Vietnamese Etymology: 600 basic words

Leave a comment

Sách mới: Ngữ nguyên tiếng Việt: 600 từ vựng cơ bản

Free download 30 trang pdf: Vietnamese Etymology

Trích: “Tóm lại, có thể kết luận hiện người Việt Nam đang nói một thứ tiếng Đường trung đại gồm 70% âm thuần Đường và 28% âm thời Hán đã được bảo tồn bất chấp những biến động ngôn ngữ suốt non 300 năm thời Đường. Tất nhiên, trải qua gần 1100 năm lập quốc, tiếng Việt có những đổi thay nhất định so với nguyên gốc nhưng hoàn toàn còn nhận biết được khi so sánh với các phương âm Trung Hoa hiện nay. 2% Việt âm còn lại chủ yếu là giao thoa hoặc vay mượn trực tiếp tiếng Thái-Tày-Nùng, tiếng Champa hay gián tiếp từ tiếng Mon và Khmer. Đây là logic khả dĩ, đã được chứng minh bằng 600 từ vựng Việt ngữ trong đó có 210 từ theo chuẩn quốc tế và 390 từ liên quan hoặc làm rõ nguồn gốc xung quanh 210 từ vựng cơ bản kia”.

11

@Copyright by Trương Thái Du

Sài Gòn – TP Hồ Chí Minh – 8.2020

 

Tự nguyên tiếng Việt: Ngươi – Người – Ngài

Leave a comment

Tiếng Việt có một số lượng từ không nhỏ, niên đại đến tận thời Chu, trong đó phải kể đầu tiên là ba từ Ngươi – Người – Ngài. Ba âm này, có thể thêm âm Ngừ đồng nghĩa (phương âm miền Trung Việt Nam), chỉ được viết dưới một chữ Nho duy nhất là Nhi 兒.

Nhan Sư Cổ, một học giả thời Đường chú giải trong Hán Thư: 六國時人也. 兒音五溪反 (Lục quốc thời Nhân dã. Nhi âm ngũ khê phản): “Thời Lục quốc, trước khi nhà Tần thống nhất Trung Hoa, chữ Nhi được dùng với nghĩa là Nhân (người). Chữ Nhi (thời Đường) đọc là Nghê”.

Nhi1

Nội dung này sau đó cũng được tự điển Khang Hy đời Thanh chép lại rõ ràng.

Bước tếp theo chúng tôi so sánh cách đọc chữ Nhi của 20 phương ngữ Trung Quốc được liệt trên trên trang web từ Đại học Hồng Kông và lược ghi lại những cách đọc có độ tương đồng cao nhất với tiếng Việt.

Nhi2

Trung bình cộng chúng ta có độ tương đồng là 72,5% sau 1081 năm Việt Nam trở thành một quốc gia độc lập, tách khỏi Trung Quốc. Nếu như chúng tôi có nhu liệu 100 phương ngôn, chứ không chỉ bó buộc trong 20 ngữ chi đã sử dụng, chắc chắn độ tương đồng sẽ tăng lên trên 90%.

Ngày nay chữ Nhi ở Trung Quốc hiếm khi mang nghĩa cổ là Người – Ngươi – Ngài, trừ một vài trường hợp như Nữ Nhi, Nam Nhi nghĩa là Người Nữ, Người Nam. Ở đây chúng tôi bỏ qua thao tác hàn lâm máy móc chứng minh Người, Ngài, Ngươi đồng nghĩa. Nó không cần thiết với hầu hết người Việt hoặc độc giả có vốn tiếng Việt đủ dùng.

Biến âm Ng/Ngh-Nh để từ Hán âm chuyển qua Đường âm có nhiều ví dụ hỗ trợ khác như Nghe-Nhĩ (Nghe là Mân âm Phúc Châu [ŋɛi242] của chữ Nhĩ 耳), Ngực – Nhũ 乳, Nhăm – Ngũ 五…

Kết luận: Người và Ngươi trong tiếng Việt mang âm và nghĩa của chữ Nhi từ thời Lục quốc, tức Chu mạt, chỉ person/human being. Qua thời Hán nó bị mất bớt âm tố, biến âm thành Ngài và còn lưu giữ trọn vẹn trong tiếng Việt Nam và Quảng Đông. Đến thời Đường âm tố [i] tiếp tục mất đi và biến âm thành Nghê/Ngừ và còn lưu giữ trong phương âm Trung bộ Việt Nam cũng như tiếng Ngô ở Ôn Châu và Thượng Hải.

Vietnamese Etymology

Thạch Viên – Nhơn Trạch

3.2020

T.T.Du

Gốc Hán – Đường – Mân của tiếng Việt

Leave a comment

Sau hơn một thế kỷ nô lệ và hậu nô lệ thực dân phương Tây, người Việt đã bị chính trị và học thuật phương Tây đánh lừa rất nham hiểm: Chúng cắt chữ Nho khỏi đời sống xã hội, ký âm tiếng Việt phi chuẩn để thay đổi một phần tiếng nói của cả dân tộc, dựa vào sự tương đồng rất lỏng lẻo giữa tiếng Việt và Mon – Khmer (vì cùng gốc Austronesian cổ đại) để áp đặt tiếng Việt gốc Mon Khmer…

Thực ra tiếng Việt chuẩn của chúng ta có đến 98% âm Hán – Đường – Mân, 2% ít ỏi còn lại gốc Tai Kadai là chính.

20

Chúng tôi đã xác định con số 98% bằng các cách sau:

1. Khoảng 40% Việt âm vẫn còn tương đồng hoàn toàn với các ngữ chi Trung Quốc.

15

18

2. Khoảng 40% tiếp theo chỉ có thể xác định bằng các chuỗi quy luật biến âm.

16

17

19

 

Xin bạn đọc đặc biệt lưu ý bảng biến âm dưới đây. Âm Gióng (Thánh Gióng) trong tiếng Việt có chữ Nho là Nhược, là tiếng Sở, âm Nam Kinh (đất Sở cũ) ngày nay đọc là Zó. Nó chứng tỏ Gióng là cổ âm của Zó.

Nh_Dz

 

3. 18% Việt âm còn lại chỉ có thể tái tạo trên cơ sở logic:

Chẳng hạn nhóm từ Rắn – Trăn – Chằn Tinh. Khi chuyển về Việt âm chuẩn sẽ thành: Zắn – Chăn – Chằn Tinh. Ngay lập tức bức màn che của thực dân sẽ rơi xuống, khi sự tương đồng Chăn – Chằn hiện ra. Chữ Tinh 精 có ngữ âm Lê Xuyên – Giang Tây khớp đến 95% với âm Chằn [ʨiaŋ22]. Nó chỉ ra xác suất rất cao rằng từ ghép Chằn Tinh có khả năng là một từ đẳng lập, ghép bởi Hán âm và Đường âm của một chữ Nho duy nhất, tương tự như Hột Hạt, Ngột Ngạt…

Nói cách khác, về mặt logic, Chằn trong tiếng Việt có lẽ là Việt Hán âm của chữ Tinh 精, như trong Yêu Tinh, Hồ Ly Tinh. Tiếng Việt còn có Xà Tinh chỉ con rắn lớn đã tu luyện lâu năm. Chằn Tinh có hai hướng nghĩa rất thú vị, nếu miền nam dùng Chằn/Bà Chằn để chỉ một nhân vật dữ dằn, thì miền bắc sử dụng từ kép Tinh Tướng có phổ nghĩa gần khớp.

Âm Zắn trong Việt ngữ, cùng với hai chữ Thìn 辰 và Tỵ 巳 tạo thành bộ ba “đồng chủng” có cách phát âm Việt Nam và Giang Nam (Ngô Việt – Giang Tây) khác biệt khá xa với các ngữ chi Trung Quốc khác. Như vậy Zắn, cũng như Zồng hẳn là Việt âm gốc Dương Tử. Cách đọc chữ Xà 蛇 riêng biệt của cư dân Giang Nam cổ xưa chính là Zắn vậy.

 

14

***

Những tri thức mới trong quá trình nghiên cứu ngữ âm Việt của chúng tôi đã đi đến bước ngoặt: nó phủ nhận nhiều khái niệm cũ và đòi hỏi các tên gọi phù hợp hơn.

Chẳng hạn không hề tồn tại cái gọi là âm Hán Việt. Bản chất các âm Hán Việt lại chính là Đường âm, trong khi các âm xưa nay cứ ngỡ thuần Việt – nếu không là Hán âm thì lại là Mân âm. Do đó chúng tôi xin được đề xuất ba khái niệm mới như sau.

1. Âm Việt Hán : là những âm như Giàu, Gió, Giời, Giăng (răng)…

2. Âm Việt Đường: là những âm như Nhiêu, Nhiễu, Nhật, Nha…

3. Âm Việt Mân: là những âm như Sông, Sóng, Nước…

Ví dụ câu: “Đất nước phì nhiêu”. Đất là Việt Hán âm, Phì Nhiêu là Việt Đường âm và Nước là Việt Mân âm.

Có ý kiến cho rằng ngôn ngữ giờ đây không còn quan trọng và chứng tỏ nguồn gốc nữa. Nó là thứ bị áp đặt lên người Việt sau 1000 năm nô lệ! Thật là sai lầm. Anh có thể nói tiếng của kẻ thống trị nhưng bản ngữ – tức tiếng mẹ đẻ sẽ không bao giờ mất đi cả. Ngôn ngữ mẹ đẻ của người Kinh Việt là tiếng Mân trung đại – tiếng nói của hoàng gia Lý – Trần: Bu là âm gọi mẹ từ Phúc Kiến, Nước là Mân âm chỉ Sông/Sóng/Làng/Quốc gia, Quê hương là tiếng Hạ Môn và Sán Đầu của hai chữ Nho – Gia Hương…

DongTuLa

Không còn nghi ngờ gì nữa, tiếng Việt Nam gốc Hán Đường, gia vị Mân và lõi Austronesian Dương Tử cổ đại. Ngay cả khái niệm Austronesian Dương Tử cũng cần được sớm thay thế.

Cát Lái 10.2019

@Trương Thái Du

 

 

 

 

Nhà nghiên cứu Trương Thái Du: Đánh thức quá khứ

2 Comments

Nguồn: Báo Nhân Dân

2018_1006_14190200

Xuất hiện rải rác bằng những bài viết in trên các báo từ khoảng 20 năm trước, nhà nghiên cứu Trương Thái Du được biết tới qua những khám phá độc lập, mới mẻ về lịch sử Việt Nam, nhất là cổ sử. Vốn là một kỹ sư hàng hải, nhiều năm lênh đênh trên những chuyến tàu viễn dương rồi Trương Thái Du rời biển lên bờ, làm nhân viên tập đoàn đa quốc gia lớn. Rồi một ngày tự cho phép mình “về hưu”, để chuyên tâm nghiên cứu sử Việt, theo đuổi khát vọng được phần nào đó, đánh thức dậy, lấp đầy những khoảng trống cổ sử đã bị thời gian xóa mờ, quên lãng…
Những ngày gần cuối năm 2018, Trương Thái Du cho ra mắt cuốn sách đặc biệt của mình: Khảo chứng tiền sử Việt Nam (Nhà xuất bản Tổng hợp TP Hồ Chí Minh) với lời đề dẫn bí hiểm và lãng mạn: “Sự kết hợp đầu tiên và duy nhất của thiên văn, thư tịch, khảo cổ, ngôn ngữ, văn hóa, phong tục và di truyền để khám phá Việt sử”. Trương Thái Du, như anh tự bạch, “đến với lịch sử bằng niềm đam mê khám phá quá khứ”, và niềm đam mê, tình yêu ấy dường như nhen nhóm lên từ những tháng năm là sinh viên Đại học Hàng hải Hải Phòng, được làm quen với môn học Thiên văn hàng hải: “Dưới nhãn quan thiên văn, cổ sử Việt Nam bỗng hiện ra trước mắt chúng tôi rất khác, so với cách mà đại đa số người đã, đang và sẽ hiểu”. Học, lại thực hành khoa học thiên văn trong những khoảng thời gian dài sống đời thủy thủ, ngắm nhìn bầu trời đêm mênh mang giữa đại dương khôn cùng, một trải nghiệm vô giá mà không phải nhà nghiên cứu nào cũng may mắn được song hành, có lẽ khởi nguồn đó đã dẫn dắt Trương Thái Du theo một con đường đi riêng biệt. “Ngay ở thiên văn cổ đại, người ta đã xác định được nơi thời gian và không gian (phương hướng) chập vào nhau. Đó là chính ngọ, giữa trưa và mặt trời ở hướng chính nam”, luôn bắt đầu vấn đề một cách điềm tĩnh, chậm rãi mày mò, đưa ra thật nhiều căn cứ trên một nền tảng tư duy logic, ít cảm tính nhất, dù là ở lĩnh vực khoa học xã hội, nên những khám phá của nhà nghiên cứu từng bị coi là “nghiệp dư” này đưa ra kể cả những anti fan cũng có rất ít lý lẽ để phản bác, mặc dù bản thân anh luôn khiêm nhường, biết mình biết người: “Ở góc độ nào đó, công việc của chúng tôi rõ ràng không phải đi tìm đáp số cho bài toán, mà điền ẩn số vào, sao cho phương trình cân bằng theo nhãn quan thiên văn học của những sử gia cổ đại thông tường thiên văn và lịch pháp. Nhiều ý kiến cho rằng, việc tìm hiểu ngữ nghĩa hàng loạt thuật ngữ lịch sử (Nam Giao – Giao Chỉ – Tượng quận – Cửu Chân – Nhật Nam) dưới ánh sáng thiên văn học của chúng tôi chẳng khác việc tìm hiểu thực nghĩa danh từ Sài Gòn là mấy, sẽ có rất nhiều đáp số. Sài Gòn chỉ là một cái tên đơn lẻ, trong khi chúng tôi nhìn thấy tính hệ thống của loạt tên gọi kia. Hiển nhiên là tìm ra tính hệ thống thì thuyết phục hơn và dễ gần đến sự thật hơn rất nhiều”… Từ những hiểu biết sâu rộng về thiên văn học, cộng thêm vốn Hán học linh hoạt, soi chiếu trở lại vào thư tịch, khảo cổ, ngôn ngữ, văn hóa, phong tục, di truyền, bằng sự cẩn trọng, nghiêm túc…, Trương Thái Du đã đưa ra những kiến giải về nguồn gốc nước Việt, người Việt từ thuở xa xưa. Với anh, “lịch sử Việt Nam quá dài mà ghi chép còn lại quá ít”, diễn đạt đời này qua đời khác lại có nhiều lúc chưa như những gì đã diễn ra trong thực tế…

Một vài ngày trên facebook cá nhân của mình, nhà nghiên cứu Trương Thái Du lại như reo lên khi tìm ra được những từ nguyên Việt ngữ: “Người Việt từ nay có thể tự hào tổ tiên họ có chữ viết riêng, dùng cách tạo chữ như nhà Thương, nhưng nét và âm khác chữ Thương Chu. Chỉ đến thời Tần Thủy Hoàng, thứ chữ ấy mới bị hủy diệt”. Anh bây giờ mỗi ngày ngồi máy tính ít ra 10 tiếng, dốc sức hoàn thành cuốn sách tiếp theo Nguồn gốc người Kinh và Việt ngữ, vẫn sử dụng nhân trắc học và ngôn ngữ học để xác quyết rằng: “Tổ tiên của người Việt Nam hiện đại chưa bao giờ là một dân tộc nô lệ hàng nghìn năm. Họ chắc chắn là những con người dũng cảm và phiêu bồng, nam tiến để truy tầm tự do”… Đánh thức quá khứ cũng cốt làm giá trị lõi cho hiện tại, dựa vào điểm tựa ấy mà tiến lên. Trương Thái Du dẫn giải rằng, trên thế giới, nhiều nước sát vách nhau, ví như “Mỹ – Canada hay New Zealand – Australia, họ có cùng nguồn gốc Anglo Sacxon nên mâu thuẫn quyền lợi quốc gia liền kề luôn được khống chế. Việt Nam và láng giềng cũng có những liên hệ lịch sử, chủng tộc, ngôn ngữ khởi đi tương tự các cặp quốc gia kia nhưng đi trước cả 1.000 năm”. Đó có thể là nền tảng cho sự thấu hiểu và cảm thông, làm mềm hóa đi những vướng mắc (nếu có) để cùng phát triển, vì lợi ích của mỗi bên.

Hiểu căn cơ, thấu đáo, khoa học về cội nguồn, kiến giải được những khoảng trắng lịch sử làm đà cho sự tự tin, vượt thoát khỏi những mặc cảm vô hình luôn tự ràng buộc, bay cao, bay xa cùng nhân loại tiến bộ, Trương Thái Du coi đó là niềm đam mê mà anh sẽ theo đuổi đến hết cuộc đời, tới “khi nào tư duy còn mạch lạc”. Nhận mình khôn ngoan và thêm phần may mắn khi đầu tư đất đai, nên giờ có thể tự “trả lương hưu cho mình”, yên tâm ngồi nhà đọc, lật tung kho tàng tri thức nhân loại lên để nghiền ngẫm, đối chiếu, so sánh, và cuối cùng đem kết quả khảo chứng đóng góp trở lại thành tài nguyên chung của đất nước, đúng như anh đúc kết: “Đối với lịch sử, sự thật là tri thức. Chỉ có tri thức mới có thể gắn kết con người với nhau không chỉ trong một quốc gia, mà cả khu vực đã có lúc cùng chia sẻ quá khứ, để rồi hướng tới một tương lai tốt đẹp nhất”. Nhiều người gọi Trương Thái Du là tiên sinh, nhiều người khác lại coi anh như một ông đồ chưa già mà đã lẩn thẩn, Trương Thái Du thì thấy ái ngại cho những ai không nuôi dưỡng được một đam mê, suốt cuộc đời cứ đắm chìm trong công việc và tiền bạc. Anh tận tụy với đam mê của mình, những mong đóng góp một chút gì đó cho xã hội, đúng cách những trí thức thật sự xưa tới nay luôn phụng hiến mà không đòi hỏi sự ghi nhận, đáp đền trở lại. Luôn tự biết mình, biết người, đã từng viết văn, viết truyện ngắn, tiểu thuyết nhưng “đoạn tuyệt” vì tự trào “không có khả năng văn chương, trình độ chỉ sạch nước cản, viết mãi cũng không làm được gì cho xã hội”, Trương Thái Du chỉ một lòng, một dạ đánh thức những khoảng lặng nghìn năm của lịch sử.

Nhà nghiên cứu Trương Thái Du sinh năm 1968 tại miền bắc, tốt nghiệp Đại học Hàng hải Hải Phòng. Năm 2007, anh cho ra mắt quyển sách Một cách tiếp cận những vấn đề cổ sử Việt Nam. Cuốn sách tiếp theo, Khảo chứng tiền sử Việt Nam xuất bản sau đó hơn 10 năm chứng tỏ một sự nghiêm cẩn mực thước cho công việc, mặc dù anh luôn từ tốn: “Một số triết gia cho rằng, người thông minh thấy trong một câu hỏi nhiều thứ hơn kẻ ngu ngốc thu nhặt được với một câu trả lời thông minh. Thiên văn trong quyển sách này đã và đang trả lời rất nhiều câu hỏi liên quan đến quá khứ”…

MI SOL

Gốc rễ một số từ ngữ trong Phật giáo

Leave a comment

Chùa Chiền

truclamdalat6

Rất có thể nó bắt nguồn từ hai chữ Thiền Viện 禪院. Chữ Thiền âm Ngô Việt Hàng Châu [zʮõ213] (chuõ), Mân âm Áo Môn [sian35]/[sian22] (siẻn/sien).

Nếu đúng như vậy thì khi người Việt lập quốc vào thời Ngô Quyền, có hai nhóm dân cư gốc Ngô Việt và Mân Việt, cho nên họ phải gọi cơ sở thờ tự Phật giáo bằng một từ đẳng lập là Chùa Chiền.

Sư/Sãi/Thầy

chuathay

Con vua thì lại làm vua

Con sãi ở chùa thì quét lá đa

Người Việt hầu như ai cũng nhớ câu ca dao này nhưng hỏi Sãi là gì họ thường không biết. Ngành Hán Nôm nên tích hợp thêm món Mân, để thành Hán Mân Nôm, may ra lịch sử và ngôn ngữ nước nhà sẽ tỏ tường.

Tu sĩ Phật giáo chữ Hán là Sư 師. Bạch thoại (lời ăn tiếng nói dân dã) tiếng Mân Nam ở Phúc Châu, Áo Môn và Sán Đầu (Triều Châu) đều đọc như [sai]: [sai44], [sai55], [sai33]. Từ đây, ta có hai kết quả biến âm là [sãi] và [thầy]. Chữ Nôm Thầy 柴 còn đọc là Sài (trong Sài Gòn, Sài Sơn).

Như vậy chùa Thầy ở Sài Sơn nguyên nghĩa là chùa của ông sư Từ Đạo Hạnh (người Mân), Sài Sơn là Sư Sơn 師山, núi của các nhà sư.

Vãi

Img399664883

Nữ tu sĩ Phật giáo tiếng Pali là Bhikkhunī, tiếng Sanskrit viết Bhikṣuṇī. Nó được người Hán ký âm là Bỉ/Tỉ Khâu Ni 比丘尼, đơn âm hóa thành Ni 尼 (Ni cô). Từ tương đương trong tiếng Việt là Vãi, có khả năng là ngữ âm Hoa nam ký âm Bhi nằm ngay trong chữ Bỉ/Tỉ 比. Chữ Bỉ/Tỉ 比có Hoa nam âm hầu hết là [pi] mang đủ các thanh.

Chữ Nôm Vãi 娓 biểu âm bằng chữ hán Vĩ/Vỉ 尾. Chữ Vĩ/Vỉ 尾 có Ngô Việt âm Thượng Hải là [vi13], Ôn Châu là [vei35] và Mân âm Áo Môn là [bi53]. Biến âm B-V ta thấy trong Bậu (tiếng Mân) – Vợ (tiếng Việt và tiếng Ngô Việt Thượng Hải), Bái/Vái, Bấu/Víu khớp với trường hợp chữ Vĩ/Vỉ 尾 này.

Như vậy Vãi gần với âm [vei35] (vẩy) của Ôn Châu nhất.

Lạy

kneel-928x522

Lạy vua Từ Hải

Lạy Vãi Giác Duyên

Lạy tiên Thúy Kiều

Cho tôi một quẻ

Hán tự có chữ Bái 拜, cổ âm là Vái. Quỳ lạy là Quỵ Bái 跪拜. Điều này làm cho nhiều người Việt tưởng nhầm Lạy là âm thuần Việt. Thực ra Lạy là cổ âm của chữ Lễ 禮 cơ. Mân âm Kiến Âu là [lai42], Quảng âm là [lɐi24] hoặc [lɐi242]. Như vậy Lạy là Hoa Nam âm, chỉ hành vi Quỵ Bái.

Hầu hết các từ liên quan đến Phật giáo đều có gốc Hoa Nam cũng như chính Phật giáo Việt Nam mà thôi.

25.02.2019

@T.T.Du

Older Entries

tongocthao

The greatest WordPress.com site in all the land!

Anle20's Blog

Just another WordPress.com weblog

levinhhuy

Quắc mắt xem khinh nghìn lực sĩ/ Cúi đầu làm ngựa bé nhi đồng

Nguyễn Quốc Vương-Người bán sách rong

Quê hương yêu dấu (Dọc hành chấm đứng). Xin các bạn vui lòng ghi rõ nguồn và dẫn link đến trang này nếu đăng lại bài của tôi

thienthanh2017.wordpress.com/

Thượng thiện nhược thủy, thủy thiện lợi vạn vật nhi bất tranh - Lão Tử

Học Thế Nào

How We Learn

leminhkhaiviet

About Vietnamese Cultural History and Scholarship

Xuân Bình

Nhà báo tự do

Nguyễn Huy Hoàng

the star is fading

Nghiên Cứu Lịch Sử

Các bài nghiên cứu, biên khảo và dịch thuật các chủ đề về lịch sử

Le Minh Khai's SEAsian History Blog (and More!)

History, Higher Education & the Digital Revolution

trinhythu

Trịnh Y Thư WordPress.com site

trandangtuan.com

Men lá rượu ngô trong

4th Avenue Café

Free non-fiction translation

WordPress.com

WordPress.com is the best place for your personal blog or business site.