Gốc Hán – Đường – Mân của tiếng Việt

Leave a comment

Sau hơn một thế kỷ nô lệ và hậu nô lệ thực dân phương Tây, người Việt đã bị chính trị và học thuật phương Tây đánh lừa rất nham hiểm: Chúng cắt chữ Nho khỏi đời sống xã hội, ký âm tiếng Việt phi chuẩn để thay đổi một phần tiếng nói của cả dân tộc, dựa vào sự tương đồng rất lỏng lẻo giữa tiếng Việt và Mon – Khmer (vì cùng gốc Austronesian cổ đại) để áp đặt tiếng Việt gốc Mon Khmer…

Thực ra tiếng Việt chuẩn của chúng ta có đến 98% âm Hán – Đường – Mân, 2% ít ỏi còn lại gốc Tai Kadai là chính.

20

Chúng tôi đã xác định con số 98% bằng các cách sau:

1. Khoảng 40% Việt âm vẫn còn tương đồng hoàn toàn với các ngữ chi Trung Quốc.

15

18

2. Khoảng 40% tiếp theo chỉ có thể xác định bằng các chuỗi quy luật biến âm.

16

17

19

3. 18% Việt âm còn lại chỉ có thể tái tạo trên cơ sở logic:

Chẳng hạn nhóm từ Rắn – Trăn – Chằn Tinh. Khi chuyển về Việt âm chuẩn sẽ thành: Zắn – Chăn – Chằn Tinh. Ngay lập tức bức màn che của thực dân sẽ rơi xuống, khi sự tương đồng Chăn – Chằn hiện ra. Chữ Tinh 精 có ngữ âm Lê Xuyên – Giang Tây khớp đến 95% với âm Chằn [ʨiaŋ22]. Nó chỉ ra xác suất rất cao rằng từ ghép Chằn Tinh có khả năng là một từ đẳng lập, ghép bởi Hán âm và Đường âm của một chữ Nho duy nhất, tương tự như Hột Hạt, Ngột Ngạt…

Nói cách khác, về mặt logic, Chằn trong tiếng Việt có lẽ là Việt Hán âm của chữ Tinh 精, như trong Yêu Tinh, Hồ Ly Tinh. Tiếng Việt còn có Xà Tinh chỉ con rắn lớn đã tu luyện lâu năm. Chằn Tinh có hai hướng nghĩa rất thú vị, nếu miền nam dùng Chằn/Bà Chằn để chỉ một nhân vật dữ dằn, thì miền bắc sử dụng từ kép Tinh Tướng có phổ nghĩa gần khớp.

Âm Zắn trong Việt ngữ, cùng với hai chữ Thìn 辰 và Tỵ 巳 tạo thành bộ ba “đồng chủng” có cách phát âm Việt Nam và Giang Nam (Ngô Việt – Giang Tây) khác biệt khá xa với các ngữ chi Trung Quốc khác. Như vậy Zắn, cũng như Zồng hẳn là Việt âm gốc Dương Tử. Cách đọc chữ Xà 蛇 riêng biệt của cư dân Giang Nam cổ xưa chính là Zắn vậy.

 

14

***

Những tri thức mới trong quá trình nghiên cứu ngữ âm Việt của chúng tôi đã đi đến bước ngoặt: nó phủ nhận nhiều khái niệm cũ và đòi hỏi các tên gọi phù hợp hơn.

Chẳng hạn không hề tồn tại cái gọi là âm Hán Việt. Bản chất các âm Hán Việt lại chính là Đường âm, trong khi các âm xưa nay cứ ngỡ thuần Việt – nếu không là Hán âm thì lại là Mân âm. Do đó chúng tôi xin được đề xuất ba khái niệm mới như sau.

1. Âm Việt Hán : là những âm như Giàu, Gió, Giời, Giăng (răng)…

2. Âm Việt Đường: là những âm như Nhiêu, Nhiễu, Nhật, Nha…

3. Âm Việt Mân: là những âm như Sông, Sóng, Nước…

Ví dụ câu: “Đất nước phì nhiêu”. Đất là Việt Hán âm, Phì Nhiêu là Việt Đường âm và Nước là Việt Mân âm.

Không còn nghi ngờ gì nữa, tiếng Việt Nam gốc Hán Đường, gia vị Mân và lõi Austronesian Dương Tử cổ đại. Ngay cả khái niệm Austronesian Dương Tử cũng cần được sớm thay thế.

Cát Lái 10.2019

@Trương Thái Du

 

 

 

 

Nhà nghiên cứu Trương Thái Du: Đánh thức quá khứ

2 Comments

Nguồn: Báo Nhân Dân

2018_1006_14190200

Xuất hiện rải rác bằng những bài viết in trên các báo từ khoảng 20 năm trước, nhà nghiên cứu Trương Thái Du được biết tới qua những khám phá độc lập, mới mẻ về lịch sử Việt Nam, nhất là cổ sử. Vốn là một kỹ sư hàng hải, nhiều năm lênh đênh trên những chuyến tàu viễn dương rồi Trương Thái Du rời biển lên bờ, làm nhân viên tập đoàn đa quốc gia lớn. Rồi một ngày tự cho phép mình “về hưu”, để chuyên tâm nghiên cứu sử Việt, theo đuổi khát vọng được phần nào đó, đánh thức dậy, lấp đầy những khoảng trống cổ sử đã bị thời gian xóa mờ, quên lãng…
Những ngày gần cuối năm 2018, Trương Thái Du cho ra mắt cuốn sách đặc biệt của mình: Khảo chứng tiền sử Việt Nam (Nhà xuất bản Tổng hợp TP Hồ Chí Minh) với lời đề dẫn bí hiểm và lãng mạn: “Sự kết hợp đầu tiên và duy nhất của thiên văn, thư tịch, khảo cổ, ngôn ngữ, văn hóa, phong tục và di truyền để khám phá Việt sử”. Trương Thái Du, như anh tự bạch, “đến với lịch sử bằng niềm đam mê khám phá quá khứ”, và niềm đam mê, tình yêu ấy dường như nhen nhóm lên từ những tháng năm là sinh viên Đại học Hàng hải Hải Phòng, được làm quen với môn học Thiên văn hàng hải: “Dưới nhãn quan thiên văn, cổ sử Việt Nam bỗng hiện ra trước mắt chúng tôi rất khác, so với cách mà đại đa số người đã, đang và sẽ hiểu”. Học, lại thực hành khoa học thiên văn trong những khoảng thời gian dài sống đời thủy thủ, ngắm nhìn bầu trời đêm mênh mang giữa đại dương khôn cùng, một trải nghiệm vô giá mà không phải nhà nghiên cứu nào cũng may mắn được song hành, có lẽ khởi nguồn đó đã dẫn dắt Trương Thái Du theo một con đường đi riêng biệt. “Ngay ở thiên văn cổ đại, người ta đã xác định được nơi thời gian và không gian (phương hướng) chập vào nhau. Đó là chính ngọ, giữa trưa và mặt trời ở hướng chính nam”, luôn bắt đầu vấn đề một cách điềm tĩnh, chậm rãi mày mò, đưa ra thật nhiều căn cứ trên một nền tảng tư duy logic, ít cảm tính nhất, dù là ở lĩnh vực khoa học xã hội, nên những khám phá của nhà nghiên cứu từng bị coi là “nghiệp dư” này đưa ra kể cả những anti fan cũng có rất ít lý lẽ để phản bác, mặc dù bản thân anh luôn khiêm nhường, biết mình biết người: “Ở góc độ nào đó, công việc của chúng tôi rõ ràng không phải đi tìm đáp số cho bài toán, mà điền ẩn số vào, sao cho phương trình cân bằng theo nhãn quan thiên văn học của những sử gia cổ đại thông tường thiên văn và lịch pháp. Nhiều ý kiến cho rằng, việc tìm hiểu ngữ nghĩa hàng loạt thuật ngữ lịch sử (Nam Giao – Giao Chỉ – Tượng quận – Cửu Chân – Nhật Nam) dưới ánh sáng thiên văn học của chúng tôi chẳng khác việc tìm hiểu thực nghĩa danh từ Sài Gòn là mấy, sẽ có rất nhiều đáp số. Sài Gòn chỉ là một cái tên đơn lẻ, trong khi chúng tôi nhìn thấy tính hệ thống của loạt tên gọi kia. Hiển nhiên là tìm ra tính hệ thống thì thuyết phục hơn và dễ gần đến sự thật hơn rất nhiều”… Từ những hiểu biết sâu rộng về thiên văn học, cộng thêm vốn Hán học linh hoạt, soi chiếu trở lại vào thư tịch, khảo cổ, ngôn ngữ, văn hóa, phong tục, di truyền, bằng sự cẩn trọng, nghiêm túc…, Trương Thái Du đã đưa ra những kiến giải về nguồn gốc nước Việt, người Việt từ thuở xa xưa. Với anh, “lịch sử Việt Nam quá dài mà ghi chép còn lại quá ít”, diễn đạt đời này qua đời khác lại có nhiều lúc chưa như những gì đã diễn ra trong thực tế…

Một vài ngày trên facebook cá nhân của mình, nhà nghiên cứu Trương Thái Du lại như reo lên khi tìm ra được những từ nguyên Việt ngữ: “Người Việt từ nay có thể tự hào tổ tiên họ có chữ viết riêng, dùng cách tạo chữ như nhà Thương, nhưng nét và âm khác chữ Thương Chu. Chỉ đến thời Tần Thủy Hoàng, thứ chữ ấy mới bị hủy diệt”. Anh bây giờ mỗi ngày ngồi máy tính ít ra 10 tiếng, dốc sức hoàn thành cuốn sách tiếp theo Nguồn gốc người Kinh và Việt ngữ, vẫn sử dụng nhân trắc học và ngôn ngữ học để xác quyết rằng: “Tổ tiên của người Việt Nam hiện đại chưa bao giờ là một dân tộc nô lệ hàng nghìn năm. Họ chắc chắn là những con người dũng cảm và phiêu bồng, nam tiến để truy tầm tự do”… Đánh thức quá khứ cũng cốt làm giá trị lõi cho hiện tại, dựa vào điểm tựa ấy mà tiến lên. Trương Thái Du dẫn giải rằng, trên thế giới, nhiều nước sát vách nhau, ví như “Mỹ – Canada hay New Zealand – Australia, họ có cùng nguồn gốc Anglo Sacxon nên mâu thuẫn quyền lợi quốc gia liền kề luôn được khống chế. Việt Nam và láng giềng cũng có những liên hệ lịch sử, chủng tộc, ngôn ngữ khởi đi tương tự các cặp quốc gia kia nhưng đi trước cả 1.000 năm”. Đó có thể là nền tảng cho sự thấu hiểu và cảm thông, làm mềm hóa đi những vướng mắc (nếu có) để cùng phát triển, vì lợi ích của mỗi bên.

Hiểu căn cơ, thấu đáo, khoa học về cội nguồn, kiến giải được những khoảng trắng lịch sử làm đà cho sự tự tin, vượt thoát khỏi những mặc cảm vô hình luôn tự ràng buộc, bay cao, bay xa cùng nhân loại tiến bộ, Trương Thái Du coi đó là niềm đam mê mà anh sẽ theo đuổi đến hết cuộc đời, tới “khi nào tư duy còn mạch lạc”. Nhận mình khôn ngoan và thêm phần may mắn khi đầu tư đất đai, nên giờ có thể tự “trả lương hưu cho mình”, yên tâm ngồi nhà đọc, lật tung kho tàng tri thức nhân loại lên để nghiền ngẫm, đối chiếu, so sánh, và cuối cùng đem kết quả khảo chứng đóng góp trở lại thành tài nguyên chung của đất nước, đúng như anh đúc kết: “Đối với lịch sử, sự thật là tri thức. Chỉ có tri thức mới có thể gắn kết con người với nhau không chỉ trong một quốc gia, mà cả khu vực đã có lúc cùng chia sẻ quá khứ, để rồi hướng tới một tương lai tốt đẹp nhất”. Nhiều người gọi Trương Thái Du là tiên sinh, nhiều người khác lại coi anh như một ông đồ chưa già mà đã lẩn thẩn, Trương Thái Du thì thấy ái ngại cho những ai không nuôi dưỡng được một đam mê, suốt cuộc đời cứ đắm chìm trong công việc và tiền bạc. Anh tận tụy với đam mê của mình, những mong đóng góp một chút gì đó cho xã hội, đúng cách những trí thức thật sự xưa tới nay luôn phụng hiến mà không đòi hỏi sự ghi nhận, đáp đền trở lại. Luôn tự biết mình, biết người, đã từng viết văn, viết truyện ngắn, tiểu thuyết nhưng “đoạn tuyệt” vì tự trào “không có khả năng văn chương, trình độ chỉ sạch nước cản, viết mãi cũng không làm được gì cho xã hội”, Trương Thái Du chỉ một lòng, một dạ đánh thức những khoảng lặng nghìn năm của lịch sử.

Nhà nghiên cứu Trương Thái Du sinh năm 1968 tại miền bắc, tốt nghiệp Đại học Hàng hải Hải Phòng. Năm 2007, anh cho ra mắt quyển sách Một cách tiếp cận những vấn đề cổ sử Việt Nam. Cuốn sách tiếp theo, Khảo chứng tiền sử Việt Nam xuất bản sau đó hơn 10 năm chứng tỏ một sự nghiêm cẩn mực thước cho công việc, mặc dù anh luôn từ tốn: “Một số triết gia cho rằng, người thông minh thấy trong một câu hỏi nhiều thứ hơn kẻ ngu ngốc thu nhặt được với một câu trả lời thông minh. Thiên văn trong quyển sách này đã và đang trả lời rất nhiều câu hỏi liên quan đến quá khứ”…

MI SOL

Gốc rễ một số từ ngữ trong Phật giáo

Leave a comment

Chùa Chiền

truclamdalat6

Rất có thể nó bắt nguồn từ hai chữ Thiền Viện 禪院. Chữ Thiền âm Ngô Việt Hàng Châu [zʮõ213] (chuõ), Mân âm Áo Môn [sian35]/[sian22] (siẻn/sien).

Nếu đúng như vậy thì khi người Việt lập quốc vào thời Ngô Quyền, có hai nhóm dân cư gốc Ngô Việt và Mân Việt, cho nên họ phải gọi cơ sở thờ tự Phật giáo bằng một từ đẳng lập là Chùa Chiền.

Sư/Sãi/Thầy

chuathay

Con vua thì lại làm vua

Con sãi ở chùa thì quét lá đa

Người Việt hầu như ai cũng nhớ câu ca dao này nhưng hỏi Sãi là gì họ thường không biết. Ngành Hán Nôm nên tích hợp thêm món Mân, để thành Hán Mân Nôm, may ra lịch sử và ngôn ngữ nước nhà sẽ tỏ tường.

Tu sĩ Phật giáo chữ Hán là Sư 師. Bạch thoại (lời ăn tiếng nói dân dã) tiếng Mân Nam ở Phúc Châu, Áo Môn và Sán Đầu (Triều Châu) đều đọc như [sai]: [sai44], [sai55], [sai33]. Từ đây, ta có hai kết quả biến âm là [sãi] và [thầy]. Chữ Nôm Thầy 柴 còn đọc là Sài (trong Sài Gòn, Sài Sơn).

Như vậy chùa Thầy ở Sài Sơn nguyên nghĩa là chùa của ông sư Từ Đạo Hạnh (người Mân), Sài Sơn là Sư Sơn 師山, núi của các nhà sư.

Vãi

Img399664883

Nữ tu sĩ Phật giáo tiếng Pali là Bhikkhunī, tiếng Sanskrit viết Bhikṣuṇī. Nó được người Hán ký âm là Bỉ/Tỉ Khâu Ni 比丘尼, đơn âm hóa thành Ni 尼 (Ni cô). Từ tương đương trong tiếng Việt là Vãi, có khả năng là ngữ âm Hoa nam ký âm Bhi nằm ngay trong chữ Bỉ/Tỉ 比. Chữ Bỉ/Tỉ 比có Hoa nam âm hầu hết là [pi] mang đủ các thanh.

Chữ Nôm Vãi 娓 biểu âm bằng chữ hán Vĩ/Vỉ 尾. Chữ Vĩ/Vỉ 尾 có Ngô Việt âm Thượng Hải là [vi13], Ôn Châu là [vei35] và Mân âm Áo Môn là [bi53]. Biến âm B-V ta thấy trong Bậu (tiếng Mân) – Vợ (tiếng Việt và tiếng Ngô Việt Thượng Hải), Bái/Vái, Bấu/Víu khớp với trường hợp chữ Vĩ/Vỉ 尾 này.

Như vậy Vãi gần với âm [vei35] (vẩy) của Ôn Châu nhất.

Lạy

kneel-928x522

Lạy vua Từ Hải

Lạy Vãi Giác Duyên

Lạy tiên Thúy Kiều

Cho tôi một quẻ

Hán tự có chữ Bái 拜, cổ âm là Vái. Quỳ lạy là Quỵ Bái 跪拜. Điều này làm cho nhiều người Việt tưởng nhầm Lạy là âm thuần Việt. Thực ra Lạy là cổ âm của chữ Lễ 禮 cơ. Mân âm Kiến Âu là [lai42], Quảng âm là [lɐi24] hoặc [lɐi242]. Như vậy Lạy là Hoa Nam âm, chỉ hành vi Quỵ Bái.

Hầu hết các từ liên quan đến Phật giáo đều có gốc Hoa Nam cũng như chính Phật giáo Việt Nam mà thôi.

25.02.2019

@T.T.Du

The origin of Vietnamese number system

Leave a comment

NGUỒN GỐC BỘ SỐ VIỆT NGỮ

Tóm tắtBộ số Việt không phủ nhận sự liên đới Việt – Hán (số Không và Năm) mà còn thể hiện Việt tính Dương Tử rất mạnh (số Hai, Sáu, Tám, Chín). Trong khi đó số Một, Mười, Ba, Bốn, Bảy chỉ ra khả năng đây là các âm Trung Nguyên tối cổ, mãi tận thời Thương Ân, và không loại trừ phần lớn nhóm này có lõi Austronesian.

Bộ số Việt ngữ chắc chắn lưu tồn giá trị văn hóa – văn minh bất diệt của tổ tiên người Việt, hòa nhập nhưng không hòa tan. Nó bổ sung khía cạnh khoa học (thiên văn, toán học và lịch pháp) vào cụm phong tục tập quán phi Hán quen thuộc xưa nay (cắt tóc, nhuộm răng, ăn trầu, xăm mình…).

Chúng tôi vẫn chưa hiểu tại sao đại gia đình các dân tộc Thái – Tráng từ Quý Châu, Quảng Tây, Vân Nam, Việt Nam đến Lào và Thái Lan ngày nay đã phải dùng bộ số có âm Đường – Tống, trong khi người Việt Nam đã bảo tồn được số đếm từ bình minh lịch sử của mình.

numbers

Số không

Năm 1954 tại Trường Sa – Hồ Nam (đất Việt cổ bị sáp nhập vào nước Sở năm 334 BC) khảo cổ đã đào được một ngôi mộ táng Chiến Quốc. Bất ngờ trong mộ có 40 thanh tre (ảnh 1) là công cụ tính toán hậu thân của 64 số Dịch.

1

2

Năm 1986 tại Thiên Thủy Cam Túc lại đào được bộ toán trù Chiến Quốc tương tự. Từ đây lịch sử sử dụng các thanh tre làm số trên một bàn tính chia ô (ảnh 2) đã được viết lại: Nó ít nhất phải có muộn nhất cách đây trên 2500 năm. Số zero trên bàn tính thể hiện bằng cách bỏ trống, chữ là Không 空 (trống, rỗng) đồng nghĩa với âm gọi quẻ Khôn 坤 trong Việt ngữ (khôn nguôi = không nguôi); Mân âm Phúc Châu của Khôn 坤 và Không 空 đều là [kʰouŋ44].

Số một và mười

Chữ Mỗi 每 xuất hiện từ giáp cốt văn. Dựa trên các ngữ cảnh người ta thấy nó có hai cách dùng/đọc Mẫu 母 và Hối 悔. Edwin Pulleyblank tái tạo âm trung đại Mỗi tương đồng với tiếng Khmer chỉ số 1 [mwəj]. Mân âm Kiến Âu [mo21] đọc ra gần như [một], khớp với cổ âm của Mỗi theo Baxter – Sagart là [*mˤəʔ]. Mân âm Phúc Châu [muoi32] có độ tương đồng rất lớn với [mười]. Đây chính là Một, Mười và Mươi trong Việt ngữ.

Do đó từ Mỗi Một ngày nay người Việt vẫn dùng là một từ đẳng lập kết hợp bởi hai âm Hán cổ đại và trung đại.

Số Một thời Thương Ân tượng hình 1 ngón tay hay thẻ tre nằm ngang, số mười chỉ đổi vị trí thành thẳng đứng. Giả thiết của chúng tôi là âm chỉ số 1 sẽ dùng thanh khác để chỉ số 10. Chẳng hạn Mốt. Khi Mốt trong tiếng Việt chuyển qua Mười, Một vẫn giữ nguyên.

Chữ Mỗi còn vô tình hé lộ thêm khả năng bộ số của bát quái dịch nữa. Thật vậy, từ sự tương đồng âm giữa quẻ Khôn và số Không ở trên, nhìn vào nhị phân quẻ Khôn cũng đồng thời là số Không. Quẻ Càn trong Chu Dịch là số 1, quẻ số 1, không khớp với vai trò nhị phân số 7 nhưng tên Hối của nó (Khổng truyện: Ngoại quái viết Hối) lại liên quan đến Mỗi như là quẻ đứng đầu, số một! Bát quái có 8 số, người Việt đang lưu giữ 2 số (không và một) trong ngôn ngữ của mình. Quả là điều rất lạ lùng.

Số hai

Hàng trăm nhánh ngôn ngữ Austronesian dùng các âm [dua], [duo], [duwa], [duə]… chỉ số Hai, giống hệt tiếng Latin, Hy Lạp và Italia [duo]. Phụ âm đầu D đã bị chuyển sang T, cho ra [twā] tiếng Anh cổ gốc Đức, [twee] tiếng Hà Lan và cuối cùng thành ra [two] ở Anh ngữ ngày nay.

Tháp Babel có lẽ là có thật. Ngữ âm này cho thấy khi rời Tây Á, bầy người di cư ven biển từ nam Ấn Độ đến châu Á – Thái Bình Dương đã dùng âm chỉ số Hai phổ biến là [duo] hoặc đa âm [duwa]. Âm này đi vào Hán ngữ và Việt ngữ, thành chữ Đôi (Nôm) hoặc Đối 對 (Ngô Việt ngữ Ôn Châu hiện vẫn đọc chữ Đối bằng âm [tai42]). Do đó từ [song đôi] tại Việt ngữ là từ đẳng lập ghép bởi hai từ chỉ số Hai khác nhau (tiếng Thái và Lào dùng chữ Hán song 雙 chỉ số Hai).

Số hai viết bằng chữ Nôm: 台 hoặc 𠄩. Nó cho thấy phần biểu âm nằm tại chữ Hán Thai/Đài 台. Chữ này thêm bộ khẩu bên trái thành Hai/Hải 咍 (chê cười, vui vẻ). Mân âm hiện tại của Hai/Hải 咍 vẫn giữ nguyên cách đọc thời Đường [hai55] (đọc là Hai). Ở chữ Thái/Đại 大 (lớn), cùng âm khác thanh với Thai/Đài 台, chúng tôi thấy tiếng Lê Xuyên – Giang Tây bỏ âm [t], đọc thành [hai13] (gần như Hãi).

Quy luật biến âm đ/t trong Đá – Thạch, To – Đại, Thái – Đại, Thai – Đài, Duo – Two… ở cả châu Âu và Á Đông dẫn ra khả năng âm chỉ số Hai trong Việt ngữ có gốc từ âm [duo] khắp hoàn cầu, tuổi đời lên đến trên 40 ngàn năm, có trung gian phát triển lưu lại trong chữ Đối 對 (Đường âm) và cuối cùng được nắn giọng bởi Mân nam âm thành Hai chỉ khoảng 1000 năm trở lại đây mà thôi. Có thể tham khảo thêm từ Thái 采 nghĩa là ngắt hái (quả) qua tiếng Việt thành Hái.

Vì âm chỉ số Hai Việt ngữ đồng âm với địa chi Hợi 亥 ở Mân ngữ, cho nên con cháu người Mân nam tại miền nam Việt Nam mới gọi con bài Tây mang số Hai là con Heo.

Số bốn và số ba

Một bạn đọc facebook của chúng tôi đã gợi ý hệ từ nguyên châu Âu liên quan đến tính toán và bộ số: Calci (đá) -> Calcis (vôi) -> Calculus (tính toán). Digitus (ngón chân – ngón tay) -> Digitalis (số) -> Digit (số). Điều này chỉ ra rằng loài người cổ đại đã đếm bằng các ngón tay hoặc/và ngón chân của mình.

Chữ Hán Phù 扶 chỉ bốn ngón tay. Áp dụng quy luật biến âm B -> Ph thể hiện trong chuỗi [Bụt/Phật, Bún/Phở, Buồm/Phàm, Bụng/Phúc, Bay/Phi, Bất/Phi, Buồng/Phòng, Bơi/Phù 浮, Béo/Phì 肥…], có thể khẳng định cổ âm của Phù 扶 là Bốn.

Hơn nữa trong tiếng Tai Kadai, vẫn tồn tại âm chỉ số 4 bắt đầu bằng phụ âm Ph và P: [pa]/[pe]/[po]/[pu]/[pau] tại nhánh Kra (Ngật Ương); [fei5] tại nhánh Lakkja (Lạp Già) Quảng Tây.

Từ số bốn sẽ liền mạch đến số ba. Âm chỉ số 3 [ba] là cổ âm của chữ Phẩm 品. Chữ này (ảnh dưới) giáp cốt văn chỉ ba món tế cúng (Tam Sên 三 生 – Sên là âm Khách Gia của Sinh). Ngoài ra cũng có thể hiểu đây là ba cái mồm (khẩu), tức ba người, chỉ số nhiều, đông. Phẩm tiếp biến, khi sản xuất hay trồng trọt nhiều, đem bán, gọi là sản phẩm.

3 soba

Âm Phẩm chỉ số ba vẫn còn được lưu giữ trong tiếng Thái Tráng nhánh Lakkja (Lạp Già) Quảng Tây, ký âm IPA là [fa:m1], nhánh Hlai (Lê tộc – Hải Nam) [fu3]. Hơn nữa, tiếng Miêu Dao cũng dùng âm [pa] để chỉ số 3. Nó cho thấy cổ âm này không phải độc quyền của Việt ngữ.

Số năm

Số năm chỉ hiện ra là cổ âm của Ngũ 五 khi chúng tôi sử dụng quy luật biến âm [Nh/N <-> Ng/Ngh] liệt kê ở bảng dưới.

3 qlba

Số sáu và số chín

Số 6 và số 9 Việt ngữ chính là số 6 và số 9 trong 12 chi, tức Tỵ 巳 và Thân 申. Âm [sáu] và [chín] hiện vẫn còn lưu giữ trong Mân âm Phúc Châu [søy242] (sồi) hoặc Kiến Âu [su44] (sú) và âm Khách Gia [ɕiŋ23] (chỉng) hoặc âm Lê Xuyên Giang Tây [ɕin22] (chin). Hán âm cổ của Tỵ tái tạo bởi Baxter–Sagart là [*s-[ɢ]əʔ]. Hán âm trung đại của Thân được Pan Wuyun và Edwin Pulleyblank tái tạo gần khớp với âm Khách Gia [ɕin].

Số bảy

Người Trung Quốc cổ đại (cả Dương Tử và Hoàng Hà) thờ phụng rất trọn vẹn, cả thần tiên và ma quỷ. Họ tế trời vào tiết Đông Chí và dành hẳn tháng 7 cho quỷ vương.

Đạo Giáo hình thành cuối thời Chiến Quốc, phát triển mạnh mẽ vào thời Hán đã cho ra đời hình tượng Quỷ vương Phất Kiết 鬼王甶孑 (hình trên – trái). Việc họ tạo chữ Phất 甶 chính là căn cứ cho tôi xác định nguồn gốc số 7 ở Việt ngữ: Dấu thập ở giữa là số 7 giáp cốt văn (hình trên – phải), phía ngoài tượng trưng mặt con quỷ. Đường âm của chữ này là Phất. Dùng quan hệ b->ph sẽ xác định cổ Hán âm của Phất phải bắt đầu bằng phụ âm B. Ngoài ra chữ Thất 匹 đồng âm với số 7 có Mân âm Phúc Châu đọc là [pʰɛiʔ23], dẫn tới nguyên âm tiếp sau B là [ɛi], khớp hoàn toàn số Bảy trong tiếng Việt.

Số tám

Không thể tìm thấy sự tương đồng âm [tám] với bất cứ ngôn ngữ nào, trong hơn 2000 tiếng nói ở châu Á – Thái Bình Dương, trừ tiếng Bolyu – Ba Lưu ngữ, [sa:m53] (đọc gần giống Sám). Ba Lưu là một dân tộc thiểu số sống rất biệt lập ở Quảng Tây – Quý Châu và trước đó có thể ở cả bờ nam Dương Tử. Người ta chưa xác định được dân tộc tính của nhóm cư dân này. Chúng tôi chắc chắn sẽ bỏ qua sự tương đồng đơn nhất nếu không có sự liên hệ của nửa bộ số Ba Lưu ngữ với bộ số Việt ngữ: Một [mə2], Ba [pa:i55], Bốn [pu:n53], Bảy [pe:i55], Tám [sa:m53] và Chín [ɕən53].

Đến đây lại phải tìm hiểu chữ Nôm để khảo Việt âm cận đại. Số Tám chữ Nôm 𠔭, gồm chữ Bát八 bên trái chỉ nghĩa (tám), chữ Sâm/Tham參 chỉ âm. Mân âm Áo Môn của Tham là gần [tám] nhất, bao gồm cả thanh sắc [ʦʰam55].

Tư duy analog sẽ kết luận tiếng Việt hoặc tiếng Ba Lưu là gốc của nhau. Chúng tôi lại cho rằng đây là một bằng chứng nữa hướng về khả năng tiếng Việt và tiếng Ba Lưu cùng có lõi Dương Tử.

Một lần nữa chúng tôi thấy chữ Hán trung gian giữa cổ âm/nghĩa chỉ số 8 và âm/nghĩa hiện đại là Tầm 尋 (đơn vị bát phân – chỉ độ dài bằng 8 thước).

Trong 11 số tự nhiên Việt ngữ từ Không đến Mười, chúng ta có 3 số có từ nguyên chữ Hán mang bộ Thốn 寸 hoặc Thủ 手 là Hai (Đối 對), Bốn (Phù 扶) và Tám (Tầm 尋). Đây có lẽ là dấu vết cực kỳ cổ xưa của việc đếm ngón tay còn sót lại. Người lạc quan bảo đây là bộ số Dương Tử, nó ra đời khi chưa có Hán Đường. Người bi quan lại cho rằng người Việt cổ đã bị đồng hóa hoàn toàn.

***

Bonus: Quy luật biến âm [Gi -> Ch].

4 qlba

Xin lưu ý âm chỉ Month trong tiếng Việt là [tháng] cũng có nguồn gốc từ âm Thường (嫦). Chúng tôi thiên về khả năng Dương và Thường là ký âm trung gian, tức sự biến âm ở Việt ngữ và Hoa ngữ là tương đồng nhưng độc lập, từ cùng một âm lõi gốc Dương Tử.

@T.T.Du

1.2019

Tìm hiểu Cầu Bông, rạch Cao Miên và Đất Hộ – Đa Kao

Leave a comment

Người Khmer vẫn thường nói rằng ở Việt Nam nơi đâu có cây thốt nốt đều là đất cũ Cao Miên. Bạn chưa hiểu hết Sài Gòn nếu không biết tại lăng Ông gần chợ Bà Chiểu hãy còn sót lại rất nhiều loại cây này. Nó cho thấy đây có lẽ là một không gian làng cổ Khmer điển hình, tình cờ được lưu giữ vì nằm trong khuôn viên ngôi mộ của tả quân Lê Văn Duyệt.

IMG_20181231_152840

 

Cách mộ 900m về phía nam theo đường Đinh Tiên Hoàng hiện nay là rạch Cao Miên và cầu Cao Miên đã được chỉ rõ trong sách “Hoàng Việt nhất thống dư địa chí” của Lê Quang Định (1806).

CauCaoMien

Khả năng rất lớn là cây cầu này đã bị phá hủy trong đợt Pháp đánh thành Gia Định năm 1859. Khi xây dựng lại, chắc bảng tên “deuxième pont” (cầu số 2) đã được gắn vào. Pont là cầu được Việt hóa thành Bông. Cầu số một (premier pont) ở vào vị trí cầu Thị Nghè ngày nay. Cầu số 3 trùng với Cầu Kiệu.

Caubong

Cầu Bông nối qua Sài Gòn tại khu Đất Hộ. Chỉ cần nhìn vào bản đồ Quy thành của Olivier de Puymanel vẽ năm 1795 sẽ thấy ngay rằng tục danh Đất Hộ nghĩa là vùng đất (từng) có tường hộ thành (shield wall), bắt đầu từ chợ Đa Kao xuyên qua, chạy dọc đường Trần Quang Khải rồi vòng lên Lý Chính Thắng.

Saigon1795

Đất Hộ hẳn đã được người Pháp ký âm vội vàng sau khi chiếm Sài Gòn. H là âm câm trong Pháp ngữ. K nên hiểu là phần ký âm của chữ Đất vì T giọng nam bộ sẽ nghe như K hoặc C [đấc] (1). Trong nhiều tài liệu, Đất Hộ được phiên thành Dakao hay Dakau. Nó cho thấy [ao] hay [au] dùng để diễn đạt Việt âm [ô] trong chữ Hộ. Như vậy đọc đúng phải là Dak – Ao hay Dak – Au. Đáng lưu ý là sau Đất Hộ, các ký âm có H ít nhiều đã chính xác và đầy đủ hơn như Biên Hòa, Bà Hom, Đức Hòa, Mỹ Hậu (xem bản đồ Sài Gòn 1867). Cũng tại bản đồ này núi Châu Thới vẫn mắc lỗi cũ viết thành Chau Toi, bỏ H như trong Dak Ao/Au.

Vài bạn đọc google rồi phản biện lập luận của chúng tôi bằng các tài liệu tài tử trên mạng. Chẳng hạn Đa Kao là Đất Cao. Nội dung ấy chỉ múa may, bóp mồm nặn miệng trên những con chữ mà thôi. Từ năm 1981 đến 1987 tác giả bài viết này học cấp 2 tại trường Lam Sơn, cấp 3 trường Võ Thị Sáu ở địa bàn đang tìm hiểu. Chúng tôi còn nhớ rất rõ ràng mỗi con dốc từng thả phanh hay phải gò lưng cật lực trên xe đạp theo chiều ngược lại, mỗi khi đi vào Đa Kao, Tân Định hay trung tâm Sài Gòn.

VoThiSau1987

Ngoài ra, cũng như khi khảo sát địa danh Sài Gòn và Đồng Nai, chúng tôi xử lý Cầu Bông – Đất Hộ trong bản chất hệ thống và đặc biệt chú ý các giá trị động trải dài hơn 200 năm qua. Cụ Vương Hồng Sển gắn bó với mảnh đất này lâu đời hơn chúng tôi rất nhiều nhưng thiếu phương pháp nên đã không giải thích được Đất Hộ – Đa Kao là gì.

Không phải vô tình mà ngày nay con đường có cùng nền với bức tường hộ thành Gia Định xưa kia mang tên Trần Quang Khải, và giữa Đất Hộ có đền thờ Đức thánh Trần bốn mùa khói hương không dứt. Hai thiên tướng Đại Việt gốc Mân này là thần hộ quốc của cả nước Việt Nam, suốt từ khi tên gọi Việt Nam ra đời.

THD

Rất tiếc, sự Việt hóa âm Pháp trong Cầu Bông và “làm sang kiểu Tây” gọi Đất Hộ bằng Đa Kao không dễ nhận ra vào những ngày đầu độc lập. Chiến dịch tẩy độc các địa danh Tây tại Sài Gòn của người Sài Gòn giữa thế kỷ 20 đã bỏ qua Cầu Bông và Đa Kao. Đến nay thì chắc chắn không còn cơ may sửa chữa. Trí thức “mới” tự xưng “cấp tiến” đang điên cuồng phủ phục dưới các dấu vết thực dân, từ viên gạch vỡ đến gốc cây xà cừ sần sùi cần bứng bỏ để xây dựng đại lộ tiến vào tương lai. Họ đang đánh đồng di tích với di sản và khóc thương hoài nhớ một thời cha ông họ là nô lệ trên chính quê hương mình!

(1) Chuyển vị K từ Kao/Kau sang Da thành Dak được góp ý bởi bạn Nguyễn Hoài Vũ

@T.T.Du

01.01.2019

Lõi Ngô Việt Dương Tử của tiếng Việt

Leave a comment

Gần một thế kỷ nay, học thuật phương Tây với cái nhìn nông cạn bề ngoài đã chuốc thuốc độc cho người Việt Nam: Tiếng Kinh Việt có lõi Mon Khmer. Điều này hết sức sai lầm và nhảm nhí.

Trong khoảng 210 từ lõi tiêu chuẩn theo thống kê tại kho từ vựng Austronesian cơ bản của The University of Auckland, New Zealand, chúng tôi đã tính ra được không dưới 20% từ lõi là âm Ngô Việt Dương Tử.

吳越

Có những từ trùng khớp hoàn toàn 100% như sleep/ngủ qua sự chuyển tải của chữ Hán 臥 Ngọa. Ngô Việt ngữ Thượng Hải đọc là [ŋu] theo ký âm IPA (file âm thanh số 6 từ trên xuống).

Từ lõi đầu tiên hand/tay: Có trung gian là chữ Thủ 手. Ngô Việt âm Hàng Châu [sei]. Sự tương đồng [day] Khmer và [toa] Mon chỉ cho thấy gốc Dương Tử của người Mon Khmer mà thôi. Âm [sei] có một tham chiếu rất đắt giá quanh chữ 西 Tây. Âm Việt Nam [tây], âm Ngô Việt Ôn Châu [sei].

0000

0003

0001

Số 4: Âm chỉ số Bốn trong Việt ngữ nghe hao hao [pɔn] [buən] của tiếng Mon Khmer. Tất cả xuất phát từ lõi Austronesian [paat]/[opaa] đi vào kim văn thành chữ Bồ/Phù 扶 chỉ bốn ngón tay. Chữ Bồ/Phù này đã được Zhengzhang tái tạo cổ âm là [*ba] rất khớp với các âm [pa]/[pu] chỉ số 4 trong tiếng Thái Tráng.

Với tiền lệ Bụt/Phật, Bún/Phở, Bơi/Phù, Buồm/Phàm, Bụng/Phúc, Bay/Phi… rõ ràng BỐN là cổ âm của PHÙ, chỉ bốn ngón tay. Tiếng Việt đã hóa thạch một hành vi cực kỳ cổ xưa là đếm ngón tay trong âm chỉ số BỐN từ Trung Nguyên đến Dương Tử.

 

Trên đây chỉ là nhóm từ cực kỳ quan trọng mà chúng tôi đang khảo sát. Nếu [hand/tay], [four/bốn] và [sleep/ngủ] hẳn có tuổi đời rất xa xưa, hàng chục ngàn năm thì [west/tây] cơ bản phải bằng tuổi nền thiên văn học Á Đông. Nó vào khoảng trên dưới 5 ngàn năm, phần nào cho thấy thời điểm người Mon Khmer rời bỏ Dương Tử.

Đặc điểm của 20 từ lõi đã dẫn là chúng đã giữ 100% thanh, hầu hết giữ nguyên âm vị. Về bản chất 20 từ lõi này là Việt âm cổ đại. Các ghi chú như “Hán âm – Đường âm” trong bảng để chỉ niên đại, thời gian mà thôi.

Vì thiếu biện chứng, người ta cứ tưởng Việt trong Việt Nam xuất phát từ Lạc Việt. Lạc Việt là Tai Kadai. Việt của chúng ta nằm trong Âu Việt, đất tổ Chiết Giang – Ngô Việt, nơi ra đời huyền thoại Nữ Oa. Oa là cổ âm của Việt. Nữ Oa là hình ảnh của chế độ thị tộc mẫu quyền Dương Tử cách đây khoảng 5 ngàn năm.

Kính mời các bạn đón đọc quyển sách chúng tôi đang viết: Nguồn gốc người Kinh và Việt ngữ. Nhân trắc học và ngôn ngữ học sẽ được sử dụng và xác quyết người Kinh Việt chủ yếu có gốc nam Dương Tử lai Hán Đường. Tổ tiên của người Việt Nam hiện đại chưa bao giờ là một dân tộc nô lệ hàng ngàn năm. Họ chắc chắn là những con người dũng cảm và phiêu bồng, nam tiến để truy tầm tự do, y hệt như người Mỹ sau họ 600-700 năm.

Đông Chí 2018

@T.T.Du

Lời cảm ơn

Leave a comment

Như một mối duyên bền, sau mười bốn năm xuất hiện trên BBC ở chủ đề lịch sử, lần này BBT lại đề nghị chúng tôi tự giới thiệu cùng bạn đọc quyển sách vừa xuất bản: “Khảo chứng tiền sử Việt Nam“, NXB Tổng hợp TP HCM 2018.

340 trang in 16cmx24cm, 118 ngàn chữ, trên 99 hình ảnh biểu đồ, viết bởi một người không chuyên sử, không qua đào tạo bài bản nhưng đã được bạn đọc đón nhận rất nồng nhiệt và cụ thể. Hơn 700 bản in trong tổng số 1000 đã được tiêu thụ sau ba tuần, chủ yếu phân phối trực tiếp thông qua tương tác facebook.

IMG_20181031_151233

Ảnh: Hàng trăm airway bill (vàng) và grab bill (trắng) đã chuyển hơn 700 quyển sách đến bạn đọc cả nước và bắc Mỹ.

 

Lời dẫn trên bìa sách với nhiều bạn đọc chắc chắn là khá khoa trương, chưa đủ khiêm tốn: “Sự kết hợp đầu tiên và duy nhất của Thiên văn, Thư tịch, Khảo cổ, Ngôn ngữ, Văn hóa, Phong tục và Di truyền để khám phá Việt sử”. Tuy vậy nó vẫn chứa đựng một phần sự thật, chúng tôi đã dùng mọi công cụ có thể sử dụng để truy tầm những góc khuất của cổ sử Việt Nam. Xin liệt kê ra đây một số kết quả điển hình:

  1. Từ Việt trong Việt Nam có xác suất rất cao mang nghĩa nước/vùng nước (water/water area) và được trừu tượng hóa thành quốc gia đầu tiên ở hạ lưu Dương Tử trên 4000 năm trước. Các âm khác ở Á Đông cũng có cùng tiền đề hình thành với Việt gồm Vũ ( trong Đại Vũ / Hạ Vũ), Chu (Nhà Chu), Lạc (Lạc Việt), Lang (Văn Lang)…
  2. Tên gọi nước Việt Nam, người Việt Nam thật ra có tuổi đời trên 700 năm, dưới triều đại rực rỡ của họ Trần. Hai chữ Việt Nam mà nhà Thanh ép Thế tổ Gia Long Nguyễn Ánh phải nhận có lẽ lấy từ Khâm Định Tứ Khố Toàn Thư của họ. Nó là thành quả ngoại giao cương trực và ngoạn mục giữa Đại Việt và nhà Nguyên. Có bằng chứng thư tịch xác nhận ngày 18.3 (âm lịch) năm 1292 hai tiếng thân thương Việt Nam đã vang lên giữa lòng Hà Nội, tại khu vực chùa Quán Sứ ngày nay.
  3. Chúng tôi đã tách được chủ lưu Âu Việt (Dương Tử) và phụ hợp Lạc Việt trong quá trình hình thành lịch sử và con người Việt Nam. Các căn cứ văn hóa, xã hội, phong tục khác biệt giữa Âu Việt và Lạc Việt đã chỉ ra người Lạc Việt chính là người Tai Kadai (Thái Tráng – Choang) cổ đại, tổ tộc của Hai Bà Trưng. Đến thời Lý Trần họ vẫn bị sách vở hoàng gia gọi là man mọi.
  4. Các hướng tiếp cận đã bổ sung cho nhau, đặc biệt là kết luận của công trình khám phá gene Việt được phiên bản trực tuyến của Nature công bố tháng 10.2017: “Đứng trên quan điểm nhân chủng học, kịch bản chung là người Việt Nam ngày nay có nguồn gốc dân tộc kép: thành phần chính đến từ Hoa Nam, chồng lên thành phần phụ từ hợp chủng Thái – Indonesia. Nam tiến có lẽ là từ khóa cho sự mô tả cấu trúc di truyền của người Việt Nam hiện đại”.

Chúng tôi mạnh dạn đề xuất mô tả ngắn gọn lịch sử Việt Nam như sau:

Trước năm 330 BC chủ nhân vùng đất từ bắc bộ Việt Nam đến Thanh Hóa – Nghệ An là các bộ tộc du canh du cư Austronesian, ngoại hình thấp lùn, da ngăm đen (giống người Chàm ngày nay). Khi Trang Kiểu đánh chiếm và ở lại làm vua vùng hồ Điền – Côn Minh – Vân Nam, một số bộ lạc tiền Thái Tráng (dáng người cao ráo, da trắng) ở đấy bỏ chạy theo sông Hồng và sông Mã xuống Việt Nam, hòa trộn với người Austronesian bản địa, xây dựng văn hóa bộ lạc hoặc liên minh bộ lạc Đông Sơn khá rực rỡ. Chủ nhân văn hóa này được Hán sử gọi là người Lạc Việt.

Ở thời điểm Công nguyên, người Hán bắt đầu thực dân hóa Việt Nam, đó là động lực và nguyên nhân cuộc nổi dậy của Hai Bà Trưng.

900 năm tiếp theo, Việt Nam là nơi hội tụ và hợp huyết của các nhóm người: Lạc Việt (da hơi ngăm, tầm vóc trung bình), Âu Việt con cháu Câu Tiễn di cư xuống từ lãnh thổ Mân Việt và Nam Việt cũ (da hơi sáng, tầm vóc trung bình, có tục cắt tóc xăm mình), quan binh người Hán viễn chinh đồn trú và tội nhân Hán đi đày hoặc lánh nạn (da trắng, cao lớn, đa số mắt một mí). Giới tinh hoa của xã hội Việt Nam khi ấy chắc chắn có dòng máu từ mẹ Lạc Việt nhưng mang đậm nét văn hóa Âu Việt và Hán.

Năm 938, Ngô Quyền ly khai khỏi Nam Hán, lấy tên cũ của Nam Hán là Đại Việt (năm 917) để dựng nước. Rõ ràng quốc danh Đại Việt hàm ý quyền lực Việt Nam khi ấy thuộc về người gốc Âu Việt và Nam Việt. Các họ Đinh – Lê – Lý – Trần tiếp nối sau đó có lẽ đều là người Việt Nam gốc Âu Việt hoặc Hán lai Âu Việt. Hậu quả là chính sử Việt Nam bắt đầu từ thời Trần đã đưa Triệu Đà làm vua khai quốc.

Đến thời Hậu Lê, hoàng gia gốc tiền Thái Tráng đầu tiên nắm quyền ở Việt Nam. Họ dần dần loại bỏ Triệu Đà khỏi sử sách. Người miền trong Thanh Hóa – Nghệ An – Hà Tĩnh (gốc tiền Thái Tráng chiếm ưu thế) không tin tưởng người phía bắc (nặng gốc Âu Việt và Hán). Sự kiện gia tộc Nguyễn Trãi bị tru di hoặc gia tộc của Mạc Đăng Dung tiếm quyền, nên được nhìn thêm dưới con mắt mâu thuẫn huyết thống và văn hóa, hơn là đơn tuyến chính trị.

Cuối Minh đầu Thanh, chính trị trung ương bắc triều hỗn loạn, làn sóng di cư từ Hoa Nam xuống Việt Nam dâng cao. Thuyết Đại Việt của Lưu Nham từ năm 917 sống lại. Quang Trung có lẽ đã rất tin tưởng các đô đốc hải quân gốc Phúc Kiến, Triều Châu, Quảng Đông và Hải Nam của mình. Ông mơ đến một nước Đại Việt hùng cường bao gồm cả Lưỡng Quảng. Giả thuyết trên càng có căn cứ hơn với đề xuất của Gia Long với Thanh triều, đặt tên mới Nam Việt cho đế quốc của ông. Nam Việt chính là phiên bản Đại Việt xưa hơn, gắn với tên tuổi Triệu Đà.

Giải pháp Việt Nam của Gia Khánh vừa uyển chuyển vừa khôn khéo loại trừ được mầm mống tư tưởng Đại Việt. Thập kỷ 30 của thế kỷ 20, Trung Quốc cũng đã phải đối mặt với một luận thuyết tương tự từ một quốc gia Đông Nam Á. Đó là thuyết Đại Thái, tuyên xưng lãnh thổ dân tộc Thái bao gồm cả Vân Nam và một số vùng đất Hoa Nam khác.

Ngày 2.9.1945 lãnh tụ Hồ Chí Minh khai sinh nước Việt Nam mới, kết thúc hơn một ngàn năm phong kiến. Tương tự như vua Nhật từng đặt niên hiệu MINH TRỊ, cụ Hồ đổi tên mình thành CHÍ MINH. Minh Trị hay Hướng Minh/Chí Minh đều xuất phát từ một câu Chu Dịch: Nam diện hướng minh nhi trị. Nó nói lên ý chí độc lập của một quốc gia có chủ quyền bên cạnh Trung Hoa, chia sẻ cùng đất nước của Chu Công các giá trị văn hóa phổ quát cũng như lịch sử và di truyền của tổ tiên.

***

“Khảo chứng tiền sử Việt Nam” dành một phần không nhỏ để dịch nhiều thiên cổ thư Trung Hoa liên quan đến cổ sử Việt Nam. Điều rất đáng tiếc của chúng tôi nằm ở bản dịch “Nam Man Tây Nam Di liệt truyện” gần 12 ngàn từ của Hậu Hán Thư. Do trình độ Hán văn tự học rất hạn chế, không tìm được chuyên gia hiệu đính và chưa từng có một bản dịch Việt ngữ đầy đủ để tham chiếu nên hẳn phải còn rất nhiều sai sót. Biết thế nhưng chúng tôi vẫn quyết định in và hẹn những bạn đọc khó tính ở các lần tái bản (nếu có). Rất mong các độc giả xí xóa cho tội của chúng tôi là “người đầu tiên” dám chuyển ngữ một sử liệu cấp một, từ thư khố hoàng gia Hán. Nó là tổng hợp những diễn biến gần như tức thời ở các địa phương đã được gửi về và lưu trữ tại triều đình.

Ngoài sai lỗi dễ biết và đã tự nhận thức được ở trên, “Khảo chứng tiền sử Việt Nam” chắc chắn không thiếu các luận điểm đầy tranh cãi, những góc tối rất cần thêm dữ kiện để tỏa sáng hoặc loại bỏ. Tác giả tin rằng dù nhỏ bé như một gợi ý, sự xuất hiện của bất cứ quyển sách sử nghiêm túc nào cũng luôn cần thiết cho xã hội. Xin các bạn hãy mở lòng đón nhận thành ý của chúng tôi.

Saigon 10.2018

truongthaidu@gmail.com

Older Entries

tongocthao

The greatest WordPress.com site in all the land!

Lạc Hoa Viên

Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận. Đình tiền tạc dạ nhất chi mai

Anle20's Blog

Just another WordPress.com weblog

levinhhuy

Quắc mắt xem khinh nghìn lực sĩ/ Cúi đầu làm ngựa bé nhi đồng

Nguyễn Quốc Vương-Người bán sách rong

Quê hương yêu dấu (Dọc hành chấm đứng). Xin các bạn vui lòng ghi rõ nguồn và dẫn link đến trang này nếu đăng lại bài của tôi

thienthanh2017.wordpress.com/

Thượng thiện nhược thủy, thủy thiện lợi vạn vật nhi bất tranh - Lão Tử

Học Thế Nào

How We Learn

leminhkhaiviet

About Vietnamese Cultural History and Scholarship

Xuân Bình

Nhà báo tự do

Nguyễn Huy Hoàng

the star is fading

Nghiên Cứu Lịch Sử

Các bài nghiên cứu, biên khảo và dịch thuật các chủ đề về lịch sử

Le Minh Khai's SEAsian History Blog

Always rethinking the Southeast Asian past

trinhythu

Trịnh Y Thư WordPress.com site

trandangtuan.com

Men lá rượu ngô trong

4th Avenue Café

Free non-fiction translation