Truyện ngắn Trung Quốc

2 Comments

MẸ ĐIÊN

Truyện ngắn của Vương Hằng Tích

Hai mươi ba năm trước, có một người con gái trẻ lang thang qua làng tôi, đầu bù tóc rối, gặp ai cũng cười cười, cũng chả ngại ngần ngồi tè trước mặt mọi người. Vì vậy, đàn bà trong làng đi qua cô gái thường nhổ nước bọt, có bà còn chạy lên trước dậm chân, đuổi “Cút cho xa!”. Thế nhưng cô gái không bỏ đi, vẫn cứ cười ngây dại quanh quẩn trong làng.

Hồi đó, cha tôi đã 35 tuổi. Cha làm việc ở bãi khai thác đá bị máy chém cụt tay trái, nhà lại quá nghèo, mãi không cưới được vợ. Bà nội thấy con điên có sắc vóc, thì động lòng, quyết định mang cô ta về nhà cho cha tôi, làm vợ, chờ bao giờ cô ta đẻ cho nhà tôi “đứa nối dõi” sẽ đuổi đi liền. Cha tôi dù trong lòng bất nhẫn, nhưng nhìn cảnh nhà, cắn răng đành chấp nhận. Thế là kết quả, cha tôi không phải mất đồng xu nào, nghiễm nhiên thành chú rể.

Khi mẹ sinh tôi, bà nội ẵm cháu, hóp cái miệng chẳng còn mấy cái răng vui sướng nói: “Cái con mẹ điên này, mà lại sinh cho bà cái đứa chống gậy rồi!”. Có điều sinh tôi ra, bà nội ẵm mất tôi, không bao giờ cho mẹ đến gần con.

Mẹ chỉ muốn ôm tôi, bao nhiêu lần đứng trước mặt bà nội dùng hết sức gào lên: “Đưa, đưa tôi…” bà nội mặc kệ. Tôi còn trứng nước như thế, như khối thịt non, biết đâu mẹ lỡ tay vứt tôi đi đâu thì sao? Dù sao, mẹ cũng chỉ là con điên. Cứ mỗi khi mẹ khẩn cầu được bế tôi, bà nội lại trợn mắt lên chửi: “Mày đừng có hòng bế con, tao còn lâu mới đưa cho mày. Tao mà phát hiện mày bế nó, tao đánh mày chết. Có đánh chưa chết thì tao cũng sẽ đuổi mày cút!”. Bà nội nói với vẻ kiên quyết và chắc chắn. Mẹ hiểu ra, mặt mẹ sợ hãi khủng khiếp, mỗi lần chỉ dám đứng ở xa xa ngó tôi. Cho dù vú mẹ sữa căng đầy cứng, nhưng tôi không được một ngụm sữa mẹ nào, bà nội đút từng thìa từng thìa nuôi cho tôi lớn. Bà nói, trong sữa mẹ có “bệnh thần kinh”, nếu lây sang tôi thì phiền lắm. Hồi đó nhà tôi vẫn đang giãy giụa giữa vũng bùn lầy của nghèo đói. Đặc biệt là sau khi có thêm mẹ và tôi, nhà vẫn thường phải treo niêu. Bà nội quyết định đuổi mẹ, vì mẹ không những chỉ ngồi nhà ăn hại cơm nhà, còn thỉnh thoảng làm thành tiếng thị phi.

Một ngày, bà nội nấu một nồi cơm to, tự tay xúc đầy một bát cơm đưa cho mẹ, bảo: “Con dâu, nhà ta bây giờ nghèo lắm rồi, mẹ có lỗi với cô. Cô ăn hết bát cơm này đi, rồi đi tìm nhà nào giàu có hơn một tí mà ở, sau này cấm không được quay lại đây nữa, nghe chửa?”. Mẹ tôi vừa và một miếng cơm to vào mồm, nghe bà nội tôi hạ “lệnh tiễn khách” liền tỏ ra kinh ngạc, ngụm cơm đờ ra lã tã trong miệng. Mẹ nhìn tôi đang nằm trong lòng bà, lắp bắp kêu ai oán: “Đừng… đừng…”. Bà nội sắt mặt lại, lấy tác phong uy nghiêm của bậc gia trưởng nghiêm giọng hét: “Con dâu điên mày ngang bướng cái gì, bướng thì chả có quả tốt lành gì đâu. Mày vốn lang thang khắp nơi, tao bao dung mày hai năm rồi, mày còn đòi cái gì nữa? Ăn hết bát đấy rồi đi đi, nghe thấy chưa hả?”. Nói đoạn bà nội lôi sau cửa ra cái xẻng, đập thật mạnh xuống nền đất như Dư Thái Quân nắm gậy đầu rồng, “phầm!” một tiếng. Mẹ sợ chết giấc, khiếp nhược lén nhìn bà nội, lại chậm rãi cúi đầu nhìn xuống bát cơm trước mặt, có nước mắt rưới trên những hạt cơm trắng nhệch. Dưới cái nhìn giám sát, mẹ chợt có một cử động kỳ quặc, mẹ chia cơm trong bát một phần lớn sang cái bát không khác, rồi nhìn bà một cách đáng thương hại.

Bà nội ngồi thẫn thờ, hoá ra, mẹ muốn nói với bà rằng, mỗi bữa mẹ sẽ chỉ ăn nửa bát, chỉ mong bà đừng đuổi mẹ đi. Bà nội trong lòng như bị ai vò cho mấy nắm, bà nội cũng là đàn bà, sự cứng rắn của bà cũng chỉ là vỏ ngoài. Bà nội quay đầu đi, nuốt những nước mắt nóng đi, rồi quay lại sắt mặt nói: “Ăn mau ăn mau, ăn xong còn đi. Ở nhà này cô cũng chết đói thôi!”. Mẹ tôi dường như tuyệt vọng, đến ngay cả nửa bát cơm con cũng không ăn, thập thễnh bước ra khỏi cửa, nhưng mẹ đứng ở bậc cửa rất lâu không bước ra. Bà nội dằn lòng đuổi: “Cô đi, cô đi, đừng có quay đầu lại. Dưới gầm trời này còn nhiều nhà người ta giàu!”. Mẹ tôi quay lại, đưa một tay ra phía lòng bà, thì ra, mẹ muốn được ôm tôi một tí.

Bà nội lưỡng lự một lúc, rồi đưa tôi trong bọc tã lót cho mẹ. Lần đầu tiên mẹ được ẵm tôi vào lòng, môi nhắp nhắp cười, cười hạnh phúc rạng rỡ. Còn bà nội như gặp quân thù, hai tay đỡ sẵn dưới thân tôi, chỉ sợ mẹ lên cơn điên, quăng tôi đi như quăng rác. Mẹ ôm tôi chưa được ba phút, bà nội không đợi được giằng tôi trở lại, rồi vào nhà cài chặt then cửa lại.

Khi tôi bắt đầu lờ mờ hiểu biết một chút, tôi mới phát hiện, ngoài tôi ra, bọn trẻ chơi cùng tôi đều có mẹ. Tôi tìm cha đòi, tìm bà đòi, họ đều nói, mẹ tôi chết rồi. Nhưng bọn bạn cùng làng đều bảo tôi: “Mẹ mày là một con điên, bị bà mày đuổi đi rồi.” Tôi tìm bà nội vòi vĩnh, đòi bà phải trả mẹ lại, còn chửi bà là đồ “bà lang sói”, thậm chí hất tung mọi cơm rau bà bưng cho tôi. Ngày đó, tôi làm gì biết “điên” nghĩa là cái gì đâu, tôi chỉ cảm thấy nhớ mẹ tôi vô cùng, mẹ trông như thế nào nhỉ? mẹ còn sống không?

Không ngờ, năm tôi sáu tuổi, mẹ tôi trở về sau 5 năm lang thang. Hôm đó, mấy đứa nhóc bạn tôi chạy như bay tới báo: “Thụ, mau đi xem, mẹ mày về rồi kìa, mẹ bị điên của mày về rồi!” Tôi mừng quá đít nhổng nhổng, co giò chạy vội ra ngoài, bà nội và cha cũng chạy theo tôi. Đây là lần đầu tiên tôi nhìn thấy mẹ, kể từ khi biết nhớ. Người đàn bà đó vẫn áo quần rách nát, tóc tai còn những vụn cỏ khô vàng khè, có trời mới biết là do ngủ đêm trong đống cỏ nào. Mẹ không dám bước vào cửa, nhưng mặt hướng về phía nhà tôi, ngồi trên một hòn đá cạnh ruộng lúa trước làng, trong tay còn cầm một quả bóng bay bẩn thỉu. Khi tôi và lũ trẻ đứng trước mặt mẹ, mẹ cuống cuồng nhìn trong đám tôi tìm con trai mẹ. Cuối cùng mẹ dán chặt mắt vào tôi, nhìn tôi chòng chọc, nhếch mép bảo: “Thụ… bóng… bóng…”. Mẹ đứng lên, liên tục giơ lên quả bóng bay trong tay, dúi vào lòng tôi với vẻ nịnh nọt. Tôi thì liên tục lùi lại. Tôi thất vọng ghê gớm, không ngờ người mẹ ngày đêm tôi nhớ thương lại là cái hình người này. Một thằng cu đứng cạnh tôi kêu to: “Thụ, bây giờ mày biết con điên là thế nào chưa? Là mẹ mày như thế này đấy!”.

Tôi tức tối đáp lại nó: “Nó là mẹ mày ấy! Mẹ mày mới là con điên ấy, mẹ mày mới là thế này!” Tôi quay đầu chạy trốn. Người mẹ bị điên này tôi không thèm. Bà nội và bố thì lại đưa mẹ về nhà. Năm đó, bà nội đuổi mẹ đi rồi, lương tâm bà bị chất vấn dày vò, bà càng ngày càng già, trái tim bà cũng không còn sắt thép được nữa, nên bà chủ động đưa mẹ về, còn tôi lại bực bội, bởi mẹ đã làm tôi mất thể diện. Tôi không bao giờ tươi tỉnh với mẹ, chưa bao giờ chủ động nói với mẹ, càng không bao giờ gọi “Mẹ!”, khi phải trao đổi với mẹ, tôi gào là chủ yếu, mẹ không bao giờ dám hé miệng.

Nhà không thể nuôi không mẹ mãi, bà nội quyết định huấn luyện cho mẹ làm việc vặt. Khi đi làm đồng, bà nội dắt mẹ đi “quan sát học hỏi”, bà bảo mẹ không nghe lời sẽ bị đánh đòn.

Sau một thời gian, bà nội nghĩ mẹ đã được dạy dỗ tương đối rồi, liền để mẹ tự đi cắt cỏ lợn. Ai ngờ mẹ chỉ cắt nửa tiếng đã xong cả hai bồ “cỏ lợn”. Bà nội vừa nhìn đã tá hỏa sợ hãi, cỏ mẹ cắt là lúa giống vừa làm đòng trỗ bông trong ruộng nhà người ta. Bà nội vừa sợ vừa giận phát cuồng chửi rủa: “Con mẹ điên lúa và cỏ mà không phân biệt được…” Bà nội còn đang chưa biết nên xoay xở ra sao, thì nhà có ruộng bị cắt lúa tìm tới, mắng bà cố ý dạy con dâu làm càn. Bà nội tôi lửa giận bốc phừng phừng, trước mặt người ta lấy gậy đánh vào eo lưng con dâu, chửi: “Đánh chết con điên này, mày cút ngay đi cho bà…”

Mẹ tuy điên, nhưng vẫn biết đau, mẹ nhảy nhỏm lên chạy trốn đầu gậy, miệng phát ra những tiếng lắp bắp sợ hãi: “Đừng… đừng…”. Sau rồi, nhà người ta cũng cảm thấy chướng mắt, chủ động bảo: “Thôi, chúng tôi cũng chẳng bắt đền nữa. Sau này giữ cô ta chặt một tí là được…”. Sau khi cơn sóng gió qua, mẹ oại người dưới đất thút thít khóc. Tôi khinh bỉ bảo: “Cỏ với lúa mà cũng chả phân biệt được, mày đúng là lợn!” Lời vừa dứt, gáy tôi bị một cái tát lật, là bà. Bà trừng mắt bảo tôi: “Thằng ngu kia, mày nói cái gì đấy? Mày còn thế này nữa? Đấy là mẹ mày đấy!” Tôi vùng vằng bĩu môi: “Cháu không có loại mẹ điên khùng thế này!”

“A, mày càng ngày càng láo. Xem bà có đánh mày không!” Bà nội lại giơ tay lên, lúc này chỉ thấy mẹ như cái lò xo bật từ dưới đất lên, che giữa bà nội và tôi, mẹ chỉ tay vào đầu mẹ, kêu thảng thốt: “Đánh tôi, đánh tôi!” . Tôi hiểu rồi, mẹ bảo bà nội đánh mẹ, đừng đánh tôi. Cánh tay bà trên không trung thõng xuống, miệng lẩm bẩm: “Con mẹ điên này, trong lòng nó cũng biết thương con đây!”. Tôi vào lớp một, cha được một hộ chuyên nuôi cá làng bên mời đi canh hồ cá, mỗi tháng lương 50 tệ. Mẹ vẫn đi làm ruộng dưới sự chỉ bảo của bà, chủ yếu là đi cắt cỏ lợn, mẹ cũng không còn gây ra vụ rầy rà nào lớn nữa.

Nhớ một ngày mùa đông đói rét năm tôi học lớp ba, trời đột ngột đổ mưa, bà nội sai mẹ mang ô cho tôi. Có lẽ trên đường đến trường tôi mẹ đã ngã ì oạch mấy lần, toàn thân trông như con khỉ lấm bùn, mẹ đứng ở ngoài cửa sổ lớp học nhìn tôi cười ngớ ngẩn, miệng còn gọi tôi: “Thụ… ô…”. Có mấy đứa bạn tôi cười khúc khích, tôi như ngồi trên bàn chông, oán hận mẹ khủng khiếp, hận mẹ không biết điều, hận mẹ làm tôi xấu hổ, càng hận thằng Phạm Gia Hỷ cầm đầu trêu chọc. Trong lúc nó còn đang khoa trương bắt chước mẹ, tôi chộp cái hộp bút trước mặt, đập thật mạnh cho nó một phát, nhưng bị Phạm Gia Hỷ tránh được. Nó xông tới bóp cổ tôi, chúng tôi giằng co đánh nhau. Tôi nhỏ con, vốn không phải là đối thủ của nó, bị nó dễ dàng đè xuống đất. Lúc này, chỉ nghe một tiếng “vút” kéo dài từ bên ngoài lớp học, mẹ giống như một đại hiệp “bay” ào vào, một tay tóm cổ Phạm Gia Hỷ, đẩy ra tận ngoài cửa lớp. Ai cũng bảo người điên rất khỏe, thật sự đúng là như vậy. Mẹ dùng hai tay nhấc bổng thằng bắt nạt tôi lên trên không trung, nó kinh sợ kêu khóc gọi bố mẹ, một chân béo ị khua khoắng đạp loạn xạ trên không trung. Mẹ không thèm để ý, vứt nó vào ao nước cạnh cổng trường, rồi mặt thản nhiên, mẹ đi ra.

Mẹ vì tôi gây ra đại hoạ, mẹ lại làm như không có việc gì xảy ra. Trước mặt tôi, mẹ lại có vẻ khiếp nhược, nhìn tôi vẻ muốn lấy lòng. Tôi hiểu ra đây l
à tình yêu của mẹ, dù đầu óc mẹ không tỉnh táo, thì tình yêu của mẹ vẫn tỉnh táo, vì con trai của mẹ bị người ta bắt nạt. Lúc đó tôi không kìm được kêu lên: “Mẹ!” đây là tiếng gọi đầu tiên kể từ khi tôi biết nói. Mẹ sững sờ cả người, nhìn tôi rất lâu, rồi y hệt như một đứa trẻ con, mặt mẹ đỏ hồng lên, cười ngớ ngẩn. Hôm đó, lần đầu tiên hai mẹ con tôi cùng che một cái ô về nhà. Tôi kể sự tình cho bà nội nghe, bà nội sợ rụng rời ngã ngồi lên ghế, vội vã nhờ người đi gọi cha về. Cha vừa bước vào nhà, một đám người tráng niên vạm vỡ tay dao tay thước xông vào nhà tôi, không cần hỏi han trắng đen gì, trước tiên đập phá mọi bát đũa vò hũ trong nhà nát như tương, trong nhà như vừa có động đất cấp chín. Đây là những người do nhà Phạm Gia Hỷ nhờ tới, bố Phạm hung hãn chỉ vào cha tôi nói: “Con trai tao sợ quá đã phát điên rồi, hiện đang nằm nhà thương. Nhà mày mà không mang 1000 tệ trả tiền thuốc thang, mẹ mày tao cho một mồi lửa đốt tan cái nhà mày ra.”

Một nghìn tệ? Cha đi làm một tháng chỉ 50 tệ! Nhìn những người sát khí đằng đằng nhà họ Phạm, cha tôi mắt đỏ lên dần, cha nhìn mẹ với ánh mắt cực kỳ khủng khiếp, một tay nhanh như cắt dỡ thắt lưng da, đánh tới tấp khắp đầu mặt mẹ. Một trận lại một trận, mẹ chỉ còn như một con chuột khiếp hãi run rẩy, lại như một con thú săn đã bị dồn vào đường chết, nhảy lên hãi hùng, chạy trốn, cả đời tôi không thể quên tiếng thắt lưng da vụt lạnh lùng lên thân mẹ và những tiếng thê thiết mẹ kêu. Sau đó phải trưởng đồn cảnh sát đến ngănbàn tay bạo lực của cha. Kết quả hoà giải của đồn cảnh sát là: Cả hai bên đều có tổn thất, cả hai không nợ nần gì nhau cả. Ai còn gây sự sẽ bắt luôn người đó. Đám người đi rồi, cha tôi nhìn khắp nhà mảnh vỡ nồi niêu bát đũa tan tành, lại nhìn mẹ tôi vết roi đầy mình, cha tôi bất ngờ ôm mẹ tôi vào lòng khóc thảm thiết. “Mẹ điên ơi, không phải là tôi muốn đánh mẹ, mà nếu như tôi không đánh thì việc này không thể dàn xếp nổi, nhà mình làm gì có tiền mà đền cho người. Bởi nghèo khổ quá mà thành hoạ đấy thôi!”. Cha lại nhìn tôi nói: “Thụ, con phải cố mà học lên đại học. Không thì, nhà ta cứ bị người khác bắt nạt suốt đời, nhé!”. Tôi gật đầu, tôi hiểu.

Mùa hè năm 2000, tôi thi đỗ vào trung học với kết quả xuất sắc. Bà nội tôi vì làm việc cực nhọc cả đời mà mất trước đó, gia cảnh ngày càng khó khăn hơn. Cục Dân Chính khu tự trị Ân Thi (Hồ Bắc) xếp nhà tôi thuộc diện đặc biệt nghèo đói, mỗi tháng trợ cấp 40 tệ. Trường tôi học cũng giảm bớt học phí cho tôi, nhờ thế tôi mới có thể học tiếp.

Vì học nội trú, bài vở nhiều, tôi rất ít khi về nhà. Cha tôi vẫn đi làm thuê 50 tệ một tháng, gánh tiếp tế cho tôi đặt lên vai mẹ, không ai thay thế được. Mỗi lần bà thím nhà bên giúp nấu xong thức ăn, đưa cho mẹ mang đi. Hai mươi ki lô mét đường núi ngoằn ngoèo ruột dê làm khổ mẹ phải tốn sức ghi nhớ đường đi, gió tuyết cũng vẫn đi. Và thật là kỳ tích, hễ bất cứ việc gì làm vì con trai, mẹ đều không điên tí nào. Ngoài tình yêu mẫu tử ra, tôi không còn cách giải thích nào khác. Y học cũng nên giải thích khám phá hiện tượng này.

27/4/2003, lại là một chủ nhật, mẹ lại đến, không chỉ mang đồ ăn cho tôi, mẹ còn mang đến hơn chục quả đào dại. Tôi cầm một quả, cắn một miếng, cười hỏi mẹ: “Ngọt quá, ở đâu ra?” Mẹ nói: “Tôi… tôi hái…” không ngờ mẹ tôi cũng biết hái cả đào dại, tôi chân thành khen mẹ: “Mẹ, mẹ càng ngày càng tài giỏi!”. Mẹ cười hì hì.

Trước lúc mẹ về, tôi theo thói quen dặn dò mẹ phải cẩn thận an toàn, mẹ ờ ờ trả lời. Tiễn mẹ xong, tôi lại bận rộn ôn tập trước kỳ thi cuối cùng của thời phổ thông. Ngày hôm sau, khi đang ở trên lớp, bà thím vội vã chạy đến trường, nhờ thầy giáo gọi tôi ra ngoài cửa. Thím hỏi tôi, mẹ tôi có đến đưa tiếp tế đồ ăn không? Tôi nói đưa rồi, hôm qua mẹ về rồi. Thím nói: “Không, mẹ mày đến giờ vẫn chưa về nhà!” Tim tôi thót lên một cái, mẹ tôi chắc không đi lạc đường? Chặng đường này mẹ đã đi ba năm rồi, có lẽ không thể lạc được. Thím hỏi: “Mẹ mày có nói gì không?” Tôi bảo không, mẹ chỉ cho cháu chục quả đào tươi. Thím đập hai tay:” Thôi chết rồi, hỏng rồi, có lẽ vì mấy quả đào dại rồi!” Thím kêu tôi xin nghỉ học, chúng tôi đi men theo đường núi về tìm. Đường về quả thực có mấy cây đào dại, trên cây chỉ lơ thơ vài quả cọc, bởi nếu mọc ở vách đá mới còn giữ được quả. Chúng tôi cùng lúc nhìn thấy trên thân cây đào có một vết gãy cành, dưới cây là vực sâu trăm thước. Thím nhìn tôi rồi nói: “Chúng ta đi xuống khe vách đá tìm!” Tôi nói: “Thím, thím đừng doạ cháu…”. Thím không nói năng kéo tôi đi xuống vách núi…

Mẹ nằm yên tĩnh dưới khe núi, những trái đào dại vương vãi xung quanh, trong tay mẹ còn nắm chặt một quả, máu trên người mẹ đã cứng lại thành đám màu đen nặng nề. Tôi đau đớn tới mức ngũ tạng như vỡ ra, ôm chặt cứng lấy mẹ, gọi: “Mẹ ơi, Mẹ đau khổ của con ơi! Con hối hận đã nói rằng đào này ngọt! Chính là con đã lấy mạng của mẹ… Mẹ ơi, mẹ sống chẳng được hưởng sung sướng ngày nào…” Tôi sát đầu tôi vào khuôn mặt lạnh cứng của mẹ, khóc tới mức những hòn đá dại trên đỉnh núi cũng rớt nước mắt theo tôi.

Ngày 7/8/2003, một trăm ngày sau khi chôn cất mẹ, thư gọi nhập học dát vàng dát bạc của Đại học Hồ Bắc đi xuyên qua những ngả đường mẹ tôi đã đi, chạy qua những cây đào dại, xuyên qua ruộng lúa đầu làng, “bay” thẳng vào c
a nhà tôi. Tôi gài lá thư đến muộn ấy vào đầu ngôi mộ cô tịch của mẹ: “Mẹ, con đã có ngày mở mặt mở mày rồi, MẸ có nghe thấy không? MẸ có thể ngậm cười nơi chín suối rồi!”

(Trang Hạ dịch)

Biên khảo HỒ NGUYÊN TRỪNG

5 Comments

Ảnh minh họa: Thác bản văn bia[5] nói về việc xây dựng chùa Tú Phong do Hồ Nguyên Trừng soạn năm 1443. Chùa Tú Phong và mộ Hồ Nguyên Trừng cùng nằm trong thôn Nam An Hà, xã Bắc An Hà, khu Hải Điện, TP Bắc Kinh.

Nam Ông Hồ Nguyên Trừng

Trương Thái Du

Hồ Nguyên Trừng (1374 – 1446) là con trai cả của Hồ Quý Ly. Tháng 11.1394 lần đầu tiên sử sách nhắc đến Nguyên Trừng với việc bổ nhiệm ông làm Phán sư tự dưới triều đình của Thái thượng hoàng Nghệ Tông. Tháng 6.1399 Nguyên Trừng lãnh chức Tư đồ. Tháng 2 năm 1400 Hồ Quý Ly tiếm ngôi nhà Trần, trong lòng muốn lập con thứ Hồ Hán Thương (là cháu ngoại Trần Minh Tông) làm Thái tử, bèn thăm dò ý Nguyên trừng bằng cách ra câu đối: “Thử nhất quyển kỳ thạch, hữu thì vi vân vũ dĩ nhuận sinh dân” (Hòn đá lạ bằng nắm tay này, có lúc làm mây làm mưa để nhuần thấm sinh dân). Nguyên Trừng khiêm tốn trả lời, ý nói không màng ngôi cao, chỉ mong được phụng sự đất nước: “Giá tam thốn tiểu tùng, tha nhật tác đống tác lương dĩ phù xã tắc”. (Cây thông nhỏ mới ba tấc kia, ngày sau làm rường cột để chống nâng xã tắc). Tháng 12 năm 1400 Hồ Quý Ly tự xưng Thái thượng hoàng và nhường ngôi cho Hán Thương. Hồ Nguyên Trừng lãnh chức Tả tướng quốc.

Cuối năm 1405, nguy cơ xâm lăng của nhà Minh ngày càng rõ rệt. Khi nghị bàn quốc sự các quan trong triều chia thành hai phái đánh và hòa. Hòa tức là chấp nhận sức ép của Bắc triều, cắt đất, cống nộp từ con người đến sản vật. Hồ Nguyên Trừng nói: “Thần không sợ đánh, chỉ sợ lòng dân không theo thôi”. Hồ Quý Ly rất tâm đắc ý chí của Nguyên Trừng nên đã thưởng cho Trừng chiếc hộp đựng trầu bằng vàng.

Giữa năm 1406 Hồ Nguyên Trừng thống lĩnh binh mã cự 10 vạn quân Minh từ Quảng Tây đánh sang. Trận đầu ông thất bại ở khu vực Đáp Cầu Bắc Ninh ngày nay, vì khinh quân địch ít. Sau đó ông cũng đuổi được chúng ra khỏi bờ cõi. Cuối năm 1406, đợt xâm lược mới của nhà Minh có quân số lên tới 80 vạn. Tả tướng quốc Nguyên Trừng chỉ huy một cánh quân tiên phong dọc sông Cái.

Thất bại này nối thất bại kia vì giặc mạnh lại biết dùng kế ly gián, chia rẽ họ Hồ với quân tướng và dân chúng. Giữa năm 1407, toàn bộ gia tộc họ Hồ, từ Hồ Quý Ly, Hồ Hán Thương, Hồ Nguyên Trừng đến con cháu đều bị bắt sống và giải về Kim Lăng, Trung Quốc.

Trên đây là tóm tắt gốc tích và hành trạng trong nước của Hồ Nguyên Trừng theo Đại Việt sử ký toàn thư, NXB KHXH Hà Nội 1993. Sách này còn ghi năm 1411 Hồ Ngạn Thần theo lệnh vua Trùng Quang Trần Quí Khoáng đến Yên Kinh (Bắc Kinh ngày nay) để cầu phong. Vua Minh sai Hồ Nguyên Trừng gặp Ngạn Thần thu thập tin tức Giao Chỉ.

Đến Khâm định Việt sử thông giám cương mục, NXB Hà Nội 1998, ngoài nội dung cũ, liên quan đến Hồ Nguyên Trừng còn có các chi tiết: Vua nhà Minh ngự điện nhận tù binh và hỏi Quý Ly rằng: “Giết vua, cướp nước, như thế có phải là đạo người bầy tôi không?”. Quý Ly không trả lời được, bèn giao cả xuống giam vào ngục tù, chỉ tha cho con là Trừng, cháu là Nhuế. Sau, Quý Ly ở trong ngục được tha ra, bắt đi thú thủ ở Quảng Tây; Trừng vì lành nghề chế binh khí, dâng phép chế súng lên vua Minh, nên được tha ra để dùng. Lời cẩn án – Sử cũ chép: “Khi Quý Ly đến Kim Lăng, vua nhà Minh giả vờ trao cho chức tham chính, sai người hộ tống đến nơi làm việc, rồi giết chết ở dọc đường”. Có lẽ nào đánh bắt được người đầu sỏ của giặc, không đem làm tội một cách đường hoàng mà lại phải dùng kế giả dối để giết bao giờ? Thật là vô lý! Nay theo sách Minh sử kỷ sự cải chính lại.

***

Giai đoạn sau cuộc đời Hồ Nguyên Trừng không được sử sách chính thống Việt Nam nhắc đến. Nhiều văn bản Trung Quốc còn lưu lại đến ngày nay đều thống nhất dùng họ Lê cho Hồ Nguyên Trừng và con cháu ông, đây là họ của Lê Huấn, cha nuôi Hồ Quý Ly. Để tiện bề theo dõi, trở xuống xin được đổi lại họ Hồ trong các đoạn dịch.

Theo Minh Sử[1]: Vào thời Minh Thành tổ, Giao Chỉ được bình định, kỹ thuật (chế tạo) thần cơ thương pháo được thu dung, thành lập và huấn luyện một binh đoàn trang bị súng thần cơ.

Kết nối dữ kiện trên với tài liệu của Tôn Lai Thần[2] (Sun Laichen) sẽ hiện ra chân dung nhà khoa học quân sự Hồ Nguyên Trừng: Theo lệnh vua Minh, các tù binh Đại Việt biết chế tạo vũ khí như Hỏa súng, Đoạn tiễn, Thần tiễn, Thuốc súng; đã bị áp giải đến Nam Kinh cùng với nhiều thợ thủ công các loại, tổng cộng lên đến khoảng 17.000 người. Trong số này có Hồ Nguyên Trừng. Đại Việt sử ký toàn thư cũng đặc biệt ghi nhận năm 1407 Hồ Nguyên Trừng đã chế tạo nhiều súng ống và tàu chiến để chống lại quân Minh xâm lược. Việc ngài Tả tướng quốc Nguyên Trừng nắm kỹ năng chế tạo vũ khí cầm tay cho thấy tầm quan trọng mà Đại Việt gửi gắm ở kỹ nghệ sản xuất thuốc súng cũng như cuộc cạnh tranh quyết liệt giữa Đại Việt và các nước láng giềng, trước hết là với Trung Hoa và Chiêm Thành. Thú vị là sự tinh thông ấy đã thay đổi vận mệnh Hồ Nguyên Trừng tại Trung Hoa…. Nguyên trừng được tha bổng và nhậm một chức quan thuộc Công bộ. Ông chịu trách nhiệm chế tạo hỏa súng, hỏa tiễn và thuốc súng trong Binh trượng cục (Cục chế tạo vũ khí) và rồi được thăng chức Thượng thư bộ Công (tương đương hàm bộ trưởng ngày nay – ND)… Theo một số sách vở Trung Hoa (Minh sử cảo), triều Minh khi tế thần súng cũng thường hiến cúng Hồ Nguyên Trừng. 73 tuổi, Hồ Nguyên Trừng mất, con ông (Lê Thúc Lâm – ND) đã thay ông tiếp tục chế tạo vũ khí cho nhà Minh đến khi về hưu năm 1470 ở tuổi 70.

Phần lớn ghi chép ở Việt Nam ngày nay cho rằng Hồ Nguyên Trừng làm quan triều Minh đến tam phẩm (Công bộ tả thị lang, thứ trưởng). Thực ra theo bộ Minh sử đầy đủ đã xuất bản ở Đài Loan, năm 1445 Hồ Nguyên Trừng được thăng chức nhị phẩm (Công bộ thượng thư)[3]. Điều này phù hợp với nghiên cứu của Tôn Lai Thần. Có lẽ làm “bộ trưởng” chưa được một năm thì họ Hồ mất nên tài liệu Việt Nam sơ suất. Hữu thị lang Hồ Thúc Lâm, con Hồ Nguyên Trừng đến tuổi hưu trí vẫn được triều Minh lưu dụng. Thậm chí đến cháu nội ông là Hồ Thế Vinh, năm 1469 cũng được tuyển làm Trung thư xá nhân tại Công bộ.

Hiện trên internet có rất nhiều trang đề cặp đến nơi yên nghỉ Hồ Nguyên Trừng. Chẳng hạn khảo biện “Hỏa long kinh”[4], thuộc chủ đề Trung Quốc lịch sử văn vật, tác giả Lý Bân, Đại học Thanh Hoa xuất bản 1.1.2002 viết: Tháng sáu, năm Chính thống thứ 10 (1445) thăng (Hồ Nguyên Trừng) làm Thượng thư bộ công, giữ việc nội phủ, tháng 7 năm sau mất, hưởng thọ 73 tuổi, an táng tại vùng núi phía tây Bắc Kinh, sườn núi Ngọc Đài, thôn Nam An Hà.

Từ những dữ kiện trên đây, có thể khẳng định Hồ Nguyên Trừng và con cháu ông là những công trình sư có đóng góp nghiên cứu và thực nghiệm khoa học quân sự lớn lao cho triều Minh. Phải chăng chính công tác “gián điệp” trong quá trình xâm lăng Đại Việt đầu thế kỷ 15, nhà Minh đã nhìn thấy “mỏ vàng” nhân lực trí lực đồ sộ ở nước Nam. Cướp đất và ra sức tiêu diệt văn hóa chưa đủ, họ còn bắt đi 17.000 trái tim khối óc người Việt đem về để kiến thiết Trung Quốc. Nguyễn An, nhân vật tham gia thiết kế và xây dựng Tử Cấm Thành, và Hồ Nguyên Trừng là những cái tên chói sáng trong số tù nhân kia. Họ bất tử vì tài năng kiệt xuất, lưu truyền thiên cổ.

***

Cuối đời, sống trong nhà tù lớn mang tên Trung Hoa, dù chức cao bổng hậu Hồ Nguyên Trừng vẫn ngóng về quê hương với nỗi niềm sâu nặng. Phải chăng đấy là lý do Nguyên Trừng lấy bút hiệu Nam Ông (ông già nước Nam) và viết quyển “Nam Ông mộng lục” bất hủ.

Trước tác gồm 31 phần, do Hồ Huỳnh, Thượng thư bộ Lễ Minh triều đề từ năm 1440, có cả hậu tự năm 1442 của Tống Chương. Ở lời nói đầu, Hồ Nguyên Trừng bảo: Trong xóm mười nhà thể nào cũng có người tín nghĩa như Khổng Tử, huống hồ nhân vật nước Nam không kể hết. Thời gian và chiến tranh làm sách vở tiêu tán hết, nên ông phải viết lưu lại cho đời. Bằng nỗi niềm thương nhớ cố quốc, hồi tưởng năm tháng đã qua, Hồ Nguyên Trừng ngỡ cuộc đời là một giấc mộng dài. Ông giải thích chữ “mộng”[6]: Những nhân vật trong sách, một thời phồn hoa, rồi thời cuộc biến đổi không còn để lại vết tích, chỉ còn một mình tôi biết được và kể ra, như vậy chẳng phải mộng là gì! Qua “Nam ông mộng lục” người ta phần nào hình dung được đất nước con người Việt Nam cách đây hơn 600 năm. Các mảng đời sống, tín ngưỡng, phong tục, lề thói… rất sinh động và chân thật. Hồ Huỳnh nhận định: “Văn họ Hồ ngắn gọn mà nghiêm trang, cẩn mật, cao nhã mà uyên bác, theo tình kể lại, theo nghĩa đặt lời… Ca ngợi sự tiết nghĩa thì bừng bừng cảm khái, có thể uốn nắn phong tục, biểu dương trước thuật thì siêu thoát, thanh tân, có thể nuôi dưỡng tính tình…”.

Gần đây ở ngôi làng Nam An Hà, cách Bắc Kinh 30km về phía tây, nơi có mộ chí Hồ Nguyên Trừng và con cháu ông đang ồn ào vụ kiện giải tỏa đất đai mồ mả để làm trường đua ngựa[7]. Không rõ khu vực giải tỏa có chạm đến nơi an nghỉ của Hồ Nguyên Trừng không. Cũng tra internet tôi biết gần đó hiện còn di chỉ Hỏa khí doanh (doanh trại chế tác/thử nghiệm vũ khí), phải chăng là nơi ba đời họ Hồ từng làm việc.

Trang viết biên khảo nhỏ này muốn đưa đến đông đảo người đọc những chi tiết có chọn lọc, về thân thế và sự nghiệp người Việt kiều từng giữ chức bộ trưởng, trong triều đình một cường quốc của thế giới cách nay hơn nửa thiên niên kỷ. Dám mong một ngày nào đó, nếu lăng Hồ Nguyên Trừng bị giải tỏa, di cốt ông sẽ được nhân dân Việt Nam đón về cải táng trong thành đá Tây Đô, Vĩnh Lộc, Thanh Hóa. Tòa thành ấy còn gọi là Thành nhà Hồ, vẫn ngạo nghễ với thời gian, ghi dấu nỗ lực chiến đấu chống ngoại xâm ngoan cường của ba cha con Hồ Quý Ly, Hồ Nguyên Trừng và Hồ Hán Thương.

Thảo Điền

17.11.2007


[1] Trung Hoa thư cục, Bắc Kinh 1974, tập 92, trang 2264.

[2] Tôn Lai Thần, Kỹ thuật quân sự Trung Hoa và Đại Việt từ 1390 đến 1497 (Sun Laichen, Chinese technology and Dai Viet : c.1390 – 1497), Viện nghiên cứu Á Châu (ARI), Đại học quốc gia Singapore 9.2003.

[3] Dẫn theo Lê Thị Minh Huyền, trang web viethoc.com, Minh sử tân hiệu – quyển 111 – biểu 12.

[6] Trần Văn Giáp, Tìm hiểu kho sách Hán Nôm, NXB Văn Hóa, Hà Nội, 1884, tập 1, trang 42. Dẫn theo Hồ Bạch Thảo, talawas.

[7] Lê thị Minh Huyền đã dẫn: http://www.chinacourt.org/html/article/200710/08/268077.shtml, trang web Pháp viện Trung Quốc cho biết ngày 14.11.2007 vụ án này đã bắt đầu bước vào trình tự phúc thẩm do tòa sơ thẩm bác đơn kiện.

BIÊN KHẢO Chữ viết khởi thủy

2 Comments

Những con chữ khởi thủy

và một áng văn rất sớm của loài người

1. Khám phá khảo cổ.

Tại di chỉ thuộc về thời Đồ đá ở Giả Hồ, nhiều nhà khoa học Trung Quốc thuộc các viện nghiên cứu và trường đại học của Hà Nam, An Huy và Bắc Kinh, cùng tiến sĩ Garman Harbottle (Phòng thí nghiệm quốc gia Brookhaven, New York, Mỹ) đã liên tiếp công bố những khám phá khảo cổ gây chấn động dư luận.

Giả Hồ nằm phía nam trung lưu dòng Hoàng Hà, giữa quốc gia Thương – Ân cổ đại. Thời Xuân Thu Giả Hồ thuộc khu vực tiếp giáp bốn nước Tấn, Tề, Lỗ, Tống. Ngày nay Giả Hồ thuộc tỉnh Hà Nam, chính tâm nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (theo đường chim bay, cách Bắc Kinh khoảng 400km về phía nam, cách Đông Hải khoảng 300km).

Hình 1: Vị trí của Giả Hồ (Jiahu).

Năm 1999 nhóm nghiên cứu nói trên đã công bố ở tạp chí Nature việc tìm ra nhiều chiếc sáo làm bằng xương ống chân hoặc xương cánh của loài sếu (hạc) đầu đỏ, khoét từ 5 đến 8 lỗ thoát hơi, cỡ 9.000 năm tuổi. Một chiếc sáo còn nguyên vẹn có 7 lỗ, âm vực trải đủ một quãng tám Tây phương, vẫn thổi được, âm thanh của chúng rất hay. Chúng là những nhạc cụ xưa nhất, kỳ diệu nhất mà con người đã được biết và được nghe [1].

Tháng 3 năm 2003, tạp chí Antiquity lại đăng tải một phát hiện quan trọng khác tại Giả Hồ: Những nét khắc trên mai rùa có niên đại cỡ 8.200 đến 8.600 năm có thể là chữ viết tượng hình sớm nhất của nhân loại.

Công cuộc khai quận khảo cổ tại Trung Quốc liên tiếp đánh bại những kỷ lục cũ. Năm 1998 trong hầm mộ vua Scorpion, phía nam Ai Cập, người ta thấy một phiến đất sét chứa những chữ viết nguyên thủy khoảng năm 3.300 đến 3.200 TCN. Cùng thời điểm ấy chữ viết sơ khai của người Sumerians thuộc nền văn minh Mesopotamian cỡ năm 3.100 TCN cũng phát lộ, ký hiệu đó rất gần với hệ thống chữ viết Indus. Năm 1999, đào bới khảo cổ ở Pakistan đã trưng ra những chữ cổ xưa được khắc lên một mảnh lọ gốm trước và sau khi nung. Loại chữ này có niên đại 3.500 TCN, thuộc nền văn minh Harappan hoặc Indus, rực rỡ trong khoảng 2.500 TCN. Và cuối cùng là năm 2000, tại Ashgabat, thủ đô Turkmenistan, người ta đào được một miếng đá dường như đã được dùng làm triện đóng dấu, có khắc chữ. Miếng đá được định tuổi khoảng năm 2.300 TCN, thuộc về một nền văn minh chưa được biết đến, nằm giữa trục đường tơ lụa Á – Âu.

Hình 2: Mảnh gốm có khắc chữ đào được ở Pakistan.

Như vậy các ký tự trên mai rùa tại Giả Hồ thuộc về thời Đồ đá hoặc Đồ đá mới, ít nhất sớm hơn chữ Ai Cập 2.900 năm và sớm hơn chữ tiền Lưỡng Hà – Ấn Độ 2.700 năm.

Các nhà khảo cổ học đã nhận dạng 11 ký hiệu đơn lẻ khắc trên mai rùa. Những chiếc mai được táng cùng thi thể người trong 24 mộ phần, định tuổi bằng đồng vị carbon là từ năm 6.600 đến 6.200 TCN. Nghiên cứu cho thấy ký hiệu này mang những nét tương đồng với chữ viết được dùng hàng ngàn năm sau trong thời nhà Thương (1700 – 1100 TCN), bao gồm: chữ “mục” (mắt), “hộ” (cửa nhỏ, 1 cánh), và các số 1, 2, 8, 10, 20.

Hình 3: Chữ “Mục” (mắt) , so với chữ Hán hiện đại () vẫn còn sự tương đồng không thể phủ nhận.

Hình 4: Mai rùa có khắc chữ.

2. Ý kiến của các nhà nghiên cứu phương Tây.

“Những gì lộ ra là các ước hiệu mang đầy đủ ý nghĩa, có sự tương thiết với chữ viết cổ Trung Hoa” – Tiến sĩ Harbottle nói. Tuy nhiên ông ta lại trả lời BBC News Online: “Nếu bạn nhặt lên cái chai có đầu lâu xương chéo, ngay lập tức bạn biết đó là thuốc độc, không cần ngôn ngữ thuyết minh. Chúng ta thường ra hiệu để truyền đạt ý niệm và tôi sẽ không ngạc nhiên nếu đó là những gì chúng ta thấy ở đây”. Cũng Harbottle, với Discovery News: “Thật không may chúng ta không thể đoán ở thời điểm này, những ước hiệu nọ biểu thị điều gì. Có thể chúng là chữ viết, có thể chúng là tên gọi các vị thần linh, hoặc không phải. Mãi sau này ở Trung Hoa, các con chữ mới được viết thành câu hỏi gửi đến tiên tổ trên trời, bởi con người, bởi vua chúa .v.v.., để tìm kiếm sự dìu dắt và đoán biết tương lai. Hiển nhiên còn rất nhiều việc phải làm”.

Giáo sư David Keightley (Đại học California, Berkeley, Mỹ) lưu ý về việc liên hệ với chữ viết đời Thương: “Ngắt quãng là 5.000 năm. Thật ngạc nhiên nếu chúng có dây mơ rễ má với nhau.” Ông còn bảo nên chứng minh thấu đáo hơn và “Đây là vấn đề nan giải và là thứ không bình thường. Ký hiệu kia đặc biệt sớm. Chúng ta không thể gọi chúng là chữ viết cho đến khi có nhiều bằng chứng nữa”.

William Boltz, giáo sư tiếng Hoa cổ (Đại học Washington, Seattle, Mỹ) nói qua Discovery News: “Có sự gián cách hơn 5.000 năm… Sao quá trình phát triển chữ viết Trung Hoa diễn ra lâu thế?. Suy diễn dựa trên tương quan hình thể đơn độc, dọc khoảng thời gian dài như vậy, gần như vô nghĩa. Bằng cách nào người ta biết rằng hình nọ trong thực tế là hình con mắt?”. Theo ông nó có thể giống con mắt với người này, nhưng cũng có thể là cái khác với người kia. “Không có một văn cảnh, bao gồm cả sự am hiểu về ngôn ngữ liên quan, không thể nói những dấu hiệu này là chữ viết” – Boltz kết luận.

Bản tin BBC ngày 15.5.2001 nói về việc phát hiện chữ cổ tại Turkmenistan: “Những ký hiệu trên cái triện dấu bằng đá có thể có quan hệ với Trung Hoa xa xưa, nhưng Trung Hoa không được tin là đã phát triển được chữ viết ở thời điểm vật dụng kia ra đời”. Kết luận rất chủ quan của BBC, rất lạ, hình như quán xuyến một định kiến cứng nhắc xuyên suốt trong quan niệm của nhiều chuyên gia khảo cổ và ngôn ngữ hàng đầu trời Tây. Điều này được chứng minh bằng sự dè dặt và hồ nghi của những người được hỏi ý kiến, hai năm sau đó, khi di vật tại Giả Hồ xuất lộ. Hơn thế nữa, sự dè dặt của họ chứa đựng những mâu thuẫn và sơ hở đáng ngờ.

Harbottle, người cộng tác với nhóm chuyên gia Trung Quốc nói ngược nói xuôi đều… xuôi. Một người Trung Hoa bình thường nhất cũng có thể giải thích để Keightley hết ngạc nhiên: hơn 3.000 năm từ thời Thương – Ân, tiếng Hoa hiện đại vẫn còn rất nhiều từ không thay đổi chút nào, chữ “mộc” và chữ “khẩu” là ví dụ rõ nhất. Trong ý nghĩa nào đó của sự tương đối, 5.000 năm từ thời Đồ đá mới đến Thương – Ân chưa chắc đã dài bằng 3.000 năm tiếp liền sau. Câu hỏi của Boltz thì Voltaire đã trả lời từ thế kỷ thứ 18: “Chúng ta nhận thấy rằng quốc gia ấy tồn tại một cách rực rỡ từ trên 4.000 năm rồi mà luật pháp, phong tục, ngôn ngữ, cách ăn mặc vẫn không thay đổi bao nhiêu” [2]. Những đòi hỏi có phần quá khắt khe, nhằm đưa đến kết luận rõ ràng rằng các ký hiệu kia là chữ viết, vô hình chung phủ nhận tất cả khám phá khảo cổ có liên quan đến chữ viết trước đó, không riêng gì ở Trung Quốc.

3. Áng văn bất hủ.

Thái độ bình tĩnh và nhún nhường của người Trung Quốc trong trường hợp này rất đáng nể. Đứng đầu đoàn chuyên gia Tây – Tàu, giáo sư Trương Cư Trung đã công bố thành quả lao động của họ trên tạp chí Antiquity, với một câu hỏi làm tựa đề: “Chữ viết sớm nhất chăng? Ký hiệu sử dụng ở thiên niên kỷ thứ 7 trước công nguyên tại Giả Hồ, tỉnh Hà Nam, Trung Quốc”.

Nhóm nghiên cứu của giáo sư Trương tại Hà Nam không phải nhóm duy nhất đang khai mở lịch sử chữ viết Trung Hoa. Tại Tây An, nằm sâu 3,5m dưới di chỉ đồ đá mới Bán Pha (niên đại 6.000 đến 7.000 năm), là làng Bán Pha 2 ít người biết, cổ kính hơn nhiều (12.000 năm). Các vật tạo tác tìm đ
ợc tại đó, đã mơ hồ cho thấy hình như xã hội của cả hai làng Bán Pha ít nhiều mang dấu tích mẫu hệ trong tổ chức xã hội. Không xa Bán Pha, ở làng Đào Tự, Tương Viên, Sơn Tây, một bức tường thành dài khoảng 130 mét, nằm theo hướng Đông – Tây cũng vừa lộ diện. Nhiều chuyên gia dự đoán nó thuộc về thời đại Nghiêu – Thuấn – Vũ trong huyền thoại.

Một chiếc bình thuộc Bán Pha 2, dính một ít cặn giống như cặn trà đã được đào lên. Mặt ngoài chiếc bình có khắc một câu chuyện bằng chữ tượng hình cổ đại Trung Hoa. Loại chữ này mang tính ẩn dụ cao, có nhiều dị biệt so với kiểu chạm khắc làm nên nền tảng ngôn ngữ Trung Hoa hiện đại. Tiến sĩ Jeff Schonberg (Đại học Angelo State University, San Angelo, Texas, Mỹ), cố vấn tại công trường khai quật Bán Pha 2 gọi kiểu truyện này là “văn hóa phổ quát”. Ông nghĩ nó giống như truyện Adam, Noah, Abraham và Frankenstein của các nền văn minh khác.

Câu chuyện trên chiếc bình được tạm giải mã như một bài học đạo đức, nói về sự cư xử không phải phép, theo ngôn ngữ hôm nay là kiêu ngạo: “Thuở ấy thế giới đảo lộn chìm đắm trong kỷ nguyên bóng tối bởi con người cư xử tồi tệ và xúc phạm thần nước. Hậu quả là xã hội hỗn loạn và nhiều người bị bệnh. Họ tìm đến thần núi, ông này hiểu rõ sự sai lầm và nổi giận. Con người bắt buộc phải bước vào hành trình tìm thuốc chữa bệnh. Trên mỏm núi rất xa nọ, họ sẽ thấy một loài cây. Họ phải đem về và chế biến thành trà để uống. Sự tha thứ và hàn gắn sẽ diễn ra, bóng tối sẽ bị xua đi”.

Thật lạ lùng là cốt truyện này vẫn được lưu giữ giữa lời truyền khẩu dân gian và ký ức của con người Tây An, tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc hôm nay. Phải chăng nền giáo dục tân kỳ, văn minh khoa học và kỹ thuật số của thế giới hiện đại đang nằm trên con đường tiệm cận hành vi “kiêu ngạo”. Bài học tinh thần cổ điển dường như còn rất mới. Dọc dài thời gian và sự phát triển của nhân loại từ quá khứ đến tương lai, áng văn xa xưa ấy mãi mãi hàm mang giá trị nhân văn bất khả diệt và cần được suy tư nâng niu [3]. Trước ngưỡng cảnh môi trường trái đất đang bị tàn phá nặng nề, xã hội loài người xáo trộn bởi những căn bệnh vô tiền khoáng hậu như ung thư, aids, chia rẽ, kỳ thị, khủng bố, giết người hàng loạt… câu chuyện kia phải được xem như lời cảnh tỉnh chân thành. Kỳ vọng lắm cho tất cả chúng ta, mỗi khi nâng chén trà lên môi thưởng thức, sẽ thấy áng văn bất hủ nọ sóng sánh giữa tâm hồn, sẽ hình dung ra một con thuyền nan tròng trành dưới đáy cốc đang chở Trương Chi và giọng hát ngọt ngào của chàng đến bến bờ chân thiện.

Hình 5: Bán Pha, di chỉ đồ đá mới (5.000 đến 7.000 năm). Âm 3.5m dưới đất là Bán Pha 2 (niên đại 12.000 năm).

Khi tôi liên lạc trực tiếp với giáo sư Trương Cư Trung, để hỏi về sự chính xác của thông tin mà tiến sĩ Jeff Schonberg đề cặp trong một hội thảo tại Mỹ, ông Trương khẳng định: cách nay 12 ngàn năm Trung Quốc chưa thể có chữ viết. Chỉ chắc chắn rằng chiếc bình trà nọ có niên đại từ 5.000 năm trở lên, tất cả dữ kiện khảo cổ về chữ viết khắp nơi tại Trung Quốc đang được đối chiếu, liên hệ, phân tích và sẽ sớm công bố ở tương lai gần.

4. Kết luận.

Không nghi ngờ gì nữa, những đường nét rất gần với ký tự tại Giả Hồ có nền tảng vững vàng nhất, so với các chữ sơ khai khác ở Ai Cập, Lưỡng Hà, Pakistan và Turkmenistan. Nền tảng ấy chính là văn minh Trung Hoa chưa một ngày đứt gãy, từ thuở các di vật kia được chế tác đến nay. Địa điểm Giả Hồ bao gồm rất nhiều ngôi mộ cổ, nhiều dấu tích cư dân rất xưa và di chỉ khảo cứu, chắc chắn còn để dành sự bất ngờ rất lớn cho mai sau. Việc đào bới chỉ mới tiến hành trên một diện tích khá bé mà đã thấy 45 nền nhà, 370 kho hầm, 349 mộ phần, 9 lò nung gốm, cùng hàng ngàn vật dụng (từng được sử dụng cho nghi thức cúng tế, sinh hoạt và làm đồ trang sức) bằng xương cầm thú, gốm, đá và các chất liệu khác. Có thể nói, toàn bộ mảnh đất Trung Hoa hiện đại đang là một công trường khảo cổ vĩ đại. Tin tức báo chí mấy năm gần đây dồn dập chỉ ra bao nhiêu dấu vết con chữ sơ khai ở Sơn Đông, An Dương (cũng thuộc Hà Nam), An Huy, Triết Giang.

Thật ra sự “dè dặt và hồ nghi” mang nhãn hiệu Âu – Mỹ đã nêu rất dễ hiểu. Bao trùm lên những tranh luận “đây có phải chữ viết hay không”, là cả m
t vấn đề ở tầm vĩ mô mang tên “văn hóa” và “văn minh”. Nếu người Trung Quốc chứng thực được họ có nền văn minh sớm nhất nhân loại, có nền văn hóa duy nhất của hành tinh phát triển liên tục hàng chục ngàn năm nay, thì tri thức về ngày hôm qua của loài người ở thế kỷ 21 phải được tái thẩm định và sắp đặt lại. Hệ quả là thật khó phủ nhận những giá trị khu biệt và tiên phong của Á Đông. Giá trị ấy đã chiến thắng khoảng thời gian khắc nghiệt dằng dặc, sẽ đem đến cho người Á Đông niềm tin vô bờ bến để soi rọi, khẳng định mình trước tương lai.

Trung Thu 2004

Trương Thái Du

—————————————————————————–

Thư tịch và chú thích:

Antiquity Tập 77, số 295 , tháng 3 năm 2003, The earliest writings? Sign use in the seventh Millennium BC at Jiahu, Henan Province, China, by Xueqin Li, Garman Harbottle, Juzhong Zhang (Trương Cư Trung), Changsui Wang.

http://hsta.ustc.edu.cn

http://www.chinacsw.com/cszx/xian/lishi.htm

http://english.peopledaily.com.cn

http://www.geocities.com/cvas.geo/china.html

http://news.bbc.co.uk/1/hi/sci/tech/454594.stm

http://news.bbc.co.uk/2/hi/science/nature/2956925.stm

http://news.bbc.co.uk/2/hi/asia-pacific/1330705.stm

http://dsc.discovery.com/news/briefs/20030421/writing.htm

[1] Có thể nghe tiếng sáo 9 ngàn năm trước tại đây: http://news.bbc.co.uk/olmedia/450000/audio/_454594_flutes.ram

[2] Voltaire, Khảo luận về phong tục, Will Durant dẫn trong “Lịch sử văn minh Trung Hoa”, Nguyễn Hiến Lê dịch, NXB VH-TT 1997.

[3] Ở góc độ nào đấy, ngọn núi có cây trà kia chính là Núi thiêng, là Linh sơn của nền văn hóa Trung Hoa. Cuộc giải mã cổ tự diễn ra sau khi tiểu thuyết Linh Sơn của Cao Hành Kiện (Nobel 2000) được viết. Hai bộ khung ý tưởng cùng một nguồn mạch văn minh Trung Hoa, cách nhau nhiều ngàn năm, mang nét tương đồng đến ngạc nhiên. Bạn đọc có thể tham khảo thêm bài viết về tác phẩm Linh Sơn của tôi tại: http://evan.vnexpress.net/Functions/WorkContent/?CatID=4&TypeID=19&WorkID=775

Hãy đem di cốt Hồ Nguyên Trừng trở về Việt Nam

11 Comments

Bài của Lê Thị Minh Huyền
Phần mộ của quan Thượng thư Bộ Công nhà Minh là Lê Trừng, tức Hồ Nguyên Trừng (1374-1446), vốn là tôn thất nhà Hồ của Việt Nam, tọa lạc tại thôn Nam An Hà, xã (hương) Bắc An Hà, khu Hải Điện, Thành phố Bắc Kinh, Trung Quốc, có thể bị khai quật và di dời trong thời gian tới.

Theo Website của Tối cao Nhân dân Pháp viện (Tòa Án nhân dân tối cao) Trung Quốc (xem chinacourt.org) ngày 10 tháng 8 năm 2007 thì Tòa Án Hành chánh quận Đông Thành, Bắc Kinh, đã quyết định không thụ lý (bác bỏ) đơn kiện của tập thể 600 nông dân thôn Nam An Hà do một bà họ Tần (Tần nữ sĩ) đại diện, kiện hai Bị đơn là Ban Quản Lý Thôn (Thôn dân Ủy viên hội) và Công Ty tài chánh Guangbiao Yundong, đã tự tiện ký hợp đồng cho thuê 2000 hecta đất nông nghiệp đang trồng củ cải của dân mà không có ý kiến của những người đang sử dụng đất (theo Hiến pháp Trung Quốc thì người dân không có quyền sở hữu đất nhưng có quyền sử dụng và quyền chuyển nhượng đất). Ban Quản Lý thôn Nam An Hà đã ký hợp đồng cho Công Ty G.Y thuê dất để làm khách sạn (khoảng 0,674 hecta), còn lại làm trường đua ngựa trong thời hạn 60 năm kể từ ngày ký hợp đồng thuê (tháng 2 năm 2004), với tiền thuê hàng năm là 700.000 tệ (khoảng 10.000 USD). Theo kế họach của Công Ty G.Y thì tất cả nhà cửa, mồ mả của dân phải di dời xong trong năm 2008. Mộ phần của gia đình Hồ Nguyên Trừng nằm trong số này (ngoài ra còn rất nhiều mộ của các danh nhân khác như Chu Tự Thanh, Đoàn Kỳ Thụy, Mã Chiếm Sơn, riêng lăng vua Cảnh thái nhà Minh vì là di tích quốc gia nên được chừa ra).

Hồ Nguyên Trừng là con trưởng Hồ Quý Ly, vua mở đầu nhà Hồ của nước Đại Ngu (tự nhận là dòng dõi Ngu Thuấn), nhưng không được truyền ngôi, có thể vì ông không phải con cháu nhà Trần (em Hồ Nguyên Trừng là Hồ Hán Thương là cháu ngoại vua Trần Minh Tông, mẹ Hồ Hán Thương là công chúa Huy Ninh, em vua Trần Nghệ Tông và Trần Duệ Tông). Sau khi cha con nhà Hồ bị quân Minh bắt về Trung Quốc thì họ Hồ bị đổi trở lại là họ Lê.

Nói thêm một số chi tiết về số phận cha con nhà Hồ sau khi bị bắt về Trung Quốc (dựa theo các tài liệu dẫn bên dưới):

Ngoài ba đầu sỏ của “giặc ngụy” (chữ dùng của Minh sử, Minh Thực lục, Minh Thông giám, Quốc triều hiến chính) là Lê Quý Ly, Lê Thương (tức Hồ Hán Thương), Hồ Đỗ (nguyên là Trần Đỗ, con của tôn thất nhà Trần là Trần Tông, mẹ Đỗ cải giá lấy Quý Ly nên gọi Quý Ly là bố dượng, đổi sang họ Hồ, được Quý Ly tin cậy giao chức cao) bị xử trí tương đối nhẹ (mặc dù trước khi chinh phạt Đại Việt, vua nhà Minh đã làm lễ tế cáo trời đất rằng tội của cha con họ Hồ là “Trời Đất cũng không thể tha thứ” (Minh sử đã liệt kê 20 tội của nhà Hồ, toàn là tội đại nghịch, như giết vua soán ngôi, tiếm hiệu, xâm lấn đất thiên triều, giết sứ giả….) là giam trong ngục ở Nam Kinh chờ phán quyết (Minh thực lục, Minh sử), nhưng sau đó thì chẳng thấy phán quyết nào, nên sử Việt Nam như Đại Việt Sử ký Toàn thư (gọi tắt Toàn Thư) chỉ nói chung chung rằng cha con nhà Hồ phải đền tội là hợp với đạo trời, tuy nhiên bộ Khâm Định Việt Sử Thông giám Cương Mục (Cương Mục), dựa vào tài liệu của nhà Minh (Minh sử ký sự) thì cho rằng Hồ Quý Ly không bị giết mà bị đưa đi làm lính ở Quảng Tây. Kiểm tra lại tài liệu (sử Việt Nam khi trích dẩn tài liệu Trung Quốc thường hay nói tắt, nên đôi lúc gây nhầm lẫn) của phía Trung Quốc (Minh sử ký sự bản mạt của Cổ Ưng Thái đời Thanh Khang Hy, dựa trên tài liệu tàng trữ của nhà Minh; và một số tài liệu khác như Dã ký của Chúc Doãn Minh (1460-1526), Minh sử diễn nghĩa (tuy là diễn nghĩa nhưng theo sát chính sử, rất có giá trị) của Sái Đông Phiên (đời Thanh mạt)) thì Hồ Quý Ly quả thực bị bắt làm lính thú tại Quảng Tây. Vấn đề là tại sao nhà Minh lại chọn hình thức và địa điểm “cải tạo “ đầu sỏ ngụy” như thế thì đến nay không có tài liệu nào cho biết cả! Xét cho kỹ thì việc xử lý Hồ Quý Ly của nhà Minh thật là thâm độc. Nhà Minh không giết, nhưng cũng không tha chúa ngụy, có thể vì những lý do sau:

-không giết Hồ Quý Ly vì Quý Ly là cha của một nhân tài là Hồ Nguyên Trừng, một người không những nắm rõ bí quyết chế tạo “thần cơ pháo”, “hỏa long pháo”, mà còn rất giỏi trong việc chế tạo các sản phẩm có giá trị khác (sẽ nói rõ hơn ở dưới). Tính mạng của Hồ Quý Ly hầu như là vật thế chấp để Hồ nguyên Trừng phải ra sức mà phục vụ cho nhà Minh trong việc nắm vững ‘thần cơ pháp”.

-không thể tha Hồ vì Hồ là “đầu đảng ngụy”, tội lỗi đã được xét xử công khai trong buỗi lễ “hiến phù” (dâng tù) tại điện Phụng Thiên ngày 3 tháng 10 năm 1407, và bản án đã tuyên là “cấm cố chờ phán quyết tiếp”.

-Để “giải quyết” Hồ (Quý Ly) mà thỏa mãn được cả hai điều trên thì phải làm sao cho Hồ “được chết” do nguyên nhân hợp lý khác.

Quý Ly đã trên 70 tuổi (sinh năm 1336) nay bắt đi làm lính thú (lính đóng đồn dài ngày) tại Quảng Tây thì cầm chắc là “tiêu sớm”, vì lúc này (1408) Quảng Tây đang đại lọan, còn loạn hơn cả Giao Chỉ nữa: các dân thiểu số Quảng Tây đang thi nhau “làm lọan” vì bị đói và phục dịch quá sức (một hậu quả của việc chinh phạt An Nam các năm trước, mà Quảng Tây phải cung cấp lính, dân công, gạo…). trong vòng mấy chục năm liền các sắc dân Dao, Miêu (Mèo/Hmong), Choang liên tục nổi dậy dưới sự lãnh đạo của các anh hùng (một điều buồn cười là Trung Quốc vừa ca ngợi các anh hùng khởi nghĩa, vừa ra sức tán tụng công lao thống nhất quốc gia của nhà Minh) Hầu Đại Cẩu, Lam Ái Nhị (cả 2 là người Dao); cha con Vi Triều Uy, Vi Ngân báo (người Choang). Nhà Minh phải huy động 16 vạn quân đến đàn áp, kể cả đại quân của tên đồ tể Trương Phụ từ Việt Nam kéo sang, dùng chiến thuật 3 diệt (giết không còn người nào, đốt không chừa ngôi nhà nào, bỏ thuốc độc không chừa nguồn nước nào) để khủng bố nghĩa quân (theo Minh sử Trương Phụ đã tàn sát 2/3 dân theo “bọn giặc”). Sau đó cho lính đóng đồn bao vây nghĩa quân (vì người Dao cố thủ ở vùng núi Đại Đằng Hiệp, J.Barlow của đại học Hawaii dịch là Grand Rattan Gorge-mà lính Tàu không tài nào vào được). Ông già 71 tuổi Hồ Quý Ly là một trong các lính đóng đồn (lính thú) này, thân già, mang án tù đi hiệu lực, lại đóng đồn trong vùng ác địa thì nếu không tự chết thì trước sau cũng bị
dân man giết (người Dao rất thiện chiến và “hung tợn”, họ đã 7 lần chiếm Ngô châu và diệt không sót một người dân Tàu nào trong thành). Nhà Minh quả là cao tay (theo Toàn Thư thì những quan nhà Hồ hàng nhà Minh- chứ không phải bị bắt- đều được ban thưởng, phong quan chức, cho ăn yến và sau đó tất cả đều trúng độc rồi chết, không biết Toàn Thư dựa vào tài liệu nào, riêng Cương Mục cho rằng việc này có lẽ không đúng, vì “phi nghĩa” quá!): đưa tên “nghịch tặc An Nam “ Hồ Quý Ly về Quảng Tây vừa làm chấn động dân man (vua của Giao chỉ mà chỉ một trận đã bị Minh bắt dễ như mèo bắt chuột, và nay mèo cho chuột tạm sống dưới móng vuốt của mèo), vừa tạo cơ hội cho Quý Ly sớm tiêu vong.

Quý Ly chết sống ra sao sau đó thì sử sách chính thức của nhà Minh coi như không biết (như thế đủ chứng minh rõ ràng là Quý Ly không bị xử tử vào năm 1407 như một số tài liệu nói). Tài liệu gần đồng thời cho biết Hồ Quý Ly không bị chết ở Quảng Tây mà chết ở ‘kinh sư” là cuốn bút ký của Chúc Dõan Minh(1460-1526). Theo những ghi chép trong sách này, gần nhất với thời Hồ Quý Ly ở Trung Quốc, có thể Chúc Doãn Minh nghe con cháu của Hồ Nguyên Trừng kể lại, thì:” 季犁死葬京师其子后迁葬于钟山之傍“(Dã Ký, tập thượng, có thể kiểm tra lại trên Internet) (Quý Ly chết, táng ở kinh đô, con ông ta cho cải táng cạnh núi Chung Sơn).

Núi Chung Sơn ở ngoại thành Nam Kinh, theo ý câu văn của Doãn Minh thì kinh sư đây là Nam Kinh, nơi Hồ Nguyên Trừng làm quan. Vậy Hồ Quý Ly chết trứơc năm 1421, khi kinh sư chuyển lên Bắc Kinh. Tại sao lại cải táng bên cạnh Chung Sơn, có lẽ ban đầu nhà Minh cho chôn tên tù chung thân cấm cố Quý Ly tại nhà tù ở kinh đô một thời gian, sau tha, cho con cháu di dời đem về phần mộ của gia đình gần núi Chung Sơn (cách Nam Kinh ngày nay khoảng 10 km). Vậy tạm cho “lý lịch” của Hồ Quý Ly nằm trong khoảng (1336-1420), Quý Ly khi chết khoảng 83-84 tuổi, sau lần “sát hạch” thứ nhất của Hồ Nguyên Trừng (mà Trừng đã dây dưa rồi xù luôn việc khai lý lịch để giao cho Bộ Lại xem xét )

Hồ Nguyên Trừng, như đã nói, nắm giữ cái bí quyết mà nhà Minh cần, nên được thả ngay và cho làm quan kha khá (chủ sự, chính ngũ phẩm, cỡ Giám đốc sở của VN hiện nay), chuyên lo chế tạo súng đạn, thuốc nổ cho Cục Quân Nhu (Binh trượng cục). Lúc đầu Trừng có lẽ chưa “an tâm công tác” nên còn tư tưởng “tiêu cực”, làm cho có lệ, không mong gì tiến thân, vì thân phận vốn là “ngụy quân”, hơn nữa cha và em còn bị “cải tạo”, như tài liệu sau cho thấy:

* Tuyên Đức nguyên niên, tam nguyệt, thập thất nhật (ngày 24/4/1426)
“Viên chủ sự Doanh thiện Thanh lại ty thuộc Bộ Công tại Nam Kinh (hành tại) là Lê Trừng đã đủ thời gian để sát hạch. Bộ Lại dâng biếu hặc tội Lê Trừng, cho rằng lần sát hạch trước y đã không nộp cho Bộ bản Lý lịch sự vụ sau khi kết thúc chín năm làm việc. Nay đến kỳ sát hạch này y mới chịu nộp bản lý lịch, như thế là vi phạm quy định. Hoàng thượng phán: Trừng khi còn tại An Nam đã phạm trọng tội, hoàng tổ (ông nội) ta đã đặc xá và dùng y, nay việc y vi phạm là không lớn, vậy có thể bỏ qua “ ( Minh Tuyên Tông thực lục quyển 16, trang 0409, Trung ương nghiên cứu viện (Đài Loan) xuất bản năm 1985).

(行在工部營繕清吏司主事黎澄考滿吏部劾奏澄歷九載悉不赴部給由今又歷兩考始给由有違定制上曰: 澄在安南罪重, 皇祖特宥而用之所犯小罪,可宥也)

Có thể Lê Trừng không muốn khai lý lịch (năm 1417) sau 9 năm làm việc (theo quy định để làm cơ sở thăng chức) vì cha còn bị tù, khai ra chẳng lợi lộc gì, đừng nói thăng thưởng. Mãi đến lần sát hạch thứ 2 (chín năm sau, năm 1426), Lê Trừng mới chịu khai lý lịch là con em của “đầu đảng ngụy”, vì lúc này có khai cũng chẳng sao (do Quý Ly đã chết lâu rồi, và em là Thương đã được thả sau đó, theo Dã Ký). Nếu Quý Ly còn sống và bị nhốt thì chẳng dễ dàng cho vua Tuyên Tông bỏ qua và còn ngay sau đó liên tiếp thăng thưởng cho Trừng, như cho thấy sau đây:

* Tuyên Đức tam niên, chính nguyệt, nhị nhật (ngày 18/1/1428)
“ Lệnh phát lương tháng toàn bằng gạo cho viên hữu thị lang Lê Trừng thuộc bộ Công tại Nam Kinh (hành tại). Trừng là anh của tên đầu sỏ ngụy An Nam Lê Thương trước dây, y bị bắt đến kinh đô, Thái Tông Văn Hoàng-đế tha và dùng y; khởi đầu giao cho chức chủ sự ở bộ Công, Hoàng thượng tức vị, y được thăng Lang trung. Nội thần tâu y nghèo, bèn thăng chức Thị lang; đến nay lại ra lệnh cấp bổng hàng tháng toàn bằng gạo.”
( Minh Tuyên Tông thực lục, quyển 35, trang 0875, Trung ương nghiên cứu viện (Đài Loan) xuất bản năm 1985).

(命 行 在 工 部 右 侍 郞 黎 澄 月 俸 支 全 米. 澄前 安 南 僞 主 黎 蒼 之 兄, 俘 獲 至 京, 太 宗 皇 帝 赦 而 用 之. 初 授 工 部 主 事, 上 卽 位 陞 郞 中. 內臣 有 言 其 貧 者, 遂 陞 侍 郞, 至 是 復 命 月 俸 給 全 米 云)

Vì lúc này con tin Lê Quý Ly đã mất, chỉ còn dùng bổng lộc mà nắm Lê Trừng thôi, cũng quả là cao tay (đến nỗi các quan nhà Minh cứ thắc mắc tại sao Lê Trừng được ưu đãi quá, trong khi gốc là tên giặc ngụy, xem Vương Thế Trinh (1570-1633):
工部尚书黎澄子侍郎叔林以俘夷澄即伪虞大皇黎苍弟在本国官为….天长等路大都督特进开府仪同三司入内检校左相国平章军国事上柱国赐紫金鱼袋卫国大王澄幸免于僇而以善造神枪父子至八座禄 食者近五十年年八十余子亦近八十可谓遇矣。(Hoàng Minh dị điển thuật, tập 5)
(Thương thư Bộ Công Lê Trừng, con là Thị lang Lê Thúc Lâm, vốn là tù binh người di (mọi). Trừng là em (đúng ra là anh) của vua ngụy Đại Ngu Lê Thương. Khi còn ở bản quốc (Giao Chỉ) làm quan đến …Thiên Trường đẳng lộ Đại đô đốc, đặc tiến, khai phủ nghi đồng tam ty, nhập nội kiểm hiệu, tả tướng quốc, bình chương quân quốc sự, Thượng trụ quốc, tứ Tử kim ngư đại, Vệ Quốc Đại vương (lược một đọan trong
cái tên quan tước của Lê Trừng dài dằng dặc đến 81 chữ, Vương Thế Trinh cố ý nhắc lại để nhấn mạnh Trừng cũng là ngụy đầu sỏ!). Trừng đã may (sic) không bị hành tội (để ý chữ dùng của tác giả, cũng là chữ lục, nhưng có nghĩa là làm nhục, khác chữ lục là giết), mà do giỏi chế tạo súng thần thương nên cha con làm quan đến bát tòa (nhị phẩm), ăn lộc đến gần 50 năm, thọ hơn 80 tuổi (thực ra không đến); con y cũng thọ gần 80, có thể nói là hiếm có vậy!)

Từ một tên “giặc ngụy đầu sỏ” bị bắt mà Lê Trừng được người Tàu cho làm quan đến Thượng Thư cũng là điều hiếm thấy thật, hơn nữa Trừng lại là dân Nam man, không phải người Hán, lại càng cho thấy người Tàu quả là có óc thực dụng, khi cần thì chẳng nề hà man mọi, ngụy quân ngụy quyền, cứ có tài là họ chấp nhận, kể cả dàn hòa với giặc và cho giặc làm vua nếu thấy cần cho Trung Quốc (Mông Cổ Hốt tất Liệt, Mãn Châu Nỗ Nhĩ cáp Xích vốn trước là giặc sau làm hoàng đế của Tàu).

Việc Lê Trừng làm đến Thượng Thư là sự thực (các bộ Minh sử trên mạng thường bị thiếu phần về Lê Trừng lúc làm Thượng thư, nay bộ Minh sử tân hiệu bản của Academia Sinica, Đài Loan khôi phục lại rất đầy đủ, xem bộ sử này trên Internet tại Quyển 111, Biểu 12, Thất khanh niên biểu, bảng 3418-3419, Công Bộ Thượng thư:

十年己丑, 黎澄安南王子六月任專供內府事十一年丙寅, 澄七月卒
(Năm thứ 10 (Chính Thống), Kỷ Sửu (đúng ra là Ất Sửu 1445), Lê Trừng, vương tử An Nam, nhậm chức (Công bộ thương thư) vào tháng 6, chuyên lo cung cấp các thứ đồ dùng cho nội phủ. Bính Dần, năm thứ 11, tháng 7, Trừng chết.

Để ý giọng văn hoàn toàn thay đổi, không nhắc nhở gì đến việc Lê Trừng là ngụy cả, mà chỉ viết gốc tích Lê Trừng là vương tử An Nam.

Trước đó, theo Minh sử cảo (dưa trên tàng thư của nhà Minh, biên tập lại đầu đời Thanh, trước (Minhsử), thì
正统八年, 澄年七十,例应致仕,上疏乞留用,上怜其交趾远人,从之” (Chính Thống năm thứ 8 (1443), Trừng 70 tuổi, theo lệ phải về hưu, nhưng dâng sớ xin lưu dụng, hoàng thượng xét thương hoàn cảnh ông ta là người từ Giao Chỉ xa xôi đến, nên thuận cho). Để ý cách dùng chữ “lân” (thương, nhấn mạnh sự chiếu cố đặc biệt) (dẫn lại theo Trương Tú Dân- Minh đại Giao Chỉ nhân tại Trung Quốc chi cống hiến-Đài Bắc 1992)

Theo Giáo sư người Nhật Wada Masahiko, chuyên nghiên cứu về Việt Nam, thì Lê Trừng không những giỏi làm súng, mà còn biết chế tạo nhiều thứ rất tinh xảo, nên khi làm Công Bộ thương thư thì chuyên lo chế tạo đồ dùng cho nhà vua (như đã nói trên) (xem Namô Moraku ni tsuite- Chugoku soku ni nokosareta Betonamu-jin no chosaku/ Về quyển Nam Ông Mộng lục-tác phẩm hiện còn của người Việt Nam sáng tác tại Trung Quốc).

Lê Trừng chết tại chức, nên con là Lê Thúc Lâm (1401-1470) được nhà Minh thăng chức lên Công Bộ Hữu thị lang (chính tam phẩm), chuyên lo chế tạo quân nhu, năm 1470, Thúc Lâm đến kỳ sát hạch, lại vừa 70 tuổi, theo lệ phải về hưu nhưng lại được lưu dụng:
叔林九载秩满,自陈年已七十,例应致仕,但以交趾远人,无家可归,乞容臣复任,以图报称上许之” (Thúc Lâm đủ thời gian sát hạch sau chín năm làm việc, bèn làm đơn trình bày đã 70 tuổi, theo lệ phải trí sĩ, nhưng quê tại Giao Chỉ xa xôi, không còn thân thuộc để về, xin tiếp tục làm việc, để báo đáp ân sủng, Hoàng Thượng (vua Thành Hóa) chấp thuận) (dẫn lại theo Trương Tú Dân từ Minh sử cảo).

Trước đó một năm, Lê Thúc Lâm cũng chuẩn bị lo cho con đang làm quan ở xa về gần nhà mình, như sau:

*Thành Hóa ngũ niên, tứ nguyệt, giáp tý ( ngày 21 tháng 5 năm 1469):
“Lấy con của viên Công bộ hữu thị lang Lê Thúc Lâm là Thế Vinh làm Trung thư xá nhân. Thúc Lâm là người Giao Chỉ, cha tên Trừng, là em của con (Lê) Quý Ly là (Lê) Thương, vốn là tù binh bị bắt về (Trung Quốc). Thái Tông Văn Hoàng Đế tha tội cho y (Trừng) và dùng làm quan, chuyên coi sóc việc chế tạo súng, đạn, thuốc nổ tại Binh trượng cục, cuối cùng làm đến Công bộ thượng thư. Thúc Lâm kế nghịệp cha, tiếp tục giám đốc việc chế tạo quân khí. Đến nay (Lê Thúc Lâm) xin cho con của y là Thế Vinh làm quan tại kinh đô để tiện cho việc chăm sóc. Hoàng đế nghĩ đến hoàn cảnh người từ phương xa đến, nên rủ lòng chấp thuận đề nghị ấy”.
(Minh Hiến Tông thực lục, quyển 66, tờ 4.A (trang 1329), Trung ương nghiên cứu viện (Đài Loan) xuất bản năm 1985).
(錄工部右侍郎黎叔林子世荣為中書舍人叔林交趾人,父澄,季犛之子蒼之第, 以俘至太宋文皇帝赦之,授以官,專督造兵仗局銃箭火药终工部尚書叔林繼之,仍督造軍器至是請官其子世荣于京便養上念其遠人,俯從之)

Theo Wada Masahiko (trong bài viết dẫn trên), Lê Thế Vinh có tên tự là Mạnh Nhân (孟 仁), trước đó đang làm Chuyển vận sứ ở Diêm vận ty tỉnh Sơn Đông. Con cháu Lê Thế Vinh ra sao không rõ! Lê Trừng, Lê Thúc Lâm, Lê Thế Vinh đều được an táng tại thôn Nam An Hà, xã Bắc An hà, khu Hải Điện đã nói trên, gần chùa Tú Phong , cách trung tâm Bắc Kinh ngày nay độ khoảng 30 km. Chùa Tú Phong là một ngôi chùa Việt Nam tại kinh đô Trung Quốc, do nhà sư Trí Thâm họ Trần từ Việt Nam sang xây dựng trong khỏang năm 1428-1442, sư tăng trong chùa đa số là người Việt Nam, chùa được vua nhà Minh ban sắc chỉ liệt vào danh thắng năm 1443, ngày 8/4 âm lịch cùng năm, Lê Trừng đã sọan văn bia nói về việc xây chùa này. Toàn văn thác bản văn bia hiện lưu trữ tại Thư viện Bắc Kinh (Sắc tứ Tú Phong tự bi, Chính nghị đại phu, Tư trị doãn, Công Bộ tả thị lang, Giao Nam Lê Trừng sọan, Quý Thuần viết chữ chính văn, Tưởng Khâm viết chữ triện, Chu Hưng khắc, Trí Thâm pháp sư đốc tạo). Bia có kích thước 156 x 78 cm, hiện còn tại chùa Tú Phong. Xem toàn văn văn bia theo ảnh chụp tại trang web của Thư viện Bắc Kinh: res2.nlc.gov.cn, ký hiệu bản chụp 8377) .

Sinh thời, tại Trung Quốc, tuy làm quan to, nhưng Hồ Nguyên Trừng luôn nhớ về cố quốc, luôn xưng mình là người Việt Nam (trong Sắc tứ Tú Phong tự bi, ông cũng viết rõ mình là người Giao Nam). Cuốn Nam Ông mộng lục đã cố ghi lại những gì mà ông còn nhớ khi ở “bản quốc”, mà ông cho là những việc trong giấc mộng. Nhờ có tài năng mà ông và gia đình thoát c
hết, nhưng dù làm gì thì cũng xuất thân là tù nhân trong đất nước rộng lớn kia. Khi nào nắm xương tàn của ông về tới quê hương Thanh Hóa, Việt Nam thì chắc ông mới yên lòng!

Biên khảo

1 Comment

HUYỀN THOẠI HOÀN KIẾM

Người Việt Nam ai cũng nhìn thấy giữa hồ Gươm bàng bạc sương mù quá khứ một câu chuyện nhiều dị bản. Tựu chung là : “Thuở hàn vi, Lê Lợi nhặt được thanh kiếm cổ quý giá có khắc hai chữ triện THUẬN THIÊN. Ông mang nó bên mình suốt cuộc kháng chiến cam go giành độc lập cho dân tộc, cởi bỏ ách đô hộ giặc Minh. Ngày thái bình đến, trong một lần ngồi thuyền rồng du ngoạn giữa hồ Lục Thủy, rùa thần đã nổi lên đòi Lê Lợi trả lại gươm thiêng”.

Nhìn từ nhiều góc độ dân gian, câu chuyện lung linh tầng tầng lớp lớp vẻ đẹp huyền ảo. Những người kinh viện lại diễn tả cực kỳ đa nghĩa : Trần Quốc Vượng và Vũ Tuấn Sán (Hà Nội nghìn xưa, Sở Văn Hóa Thông Tin Hà Nội, 1975, tr.39-40) tìm hiểu rất sâu xa ý nghĩa hồ Hoàn Kiếm[1]:

“Sử Lý-Trần hầu như chẳng nói đến hồ Gươm (…).

“Chuyện “Trả gươm thần “, người Hà Nội nghe kể đã nhiều, song ý nghĩa câu chuyện thì chưa mấy ai đào sâu tìm hiểu. Trên đại thể, người ta cho truyền thuyết ấy kể việc Lê Lợi được gươm thần đề chữ “Thuận Thiên” từ nước : ý trời trao sứ mệnh cho người anh hùng đứng lên xướng nghĩa cứu dân, giúp nước, quét giặc ngoại xâm. Mười năm khởi nghĩa Lam Sơn thắng lợi, người anh hùng lên làm vua, đi thuyền trên hồ, trời sai Rùa Vàng hiện lên lấy lại thanh gươm. Chủ đề bất tuyệt : “Chiến tranh và Hòa bình”…

“Thực ra đấy là vang bóng của một mẫu đề thần thoại và một lễ tiết cổ xưa. Nếu về mặt chính trị-xã hội, thanh gươm là biểu tượng của quyền uy thì về mặt thần thoại-lễ thức, thanh gươm là biểu tượng của Tia chớp-Lửa. (…) Nhúng gươm xuống nước là nghi lễ biểu thị sự hòa hợp Nước-Lửa, một nghi lễ phồn thực. Lại vì gươm là tượng trưng của chớp lửa nên nghi lễ nhúng gươm xuống nước cũng là một nghi lễ chống lụt (…).

“Sự tích hồ Gươm-gắn liền với một vị anh hùng lịch sử Lê Lợi-là sự diễn tả về mặt thần thoại một lễ nghi cổ xưa chung cho cả vùng Đông Nam Á : nghi lễ chống lụt và cầu mong sự hài hòa của non nước …”.

***

Trước thời Lê, hồ gươm vốn là một khu đầm lầy rộng và không sâu lắm, có cửa thông ra sông Hồng. Có lẽ Lê Lợi đã cho nạo vét, đắp đập, biến đầm lầy thành một cái hồ rồi bắt rùa từ Lam Kinh, Thanh Hoá về thả[2].

Ngược dòng lịch sử ta thấy : Năm 1400, Hồ Quý Ly thoán ngôi họ Trần, đổi tên nước và tiến hành cải cách. Tuy nhiên sự nghiệp của ông không thành. Một mặt quý tộc Trần nổi lên khắp nơi, cầu viện nhà Minh phục quốc. Lẽ nữa là dân Việt mông muội, cứ khư khư thờ vua cũ, không coi họ Hồ ra gì. Năm 1407, nhà Minh triệt được họ Hồ, sát nhập An Nam vào đế quốc Trung Hoa. Năm 1418 Lê Lợi khởi nghiệp. Trong quá trình kháng chiến chống Minh giành lại độc lập ông đã áp dụng nhiều chính sách quân sự, chính trị rất khôn khéo trên cơ sở biết người biết ta. Việc cầu phong cho Trần Cao làm An Nam quốc vương, gửi cống vật và dàn hòa với Minh đế là kế sách nhất thời quan trọng.

Vậy là sau 10 năm đằng đẵng nằm gai nếm mật, Lê Lợi lại ở vào vị thế giống Hồ Quý Ly trước đây. Phải chăng vì vậy mà truyền thuyết “Hoàn kiếm” được thêu dệt ?

Nếu các nghiên cứu về rùa đã dẫn hoàn toàn đúng, rõ ràng Lê Lợi đã ra lệnh hoặc ủng hộ việc ngăn hồ, thả rùa. Do đó không có lý do gì để nghi ngờ Lê Lợi cũng can dự vào cuộc xây dựng màn kịch trả gươm.

Cho dù huyền thoại “hoàn kiếm” ra đời trên bất cứ nền tảng văn hóa nào, mục đích duy nhất và cuối cùng của nó vẫn là hợp thức hóa, chính thống hóa sự ra đời của Lê triều. Hình ảnh rùa thần mang tính chất siêu nhiên, nó là bản sao của “Thăng long” thời Lý Công Uẩn, và xa lạ với khái niệm “thiên tử – con trời” trong triết lý Khổng giáo. Điều này chứng tỏ xã hội Việt Nam khi đó vẫn còn hơi hớm thần quyền lạc hậu. Để lấy lòng dân, Lê Lợi phải làm cho họ tin tưởng rằng mình có sự hậu thuẫn của các lực lượng siêu nhiên.

Nếu nhìn nhận lịch sử là sự vận động đa chiều của xã hội, thời điểm ra đời của huyền thoại Hồ gươm chính là bước ngoặt đáng lưu ý. Từ đó về sau, những truyền thuyết hoang đường như vậy vẫn còn xảy ra nhưng ở mức độ cường điệu khá thấp, và tác dụng ngày càng hạn hẹp. Nó chỉ ra chiều hướng thượng của dân trí.

Anle20's Blog

Just another WordPress.com weblog

levinhhuy

Quắc mắt xem khinh nghìn lực sĩ/ Cúi đầu làm ngựa bé nhi đồng

thôn Sấu

Quê hương yêu dấu (Dọc hành chấm đứng). Xin các bạn vui lòng ghi rõ nguồn và dẫn link đến trang này nếu đăng lại bài của tôi

thienthanh2017.wordpress.com/

Thượng thiện nhược thủy, thủy thiện lợi vạn vật nhi bất tranh - Lão Tử

Học Thế Nào

How We Learn

leminhkhaiviet

About Vietnamese Cultural History and Scholarship

Xuân Bình

Nhà báo tự do

Nguyễn Huy Hoàng

the star is fading

Nghiên cứu lịch sử

Các bài nghiên cứu, biên khảo và dịch thuật các chủ đề về lịch sử

Le Minh Khai's SEAsian History Blog

Always rethinking the Southeast Asian past

trinhythu

Trịnh Y Thư WordPress.com site

trandangtuan.com

Men lá rượu ngô trong

4th Avenue Café

Free non-fiction translation

WordPress.com

WordPress.com is the best place for your personal blog or business site.

Trương Thái Du's Blog

Văn chương thiên cổ sự - Đắc thất thốn tâm tri...

No More Goat Soup

No goats were harmed in any way while making this blog. (We did kill all the sheep though)