Người Việt Nam bảo tồn văn hóa Hán – Đường – Mân

Leave a comment

Văn hóa và ngôn ngữ Đại Việt là một thể thống nhất, không có kẽ hở và hết sức khó khăn để phân biệt. Người phương Tây thường nói “Ngôn ngữ là Văn hóa và Văn hóa là Ngôn ngữ – Language is culture and culture is language”. Rất nhiều người Việt luôn lải nhải tín điều hoang đường “Tiếng Việt gốc Mon Khmer hay Nam Á” nhưng hằng ngày, vẫn như cha ông họ bao đời nay, luôn bảo tồn văn hóa Hán – Đường đặc sắc, nhiều khi khá bảo thủ và cực đoan.

Bài viết này sẽ truy lục từ nguồn gốc đến tên gọi vài nét văn hóa Hán Đường dày đặc ở Việt Nam những tháng cuối năm. Đây là thời điểm rất đặc biệt và trái khoáy, khi bỗng nhiên gần 100 triệu người nhất tề quay lại dùng lịch Thái Sơ hơn 2100 tuổi của Hán vũ đế. Họ tạm thời không gọi chữ Nho là chữ Tàu và miệt thị nó, mà cung thỉnh nâng niu, trân trọng đặt lên bàn thờ gia tiên rồi xì xụp cúng bái…   

Tục dựng cây Nêu

Cây nêu tết nguyên đán dựng tại hoàng thành Thăng Long – Hà Nội tháng 1.2020

Khi chết đi hồn phách con người sẽ trở về rừng rú là quan niệm tối cổ ở Á Đông, hiện còn lưu tồn trong các nhóm dân tộc vẫn sinh hoạt giữa xã hội bộ lạc ở Tây Nguyên – Việt Nam. Vì thế sách Sơn Hải Kinh thời Chiến Quốc mới chép rằng đế Tuấn, vị thiên đế của Đạo giáo đã yên nghỉ giữa rừng tre trúc. Trong đám tang người Việt và Hán, thường xuất hiện cây gậy trúc và phướn chiêu hồn (theo lệ cũ phải màu trắng) móc vào một nhánh tre nhỏ còn để nguyên một ít lá trên ngọn. Hai thứ này biểu thị nghi lễ dẫn lối người quá cố về với trúc lâm 竹林 – thế giới của linh hồn (và ma quỷ).

Ngược lại, mỗi khi năm hết tết đến, cùng lúc với việc tiễn ông Táo – thần lửa cổ đại lên trời và đón hương hồn tổ tiên về chung vui xum họp tại dương thế – một cây tre to và cao, để nguyên lá trên ngọn, cũng được dựng lên trước cửa mọi nhà. Cây nêu có rất nhiều tên gọi và chữ Nho tương ứng như Cao Tiêu 高標, Cao can 高竿, Trúc Can 竹竿, Trúc Tung 竹嵩… Quý tộc Mãn Thanh rất hay treo đèn lên cây nêu ngày 23 tháng Chạp, nên gọi là Đăng Cao 燈篙 hay Cao đăng tung 高灯嵩.

Nêu là phương nam âm cổ xưa của chữ Tiêu 標, vì âm tối cổ của nó, theo nhà ngôn ngữ học Lý Phương Quế, bắt đầu bằng phụ âm kép [pjiäu]. [pjiäu] -> [jiäu] -> Nhêu -> Nêu. Dẫn chứng tương tự Nhăm -> Giằm hoặc Năm; Giễu (giễu cợt) -> Tiếu 笑; Giể (anh rể) -> Tế 婿/壻; Giâu (chị dâu)-> Tẩu 嫂… Sách Trang Tử có câu “Thượng Như Tiêu Chi, Dân Như Dã Lộc 上如標枝, 民如野鹿”, đến đây có thể hiểu rằng ở thời cổ đại vua chúa tựa cây nêu vô vi trên cao, thường dân tự do tự tại như hươu nai hoang dã dưới thấp. Bởi vì, chữ Chi 枝 mang nghĩa nhánh cây, cành cây, tiếng Đường còn có âm Ki, tiếng Việt-Mân-Quảng lưu giữ cổ âm Kây như [kei332] (Phúc An – Phúc Kiến) và [kei55] (Nhân Hóa – Quảng Đông).

Từ thời Hán, cây nêu cũng là thứ không thể thiếu ở Tiếu tràng 醮場 hoặc Đạo sĩ đàn 道士壇, tức đàn cầu cúng thiên thần, địa thần và thượng đế của đạo sĩ. Nó biểu hiện cho sự thông linh Thiên – Địa – Nhân.

Thụ đăng cao tại đạo tràng tế tự ngày 11 tháng 7 âm lịch năm Kỷ Hợi 2019 – Công viên Trung Chánh, TP Đài Trung, tỉnh Đài Loan.

Miếng trầu là đầu câu chuyện

Trong quyển sách Đông y – Kim Quỹ Yếu Lược từ thời Đông Hán, đã thấy ký âm Penang tức cây cau thành Tân Lang 檳榔, một loại dược liệu. Âm Tân là tiếng Đường. Tiếng Hán còn lưu tồn trong hầu hết ngữ chi Trung Quốc hiện nay đọc là Pin hoặc Ping, hoàn toàn khớp với âm gốc Penang hay Pinang, gốc rễ Austronesian cổ đại Á Đông.

Ở Tân Lang truyện trong Lĩnh Nam Chích Quái, thì Tân 檳 và Lang 榔 là hai anh em trong nhà họ Cao高. Người chị dâu khi chết bên cây cau (Tân biến thành) và hòn đá (Lang) thì hóa thân thành cây trầu, chữ Nho là Nhiễu Thụ 繞樹. Chữ Nhiễu 繞 này hiện tiếng Thái Nguyên, Tây An, Trường Sa, Khách Gia và Tương Đàm (Hồ Nam), nhiều nhánh Mân ngữ như Sán Đầu, Trừng Hải; hoặc tiếng Quảng Đông ở Giang Môn… tất cả đọc hoàn toàn giống hoặc gần giống Giầu trong tiếng Việt Nam. Như vậy Trầu có từ nguyên là chữ Nhiễu trong Nhiễu Thụ, và Cau có từ nguyên là Cao trong Cao Tân, Cao Lang. Tiếng Việt đã không dùng thổ âm Pinang, chứng tỏ tổ tiên chúng ta đã dung nạp phong tục bản địa nhưng từ chối ngôn ngữ.

Người Việt có thành ngữ “Miếng trầu là đầu câu chuyện” để nói về tục mời trầu đón khách. Ăn trầu (và nhuộm răng xăm trán – hắc xỉ điêu đề) là nét văn hóa trải dài từ bờ nam Dương Tử đến tận châu Úc. Cổ Hán ngữ gọi cây trầu là Củ 蒟, Củ Tương 蒟醬 hay Phù Lưu Đằng 扶留藤. Ngô Lục viết trong Địa Lý Chí thời Thanh: Ở Thủy Hưng (một huyện phía bắc Quảng Đông, gần Hồ Nam) có giống trầu này, vị cay, ăn cùng với cau. Sách Thục Ký (viết về nước Thục – Tứ Xuyên) thời Tấn ghi: lá trầu ăn với cau và một ít vôi thì tiêu trừ được ác khí trong người. Sách Dị Vật Chí thời Đông Hán cũng nói: lá trầu, cau và vôi kết hợp với nhau rất tốt. Sách xưa bảo ăn trầu cau giúp tiêu sầu.

Trong Tây Nam Di Liệt Truyện của Hán Thư, có nhắc đến việc Triệu Đà mời Đường Mông ăn món Củ Tương 枸醬 xuất phát từ nước Thục. Oái oăm thay hai chữ Củ Tương trong Hán Thư lại đồng âm với Củ Tương 蒟醬 chỉ cây trầu. Điều này dẫn đến khả năng rất lớn là Triệu Đà đã dung nạp tục ăn trầu phương nam và mời khách viễn phương.

Sách “Phúc Châu Đản dân điều tra” của Ngô Cao Tử – Đại học Yên Kinh xuất bản 1930, có bài thơ “風土詩 Phong thổ thi” nói về phong tục đất Mân của Trương Hanh Phủ, người Mân bắc – Phủ Thiệu Vũ – Phúc Kiến vào thời Đạo Quang (1820 – 1850). Bốn câu đầu như sau: 閩俗真殊異 Mân tục chân thù dị. 遺風自漢唐 Di phong tự Hán Đường. 手香籠苜莉 Thủ hương lung mục lị. 齒黑嗜檳榔 Xỉ hắc thị tân lang. Tạm hiểu: Tục lệ dân gian xứ Mân rất đặc thù, dù chứa đựng di sản phong hóa Hán Đường. Nó thơm tho và quyến rũ như những khoanh nhang vòng mang hương thơm của Bạch hoa xà (mục lị hoa) hoang dã bản địa nơi này. Dân chúng nhuộm răng đen, thích ăn trầu.

Múa rối và múa rối nước

Những người nông dân chơn chất trong đoạn phim trên chắc chắc không biết mình đang lưu giữ một di sản văn hóa phi vật thể rất lâu đời của tổ tiên. Nó bắt nguồn từ Trung Nguyên, muộn nhất là lúc Lão Tử và Khổng Tử còn sống, nam tiến dần xuống Dương Tử, Mân Việt, rồi trường tồn cả ngàn năm qua ở một rẻo đồng bằng tân lập bên dòng Hồng Hà.

Hình thức rối trong phim được sách chữ Nho gọi là Trượng đầu khôi lỗi 杖頭傀儡: Con rối chỉ có đầu cắm vào 1 cây gậy ngắn, nghệ nhân cầm vào đó mà diễn xướng trong các lễ hội hay các dịp hiếu hỉ của thôn làng hay gia tộc thượng lưu.

Theo sách Thái Bình Quảng Ký, thời Đường, múa rối nước gọi là Thủy Khôi Lỗi 水傀儡 hay Thủy Sức 水飾. Thủy sức nghĩa là dùng nước che đậy, giấu các cơ cấu truyền động phía dưới các con rối. Bạch thoại Việt ngữ đã gọi tắt Khôi Lỗi – tức con Giối – thành Giối. Quan hệ ngữ âm giữa Giối và Lỗi có thể tham khảo Lăm <-> Giằm (mười lăm = mười giằm). Xác suất rất cao Giối là cổ âm thời Hán của Lỗi.

Sân khấu múa rối nước ở thành phố Khai Phong, tỉnh Hà Nam – Trung Quốc, trong công viên Thanh Minh Thượng Hà, theo chủ đề văn hóa thời Tống.

Trong múa rối nước Việt Nam, có một nhân vật rất đặc biệt tên là Chú Tễu. Ta thấy chữ Tiếu 笑, nghĩa là cười, hiện có 3 phương ngữ ở Quảng Đông đọc rất giống Tễu [ʃeu23/33/44]. Người ta thường dùng âm Tếu hoặc đẳng lập Tếu Táo (giống mếu máo, lếu láo…), nếu thấy cái gì đó gây cười vui, hài hước. Ngoài ra âm Tiếu/Tếu cũng rất gần âm Tiểu 小, tức là nhỏ. Chú Tễu cũng có thể là chú nhỏ vì một số tượng Tễu được gắn hai chỏm tóc tựa như biến thể trái đào ở trẻ em của giống Hán Đường.

Nhu liệu đã dẫn thật ra chưa thể kết luận, nếu không đi sâu vào chi tiết Hí Khôi Lỗi (rối hài) ở Hoa Nam. Bên ấy họ dùng thuật ngữ Sửu/Xú 丑 chỉ vai hề (hí ngẫu 戲偶) trong các vở kịch. Chữ Sửu/Xú này chính là từ nguyên của Xấu (ugly) và cả (làm) Xấu (tức làm mặt hề). Các phương âm Hoa Nam hiện nay của chữ Sửu cũng rất gần với Tễu, chẳng hạn [tsʰeu45] Giang Môn – Quảng Đông, [tʰieu32] Phúc Châu – Phúc Kiến. Cũng nên lưu ý ở tiếng Trung hiện đại, chú hề được viết là Tiểu Sửu 小丑. Đến đây thì chúng ta đã thấy 3 Đường âm gốc Tiếu/Tiểu/Sửu đã đan xen và chồng phủ tự nghĩa lên nhau. Do đó kết luận Tễu có tự nguyên từ bất cứ chữ nào cũng chưa thật đầy đủ và thuyết phục tuyệt đối.

Tháng Hợi mổ heo, ra Giêng anh cưới em

Văn hóa Trung Nguyên thời Chu gọi tháng đầu năm là tháng Một, chi Tí, lấy con Chuột làm biểu tượng. Đây là mùa cưới xin với mong ước con đàn cháu đống như loài chuột (một năm có thể cho ra đời 5 đến 10 thế hệ).

Bản chất của ngũ hành là bộ số ngũ phân. Hành Mộc 木 là số Một ngũ phân, cũng là từ nguyên của âm Một trong tiếng Việt. Thời Hạ dùng lịch ngũ phân (ngũ quý) có 5 mùa, có lẽ cũng chính là tháng. Tháng thứ nhất gọi là tháng Một. Sách Khổng Tử Gia Ngữ (206 BC – 220 AD) chép: Tích Khâu dã văn chư Lão Đam viết: Thiên hữu ngũ hành, mộc, hỏa, kim, thủy, thổ, phân thì hóa dục, dĩ thành vạn vật… Sách Xuân Thu Phồn Lộ thời Tây Hán của Đổng Trọng Thư lại viết: Nhất viết Mộc, Nhị viết Hỏa, Tam viết Thổ, Tứ viết Kim, Ngũ viết Thủy.

Cũng thời Chu, tháng cuối cùng của năm là tháng Chạp, chi Hợi, lấy con Heo làm biểu tượng. Chạp vốn là cổ âm của chữ Chá 䄍/蜡, sau bị Tần Thủy Hoàng đổi qua chữ Lạp 臘. Tháng Chạp xưa ở Á Đông là mùa cúng tế của cả vua quan và thứ dân, nên mới có thuật ngữ Giỗ Chạp. Âm Giỗ chính là cổ âm của chữ Kỵ 忌, biến âm G/K (như trường hợp Cây/Gỗ, Kêu/Gọi, Kẻ/Gã).

Tranh Đám cưới Chuột, mộc bản Chương Châu – Phúc Kiến, là mẹo dân gian để tiếp tục thờ Chuột với mong ước con đàn cháu đống, lách qua khe hẹp các quy định lễ nghi cứng nhắc của Nho giáo và Đạo giáo.

Lạp tràng 臘腸 là món xúc xích Á Đông, chắc chắn có rất lâu trước khi sách Tề Dân Yếu Thuật thời Bắc Ngụy (386 – 534) mô tả “Quán tràng pháp” tức là cách nhồi lạp tràng. Xa hơn là sách Nghi Lễ thời Chiến Quốc đã ghi ba chữ Lạp tràng vị 臘腸胃 liền nhau, trong đó Vị mang nghĩa dạ dày, chỉ các thứ thờ cúng hay dùng cho tiệc tùng.

Hiện nay người Thổ gia bản địa ở Hồ Nam vẫn lưu giữ tập tục làm xúc xích, có lẽ là xa xưa nhất. Mỗi năm đến dịp Đông Chí, nhà nhà đều giết lợn rồi làm món thịt sấy khô và xúc xích để dành mở tiệc đêm trừ tịch. Xúc xích có 2 loại là Lạp tràng và Huyết tràng. Huyết tràng chính là món Dồi tức Nhồi ở tiếng Việt. Màu đỏ của Huyết tràng cũng giống như sắc hoa đào, được cho có tác dụng xua đuổi ma quỉ và đem đến may mắn lúc giao niên.

Nhiều người Việt cho rằng âm Giêng trong tiếng Việt là cổ Hán âm của chữ Chính 正. Biến âm Gi/Ch là có, giời/chời, giai/chai… chẳng hạn. Tuy nhiên bạch thoại sông Hồng của chữ Chính 正 chỉ thấy tồn tại ở thế Chiếng, trong Tứ Chiếng tức Tứ Chính 四正 mà thôi. “Trai tứ chiếng, gái giang hồ” ý nói trai bạt mạng đông tây nam bắc, gái là “người yêu” cả thiên hạ hay “người tình quốc dân”. Giang hồ, ở góc độ nào đó là phản nghĩa của “chính chuyên – 正專 ”. Lúc này Chính 正  lại hàm ý Tứ Chính của Khổng Tử trong Lễ Ký: “天无二日, 土/士无二王, 家无二主, 尊无二上 – thiên vô nhị nhật, thổ/sĩ vô nhị vương, gia vô nhị chủ, tôn vô nhị thượng ”.  

Chữ Giần 寅 chỉ tháng thứ nhất lịch Kiến Dần, âm Thái Nguyên – Thiểm Tây hiện nay vẫn đọc là [iəŋ11] như tiếng Việt. Các ví dụ khác: Láng Giềng là âm bạch thoại sông Hồng của Lân Cận 鄰近, tương đồng với tiếng Thái Nguyên Trung Quốc [liəŋ11] [ʨiəŋ45]. Giềng trong giềng mối, giềng/giằng/căng có từ nguyên là Cương 綱. Giềng là cổ âm của Gừng, chữ Khương 薑, nói tắt ba chữ Cao Lang Khương 高良薑. Giếng là cổ âm của Tỉnh 井…

Chính nguyệt thật ra không cố định, sách Tiền Hán Kỷ đã ghi rõ: thời Hạ lấy tháng Dần, Chu lấy tháng Tí, Thương dùng tháng Sửu. Đến năm 104 BC, Hán Vũ đế đổi qua lịch Thái Sơ – Kiến Dần như nhà Hạ. Như vậy kết luận Giêng là cổ âm của Dần mới giữ được tính liên tục của ngôn ngữ vì như đã nói, âm chỉ số 1 của tiếng Việt có từ nguyên là Mộc, ngũ phân thời Hạ.

Thỏ hay mèo?

Tháng Sửu: Dẫn trâu ra đồng, bắt đầu mùa mới.

Tháng Thìn: Rồng phun nước. Mùa mưa đến.

Tháng Tuất: Tuất nguyệt 戌月, tháng 11 thời Chu, tháng 9 thời Hán. Đây là thời điểm cuối mùa thu, thời tiết đẹp, nông vụ đã gặt hái, muông thú đã qua kì thay lông và sinh sản, béo tốt, cây cỏ rụng lá không chắn tầm nhìn. Thế là cổ nhân xua chó đi săn. Chính vì vậy săn thú (vào mùa thu) được viết bằng chữ Lạp 獵 hoặc chữ Tiển 獮, đều bộ Khuyển 犬. Săn chính là tiếng Mân khi đọc chữ Tiển và tháng Tuất được áp cho con chó. Chó lại là tiếng Ngô Việt khi đọc chữ Khuyển.

Người Việt Nam và Trung Quốc đều không hiểu tại sao chi Mão/Mẹo 卯 được áp cho Mèo và Thỏ, là hai con hoàn toàn khác nhau, ở hai nước. Sách Luận Hành của Vương Sung năm 80 thời Đông Hán đã ghi chú rõ ràng trong phần Vật Thế, chi Mão gắn với con Thỏ. Đến thế kỷ 18, sách Vân Đài Loại Ngữ của Lê Quý Đôn vẫn còn chép chi Mão là con Thỏ. Tuy nhiên trước đó, ở thế kỷ 17, tự điển Việt – Bồ – La (1651) của Alexandre de Rhodes, lại chép Mão là Mẹo và giờ Mẹo ứng với con mèo.

Trước tiên chúng tôi xin nhắc lại, về mặt từ nguyên, người Việt đang gọi con Gấu là con Chó vì từ nguyên của Gấu là Cẩu. Thư tịch chữ Nho viết đầy đủ danh từ chỉ con Gấu là Cẩu Hùng 狗熊, là giống gấu lông đen (hắc hùng 黑熊) bản địa từ sông Dương Tử đến sông Cửu Long. Cũng lưu ý, loài Panda chữ Nho là Miêu Hùng 貓熊 hoặc Hùng Miêu 熊貓, tức Gấu Mèo trong tiếng Việt. Dùng chữ chỉ con thú này để mô tả giống loài khác rất phổ biến trong thư tịch Nho học. Chẳng hạn sách Sơn Hải Kinh chép Hổ Giao 虎蛟 thân cá, đuôi rắn. Chữ Li 狸 chỉ con cáo nhưng Li Miêu 狸貓 lại là mèo rừng. Dân gian Việt gọi mèo là Tiểu Hổ 小虎 nằm trong mạch nguồn ấy.

Miêu Thố 貓兔: The Sino-Tibetan Etymological Dictionary and Thesaurus

Tiếng Thổ Gia của người dân tộc bản địa ở Hồ Nam – Trung Quốc, con thỏ được gọi bằng âm tương đồng với Miêu Thố 貓兔. Từ đây có thể dễ dàng đi đến kết luận rằng Mẹo ứng với con thỏ là ở trong văn ngôn. Bạch thoại dân dã giản dị hơn, áp thẳng vào con mèo.

Bếp

Bếp, có chữ Nho rất cổ và ít được sử dụng phổ thông là Phạp 𤇮. Khang Hy từ điển ghi nhận phương ngôn Huy ngữ vùng Giang Đông vẫn dùng chữ Phạp chỉ chiên hoặc rán thực phẩm bằng dầu ăn. Xưa, ở Hoa Nam cũng dùng chữ Phạp chỉ cái bếp tức Trù Phòng 廚房.

Phạp/Bếp 𤇮 lấy thanh của chữ Phạp 乏, tiếng Triều Tiên đọc là [phip], được Hán Điển tái tạo cổ âm bạch thoại thời Đường là [bhiæp]. Như vậy Bếp thiên về nấu nướng hơn là chỉ cái hỏa lò tức Hỏa Lô 火爐. Núc trong bếp núc có lẽ là biến âm của lúc/lát, bếp núc hẳn chỉ quãng thời gian nấu ăn.

Ông táo, ông đầu giau, bù giau

Lưu An thời Tây Hán và Vương Xung kỷ Đông Hán đều trích dẫn sách cổ, viết: Viêm đế tác hỏa tử nhi vi Táo 炎帝作火死而爲竈 – Nghĩa là đế Viêm đã tạo ra lửa, khi mất đi biến thành cái bếp. Viêm đế còn gọi là Bào Hy 庖羲, đây chính là lý do chữ Nho – Bào 庖 cũng chỉ cái bếp. Bất chấp mọi biến thể, dị thể khắp lục địa Á Đông về sự tích ông táo, chúng ta thấy rằng gốc rễ của táo quân rõ ràng xuất phát từ tục thờ lửa tối cổ của loài người nói chung.

Người Mân Nam dùng hai chữ Táo Giao 灶跤 (hoặc Táo Giao 灶骹, Táo Cước 灶腳) mà bạch thoại Việt ngữ ký âm sai thành Đầu Rau rồi đưa vào tự điển. Cho đến lúc này các nhà ngôn ngữ học Trung Quốc và Đài Loan vẫn chưa hiểu tại sao Táo lại kèm theo chữ Giao chả mang nghĩa gì cả. Một số gắng gượng dựa vào hình ảnh các thanh củi giao nhau, chồng lên nhau trong bếp lò rồi suy diễn. Nếu vậy phải dùng Giao 交, chứ sao lại thêm bộ Túc hay bộ Cốt?

Ở đây chúng tôi thấy hai dòng biến âm trên cùng một chữ/âm. Cổ âm của Táo 竈/灶 chắc chắn là Đầu (như đồi/tồi, đức/tốt). Song song đó là Đầu -> Giàu -> Giao, tương tự như Đao 刀 -> Dao, Đạo 稻 -> Giạo -> Gạo. Vì vậy có thể kết luận Đầu Giau là đẳng lập cùng gốc, cực kỳ phổ biến trong tiếng Việt: Ướt Át (Ác 渥), Gà Qué (Kê 雞), Mộc Mạc (Mộc 木), Mồ Mả (Mộ 墓)…

Hơn nữa hiện nay có 5 địa phương Trung Quốc, những trung tâm văn hóa Hán Đường, chắc chắn còn lưu tồn rất nhiều âm Hán cổ, gọi gian bếp có âm Đầu. Vạn Ninh – Sơn Tây: Oa đầu 鍋頭, trong đó Oa mang nghĩa cái nồi. Hàng Châu và Ninh Ba – Chiết Giang: Táo đầu gian 灶頭間. Kim Hoa – Chiết Giang: Hoạch đầu gian 鑊頭間 hoặc Hoạch đầu 鑊頭, trong đó Hoạch là cái vạc, cái chảo để nấu.

Một số làng cổ ở Thái Bình không dùng Đầu, mà chỉ gọi ông Táo là Bù Giau, càng khẳng định hướng nhìn này có lý. Bù Giau nhiều khả năng là Mân âm của Bào Giao 庖跤 vì chữ Bào hiện tiếng Mân ở Tiên Du – Phủ Điền – Phúc Kiến đọc là Pù [pu24].  

Ngày nay ở Phúc Châu – Phúc Kiến, đồ cúng táo quân cuối năm không thể thiếu hai cây mía, tương truyền bắt đầu từ thời Tống. Dân gian kể rằng khi ấy có một Nho sinh rất nghèo, chỉ có thể nhặt mấy gốc mía bị người ta bỏ đi rồi tém gọt sạch sẽ đặt lên bàn thờ, nhờ táo trình bày với ngọc hoàng thượng đế rằng chữ nghĩa hiện tại quá rẻ rúng nên không có tiền làm tiệc thịnh soạn. Ngọc đế đồng cảm, năm ấy bèn độ cho kẻ thư sinh ấy đậu trạng nguyên. Thế là “Khổ tận cam lai – 苦盡甘來”. Cam Giá 甘蔗 chính là cây mía vậy. Thật ra câu chuyện ấy cũng chỉ là vẽ rắn thêm chân vì ngoài mía, tế táo còn phải có các món ngọt như bánh, xôi, chè. Thậm chí nhiều nhà còn bôi cả mật lên miệng tượng táo với hy vọng lên thiên đình, táo chỉ tâu bẩm những lời ngọt ngào mà thôi.

Táo quân là tối giản của danh hiệu “Cửu thiên tư mệnh định phúc đông trù yên chủ bảo táo hộ trạch chân quân” trong Đạo giáo. Xưa nhất, có sách Phong Thổ Ký thời Tấn (265 – 316) chép: “Tối 24 tháng Chạp thì tế táo”. Mốc thời gian này kéo dài đến tận giữa triều Thanh, có ghi chú rõ ràng trong sách Thanh Cung Di Văn các năm Càn Long. Sau đó, lấy cớ phân biệt tôn ti, hoàng gia, vương công và quan lại đồng loạt đổi tế táo qua ngày 23 tháng Chạp, dân chúng vẫn giữ như cũ. Ở Phúc Châu – Phúc Kiến ngày nay vẫn còn lưu truyền thành ngữ “Quan tam, dân tứ, khúc đề ngũ 官三民四曲蹄五”, nghĩa là nhà quan cúng táo ngày 23, dân 24 và người Khúc Đề cúng vào ngày 25. Khúc Đề là từ miệt thị, ý tương đồng với “chân đất mắt toét” để chỉ tộc Đản, chính là một nhánh người Lê 黎 bản địa ở Hoa Nam. 

Chữ Viêm 炎 trong Viêm đế tượng hình hai ngọn lửa màu đỏ chồng lên nhau, do đó từ thời Đường, kết hợp với việc triều đình cấm ăn cá chép, có lẽ tục thả cá chép ĐỎ vào ngày đưa táo quân lên trời bắt đầu thịnh hành. Đây là sự kết hợp hài hòa giữa đời sống thực tế và thần thoại cá Chép hóa rồng bay lên trời (Lý ngư dược long môn biến thành long 鯉魚躍 龍門變成龍) có căn cứ thư tịch chắc chắn từ Trúc Thư Kỉ Niên thời Chiến Quốc. Ở đây Dược 躍 là nhảy lên, chứ không phải Việt/Vượt 越.

Cá chép và cá giếc

Cá chép là món ăn cực phẩm của người Trung Nguyên, được ca tụng từ Kinh Thi trở đi, chữ Nho là Lí 鯉, còn gọi là Xích Lí Ngư 赤鯉魚 (cá Lí đỏ). Vì đồng âm với họ Lý李của Đường cao tổ nên bị đổi thành Xích Tiên Công 赤鮮公. Tục phóng sinh cá chép có thể bắt nguồn từ việc nghiêm cấm ăn cá chép ở thời này. Theo sách Dậu Dương Tạp Trở hồi thế kỷ thứ 9, Đường pháp qui định lỡ bắt được Lí ngư thì phải thả đi, mua bán cá chép bị phạt 60 roi. Từ nguyên Chép nhiều khả năng hình thanh tiếng cá đớp Chép Chép, Chẹp Chẹp, tiếng Việt Nam và tiếng Mân phát âm như nhau, chữ Nho là Thiệp 捷.

Cá chép

Nếu cá chép mang màu đỏ may mắn thì cá Giếc màu vàng thể hiện sự quý phái. Giống cá vàng (goldfish) hiện được nuôi làm cảnh khắp thế giới chính là một dòng đột biến của chủng Giếc.

Cá Giếc, chữ Nho là Phụ 鮒 hay Tức 鯽. Chữ Tức 鯽, Mân âm Triều Châu tại huyện Nhiêu Bình 饒平 tương đồng hoàn toàn với tiếng Việt [ziêg4]. Thật ra nếu không có âm Nhiêu Bình, chúng tôi vẫn có thể tái lập và chứng minh Giếc là cổ âm của cách đọc chữ Tức ở hầu hết các ngữ chi Trung Quốc hiện nay: Quảng Đông [ʦɐk55],  Nam Kinh [ʦiʔ5], Hạ Môn [ʦik32]… Đây là biến âm Gi/Ch như đã nhiều lần được lấy làm ví dụ: Giời/Trời, Giăng/Trăng, Giỗng/Trống, Giun/Trùn…

Vĩ Thanh

Phim tài liệu: Tôi là ai?

Văn hóa và ngôn ngữ Hán Đường tầng tầng lớp lớp hòa quyện với nhau ở xứ Việt với nền tảng tâm linh Đạo giáo. Đến nỗi danh từ riêng Đạo đã trở thành danh từ chung chỉ tôn giáo như Đạo Phật, Đạo Chúa… Những thứ phi Hán Đường ở nước ta hầu hết lại chia sẻ nguồn gốc với đất Mân.

Một thế kỷ qua học thuật thực dân và hậu thực dân đã thực thi âm mưu thâm độc rất hệ thống, nhằm tẩy não người Việt Nam, bắt đầu từ việc loại bỏ chữ Nho khỏi đời sống xã hội vào đầu thế kỷ 20. Mất chữ Nho, người Việt không những không hiểu cha ông mình từng viết gì, mà còn không rõ bản nghĩa của Việt âm thông dụng hằng ngày cũng như gốc rễ văn hóa.

Sài Gòn – Tây Giang. Tiết Lập Xuân 3.2.2021

@T.T.Du

Anh Cả anh Hai, cả hai đều là anh Cả.

Leave a comment

Dưới ánh sáng ngữ âm học so sánh, trên cơ sở nhu liệu tiếng Việt và hầu hết phương âm Trung Quốc, các giải thích cũ về từ vựng Đại Việt – bất kể dân dã hay hàn lâm, đều trở nên tùy tiện đến ngớ ngẩn và nực cười. Điển hình nhất, phải kể đến lý giải hàm nghĩa Anh Cả và Anh Hai ở hai miền Nam – Bắc.

Một trong những “giải nghĩa” tùy tiện đầy rẫy trên mạng.

Hai chữ Nho có nghĩa tương cận là Cự 巨 và Đại 大 đều chỉ to, lớn. Từ ghép Cự Đại 巨大 xuất hiện muộn nhất là ở thư tịch Tây Hán, trong sách Đạo giáo của Lưu An và sau đó ở thời Đông Hán, trong triết Nho của Vương Xung. Cự Phách 巨擘 nghĩa đen là ngón tay cái, to nhất trên mỗi bàn tay, nghĩa bóng chỉ người nổi trội, xuất hiện tận thời Chiến Quốc trong sách của Mạnh Tử.

1. Cự 巨 = Cả

Cự 巨 chắc chắn có cổ Hán âm là Cả. Tiếng Mân ở Trừng Hải, Quảng Đông hiện đọc [kə35] (kỡ) gần với Cả nhất, còn hầu hết các chi Mân ngữ đọc là [kɯ35] (kữ) hay [ki/y].  Quan hệ biến âm Ư/A có thể tham khảo Dư 餘 thường được đọc song âm là Dư Dả, Thư 舒 thành Thư Thả, Thứ 恕 thành Tha Thứ. Dả, Thả và Tha đều tồn tại âm tương đồng ở Hoa Nam khi đọc chữ Dư, Thư và Thứ. Ngoài ra Lữ 呂 là họ người, nên không tạo thành song âm Lữ Lã, tiếng Việt đọc cả hai kiểu, Lữ/Lã hậu hay Lữ/Lã Bố, là vậy.

Ngoài nghĩa to, lớn như trong Biển Cả, Sóng Cả, Đũa Cả, Cả vú lấp miệng em, Cả gan – to gan (nói tắt của to gan lớn mật, tức Can đảm 肝膽), Vợ cả – vợ lớn; Cự 巨 mang rất nhiều nghĩa khác, trong đó most (gần với Cực 極 và Tối 最) được ghi chép đầy đủ trong tự điển và thư tịch cổ đại Trung Quốc nhưng không thấy hiện diện ở từ điển Việt Nam. Tuy nhiên không vì thế mà nghĩa most của chữ Cự không có trong tiếng Việt, Tất Cự 悉巨 chính là Tất Cả.

2. Đại 大 = Hai, Đôi/Đối 對 = (số) Hai.

Anh cả, tiếng Trung hiện nay và xưa kia đều gọi là Đại Huynh 大兄 hoặc Đại Ca 大哥. Chữ Đại 大 còn có âm Thái, bạch thoại Việt Nam và Hạ Môn lại tương đồng ở âm To [to22]. Trong dòng chảy biến âm suốt 2000 năm qua của ngôn ngữ Á Đông nói chung, tình cờ Thái đã mất phụ âm đầu [t] để thành thể Hai ở Việt Nam hoặc Hái [hai213/45] trong tiếng Cám phổ biến ở trung và bắc Giang Tây, đông Hồ Nam, đông nam Hồ Bắc, tây nam An Huy và tây bắc Phúc Kiến. Trường hợp mất phụ âm đầu [t] để thành Hái, có thể dẫn chứng thêm chữ Thái 採 nghĩa là hái, ngắt. Đây có thể là hệ quả của biến âm tương đồng nhưng độc lập của âm [thái] cổ, và cũng không thể loại trừ khả năng tiếng nam bộ Việt Nam và tiếng Cám có chung gốc trung đại.  

Hán Điển ghi nhận Cám ngữ đọc chữ Đại là Hái (thanh dương khứ)

Âm Hai chỉ số 2 trong tiếng Việt có liên đới với chữ Đôi/Đối 對. Đôi/Đối này lại nằm trong nhóm từ lõi tối cổ của cả ngôn ngữ Á Đông và Ấn Âu: Bồ Đào Nha [dois], Tây Ban Nha [dos], Pháp [deux], Italian: [due], Latin [duo],  Nga [dva], Hy Lạp [dýo], Malay [dua], Indonesian [dua], Philippine [dalawa], Nepal [du’ī], Hindi [do], Champ Phan Rang [dua], Rhade/Jarai [dua], Bài Loan ngữ (trên đảo Đài Loan) [ɖusa]… Cũng như tiếng Anh dưới ảnh hưởng của biến âm Đ/T để Duo (La Mã) thành Two, Đôi/Đối 對 trong tiếng Quan Thoại Liễu Châu – Quảng Tây hiện đang bảo tồn âm [tɐi24] tương tự như Ôn Châu [tai42], Bình Giang – Hồ Nam [tai5]… cùng rất nhiều biến thể gần gũi như [toi21] trong tiếng Mân Đông – Phúc Châu và Ninh Đức.

Địa chi thứ 12 Hợi 亥 Mân âm và Quảng âm hầu hết đọc như tiếng Hạ Môn là [hai22]. Ngoài ra bát quái thứ hai của Dịch – Đoài 兌 âm Ôn Châu là [tai42], Hỏa 火, số 2 ngũ hành, tức hệ ngũ phân tối cổ âm Hạ Môn là [he53], chữ Nhị 二, tiếng Linh Xuyên – Quế Lâm lại đọc là [tai35]. Sau rốt là chữ Tái 再 mang nghĩa số hai như trong Tái Phạm, Tái Tiếu (đàn bà lấy chồng lần thứ 2), còn sót lại một hai phương âm Khách Gia và Quảng Tây đọc là [tai52].

Những phương âm này tuy nằm rải rác khắp nơi nhưng sự tương đồng đặc biệt về âm trên các khái niệm ít nhiều liên quan đến số 2 đã dẫn, hé lộ dấu vết rõ nét của từ nguyên chỉ số 2 trong tiếng Việt của chúng ta.

Một mắt xích cực kỳ quan trọng chỉ ra tương quan giữa âm chỉ số 2 và âm Đại 大 là các âm Nôm của chữ Hai 𠄩 (chỉ số 2) với 6 cách đọc từ chữ Đài 台 tượng thanh: Hai, Thai, Thay, Thơi, Đài, Đày.

Sự đồng âm tình cờ của Đại 大 trong Đại Huynh, Đại Ca với âm chỉ số 2 của tiếng Việt đã dẫn đến giải pháp dung hòa gọi người con cả là Anh Hai, rồi cứ từ Hai mà đếm tới. Tiếng lóng nam bộ cũng xướng con bài Tây số 2 là con Heo. Đứng về góc độ âm học, Heo chính là Hai do biến âm A/E như Hạ/Hè, Xa/Xe mà thôi.

***

Anh Cả anh Hai, cả hai đều là anh Cả.

Vợ Cả vợ Hai, cả hai đều là vợ cả.

Đến đây thì chúng tôi hy vọng bạn đọc đã hiểu hai câu lắt léo phía trên. Tưởng như đùa vui nhưng đây chắc chắn là giải thích dung dị song đầy đủ hàm ý của tiền nhân, mà ngay cả các từ điển tiếng Việt đồ sộ xưa nay cũng chưa bao giờ làm được.

Chúng tôi tìm ra chữ Cự chính là nhờ đặt câu hỏi tại sao tổ tiên chúng ta gọi là Con Sông chứ ko phải từ gì khác. Cơ bản, Con (Kiển 囝) là lượng từ phổ biến thứ hai trong tiếng Việt, chỉ sau Cái (Cá 個). Con nghĩa gốc là nhỏ, nếu tiếng Bắc Kinh hiện nay gọi con dao nhỏ là Tiểu Đao 小刀 thì tiếng Mân lại diễn đạt như tiếng Việt Nam là Dao Con 刀囝 (đao kiển). Có thể hiểu rằng Con dùng để đặt trước các danh từ đếm được nhưng có kích thước nhỏ như Con Dao, lớn hơn dao là rựa nên chuyển thành Cái Rựa. Tất nhiên cũng tồn tại những ngoại lệ như Con Voi, Con Bò…

Mọi con sông đều rất nhỏ bé so với Biển Cả, nơi tổ tiên người Việt đã phải vượt qua để di cư đến mảnh đất Việt Nam ngày nay. Hành trình ấy đã để lại những dấu vết rất rõ nét và không thể phủ nhận trong ngôn ngữ của chúng ta.

Tóm lại: Để chỉ người con lớn nhất trong gia đình, bạch thoại sông Hồng dùng cổ âm Cả của chữ Cự 巨, bạch thoại trung và nam bộ Việt Nam dùng phương âm [hai] của chữ Đại 大.

Đông Giang 06.01.2021

@T.T.Du

Nguyên lai một số địa danh ở Hà Nội

Leave a comment

Hiện tượng song danh trong tên các vùng đất ở Hà Nội khá phổ biến. Ngoài tên chữ Nho đọc theo Đường âm như Từ Liêm, Đông Ngạc, Diễn, Mễ Trì; còn có tên gọi dân dã kèm theo – được sách vở xưa nay cho là âm Nôm – như Chèm, Vẽ, Nhổn, Kẻ Mẩy.

Đầu tiên phải khẳng định nói tắt hoặc giản xưng địa danh là thực tế thực hành ngôn ngữ có tính phổ quát toàn cầu, tiếng Anh gọi là “short name” hoặc “nickname”. Nói tắt có nhiều mục đích, từ gọn hóa âm tiết cho dễ nhớ đến thể hiện sơ nét đặc điểm lịch sử, văn hóa, thậm chí kinh tế – chính trị riêng biệt của vùng đất. Do vậy nhiều địa danh lớn trên thế giới hầu như không bao giờ chỉ dùng một nickname. Los Angeles sở hữu đến hàng chục tên khác nhau, bắt đầu từ L.A trở đi. Thượng Hải có giản xưng là Hỗ 滬, biệt xưng Thân 申. Các địa danh ở Từ Liêm như Chèm, Vẽ, Nhổn rõ ràng là nói tắt. Nhưng nếu đọc đầy đủ Kẻ Chèm, Kẻ Vẽ, Kẻ Mẩy sẽ giống như tên khác, hơn là giản xưng.

Trong ngữ pháp tiếng Trung hiện nay Cá 個 là lượng từ đặc biệt và phổ biến bậc nhất, dùng được với hầu hết danh từ chỉ người, bộ phận cơ thể, hoa quả, vật dụng, thiên thể, sông hồ, tổ chức, sự kiện, hoạt động, thời gian, thực phẩm, ý tưởng, suy nghĩ… Các phương ngữ Trung Quốc vẫn lưu tồn đủ các âm thông dụng ở Việt Nam: Cửa [kɤ45] (Thái Nguyên) , Gái [gai] (Ngô Việt ngữ – Ngọc Sơn – Giang Tây), Cái [kai42] (Ôn Châu), Cổ [ko445] (Hàng Châu), Củ [ku35] (Thượng Hải), Kẻ [ke53] (Khách Gia), Cây [kei31] (Khách Gia)… Thậm chí ở Dương Sóc – Quảng Tây – người ta đọc chữ Cá 個 là Ná [na24] đầy chất Thái – Mường của tiếp đầu ngữ địa danh. Biến âm K/G còn chỉ ra khả năng Gã/Kẻ trong tiếng Việt thực chất cũng từ chữ Cá.

Cổ và Kẻ, ở nhiều trường hợp – là một, do dùng chữ Cổ 古 giả tá (mượn) hoặc viết nhầm chữ Cá 個 vì đồng âm. Lấy ví dụ Kẻ Giai là tên Nôm của Cổ Trai 古齋, xã Ngũ Đoan, huyện Kiến Thụy, đất tổ nhà Mạc.

Do vậy chúng tôi đã có đủ dữ liệu để kết luận các tiền tố Kẻ/Cổ/Cái/Cửa/Na/Cây trong địa danh Việt Nam chỉ là lượng từ mà thôi. Nó mang tính dân gian cổ đại chất phác và rất tiền sử của ngôn ngữ Á Đông nói chung, rồi phổ dụng trong tiếng Việt, Trung và cả Thái – Mường từ quá khứ đến hiện tại.      

1. Đường Lâm 糖林 (đồn điền mía) hay Đường Lâm 唐林 (China town).

Ở Đường Lâm, Sơn Tây, Hà Nội có chùa Mía, tên chữ là Cam Giá 甘蔗 tức cây mía. Ngoài ra Đường Giá 糖蔗 cũng mang nghĩa cây mía. Mía trong tiếng Việt tương đồng 100% với âm Tây An và Hàng Châu [miəʔ2] của chữ Mật 蜜. Cả ba chữ Cam/Đường/Mật đều mang nghĩa ngọt.

Như vậy khả năng rất lớn ngày xưa khu này được gọi là Đường Lâm 糖林 tức rừng mía, đồn điền mía. Và theo thư tịch cũ Cam Lâm 甘林 cũng mang nghĩa đồn điền mía là địa danh thuộc tổng Cam Giá, huyện Phúc Thọ.

Hậu thế đã gượng ép trên cơ sở đồng âm rồi cho rằng làng cổ Đường Lâm 糖林 (đồn điền mía) chính là Đường Lâm 唐林 (làng người Đường di cư) của Ngô Quyền. Họ dựng cả lăng giả cho Ngô vương rồi thờ cúng rất xôm tụ. Đến đây có thể xác quyết tất cả những gì liên quan đến Ngô Quyền ở cái địa danh mang nghĩa đồn điền mía là mạo dựng.

2. Mễ Trì 米池 – Kẻ Mẩy

Mễ Trì mang nghĩa ao gạo, bể gạo, ý nói đây là vùng đất màu mỡ chuyên canh lúa nước, sản lượng cao. Mẩy là Hán âm khi đọc chữ Mễ mà thôi. Tiếng Ngô Việt ở Ôn Châu hiện đọc chữ Mễ bằng âm Mẩy [mei35], tương đồng tuyệt đối với tiếng Việt. Tiếng Quảng Đông ở Nam Ninh cũng rất sát âm Mẩy [mɐi24].

3. Diễn 演 – Nhổn

Diễn 演, nghĩa đen gốc là dòng nước, luồng nước rộng dài, mở rộng, xiển dương. Diễn đã đi vào địa danh trong Cầu Diễn, Kẻ Diễn, Phú Diễn, Phúc Diễn – hiện tiếng Hẹ tại Dương Tây – Quảng Đông đọc là Nhiòn [ȵ iɔn35]. Đây là dấu vết cổ Hán âm của chữ Diễn và khá tương đồng với âm Nhổn trong tiếng Việt.

Thật ra Nhổn/Diễn là hệ quả biến âm Nh/Gi/D/Z của ngôn ngữ Á Đông. Chúng tôi từng đưa ra rất nhiều ví dụ chứng minh: Nhà/Gia家, Dơ (bẩn)/ Như 洳, Giàu/ Nhiêu 饒, Gió/ Nhiễu 繞…

4. Cổ Nhuế 古芮 – Kẻ Noi

Cổ Nhuế 古芮 vốn là tên một tiểu quốc tận thời Nghiêu Thuấn. Tấn Thư ở thế kỷ thứ 7, thời Đường, viết: Cách Ngu thành 40 dặm về phía tây bắc có Nhuế thành. Cách Nhuế thành 20 dặm về hướng tây lại có nước Cổ Nhuế. Cũng xin lưu ý, Hồ Quý Ly đã cải quốc danh Đại Việt thành Đại Ngu 大虞 với niềm tin họ Hồ là hậu duệ Nghiêu – Thuấn và quyết tâm xây dựng đất nước hùng cường, độc lập, tự xưng thiên tử – ngang hàng và bình đẳng với nhà Minh. Có lẽ cái tên Cổ Nhuế hình thành muộn nhất là vào khoảng cuối thời Trần.

Đến đây thì chỉ cần kiến thức chữ Nho sơ đẳng (như tôi) là có thể liên kết Cổ Nhuế với Kẻ Noi được rồi. Nhuế 芮 là âm quan thoại thời Đường, âm gốc của nó nằm trong hợp phần Nội 内. Chữ Nhuế hiện được đọc là Noi/Nui ở rất nhiều ngữ chi Hoa Nam như Mân Việt, Quảng Đông, Khách Gia. Điều này chứng tỏ Noi là âm bạch thoại dân dã trung đại của chữ Nhuế.

5. Từ Liêm 慈廉 và Chèm

Sách Thái Bình Ngự Lãm thời Bắc Tống (977-984) dẫn Giao Châu Ký viết: 交州記 曰: 慈廉江者, 昔有李祖仁居此 , 兄弟十人,并慈孝廉讓, 因此名江. Tạm dịch: Từ Liêm là tên sông, xưa tổ tiên họ Lý cư trú ở đây, có 10 anh em sống với nhau giữ trọn Từ, Hiếu, Liêm, Nhượng – nhân đó lấy đức Từ Liêm mà đặt làm tên sông.

Từ Liêm nói tắt, nói nhanh thì thành Liêm 廉. Âm Nôm còn đọc là Rèm. Thật ra viết đúng phải là Gièm. Và như Giầu/Trầu, Giời/Trời, Gièm sẽ biến âm thành Chèm. Chữ Liêm 廉 còn chỉ miếng gỗ vạt góc làm cái Nêm, cái Chêm. Nếu chưa đủ, thì nhìn thêm vào chữ Liêm 簾 bộ Trúc 竹 chỉ cái rèm cửa, rèm che. 

6. Đông Ngạc 東鄂 – Kẻ Vẽ

Đông Ngạc 東鄂 mang tự nghĩa là vùng biên/ven phía đông. Ngạc quốc là một chư hầu của nhà Thương. Như vậy có thể hiểu đây là chư hầu biên viễn. Đến thời Xuân Thu, theo Thủy Kinh Chú “Hùng Cừ (vị vua thứ 9 nước Sở) phong cho con giữa tên Hồng làm vương đất Ngạc (Ngạc vương – sau khi thôn tính Ngạc quốc), từ đó mà ra địa danh Đông Ngạc”. Thông Điển năm 801 thời Đường, viết trong phần Cổ Kinh Châu “Đông Ngạc là tên cũ của Vũ Xương, do Tôn Quyền cải danh”.  Đông Ngạc ngày nay thuộc thành phố Vũ Hán – Hồ Bắc, đó là lý do Ngạc trở thành giản xưng của tỉnh này.

Chúng tôi thấy Ngạc và Vẽ không có sự liên quan trực tiếp về âm với nhau. Ở mặt tự nghĩa Biên/Ven lại đồng âm với chữ Văn 文. Bằng chứng là ngày nay tiếng Đan Dương – Giang Tô (phương ngữ Ngô Việt) đọc chữ Văn là Vèn [vɛn213]. Tiếng Tây An lại đọc Văn thành Vẽ [vẽ24], chính là đẳng lập Văn Vẻ trong tiếng Việt. Và có lẽ Vè mang ý nghĩa là văn vần dân gian, cũng có từ nguyên Văn 文, tiếng Việt Nam và Khai Hóa – Chiết Giang đọc như nhau [vɛ̃341].

Như vậy nhiều khả năng tiền nhân Đông Ngạc cho rằng xứ sở của mình tuy là vùng ven, nhưng có văn hiến và kỷ cương. Thư tịch còn lưu lại những Lệ Bạ 例薄 (vở ghi lại luật lệ làng xã) ở đây từ thời hậu Lê, chứng minh điều đó. Cũng không thể loại trừ Vẽ là âm Nôm của một cái tên rất cũ, trước khi Đông Ngạc được sử dụng.

***

Bia trên mộ ông Thủ Đức

Trước khi bước vào thời hiện đại, ở Việt Nam đã tồn tại song song hai thứ ngôn ngữ. Văn ngôn cơ bản là tiếng Đường – khúc chiết, sâu sắc, rõ ràng, nhưng khó hiểu với đại chúng. Bạch thoại dân dã chủ yếu lưu giữ cổ Hán âm hay phương ngôn, gần gũi, giản đơn song tùy tiện, đa nghĩa, và lắm khi thô tục. Vì thiếu nhu liệu nên các học giả đã không phân biệt được Hán âm và Đường âm trong tiếng Việt. Việc cho ra đời những thuật ngữ lỏng lẻo và tuyệt đối sai lầm như từ/âm Hán Việt (bản chất là từ/âm Đường) đã dẫn đến hệ quả bóp méo cả lịch sử ngôn ngữ.

 Không nắm được nét đại thể nhưng liều lĩnh, đã dẫn đến việc nhiều nhà kiến giải địa danh bôi tro trát trấu tên tuổi của mình mà không biết. Điển hình như Trương Vĩnh Ký bảo Sài Gòn nghĩa là củi gòn, thực ra đây là Mân âm của hai chữ Nho – Tây Cảng 西港 hoặc Tây Giang 西江, rồi được ký âm thành Tây Cống 西貢. Trần Quốc Vượng vặn vẹo âm Mân Hán – Gièm/Chèm của chữ Liêm 廉 trong Từ Liêm 慈廉, chả ngại xuyên không từ Chiêm Thành đến bịa tạc ra âm t’liem và gán nó cho một chủng người chưa rõ trong quá khứ.

Được học thuật đầy nọc độc của thực dân bơm mớm, cổ vũ, tẩy não, nhiều “nhà nát” điên cuồng thoát Hán bài Hoa, giải thích lung tung và rất vô căn cứ nhiều địa danh lịch sử ở Việt Nam. Có người nhất mực bảo rằng Huế mang âm hưởng tiếng Champa. Chèm và Sài Gòn đều là bạch thoại Việt ngữ gốc Mân Hán, và Huế cũng rứa. Tên chữ Nho đọc theo tiếng Đường của Huế là Thuận Hóa 順化. Hóa 化 có Mân âm là Huế, cũng như Hoa/Huê 花, Hòa/Huề 和.

Sự thật là, tổ tiên người Kinh Việt di cư đến mảnh đất phương nam này với tâm thế là những người thượng đẳng, rất xem thường văn hóa của thổ nhân bản địa, do đó ko bao giờ dùng tiếng địa phương. Chúng tôi tìm hiểu từ nguyên mấy năm nay, chỉ thấy được vài âm Tai Kadai không quan trọng trong 1000 từ vựng cơ bản: Lội, Mới, Làm, Bông, Bể.

Như vậy, về cơ bản, chúng tôi đã xử lý được nguyên lai một số địa danh cổ thuộc Hà Nội. Nó chỉ ra logic hình thành có hệ thống – những tên gọi thuần chất Hán – Đường, từ văn hóa, lịch sử, cho đến ngữ âm. Một số tên như Xuân Tảo – làng Cáo bị xáo trộn rất mạnh, từ Quả Động thành Minh Cảo rồi Minh Tảo, Xuân Tảo. Thiếu thư tịch, chỉ đoán bừa trên âm, chả hạn Cảo/Cáo, sợ sai nhiều hơn đúng.

Kỷ niệm ngày viếng mộ ông Tạ Huy – Thủ Đức

01.01.2021

@T.T.Du

Nhu liệu ngữ âm học chúng tôi sử dụng trong bài viết này:

1. Hán ngữ đa công năng tự khố (漢語多功能字庫) của Đại học Hồng Công chứa đựng khoảng 20 ngữ chi chính, tối đa chuyển tải từ vài âm đến khoảng 60 phương âm trên một chữ Nho.

2. Hán Điển 漢典 – chứa đựng hơn 8 vạn chữ Nho và 20 vạn từ ngữ. Một chữ Nho liệt kê từ vài chục đến gần 400 phương âm trên toàn lãnh thổ Trung Quốc hiện nay.

Nhóm từ nguyên chỉ thời gian trong tiếng Việt

Leave a comment

1. Đồng hồ 銅壺 – Giờ 時 – Khắc 刻

Hình 1

Hình 1 là chiếc đồng hồ cổ đại Á Đông thời Tây Hán, đào được ở Mãn Thành – Hà Bắc năm 1968. Chữ là Đồng Hồ Lậu Khắc 銅壺漏刻, nghĩa là cái hồ bằng đồng phía trên có cắm phù tiễn 浮箭 (que dài hình mũi tên có Khắc 刻 vạch nổi trên mặt nước trong hồ), và vòi Lậu 漏 (tức là rỉ nước tỉ lệ với thời gian). Khi nước trong hồ đồng vơi dần do thẩm lậu ra ngoài thì số khắc trên que chỉ thị cũng giảm dần. Đếm số khắc sẽ biết giờ giấc.

Theo Hán Thư, thời này phù tiễn có khắc 120 vạch. Nghĩa là 1 khắc 刻 Tây Hán có (24h x 60 phút)/120 = 12 phút hiện nay. Các triều đại sau đó giảm xuống 100 vạch, tức 1 khắc bằng 14,4 phút. Đến đầu đời Thanh, do ảnh hưởng của thời kế phương Tây, Thanh triều ban bố Thì Hiến Thư qui định 1 ngày đêm chỉ có 96 khắc. Do vậy một khắc sẽ tròn 15 phút.

Như vậy từ nguyên Đồng Hồ trong tiếng Việt có muộn nhất là cách đây trên 2000 năm và đã hoàn toàn mất dấu ở Trung Quốc.

Hình 2

Hình 2 là chiếc đồng hồ gia dụng đơn giản nhất thời Tây Hán. Ta thấy rõ các khe để đặt vào đó chiếc que có vạch khắc chỉ thị giờ. Độ chính xác của chiếc đồng hồ này không cao vì khi nước đầy, áp lực lớn sẽ làm đồng hồ chạy rất nhanh và ngược lại.

Vùng Á Đông, ở những cộng đồng dân cư lớn hay tại kinh đô mỗi quốc gia luôn phải đặt một hệ thống đồng hồ rất phức tạp, nhiều tầng.

Hình 3

Hình 3 là đồng hồ 4 tầng phổ biến ở thời Đường. Các cơ chế vận hành thủy động học sẽ khiến đồng hồ chỉ giờ chính xác hơn. Sai số chỉ vào khoảng 10 phút 1 ngày. Tư Hồ Lại 司壺吏 là chức quan nhỏ chịu trách nhiệm cho đồng hồ vận hành trơn tru, đánh trống hay chuông điểm giờ làm chuẩn cho mọi người và giúp các đồng hồ gia dụng cân chỉnh thích hợp. Đây chính là lý do phát sinh âm Tiếng (Thanh 聲) hay Điểm 點 để chỉ giờ trong tiếng Việt và tiếng Trung. Ngoài ra âm Giờ cũng chính là cổ âm của chữ Thì 時 và phát âm trong tiếng Ngô Việt (Thượng Hải, Hàng Châu, Ôn Châu) hiện nay khá tương đồng với tiếng Việt Nam [zɿ13/213/31].

Sau rốt, người ta hoàn toàn có thể giảm sai số đồng hồ xuống thấp hơn nữa nếu biết 1 chút thiên văn: Vào chính Ngọ, tức 12h trưa, ở bán cầu bắc luôn thấy mặt trời ở vào hướng chính nam. Điều này làm cho bóng cây nêu ngả về hướng chính bắc. Nếu không có Nhật Quỹ 日晷 (thời kế mặt trời) để xem và chỉnh giờ đồng hồ cho đúng thì dựng một cây nêu làm chuẩn là xong.

Mấy trăm năm nay loài người vẫn luôn phải chỉnh giờ cho đúng – đủ kiểu đủ cách, gần đây là từ radio quốc gia. Hiện tại chỉ những người chơi đồng hồ cơ mới phải chỉnh ngày, chỉnh giờ mà thôi. Đồng hồ kỹ thuật số ở khắp nơi chính xác hầu như tuyệt đối, không ít trong số đó lại có cơ chế tự động đồng bộ với các server chuẩn với sai số 1 giây trong hàng thế kỷ.

2. Giây – Phút

Mãi đến năm 1475 Paulus Almanus, một linh mục kiêm thợ đồng hồ gốc Đức làm việc tại Rome, mới phát minh ra cách chỉ thị phút và giây trên mặt đồng hồ bằng bản vẽ. Chiếc đồng hồ cổ nhất có kim giây còn lưu giữ, được sản xuất năm 1560. Phút, tiếng Latin là Minuta, mang nghĩa một phần nhỏ, miếng/mảnh nhỏ. Giây, tiếng Latin là Secunda, viết tắt từ “secunda pars minuta” nghĩa là phần chia nhỏ thứ hai sau Phút.

Như vậy khái niệm Giây, Phút đã được du nhập vào Á Đông chỉ vài trăm năm trở lại đây mà thôi. Tác giả của những từ này rất có thể là những ông thợ vừa bán vừa sửa đồng hồ, chủ yếu gốc Mân, Quảng hay Hẹ (Khách Gia). Logic là họ sẽ chọn dùng các từ mang nghĩa nhỏ và có âm gần gũi với Minuta và Secunda.  

Số học Á Đông có Thập Thối Vị 十退 位, tức là 10 tên gọi để chỉ các phần lẻ bé dần sau số nguyên, gồm: Phân 分, Li 釐, Hào 毫, Miểu 秒 hoặc Ti 絲, Hốt 忽, Vi 微, Tiêm 纖, Sa 沙, Trần 塵, Ai 埃, Miểu 渺, Mạc 漠. Căn cứ vào Tôn Tử Toán Kinh, có thể thấy rằng ở thời Xuân Thu, người Á Đông chỉ mới phổ dụng đến đơn vị Hốt 忽. Đây chính nhóm từ nguyên để tiền nhân chọn ra thuật ngữ chỉ giây, phút và sao trong thời kế cận đại.

Xuất phát từ qui định và cách dùng trong Thì Hiến Chí 時憲志 đời Thanh, tiếng Bắc Kinh đã chọn Phút = Phân (chung) 分(鐘), Giây = Miểu 秒 là hai đơn vị đi sau Thì 時 (60 phút) và 刻 Khắc (15 phút) .

Chữ Hốt 忽 có rất nhiều ngữ chi Hoa Nam và Đài Loan đọc là Phút, đặc biệt nhiều trong tiếng Khách Gia và xác suất rất cao đây là âm cận đại của phương ngôn Hoa Nam chỉ khái niệm Minuta rồi du nhập vào Việt Nam. Từ kết luận đó chúng tôi cho rằng từ nguyên Giây (Secunda) trong tiếng Việt nhiều khả năng nằm ở chữ Ai 埃 cũng có rất nhiều âm Khách Gia ở Đài Loan và Hoa Nam tương đồng với Việt ngữ [jai1/zai1/iai44].

Thúc Hốt 倏忽 mang nghĩa khoảnh khắc, một đoạn thời gian rất ngắn. Hốt cũng là từ nguyên của Vút trong Vút qua, Vụt qua. Ai 埃 nghĩa đen là bụi, nhỏ như hạt bụi. Khi thông qua âm Khách Gia, trở thành Giây trong tiếng Việt, từ nay chúng ta có thể hiểu Giây là một hạt bụi của thời gian. Đặc biệt thú vị là Phút và Giây vẫn có nét âm Latin của minuta và secunda.

Mãi đến tận thế kỷ 20 đơn vị nhỏ hơn giây mới đến được đại chúng qua các chủng loại đồng hồ tinh xảo, thậm chí đến nay tiếng Anh cũng chưa có thuật ngữ này, mà chỉ nói chung chung “blink of an eye” – chớp mắt. Giới mua bán sửa chữa đồng hồ ở Sài Gòn hiện nay gọi 1/10 giây là Sao 稍 (mang nghĩa nhỏ bé). Chữ Sao ấy đồng âm trong tiếng Việt-Mân-Quảng-Hẹ.

*Một chút và Một chốc:

Chữ Nho có thành ngữ Nhất Xúc Nhi Đắc 一蹴而得 nói về việc thành tựu, thành công chóng vánh. Nhất Xúc ở đây chính là một chốc, một chút. Tiếng Mân đọc chữ Xúc là Chốc [ʦʰok2], tiếng Quảng đọc là Chúc [zuk1]. Như vậy tiếng Bắc Việt ảnh hưởng tiếng Mân của các vua Lý-Trần nên nói Một Chốc. Tiếng Nam Việt ảnh hưởng tiếng Quảng Đông nên thành Một Chúc, Một Chút.

3. Năm – Mùa – Tháng – Ngày

Nền học thuật Thực dân nửa ngu dốt, nửa chứa đầy nọc độc, nhằm mục đích chính là tẩy não người Việt đã từng chỉ ra âm Năm xuất phát từ một trong các tiếng Khmer [cnam], Mon [hnam], Ba Lưu Quảng Tây [nam1], Bố Can Vân Nam [nam55]. Học thuật Việt Nam hiện nay, bản chất là học thuật Thực dân nối dài, đã đang và sẽ sử dụng nhu liệu này như một tín điều vĩnh cửu, kể cả khi chúng tôi đã chỉ ra rằng Năm chính là cổ âm của Niên.

 Thật vậy sách Độc Đoạn của Thái Ung (133-192) thời Đông Hán được nhà Thanh tái bản năm 1646 ở trang 17 ghi nhận thuật ngữ chỉ Năm: “Hạ viết tuế nhất viết nẫm dã” (Năm – thời Hạ gọi là Tuế, hay còn gọi là Nẫm – chỗ nét sổ đỏ hình trên). Chữ Nẫm 稔 ngày nay tiếng Quảng Đông đọc là [nam5], [nim1], tiếng Mân Hạ Môn đọc là [lim53] do biến âm N/L, nhiều ngữ chi Khách Gia đọc như tiếng Quảng Nam – Đà Nẵng [nem3].  

Như vậy nếu cho rằng tiếng Việt hay tiếng Hán cổ đã đơn âm hóa một nhóm từ lõi Á Đông cổ đại thì người ta đã làm muộn nhất là ở thời đại của Thái Ung, chứ không phải mãi sau này, như kết luận của các học giả siêu phàm phương Tây – với trình độ bạch thoại Việt ngữ chắc chắn thua xa một chú bé tuổi teen đánh giày đầu đường xó chợ.

Âm Mùa còn tồn tại ở thể đẳng lập Mùa Vụ có từ nguyên là chữ Nho Vụ 務, khớp cả hai với phương âm tiếng Ngô Việt vùng Chiết Giang.

Tháng có từ nguyên là chữ Thường 嫦 vốn là một từ cổ chỉ mặt trăng. Tiếng Ngô Việt – Hàng Châu phát âm như cổ ngữ Giăng của chúng ta [ʣɑŋ213]. Thường và Tháng chỉ là 2 cách đọc do biến âm như Mương/Máng, Nương/Nàng, Giường/Sàng, Đường/Đàng, Thương/Thang…

Ngày – từ nguyên ở chữ Nhật 日. Tiếng Ngô Việt – Ôn Châu hiện vẫn đọc gần như tiếng Việt [ȵai213].

———————————————————

Nhu liệu ngữ âm học chúng tôi sử dụng trong bài viết này:

1. Hán ngữ đa công năng tự khố (漢語多功能字庫) của Đại học Hồng Công chứa đựng khoảng 20 ngữ chi chính, tối đa chuyển tải từ vài âm đến khoảng 60 phương âm trên một chữ Nho.

2. Hán Điển 漢典 – chứa đựng hơn 8 vạn chữ Nho và 20 vạn từ ngữ. Một chữ Nho liệt kê từ vài chục đến gần 400 phương âm trên toàn lãnh thổ Trung Quốc hiện nay.

Thành phố Thủ Đức 12.12.2020

@ T.T.Du

Vietnamese Etymology: 600 basic words

Leave a comment

Sách mới: Ngữ nguyên tiếng Việt: 600 từ vựng cơ bản

Free download 30 trang pdf: Vietnamese Etymology

Trích: “Tóm lại, có thể kết luận hiện người Việt Nam đang nói một thứ tiếng Đường trung đại gồm 70% âm thuần Đường và 28% âm thời Hán đã được bảo tồn bất chấp những biến động ngôn ngữ suốt non 300 năm thời Đường. Tất nhiên, trải qua gần 1100 năm lập quốc, tiếng Việt có những đổi thay nhất định so với nguyên gốc nhưng hoàn toàn còn nhận biết được khi so sánh với các phương âm Trung Hoa hiện nay. 2% Việt âm còn lại chủ yếu là giao thoa hoặc vay mượn trực tiếp tiếng Thái-Tày-Nùng, tiếng Champa hay gián tiếp từ tiếng Mon và Khmer. Đây là logic khả dĩ, đã được chứng minh bằng 600 từ vựng Việt ngữ trong đó có 210 từ theo chuẩn quốc tế và 390 từ liên quan hoặc làm rõ nguồn gốc xung quanh 210 từ vựng cơ bản kia”.

11

@Copyright by Trương Thái Du

Sài Gòn – TP Hồ Chí Minh – 8.2020

 

Older Entries

tongocthao

The greatest WordPress.com site in all the land!

Anle20's Blog

Just another WordPress.com weblog

levinhhuy

Quắc mắt xem khinh nghìn lực sĩ/ Cúi đầu làm ngựa bé nhi đồng

Nguyễn Quốc Vương-Người bán sách rong

Quê hương yêu dấu (Dọc hành chấm đứng). Xin các bạn vui lòng ghi rõ nguồn và dẫn link đến trang này nếu đăng lại bài của tôi

thienthanh2017.wordpress.com/

Thượng thiện nhược thủy, thủy thiện lợi vạn vật nhi bất tranh - Lão Tử

Học Thế Nào

How We Learn

leminhkhaiviet

About Vietnamese Cultural History and Scholarship

Xuân Bình

Nhà báo tự do

Nguyễn Huy Hoàng

the star is fading

Nghiên Cứu Lịch Sử

Các bài nghiên cứu, biên khảo và dịch thuật các chủ đề về lịch sử

Le Minh Khai's SEAsian History Blog (and More!)

History, Higher Education & the Digital Revolution

trinhythu

Trịnh Y Thư WordPress.com site

trandangtuan.com

Men lá rượu ngô trong

4th Avenue Café

Free non-fiction translation

WordPress.com

WordPress.com is the best place for your personal blog or business site.