Bộ số Việt ngữ – Các công thức biến âm

Leave a comment

Số không

Năm 1954 tại Trường Sa – Hồ Nam (đất Việt cổ bị sáp nhập vào nước Sở năm 334 BC) khảo cổ đã đào được một ngôi mộ táng Chiến Quốc. Bất ngờ trong mộ có 40 thanh tre (ảnh 1) là công cụ tính toán hậu thân của 64 số Dịch.

1

2

Năm 1986 tại Thiên Thủy Cam Túc lại đào được bộ toán trù Chiến Quốc tương tự. Từ đây lịch sử sử dụng các thanh tre làm số trên một bàn tính chia ô (ảnh 2) đã được viết lại: Nó ít nhất phải có muộn nhất cách đây trên 2500 năm. Số zero trên bàn tính thể hiện bằng cách bỏ trống, chữ là Không 空 (trống, rỗng) đồng nghĩa với âm gọi quẻ Khôn 坤 trong Việt ngữ (khôn nguôi = không nguôi); Mân âm Phúc Châu của Khôn 坤 và Không 空 đều là [kʰouŋ44].

Số một và mười

Chữ Mỗi 每 xuất hiện từ giáp cốt văn. Dựa trên các ngữ cảnh người ta thấy nó có hai cách dùng/đọc Mẫu 母 và Hối 悔. Edwin Pulleyblank tái tạo âm trung đại Mỗi tương đồng với tiếng Khmer chỉ số 1 [mwəj]. Mân âm Kiến Âu [mo21] đọc ra gần như [một], khớp với cổ âm của Mỗi theo Baxter – Sagart là [*mˤəʔ]. Mân âm Phúc Châu [muoi32] có độ tương đồng rất lớn với [mười]. Đây chính là Một, Mười và Mươi trong Việt ngữ.

Do đó từ Mỗi Một ngày nay người Việt vẫn dùng là một từ đẳng lập kết hợp bởi hai âm Hán cổ đại và trung đại.

Số Một thời Thương Ân tượng hình 1 ngón tay hay thẻ tre nằm ngang, số mười chỉ đổi vị trí thành thẳng đứng. Giả thiết của chúng tôi là âm chỉ số 1 sẽ dùng thanh khác để chỉ số 10. Chẳng hạn Mốt. Khi Mốt trong tiếng Việt chuyển qua Mười, Một vẫn giữ nguyên.

Chữ Mỗi còn vô tình hé lộ thêm khả năng bộ số của bát quái dịch nữa. Thật vậy, từ sự tương đồng âm giữa quẻ Khôn và số Không ở trên, nhìn vào nhị phân quẻ Khôn cũng đồng thời là số Không. Quẻ Càn trong Chu Dịch là số 1, quẻ số 1, không khớp với vai trò nhị phân số 7 nhưng tên Hối của nó (Khổng truyện: Ngoại quái viết Hối) lại liên quan đến Mỗi như là quẻ đứng đầu, số một! Bát quái có 8 số, người Việt đang lưu giữ 2 số (không và một) trong ngôn ngữ của mình. Quả là điều rất lạ lùng.

Số bốn và số ba

Một bạn đọc facebook của chúng tôi đã gợi ý hệ từ nguyên châu Âu liên quan đến tính toán và bộ số: Calci (đá) -> Calcis (vôi) -> Calculus (tính toán). Digitus (ngón chân – ngón tay) -> Digitalis (số) -> Digit (số). Điều này chỉ ra rằng loài người cổ đại đã đếm bằng các ngón tay hoặc/và ngón chân của mình.

Chữ Hán Phù 扶 chỉ bốn ngón tay. Áp dụng quy luật biến âm B -> Ph thể hiện trong chuỗi [Bụt/Phật, Bún/Phở, Buồm/Phàm, Bụng/Phúc, Bay/Phi, Bất/Phi, Buồng/Phòng, Bơi/Phù 浮, Béo/Phì 肥…], có thể khẳng định cổ âm của Phù 扶 là Bốn.

Hơn nữa trong tiếng Tai Kadai, vẫn tồn tại âm chỉ số 4 bắt đầu bằng phụ âm Ph và P: [pa]/[pe]/[po]/[pu]/[pau] tại nhánh Kra (Ngật Ương); [fei5] tại nhánh Lakkja (Lạp Già) Quảng Tây.

Từ số bốn sẽ liền mạch đến số ba. Âm chỉ số 3 [ba] là cổ âm của chữ Phẩm 品. Chữ này (ảnh dưới) giáp cốt văn chỉ ba món tế cúng (Tam Sên 三 生 – Sên là âm Khách Gia của Sinh). Ngoài ra cũng có thể hiểu đây là ba cái mồm (khẩu), tức ba người, chỉ số nhiều, đông. Phẩm tiếp biến, khi sản xuất hay trồng trọt nhiều, đem bán, gọi là sản phẩm.

3 soba

Âm Phẩm chỉ số ba vẫn còn được lưu giữ trong tiếng Thái Tráng nhánh Lakkja (Lạp Già) Quảng Tây, ký âm IPA là [fa:m1], nhánh Hlai (Lê tộc – Hải Nam) [fu3]. Hơn nữa, tiếng Miêu Dao cũng dùng âm [pa] để chỉ số 3. Nó cho thấy cổ âm này không phải độc quyền của Việt ngữ.

Số năm

Số năm chỉ hiện ra là cổ âm của Ngũ 五 khi chúng tôi sử dụng quy luật biến âm [Nh/N <-> Ng/Ngh] liệt kê ở bảng dưới.

3 qlba

Số sáu và số chín

Số 6 và số 9 Việt ngữ chính là số 6 và số 9 trong 12 chi, tức Tỵ 巳 và Thân 申. Âm [sáu] và [chín] hiện vẫn còn lưu giữ trong Mân âm Phúc Châu [søy242] (sồi) hoặc Kiến Âu [su44] (sú) và âm Khách Gia [ɕiŋ23] (chỉng) hoặc âm Lê Xuyên Giang Tây [ɕin22] (chin). Hán âm cổ của Tỵ tái tạo bởi Baxter–Sagart là [*s-[ɢ]əʔ]. Hán âm trung đại của Thân được Pan Wuyun và Edwin Pulleyblank tái tạo gần khớp với âm Khách Gia [ɕin].

Số bảy

Người Trung Quốc cổ đại (cả Dương Tử và Hoàng Hà) thờ phụng rất trọn vẹn, cả thần tiên và ma quỷ. Họ tế trời vào tiết Đông Chí và dành hẳn tháng 7 cho quỷ vương.

 

Đạo Giáo hình thành cuối thời Chiến Quốc, phát triển mạnh mẽ vào thời Hán đã cho ra đời hình tượng Quỷ vương Phất Kiết 鬼王甶孑 (hình trên – trái). Việc họ tạo chữ Phất 甶 chính là căn cứ cho tôi xác định nguồn gốc số 7 ở Việt ngữ: Dấu thập ở giữa là số 7 giáp cốt văn (hình trên – phải), phía ngoài tượng trưng mặt con quỷ. Đường âm của chữ này là Phất. Dùng quan hệ b->ph sẽ xác định cổ Hán âm của Phất phải bắt đầu bằng phụ âm B. Ngoài ra chữ Thất 匹 đồng âm với số 7 có Mân âm Phúc Châu đọc là [pʰɛiʔ23], dẫn tới nguyên âm tiếp sau B là [ɛi], khớp hoàn toàn số Bảy trong tiếng Việt.

Nói cách khác trong 11 số tự nhiên từ 0 đến 10, đến nay tôi đã chỉ ra 9 số 0,1,3,4,5,6,7,9,10 có gốc Trung Nguyên tối cổ và nhiều khả năng chúng có lõi Austronesian.

***

Bonus: Quy luật biến âm [Gi -> Ch].

4 qlba

Xin lưu ý âm chỉ Month trong tiếng Việt là [tháng] cũng có nguồn gốc từ âm Thường (嫦). Chúng tôi thiên về khả năng Dương và Thường là ký âm trung gian, tức sự biến âm ở Việt ngữ và Hoa ngữ là tương đồng nhưng độc lập, từ cùng một âm lõi gốc Dương Tử.

***

Trên đây là nghiên cứu dang dở của chúng tôi. Việc công khai chia sẻ này có hai mục đích. Một là khẳng định bản quyền nếu chúng đúng. Hai là kêu gọi mọi người góp thêm sức lực, gợi ý hoặc chỉ giúp những chỗ sai sót cần hiệu chỉnh.

@T.T.Du

1.2019

Tìm hiểu Cầu Bông, rạch Cao Miên và Đất Hộ – Đa Kao

Leave a comment

Người Khmer vẫn thường nói rằng ở Việt Nam nơi đâu có cây thốt nốt đều là đất cũ Cao Miên. Bạn chưa hiểu hết Sài Gòn nếu không biết tại lăng Ông gần chợ Bà Chiểu hãy còn sót lại rất nhiều loại cây này. Nó cho thấy đây có lẽ là một không gian làng cổ Khmer điển hình, tình cờ được lưu giữ vì nằm trong khuôn viên ngôi mộ của tả quân Lê Văn Duyệt.

IMG_20181231_152840

 

Cách mộ 900m về phía nam theo đường Đinh Tiên Hoàng hiện nay là rạch Cao Miên và cầu Cao Miên đã được chỉ rõ trong sách “Hoàng Việt nhất thống dư địa chí” của Lê Quang Định (1806).

CauCaoMien

Khả năng rất lớn là cây cầu này đã bị phá hủy trong đợt Pháp đánh thành Gia Định năm 1859. Khi xây dựng lại, chắc bảng tên “deuxième pont” (cầu số 2) đã được gắn vào. Pont là cầu được Việt hóa thành Bông. Cầu số một (premier pont) ở vào vị trí cầu Thị Nghè ngày nay. Cầu số 3 trùng với Cầu Kiệu.

Caubong

Cầu Bông nối qua Sài Gòn tại khu Đất Hộ. Chỉ cần nhìn vào bản đồ Quy thành của Olivier de Puymanel vẽ năm 1795 sẽ thấy ngay rằng tục danh Đất Hộ nghĩa là vùng đất (từng) có tường hộ thành (shield wall), bắt đầu từ chợ Đa Kao xuyên qua, chạy dọc đường Trần Quang Khải rồi vòng lên Lý Chính Thắng.

Saigon1795

Đất Hộ hẳn đã được người Pháp ký âm vội vàng sau khi chiếm Sài Gòn. H là âm câm trong Pháp ngữ. K nên hiểu là phần ký âm của chữ Đất vì T giọng nam bộ sẽ nghe như K hoặc C [đấc] (1). Trong nhiều tài liệu, Đất Hộ được phiên thành Dakao hay Dakau. Nó cho thấy [ao] hay [au] dùng để diễn đạt Việt âm [ô] trong chữ Hộ. Như vậy đọc đúng phải là Dak – Ao hay Dak – Au. Đáng lưu ý là sau Đất Hộ, các ký âm có H ít nhiều đã chính xác và đầy đủ hơn như Biên Hòa, Bà Hom, Đức Hòa, Mỹ Hậu (xem bản đồ Sài Gòn 1867). Cũng tại bản đồ này núi Châu Thới vẫn mắc lỗi cũ viết thành Chau Toi, bỏ H như trong Dak Ao/Au.

Vài bạn đọc google rồi phản biện lập luận của chúng tôi bằng các tài liệu tài tử trên mạng. Chẳng hạn Đa Kao là Đất Cao. Nội dung ấy chỉ múa may, bóp mồm nặn miệng trên những con chữ mà thôi. Từ năm 1981 đến 1987 tác giả bài viết này học cấp 2 tại trường Lam Sơn, cấp 3 trường Võ Thị Sáu ở địa bàn đang tìm hiểu. Chúng tôi còn nhớ rất rõ ràng mỗi con dốc từng thả phanh hay phải gò lưng cật lực trên xe đạp theo chiều ngược lại, mỗi khi đi vào Đa Kao, Tân Định hay trung tâm Sài Gòn.

VoThiSau1987

Ngoài ra, cũng như khi khảo sát địa danh Sài Gòn và Đồng Nai, chúng tôi xử lý Cầu Bông – Đất Hộ trong bản chất hệ thống và đặc biệt chú ý các giá trị động trải dài hơn 200 năm qua. Cụ Vương Hồng Sển gắn bó với mảnh đất này lâu đời hơn chúng tôi rất nhiều nhưng thiếu phương pháp nên đã không giải thích được Đất Hộ – Đa Kao là gì.

Không phải vô tình mà ngày nay con đường có cùng nền với bức tường hộ thành Gia Định xưa kia mang tên Trần Quang Khải, và giữa Đất Hộ có đền thờ Đức thánh Trần bốn mùa khói hương không dứt. Hai thiên tướng Đại Việt gốc Mân này là thần hộ quốc của cả nước Việt Nam, suốt từ khi tên gọi Việt Nam ra đời.

THD

Rất tiếc, sự Việt hóa âm Pháp trong Cầu Bông và “làm sang kiểu Tây” gọi Đất Hộ bằng Đa Kao không dễ nhận ra vào những ngày đầu độc lập. Chiến dịch tẩy độc các địa danh Tây tại Sài Gòn của người Sài Gòn giữa thế kỷ 20 đã bỏ qua Cầu Bông và Đa Kao. Đến nay thì chắc chắn không còn cơ may sửa chữa. Trí thức “mới” tự xưng “cấp tiến” đang điên cuồng phủ phục dưới các dấu vết thực dân, từ viên gạch vỡ đến gốc cây xà cừ sần sùi cần bứng bỏ để xây dựng đại lộ tiến vào tương lai. Họ đang đánh đồng di tích với di sản và khóc thương hoài nhớ một thời cha ông họ là nô lệ trên chính quê hương mình!

(1) Chuyển vị K từ Kao/Kau sang Da thành Dak được góp ý bởi bạn Nguyễn Hoài Vũ

@T.T.Du

01.01.2019

Lõi Ngô Việt Dương Tử của tiếng Việt

Leave a comment

Gần một thế kỷ nay, học thuật phương Tây với cái nhìn nông cạn bề ngoài đã chuốc thuốc độc cho người Việt Nam: Tiếng Kinh Việt có lõi Mon Khmer. Điều này hết sức sai lầm và nhảm nhí.

Trong khoảng 210 từ lõi tiêu chuẩn theo thống kê tại kho từ vựng Austronesian cơ bản của The University of Auckland, New Zealand, chúng tôi đã tính ra được không dưới 20% từ lõi là âm Ngô Việt Dương Tử.

吳越

Có những từ trùng khớp hoàn toàn 100% như sleep/ngủ qua sự chuyển tải của chữ Hán 臥 Ngọa. Ngô Việt ngữ Thượng Hải đọc là [ŋu] theo ký âm IPA (file âm thanh số 6 từ trên xuống).

Từ lõi đầu tiên hand/tay: Có trung gian là chữ Thủ 手. Ngô Việt âm Hàng Châu [sei]. Sự tương đồng [day] Khmer và [toa] Mon chỉ cho thấy gốc Dương Tử của người Mon Khmer mà thôi. Âm [sei] có một tham chiếu rất đắt giá quanh chữ 西 Tây. Âm Việt Nam [tây], âm Ngô Việt Ôn Châu [sei].

Số 4: Âm chỉ số Bốn trong Việt ngữ nghe hao hao [pɔn] [buən] của tiếng Mon Khmer. Tất cả xuất phát từ lõi Austronesian [paat]/[opaa] đi vào kim văn thành chữ Bồ/Phù 扶 chỉ bốn ngón tay. Chữ Bồ/Phù này đã được Zhengzhang tái tạo cổ âm là [*ba] rất khớp với các âm [pa]/[pu] chỉ số 4 trong tiếng Thái Tráng.

Với tiền lệ Bụt/Phật, Bún/Phở, Bơi/Phù, Buồm/Phàm, Bụng/Phúc, Bay/Phi… rõ ràng BỐN là cổ âm của PHÙ, chỉ bốn ngón tay. Tiếng Việt đã hóa thạch một hành vi cực kỳ cổ xưa là đếm ngón tay trong âm chỉ số BỐN từ Trung Nguyên đến Dương Tử.

Trên đây chỉ là ba từ cực kỳ quan trọng mà chúng tôi đang khảo sát. Nếu [hand/tay], [four/bốn] và [sleep/ngủ] hẳn có tuổi đời rất xa xưa, hàng chục ngàn năm thì [west/tây] cơ bản phải bằng tuổi nền thiên văn học Á Đông. Nó vào khoảng trên dưới 5 ngàn năm, phần nào cho thấy thời điểm người Mon Khmer rời bỏ Dương Tử.

Kính mời các bạn đón đọc quyển sách chúng tôi đang viết: Nguồn gốc người Kinh và Việt ngữ. Nhân trắc học và ngôn ngữ học sẽ được sử dụng và xác quyết người Kinh Việt chủ yếu có gốc nam Dương Tử lai Hán Đường. Tổ tiên của người Việt Nam hiện đại chưa bao giờ là một dân tộc nô lệ hàng ngàn năm. Họ chắc chắn là những con người dũng cảm và phiêu bồng, nam tiến để truy tầm tự do, y hệt như người Mỹ sau họ 600-700 năm.

Đông Chí 2018

@T.T.Du

Lời cảm ơn

Leave a comment

Như một mối duyên bền, sau mười bốn năm xuất hiện trên BBC ở chủ đề lịch sử, lần này BBT lại đề nghị chúng tôi tự giới thiệu cùng bạn đọc quyển sách vừa xuất bản: “Khảo chứng tiền sử Việt Nam“, NXB Tổng hợp TP HCM 2018.

340 trang in 16cmx24cm, 118 ngàn chữ, trên 99 hình ảnh biểu đồ, viết bởi một người không chuyên sử, không qua đào tạo bài bản nhưng đã được bạn đọc đón nhận rất nồng nhiệt và cụ thể. Hơn 700 bản in trong tổng số 1000 đã được tiêu thụ sau ba tuần, chủ yếu phân phối trực tiếp thông qua tương tác facebook.

IMG_20181031_151233

Ảnh: Hàng trăm airway bill (vàng) và grab bill (trắng) đã chuyển hơn 700 quyển sách đến bạn đọc cả nước và bắc Mỹ.

 

Lời dẫn trên bìa sách với nhiều bạn đọc chắc chắn là khá khoa trương, chưa đủ khiêm tốn: “Sự kết hợp đầu tiên và duy nhất của Thiên văn, Thư tịch, Khảo cổ, Ngôn ngữ, Văn hóa, Phong tục và Di truyền để khám phá Việt sử”. Tuy vậy nó vẫn chứa đựng một phần sự thật, chúng tôi đã dùng mọi công cụ có thể sử dụng để truy tầm những góc khuất của cổ sử Việt Nam. Xin liệt kê ra đây một số kết quả điển hình:

  1. Từ Việt trong Việt Nam có xác suất rất cao mang nghĩa nước/vùng nước (water/water area) và được trừu tượng hóa thành quốc gia đầu tiên ở hạ lưu Dương Tử trên 4000 năm trước. Các âm khác ở Á Đông cũng có cùng tiền đề hình thành với Việt gồm Vũ ( trong Đại Vũ / Hạ Vũ), Chu (Nhà Chu), Lạc (Lạc Việt), Lang (Văn Lang)…
  2. Tên gọi nước Việt Nam, người Việt Nam thật ra có tuổi đời trên 700 năm, dưới triều đại rực rỡ của họ Trần. Hai chữ Việt Nam mà nhà Thanh ép Thế tổ Gia Long Nguyễn Ánh phải nhận có lẽ lấy từ Khâm Định Tứ Khố Toàn Thư của họ. Nó là thành quả ngoại giao cương trực và ngoạn mục giữa Đại Việt và nhà Nguyên. Có bằng chứng thư tịch xác nhận ngày 18.3 (âm lịch) năm 1292 hai tiếng thân thương Việt Nam đã vang lên giữa lòng Hà Nội, tại khu vực chùa Quán Sứ ngày nay.
  3. Chúng tôi đã tách được chủ lưu Âu Việt (Dương Tử) và phụ hợp Lạc Việt trong quá trình hình thành lịch sử và con người Việt Nam. Các căn cứ văn hóa, xã hội, phong tục khác biệt giữa Âu Việt và Lạc Việt đã chỉ ra người Lạc Việt chính là người Tai Kadai (Thái Tráng – Choang) cổ đại, tổ tộc của Hai Bà Trưng. Đến thời Lý Trần họ vẫn bị sách vở hoàng gia gọi là man mọi.
  4. Các hướng tiếp cận đã bổ sung cho nhau, đặc biệt là kết luận của công trình khám phá gene Việt được phiên bản trực tuyến của Nature công bố tháng 10.2017: “Đứng trên quan điểm nhân chủng học, kịch bản chung là người Việt Nam ngày nay có nguồn gốc dân tộc kép: thành phần chính đến từ Hoa Nam, chồng lên thành phần phụ từ hợp chủng Thái – Indonesia. Nam tiến có lẽ là từ khóa cho sự mô tả cấu trúc di truyền của người Việt Nam hiện đại”.

Chúng tôi mạnh dạn đề xuất mô tả ngắn gọn lịch sử Việt Nam như sau:

Trước năm 330 BC chủ nhân vùng đất từ bắc bộ Việt Nam đến Thanh Hóa – Nghệ An là các bộ tộc du canh du cư Austronesian, ngoại hình thấp lùn, da ngăm đen (giống người Chàm ngày nay). Khi Trang Kiểu đánh chiếm và ở lại làm vua vùng hồ Điền – Côn Minh – Vân Nam, một số bộ lạc tiền Thái Tráng (dáng người cao ráo, da trắng) ở đấy bỏ chạy theo sông Hồng và sông Mã xuống Việt Nam, hòa trộn với người Austronesian bản địa, xây dựng văn hóa bộ lạc hoặc liên minh bộ lạc Đông Sơn khá rực rỡ. Chủ nhân văn hóa này được Hán sử gọi là người Lạc Việt.

Ở thời điểm Công nguyên, người Hán bắt đầu thực dân hóa Việt Nam, đó là động lực và nguyên nhân cuộc nổi dậy của Hai Bà Trưng.

900 năm tiếp theo, Việt Nam là nơi hội tụ và hợp huyết của các nhóm người: Lạc Việt (da hơi ngăm, tầm vóc trung bình), Âu Việt con cháu Câu Tiễn di cư xuống từ lãnh thổ Mân Việt và Nam Việt cũ (da hơi sáng, tầm vóc trung bình, có tục cắt tóc xăm mình), quan binh người Hán viễn chinh đồn trú và tội nhân Hán đi đày hoặc lánh nạn (da trắng, cao lớn, đa số mắt một mí). Giới tinh hoa của xã hội Việt Nam khi ấy chắc chắn có dòng máu từ mẹ Lạc Việt nhưng mang đậm nét văn hóa Âu Việt và Hán.

Năm 938, Ngô Quyền ly khai khỏi Nam Hán, lấy tên cũ của Nam Hán là Đại Việt (năm 917) để dựng nước. Rõ ràng quốc danh Đại Việt hàm ý quyền lực Việt Nam khi ấy thuộc về người gốc Âu Việt và Nam Việt. Các họ Đinh – Lê – Lý – Trần tiếp nối sau đó có lẽ đều là người Việt Nam gốc Âu Việt hoặc Hán lai Âu Việt. Hậu quả là chính sử Việt Nam bắt đầu từ thời Trần đã đưa Triệu Đà làm vua khai quốc.

Đến thời Hậu Lê, hoàng gia gốc tiền Thái Tráng đầu tiên nắm quyền ở Việt Nam. Họ dần dần loại bỏ Triệu Đà khỏi sử sách. Người miền trong Thanh Hóa – Nghệ An – Hà Tĩnh (gốc tiền Thái Tráng chiếm ưu thế) không tin tưởng người phía bắc (nặng gốc Âu Việt và Hán). Sự kiện gia tộc Nguyễn Trãi bị tru di hoặc gia tộc của Mạc Đăng Dung tiếm quyền, nên được nhìn thêm dưới con mắt mâu thuẫn huyết thống và văn hóa, hơn là đơn tuyến chính trị.

Cuối Minh đầu Thanh, chính trị trung ương bắc triều hỗn loạn, làn sóng di cư từ Hoa Nam xuống Việt Nam dâng cao. Thuyết Đại Việt của Lưu Nham từ năm 917 sống lại. Quang Trung có lẽ đã rất tin tưởng các đô đốc hải quân gốc Phúc Kiến, Triều Châu, Quảng Đông và Hải Nam của mình. Ông mơ đến một nước Đại Việt hùng cường bao gồm cả Lưỡng Quảng. Giả thuyết trên càng có căn cứ hơn với đề xuất của Gia Long với Thanh triều, đặt tên mới Nam Việt cho đế quốc của ông. Nam Việt chính là phiên bản Đại Việt xưa hơn, gắn với tên tuổi Triệu Đà.

Giải pháp Việt Nam của Gia Khánh vừa uyển chuyển vừa khôn khéo loại trừ được mầm mống tư tưởng Đại Việt. Thập kỷ 30 của thế kỷ 20, Trung Quốc cũng đã phải đối mặt với một luận thuyết tương tự từ một quốc gia Đông Nam Á. Đó là thuyết Đại Thái, tuyên xưng lãnh thổ dân tộc Thái bao gồm cả Vân Nam và một số vùng đất Hoa Nam khác.

Ngày 2.9.1945 lãnh tụ Hồ Chí Minh khai sinh nước Việt Nam mới, kết thúc hơn một ngàn năm phong kiến. Tương tự như vua Nhật từng đặt niên hiệu MINH TRỊ, cụ Hồ đổi tên mình thành CHÍ MINH. Minh Trị hay Hướng Minh/Chí Minh đều xuất phát từ một câu Chu Dịch: Nam diện hướng minh nhi trị. Nó nói lên ý chí độc lập của một quốc gia có chủ quyền bên cạnh Trung Hoa, chia sẻ cùng đất nước của Chu Công các giá trị văn hóa phổ quát cũng như lịch sử và di truyền của tổ tiên.

***

“Khảo chứng tiền sử Việt Nam” dành một phần không nhỏ để dịch nhiều thiên cổ thư Trung Hoa liên quan đến cổ sử Việt Nam. Điều rất đáng tiếc của chúng tôi nằm ở bản dịch “Nam Man Tây Nam Di liệt truyện” gần 12 ngàn từ của Hậu Hán Thư. Do trình độ Hán văn tự học rất hạn chế, không tìm được chuyên gia hiệu đính và chưa từng có một bản dịch Việt ngữ đầy đủ để tham chiếu nên hẳn phải còn rất nhiều sai sót. Biết thế nhưng chúng tôi vẫn quyết định in và hẹn những bạn đọc khó tính ở các lần tái bản (nếu có). Rất mong các độc giả xí xóa cho tội của chúng tôi là “người đầu tiên” dám chuyển ngữ một sử liệu cấp một, từ thư khố hoàng gia Hán. Nó là tổng hợp những diễn biến gần như tức thời ở các địa phương đã được gửi về và lưu trữ tại triều đình.

Ngoài sai lỗi dễ biết và đã tự nhận thức được ở trên, “Khảo chứng tiền sử Việt Nam” chắc chắn không thiếu các luận điểm đầy tranh cãi, những góc tối rất cần thêm dữ kiện để tỏa sáng hoặc loại bỏ. Tác giả tin rằng dù nhỏ bé như một gợi ý, sự xuất hiện của bất cứ quyển sách sử nghiêm túc nào cũng luôn cần thiết cho xã hội. Xin các bạn hãy mở lòng đón nhận thành ý của chúng tôi.

Saigon 10.2018

truongthaidu@gmail.com

Kính mời mua sách in

5 Comments

Đáp ứng lời đề nghị nhiệt thành từ các bạn đọc của quyển ebook Khảo Chứng Tiền Sử Việt Nam, ISBN: 9781370154548, chúng tôi đã tiến hành xin giấy phép và thực hiện in ấn 1000 bản:

  • Bìa cứng toàn bộ, giấy couches 150 gsm.
  • Quy cách 16cmx24cm, may chỉ, vô keo, nặng 700gr/quyển.
  • Ruột tổng cộng 340 trang. 118 ngàn chữ, 99 hình ảnh và bản đồ minh họa, 16 trang màu, giấy trắng ford 70 gsm.

kctsvn

Các chuyên gia xuất bản dự báo số sách này, nhanh mất 6 tháng, lâu cỡ 10 năm mới đi hết. Với chúng tôi điều đó không quan trọng bằng việc đáp ứng sự mong mỏi của 100-200 bạn đọc đã có tấm lòng với cổ sử nước nhà.

IMG-86b3174afea50c936da069b25f814e66-V

Đến ngày 22.10, trên 550 quyển đã được chuyển phát thành công đến bạn đọc.

IMG_20181022_074004

Thể thức phát hành: Thanh toán theo giá bìa 230.000 VND/quyển, đến: Chủ tài khoản: Tăng Lệ Dung. Số tài khoản: 0601 5060 5108. Ngân Hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) – Phòng Giao Dịch Bình Trưng Tây – Chi nhánh Thủ Đức, TP HCM. SWIFTCODE: SGTTVNVX. Xin ghi rõ email hoặc điện thoại khi chuyển khoản.

Ngay sau khi thực hiện bước trên, xin mọi người vui lòng nhắn tin đầy đủ địa chỉ nhận sách, số điện thoại, các yêu cầu khác như triện tên tác giả, chữ ký và/hoặc đề từ, qua facebook [https://www.facebook.com/thaidutruong] hoặc email [truongthaidu@gmail.com]. Sách sẽ được dịch vụ chuyển phát Viettel gửi tận nhà bạn đọc trong thời gian ngắn nhất có thể. Free ship đến quyển cuối cùng.

Các địa chỉ phát hành chính thức: 

TP HCM – Sài Gòn: HIỆU SÁCH TRI VĂN. 162 Điện Biên Phủ, P.17, Q. Bình Thạnh
ĐT: 028. 66 832.872

Khu vực Hà Nội:

  1. Ms. Trịnh Thoa
  2. Ms Hoa – Hiệu sách Mụ Hoa – số 5 Đinh Lễ – Tràng Tiền – Hà Nội.

Khu vực Hạ LongThư viện Yến 96 NGUYỄN VĂN CỪ – HẠ LONG QUẢNG NINH. 0903222117

Các đơn hàng ship ngoài nước: Canada tiền ship khoảng 30 USD. Mỹ 23 USD. Bạn đọc có nhu cầu vui lòng check tỉ giá và chuyển paypal theo tài khoản: [truongthaidu@gmail.com].

Xin trân trọng kính mời mọi người đặt sách.

Cạnh Đền Bạch Mã – Hàng Buồm – Hà Nội

10.10.2018 

Nguồn gốc Phở và Bún

5 Comments

Đa phần các loại bột gạo (không phải làm từ lúa mạch) được viết bằng chữ Hán là Phấn 粉. Đây là phép hội ý dùng chữ Mễ 米 bên trái chỉ gạo, chữ Phân 分 bên phải chỉ chia nhỏ, xay nghiền nhuyễn và đồng thời làm âm cho Phấn 粉. Chữ Phấn trong Son Phấn cũng là Phấn 粉 này vì thời cổ bột gạo thường được dùng trong trang điểm.

Cổ âm của Phấn được các nhà ngôn ngữ học thế giới tái tạo khá thống nhất: Edwin Pulleyblank [punX], Trịnh Tường Phương [*pɯnʔ], S. Starostin [pǘn]… Đây chính là âm Bún trong Việt ngữ vậy, vừa khớp âm, vừa khớp nội hàm. Đặc biệt theo ghi nhận của Starostin, âm Bún hiện tại của Việt ngữ rất giống phương âm Hạ Môn – Phúc Kiến của chữ Phân 分 [pun].

Như vậy từ/âm Bún phải xuất hiện muộn nhất ở Việt Nam là vào thời Lý – Trần và nó mang/tương đồng với Mân âm, tiếng nói của tổ tiên hai dòng họ vĩ đại này.

Quá trình biến âm P/B thành PH chúng tôi có thể chỉ ra hằng hà sa số ví dụ: Buồm/Phàm, Bố/Phụ, Bún/Phở, Bơi/Phù, Bụng/Phúc, Bụt/Phật… Đặc biệt biến âm Ơ <-> U trong Bơi/Phù được đảo ngược ở Bún/Phở cũng là logic cho cổ âm Bún biến thành Phở ở đầu thế kỷ 20.

Hình 1: Bát phở Hà Nội điển hình.

pho_hanoi

Hình 2: Một bát ngưu nhục phấn 牛肉粉 (bún/phở thịt bò) đặc sản của tỉnh Hồ Nam – Trung Quốc.

pho_honam

Hình 3: Món Hà Phấn của người Phúc Kiến

Pho_PhucKien

Thành ra về từ nguyên, phở và bún chỉ là âm của một chữ Phấn 粉 duy nhất. Bún là Đường âm. Phở là Việt âm hiện đại. Âm Tây An và Tế Nam Sơn Đông là giống Phở nhất [fẽ]. Giống bởi quy luật biến âm tương đồng chứ không phải và không thể do vay mượn của nhau.

Sự liên kết Bún và Phở trong ngữ âm và sự phát triển ngôn ngữ đã trình bày ở đây sẽ bác bỏ bất cứ lập luận tráng men “gốc Pháp” nào vào món Phở. Kiểu tư duy thừa nô lệ và thiếu biện chứng ấy chỉ làm xấu hình ảnh của Phở đi mà thôi.

Phở là đặc sản Á Đông mang hương vị Việt, tiền thân của nó, từ ngữ âm đến hình thức thể hiện, là món Bún dân dã phổ biến khắp Hoa Nam và Việt Nam. Điều này chắc chắn chẳng mảy may làm sứt mẻ niềm tự hào của tất cả chúng ta về Phở.

Thạch Viên

9.2018 – T.T.Du

Nguồn gốc địa danh Sài Gòn, Đồng Nai và Huế

4 Comments

Sài Gòn ơi ta trả lại tên em
 Âm Triều Châu sao mà thân thương thế
 Những khúc cong, lượn như bầu vú mẹ
 Dòng Sông Tây nuôi mớm đất anh hào

 

Khởi đi từ tư duy hệ thống và phi tuyến tính, chúng tôi thấy rằng rất ít khi có một địa danh lẻ loi, từ trên trời rơi xuống. Mỗi địa danh đều gắn kết với ít nhất một địa danh khác, mà chúng tôi tạm gọi là “hệ địa danh”. Trong nội bộ một hệ địa danh nhất định, sự tương tác cũng như liên đới về phương hướng (đông tây nam bắc), ngữ nghĩa, ngữ âm, lịch sử hình thành và địa lý chắc chắn sẽ giúp chúng ta khám phá ra logic gần sự thật nhất, có độ thuyết phục cao nhất, từ ít cứ liệu nhất.

Đó là lý do chúng tôi quyết định khảo sát nguồn gốc các tên gọi Sài Gòn, Đồng Nai và Huế cùng một lúc.

Người Hoa từ trước đến nay đều viết bằng Hán tự tên thành phố bên bờ sông Sài Gòn là Tây Cống 西貢. Âm của Tây Cống trong tiếng Triều Châu (chi Mân Nam) gần với âm Sài Gòn nhất, theo nhu liệu ngữ âm trực tuyến là [Saigong].

Sách Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quý Đôn viết năm 1776 có dữ kiện “Năm 1674 Thống suất Nguyễn Dương Lâm vâng lệnh chúa Nguyễn đánh Cao Miên và phá vỡ lũy Sài Côn”. Sách Đại Nam Thực Lục ghi nhận chỉ 5 năm sau sự kiện trên, năm 1679 chúa Nguyễn đã phong chức, ủy lạo rồi sai Trần Thượng Xuyên và đoàn Hoa nhân tị nạn vào khai khẩn Đông Phố tức Biên Hòa – Đồng Nai ngày nay. Họ Trần người Lôi Châu, khu vực chủ yếu dùng phương ngôn Lôi Châu thuộc nhóm Mân ngữ.

Min_Languages.svg

Sơ đồ phân bổ Mân ngữ: Màu tím là nhánh Quỳnh – Lôi, đất bán đảo Lôi Châu và Quỳnh Châu (Hải Nam), nơi xuất phát của Trần Thượng Xuyên. Màu xanh Mân Nam (Southern Min) bao gồm toàn bộ đất Triều Châu và vùng ven biển Đài Loan.

Chúng tôi chưa tìm được đủ dữ kiện để minh xác Sài Côn hay [Saigong] ra đời trước. Khả năng Lê Quý Đôn đã dùng hai chữ Sài Côn để ghi lại giọng đọc [Saigong] đương thời (1776) vì rõ ràng người Khmer chưa bao giờ dùng từ này. Không có lý nào để họ gọi đồn lũy của mình bằng Mân âm hoặc Hán Việt âm. Và nếu Sài Côn là ký âm Hán Việt thì rất vô lý, họ sẽ dùng chữ Tây chứ không phải Sài.

Về ngữ âm và ngữ nghĩa, chúng ta thấy ngay Tây Cống 西貢 hầu như vô nghĩa, đặc biệt là chữ Cống. Do vậy Cống có thể là Hán tự ký âm bản ngữ Champa [krong] hoặc Khmer [ស្ទឹង – stoeng] chỉ dòng sông. Tiền lệ của nó là trường hợp âm [krong] bản địa đã được người Trung Nguyên viết thành Giang 江 (cổ âm đọc như chữ Công 工) chỉ sông Dương Tử từ thời Xuân Thu Chiến Quốc; hay Mekong được người Việt viết thành Cửu Long. Cũng có thể Cống chỉ liên quan với Krong/Stoeng ở cội nguồn Austronesian vì âm Kong trong tiếng Quảng Đông vừa chỉ Cảng 港 và Sông/Giang 江 như ta đã thấy trong từ Hongkong, chữ Hán là Hương Cảng 香港.

Như vậy phải chăng Tây Cống mang nghĩa dòng sông phía tây và Mân âm Lôi Châu (pha trộn giữa tiếng Quảng Đông và Triều Châu) của nó chính là Sài Gòn? Khi đọc lên, âm Sài Gòn sẽ có hai nghĩa, tùy ngữ cảnh: Cảng phía Tây hoặc Dòng sông phía Tây.

Nếu đi theo hướng suy luận này, chúng ta sẽ kết nối được Đồng Nai với Đông Nai. Tức là âm Đồng có khả năng là Mân âm Lôi Châu chỉ hướng Đông, hoàn toàn khớp với tương quan vị trí địa lý của nó với Đông Phố (Bến nước phía đông) và Tây Cống (dòng sông hoặc bến cảng phía Tây) trên thực địa. Đến đây thì Nai đã hiện ra dấu hiệu âm bản ngữ bị rút gọn, đơn âm hóa của Krong Binai (sông Cái) trong tiếng Champa!

tudienchamvietphap

Từ điển Chăm – Việt – Pháp của G. Moussay

Xét về lưu vực, lưu lượng dòng chảy và độ lớn, sông Đồng Nai ngày nay vẫn đóng vai trò sông Cái, sông Mẹ và sông Sài Gòn là một nhánh con phía tây của nó. Các tục danh đa dạng của Đồng Nai hầu như đều rút gọn từ cụm từ Nông Nại Đại Phố 農耐大浦, đến đây đã có thể hiểu là Bến cảng lớn của sông Cái phía Đông.

Saigon1

Vị trí và hình thế của sông Đồng Nai và Sài Gòn.

Nếu Đồng Nai tiên khởi mang nghĩa Sông Cái phía Đông và Sài Gòn chỉ Sông Con phía Tây, nó sẽ khớp với logic hình thành địa danh không chỉ tại Việt Nam xưa nay, mà còn ở cả Trung Quốc. Tên đất chính là tên sông: Hà Nam, Hà Bắc (vùng đất phía nam và phía bắc sông Hoàng Hà), Giang – Hoài (vùng đất nơi có sông Trường Giang và sông Hoài). Tiền Giang, Hậu Giang, Bắc Giang, Ninh Giang, Hà Giang, Hà Nam, Kiên Giang…

Trần Thượng Xuyên nam tiến từ vùng đất nói tiếng Mân muộn hơn người cùng họ và cùng ngôn ngữ mẹ đẻ của mình là Trần Kính trên dưới 600 năm. Không phải tình cờ mà ngày nay người ta gọi đất Hóa Châu xưa kia bằng Mân âm Huế của chữ Hóa. Triều đại mở đất Việt Nam đến Huế chính là Đông A, được lãnh đạo bởi các hậu duệ của Trần Kính. Âm Huế có lẽ đã là phương danh, tục danh tồn tại từ thời Trần Anh Tông (1276 -1320). Cũng chính Trần Anh Tông đã đổi tên đất An Sinh thành Đông Triều. Rất có thể đấy là dụng ý có tính toán kỹ lưỡng của tiền nhân để lưu lại dấu tích Mân ngữ – Triều Châu ngữ cho đời sau, giống hệt trường hợp địa danh Tân Triều ở Đồng Nai.

Từ 7 đến 8 tuổi, tác giả của bài viết này đã được sống một năm giữa vùng đất Bạc Liêu mênh mông “Dưới sông cá chốt – Trên bờ Triều Châu”, nghe những câu vọng cổ đêm mang nỗi hoài hương của di dân Hoa Nam thuở nào. Đến nay mới chợt hiểu:

Từ thuở mang cày đi mở cõi

Ngàn năm thương nhớ đất Triều Châu

Âm xưa còn đọng trong danh tại

Diết da câu vọng cổ Sáu Lầu

————————————————————————————————————————————–

Saigon - Đồng Nai 5.2018
Người Triều Châu: T.T.D

Mời đón đọc: Khảo chứng tiền sử Việt Nam – NXB Tổng Hợp TP HCM 2018

Older Entries

tongocthao

The greatest WordPress.com site in all the land!

Lạc Hoa Viên

Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận. Đình tiền tạc dạ nhất chi mai

Anle20's Blog

Just another WordPress.com weblog

levinhhuy

Quắc mắt xem khinh nghìn lực sĩ/ Cúi đầu làm ngựa bé nhi đồng

thôn Sấu

Quê hương yêu dấu (Dọc hành chấm đứng). Xin các bạn vui lòng ghi rõ nguồn và dẫn link đến trang này nếu đăng lại bài của tôi

thienthanh2017.wordpress.com/

Thượng thiện nhược thủy, thủy thiện lợi vạn vật nhi bất tranh - Lão Tử

Học Thế Nào

How We Learn

leminhkhaiviet

About Vietnamese Cultural History and Scholarship

Xuân Bình

Nhà báo tự do

Nguyễn Huy Hoàng

the star is fading

Nghiên Cứu Lịch Sử

Các bài nghiên cứu, biên khảo và dịch thuật các chủ đề về lịch sử

Le Minh Khai's SEAsian History Blog

Always rethinking the Southeast Asian past

trinhythu

Trịnh Y Thư WordPress.com site

trandangtuan.com

Men lá rượu ngô trong

4th Avenue Café

Free non-fiction translation

WordPress.com

WordPress.com is the best place for your personal blog or business site.