Truyện ngắn VÀNG ẢNH VÀNG ANH

Leave a comment

Vàng ảnh vàng anh

Trương Thái Du

1. Nàng yêu thơ tôi chứ không yêu tôi, và đặc biệt không thể yêu nổi căn hộ tập thể chật chội của tôi trên tầng 8 một tòa cao ốc cũ kỹ giữa thành phố. Nàng chỉ nên sống với thơ. Sống với nhà thơ là sai lầm, dẫu chưa dính hệ lụy bầu bì hay hôn thú. Tôi biết nàng ra đi thanh thản, như cất một bản thảo cổ điển vào đáy rương ký ức. Mỗi lần nhớ tới nàng tôi lại bật cười với bao nhiêu càm ràm thường nhật từ đôi môi cong cớn chực làm nũng: nước yếu, thang máy hỏng vĩnh cửu, nhà cầu tầng trên thấm dột, trẻ nít chung dãy hành lang ồn ào…

Bàn viết của tôi nhìn ra vòm dầu cổ thụ hàng trăm năm tuổi. Mỗi khi tắc tịt thi hứng tôi thường ước giá như có thể dựng một căn chòi giữa chạc ba chót vót kia. Người thơ gốc khỉ sẽ ngồi trên đầu thiên hạ nườm nượp phía dưới. Thơ tôi vút lên trời xanh, kinh thiên động địa. Thơ tôi rùng rùng chuyển động cuộc cách mạng ngôn từ, quét sạch bọn hủ lậu cứ nhìn thấy nhà thơ là cười nửa miệng, phơi gốc rễ cỏ rác bọn cô hồn giấu mặt gọi nhà thơ là lũ chập cheng, đồng bóng, tâm thần…

Ngày đẹp trời nọ, tư lự nhìn vòm cây tôi phát hiện một tổ chim. Chim mẹ lông vàng pha ánh xanh. Hai chú chim non còn đỏ hỏn nhưng đã biết to mồm chí chóe nhau giành mẹ mớm sâu bọ. Xác định rõ đây là giống Vàng anh quí hóa, tôi đi tìm tốp thợ leo trèo của Công ty Công viên Cây xanh ngày ngày vẫn lang thang mé nhánh cây mục khắp thành phố. Họ gỡ tổ chim bỏ vào chiếc lồng rộng rãi. Sợi dây thừng gắn ròng rọc treo lồng chim căng từ chạc cây vào cửa sổ phòng tôi. Ngày hai ba bận tôi kéo thừng, cung cấp cho chim nước uống và một đĩa nhỏ ấu trùng kiến càng béo ngậy. Chim mẹ thành ra thừa thãi. Nó bỏ đi mất dạng, sau cả tuần vờn quanh lồng chim, kêu lên những tiếng xa xót rời rạc. Hai đứa con nó mang nặng đẻ đau, ấp ôm cực nhọc không thèm ăn sâu bọ nữa.

2. Mải chăm sóc chim, tôi quên khuấy mối tình “sống thử” vừa qua lúc nào không rõ. Lồng chim hài hòa trống mái. Con trống trội hơn, mỏ đỏ, thân vàng, cánh đen mạnh mẽ. Tôi luôn huýt sáo gọi chim trước bữa ăn chính của chúng trong ngày. Là nhà thơ, tất nhiên tôi hát thơ: “Vàng ảnh vàng anh. Có phải vợ anh. Chui vào tay áo”. Tôi mong lắm một ngày, những tiếng líu lo vô tổ chức giữa lồng chim sẽ được xếp đặt lại, trong trẻo hóa và gợi lên ngữ điệu vần thơ cổ tích.

Không biết tự bao giờ tôi thích kể câu chuyện về đôi chim Vàng anh hơn là đọc thơ, bình thơ, tán thơ với bạn bè hội nhóm bên các quán cà phê vỉa hè. Và blog nữa chứ, kênh thông tin kỳ diệu của thế kỷ 21 sẽ mất vui biết chừng nào nếu không có Vàng anh. Chu choa, thiên hạ rỗi việc thật. Chỉ cần mớm mào (blast message) “Tin mới về Vàng anh” là đáp từ (reply) tới tới. Có cả truy cập của những kẻ lạ hoắc, chắc vào blog tôi qua công cụ tìm kiếm bằng từ khóa “Vàng anh”. Rất nhiều người xin phim Vàng anh. Tôi dùng chiếc điện thoại di động đã mấy lần rơi xuống nước của mình quay cảnh hai chú Vàng anh đang rỉa lông cho nhau. Chắc hình ảnh đưa lên blog nhòe nhoẹt nên ai cũng rủa tôi là kẻ lừa đảo. Thế mới khổ! Một trong những người thất vọng sáng tác luôn đồng dao xiên xỏ tôi:

Em có lỗi,

nhưng em không có tội

Đừng chửi em,

đừng bảo em giống cuội

Em không giữ bản quyền nói dối

Em chỉ là mầm non xã hội.

Nhà khảo cứu nghiệp dư nọ còn gửi cho tôi một chuỗi tư liệu nặng hàng mấy Mb, dẫn liên hệ từ Vàng anh đến Tấm Cám: “Mô típ Tấm Cám xa xưa nhất được ghi chép bởi Strabo, một sử gia Hy Lạp vào thế kỷ thứ nhất sau Công nguyên: Nàng hầu Rhodopis vì bị ép làm nhiệm vụ (giặt đồ bên suối) của người hầu khác nên không thể đến dự lễ hội do nhà vua Ai Cập tổ chức. Một chú chim đã đánh cắp chiếc hài của Rhodopis tội nghiệp và thả xuống bên vua. Ngài ngự lập tức yêu cầu phụ nữ trong vương quốc mình thử hài nhằm tìm kiếm người đẹp. Đó là cơ hội cho Rhodopis rực rỡ kiêu sa bước ra khỏi bóng tối. Sau đó sáu trăm năm, vào thời Đường, nhà Nho Đoạn Thành Thức đã ghi lại truyện Diệp Hạn qua lời kể của gia nhân Lý Sĩ Nguyên, người Ung Châu, Quảng Tây ngày nay. Họ Lý cho biết đây là truyện dân gian quê ông, có muộn nhất từ thế kỷ thứ ba sau Công nguyên: “Cha mẹ Diệp Hạn mất. Nàng phải hầu hạ phục dịch mẹ kế và em gái cùng cha rất khổ cực. Niềm vui duy nhất của Diệp Hạn gửi gắm nơi chú cá nhỏ dưới ao, vốn là mẹ ruột cô đầu thai vào. Mẹ ghẻ bèn giết cá ăn thịt. Diệp Hạn nhặt nhạnh xương cá cất trong những chiếc lọ nhỏ, chôn dưới chân giường ngủ của mình. Dù bị cấm, nhưng với sự giúp đ
ỡ của linh hồn mẹ, những lọ xương cá biến thành ngựa xe và xiêm y lộng lẫy đưa Diệp Hạn đến vũ hội mùa xuân. Sợ mẹ ghẻ phát hiện, giữa cuộc vui Diệp Hạn luống cuống bỏ trốn về nhà nên làm rơi một chiếc hài vàng. Vua đi khắp nơi ướm hài và gặp lại Diệp Hạn. Mẹ ghẻ cùng đứa em độc ác của cô bị cấm vào hoàng cung, sau đó chết vì mưa đá”
. Văn bản còn dẫn tràng giang đại hải hàng chục dị bản của Tấm Cám: truyện con cá vàng (Thái Lan), truyện con rùa (Myanmar), truyện Neang Kantóc (Campuchia), truyện Kajong và Haloek (Chăm)…

Tóm lại nhà “khảo kíu” nhận định: Chim Vàng anh trong Tấm Cám không thể có nguồn gốc từ xứ sở của Kim tự tháp được. Nó thuần Việt. Là hồn Việt. Những tương giao văn hóa dù tiểu vùng (Đông Nam Á) hay đại vùng ( Á Đông, Á – Phi – Âu) đều đa chiều. Có những hình ảnh (trong trường hợp này là chim Vàng anh) thoạt nhìn tưởng như Ai Cập hóa, Hán hóa, Âu hóa, Mỹ hóa… nhưng thực ra nó là sự phát triển tự thân, độc lập và tất yếu; hệ quả của con đường chuyển tiến hình thái xã hội. Các yếu tố ngoại lai ở đây có vẻ “cần” nhưng chưa “đủ”. Do đó, về mặt xã hội học, rất nên tiên lượng đúng cũng như xác định đúng bản chất xung đột giữa cái mới tốt đẹp và thói tật cổ lậu, giữa cái mới quái thai và truyền thống cần gìn giữ.

3. Ngọn gió dữ thổi, hôm nay người vợ hụt bỏ công trèo một trăm sáu mươi tám bậc thang đến thăm tôi. Chưa bước qua ngạch cửa nàng đã vặn miệng: “Bóng tôi chưa khuất, anh đã dẫn con quỉ cái nào về lôi lên giường vậy?”. Tôi chết trân. Nàng trợn mắt: “Lũ con nít ngoài kia đang í ới gọi nhau đến phòng anh xem Vàng anh kìa. Chúng còn bảo nhìn qua lỗ khóa không nét bằng công kênh nhau chỗ ô kiếng lấy sáng”.

Phân trần chỉ tổ phí lời, tôi đến cửa sổ kéo dây ròng rọc lôi lồng chim vào. Nhìn thấy “nàng thơ” của tôi, hai chú Vàng anh ré lên như lợn sắp bị chọc tiết.

“Em yêu thơ mà không có can đảm sống với nhà thơ” – Tôi đỡ lời cho chim.

“Anh khéo ngộ nhận. Em nào hiểu, nào cảm được thơ anh. Mỗi khi anh gân cổ hoặc dặt dẹo diễn thơ, em hình dung ra bộ cánh sặc sỡ của con công trống. Càng gần anh em càng thấy trò đó vừa dị hợm, vừa mất vệ sinh. Nước bọt anh cứ bay lã chã như mạt gia cầm mùa dịch!”.

Bó tay chấm net. Tôi vờ như chẳng nghe, chẳng thấy. Tôi dọn chuồng, châm nước, thay thức ăn mới cho chim. “Nàng thơ” chướng mắt giằng lấy chiếc lồng và mở chốt cửa. Hai chú chim bất ngờ được tự do ngơ ngác tập tễnh bước trên sàn gạch hoa bằng phẳng.

Tôi bất lực gào lên: “Em điên à. Hai con chim từ bé đến lớn chưa đi khỏi chiếc lồng. Có ai dạy nó bay nhảy đâu. Có ai hướng dẫn nó vạch lá bắt sâu tìm bọ đâu. Nó ở trên sàn nhà thì chưa việc gì. Khi đứng cheo leo bên cửa sổ làm sao nó biết dưới chân là vực sâu bằng tám tầng lầu. Nó không ngã vỡ đầu nơi hè đường xi măng thì cũng đói rã họng trên vòm lá ngoài kia”.

Tôi nhanh chân nhanh tay đi đóng mọi cánh cửa xung quanh. Đôi chim thấy động chạy nhảy lung tung, lên giường, lên giá sách và sau rốt nhót lên cửa chớp thông gió. Chúng kề vai, say sưa ngắm cảnh lạ. Vẫn khung trời ấy thôi, nhưng chắc chắn trong lồng và ngoài lồng mọi thứ rất khác nhau. Điều làm nên khác biệt ở đây là tự do và bất trắc. Không vì bất trắc mà chúng bỏ qua giá trị của tự do. Không gian yên ắng lạ thường. Đôi chim rỉa lông làm dáng như kịch sĩ rồi bắt đầu hót.

Vàng ảnh vàng anh

Có phải vợ anh

Chui vào tay áo

Tôi căm thù bài học thuộc lòng hoàn hảo của chúng, dù chính mình là người thầy đã tận tụy nhồi nhét giai điệu kia vào những bộ lông vàng ánh. Tôi bỏ đi để khỏi phải chứng kiến kết cục buồn. Tôi sợ người con gái nọ dụi đầu vào vai tôi, nức nở lời tạ lỗi khó từ chối. Hai sinh linh bé bỏng sẽ rời cao ốc. Cầu trời bản năng sớm dạy chúng tránh dây phơi, băng rôn, cáp điện… trên đường bay, để cuối cùng không dát xác dưới những bánh cao su quay tròn như mắc cửi giờ tan tầm.

Sân thượng hoàng hôn. Sợi nắng nào cũng vướng vất chút âm u của màn đêm đang đợi. Có lẽ từ nay tôi trốn cả thơ. Nhà thơ lớn là người thấu cảm những thân phận bé bỏng nhất, những nỗi đau vi tế nhất. Khải ngộ, người ta vứt bỏ ngôn ngữ. Bám vào gấu chữ, có chăng là lũ ngợm, mong vẽ tô chiếc vương miện lòe đời.

Thảo Điền

31.10.2007

Truyện ngắn LỖI VĂN HÓA

Leave a comment

Lỗi văn hóa

Trương Thái Du

1. Vũ trụ hình như quyện lại, không rõ thu nhỏ hay loang ra, nhưng nhất thể. Đen đen, đùng đục, nhầy đặc và vô biên. Lạnh tanh.

Trong cái khối gần giống như định nghĩa gốc về “Đạo” của triết học cổ điển Á Đông ấy, có lẽ ý thức đang tự phân chia. Ban đầu nó hỗn độn tựa một góc chợ. Sau rốt còn lại vài giọng chủ xướng.

– Tất nhiên nhà ngươi giàu. Nứt đố đổ vách. Nhìn vượng khí khuôn mặt rất dễ biết.

– Cái sai lầm của văn minh nông nghiệp ở chỗ đánh đồng nghèo khó với đức độ.

– Không giấu nổi ta đâu. Quyền hành sinh ra tài lộc.

– Quyền nghĩa gốc là quả cân, hành đôi khi có thể hiểu là cán cân. Quyền hành nghĩa cổ là làm việc mà biết cân nhắc.

– Thì đấy. Kẻ cầm cân nảy mực mới có thể thiên vị, tư túi, nhũng lạm…

Những trao đổi làm mọi thứ loãng dần ra. Không khí dễ thở hơn. Có tí hơi ấm.

– Rốt lại cũng vì chữ “lợi” – Tiếng thở hắt ra.

– “Lợi” đẻ ra ranh ma, gian dối?

– Ở những xã hội chưa toàn khai, sự cạnh tranh thấp khiến người ta thực thà, tín cẩn.

– Quá trình “văn hóa” lại “quá độ” bằng cách sinh nở những giá trị phản nhân văn?

– Hiển nhiên rồi. Mọi thứ đều cần đạt ngưỡng. Đến mức nào đó sẽ có chuyển hóa. Để đến chữ tín, phải đi qua giai đoạn bất tín. Học chỉ thấy tín. Hành sẽ lộ ra bất tín. Song, bất hành cũng như thất học.

– Những kẻ bế tắc thường vồ vập những giá trị ảo, thổi phồng lên, gào thét mọi người cảnh tỉnh. Đơn giản đó chỉ là những kẻ không nắm qui luật vận động.

– Ngụy biện!

– Lạc quan chứ.

– Nhưng ngươi là ai.

– Ta chính là ngươi!

Vô thanh. Bắt đầu nóng nực.

2.

– Người tốt, trước tiên là tốt với chính mình. Kẻ yêu được người mà không yêu chính mình và những gì thiết thân quanh mình, thực ra là đang chế biến món lừa nêm gia vị hành xác.

– Nếu tự ta nghĩ mình thanh liêm, mọi người cũng nghĩ như vậy?

– Cần có bằng chứng. Hay nói cách khác cần tự xây dựng niềm tin cho mọi người.

– Ta có phải quan tòa đâu.

– Trong án đình của một xã hội lý tưởng, không có quan tòa. Nếu bị cáo không chứng minh được mình vô tội, không dẫn ra được bằng chứng vô tội, hắn phải tự giác nhận trừng phạt.

– …….

Màn hình máy tính trở nên khá tối. Câu biện bạch nối tiếp không thể nhập vào hộp thoại. Chiếc đồng hồ cát tượng trưng đứng đơ ra. Máy treo. Tái khởi động. Cảnh báo hiển hiện: “Lỗi hệ thống”.

Câu này luôn là bùa chú cuối cùng của cái thằng vi tính vẫn vỗ ngực thông tuệ. Lý do thật chung chung, hàm hồ và vô phương chẩn đoán. Trực quan đơn giản đến trống rỗng: Con bệnh vật chất nghiễm nhiên hết bệnh, hết lây nhiễm nếu được địa táng hoặc hỏa táng.

Nóng bức quá. Đặc quánh và dồn nén như sắp bùng nổ. Cơn đau nhức nhói, giàu khoái cảm và khẩn cấp như vượt cạn.

3. Ngài quan chức giật mình tỉnh giấc. Ông đã có một giấc mơ khá lạ lùng.

Thực tình buổi trưa rất yên tĩnh. Tiếng máy lạnh rì rì nho nhỏ. Trang nhà tờ báo điện tử ngài định đọc, vẫn thỉnh thoảng tự động cập nhật. Hàng tít to nhất mời mọc độc giả: “Điều tra dẫm chân tại chỗ vì thiếu bằng chứng”.

Nếu có một thứ có thể thay thế nguyên nhân “Lỗi hệ thống” kia, chắc chắn phải là “Lỗi văn hóa”. Ngài mỉm cười ý nhị với suy nghĩ táo bạo của mình: Nó thực tế hơn, sâu sắc hơn nhưng hoàn toàn bao quát đến nỗi thành ra mù mờ, khó hiểu. Nó quá to tát và dàn trải để không thể hóa cải, ít ra là trong thế hệ của những người như ngài.

Thảo Điền,

Tháng 8.2006

Vàng ảnh vàng anh

Leave a comment

Hôm nay bắt đầu tìm tư liệu để viết về vàng ảnh vàng anh. Cảm ơn Hà Vũ Trọng đã gửi một số bài viết cần thiết. Từ Trung Quốc, “Cô bé lọ lem” đến Việt Nam bằng hai ngã, ở hai thời điểm cách nhau hàng ngàn năm…

XVIIth Congress of the International Comparative Literature Association

Hong Kong, 08-15 August 2004

‘At the Edge’: Margins, Frontiers, Initiatives in Literature and Culture

‘The Word and the Fairy Tale’ (# 2216) (FA1)

Karin Schmidt:

Cinderella in Vietnam

I. Introduction

There are various ways by which Cinderella-like tales may have come to Vietnam.[1] One could have been through China. The earliest Chinese literary version of the tale has been ascribed to an author who had died in 863.[2] This was about one century before the Vietnamese people had freed themselves from Chinese occupation which they had to endure for roughly 1000 years. The Chinese Cinderella story is rarely to be found in Vietnamese tale collections.[3] The French tale Cendrillon by Charles Perrault is, however, well known under it’s Vietnamese title Cô Bé Lọ Lem. It is dealt with in schoolbooks for 10-11 year-old children as a cultural heritage of French colonialism.[4] Never missing in folk tale collections is a story known by the name of two sisters: Tấm Cám. It resembles Cinderella-like tales from some South East Asian countries. Therefore, it has also been assumed that the story had originally come from India and found its way to Vietnam from the South.[5] Vietnamese people count the tale Tấm Cám among their very own “old stories”.[6]

Collecting of “old stories” from all the 54 ethnicities living on Vietnamese territory has not been concluded yet.[7] The author Nguyễn Đổng Chi did elaborate comparative research work on the matter during a period of 25 years. In 1982 he published the last of his highly acclaimed 5 volumes Kho Tàng Truyễn Cổ Tích Việt Nam (A Treasure Chest of Old Vietnamese Stories).[8]

For classification he suggests a three-way distinction: mystical, worldly and historical stories. Following this pattern he points out certain Vietnamese singularities:

1) Mystical stories, i.e. stories telling about events happening by magical power, cover only 10% of the entire story treasure. Unlike in other parts of the world, the portion of this category is exceptionally small. Besides, in nearly half of their number mystical and worldly elements are combined.

2) One third of all stories are dealing with worldly matters.

3) The author judges the fact that historical stories are included in the Vietnamese folk tale collections as being unique and typical of Vietnam.[9]

II. The story

The Tấm Cám tale is a mystical story. It also contains worldly elements and reflects historical aspects. Here is
a short outline of the story’s content which may vary in details depending on the region where it had been recorded:
[10]

Like Cinderella, Tấm is mistreated by a cruel stepmother and a stepsister called Cám. Thanks to a slipper, Tấm is discovered by a prince who finally marries her. Unlike Western but in conformity with South East Asian Cinderella-like tales,[11] Tấm gets murdered after her marriage by her stepmother and Cám. Cám then takes over Tấm’s position as the prince’s wife. As Tấm’s spirit enters the body of a bird and the bird wins the prince’s love the two jealous women kill the bird, too. The bird’s bones are buried in the park. They grow into two peach trees and become the prince’s favourite place to rest. Therefore, the wicked women destroy them as well. A persimmon then becomes inhabited by Tấm’s soul. A kind old woman relieves Tấm from being enclosed in a persimmon fruit. One day, the prince happens to come to the old woman’s house. There he meets and recognizes his beloved wife and takes her home to the palace.

From the tale The Brocaded Slipper, which is the Tấm Cám story told in English by Lynette Dyer Vuong, I quote the following ending: “Tấm lived happily with the prince for many years, loved by all the people of the kingdom, first as their princess and later as their queen.”[12] This ending suits well the expectations of Western fairy tale readers. It is not the genuine Vietnamese end of the story which runs as follows: Tấm punishes her stepsister by having her killed in boiling water. She then has Cám’s body prepared as a dish and has it sent in a jar to her stepmother. When finishing eating the dish Tấm’s stepmother discovers at the bottom of the jar her daughter Cám’s skull. Struck by horror and fear she falls onto the ground dead.

III. The mystical story

In the above mentioned English version of the Tấm Cám tale it is a fairy intervening magically. In most Vietnamese variations it is Buddha demonstrating supernatural power. Buddha endows Tấm with a small fish and teaches her to speak out rimes which would make the fish trust her and accept her food. As Cám and her mother kill the fish, Buddha instructs Tấm to keep the bones of the dead fish buried in jars under the four corners of her bed. Magically, the bones change into fine clothes and slippers and a harnessed horse. Buddha also sends sparrows to help Tấm sort out the good rice grains from the bad, the task which the wicked stepmother had forced Tấm to fulfil.

To Western readers such mysterious events seem to equal those happening in Western fairy tales. The author Nguyễn Đổng Chi declares, however, that Vietnamese people are getting bewildered when reading Western fairy tales. They look for reasons why miracles happen, where they come from, and who is responsible for such events.[13] He explains that in Vietnamese tales Vietnamese readers find answers to these questions because every magic event fits into a system of common beliefs. The chief points of this system are outlined as follows:

1) Human beings are part of the cosmic realm in the same way as other living creatures are, including rivers, mountains and plants. Everything is interrelated with one another.

2) There is no beginning and no end, no birth and no death. Souls are wandering. The human body is regarded as the temporary materialized home for souls. Plants and animals are also housing souls.

3) Beside the realm of the Earth, there are three more realms, Heaven, Water World, and the World of the Dead. The Earth is also harbouring Gods, Bodhisattvas, Devils, Ghosts and Spirits. They can be good or wicked, and they can influence human beings.[14]

The author states that this system of beliefs has been deeply embedded in Vietnamese culture. Time and again, it has been expressed in the form of many popular religious festivals and traditional customs, the cults of Buddha and Bodhisattvas, of Taoist Gods and Confucius, the cults of national and local heroes, of village genies and in ancestor worshipping. Temples, pagodas, and historic monuments all over the country are linked with at least one old story.[15] To practice these cults means to experience the system of beliefs as a reality. Thus, to Vietnamese people the Tấm Cám story is not just fiction. In several villages Tấm and Cám are being worshipped and processions in their honour are being held every year.[16] To the people from a village calle
d Nam-sơn, the names Tấm and Cám inspired so much awe and fear that the village people did not dare to use the common words for rice which is “gạo tấm” or for bran, which is “cám”. Saying the words out loud was to conjure up the spirits of Tấm and Cám and to expose people to their presence and power. The village people used synonyms instead.
[17]

IV. Worldly elements

In many ways, Tấm seems to be a far more down-to-earth person than Cinderella is. When Buddha tells Tấm that the sparrows would help her sort out the crop Tấm is worried because the sparrows might be greedy and eat all the good crop. So Buddha has to instruct her how to make the sparrows obey. Before Tấm puts on the precious new dress she washes her face whereas Cinderella seems to be cleaned magically. In most tale variations Tấm’s family are ordinary village people. They, like everybody else from the village, are eager to get a glimpse of the prince who happens to pass by. They set out walking a long way to stand at the side of the road watching. For such an extraordinary occasion onlookers are expected to wear decent clothes.[18]

To the question why the two sisters are treated in such different ways within the family an answer is given in the variation the French author G. Jeanneau had recorded in 1886 from the region of Mý-tho: Tấm and Cám are twins. Their father sends them off for fishing crabs. The one who would fill her basket first would be addressed by “chị”.[19] To be addressed by “chị” means to be shown respect for being the older sister. This is what Cám achieves by cheating. According to Confucian rules any person ranking below must not object to any person of a higher ranking. So, Cám and her mother have full authority over Tấm. Vietnamese readers understand that by showing disobedience Tấm would act in violation of the rule of filial piety.

Besides, there is the Buddhist belief in karma. Events are believed to be decided by fate, and fate is said to be influenced by acts done in previous existences. There seems to be no other way for Tấm than resignation. This is what she is living through in the first part of the story. In the second half Tấm takes a more active part under the cover of metempsychosis. In a manner that depends rather on totemistic beliefs than on the Buddhist conception of soul wandering, Tấm appears to remember her previous existences and acts accordingly.[20]

V. Historical aspects

One Tấm Cám variation is linked to people who actually lived in the past: The first part of the plot is the usual one but, to make it sound authentic, the protagonists, the village, the province and the landscape where the story takes place are specified by names existing in fact. The role of the prince is taken over by the King Lý Thánh Tông, Tấm’s part is represented by the king’s second-rank wife known by the name of Ỷ Lan. She gave birth to King Lý Nhân Tông. Both kings belong to the Lý dynasty ruling Vietnam from 1010 to 1225.[21]

On a national scale, Vietnamese people have understood Tấm’s passive part in the story as a symbol for the endurances of foreign (Chinese) occupation and the active one as national resistance against it. [22] A manifestation of cultural identity can be derived from a view relating the prince’s taste for the delicate slipper and his longing to identify the owner by her fine small foot, to the Chinese custom of foot binding. In China, the custom of foot binding was linked to the highest ideals of civility and culture. Its origin presumably goes back to the Tang Dynasty (10th century). In the late 16th century “foot binding became the terrain on which the ethnic and cultural boundaries between the Han Chinese and the ‘other‘ were being drawn”.[23] Unadorned bodies and feet were regarded as visible signs of savagery. Vietnamese people of that time were described by the Chinese as “descendents of monkey-like dogs. They are cunning and crafty in character. They shave their hair and bare their feet”.[24] Tấm’s natural q
ualities contradict this image: Her miserable outward appearance conceals an outstanding physical beauty which is in perfect harmony with her impeccable character. Her feet are small by nature and fit into slippers of the most precious kind.

The fact that, after Tấm’s death, her sister steps in as the prince’s wife could also have served as a signal against foreign oppression. The custom of the sororate aimed at the widower’s marriage with the deceased wife’s sister had been the rule in old Vietnamese societies. It had been rejected under the Chinese rule.[25]

Above all, it was certainly a provocation of Chinese orders and a demonstration of patriotism to give narrative prominence to the forbidden Vietnamese custom of betel chewing. Betel leaves and areca nuts were offered as a first conversation starter to guests and they have been a symbol of marital union to this day.[26] To form the betel cud well demands much practice and skill. The Tấm Cám story culminates in the scene when the prince being offered a betel cud, recognizes the specific skill by which only Tấm could have formed the cud. He asks to be shown the person who had prepared the cud before him. This is how Tấm and the prince are happily reunited.

VI. The moral of the story

The cruel punishment inflicted on Cám and her mother is judged by Nguyễn Đổng Chi as being not typical of Vietnamese story end­ings.[27] There is, however, a similar scene in the most popular work of art in Vietnamese literature, in the famous epic poem Truyện Kiều which was composed by Nguyễn Du in the early 19th century:[28] The heroine Kiều – like Tấm – gives orders to the executioner to fulfil death punishment against the wrong doers. In this poem, we are told that behind the idea of revenge and justice, there is the belief in a power beyond human reach. I quote the lines from an English translation: “They all (the spectators) understood now that everything had been decided by Heaven”.[29] The moral of the epic poem and of the Tấm Cám tale may be the same: Because justice is done to everybody there is a way out of chaos and the cosmic order prevails.[30]

VII. Conclusion:

To Vietnamese readers Tấm Cám is not just an entertaining fantastic story with some hidden meanings which only historians or psychologists might be able to reveal. The tale is based on a system of beliefs that Vietnamese people have kept alive in many cults and traditions. It reflects aspects of real life and the people’s memory for national suffering through foreign oppression. Cinderella in Vietnam is a national heroine.


[1] According to the folktale classification system of the Aarne and Thompson Type 510 A, in Cinderella-like tales five motifs are usually included in which the heroine: 1. suffers persecution, 2. receives magic help, 3. meets a prince, 4. provides proof of her identity, 5. marries the prince. See Aarne, Antti and Stith Thompson, The Types of the Folktale, Helsinki, 1961.

[2] Đinh Gia Khánh, Sơ B Tìm Hiu Nhng Vấn Đ Ca Truyn Cổ Tích qua Truyn Tấm Cám. Hà Ni 1999, p. 14.

[3] It is included in Đinh Gia Khánh’s presentation of Cinderella-like tales from all over the world under the title Truyn Nàng Diệp Hn. Ibid., pp. 226 f.

[4] Đ Quang Lưu – Vân Thanh, B Giáo Dc và Đào Tạo, Truyn Đc 5, Nhà Xuất Bn Giáo Dc, 1993, pp. 40 f. – The popularity of the French tale may also be attributed to the fact that on this Cinderella story Walt Disney had based his famous film in 1949.

[5] Đinh Gia Khánh, pp. 34-35.

[6] There is no equivalent Vietnamese term to the Western term “fairy tale”. The most frequently used term “truyễn cổ tích” refers to any kind of Vietnamese folk tales and can be translated by “stories showing traces of former times” or just “old stories”. L Huy Nguyên – Đang Văn Lung, Hp Tuyn Truyn Cổ Tích Việt Nam, Nhà Xuất Bn Giáo Dc, 1996, pp.17-18.

[7] About the 54 registered ethnicities living on Vietnamese territory see Ethnologue, 13th edition, Barbara F. Grimes, Editor, 1996.

[8] Nguyễn Đổng Chi, Kho Tàng Truyễn Cổ Tích Việt Nam, Nhà Xuất Bn Giáo Dc, 2000 [1982].

[9] Nguyễn Đổng Chi declares that Vietnamese people often tend to explain events and phenomena from historical views and patriotic outlooks due to the fact that, for centuries, the Vietnamese had to fight off foreign aggression and domination and thereby developed very strong patriotic feelings: op.cit., pp. 55 and 1587 f.

[10] The tale appears in practically identical versions in: Nguyễn Đổng Chi, op.cit., pp 1167-1174; Đinh Gia Khánh, op. cit., pp 140-151; Đ Quang Lưu – Vân Thanh, op. cit., pp 5-11; L Huy Nguyên – Đang Văn Lung, op. cit., pp 88-95; Truyn Cổ Tích chọn lọc, ChuynTấm Cám, Nhà Xuất Bn Thanh Niên, 1999, pp. 3-19.

[11] See Nguyễn Đổng Chi, op. cit., pp. 1174-1207; Đinh Gia Khánh, op. cit., pp. 202-211, 230-238.

[12] Lynette Dyer Vuong: The Brocaded Slipper and other Vietnamese Tales. New York, 1982, pp. 25-26.

[13] Nguyễn Đổng Chi, op. cit., p. 64.

[14] Ibid., pp. 62-64.

[15] Ibid., p. 65.

[16] Đinh Gia Khánh, op. cit., pp. 68 f., 211 f.

[17] Nguyễn Đổng Chi, op. cit., p. 1176.

[18] Truyn Cổ Tích chọn lọc, Chuyn Tấm Cám, op. cit., p. 9.

[19] Nguyễn Đổng Chi, op. cit., p. 1176.

[20] In ancestor worshipping totemistic and superstitious beliefs from ancient societies are part of the tradition and customs passed down from one generation to the next. See: Hue-Tam Ho Tai, “Religion in Vietnam: A World of Gods and Spirits”, in: Vietnam: Essays on History, Culture, and Society, 1985, pp. 22-39.

[21] See Nguyễn Đổng Chi, op. cit., pp. 1175 f.; Đinh Gia Khánh, op. cit., pp. 17 f.

In a Vietnamese history book for school children dealing with this period of time the story of Tấm Cám is mentioned as coinciding with Ỷ Lan’s life until she gets married to the King: Lch s Vit Nam bng tranh, Ỷ Lan Nguyên Phi, tp 17, Nhà Xuất Bn Tr, 2003, p.88;

In a book about Vietnamese Dynasties there is a note saying that people believed Ỷ Lan and Tấm to be one and the same person: Qunh Cư Đc Hùng, Các Triu Đi Vit Nam, Nhà Xuất Bn Thanh Niên, 2001, p. 91.

[22] By comparing Tấm’s passive with her active parts in the story, Đinh Gia Khánh centres his interpretation of the family conflict on the assumption that it was meant to be a metaphor of the class struggle in the universal Marxist sense of the term. See op.cit., pp 31-32,135.

[23] Dorothy Ko, “The Body as Attire: The Shifting Meanings of Foot binding in Seventeenth-Century China”, in: Journal of Women’s History, Winter 1997,Volume 8, Number 4.

[24] Yu Xiangdou, Santai wanyong zhengzong [The authentic Santai encyclopaedia of ten thousand uses] (Fujian: Yushi Shuangfang tang, 1599) 5.1a. quoted by Dorothy Ko, ibid.

[25] The ethnic community of the Gelao are still practicing the sororate. See Ethnologue, op. cit. The sororate and the levirate (the widow’s marriage with a deceased husband’s brother) were usually associated. See Nguyen Ngoc Binh, “The Power and Relevance of Vietnamese Myths”, in: Vietnam: Essays on History, Culture, and Society, 1985, pp. 61-77.

[26] See Pham Duy Khiêm, Vietnamesische Märchen, Frankfurt, 1968, pp. 110-117.

[27] Nguyễn Đổng Chi, op. cit., p. 1619.

[28] Nguyễn Du, Truyện Kiều, Nhà Xuất Bn Tng Hp Đng Tháp, 1998.

[29] Nguyễn Du, Kim Vân Kiều, English translation, footnotes and commentaries by Lê Xuân Thuy, Nhà Xuất Bn Văn Học, 1994, p.331.

[30] About the ethical role ‘Ông Trời / August Heaven’ plays as judge in the moral universe: See Nguyen Ngoc Binh, “The Power and Relevance of Vietnamese Myths”, op. cit., p.62.

The meaning of the Tấm Cám story is explained to school children stating that the story is “thế sự” (real life) and that the moral is the same as in the poem Truyện Kiều. See: Đ Quang Lưu – Vân Thanh, B Giáo Dc và Đào Tạo, Truyn Đc 5, op. cit., p. 11.

——————————————————————————-

酉陽雜俎–支諾皋上》南人相傳,前有洞主吳氏,土人呼為吳洞。娶兩妻,一妻卒。有女名葉限,少惠,善陶(一作鉤)金,父愛之。末歲父卒,為後母所苦,常令樵險汲深。時嘗得一鱗,二寸余,金目,遂潛養於盆水。日日長,易數器,大不能受,乃投於後池中。女所得余食,輒沉以食之。女至池,魚必露首枕岸,他人至不復出。其母知之,每伺之,魚未嘗見也。因詐女曰:「爾無勞乎,吾為爾新其襦。」乃易其弊衣。後令汲於他泉,計裡數百(一作裡)也。母徐衣其女衣,袖利刃行向池。呼魚,魚即出首,因斤殺之,魚已長丈余。膳其肉,味倍常魚,藏其骨於鬱棲之下。逾日,女至向池,不復見魚矣,乃哭於野。忽有人被發粗衣,自天而降,慰女曰: 「爾無哭,爾母殺爾魚矣,骨在糞下。爾歸,可取魚骨藏於室,所須第祈之,當隨爾也。」女用其言,金璣衣食隨欲而具。及洞節,母往,令女守庭果。女伺母行遠,亦往,衣翠紡上衣,躡金履。母所生女認之,謂母曰:「此甚似姊也。」母亦疑之。女覺,遽反,遂遺一
履,為洞人所得。母歸,但見女抱庭樹眠,亦不之慮。其洞鄰海島,島中有國名陀汗,兵強,王數十島,水界數千裡。洞人遂貨其履於陀汗國,國主得之,命其左右履之,足小者履減一寸。乃令一國婦人履之,竟無一稱者。其輕如毛,履石無聲。陀汗王意其洞人以非道得之,遂禁錮而栲掠之,竟不知所從來。乃以是履棄之於道旁,即遍歷人家捕之,若有女履者,捕之以告。陀汗王怪之,乃搜其室,得葉限,令履之而信。葉限因衣翠紡衣,躡履而進,色若天人也。始具事於王,載魚骨與葉限俱還國。其母及女即為飛石擊死,洞人哀之,埋於石坑,命曰懊女塚。洞人以為祀,求女必應。陀汗王至國,以葉限為上婦。一年,王貪求,祈於魚骨,寶玉無限。逾年,不復應。王乃葬魚骨於海岸,用珠百斛藏之,以金為際。至征卒叛時,將發以贍軍。一夕,為海潮所淪。成式舊家人李士元聽說。士元本邕州洞中人,多記得南中怪事。

Lý Sĩ Nguyên người Ung Châu, tức Quảng Tây ngày nay. Mà Quảng Tây và Việt Nam xưa kia là một… Hóa ra Tấm Cám Việt Nam đẻ ra Cinderella ? Câu chuyện này sẽ thuyết phục hơn cả Kinh dịch có nguồn gốc Bách Việt ???

Trích chương 9, tiểu thuyết Miền cổ tích hoang hư

Leave a comment

Trích chương 9, tiểu thuyết Miền cổ tích hoang hư

Mấy công ty đầu tiên Phương làm trên bờ không hiểu sao luôn có việc cho anh ở Hà Nội. Lắm giai đoạn một tháng Phương ăn cơm Bắc đến 20 ngày. Anh tá túc tại khách sạn tư nhân. Quỳnh Như mới tốt nghiệp Khoa Kế toán Đại học Kinh tế Quốc dân. Nàng tạm làm tiếp tân trong khi chờ đợi nhờ vả, chạy chọt một vị trí phù hợp với chuyên môn của mình. Họ sẽ mãi mãi chào hỏi, trao hoặc gởi chìa khóa phòng như mọi người nếu Quỳnh Như không nảy ra nhã ý truyền cho Phương cách bớt tiền lưu trú được công ty thanh toán trực tiếp qua tài khoản khách sạn. Hôm ấy bà bếp trưởng đón Phương ở quầy tiếp tân.

Cậu Phương này, từ nay trở đi nhà bếp xin tăng khẩu phần ăn của cậu lên hai mươi lăm ngàn. Chợ búa đắt đỏ quá.

Cô ơi cháu còn phải nuôi mẹ già và hai em nhỏ nữa đấy – Phương biết thừa bà này chỉ vẽ chuyện.

Đi làm cho Tây mà kiệt xỉ thế cậu.

Trời đất! Cháu là cu li hạng ruồi thôi. Lương tháng hơn triệu. Công tác phí năm mươi ngàn một ngày, kể cả xe pháo. Phải khéo không thôi cả nhà sẽ ăn độn.

Đợi bà bếp khuất dạng Quỳnh Như mới nhỏ nhẹ:

Sao anh không ra đầu phố ăn cho tiện. Lại rẻ nữa.

Bẩn lắm. Bụi bặm phát khiếp.

Anh khờ quá nên nghèo. Tiền anh ở một đêm ba mươi Mỹ. Nếu khéo cũng cứa được của Tây mười đồng.

Bằng cách nào?

Dãy phòng trệt có công trình phụ chung, giá mười đô thôi. Anh đổi chỗ, em trả tiền thừa. Đa số khách đến từ các cơ quan đều chắt bóp như vậy.

Y như bài bản, lần sau Phương dư ra hơn trăm bạc. Quỳnh Như từ chối chiếc phong bì ghi lời cám ơn nhưng bắt Phương khao một chầu chả cá Lã Vọng.

Em khôn ngoan quá. Ai muốn làm chồng em phả
i tu mấy kiếp.

Em không thích làm đồ trang sức. Giá trị của nó là giá trị ảo.

Món quà đầu tiên Quỳnh Như tặng Phương là bao diêm đựng đầy những cánh hoa sữa vàng ươm rụng trong đêm. Nhà nàng nằm đối diện cây hoa sữa cổ thụ mọc ở vỉa hè phố Phùng Hưng, dưới đoạn cầu dẫn cao cao nối ga Long Biên với ga Hàng Cỏ. Từ ban công hẹp tầng một, nhón chân là Quỳnh Như có thể bước lên đường ray với hai thanh tà vẹt rỉ nâu. Nàng bảo sẽ hái hoa tươi trong mùa thu tiếp theo cho Phương, dù cây vẫn còn hai ba cành đầy hoa trong tầm với của nàng. “Nếu biết tường tận Hoa sữa, ở bên cạnh Hoa sữa từ nhỏ tới lớn như em anh sẽ chán ngay thôi. Vì sao ư? Bí mật đấy”. Nàng nhoẻn miệng cười rất tinh nghịch.

Không lâu sau Quỳnh Như rời khách sạn. Chuyến công tác này nối chuyến kia suốt năm trời của Phương giúp họ càng ngày càng thân thiết hơn. Quỳnh Như lông bông mấy tháng, hết hướng dẫn viên du lịch lại đóng vai quần chúng trong các pha quảng cáo truyền hình tỉnh lẻ. Cuối cùng nàng cũng nhận được chân kế toán rất vừa ý tại một liên doanh.

Anh có tin tất cả đàn ông bao dung độ lượng đều chết hết rồi không? Bây giờ rặt sở khanh nhỏ mọn và ích kỷ.

Em chua chát quá.

Giống cái ngày càng sa đà cũng tại lũ đàn ông ranh ma quỷ quyệt. Chúng nặn ra những cái tổ êm ấm, an toàn bằng miệng lưỡi. Lơi tai một chút, thế là sập bẫy.

Em đẹp như thế này thiếu gì cây si để chọn lựa.

Em chẳng thể cầm lòng trước sự giả dối ngọt ngào nào. Có thằng ngợm còn bảo em rằng: “Vứt mẹ cái tình yêu và nước mắt cá sấu đi! Định ăn vạ hử? Đàn bà đẹp là người đàn bà nhận được lời khen tặng sau khi làm tình. Đời thằng này có mỗi một con nhưng nó đã bỏ đi lấy Tây”.

Mùa thu chẳng lỡ hẹn. Hồ Thiền Quang là trái tim của Hà Nội trong những đêm se lạnh ngạt ngào hương hoa sữa.

Hương thơm quả tế nhị, không nắm bắt được nhưng rất thật. Nó tượng trưng cho kỷ niệm và phẩm hạnh. Nó là bản chất của linh hồn. Nó nuôi dưỡng cái đẹp.

Anh đúng là nghệ sĩ hạng bét.

Quỳnh Như giữ đúng lời hứa. Hoa sữa tươi phong kín trong chiếc hộp cứng, hai lớp giấy kiếng nhằm tránh mất mùi trên chuyến bay Hà Nội – Sài Gòn khoảng hai giờ đồng hồ. Buổi tối Phương mở gói quà và đặt hoa trên đầu giường. Cành cây còn nguyên nhựa trắng. Không thể chịu nổi mùi hắc. Chuyển qua bậu cửa sổ cũng chẳng khá hơn. Tức mình Phương vứt ra đường. Đúng lúc ấy chuông điện thoại đổ dồn, giọng Quỳnh Như líu lo:

Anh ném hoa đi rồi phải không?

Sớm mai anh họp giao ban mà mười hai giờ khuya vẫn chưa ngủ được.

Em nhớ anh lắm. Anh nghỉ phép vài ngày nhé.

Tờ mờ sáng. Phương không cần giả tiếng tắc kè Quỳnh Như đã mở cửa và trèo lên đường ray. Cầu Long Biên đen thẫm. Hàng đoàn xe đạp thồ nặng nề chở nông sản từ hướng Gia Lâm vào nội đô. Tiếng côn trùng bờ đê bắt đầu ngái ngủ. Họ đi bộ khoảng một phần tư chiều dài cầu. Thang sắt ọp ẹp dẫn xuống cánh đồng giữa sông.

“Anh nghe tiếng hát dòng sông tuổi thơ của em nhé”. Quỳnh Như trải trên nền cát chiếc khăn tay bằng lụa mỏng và bảo Phương áp tai xuống. Anh gạt khăn ra. Đúng là dòng sông biết hát. Bài ca bất tận, giai điệu nồng say, mênh mang diệu vợi và tột cùng nông nổi. Phương bỗng thấy nhớ biển, nhớ những con tàu, nhớ bến bờ anh sắp đặt chân đến. Anh tự hỏi bến bờ ấy có phải nơi đây? Sông Hồng của Phương thơ bé, của Phương thời sinh viên hay của Phương hôm nay vẫn là dòng sông ấy. Dẫu thêm vào hoặc bớt đi một người con gái như Quỳnh Như, tình yêu anh dành cho sông Hồng, cho Hà Nội vẫn thế và mãi mãi là thế, vĩnh cửu như định mệnh.

Sau đó họ ngồi bệt xuống cát. Hai người chẳng nhìn rõ mặt nhau. Phương đoán giọng nói của Quỳnh Như rất giống giọng mẹ mình. Nàng kể anh nghe về tuổi thơ hồn nhiên và năm tháng trẻ trung dại dột. Âm thanh tuột trôi, bồng bềnh trong màn sương mờ đục xung quanh. Phương định ngăn nàng lại, kết thúc ngôn từ vô nghĩa. Anh phân vân không hiểu mình có thể vừa ôm nàng, vừa hôn nàng và vừa thốt lên rằng anh yêu nàng như yêu một vết thương hóa thân, anh yêu nàng như yêu Hà Nội. Rốt cuộc Phương cứ ngồi yên. Anh biết khả năng mình giới hạn nhưng khát khao mong muốn thể hiện tình cảm thì vô bờ.

“Anh biết không cồn cát này còn gọi là bãi giữa. Nó chia sông Hồng làm hai nhánh là sông Cái và sông Con, do đó sông Hồng còn được gọi là Nhị Hà. Sau mỗi mùa nước bãi cồn luôn thay đổi hình dáng nhưng cát thì vẫn vậy, thơm tho mùi phù sa, sạch sẽ như ngọc trai và óng ánh tựa kim cương. Thuở nhỏ em hay xuống doi cát chơi một mình. Cô bé mảnh khảnh rất thích ngô nướng. Em nhớ mãi câu ca của một chàng nông dân thật thà, hiền hậu: “Sông Hồng sao nỡ sẻ làm đôi – Để dở dang đây một bãi bồi”.

Chiều muộn hôm ấy bố dượng về Đông Anh xin bà nội củi đun, mẹ xếp hàng mua sắn lát. Em đang nằm sấp trên cát nghe sông hát thì bị hai cánh tay hộ pháp nhấc bổng lên đem vào giữa ruộng ngô. Em cào cấu la hét nhưng vô vọng. Con thú thỏa mãn xong lủi mất. Em chạy như ma đuổi về nhà. Cúp điện tối mịt nên chẳng ai thấy áo quần em rách bươm. Em đốt mớ giẻ kia đi, tắm táp và thay bộ quần áo vải thô. Bố mẹ gần như về cùng lúc.

Mày làm gì mà mặt mũi như mất sổ gạo thế?

Con không việc gì đâu – Em trả lời như máy và tự hỏi sao mình dũng cảm thế.

Cả nhà xếp bằng quanh mâm cơm dưa cà. Bố dượng chun mũi mắng:

Con gái con lứa mười ba mười bốn mà vô ý. Mẹ mày đem nó vào trong đi. Mày bắt đầu trở thành một con đàn bà dơ bẩn rồi.

Em khóc ngất, nước mắt chảy bù cả chuyện kinh hoàng ban chiều. Mẹ dỗ dành. Mấy hôm sau mẹ thấy thiếu bộ quần áo. Tưởng em hớ hênh bị trộm khều, mẹ đè xuống quật cho năm roi. Được dịp khóc thỏa thuê dù mẹ đánh rất nhẹ.

Mười bảy tuổi em mới biết mình đã bị cướp đi sự trong trắng ngàn vàng. Em chẳng buồn lâu. Giọng đàn ông tụng ca vo ve quanh tai suốt ngày. Thằng thứ nhất là phe vé ga Hàng Cỏ. Thằng thứ hai là cậu ấm lêu lổng con ngài thứ trưởng. Thằng thứ ba mang vỏ trí thức Tây du, đi xe babetta… Thằng cuối là triệu phú, chủ cái khách sạn anh ở ngày xưa. Ánh mắt anh khác hẳn chúng. Nỗi đau tinh khiết. Nỗi buồn dịu dàng. Và cả mùi ngây thơ của cỏ dại bờ đê. Em yêu anh vì thế. Tưởng chừng chuộc lại được trắng trong với nỗi nhớ anh hằng đêm”.

Quỳnh Như ngả vào lòng Phương. Nàng cuộn người đón nhận nụ hôn đầu tiên của anh. Trái tim nàng ấm nồng, phập phồng dưới áo. Nàng vít đầu Phương xuống. Hai chiếc nút bật ra. Có một cái gì đó ngọt ngào và mênh mông như tình mẹ. Tất cả đàn ông trên thế gian này đều cảm giác được tái sinh, trên khuôn ngực của người phụ nữ mình thật sự thương yêu.

Mặt trời vội lên. Họ trở vào phố giữa heo may đượm mùi ngô non.

Sinh nhật hai mươi bảy tuổi của Quỳnh Như vui hơn hội. Nàng lí lắc nói cười như cô gái mới lớn. Mười giờ tối chỉ còn hai người giữa đống quà đủ màu.

Xà phòng thơm… Dầu gội đầu… Son phấn… Không! Cái này của con bé Hồng, anh đừng mở. Cận thị đấy – Gói cuối cùng màu đen không tên. Roạt… Khuôn mặt Quỳnh Như đanh cứng – Em chẳng muốn dấu anh.

Vài ba tấm hình lõa thể chụp lén Quỳnh Như đang ngủ. Mẩu giấy nhỏ: “Như, em đừng phản bội tôi chứ. Tôi yêu em. Tôi cần em và luôn điên dại bên tấm thân của em. Tôi đang ly dị. Em sẽ là chủ nhân khách sạn… Em đừng hòng lấy được chồng, ngoài tôi. Chẳng thằng chó nào dám nhìn thẳng vào thứ này”.

Vết bỏng do sáp nến chảy loang trên tay Phương bấy giờ mới rát. Anh xem qua ảnh rồi đưa trả cho Quỳnh Như.

Đêm Hà Nội mùa đông buốt lạnh tự trong lòng. Phương dúi cả nắm tiền lẻ vào tay gã xe ôm. Nói mãi gã mới chịu đi cho. Gã sợ Phương lao đầu xuống sông Hồng. Điểm giữa cầu Thăng Long cách mặt nước khoảng hai lăm mét.

Sao em biết anh ở đây?

Em vẫy xe đuổi theo anh.

Anh không bao giờ chết vì tình. Anh muốn khám phá dòng sông của em. Sang sông luôn là sự kiện trọng đại của đời sống. Em an tâm chưa?

Em đã hai lần nghe dòng sông hát cùng một bài ca. Hôm ấy em cứ ngỡ linh hồn mình đã thật sự trở về với thể xác. Thì ra mỗi linh hồn chỉ có một cuộc đời. Cái phần phù du và hữu hạn của con người, cái thân thể không thể tẩy uế này là dòng sông của linh hồn em chăng?

Vẫn biết núi đồi, thung lũng, gềnh thác và thiên hình vạn trạng bước ngoặt tạo nên dòng sông hiền hòa dưới chân ta. Anh yêu em nghĩa là anh bất chấp lũ lụt, bất chấp sóng dữ đe dọa nhấn chìm tất cả.

Anh chưa hiểu dòng sông này có thể tắm tưới đời anh, nuôi nấng mùa vàng màu mỡ.

Gió Bấc ù ù bên tai. Những chiếc kim nhọn hoắt đang châm vào người Phương.

Hãy về phương nam nắng ấm với anh đi em. Vứt hết. Bỏ hết. Chúng ta sẽ làm lại từ đầu, ở nơi em là người xa lạ.

Lúc này em phải ở đây. Chẳng phải vì cha mẹ. Chẳng phải vì công việc. Em không muốn trốn chạy. Như thế em mới biết mình là ai. Em sẽ đi tìm dòng sông thánh thiện đã lạc mất trong biển đời đen bạc và sự hư hỏng của bản thân em.

Em sẽ là nàng dâu đoan thục nhất của Sài Gòn. Như thế quá đủ rồi.

Đám cưới chúng ta không làm lớn nhưng nên trang trọng. Anh và em sẽ cười vào mặt những kẻ tọc mạch rồi đi bộ ra bãi cát sông Hồng. Em sẽ khoác lên người màu trắng chói mắt của mây bên cửa sổ máy bay, trên đường về nhà anh.

Anh chờ em một năm. Anh hết chịu nổi rồi. Có những ranh giới anh không thể vượt qua trong ngày một ngày hai.

Phương quay lại Sài Gòn. Anh đóng cây đinh mười lăm phân bên cạnh bản lịch để xâu những tờ lịch cũ. Năm đó không có ngày 29 tháng Hai. Được ba trăm sáu mươi bốn ngày và mười một giờ năm mươi chín phút thì Quỳnh Như đến ngồi bệt trước cánh cửa khóa trái ngôi nhà Phương thuê. Lúc ấy Phương vẫn đang dự sinh nhật bạn. Ham vui và quá chén, anh ngật ngưỡng trở về khi ngày mới đã sang với khuôn mặt và quần áo dính đầy dấu môi son. Quỳnh Như vứt vội hành lý xuống chân, say mê đón nhận sự vồ vập.

Mùi bia tươi trộn lẫn với rượu mạnh nồng nặc. Quỳnh Như xô Phương ra. Mặt mũi Phương tối xầm lại. Cái tát quá mạnh và bất ngờ. Phương ra vẻ tỉnh táo. Anh đứng yên một chỗ, lưng ưỡn thẳng, tay chắp ra đằng sau.

Anh trưởng thành rồi Phương ạ. Mới một năm mà anh khác đi nhiều quá. Em căm thù mùi nước hoa đắt tiền của bọn vũ nữ trên cơ thể anh. Có trời mới biết trái tim anh đã đổi sang màu gì, nâu đen hay xám xịt.

Em có quá khắt khe không?

Anh không đứng vững trước cám dỗ tầm thường nhất, thì làm sao anh cảm nhận được vẻ đẹp của một tâm hồn khắc khoải sáng trong. Dù gì em cũng mang ơn anh. Tình yêu em dành cho anh đã cải hóa chính con người em. Em tiên liệu điều này bằng tấm vé hai chiều. Tám giờ sáng mai là chuyến hồi. Cho em trọ vài giờ. Và xin anh im lặng. Em sợ… dẫu chỉ là lời từ giã…

Cả đêm Quỳnh Như bó gối trên ghế nệm để nhìn lên trần nhà. Phương ở bên bàn viết, xoay lưng lại với nàng và hút thuốc. Mỗi mười lăm phút được điểm bởi một tiếng “tạch” nho nhỏ nhưng gẫy gọn, phát ra từ chiếc bật lửa.

Sáu giờ ba mươi Quỳnh Như ra đi, nàng thẳng thừng từ chối sự đưa tiễn. Bảy giờ Phương vào trong tắm rửa chuẩn bị ngày làm việc. Anh dầm nước hơi lâu và kỳ cọ nhiều lần. Bộ quần áo mới phẳng lì, thơm mùi vải.

Trước khi bước khỏi nhà, Phương chợt thấy vài cánh hoa Hoàng Lan rơi vãi xung quanh chỗ Quỳnh Như vừa đứng dậy. Phải chăng nàng định ướp làn hương tinh tế kia vào ngôi nhà cô quạnh của anh? Cũng có thể vui tay, nàng hái dăm ba nụ hoa từ Hà Nội bỏ vào ví tay cho thơm.

Hơn hai năm sau Phương gặp Tuyết. Đăng ký kết hôn rồi ly dị. Chẳng cần cả đám cưới. Bằng cách nào đấy sự việc cũng đến tai Quỳnh Như. Nàng gọi điện cho Phương:

Rồi muộn phiền sẽ qua. Anh đừng suy nghĩ cực đoan anh nhé!

Em sống ra sao?

À Phương này, vợ chồng em định lấy tên anh đặt cho đứa con đầu lòng. Chữ Phương hợp với cả hai giới. Chắc anh không phản đối?

……

Anh lúc nào cũng đáng thương hơn đáng trách Phương ạ. Con người anh không bao giờ có tình yêu bền vững cả, hay nói đúng hơn anh chỉ biết yêu chính bản thân mình. Em vẫn hy vọng tất cả những gì quanh anh, đã đèn nén và xô đẩy anh trở nên như thế, chứ đó không phải bản chất bẩm sinh của anh. Giờ đây anh cần một cuộc vượt thoát. Hãy nêu gương em và đừng tự ái.

Phương nghẹn lời. Ký ức vỡ òa mùi Hoàng Lan đằm thắm ngọt ngào. Hoa Sữa nồng nàn, xốc nổi bao nhiêu thì Hoàng Lan dịu dàng, sâu lắng bấy nhiêu. Hai nửa âm dương ấy hoà hợp tạo nên những mùa thu Hà Nội đẹp sánh Đào Nguyên. Và Phương biết, anh đã đánh mất một con người quý giá, nếu không muốn nói Quỳnh Như chính là “một nửa” duy nhất của đời anh. Từ đó trở đi, mọi cuộc kiếm tìm khác của Phương đều vô vọng, ngoại trừ giấc mơ siêu phàm về một miền cổ tích hoang hư.