Người Việt Nam từ đâu đến?

Leave a comment

Trương Thái Du – KHẢO CHỨNG TIỀN SỬ VIỆT NAM bằng CỔ THƯ và THIÊN VĂN HỌC

Research prehistory of Vietnam under Chinese classical Astronomy and Text.

Đất phát tích của văn minh Việt Nam hiện đại là châu thổ sông Hồng. Trước công nguyên nó vốn hoang sơ, vì cách đó 2.000 năm toàn bộ gánh lúa bắc bộ nằm dưới mực nước biển. Hồ Lãng Bạc, nơi Hai Bà Trưng quyết chiến với Mã Viện chắc chắn đã được sa bồi trong hoàn cảnh nước rút để tạo ra nền móng cho Hà Nội.

Người Việt Nam ngày nay chủ yếu là con cháu cư dân hai quận Giao Chỉ và Cửu Chân. Cuối thời Tây Hán dân số hai nơi đó là 120.230 + 166.013 = 286.243 người. Năm 1932 Tản Đà viết: “Dân hai nhăm triệu ai người lớn. Nước bốn ngàn năm vẫn trẻ con.” Có tài liệu khác dẫn con số nhỏ hơn là 17,702 triệu người. Nghĩa là sau 1932 năm, dân số Việt Nam tăng từ 61,8 đến 87,33 lần. Theo một tài liệu tổng hợp nghiên cứu lịch sử dân số Trung Quốc[1], tỉ lệ tăng của họ trong khoảng tương đương với Việt Nam chỉ là 8,3 lần (500 triệu/60 triệu).

Mặt khác tỉ lệ tăng dân số Việt Nam sau hơn 2000 năm thấp hơn 3,5 lần tỉ lệ tăng dân số của quận Nam Hải thời Tây Hán, tức Quảng Đông ngày nay.

Đối tượng so sánh Dân số thời Tây Hán Dân số năm 2015 Tỉ lệ tăng
Việt Nam 286.243 92.000.000 321,4 lần
Quảng Đông 94.253 108.500.000 1.151,1 lần

Nếu ở Quảng Đông người ta chắc chắn sự tăng dân số kinh khủng như vậy là do dòng nhập cư bắt đầu từ đời Hán, 94.253 khẩu Tây Hán, đã vọt lên 250.212 khẩu thời Đông Hán. Con số ở Việt Nam phức tạp hơn, đòi hỏi các nghiên cứu sâu rộng và chính xác hơn, cũng như tham khảo kỹ lưỡng khoa học di truyền. Quyển sách này chỉ xin gợi ý vai trò của người di cư với cơ cấu dân số nói riêng và văn hóa lịch sử Việt Nam nói chung.

Dân gian Việt Nam hay nói: “Một ngàn năm nô lệ giặc Tàu”. Điều này không chắc đã sai, dù từ lúc Hai Bà Trưng bỏ mình đến khi Ngô Quyền xưng vương là chưa đến 900 năm. Nó đơn giản chỉ là thứ ca từ của dòng nhạc sến rẻ tiền, rên rỉ, sản phẩm của tư duy âm tính yếm thế, nhược tiểu. “Một ngàn năm nô lệ giặc Tàu” khóc lóc gợi ý sự thương hại của tha nhân trên cơ sở bản ngã yếu hèn. Do đó đầu tiên nó phản bội Trưng Trắc và Trưng Nhị, hai bà mẹ kiêu hùng của lịch sử Việt Nam, thà chết chứ không đầu hàng cường tặc. Bất cứ sử gia hạng bét nào trên thế giới cũng có thể đặt câu hỏi: Tại sao không phải là một ngàn năm đánh đuổi giặc Tàu?

Tuy vậy “nô lệ” hay “đánh đuổi” thực ra đều phiến diện. Nếu từ thế kỷ thứ nhất đến thế kỷ thứ mười, mảnh đất Việt Nam không dang tay bác ái với những người di cư yêu tự do và lao động, với các vị Hán quan lương thiện đã chọn quận Giao Chỉ và Cửu Chân làm quê hương, không tiếp thu Phật giáo đến từ biển, không học hỏi văn minh Hán; họ có thể tự cường để giành độc lập và kiến quốc được không?

Một lần nữa chúng tôi xin nhắc đến thuyết âm dương cổ điển, hay nhị nguyên đối lập như ngày nay người phương Tây định nghĩa: Nhân loại thích gọi thời gian có mặt ngắn ngủi của mỗi cá nhân trên địa cầu là đời sống, mặc dù sống là hành trình đi đến cái chết, chết vô biên mà sống thì hữu hạn. Người lạc quan và có tiền đồ thấy nửa ly nước sẽ bảo nó đầy một nửa, kẻ bế tắc luôn khẳng định đã vơi gần hết.

Theo quan điểm của chúng tôi, người Kinh ở Việt Nam hiện nay hình thành bởi ba nguồn gene và văn hóa:

1. Từ Dạ Lang, liên minh các bộ tộc Lạc Việt trong địa bàn các tỉnh Quảng Tây, Quý Châu, Hồ Nam và Vân Nam hiện nay. Ở đỉnh cao nhất trong lịch sử phát triển của mình, thủ lĩnh Dạ Lang đã xưng vương, xây dựng thành quách, cung điện và những cơ cấu chính trị xã hội tiền phong kiến. Xung đột Dạ Lang và Ba Thục ở Hoa nam trước Công nguyên đã phản ánh vào truyền thuyết An Dương vương. Bắt nguồn từ Dạ Lang, ngôn ngữ Việt gọi quốc gia là nước, ký ức xa nhất là 3.400 năm từ thời bị giặc Ân đánh ở Hồ Bắc và Hồ Nam vẫn tồn tại trong truyện cổ tích Thánh Gióng. Người bản địa Lạc Việt ở châu thổ sông Hồng và người Dạ Lang ở Cửu Chân được ghi nhận rất rõ ràng trong Hán sử. Nó chứng thực về mặt chủng tộc và văn hóa, người Việt cổ và người Dạ Lang rất gần gũi. Truyền thuyết Dạ Lang cho rằng một trong những dòng vương hầu của họ có cùng tổ tiên với các vua Sở, mười tám đời vua Hùng bước ra từ đây. Âm Hùng chính là họ của vua Vàng thần thoại Trung Hoa và cũng là họ gốc của cao tổ hoàng gia Sở quốc.

2. Từ nước Việt thời Chiến Quốc. Sau khi suy tàn, quý tộc nước Việt một thời xưng bá ở Trung Nguyên trôi dạt dần về phương nam, đến Mân Việt (Phúc Kiến) rồi Nam Việt (Quảng Đông). Sau năm 111 BC họ lại tiếp tục những cuộc hải hành khó khăn đi về phương nam tìm kiếm tự do và ghé vào trước hết là Cửu Chân, sau đó mới đến quận Giao Chỉ. Họ mang theo totem rái cá và tục thờ chó xa xưa của tổ tiên mình, xâm mình, nhuộm răng đen và ăn trầu theo đó mà đi vào văn hóa Việt Nam. Lịch sử chủng Việt Chiến Quốc kéo dài từ 2.500 đến 3.000 năm.

3. Từ chính Trung Hoa, nguồn gene và văn hóa Hán trong quan binh viễn chinh, tù chính trị bị lưu đày. Họ trấn đóng ở quận Giao Chỉ và Cửu Chân đời này sang đời khác hơn một ngàn năm. Chưa kể quan lại Bách Việt gốc Hoa và người lai giữa Hoa tộc với Bách Việt tộc di cư xuống. Họ khiến ngôn ngữ Việt xuất hiện rất nhiều từ đẳng lập Hán Nôm như Chia Ly, Thân Mình, Hiền Lành, Quái Gở… Hơn nữa, những đợt di dân cách nhau hàng trăm năm, thậm chí hàng ngàn năm sẽ làm phát sinh những từ ghép đẳng lập Hán Việt – Hán Việt nhưng một âm là Hán cổ đã Việt hóa và biến đổi giọng đọc, và một âm Hán trung đại, như Hận Thù, Tranh Đấu, Hoan Hỉ[2]… Đáng kể nhất là tiềm thức của gene Hán có đúng 4.000 năm lịch sử! Nó sẽ phủ nhận bằng trực giác và cảm tính bất cứ luận chứng nào cho rằng lịch sử mảnh đất Việt Nam không thể dài đến mức ấy.

Lịch sử Việt Nam nên được nhìn bằng tư duy tích cực và thấu hiểu bản chất tương hợp biện chứng của văn hóa và di truyền. Sử học giành độc lập dân tộc đầu thế kỷ 20 đã thần thoại hóa cổ sử để xây dựng các biểu tượng siêu nhiên, nhằm động viên đại chúng và trao cho nhân dân sức mạnh tinh thần của cha ông họ. Tuy là bước lùi so với Khâm Định Việt Sử của nhà Nguyễn, nhưng nó đã giúp người Việt đồng lòng đứng dậy cởi ách nô lệ. Đáng lẽ sử học Marxist sau đó phải trở về với hiện thực, song họ không làm thế. Học thuyết thoát Hán (de-Sinicization) đã được thiết kế công phu bởi nhu cầu địa chính trị, tầm nhìn chỉ năm bảy chục năm. Sách sử tiếp tục huyền thoại hóa, bản địa hóa, tín ngưỡng hóa cổ sử, bất chấp mọi hậu quả. Phong trào bài Hoa – thoát Trung điên cuồng ngoài xã hội hiện nay là gì, nếu không phải sản phẩm của sử học chính thống Việt Nam, bắt đầu bằng Trần Trọng Kim – một trí thức uyên bác nhưng chấp nhận làm tay sai thực dân và sau đó là con rối của Phát Xít Nhật. Việt Nam Sử Lược là quyển sử bằng quốc ngữ đầu tiên nhưng hết sức phi khoa học và thiếu trung thực: Đưa hết truyền kỳ cổ tích hoang đường vào cổ sử, kéo lịch sử Việt Nam đến tận năm 2.897 BC. Trắng trợn biện hộ cho quá trình xâm lược Việt Nam của người Pháp, bẻ cong tất cả những sự kiện liên quan đến các quan Tây dù mới chỉ xảy ra vài chục năm.

Những sử gia chân chính và các nhà chính trị có tầm nhìn nên hiểu nguy cơ tự cô lập, bế quan tỏa cảng từ thời Minh Mạng – Tự Đức đang có khả năng hồi sinh ít nhất là trong dư luận xã hội. Biết đâu một lần nữa nó lại đưa cả dân tộc trở về những năm tháng đen tối, nếu không kịp thời hóa giải.

Cách đối xử với quá khứ của mỗi dân tộc sẽ định hình tương lai chính họ. Nếu yêu chuyện cổ tích hơn các bài học thực tế, họ sẽ chỉ gặt hái được những giả tưởng và ảo ảnh mà thôi./.

——————————————————————–

[1] http://www.china-profile.com/data/fig_pop_0-2050.htm

[2] Tham khảo: http://dvtuan63.blogspot.com/2013/07/nguon-goc-tu-kep-han-viet-viet-ong-nghia.html

Câu chuyện hải hành của nhà Hán

Leave a comment

Công cuộc thực dân ba quận Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam chỉ bắt đầu từ sau khi sách Diêm Thiết Luận ra đời, khoảng từ 81 BC đến 61 BC là năm Cửu Chân hiến con lân. Cửu Chân lại là quận có thái thú đầu tiên chứ không phải Giao Chỉ hay Nhật Nam là một chi tiết rất thú vị. Nó đòi hỏi sử gia phải tìm hiểu các dòng chảy cũng như hướng gió tạo nên tập quán hàng hải trong vịnh Bắc Bộ mới có thể giải mã sự kiện.

Tham khảo luận văn Thạc sỹ “Một số kết quả tính toán dòng chảy trong vịnh Bắc Bộ bằng mô hình ba chiều phi tuyến”, tác giả Trần Văn Chung và Bùi Hồng Long, Viện Hải dương học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, năm 2010; kết hợp chuyên ngành hải hành của bản thân cũng như các tư liệu từ Hán sử, chúng tôi đúc kết như sau: Ở vịnh Bắc Bộ dòng chảy của biển trong năm hầu như cố định, chiều hải lưu ngược chiều kim đồng hồ men theo bờ tây đảo Hải Nam, vòng qua bờ biển Hợp Phố rồi đi xuống dọc quận Giao Chỉ đến Cửu Chân. Chế độ gió cơ bản theo mùa, từ tháng 4 đến tháng 10 theo hướng tây nam – đông bắc của vịnh, từ tháng 11 đến tháng 3 thổi ngược lại. Đầu công nguyên non nửa châu thổ sông Hồng vẫn còn bị biển lấn sâu, tạo thành những vùng nước nông rất dễ mắc cạn. Bên trong vịnh Hạ Long các đảo đá chập chùng, đá ngầm khắp nơi. Với trình độ hàng hải kém cỏi của người Trung Nguyên, dù đã tận dụng truyền thống sông nước từ Mân Việt và Giang Nam, ở thời điểm thế kỷ thứ nhất trước công nguyên chỉ có hai cách hải hành thụ động như sau.

a. Từ vịnh Lôi Châu thuộc quận lỵ Từ Văn của Hợp Phố vừa nương theo hải lưu, vừa dùng buồm lấy sức gió đông bắc, tốc độ thuyền buồn sẽ lớn nhất, vào vịnh Bắc Bộ bằng eo Quỳnh Châu, vượt qua khoảng 664km đến thẳng Cửu Chân chỉ dưới 10 ngày. Lúc về phải ép buồm hoặc bánh lái băng qua cửa vịnh Bắc Bộ, tận dụng hải lưu và gió tây nam đưa trở lại chỗ xuất phát, cũng mất hơn mười ngày nếu trong mùa gió tây nam, quãng đường khoảng 722km. Nếu hải hành ở những thời điểm không thuận lợi, gió và nước ngược nhau sẽ khiến thời gian dài ra. Phương án chỉ dùng gió có thể áp dụng, quãng đường về sẽ ngắn hơn nhưng thời điểm khởi hành và trở về phải cách nhau nửa năm, tốc độ một trong hai chiều đi hoặc về rất thấp.

b. Xuất phát từ cửa sông Trường giang với thủy thủ đoàn Giang nam hoặc cửa sông Tây giang với thủy thủ đoàn người Mân Việt sẽ phải đi vòng phía đông đảo Hải Nam, trực chỉ Nhật Nam. Quãng đường Hậu Hán Thư đã tính là 9.000 dặm[1], tốc độ 30 dặm một ngày, mất cả năm mới tới nơi. Nếu đi qua eo Quỳnh Châu, cách hải hành phía trên (a) sẽ nối tiếp.

Các khoảng cách hàng hải thực tế ngày nay vào khoảng như sau: Theo eo Quỳnh Châu, Phiên Ngu – Cửu Chân : 1000km; Phiên Ngu – quận Giao Chỉ : 850km. Đi bên mạn đông đảo Hải Nam: Phiên Ngu – Nhật Nam: 950km; Phiên Ngu – Cửu Chân : 1.500km. Từ cửa sông Trường giang đến Phiên Ngu: 1.500km.

Hoppho_Cuuchanroad

Ảnh: Hải hành từ Hợp Phố đến Cửu Chân thuận tiện hơn vào quận Giao Chỉ

Không chỉ riêng Sử Ký và Hán Thư, các mô hình trên đây hoàn toàn phủ nhận khả năng Triệu Đà đã đến châu thổ sông Hồng. Đợt Mã Viện đánh quận Giao Chỉ, Hậu Hán Thư cũng ghi rõ quân sĩ men theo sát biển, vừa đi thuyền vừa đi bộ bạt núi khai ngòi, qua cả ngàn dặm mới đến Lãng Bạc. Vì nếu nếu dong buồm phía ngoài vịnh Hạ Long, bị hải lưu đẩy, chiến thuyền Mã Viện sẽ đến thẳng Cửu Chân. Thời ấy biển mênh mông, chưa có ngọn hải đăng Hòn Dấu chỉ đường cho tàu thuyền vào các cửa sông dẫn đến Hà Nội. Thiếu kiến thức hàng hải, thật khó hình dung cổ sử và hiểu nó sai lạc là điều dễ hiểu và đã diễn ra.

Căn cứ vào Hậu Hán Thư, Mã Viện đã xuất phát từ Linh Lăng vì 300 thủ lĩnh khởi nghĩa của Hai Ba Trưng bị bắt giải đến bến cuối cùng là chỗ này. Trường Sa, Quế Dương và Linh Lăng cũng chính là vùng chiến sự ác liệt thời Tần, nơi Đồ Tuy đã bỏ mạng. Đi trong các nhánh sông nhỏ, qua Linh Cừ đã được đào bởi quân Tần cách đó hơn 250 năm là lý do công tác chuẩn bị xe và thuyền, tu sửa cầu đường, thông khe lạch cản trở, tích trữ lương thảo mất gần hai năm. Đến Thương Ngô tức Ngô Châu thị ngày nay là Mã Viện đã đi vào Tây giang. Đoàn giang thuyền này phải ra biển tại Phiên Ngu và tập trung tại Từ Văn, Hợp Phố, tức vịnh Lôi Châu ngày nay. Không rõ Đoàn Chí là tướng Giao Chỉ bộ đóng quân ở đâu, nhưng nếu chỉ huy lâu thuyền thì chỉ có thể neo trên sông lớn Tây giang, nghĩa là tại thành phố Ngô Châu hoặc Phiên Ngu. Ngô Châu là trị sở Giao Chỉ bộ, cho nên khả năng Đoàn Chí ở đó nhiều hơn. Dù sao đi nữa đến Từ Văn thì Đoàn Chí bệnh chết.

Tháng tư mùa hạ tức tháng năm dương lịch năm 43[1] Mã Viện đến Lãng Bạc và đánh bại Hai Bà Trưng. Từ vịnh Lôi Châu vào vịnh Bắc Bộ qua eo Quỳnh Châu cuối xuân đầu hạ thường không có gió mùa mạnh. Đội hình chiến thuyền vượt biển có nhiều giang thuyền nhỏ là lý do Mã Viện phải đi cặp sát vào bờ, vừa ép buồm đón từng cơn gió, vừa vận dụng dòng hải lưu ngược chiều kim đồng hồ trong vịnh Bắc Bộ để đến cửa sông dẫn vào Hà Nội. 542km hải hành mất khoảng 10 ngày.

Mayuanroad

Ảnh: Đường hải hành nhiều khả năng Mã Viện đã sử dụng đầu năm 43.

Các trang sử Việt đã mắc một sai lầm rất lớn là hiểu Giao Chỉ bộ là quận Giao Chỉ. Nói chung họ cứ thấy Giao Chỉ thì trực hiểu ngay là Giao Chỉ quận. Do đó khi Hán Vũ đế bổ nhiệm thứ sử trông coi Giao Chỉ bộ Việt sử suy luận rằng Giao Chỉ quận là trung tâm, đầu não và nơi đóng cơ quan quản lý cả bộ Giao Chỉ.

———————————————————

 

[1] Ngày tháng ở Nam Man Tây Nam Di Liệt Truyện và Mã Việt Liệt Truyện, tuy cùng trong Hậu Hán Thư nhưng không khớp với nhau. Ở tài liệu thứ hai chép mùa xuân năm 42 Mã Viện đến Lãng Bạc, tháng giêng năm 43 mới chém được đầu Hai Bà Trưng.

[1] Xem phần 2, bản dịch Hậu Hán Thư.

Trích: Trương Thái Du – KHẢO CHỨNG TIỀN SỬ VIỆT NAM bằng CỔ THƯ và THIÊN VĂN HỌC – Research prehistory of Vietnam under Chinese classical Astronomy and Text.

Biểu tượng Rồng – Tiên trong sử Việt

4 Comments

 

Trong Nam Man Tây Nam Di Liệt Truyện của Hậu Hán Thư, chúng tôi thấy những dấu hiệu totem của các sắc dân xung quanh và giữa lòng Trung Hoa cổ đại như sau: Người Nam Man cổ xưa ở vùng trung tâm nước Sở sau này thờ chó. Tại đó, còn có những chủng người đội nón làm bằng da rái cá cũng thấp thoáng biến thể totem chó, bởi vì Hoa ngữ còn gọi rái cá là chó nước (thủy cẩu). Người bản xứ ở quận Thục có lẽ dùng totem hổ, cho rằng vị vương khai quốc của họ chết hồn phách nhập vào hổ trắng, từ đó có tục hiến tế người sống lấy máu dâng hổ. Đáng chú ý nhất là các bộ tộc Ai Lao cổ, vốn cư trú giữa đầu nguồn hai con sông Trường giang và Mekong lại được sử quan Hán ghi nhận nguồn gốc cha rồng, mẹ nói tiếng chim, phong tục xăm mình vằn vện như con rồng và căng thùy tai. Tiền thân rồng vốn là một gốc cây trầm hương, do đó khả năng người Ai Lao dùng totem trầm hương, nguồn gốc của tục thắp hương đốt trầm[1]. Các nước xung quanh vùng tây nam Trung Quốc đến tận nơi phát tích đạo Phật, ngày nay vẫn được ghi nhận là địa bàn sinh trưởng của giống cây trầm hương. Đặc thù xuất hiện dưới suối một đoạn gốc mục nát phần vỏ, còn lại là phần lõi có hương và rắn chắc trong truyện với thực tế là tuyệt đối trùng khớp. Totem gốc trầm hương của người Ai Lao gần gũi với totem ba đốt tre dưới suối và nguồn gốc họ Trúc của bộ tộc Dạ Lang ở trung lưu Tây giang Hoa nam ngày nay.

Năm 2004 tại Bắc Kinh, tác giả Khương Nhung đã viết một quyển tiểu thuyết rất nổi tiếng mang tên Lang Đồ Đằng, tức totem sói. Về mặt văn hóa, Khương Nhung tin và dùng nhiều dẫn luận chứng minh hình thức bái lang sói, tức loài chó hoang, làm tổ thú là tiền thân của hình tượng con rồng Trung Hoa.

Chó, sói và hổ về hình thể rất gần nhau, phải chăng văn hóa Trung Hoa đã tổng thành những totem tối cổ của các sắc dân, các trung tâm văn minh độc lập trong lãnh thổ của họ để xây dựng hình tượng con rồng hư ảo? Để tượng long, con người cần có trí tưởng tượng vượt qua những quan sát bằng con mắt trần tục, tích hợp vào đó tôn giáo và các hiện tượng tự nhiên có năng lượng lớn như sấm chớp mưa giông bão lụt. Xã hội phải ở một trình độ văn minh nhất định mới có thể sáng tạo và sử dụng hình tượng con rồng.

Theo Viện khảo cổ của viện hàn lâm khoa học xã hội Trung Quốc, tượng hình rồng xưa nhất đã đào được là một cổ vật bằng lam ngọc, xuất lộ tại di chỉ Nhị Lý Đầu, Hà Nam, trong cuộc khai quật năm 2003 – 2004[2]. Niên đại của nó cách ngày nay vào khoảng 3.700 năm (ảnh dưới).

dragon

Nhị Lý Đầu là một quận thuộc Lạc Dương, nằm bên bờ nam Hoàng hà, cố đô Đông Chu nơi Tấn Văn Hầu đã mang theo Thái Cộng Hầu xuất quân đánh nhau với người Man. Người Man Di trong câu chuyện cổ tích Bàn Hồ không thể ở mãi tận bờ nam Trường giang như sử quan Đông Hán định vị. Chắc chắn nó cách Lạc Dương không xa lắm, nó chính là Giao Chỉ cuối thời Tây Chu vậy. Nói cách khác thuật ngữ Man Di trong lịch sử Trung Quốc mang đặc thù văn hóa hơn là chủng tộc. Văn minh Trung Quốc hết đời này đến đời khác gồm thâu nhiều bộ lạc “man di” xung quanh, tiếp thu văn hóa và con người của vùng đất bị khuất phục, cùng người mới tạo dựng một nền văn hóa mới. Chủ nhân nền văn hóa mới ấy sẽ lại gọi những bộ tộc xung quanh chưa hợp nhất với mình là Man Di. Vòng tròn biến hóa ấy lập đi lập lại trong nhiều ngàn năm. Đây chính là hợp đề của triết lý biện chứng trong Kinh Dịch. Do không áp dụng loại trừ, văn minh Trung Quốc đã trở thành nền văn minh duy nhất của nhân loại phát triển tuy có trồi sụt, nhưng không hề gián đoạn hơn 4.000 năm nay.

Một ví dụ điển hình và rất gần đây có liên quan đến Việt Nam là hai mươi năm thuộc Minh của nước Đại Việt đầu TK 15. Quan lại chiếm đóng của Minh triều đã đem về chính quốc không những giá trị vật chất, mà còn tận dụng thứ quý giá nhất là con người Đại Việt. Từ ông quan đầu triều Hồ Nguyên Trừng với các phát minh vũ khí tân tiến, đến đứa trẻ mặt mũi sáng sủa tên là Nguyễn An, sau này bị thiến, trở thành thái giám và góp phần xây dựng Cố cung ở Bắc Kinh.

Giành được độc lập từ giữa thế kỷ thứ 10, qua đến triều Lý, người Việt mới bắt đầu viết sử. Trải suốt ngàn năm ảnh hưởng văn hóa Hán, dấu tích totem của người Việt hầu như mai một gần hết. Tuy nhiên chúng tôi vẫn tìm được hai chi tiết mờ nhạt:

Một là truyền thuyết dân gian vẫn truyền kể vua Đinh Bộ Lĩnh là con của rái cá, ghi lại trong sách Công Dư Tiệp Ký của Vũ Phương Đề vào thế kỷ 18.

Hai là Đại Việt Sử Ký Toàn Thư chép: “Trước ở viện Cảm Tuyển chùa Ứng Thiên Tâm, châu Cổ Pháp có con chó đẻ con sắc trắng có đốm lông đen thành hình hai chữ “Thiên tử”. Kẻ thức giả nói đó là điềm năm Tuất sinh người làm thiên tử. Đến nay, vua sinh năm Giáp Tuất lên làm thiên tử, quả là ứng nghiệm.” Đây là tích viết về vua Lý Công Uẩn. Nhiều ý kiến cho rằng đền Cẩu Nhi giữa hồ Trúc Bạch ở Hà Nội hiện nay là nơi thờ tự con chó con được triều Lý phong là Phúc thần, cùng thời điểm ra đời của kinh thành Thăng Long.

Rất khó để trả lời truyền thuyết con rồng cháu tiên của người Việt Nam phát triển lên từ totem gì. Chẳng lẽ cũng tương tự như người Trung Nguyên từ chó và rái cá? Phải là totem cả đôi mới xứng với rồng – tiên! Thật vô lý, dù có thể cho rằng tiên là biến thể của chim Lạc trên trống đồng. Mặc nhiên biểu tượng rồng – tiên chỉ có thể ra đời sau khi totem biến mất, trong khi đó chó và rái cá vẫn xuất hiện sau thế kỷ thứ mười. Nói cách khác, hình ảnh rồng – tiên nhiều khả năng được sao chép và tổng hợp từ một nền văn hóa khác sau thế kỷ 11. Chính thao tác đưa rồng – tiên về quá khứ rất xa, tạo nên kỷ Hồng Bàng trước đó mấy ngàn năm trong sử Việt, đã chỉ ra đây là một biểu tượng khá cọc cạch và lệch pha. Nó vừa đi trước vừa phủ nhận totem của dân tộc. Rất có thể rồng tiên chỉ là vay mượn và diễn nôm biểu tượng hoàng gia long – phụng của bắc triều mà thôi. Bản chất của nó thiên về củng cố vương quyền phong kiến Việt Nam, nhằm nô dịch nhân dân, hơn là sản phẩm thoát thai từ totem.

Chúng tôi không thể khẳng định totem cổ nhất có thể truy lục được của người Việt là chó và rái cá, cũng như không dám kết nối người Việt hiện đại với người Việt ở Trung Hoa thời chiến quốc qua nét totem rất mờ nhạt. Tuy nhiên totem chó hoặc rái cá lại hoàn toàn phù hợp, đồng đẳng với ngôn ngữ Việt Nam, ít nhất là trong trường hợp từ [Nước] mang gốc bộ lạc để chỉ quốc gia. Từ [Nước] mãi mãi không thay đổi trong tiếng Việt là bởi người Việt không cần sáng tạo ra từ khác thay thế, để chỉ các trình độ phát triển cao hơn của xứ sở mình, nó đã có sẵn và rất tiện dụng ở tiếng Hán Việt rồi. Chẳng hạn: “Nam quốc sơn hà nam đế cư.”

————————————————————————

[1] Hương và đốt hương cúng bái tế tự tồn tại từ rất xa xưa trong mọi nền văn minh lớn, là hình ảnh thu nhỏ của đống lửa khi nhân loại hoang dại còn sùng bái lửa. Có lẽ tục đốt trầm ở Trung Quốc tiếp thu từ các bộ tộc Ai Lao.

[2] http://www.kaogu.cn/en/backup_new/Academic/2013/1026/41367.html

Trương Thái Du

Trích từ sách: KHẢO CHỨNG TIỀN SỬ VIỆT NAM bằng CỔ THƯ và THIÊN VĂN HỌC

Lịch sử thực dân các bộ tộc Ai Lao của nhà Hán

2 Comments

Trích Hậu Hán Thư

Người dịch: Trương Thái Du

phothisach

Người Di Ai Lao, tổ tiên là một nữ nhân tên Sa Nhất, sống ở vùng núi Lao. Nàng thường đánh bắt cá trong suối, ngày nọ chạm vào một gốc cây trầm hương bỗng động lòng, nhân đó mang thai, mười tháng sau sinh được mười con trai. Sau đó cây trầm kia biến thành con rồng, bay khỏi dòng suối. Sa Nhất chợt nghe tiếng rồng nói: “Nàng vì ta mà sanh hạ con cái, hiện chúng ở đâu rồi?” Chín đứa con thấy rồng sợ hãi chạy mất, chỉ đứa nhỏ nhất thì không, nó ngồi (tọa) lên vai rồng (long bối), rồng nhân đó dùng lưỡi liếm con mình. Người mẹ vốn nói ngôn ngữ của loài chim, gọi “bối” là “cửu”, “tọa” là “long” do đó gọi tên con là Cửu Long (ngồi trên vai). Sau này trưởng thành, các anh trai thấy Cửu Long tài giỏi thông tuệ bởi đã được cha rồng liếm vào người, bèn cùng nhau nhường cho ngôi vương. Dưới núi Lao có một đôi vợ chồng, lại sinh mười người con gái, anh em nhà Cửu Long cùng cưới làm vợ, sau dần dần sinh sôi nảy nở đông đúc. Tộc người này có tục xăm mình, thể hiện hình tượng con rồng, quần áo cũng đính đuôi rồng. Con của Cửu Long, đời đời tiếp nối. Bèn phân đặt tiểu vương, cấp cho làng ấp sinh sống, phân tán ra nhiều nhánh suối thung lũng. Ai Lao là vùng đất hoang sơ tận cùng phía ngoài, sông núi thâm sâu cách trở, ít người lai vãng, chưa từng thông giao với Trung Quốc.

Năm Kiến vũ thứ hai mươi ba (năm 47), Ai Lao vương Hiền Lật khiển binh cưỡi bè kết bằng gỗ và trúc xuôi xuống phía nam trên sông Trường Giang và sông Hán, đánh vào biên giới bộ tộc Lộc Kỵ người Di. Người Lộc Kỵ yếu nhược, vì thế bị bắt giữ. Bỗng nhiên sấm chớp mưa giông dữ dội, gió nam cuốn thổi, sông ngòi đảo dòng, hơn hai trăm dặm Trường Giang nổi sóng cồn, bè mảng chìm hết, người Ai Lao chết đuối mấy ngàn mạng. Hiền Lật lại sai sáu vương gia cùng cả vạn quân đánh Lộc Kỵ một lần nữa, Lộc Kỵ vương nghênh chiến, giết được sáu vị vương. Các già làng Ai Lao mai táng sáu vị vương này, nhưng đêm đến hổ xuất hiện ăn hết tử thi, mọi người hoảng sợ dẫn quân về nước. Hiền Lật kinh hoàng, gọi các kỳ lão đến nói: “Bọn ta xâm nhập biên giới, từ xưa đến nay mới có chuyện ấy, nay đánh Lộc Kỵ, lần nào cũng bị trời phạt, Trung Quốc có thánh đế chăng? Trời giúp như thế, nay đã rõ rồi.” Năm thứ hai mươi bảy (năm 51), bọn Hiền Lật bèn đem 2.770 hộ, 11.659 khẩu đến yết kiến đầu hàng thái thú Việt Tây là Trịnh Hồng, xin nội thuộc. Hán Quang vũ phong Hiền Lật làm quân trưởng, từ đó hằng năm vào triều cống.

Hiển tông, năm Vĩnh bình thứ mười hai (năm 70), Ai Lao vương Liễu Mạo sai con đem dân chúng nội thuộc, có tất cả 77 ấp vương, 51.890 hộ, 553.711 khẩu. Trung Quốc giờ đây từ miền tây nam đến Lạc Dương rộng bảy ngàn dặm, thời Hiển tông trí đặt hai huyện Ai Lao và Bác Nam, phân đô úy tây bộ quận Ích Châu lĩnh quản sáu huyện, nhập vào quận Vĩnh Xương. Đường thủy thông đến núi Bác Nam, qua sông Lan Thương (đầu nguồn sông Mekong ngày nay), đi lại rất cực khổ. Có bài hát viết rằng: “Đức nhà Hán bao la, khai mở quốc gia đến cả những kẻ không thần phục. Trải đến tận núi Bác Nam, bến Việt Lan. Qua dòng Lan Thương, mới là đất của người khác.”

Người Ai Lao đều xuyên mũi và căng tai, thủ lĩnh tự xưng là vương, thùy tai rũ xuống ba thốn (~10cm), dân thường thùy tai dài chấm vai. Đất đai màu mỡ tươi đẹp, thích hợp với ngũ cốc, trồng dâu nuôi tằm. Họ biết nhuộm vải thêu hoa, biết dùng lông thú làm len cũng như dệt vải từ cây bông, từ đó tạo thành sợi “lan can” và vải gai nhuyễn mịn, dệt nên loại gấm lụa có hoa văn. Xứ này có cây hoa ngô đồng, xe đánh và dệt thành vải, khổ năm thước, trắng ngần không một vết ố bẩn. Trước đây dùng vải này khâm liệm người chết, tuy nhiên về sau cũng dùng may y phục. Ở đây có loại tre đốt dài một trượng, gọi là bộc trúc. Có mỏ quặng sản xuất đồng, sắt, chì, thiếc, vàng, bạc, đá dạ quang, hổ phách, thủy tinh, ngọc lưu li, con trai, con sò, chim công, bích ngọc, tê giác, voi, khỉ vượn, mạch thú (gấu trúc?). Ở huyện Vân Nam có con nai thần hai đầu, ăn được cỏ độc.

Đầu tiên, tây bộ đô úy người Quảng Hán là Trịnh Thuần thực hành chính trị thanh khiết, triển khai giáo hóa người Di, các tù trưởng cảm mến, đều hiến tặng của ngon vật lạ trong xứ, ca tụng công đức. Nhà vua khen ngợi, liền phong chức thái thú Vĩnh Xương. Trịnh Thuần cùng người Ai Lao thỏa thuận, trưởng làng mỗi năm thu mỗi đầu người hai súc vải, một hộc muối, đây là thuế định kỳ, đã trở thành thông tục và làm hài lòng Di dân. Trịnh Thuần đảm nhận chức đô úy và thái thú được mười năm thì mất. Năm Kiến sơ thứ nhất (năm 76), Ai Lao vương Loại Lao tranh chấp dữ dội với quan huyện, rồi giết quan huyện làm phản, đánh Đường Thành ở Việt Tây. Thái thú Vương Tầm chạy trốn đến Điệp Du. Hơn ba ngàn người Ai Lao đánh phá Bác Nam, đốt phá nhà cửa của dân chúng. Túc tông chiêu mộ và phát binh Việt Tây, Ích Châu, Vĩnh Xương gồm cả người Hán và người Di được 9000 quân đi thảo phạt. Mùa xuân năm sau, người Di Côn Minh là bọn Lỗ Thừa ở huyện Tà Long hưởng ứng, đem người theo quân lính các quận tấn công Loại Lao tại Bác Nam, đại phá và giết được. Đầu Loại Lao được chuyển về Lạc Dương báo công, vua thưởng Lỗ Thừa một vạn xấp vải, tấn phong làm Phá lỗ bàng ấp hầu.

NAM MAN TÂY NAM DI LIỆT TRUYỆN (Phần 2)

8 Comments

Người dịch: Trương Thái Du

Nguồn 南蠻西南夷列傳

ohuren

Thời Hán Quang vũ trung hưng (sau năm 25 AD), người Man Di ở Vũ Lăng đặc biệt cường thịnh. Năm Kiến Vũ thứ 23 (48 AD), Tinh Phu (cứ soái) cùng với bọn Đan Trình đánh và chiếm cứ cửa ải hiểm trở, cướp bóc quận huyện. Quang Vũ sai Uy vũ tướng quân Lưu Thượng phát binh Nam quận, Trường Sa, Vũ Lăng hơn vạn người, dùng thuyền đi ngược sông Nguyên xâm nhập Vũ Khê công kích. Lưu Thượng khinh địch đi vào hiểm địa, núi non thâm u, thác gềnh nước réo, thuyền không thể ngược dòng. Người Man biết Thượng từ xa đến, lương thảo ít, lại không rõ đường ngang ngõ tắt, bèn tụ tập binh lực trấn giữ yếu địa. Lưu Thượng hết cái ăn, phải lui quân, người Man men theo đường lớn hẻm nhỏ tập kích, tiêu diệt Hán quân. Năm thứ 24 (49 AD), đánh bọn Đan Trình rồi đi xuống công phá Lâm Nguyên, sai Yết giả Lý Tung và Trung Sơn thái thú Mã Thành tập kích, nhưng không thể thắng. Mùa xuân năm sau, sai Phục ba tướng quân Mã Viện và bọn Trung lang tướng Lưu Khuông, Mã Vũ, Tôn Vĩnh dẫn quân đến Lâm Nguyên, đánh phá được quân Man. Bọn Đan Trình nguy khốn xin hàng, đúng dịp Mã Viện ngã bệnh rồi chết, Yết giả Tông Quân tiếp nhận sự đầu phục. Nhà Hán thiết trí quan lại cai trị, nhóm Man Di ở đây được bình định.

Thời Túc tông, năm Kiến sơ thứ nhất (76 AD), bọn người Man là Trần Tòng tại sông Lễ quận Vũ Lăng làm phản, tiến vào địa giới người Man tại Linh Dương. Mùa đông cùng năm, Tinh Phu (cừ soái) Linh Dương, người Man tộc Ngũ Lý, trước đã thuận Hán thiết lập thành quận, đánh tan được Tòng, bọn Tòng đều đầu hàng. Mùa đông năm Kiến nguyên thứ ba (78 AD), người Man ở sông Lâu, bọn Đàm Nhi Kiện lại nổi loạn, tấn công đốt phá địa giới Linh Dương, Tác Đường, Sàn Lăng. Mùa xuân năm sau, phát binh bảy quận Kinh Châu cùng với Nhữ Nam, Dĩnh Xuyên, thêm vào những kẻ phạm tội cùng sĩ lại được hơn năm ngàn người, phòng thủ tại Linh Dương, tuyển mộ bổ xung bốn ngàn người trong quân không làm phản của Tinh Phu tộc Ngũ Lý, đánh giặc nơi sông Lễ. Mùa xuân năm thứ năm (80 AD), bọn Đàm Nhi Kiện xin hàng nhưng không được chấp nhận. Người các quận tiến binh giao chiến tại Hoành Hạ, đại phá giặc, chém được đầu Nhi Kiện, tàn quân Man bỏ chạy về lại sông Lâu, một lần nữa sai người đến xin hàng, bèn chấp nhận. Từ ấy bãi đồn binh Vũ Lăng, ban thưởng mọi người.

Thời Hòa đế, mùa đông năm Vĩnh nguyên thứ tư ( 92 AD), bọn người Man Đàm Nhung ở vùng sông Lâu sông Lễ làm phản, đốt phá nhà trạm, cướp giết quan lại và dân thường, quận binh đánh dẹp phải hàng. Thời An đế năm Nguyên sơ thứ hai (năm 115), người Man ở sông Lễ nại sưu dịch và mức thuế của quận huyện không bình đẳng, cho nên mang oán hận, bèn tụ tập thu nạp trong các giống Man hơn hai ngàn người, tấn công thành trì giết trưởng lại. Châu quận mộ quân người Man Ngũ Lý và Lục Đình truy kích phá được, tất cả đều đầu hàng. Triều đình ân thưởng thủ lĩnh Ngũ Lý và Lục Đình vàng bạc không bằng nhau. Mùa thu năm sau, bốn ngàn người Man sông Lâu sông Lễ cùng lúc nổi dậy. Lại có bọn Dương Tôn, Trần Thang hơn ngàn người Man Linh Lăng chít lụa đỏ trên đầu, tự xưng tướng quân, đốt phá quan dinh, cướp bóc trăm họ. Châu quận tuyển mộ người Man lương thiện, trừ được.

Đời Thuận đế, năm Vĩnh hòa thứ nhất (năm 136), thái thú Vũ Lăng gửi thư lên hoàng đế, nói rằng người Man Di đã qui phục, có thể xem như ngang với người Hán, phải tăng tô thuế. Triều đình thảo luận đều cho rằng khả thi. Thượng thư lệnh Ngu Hủ đọc bản tấu viết: “Từ xưa các thánh vương không cho người dị tục làm thần dân, bởi không dùng đức thì không gần họ được, uy vũ không thể khuất phục họ, biết rõ cái tâm hoang dã tham lam của họ, rất khó dùng lễ. Xưa tuy đã lung lạc yên phủ, dùng khuôn phép phù hợp truyền thụ để họ không chống đối, khi họ không noi theo cũng không truy cứu. Phép cũ của tiên đế, nộp thuế ít hay nhiều, cứ thế nương theo thì sẽ được bền lâu. Nay tăng lên nhiều, tất có oán phản. Đắc kế là vậy, nếu không dùng, sau này sẽ hối tiếc.” Nhà vua không nghe. Mùa đông năm ấy, quả nhiên người Man ở sông Lễ sông Lâu tranh cãi việc cống nạp vải gai không như lệ cũ, cuối cùng giết hương lại, tập hợp người làm phản. Mùa xuân năm sau hai vạn người Man vây kín thành, tám trăm người cướp bóc trên đường. Vua sai Vũ Lăng thái thú Lý Tiến đánh dẹp, chém mấy trăm thủ cấp, số còn lại đầu hàng. Tiến bèn tuyển chọn quan lại thanh liêm, được lòng người Man. Lý Tiến làm việc tại quận ấy chín năm, đến khi Lương thái hậu trông coi triều chính, hạ chiếu tăng bổng lộc hai ngàn thạch, cấp hai vạn tiền. Đến thời Hoàn đế, mùa thu năm Nguyên gia thứ nhất (năm 151), người Man ở Vũ Lăng là bọn Chiêm Sơn hơn bốn ngàn người nổi loạn, bắt nhốt huyện lệnh, trấn thủ trong núi sâu. Đến năm Vĩnh hưng thứ nhất (năm 153), thái thú Ứng Phụng dùng ân tín chiêu dụ, tất cả mới đầu hàng và giải tán.

Tháng 11 năm Vĩnh thọ thứ ba (năm 157), người Man ở Trường Sa nổi loạn, chiếm đóng Ích Dương. Đến mùa thu năm Diên hi thứ ba (năm 160), tiến đến cướp đoạt trong quận, đông hơn vạn người, sát thương trưởng lại. Lại thêm người Man ở Linh Lăng vào Trường Sa. Đến mùa đông, người Man ở Vũ Lăng hơn sáu trăm mạng cướp bóc ở Giang Lăng, thứ sử Kinh Châu Lưu Độ, Yết giả Mã Mục và thái thú Nam quận Lý Túc đều bỏ chạy. Quan chủ bộ của Lý Túc là Hồ Sảng giữ cương ngựa can gián: “Man Di thấy quận không phòng bị, cho nên dám thừa cơ tiến đánh. Ông là đại thần quốc gia, thành quách liên tục hàng ngàn dặm, giương cờ đánh trống, mười vạn người đáp lại, sao nỡ vứt đi trọng trách thái thú được giao, ông chấp nhận làm kẻ bỏ chạy được ư?” Túc rút đao chỉ vào Sảng nói: “Phó quan nên chạy gấp đi. Thái thú ta vội lắm, chẳng rỗi mà suy tính đâu.” Sảng ôm ngựa cố can ngăn, Túc bèn giết Sảng rồi đào tẩu. Vua nghe việc này, triệu Lý Túc đến tước bỏ quan chức, cùng Lưu Độ và Mã Mục xử tử cả bọn, miễn trừ tô thuế sưu dịch cho gia đình Hồ Sảng, phong một người trong họ làm quan. Sau đó lấy Hữu hiệu lệnh Độ Thượng làm thứ sử Kinh Châu thảo phạt giặc Trường Sa, bình định người Man. Lại sai Xa kỵ tướng quân Phùng Cổn, đánh Man Di Vũ Lăng, tất cả đều đầu hàng giải tán. Sau khi quân Hán rút về, giặc trở lại đánh cướp Quế Dương, thái thú Liệu Tích trốn chạy. Người Man ở Vũ Lăng lại tiếp tục phá quận ấy, thái thú Trần Phụng dẫn quan quân dẹp được, chém hơn ba trăm thủ cấp, hơn hai ngàn kẻ đầu hàng. Đến đời Linh Đế, năm Trung bình thứ ba (năm 186), người Man Vũ Lăng lại nổi dậy, cướp phá trong quận, châu quận đánh dẹp được.

Sách Lễ Ký viết: “Phương nam gọi là Man, người Giao Chỉ thích chữ lên trán[1].” Trong tập tục ở nơi ấy, nam và nữ có thể cùng tắm trên một dòng sông, người xưa gọi là xứ Giao Chỉ. Tây (Giao Chỉ) có nước Đạm Nhân, người ở đó khi sinh được đứa con đầu lòng liền làm thịt mà ăn, cho là chỉ nên giữ nuôi từ đứa con thứ hai. Có món ngon của lạ, phép tắc nơi ấy là phải đem biếu tù trưởng, nếu tù trưởng vui lòng sẽ hậu thưởng cha mẹ kẻ hiến tặng. Chọn được vợ đẹp, phải nhường lại cho anh ruột. Đấy là người Ô Hử ngày nay vậy.

Phía nam Giao Chỉ có nước Việt Thường. Năm nhiếp chính thứ sáu của Chu Công (khoảng 1.018 BC), đặt ra lễ, sáng tác nhạc, thiên hạ thái bình, Việt Thường qua ba lần dịch thuật đến hiến bạch trĩ, nói rằng: “Đường xá xa xôi, sông núi cách ngăn, không hiểu lời sứ giả, cho nên chúng tôi phải dùng nhiều lần phiên dịch đến triều kiến.” Thành vương nhìn sang Chu Công. Chu Công nói: “Nếu không tích đức, người quân tử có được hưởng phước lộc như thế này không? Luật pháp không thực thi, người quân tử có được những kẻ ở xa đến xưng thần không? Tôi đồng ý nhận lễ vật này.” Sứ giả kính cẩn trả lời: “Tôi thụ mệnh chuyển lời của già làng nước mình: Bao lâu nay, trời không giáng sấm chớp bão tố, ý rằng ở Trung Quốc có thánh nhân chăng? Sao không đến đó mà chầu kiến?” Chu Công bèn quay qua Thành vương, ca tụng tiên vương có thần trí, rồi đem đồ cống dâng cúng tông miếu. Sau này đức nhà Chu suy, Việt Thường không còn đến nữa.

Đến thời Sở xưng bá, họ triều cống thay cho Bách Việt. Nhà Tần thống nhất thiên hạ, dùng sức mạnh khuất phục Man Di, đầu tiên khai mở vùng đất phía ngoài Ngũ Lĩnh, đặt các quận Nam Hải, Quế Lâm và Tượng. Khi Hán hưng, quan Úy tên Đà tự lập làm Nam Việt vương, truyền được năm đời. Đến thời Vũ đế, năm Nguyên đỉnh thứ năm (112 BC), diệt Nam Việt phân làm chín quận, đặt thứ sử trông coi (Giao Chỉ bộ gồm 9 quận). Châu Nhai và Đam Nhĩ là hai quận ngoài hải đảo, đông tây rộng ngàn dặm, nam bắc khoảng 500 dặm. Thủ lĩnh người Man cho rằng tai dài là cao quý, người ở đấy đều dùng ngoại vật xuyên qua tai, để căng dài thùy tai rủ xuống ba thốn (khoảng 10cm). Cuối thời Vũ đế, Châu Nhai thái thú người Cối Kê tên là Tôn Hạnh áp sưu thuế rất cao, người Man không chịu nổi, bèn nổi lên chiếm quận giết Hạnh. Con Hạnh là Tôn Báo tập hợp những kẻ thân thiết giành lại quận phủ, tự lãnh việc trong quận, truy kích các dư đảng người Man, liên tục mấy năm mới bình định được. Tôn Báo sai sứ giả gói gém ấn thụ của cha đem về triều đình cùng với thư tâu trình công trạng, vua liền ra chiếu chỉ phong Báo làm thái thú Châu Nhai. Từ đó uy quyền danh chính thực thi, mỗi năm đều hiến cống. Người Trung Quốc tham châu ngọc quý báu ở đây, cứ dần dần lấn ép hà hiếp bóc lột dân Man, cho nên vài năm người Châu Nhai lại nổi dậy một lần. Thời Nguyên đế, năm Sơ nguyên thứ ba (46 BC), bãi bỏ quận này. Đại khái lập quận và trấn đóng được 65 năm.

Tới thời Vương Mãng phụ chánh, năm Nguyên thủy thứ hai (năm 2 sau Công nguyên), có nước Hoàng Chi phía nam Nhật Nam đến hiến cống tê giác. Nói chung đất Giao Chỉ đã được thống thuộc, tuy đặt thành quận huyện, nhưng ngôn ngữ của họ khác biệt, phải qua phiên dịch mới hiểu được. Con người hoang dã, già trẻ không phân biệt. Họ búi tóc ra sau gáy, đi chân đất, phục sức  bằng vải gai quấn quanh đầu. Sau này tội nhân Trung Quốc bị đày xuống đây, hỗn cư hòa trộn, dần dần người quận Giao Chỉ hiểu được tiếng Hán, và từ từ được lễ hóa.

Đến Quang vũ đế trung hưng (sau năm 25), Tích Quang được cử làm thái thú quận Giao Chỉ, Nhâm Diên làm thái thú Cửu Chân, hướng dẫn người hai quận ấy canh nông trồng cấy, đội nón mang giày dép, bắt đầu sắp đặt nghi thức mai mối, họ mới biết áp dụng phong tục hôn nhân theo kiểu người Hán, lại xây trường học, dạy dỗ lễ nghĩa và đạo lý.

Năm Kiến vũ thứ 12 (năm 36), người Man Lý tên Trương Du ở ngoài Cửu Chân, hâm mộ nhà Hán, mang dân chúng xin nội thuộc, được phong Quy Hán Lý quân. Năm sau người Man Di ngoài cõi Nam Việt cũ cống bạch trĩ và thỏ trắng. Đến năm thứ 16 (năm 40), người đàn bà quận Giao Chỉ tên Trưng Trắc cùng em gái Trưng Nhị nổi dậy, đánh chiếm quận phủ. Trưng Trắc là con gái Lạc tướng huyện Mi Linh. Bà là vợ ông Thi người huyện Chu Cấu, rất tài giỏi và đảm lược. Thái thú quận Giao Chỉ là Tô Định dùng pháp luật trói buộc, Trưng Trắc nổi giận, do đó phản kháng. Lúc ấy người Man Lý ở Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố đều hưởng ứng, đại khái chiếm được 65 thành ấp, tự lập vương quyền. Thứ sử Giao Chỉ bộ (gồm chín quận) và các thái thú gần đó đành tự thủ thân. Quang vũ đế bèn ra chiếu chỉ cho Trường Sa, Hợp Phố và các quận khác trong Giao Chỉ bộ sửa soạn xe và thuyền, tu sửa cầu đường, thông khe lạch cản trở, tích trữ lương thảo. Năm thứ mười tám (năm 42), sai Phục ba tướng quân Mã Viện cùng Lâu thuyền tướng quân Đoàn Chí, lấy hơn một vạn người ở Trường Sa, Quế Dương, Linh Lăng, Thương Ngô đi đánh dẹp. Tháng tư mùa Hạ năm 43, Viện đánh bại quận vương Giao Chỉ, chém đầu nữ vương Trưng Trắc và Trưng Nhị, số còn lại hàng phục và giải tán. Sau đó lại tiến đánh tướng Đô Dương ở Cửu Chân, cũng khuất phục được. Bắt dời hơn ba trăm thủ lĩnh và tù trưởng (cừ soái) đến Linh Lăng (Hồ Nam). Ngoài cõi Ngũ Lĩnh lại bình yên.

Thời Túc tông, năm Nguyên hòa thứ nhất (năm 84), Man Di phía ngoài Nhật Nam, thổ hào nước Cứu Bất Sự Nhân tặng tê giác còn sống, bạch trĩ. Thời Hòa đế, mùa hạ tháng tư năm Vĩnh nguyên thứ mười hai (năm 101), Man Di ở Nhật Nam và Tượng Lâm hơn hai ngàn người cướp bóc trăm họ, đốt phá quan phủ, quận huyện phát binh thảo phạt, chém được thủ lĩnh, số còn lại đầu hàng. Do đó trí đặt tại Tượng Lâm quan Trưởng sử trông coi quân binh, đề phòng tai họa. Thời An đế năm Vĩnh sơ thứ nhất (năm 107), người Man Dạ Lang phía ngoài Cửu Chân lấy đất xin nội thuộc, mở rộng thêm biên giới 840 dặm. Năm Nguyên sơ thứ hai (năm 115), Man Di ở Thương Ngô lại làm phản, năm sau chiêu dụ được Uất Lâm, Hợp Phố, vừa Man vừa Hán mấy ngàn người đánh quận Thương Ngô. Đặng thái hậu sai Thị ngự sử Nhậm Trác phụng chiếu ân xá, giặc đều đầu hàng và tan rã. Năm Diên quang thứ nhất (năm 122), phía ngoài Cửu Chân triều cống và xin nội thuộc. Đến Thuận đế năm Vĩnh kiến thứ sáu (năm 132), bên ngoài Nhật Nam Diệp Điều vương nhân tiện sai sứ giả đến tiến cống, hoàng đế ban cho Điều ấn vàng dây thao tía.

——————

[1] Xin lưu ý bạn đọc chúng tôi dịch “Điêu đề Giao Chỉ” là “Người Giao Chỉ thích chữ lên trán”, khác với các sách vở cũ.

 

TOTEM CHÓ?

8 Comments

NAM MAN TÂY NAM DI LIỆT TRUYỆN (Phần 1)

Người dịch: Trương Thái Du

南蠻西南夷列傳

Ngày xưa nước Cao Tân gặp nạn Khuyển Nhung, nhà vua lo lắng vì bị giặc tàn bạo xâm lấn, không chống đỡ nổi. Vua bèn hỏi khắp thiên hạ ai có thể làm tướng đánh Khuyển Nhung, lấy được đầu Ngô tướng quân của địch, sẽ thưởng vàng ngàn lạng, phong ấp vạn nhà, lại gả thêm công chúa làm vợ. Khi ấy vua đang nuôi một con chó lông năm màu, tên gọi là Bàn Hồ. Sau khi vương lệnh ban ra, Bàn Hồ liền ngoạm đầu tướng địch đặt trước cửa cung điện. Quần thần kinh ngạc xem xét, quả đúng là thủ cấp Ngô tướng quân. Vua rất vui mừng nhưng thấy không thể để Bàn Hồ làm phò mã, cũng như không thể phong tước hàm, muốn cân nhắc thông báo cho Bàn Hồ điều này là không thích hợp với đạo lý. Công chúa nghe tin, cho rằng một khi hoàng thượng đã ban lệnh ước, không thể không giữ chữ tín, bèn yêu cầu vua cha thực hiện lời hứa. Bất đắc dĩ, vua phải gả công chúa cho Bàn Hồ. Bàn Hồ cưới được vợ, bèn cõng công chúa đi về vùng núi phía nam, vào hang đá sinh sống. Xứ sở ấy thâm sâu hiểm trở, không có dấu vết con người. Do vậy công chúa bỏ hết quần áo, búi tóc kiểu nô bộc hèn hạ, mặc trang phục áo liền quần giản đơn. Vua buồn thương nghĩ ngợi, sai sứ giả đi tìm, lần nào cũng vậy, gặp mưa gió sấm chớp tăm tối, sứ giả không tiến vào được. Sau ba năm công chúa sinh được mười hai người con, sáu nam sáu nữ. Sau khi Bàn Hồ chết, những người con này lấy nhau. Họ tước vỏ cây, nhuộm màu bằng các loại quả và hạt, rồi kết thành quần áo ngũ sắc, khi cắt may lúc nào cũng đính hình dạng một cái đuôi đằng sau. Đến khi công chúa qua đời, những người con kia về báo tin cho vua, ngài sai người tiếp đón. Quần áo đám cháu ngoại vua sặc sỡ, ngôn ngữ liến thoắn rời rạc, họ thích sống ở hang hốc trong núi cao, không ưa chốn đất bằng rộng rãi. Vua chiều lòng họ, ban cho danh tính là Sơn, Quảng và Trạch. Sau này nhóm người ấy sinh sôi lan tỏa, xưng là Man Di. Người Man Di vẻ ngoài khờ khạo, bên trong thông tuệ, đã trở về sinh sống dưới mặt đất, nhưng trọng cựu khinh tân. Vì công tích của tổ tiên Bàn Hồ, và có dòng máu công chúa, người Man Di cày cấy buôn bán, không cần phù tín ra vào cửa quan ải, không phải nộp tô thuế cho nhà nước. Họ có làng xóm và quân trưởng, quân trưởng đều được phát ấn thụ (ấn buộc dây thao đeo cổ), đội mũ làm bằng da rái cá. Thủ lĩnh (cừ soái) Man Di xưng là Tinh Phu, gọi người dưới là Ương Đồ. Hai quận Trường Sa và Vũ Lăng hiện nay (Đông Hán) là đất Man Di vậy.

Thời Đường Ngu, vua Nghiêu vua Thuấn cùng người Man Di lập minh ước, (sách) xưa viết là yêu cầu phục tùng. Đến nhà Hạ, nhà Thương, họ dần dần trở thành tai họa nơi biên giới. Qua triều Chu, bọn ấy càng thêm cường thịnh. Lúc Tuyên vương trung hưng (827 BC – 782 BC), bèn ra lệnh Phương Thúc nam phạt Man Di, nên có thơ rằng “Uy quyền đến tận xứ Man Kinh”. Thơ còn viết “Bọn Man Kinh ngu ngốc ấy, là kẻ thù của nhà Chu”. Người ta cho rằng Man Di phồn thịnh, là nhờ dám chống lại người Hoa Hạ.

Đến khi Bình vương đời đô sang phía đông, lập triều Đông Chu (771 BC), người Man lại đánh phá ác liệt. Quan phụ chánh Tấn Văn Hầu bèn mang theo Thái Cộng Hầu triệt được giặc. Qua thời Sở Vũ vương (740 BC – 690 BC), người Man và người La Tử hợp sức đánh bại quân Sở, giết được tướng Khuất Hà. Lúc Trang vương (613BC – 591 BC) mới lên ngôi, dân đói quân yếu, lại bị người Man cướp phá. Sau khi quân Sở chấn chỉnh cường thịnh, người Man bèn thuận phục, tự giác xin nhập vào nước Sở. Trong trận Yên Lăng (575 BC), người Man cùng Sở Cung vương hợp binh đánh Tấn (tranh bá Trung Nguyên). Lúc Ngô Khởi (440 BC – 381 BC) làm tể tướng cho Sở Điệu vương, phía nam thâu tóm Man Việt, chiếm cứ Động Đình hồ và Thương Ngô. Tần Chiêu vương sai Bạch Khởi đánh Sở, chiếm lấy Man Di, đầu tiên đặt quận Kiềm Trung (276 BC). Nhà Hán lên, đổi Kiềm Trung thành Vũ Lăng. Hằng năm thu thuế người lớn bốn trượng, trẻ em hai trượng vải bố (vải gai), cho nên gọi người ở đấy là Tung Bố. Tuy thời ấy, người Man Di vẫn thường cướp bóc, nhưng không đủ mạnh để trở thành quận nạn hay quốc nạn.

—————————————————————

NHẬN XÉT:

Nội dung chuyện cổ tích Bàn Hồ có thể có rất ít sự thật, nhưng khá thú vị: Người Kinh Man, người Sở từng thờ totem chó?

59_big

Giữa lòng Hà Nội có đền Cẩu Nhi, di tích gắn liền với chuyện chó báo ứng Lý Công Uẩn sẽ làm vua và dời đô về Thăng Long. Nó có liên quan đến totem chó hay không?

Truyền thuyết Âu cơ và Lạc long quân có thể là cải biên từ truyền thuyết Bàn Hồ, cha chó mẹ công chúa được các sử gia đổi thành cha rồng mẹ tiên? Động Đình hồ bị Sở chiếm trước năm 381 BC.

Nhà Nguyễn đã từng lấy họ Sơn ép buộc một số nhóm Khmer sử dụng. Đây là ngầm ý khinh thị, coi người Khmer là Man Di?

Còn rất nhiều chi tiết phục vụ nghiên cứu lịch sử nữa, nhưng xin tạm dừng entry này ở đây. Xin đón đọc: “Khảo chứng tiền sử Việt Nam bằng thiên văn và cổ thư Trung Hoa”

BỐN NGÀN NĂM LỊCH SỬ – PHIÊN BẢN LÊ VĂN TÁM ĐỜI ĐẦU?

1 Comment

Kể từ dòng đầu tiên, trang đầu tiên của An Nam Chí Lược, quyển sử Việt Nam xa xưa nhất còn lưu giữ được đến ngày nay, sử gia Lê Tắc đã mắc phải một sai lầm nghiêm trọng: Cho rằng quận Giao Chỉ đồng nghĩa với khái niệm Giao Chỉ suốt lịch sử Trung Hoa từ thời vị ngũ đế thứ hai là Chuyên Húc (khoảng 2.500 BC).

firstpage

Các nghiên cứu khảo cổ hiện đại ở Trung Quốc hầu như đã thống nhất rằng vào hậu kỳ đồ đá muộn cách đây khoảng 4.000 – 4.500 năm, hình thái thành quốc đa trung tâm mới bắt đầu phát triển và không ngừng cạnh tranh với nhau dọc hai bờ trung lưu Hoàng Hà. Diện tích thành quốc tại di chỉ Đào Tự (2.100 BC) chỉ khoảng 280ha. Đến thời nhà Thương, triều đại chính thức, có khảo cổ xác thực, có 4.500 chữ giáp cốt và một ít kim văn để khảo chứng, niên đại xa nhất là 1.600 BC. Không có bất cứ căn cứ nào cho thấy lãnh thổ Thương – Ân đã vượt qua Trường giang. Nhà Chu tiếp nối sau đó phát triển trên hình thức phong kiến phân quyền, qui mô vượt qua kiểu thành bang (city-state), nó đã tổng hòa mọi trung tâm văn minh nội tại, để cho ra một nền văn minh mới.

Do đó xác định quận Giao Chỉ thời Tây Hán là cực nam cố định của đế quốc Trung Hoa suốt 2000 năm từ Chuyên Húc đến Tây Hán là hết sức vô lý. Chúng tôi hoàn toàn thông cảm với những sử gia ở đầu thiên niên kỷ thứ hai, chứ không thể hình dung nổi ở thế kỷ 20 và 21 mà rất nhiều sử liệu Việt Nam vẫn không chịu hiểu Giao Chỉ ban đầu chỉ là khái niệm.

Các triều đại huyền sử Thuấn – Vũ ghi trong Sử Ký tuy hơi phức tạp nhưng đại khái có thể ước lượng trước thời Tư Mã Thiên khoảng 1900 năm. Nói cách khác, hình như ở buổi ban đầu, lịch sử Việt Nam đã thụ động xác định khởi nguyên của nó từ lúc Thuấn – Vũ vỗ yên Giao Chỉ. Hậu quả là đến đầu thế kỷ 20, thuật ngữ 4.000 năm lịch sử đã ra đời.

Đây là một thuật ngữ rất trái khoáy, nó không dựa vào sự tự ý thức của chủ thể mà lại căn cứ trên ước định sai lầm rằng văn minh Trung Hoa đã biết họ, đã nói đến họ, đã ghi chép về họ, đã đến với họ từ buổi bình minh lịch sử của chính họ, trên mảnh đất tiền Việt Nam, cách đây khoảng 4.000 năm.

An Nam Chí Lược (1.335) định vị điểm xuất phát, tức là bộ xương, ngay sau đó Đại Việt Sử Lược (1.388) đã gia công da thịt, có lẽ bằng dã sử dân gian: “Đến đời Trang Vương nhà Chu (696 BC – 682 BC) ở bộ Gia Ninh có người lạ, dùng ảo thuật qui phục được các bộ lạc, tự xưng là Hùng Vương đóng đô ở Văn Lang, đặt quốc hiệu là Văn Lang, phong tục thuần lương chơn chất, chính sự dùng lối thắt gút.Truyền được 18 đời đều xưng là Hùng Vương”. Dấu mốc “Trang vương” không khớp với truyện cổ tích thánh Gióng đánh giặc Ân, do đó Đại Việt Sử Ký Toàn Thư ra đời sau Đại Việt Sử Lược đã biên tập lùi cuộc gặp gỡ “ngoại giao” đầu tiên giữa Hùng vương và Chu vương qua thiên niên kỷ thứ hai trước công nguyên: “Thời Thành vương nhà Chu (1.063 BC – 1.026 BC), nước Việt ta lần đầu sang thăm nhà Chu (không rõ vào đời Hùng Vương thứ mấy), xưng là Việt Thường thị, hiến chim trĩ trắng. Chu Công nói: “Chính lệnh không ban đến thì người quân tử không coi người ta là bề tôi của mình”, rồi sai làm xe chỉ nam đưa sứ giả về nước”.

Thao tác trên cộng với việc xác lập kỷ Hồng Bàng bắt đầu từ năm 2.879 BC, đã khiến cho 18 đời vua Hùng bỗng nhiên dài ra đến 2.622 năm, trước khi An Dương vương được cho là đã kết thúc triều đại các vua Hùng vào năm 258 BC. Bất chấp mọi quy luật sinh học, đây đó trên nước Việt Nam hiện nay vẫn khẳng định các vua Hùng sống rất thọ, hầu như bất tử, hoàn toàn phù hợp với sách Lã Thị Xuân Thu đã dẫn: Người Giao Chỉ bất tử!

moi-doi-vua-hung-tri-vi-200-nam-hay-20-nam

Đến đây đáng lẽ lịch sử Việt Nam phải sửa thành 4.879 năm hoặc làm tròn 5.000 năm, nhưng người ta vẫn trung thành với con số huyền bí 4.000 năm.

Thực ra Việt sử 4.000 năm đã từng lay động lòng người, đem đến niềm tự hào bất diệt cho nền văn hiến nước nam, nó dõng dạc bác bỏ mệnh đề đầu tiên của nền giáo dục Thực dân Pháp áp đặt lên nước Việt ở đầu thế kỷ 20: “Nos ancêtres sont des Gaulois”, nghĩa là “tổ tiên chúng ta là người Gaulois”[1]!

Gaulois

Ở góc độ nào đó, việc xây dựng “bốn ngàn năm Việt sử” tương tự như cách người ta tạo ra hình tượng Lê Văn Tám sau này. Các sử gia đã hư cấu niềm vinh quang tối cổ, để thôi thúc cả một dân tộc (có tỉ lệ mù chữ rất lớn, trình độ văn hóa nói chung khá thấp) cùng nhau ngẩng cao đầu đứng dậy, từ chối kiếp nô lệ ngoại bang. Sứ mệnh ấy đã hoàn thành rất lâu rồi, đã đến lúc sử học phải cân nhắc một chiều dài hợp lý hơn cho lịch sử Việt Nam.

Trên hoàn cầu, ngoài một số rất ít nền văn minh lớn đi trước, ở thời điểm Công nguyên, những quốc gia tương tự như Việt Nam không phải hiếm. Nước Anh chẳng hạn, trước khi bị đế quốc La Mã chiếm đóng toàn bộ, đặt thành quận huyện vào năm 43, họ không khác gì Việt Nam: có khoảng 20 bộ tộc chưa sáng tạo ra chữ viết, bị nhòm ngó từ năm 55 BC, một bộ tộc ngoại vi đã chấp nhận làm chư hầu cho Julius Caesar. Hai Bà Trưng của người Anh tên là Boudica, bà bị giết, cuộc nổi dậy của bà bị dập tắt khoảng năm 61. Người Anh không vướng bận với quá khứ nhiều lắm. Họ hướng về tương lai. Sau một vài thế kỷ là cường quốc đứng đầu thế giới, hết chiến tranh thế giới thứ hai, họ nhường lại vị thế ấy cho những người anh em ruột thịt cùng ngôn ngữ của mình ở Tân thế giới. Đi thăm những bảo tàng viện lịch sử tại Anh, bạn sẽ không bao giờ bắt gặp sự tự ti trong cách họ mô tả 2000 năm “văn hiến” của mình. Tiếng Anh từng bị La Mã cho là tầm thường, thấp kém, thô tục; ngày nay nó đang ở đâu thì ai cũng biết rồi.


(Trích sách: Khảo chứng tiền sử Việt Nam bằng thiên văn học cổ đại Trung Hoa)

[1] Xin xem bài báo “HAY! CỨ NHÈ PHÚ Ý NGƯỜI TA MÀ SỬA HOÀI!”, tác giả THÔNG REO. Báo Trung lập, Sài Gòn, s. 6721 (4. 5. 1932). Dẫn theo Lại Nguyên Ân.

Older Entries

Xuân Bình

Nhà báo tự do

Nguyễn Huy Hoàng

the star is fading

Nghiên cứu lịch sử

Các bài nghiên cứu, biên khảo và dịch thuật các chủ đề về lịch sử

Le Minh Khai's SEAsian History Blog

Always rethinking the Southeast Asian past

trinhythu

Trịnh Y Thư WordPress.com site

trandangtuan.com

Men lá rượu ngô trong

4th Avenue Café

Free non-fiction translation

WordPress.com

WordPress.com is the best place for your personal blog or business site.

Trương Thái Du's Blog

Văn chương thiên cổ sự - Đắc thất thốn tâm tri...

No More Goat Soup

No goats were harmed in any way while making this blog. (We did kill all the sheep though)