinh, Lê, Lý, Trần nối nhau tiếm đoạt. Nhà Tống dựa vào đó mà phong vương tước. Quan chế pháp lệnh hình luật (ở trung ương) mô phỏng khá giống Trung Quốc. Bậc quận huyện thì có chỗ chiếu theo, có nơi khác biệt, (sau đây) tạm sơ lược lưu biên.

Phân tích: Về cơ bản, đây là quan điểm sử học Việt Nam thời Trần. Các tài liệu lịch sử phong kiến cũng như hiện đại sau này hầu như tiếp thu hoàn toàn nội hàm ở đây để diễn giải quá khứ dân tộc. Hai chỗ chúng tôi gạch chân phía trên là hai sai lầm của sử gia, dẫn đến việc suy đoán cổ sử Việt Nam thiên lệch và thiếu logic.

  1. Tính bản địa: Châu thổ sông Hồng vốn được gọi là quận Giao Chỉ từ thời Tây Hán, chín quận phía nam trong đó có quận Giao Chỉ lại được gọi là Giao Chỉ bộ. Do đó ba quận Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam được cho là Nam Giao Chỉ (bộ). Nó tương đương với cụm chữ Hán ở “Nam Man Tây Nam Di Liệt Truyện” trong Hậu Hán Thư: “Giao Chỉ chi nam”. Từ đó các sử gia phong kiến Việt Nam thống nhất cho rằng Nam Giao Chỉ chính là Nam Giao, một địa danh trong sách Thượng Thư ở tận thời Nghiêu Thuấn cách đó hơn 3000 năm. Nghĩa là trong suốt 3000 năm, người Việt, nước Việt hầu như ở một chỗ, không thay đổi. Nói cách khác, trong khoảng thời gian đó biên giới phía nam Trung Hoa là bất biến.
  1. Tính hư cấu: “Nam Man Tây Nam Di Liệt Truyện” trong Hậu Hán Thư chép: 交阯之南有越裳國Giao Chỉ chi nam hữu Việt Thường quốc. Nghĩa là phía nam Giao Chỉ có nước Việt Thường. Sự kiện Việt Thường này được nhắc đến muộn nhất là trong sách Trúc Thư Kỷ Niên xuất lộ từ một ngôi mộ thời Chiến Quốc. Khớp nối Việt Thường, nhiều khả năng là một từ phiếm chỉ được sáng tác trong sách dạy làm vua triều Chu, với vùng phía nam Giao Chỉ bộ là cách tư duy bất chấp thời gian và không gian.

Hai đặc tính trên đây của cổ sử Việt Nam, sẽ bị bác bỏ bằng tất cả các phương tiện có thể khảo sát lịch sử. Đặc biệt chúng tôi sẽ bóc tách lịch sử thiên văn học Á Đông khỏi lịch sử Trung Quốc, từ đó soi chiếu ngược vào những khoảng trống còn mơ hồ. Điều này có tác động và hiệu quả tương tự như Jared Diamond đã dùng Sinh vật học kiến giải lịch sử nhân loại trong “Guns, Germs, and Steel” hay không, chúng tôi chưa dám chắc. Nhưng ít ra nó đã phần nào chứng minh:

Nam Giao (南交) là tiền thân của Nam Giao (南郊). Nam Giao (南交) đầu tiên vốn dĩ là một đài quan trắc thiên văn có niên đại khoảng 2100 năm trước công nguyên. Còn Nam Giao (南郊) là đàn tế trời muộn nhất là từ thời Chu. Hậu thân cuối cùng của Nam Giao chính là Thiên Đàn ở Bắc Kinh. Tại Việt Nam, nó vẫn giữ nguyên tên gọi Nam Giao.

Giao Chỉ (交阯) có thể là khái niệm phái sinh từ Nam Giao, nó nói về vùng đất tiếp giáp phía nam vương quốc tối cổ của Chuyên Húc, vị đế thứ hai trong năm vị đế thuộc giai đoạn huyền sử từ năm 2697 TCN đến 2184 TCN.  Giao Chỉ thời Nghiêu Thuấn (舜尧 , khoảng năm 2100 BC) có lẽ nằm ở phía nam làng Đào Tự, huyện Tương Phần, tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc. Giao Chỉ đầu thời Chu nhiều khả năng chính là đất Sở (Hồ Bắc, Trung Quốc). Cuối thời Chu (năm 239 BC) Giao Chỉ có thể tạm xác định tại khu vực Quý Châu – Hồ Nam ngày nay. Giao Chỉ thời Tần là Tượng Quận, Giao Chỉ đầu thời Tây Hán là toàn bộ lãnh thổ cũ của Nam Việt và bắc bộ Việt Nam. Sau năm 81 BC Giao Chỉ mới biến thành địa danh cố định và xác thực trên địa đồ và phân biệt rõ ràng Giao Chỉ bộ và quận Giao Chỉ.

Tượng quận (象郡) nên được hiểu đồng nghĩa với Giao Chỉ, vùng đất chưa được khám phía nam nước Tần, chỉ mới được định vị bằng thiên văn.

Cửu Chân (九真) là gốc trời, chân trời, khái niệm tương đương với thuật ngữ Xích Đạo ngày nay, nơi cột thổ khuê nửa năm (từ ngày xuân phân đến thu phân) có bóng mặt trời nằm ở phía nam, nửa năm còn lại (từ ngày thu phân đến xuân phân) có bóng mặt trời nằm ở phía bắc.

Nhật Nam (日南) ban đầu là khái niệm về vùng đất phía nam Cửu Chân, nó tương đương với phần bán cầu nam từ nam chí tuyến trở xuống, nơi cột thổ khuê luôn luôn có bóng mặt trời ở phía nam. Nói cách khác nó là hình dung vùng đất phía nam đối xứng với Hoa Hạ qua đường xích đạo.

Nam Giao南交 – Giao Chỉ交阯 – Tượng quận象郡 – Cửu Chân九真 – Nhật Nam日南là một hệ thống khái niệm thống nhất với nhau và liên quan mật thiết đến thiên văn học cổ đại Trung Hoa.

Bằng cách truy xuất và so sánh từ vựng trong các ngữ hệ Hán Tạng và Austronesian, định vị chúng ở các bản đồ gene, điều chỉnh bằng khảo cổ, văn hóa và thư tịch, chúng tôi đã đưa ra nguyên nghĩa của các thuật ngữ quan trọng liên quan đến cổ sử Việt:

  1. Việt và Âu đồng âm ở thời Hán trở về trước, đều là Hán tự ký âm bản ngữ Giang – Chiết, nghĩa đen là Nước, vùng nước, nghĩa bóng là quốc gia. Chúng tương đồng với Quốc nghĩa đen là đất/land/earth/soil, nghĩa bóng là quốc gia. Từ đó suy ra Việt Nam nghĩa là Nước Nam hay Southern Land.
  2. Lạc tương đương và có quá trình ra đời tương tự như Việt và Âu, nhưng thuộc về không gian tiền Thái Tráng, khớp với vùng đông bắc của bản đồ ngữ hệ Thái Tráng hiện nay. Khi kép hóa từ tố Âu và Lạc, thuật ngữ Âu Lạc được hình thành. Nó cũng chính là tên bản địa của vương quốc Nam Việt thành lập bởi Triệu Đà. Lạc Vương, do đó nghĩa là quốc vương; Lạc Hầu – Quốc Hầu; Lạc Dân – Quốc Dân; nhưng Lạc Điền nên được xem như ruộng lúa nước, hơn là Quốc Điền.
  3. Hùng Vương là một từ được sáng tạo muộn hơn Lạc Vương rất nhiều, từ tố của nó là Quân Vương, chỉ những lãnh tụ khai quốc bất kể gốc Âu Việt hay Lạc Việt. Hùng Vương tương tự như Viêm Hoàng của người Hoa Hạ, hay cụ thể và dễ hiểu hơn là Founding Fathers – Các tổ phụ lập quốc của người Mỹ.

Hệ quả của kết luận này sẽ dẫn đến việc hiểu cổ sử Việt Nam trước thời Hai Bà Trưng sẽ rất khác với sách vở từ hiện tại trở về quá khứ. Nền tảng cổ sử Việt Nam sẽ bị thách thức với tinh thần khoa học và xây dựng cao nhất.

Ở lĩnh vực di truyền học, trong hơn mười năm trở lại đây, hội địa lý quốc gia Hoa Kỳ (National Geographic) đã bán dịch vụ tìm tổ tiên cho một số lượng khá lớn người Việt muốn đi đến sự thật cuối cùng. Họ đa số là Việt Kiều sống ở một số nước phương Tây. Các mẫu gene Việt đã cho ra kết quả không nằm ngoài dự đoán của chúng tôi tại quyển sách này: Người Kinh ở Việt Nam có 57% gene từ tổ phụ Đông Bắc Á, 43% gene của tổ mẫu Đông Nam Á.

Ngày 3.10.2017, tạp chí khoa học hàng đầu thế giới Nature (phiên bản trực tuyến) đã công bố kết quả một công trình nhân chủng học lớn, hội tụ 13 nhà nghiên cứu quốc tế có tên tuổi trong đó có ba cái tên Việt Nam: S. Pischedda, R. Barral-Arca, A. Gómez-Carballa, J. Pardo-Seco, M. L. Catelli, V. Álvarez-Iglesias, J. M. Cárdenas, N. D. Nguyen, H. H. Ha, A. T. Le, F. Martinón-Torres, C. Vullo & A. Salas: Phylogeographic and genome-wide investigations of Vietnam ethnic groups reveal signatures of complex historical demographic movements. Các tác giả kết luận: “From an anthropological point of view, the overall scenario is that present-day Vietnamese have a dual ethnic origin: a major component coming from South of China, superimposed to a minor component originating from a Thai-Indonesian composite. The Nam tiến has probably been key for the configuration of the genome architecture of present-day Vietnamese”.

“Đứng trên quan điểm nhân chủng học, kịch bản chung là người Việt Nam ngày nay có nguồn gốc dân tộc kép: thành phần chính đến từ Hoa Nam, chồng lên thành phần phụ từ hợp chủng Thái – Indonesia. Nam tiến có lẽ là từ khóa cho sự mô tả cấu trúc di truyền của người Việt Nam hiện đại.”

Các hướng tiếp cận đã bổ sung cho nhau, giúp chúng tôi mạnh dạn tóm tắt lịch sử Việt Nam như sau: Trước năm 330 BC chủ nhân vùng đất từ bắc bộ Việt Nam đến Thanh Hóa – Nghệ An là các bộ tộc du canh du cư Austronesian, ngoại hình thấp lùn, da ngăm đen (giống người Chàm ngày nay). Khi Trang Kiểu đánh chiếm và ở lại làm vua vùng hồ Điền – Côn Minh – Vân Nam, một số bộ lạc tiền Thái Tráng (dáng người cao ráo, da trắng) ở đấy bỏ chạy theo sông Hồng và sông Mã xuống Việt Nam, hòa trộn với người Austronesian bản địa, xây dựng văn hóa bộ lạc hoặc liên minh bộ lạc Đông Sơn khá rực rỡ. Chủ nhân văn hóa này được Hán sử gọi là người Lạc Việt.

Ở thời điểm Công nguyên, người Hán bắt đầu thực dân hóa Việt Nam, đó là động lực và nguyên nhân cuộc nổi dậy của Hai Bà Trưng.

900 năm tiếp theo, Việt Nam là nơi hội tụ và hợp huyết của các nhóm người: Lạc Việt (da hơi ngăm, tầm vóc trung bình), Âu Việt con cháu Câu Tiễn di cư xuống từ lãnh thổ Mân Việt và Nam Việt cũ (da hơi sáng, tầm vóc trung bình, có tục cắt tóc xăm mình), quan binh người Hán viễn chinh đồn trú và tội nhân Hán đi đày hoặc lánh nạn (da trắng, cao lớn, đa số mắt một mí). Giới tinh hoa của xã hội Việt Nam khi ấy chắc chắn có dòng máu từ mẹ Lạc Việt nhưng mang đậm nét văn hóa Âu Việt và Hán.

Năm 938, Ngô Quyền ly khai khỏi Nam Hán, lấy tên cũ của Nam Hán là Đại Việt (năm 917) để dựng nước. Rõ ràng quốc danh Đại Việt hàm ý quyền lực Việt Nam khi ấy thuộc về người gốc Âu Việt và Nam Việt. Các họ Đinh – Lê – Lý – Trần tiếp nối sau đó có lẽ đều là người Việt Nam gốc Âu Việt hoặc Hán. Hậu quả là chính sử Việt Nam bắt đầu từ thời Trần đã đưa Triệu Đà làm vua khai quốc.

Đến thời Hậu Lê, hoàng gia gốc tiền Thái Tráng đầu tiên nắm quyền ở Việt Nam. Họ dần dần loại bỏ Triệu Đà khỏi sử sách. Người miền trong Thanh Hóa – Nghệ An – Hà Tĩnh (gốc tiền Thái Tráng chiếm ưu thế) không tin tưởng người phía bắc (nặng gốc Âu Việt và Hán). Sự kiện gia tộc Nguyễn Trãi bị tru di hoặc gia tộc tiền Thái Tráng của Mạc Đăng Dung được ưu ái, nên được nhìn dưới con mắt mâu thuẫn huyết thống và văn hóa, hơn là chính trị.

Cuối Minh đầu Thanh, chính trị trung ương bắc triều hỗn loạn, làn sóng di cư từ Hoa Nam xuống Việt Nam dâng cao. Thuyết Đại Việt của Lưu Nham từ năm 917 sống lại. Quang Trung có lẽ đã rất tin tưởng các đô đốc hải quân gốc Phúc Kiến, Triều Châu, Quảng Đông và Hải Nam của mình. Ông mơ đến một nước Đại Việt hùng cường bao gồm cả Lưỡng Quảng. Giả thuyết trên càng có căn cứ hơn với đề xuất của Gia Long với Thanh triều, đặt tên mới Nam Việt cho đế quốc của ông. Nam Việt chính là phiên bản Đại Việt xưa hơn, gắn với tên tuổi Triệu Đà.

Giải pháp Việt Nam của Gia Khánh vừa uyển chuyển vừa khôn khéo loại trừ được mầm mống tư tưởng Đại Việt. Thập kỷ 30 của thế kỷ 20, Trung Quốc cũng đã phải đối mặt với một luận thuyết tương tự từ một quốc gia Đông Nam Á. Đó là thuyết Đại Thái, tuyên xưng lãnh thổ dân tộc Thái bao gồm cả Vân Nam và một số vùng đất Hoa Nam khác.

Ngày 2.9.1945 lãnh tụ Hồ Chí Minh khai sinh nước Việt Nam mới, kết thúc hơn một ngàn năm phong kiến. Tương tự như vua Nhật từng đặt niên hiệu MINH TRỊ, cụ Hồ đặt tên mình là CHÍ MINH. Minh Trị hay Hướng Minh/Chí Minh đều xuất phát từ một câu Chu Dịch: NAM DIỆN HƯỚNG MINH NHI TRỊ. Nó nói lên ý chí độc lập của một quốc gia có chủ quyền bên cạnh Trung Hoa, chia sẻ cùng đất nước của Chu Công các giá trị văn hóa phổ quát cũng như lịch sử và di truyền của tổ tiên.

————————————————————————————————–

Abstract

This book affirms that Nan Jiao 南交 , Jiao Zhi 交阯 , Xiang Jun 象郡 , Jiu Zhen 九真, and Ri Nan 日南 are united concepts related to Chinese Classical Astronomy. While researching the meaning of Nan Jiao, Jiao Zhi, Xiang Jun, Jiu Zhen, and Rinan by using Chinese ancient astronomy, we accidentally figured out the non-superstitious meaning and how to establish the definitions of River Map 河圖, Lo Shu Square 洛書, Yin Yang 陰陽, Five Elements 五行 and Yijing 易經. According to the author, this might be the first time ever in the history of East Asia that the Chinese mysterious “holy grail” was discovered by using scientific method. Due to the digression of the book’s subject, the references are rough but they are more plausible and reliable than any illusory story that was put on the establishment of River Map, Lo Shu Square, Yin Yang, Five Elements, and Yijing.

The first meaning of Jiao Zhi 交阯 is the southern region located next to Nan Jiao南交. Next, Jiao Zhi 交阯 refers to a southern region sharing the border with the Chinese Empire. Within thousand years of southern expansion by different reigns, Jiaozhi located in Hubei of Western Zhou 西周. Before 239 BC, Jiaozhi located between Hunan and Guizhou. Until Eastern Han 東漢 time, Jiaozhi was officially appeared on the Chinese map as a province Jiaozhibu 交阯部 including Jiaozhi district 交阯郡  and eight other districts. During the reign of Qin 秦, Jiaozhi was Xiangjun 象郡. The Xiangjun region was confirmed as Jiaozhi by meaning and by astronomical pre-observation. Jiuzhen 九真 means “the root of the sun” which is similar to the Equator. Rinan 日南 (Sun south) means the southern region of the sun. In Rinan, the gnomon’s shadow is always located in the south, which is the Southern hemisphere from Tropic of Capricorn to South Pole.

By accessing and comparing vocabularies in the Sino-Tibetan and Austronesian languages, locating them in genetic maps with archaeological, cultural and bibliographic adjustments, we have figured out the meaning of important terms intimate to ancient Vietnamese history as presented below:

  1. Việt and Âu are homophones in the Han Dynasty and before, serving as transcriptions of Jiang – Zhe words by Chinese characters; originally and literally they mean water or water area, and their derivative sense is Country. They are similar to the word Quốc, which means earth/land/soil, and the derivative meaning of which is Country. Accordingly it can be inferred that Vietnam means Southern Country or Southern Land.
  2. Lạc 駱 is equivalent and has a birth process similar to that of Việt and Âu, but belongs to the Tai-Kadai linguistic sphere, which matches the northeast region of the present Tai-Kadai language map. Âu Lạc was formed as a result of the combination of Âu and Lạc. It was also the indigenous name of the kingdom of Nam Việt founded by Triệu Đà. Lạc Vương, therefore, means the king of the country; Lạc Hầu – the Marquess; Lạc Dân – The People of the country; but Lạc Điền should be understood as paddy field, rather than country’s field.
  3. Hung King 雄王 is a word created at a much later time than Lac King 駱王, its element Quân 君 simply refers to the Chief of the nation/tribe whether of Âu Việt or Lạc Việt origins. Hùng King as a term is similar to the Yan and Huang emperors of China, or, in a more specific and understandable comparison, equivalent to the Founding Fathers of America.

The above terms’ meanings will change the important details of China’s southern provincial history as well as Vietnam’s.

@1.2018 T.T.Du

 

Older Entries

tongocthao

The greatest WordPress.com site in all the land!

Lạc Hoa Viên

Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận. Đình tiền tạc dạ nhất chi mai

Anle20's Blog

Just another WordPress.com weblog

levinhhuy

Quắc mắt xem khinh nghìn lực sĩ/ Cúi đầu làm ngựa bé nhi đồng

thôn Sấu

Quê hương yêu dấu (Dọc hành chấm đứng). Xin các bạn vui lòng ghi rõ nguồn và dẫn link đến trang này nếu đăng lại bài của tôi

thienthanh2017.wordpress.com/

Thượng thiện nhược thủy, thủy thiện lợi vạn vật nhi bất tranh - Lão Tử

Học Thế Nào

How We Learn

leminhkhaiviet

About Vietnamese Cultural History and Scholarship

Xuân Bình

Nhà báo tự do

Nguyễn Huy Hoàng

the star is fading

Nghiên Cứu Lịch Sử

Các bài nghiên cứu, biên khảo và dịch thuật các chủ đề về lịch sử

Le Minh Khai's SEAsian History Blog

Always rethinking the Southeast Asian past

trinhythu

Trịnh Y Thư WordPress.com site

trandangtuan.com

Men lá rượu ngô trong

4th Avenue Café

Free non-fiction translation

WordPress.com

WordPress.com is the best place for your personal blog or business site.