Những điều thú vị nho nhỏ

Leave a comment

Hình trên là chiếc xe ngựa chiến đang được khai quật ở tỉnh Hồ Bắc – Trung Quốc, có niên đại 2400 năm. Vùng này thời ấy thuộc nước Sở.

————————————————–

Trong quá trình khảo sách vở để viết những bài lịch sử, thỉnh thoảng tôi lại phát hiện hoặc trả lời được những câu hỏi nho nhỏ nhưng khá lí thú.

1. Cờ tướng chắc chắn được sản sinh ra tại Trung Quốc chậm nhất là thời Chiến Quốc. Con Tượng trong bàn cờ không phải là con Voi. Nó biểu trưng cho những yếu tố trừu tượng trong một trận đánh. Hình chiếc xe ngựa ở trên chính là nguyên mẫu ngoài đời thực của con Xe trong bàn cờ.

1. Tại sao kim đồng hồ quay từ trái sang phải: Bóng nắng chiếu lên một vật cao và dài luôn quay từ trái sang phải. Đó chính là chiếc đồng hồ đầu tiên của loài người.

3. Kitô giáo đã chọn ngày giáng sinh chồng lên lễ Đông Chí. Lễ này ở Á Đông chính là Lễ tế Nam Giao.

Truyện ngắn Trung Quốc

2 Comments

MẸ ĐIÊN

Truyện ngắn của Vương Hằng Tích

Hai mươi ba năm trước, có một người con gái trẻ lang thang qua làng tôi, đầu bù tóc rối, gặp ai cũng cười cười, cũng chả ngại ngần ngồi tè trước mặt mọi người. Vì vậy, đàn bà trong làng đi qua cô gái thường nhổ nước bọt, có bà còn chạy lên trước dậm chân, đuổi “Cút cho xa!”. Thế nhưng cô gái không bỏ đi, vẫn cứ cười ngây dại quanh quẩn trong làng.

Hồi đó, cha tôi đã 35 tuổi. Cha làm việc ở bãi khai thác đá bị máy chém cụt tay trái, nhà lại quá nghèo, mãi không cưới được vợ. Bà nội thấy con điên có sắc vóc, thì động lòng, quyết định mang cô ta về nhà cho cha tôi, làm vợ, chờ bao giờ cô ta đẻ cho nhà tôi “đứa nối dõi” sẽ đuổi đi liền. Cha tôi dù trong lòng bất nhẫn, nhưng nhìn cảnh nhà, cắn răng đành chấp nhận. Thế là kết quả, cha tôi không phải mất đồng xu nào, nghiễm nhiên thành chú rể.

Khi mẹ sinh tôi, bà nội ẵm cháu, hóp cái miệng chẳng còn mấy cái răng vui sướng nói: “Cái con mẹ điên này, mà lại sinh cho bà cái đứa chống gậy rồi!”. Có điều sinh tôi ra, bà nội ẵm mất tôi, không bao giờ cho mẹ đến gần con.

Mẹ chỉ muốn ôm tôi, bao nhiêu lần đứng trước mặt bà nội dùng hết sức gào lên: “Đưa, đưa tôi…” bà nội mặc kệ. Tôi còn trứng nước như thế, như khối thịt non, biết đâu mẹ lỡ tay vứt tôi đi đâu thì sao? Dù sao, mẹ cũng chỉ là con điên. Cứ mỗi khi mẹ khẩn cầu được bế tôi, bà nội lại trợn mắt lên chửi: “Mày đừng có hòng bế con, tao còn lâu mới đưa cho mày. Tao mà phát hiện mày bế nó, tao đánh mày chết. Có đánh chưa chết thì tao cũng sẽ đuổi mày cút!”. Bà nội nói với vẻ kiên quyết và chắc chắn. Mẹ hiểu ra, mặt mẹ sợ hãi khủng khiếp, mỗi lần chỉ dám đứng ở xa xa ngó tôi. Cho dù vú mẹ sữa căng đầy cứng, nhưng tôi không được một ngụm sữa mẹ nào, bà nội đút từng thìa từng thìa nuôi cho tôi lớn. Bà nói, trong sữa mẹ có “bệnh thần kinh”, nếu lây sang tôi thì phiền lắm. Hồi đó nhà tôi vẫn đang giãy giụa giữa vũng bùn lầy của nghèo đói. Đặc biệt là sau khi có thêm mẹ và tôi, nhà vẫn thường phải treo niêu. Bà nội quyết định đuổi mẹ, vì mẹ không những chỉ ngồi nhà ăn hại cơm nhà, còn thỉnh thoảng làm thành tiếng thị phi.

Một ngày, bà nội nấu một nồi cơm to, tự tay xúc đầy một bát cơm đưa cho mẹ, bảo: “Con dâu, nhà ta bây giờ nghèo lắm rồi, mẹ có lỗi với cô. Cô ăn hết bát cơm này đi, rồi đi tìm nhà nào giàu có hơn một tí mà ở, sau này cấm không được quay lại đây nữa, nghe chửa?”. Mẹ tôi vừa và một miếng cơm to vào mồm, nghe bà nội tôi hạ “lệnh tiễn khách” liền tỏ ra kinh ngạc, ngụm cơm đờ ra lã tã trong miệng. Mẹ nhìn tôi đang nằm trong lòng bà, lắp bắp kêu ai oán: “Đừng… đừng…”. Bà nội sắt mặt lại, lấy tác phong uy nghiêm của bậc gia trưởng nghiêm giọng hét: “Con dâu điên mày ngang bướng cái gì, bướng thì chả có quả tốt lành gì đâu. Mày vốn lang thang khắp nơi, tao bao dung mày hai năm rồi, mày còn đòi cái gì nữa? Ăn hết bát đấy rồi đi đi, nghe thấy chưa hả?”. Nói đoạn bà nội lôi sau cửa ra cái xẻng, đập thật mạnh xuống nền đất như Dư Thái Quân nắm gậy đầu rồng, “phầm!” một tiếng. Mẹ sợ chết giấc, khiếp nhược lén nhìn bà nội, lại chậm rãi cúi đầu nhìn xuống bát cơm trước mặt, có nước mắt rưới trên những hạt cơm trắng nhệch. Dưới cái nhìn giám sát, mẹ chợt có một cử động kỳ quặc, mẹ chia cơm trong bát một phần lớn sang cái bát không khác, rồi nhìn bà một cách đáng thương hại.

Bà nội ngồi thẫn thờ, hoá ra, mẹ muốn nói với bà rằng, mỗi bữa mẹ sẽ chỉ ăn nửa bát, chỉ mong bà đừng đuổi mẹ đi. Bà nội trong lòng như bị ai vò cho mấy nắm, bà nội cũng là đàn bà, sự cứng rắn của bà cũng chỉ là vỏ ngoài. Bà nội quay đầu đi, nuốt những nước mắt nóng đi, rồi quay lại sắt mặt nói: “Ăn mau ăn mau, ăn xong còn đi. Ở nhà này cô cũng chết đói thôi!”. Mẹ tôi dường như tuyệt vọng, đến ngay cả nửa bát cơm con cũng không ăn, thập thễnh bước ra khỏi cửa, nhưng mẹ đứng ở bậc cửa rất lâu không bước ra. Bà nội dằn lòng đuổi: “Cô đi, cô đi, đừng có quay đầu lại. Dưới gầm trời này còn nhiều nhà người ta giàu!”. Mẹ tôi quay lại, đưa một tay ra phía lòng bà, thì ra, mẹ muốn được ôm tôi một tí.

Bà nội lưỡng lự một lúc, rồi đưa tôi trong bọc tã lót cho mẹ. Lần đầu tiên mẹ được ẵm tôi vào lòng, môi nhắp nhắp cười, cười hạnh phúc rạng rỡ. Còn bà nội như gặp quân thù, hai tay đỡ sẵn dưới thân tôi, chỉ sợ mẹ lên cơn điên, quăng tôi đi như quăng rác. Mẹ ôm tôi chưa được ba phút, bà nội không đợi được giằng tôi trở lại, rồi vào nhà cài chặt then cửa lại.

Khi tôi bắt đầu lờ mờ hiểu biết một chút, tôi mới phát hiện, ngoài tôi ra, bọn trẻ chơi cùng tôi đều có mẹ. Tôi tìm cha đòi, tìm bà đòi, họ đều nói, mẹ tôi chết rồi. Nhưng bọn bạn cùng làng đều bảo tôi: “Mẹ mày là một con điên, bị bà mày đuổi đi rồi.” Tôi tìm bà nội vòi vĩnh, đòi bà phải trả mẹ lại, còn chửi bà là đồ “bà lang sói”, thậm chí hất tung mọi cơm rau bà bưng cho tôi. Ngày đó, tôi làm gì biết “điên” nghĩa là cái gì đâu, tôi chỉ cảm thấy nhớ mẹ tôi vô cùng, mẹ trông như thế nào nhỉ? mẹ còn sống không?

Không ngờ, năm tôi sáu tuổi, mẹ tôi trở về sau 5 năm lang thang. Hôm đó, mấy đứa nhóc bạn tôi chạy như bay tới báo: “Thụ, mau đi xem, mẹ mày về rồi kìa, mẹ bị điên của mày về rồi!” Tôi mừng quá đít nhổng nhổng, co giò chạy vội ra ngoài, bà nội và cha cũng chạy theo tôi. Đây là lần đầu tiên tôi nhìn thấy mẹ, kể từ khi biết nhớ. Người đàn bà đó vẫn áo quần rách nát, tóc tai còn những vụn cỏ khô vàng khè, có trời mới biết là do ngủ đêm trong đống cỏ nào. Mẹ không dám bước vào cửa, nhưng mặt hướng về phía nhà tôi, ngồi trên một hòn đá cạnh ruộng lúa trước làng, trong tay còn cầm một quả bóng bay bẩn thỉu. Khi tôi và lũ trẻ đứng trước mặt mẹ, mẹ cuống cuồng nhìn trong đám tôi tìm con trai mẹ. Cuối cùng mẹ dán chặt mắt vào tôi, nhìn tôi chòng chọc, nhếch mép bảo: “Thụ… bóng… bóng…”. Mẹ đứng lên, liên tục giơ lên quả bóng bay trong tay, dúi vào lòng tôi với vẻ nịnh nọt. Tôi thì liên tục lùi lại. Tôi thất vọng ghê gớm, không ngờ người mẹ ngày đêm tôi nhớ thương lại là cái hình người này. Một thằng cu đứng cạnh tôi kêu to: “Thụ, bây giờ mày biết con điên là thế nào chưa? Là mẹ mày như thế này đấy!”.

Tôi tức tối đáp lại nó: “Nó là mẹ mày ấy! Mẹ mày mới là con điên ấy, mẹ mày mới là thế này!” Tôi quay đầu chạy trốn. Người mẹ bị điên này tôi không thèm. Bà nội và bố thì lại đưa mẹ về nhà. Năm đó, bà nội đuổi mẹ đi rồi, lương tâm bà bị chất vấn dày vò, bà càng ngày càng già, trái tim bà cũng không còn sắt thép được nữa, nên bà chủ động đưa mẹ về, còn tôi lại bực bội, bởi mẹ đã làm tôi mất thể diện. Tôi không bao giờ tươi tỉnh với mẹ, chưa bao giờ chủ động nói với mẹ, càng không bao giờ gọi “Mẹ!”, khi phải trao đổi với mẹ, tôi gào là chủ yếu, mẹ không bao giờ dám hé miệng.

Nhà không thể nuôi không mẹ mãi, bà nội quyết định huấn luyện cho mẹ làm việc vặt. Khi đi làm đồng, bà nội dắt mẹ đi “quan sát học hỏi”, bà bảo mẹ không nghe lời sẽ bị đánh đòn.

Sau một thời gian, bà nội nghĩ mẹ đã được dạy dỗ tương đối rồi, liền để mẹ tự đi cắt cỏ lợn. Ai ngờ mẹ chỉ cắt nửa tiếng đã xong cả hai bồ “cỏ lợn”. Bà nội vừa nhìn đã tá hỏa sợ hãi, cỏ mẹ cắt là lúa giống vừa làm đòng trỗ bông trong ruộng nhà người ta. Bà nội vừa sợ vừa giận phát cuồng chửi rủa: “Con mẹ điên lúa và cỏ mà không phân biệt được…” Bà nội còn đang chưa biết nên xoay xở ra sao, thì nhà có ruộng bị cắt lúa tìm tới, mắng bà cố ý dạy con dâu làm càn. Bà nội tôi lửa giận bốc phừng phừng, trước mặt người ta lấy gậy đánh vào eo lưng con dâu, chửi: “Đánh chết con điên này, mày cút ngay đi cho bà…”

Mẹ tuy điên, nhưng vẫn biết đau, mẹ nhảy nhỏm lên chạy trốn đầu gậy, miệng phát ra những tiếng lắp bắp sợ hãi: “Đừng… đừng…”. Sau rồi, nhà người ta cũng cảm thấy chướng mắt, chủ động bảo: “Thôi, chúng tôi cũng chẳng bắt đền nữa. Sau này giữ cô ta chặt một tí là được…”. Sau khi cơn sóng gió qua, mẹ oại người dưới đất thút thít khóc. Tôi khinh bỉ bảo: “Cỏ với lúa mà cũng chả phân biệt được, mày đúng là lợn!” Lời vừa dứt, gáy tôi bị một cái tát lật, là bà. Bà trừng mắt bảo tôi: “Thằng ngu kia, mày nói cái gì đấy? Mày còn thế này nữa? Đấy là mẹ mày đấy!” Tôi vùng vằng bĩu môi: “Cháu không có loại mẹ điên khùng thế này!”

“A, mày càng ngày càng láo. Xem bà có đánh mày không!” Bà nội lại giơ tay lên, lúc này chỉ thấy mẹ như cái lò xo bật từ dưới đất lên, che giữa bà nội và tôi, mẹ chỉ tay vào đầu mẹ, kêu thảng thốt: “Đánh tôi, đánh tôi!” . Tôi hiểu rồi, mẹ bảo bà nội đánh mẹ, đừng đánh tôi. Cánh tay bà trên không trung thõng xuống, miệng lẩm bẩm: “Con mẹ điên này, trong lòng nó cũng biết thương con đây!”. Tôi vào lớp một, cha được một hộ chuyên nuôi cá làng bên mời đi canh hồ cá, mỗi tháng lương 50 tệ. Mẹ vẫn đi làm ruộng dưới sự chỉ bảo của bà, chủ yếu là đi cắt cỏ lợn, mẹ cũng không còn gây ra vụ rầy rà nào lớn nữa.

Nhớ một ngày mùa đông đói rét năm tôi học lớp ba, trời đột ngột đổ mưa, bà nội sai mẹ mang ô cho tôi. Có lẽ trên đường đến trường tôi mẹ đã ngã ì oạch mấy lần, toàn thân trông như con khỉ lấm bùn, mẹ đứng ở ngoài cửa sổ lớp học nhìn tôi cười ngớ ngẩn, miệng còn gọi tôi: “Thụ… ô…”. Có mấy đứa bạn tôi cười khúc khích, tôi như ngồi trên bàn chông, oán hận mẹ khủng khiếp, hận mẹ không biết điều, hận mẹ làm tôi xấu hổ, càng hận thằng Phạm Gia Hỷ cầm đầu trêu chọc. Trong lúc nó còn đang khoa trương bắt chước mẹ, tôi chộp cái hộp bút trước mặt, đập thật mạnh cho nó một phát, nhưng bị Phạm Gia Hỷ tránh được. Nó xông tới bóp cổ tôi, chúng tôi giằng co đánh nhau. Tôi nhỏ con, vốn không phải là đối thủ của nó, bị nó dễ dàng đè xuống đất. Lúc này, chỉ nghe một tiếng “vút” kéo dài từ bên ngoài lớp học, mẹ giống như một đại hiệp “bay” ào vào, một tay tóm cổ Phạm Gia Hỷ, đẩy ra tận ngoài cửa lớp. Ai cũng bảo người điên rất khỏe, thật sự đúng là như vậy. Mẹ dùng hai tay nhấc bổng thằng bắt nạt tôi lên trên không trung, nó kinh sợ kêu khóc gọi bố mẹ, một chân béo ị khua khoắng đạp loạn xạ trên không trung. Mẹ không thèm để ý, vứt nó vào ao nước cạnh cổng trường, rồi mặt thản nhiên, mẹ đi ra.

Mẹ vì tôi gây ra đại hoạ, mẹ lại làm như không có việc gì xảy ra. Trước mặt tôi, mẹ lại có vẻ khiếp nhược, nhìn tôi vẻ muốn lấy lòng. Tôi hiểu ra đây l
à tình yêu của mẹ, dù đầu óc mẹ không tỉnh táo, thì tình yêu của mẹ vẫn tỉnh táo, vì con trai của mẹ bị người ta bắt nạt. Lúc đó tôi không kìm được kêu lên: “Mẹ!” đây là tiếng gọi đầu tiên kể từ khi tôi biết nói. Mẹ sững sờ cả người, nhìn tôi rất lâu, rồi y hệt như một đứa trẻ con, mặt mẹ đỏ hồng lên, cười ngớ ngẩn. Hôm đó, lần đầu tiên hai mẹ con tôi cùng che một cái ô về nhà. Tôi kể sự tình cho bà nội nghe, bà nội sợ rụng rời ngã ngồi lên ghế, vội vã nhờ người đi gọi cha về. Cha vừa bước vào nhà, một đám người tráng niên vạm vỡ tay dao tay thước xông vào nhà tôi, không cần hỏi han trắng đen gì, trước tiên đập phá mọi bát đũa vò hũ trong nhà nát như tương, trong nhà như vừa có động đất cấp chín. Đây là những người do nhà Phạm Gia Hỷ nhờ tới, bố Phạm hung hãn chỉ vào cha tôi nói: “Con trai tao sợ quá đã phát điên rồi, hiện đang nằm nhà thương. Nhà mày mà không mang 1000 tệ trả tiền thuốc thang, mẹ mày tao cho một mồi lửa đốt tan cái nhà mày ra.”

Một nghìn tệ? Cha đi làm một tháng chỉ 50 tệ! Nhìn những người sát khí đằng đằng nhà họ Phạm, cha tôi mắt đỏ lên dần, cha nhìn mẹ với ánh mắt cực kỳ khủng khiếp, một tay nhanh như cắt dỡ thắt lưng da, đánh tới tấp khắp đầu mặt mẹ. Một trận lại một trận, mẹ chỉ còn như một con chuột khiếp hãi run rẩy, lại như một con thú săn đã bị dồn vào đường chết, nhảy lên hãi hùng, chạy trốn, cả đời tôi không thể quên tiếng thắt lưng da vụt lạnh lùng lên thân mẹ và những tiếng thê thiết mẹ kêu. Sau đó phải trưởng đồn cảnh sát đến ngănbàn tay bạo lực của cha. Kết quả hoà giải của đồn cảnh sát là: Cả hai bên đều có tổn thất, cả hai không nợ nần gì nhau cả. Ai còn gây sự sẽ bắt luôn người đó. Đám người đi rồi, cha tôi nhìn khắp nhà mảnh vỡ nồi niêu bát đũa tan tành, lại nhìn mẹ tôi vết roi đầy mình, cha tôi bất ngờ ôm mẹ tôi vào lòng khóc thảm thiết. “Mẹ điên ơi, không phải là tôi muốn đánh mẹ, mà nếu như tôi không đánh thì việc này không thể dàn xếp nổi, nhà mình làm gì có tiền mà đền cho người. Bởi nghèo khổ quá mà thành hoạ đấy thôi!”. Cha lại nhìn tôi nói: “Thụ, con phải cố mà học lên đại học. Không thì, nhà ta cứ bị người khác bắt nạt suốt đời, nhé!”. Tôi gật đầu, tôi hiểu.

Mùa hè năm 2000, tôi thi đỗ vào trung học với kết quả xuất sắc. Bà nội tôi vì làm việc cực nhọc cả đời mà mất trước đó, gia cảnh ngày càng khó khăn hơn. Cục Dân Chính khu tự trị Ân Thi (Hồ Bắc) xếp nhà tôi thuộc diện đặc biệt nghèo đói, mỗi tháng trợ cấp 40 tệ. Trường tôi học cũng giảm bớt học phí cho tôi, nhờ thế tôi mới có thể học tiếp.

Vì học nội trú, bài vở nhiều, tôi rất ít khi về nhà. Cha tôi vẫn đi làm thuê 50 tệ một tháng, gánh tiếp tế cho tôi đặt lên vai mẹ, không ai thay thế được. Mỗi lần bà thím nhà bên giúp nấu xong thức ăn, đưa cho mẹ mang đi. Hai mươi ki lô mét đường núi ngoằn ngoèo ruột dê làm khổ mẹ phải tốn sức ghi nhớ đường đi, gió tuyết cũng vẫn đi. Và thật là kỳ tích, hễ bất cứ việc gì làm vì con trai, mẹ đều không điên tí nào. Ngoài tình yêu mẫu tử ra, tôi không còn cách giải thích nào khác. Y học cũng nên giải thích khám phá hiện tượng này.

27/4/2003, lại là một chủ nhật, mẹ lại đến, không chỉ mang đồ ăn cho tôi, mẹ còn mang đến hơn chục quả đào dại. Tôi cầm một quả, cắn một miếng, cười hỏi mẹ: “Ngọt quá, ở đâu ra?” Mẹ nói: “Tôi… tôi hái…” không ngờ mẹ tôi cũng biết hái cả đào dại, tôi chân thành khen mẹ: “Mẹ, mẹ càng ngày càng tài giỏi!”. Mẹ cười hì hì.

Trước lúc mẹ về, tôi theo thói quen dặn dò mẹ phải cẩn thận an toàn, mẹ ờ ờ trả lời. Tiễn mẹ xong, tôi lại bận rộn ôn tập trước kỳ thi cuối cùng của thời phổ thông. Ngày hôm sau, khi đang ở trên lớp, bà thím vội vã chạy đến trường, nhờ thầy giáo gọi tôi ra ngoài cửa. Thím hỏi tôi, mẹ tôi có đến đưa tiếp tế đồ ăn không? Tôi nói đưa rồi, hôm qua mẹ về rồi. Thím nói: “Không, mẹ mày đến giờ vẫn chưa về nhà!” Tim tôi thót lên một cái, mẹ tôi chắc không đi lạc đường? Chặng đường này mẹ đã đi ba năm rồi, có lẽ không thể lạc được. Thím hỏi: “Mẹ mày có nói gì không?” Tôi bảo không, mẹ chỉ cho cháu chục quả đào tươi. Thím đập hai tay:” Thôi chết rồi, hỏng rồi, có lẽ vì mấy quả đào dại rồi!” Thím kêu tôi xin nghỉ học, chúng tôi đi men theo đường núi về tìm. Đường về quả thực có mấy cây đào dại, trên cây chỉ lơ thơ vài quả cọc, bởi nếu mọc ở vách đá mới còn giữ được quả. Chúng tôi cùng lúc nhìn thấy trên thân cây đào có một vết gãy cành, dưới cây là vực sâu trăm thước. Thím nhìn tôi rồi nói: “Chúng ta đi xuống khe vách đá tìm!” Tôi nói: “Thím, thím đừng doạ cháu…”. Thím không nói năng kéo tôi đi xuống vách núi…

Mẹ nằm yên tĩnh dưới khe núi, những trái đào dại vương vãi xung quanh, trong tay mẹ còn nắm chặt một quả, máu trên người mẹ đã cứng lại thành đám màu đen nặng nề. Tôi đau đớn tới mức ngũ tạng như vỡ ra, ôm chặt cứng lấy mẹ, gọi: “Mẹ ơi, Mẹ đau khổ của con ơi! Con hối hận đã nói rằng đào này ngọt! Chính là con đã lấy mạng của mẹ… Mẹ ơi, mẹ sống chẳng được hưởng sung sướng ngày nào…” Tôi sát đầu tôi vào khuôn mặt lạnh cứng của mẹ, khóc tới mức những hòn đá dại trên đỉnh núi cũng rớt nước mắt theo tôi.

Ngày 7/8/2003, một trăm ngày sau khi chôn cất mẹ, thư gọi nhập học dát vàng dát bạc của Đại học Hồ Bắc đi xuyên qua những ngả đường mẹ tôi đã đi, chạy qua những cây đào dại, xuyên qua ruộng lúa đầu làng, “bay” thẳng vào c
a nhà tôi. Tôi gài lá thư đến muộn ấy vào đầu ngôi mộ cô tịch của mẹ: “Mẹ, con đã có ngày mở mặt mở mày rồi, MẸ có nghe thấy không? MẸ có thể ngậm cười nơi chín suối rồi!”

(Trang Hạ dịch)

TẢN VĂN Chuyện bếp núc viết sách

Leave a comment

Chuyện bếp núc viết sách: số trang và số chữ

Thi thoảng đây đó trong các bài phỏng vấn, ta vẫn nghe nhiều nhà văn nói: “Tôi đang viết quyển tiểu thuyết cỡ 300 trang…”. “Cuốn sách sắp tới độ năm sáu trăm trang…”. “Tôi sẽ dành 700 trang cho tập hai…”. “Tôi đã viết hai ba tiểu thuyết trên 400 trang…”. Thật mơ hồ, tuy nhiên sự nhập nhoạng ở đây lại nằm trong định nghĩa thế nào là một trang viết. Số chữ trong một trang viết tỉ lệ với khổ giấy và độ lớn của ký tự. Sẽ có người phản bác không phải nhiều chữ là hay. Vâng, tôi chỉ muốn trình bày khía cạnh thuần kỹ thuật.

Tôi không rõ ở Tây người ta có ước lượng độ dài ngắn của 1 quyển sách bằng số chữ hay không. Mới đây, qua bài “Đầu và cuối của tiểu thuyết” [1], Milorad Pavic cho người đọc thấy ông cũng từng đếm chữ.

Người Tàu thì khác. Phần lớn sách xuất bản ở Trung Hoa đều ghi chú số chữ rõ ràng. Hành xử này không chứng minh tác giả Tàu nhận thức cao hơn tác giả Việt, nó là truyền thống lâu đời. Thật vậy, tôi tin muộn nhất người Tàu đã đếm chữ khi sách thẻ trúc ra đời, cách nay trên 2500 năm. Thẩm mỹ đòi hỏi mọi chữ Tàu, bất kể số nét, phải chiếm diện tích như nhau. Tùy chiều dài thẻ trúc, tùy độ lớn của chữ, người ta dễ dàng đếm được số chữ trên một thẻ, nhân với số thẻ sẽ thành số chữ trong tập, lại nhân với số tập thì ra số chữ gần đúng trong quyển sách. Ai chẳng biết Sử Ký Tư Mã Thiên có 520 ngàn chữ. Trước Tư Mã Thiên, Lã Bất Vi từng quảng cáo sách của mình ở cửa chợ Hàm Dương. Ông ta treo giải ngàn vàng cho ai thêm bớt được một chữ trong tổng số hơn hai mươi vạn chữ của Lã Thị Xuân Thu. Sau này có giấy, đếm chữ phức tạp hơn nhưng họ vẫn làm, nên ta mới biết Hồng Lâu Mộng gồm 730 ngàn chữ.

Tôi từng có kinh nghiệm ‘bực bội’ với nhiều quyển sách xuất bản tại Việt Nam. Lần nọ trên chuyến xe đò 6 tiếng từ Đà Lạt đến Sài Gòn, tôi đem theo 1 quyển sách 600 trăm trang khổ 13cm x 19cm để tận dụng thời gian. Không may sách dành cho người cận nặng nên chữ to như con bò. Đọc sách không mỏi mắt nhưng mỏi tay vì cứ phải sang trang liên tục. Hậu quả là tôi mất toi 3 tiếng một cách vô vị.

Người Ta ở Tây cũng chẳng khá hơn. Một tác giả sống giữa thủ đô văn hóa Tây dương từng phán: “Tất cả các cuốn Tứ Thư, Ngũ Kinh nếu gộp chung lại tất cả và in thành một cuốn sách thì cũng chỉ vài trăm trang thôi, nghĩa là chỉ bằng một nửa cuốn sách mà các vị đang cầm trong tay thôi. Một người bình thường có thể học một tuần lễ là xong, thế mà các sĩ tử cứ nhai đi nhai lại trong mấy ngàn năm thì hỏi kiến thức có cái gì đáng kể?”.

“Ngạc nhiên chưa?” – Tôi mạn phép nhại một lời thoại quảng cáo – Và còn ngạc nhiên hơn nữa khi tôi đem vấn đề “số trang, số chữ” tham khảo người bạn vong niên viết văn. Anh nhíu mày khó chịu và mắng tôi như mắng đứa trẻ con vô lễ: “Thằng dở người! Ai chẳng biết với việc số hóa văn bản hôm nay, nhấn chuột hai lần là có ngay số chữ. Cái khác nhau giữa Ta với Tây và Tàu là bản sắc Việt Nam. Mày muốn tự đồng hóa thì cứ tự nhiên. Đừng bôi bẩn chúng tao!”.

Tôi buồn lắm. Thì ra trên đời này chỉ tồn tại một sự thật duy nhất đó là không có gì là sự thật. Mọi cái khác mang tên gọi sự thật, chỉ là sản phẩm của các mức độ nhận thức. Nhận thức lạc lõng mang nhiều cảm tính hồ đồ của tôi chắc chắn chẳng thay đổi được thói quen của nhiều người.

Chú thích:

[1] http://evan.vnexpress.net/Functions/WorkContent/?CatID=4&TypeID=20&WorkID=725

Biên khảo HỒ NGUYÊN TRỪNG

5 Comments

Ảnh minh họa: Thác bản văn bia[5] nói về việc xây dựng chùa Tú Phong do Hồ Nguyên Trừng soạn năm 1443. Chùa Tú Phong và mộ Hồ Nguyên Trừng cùng nằm trong thôn Nam An Hà, xã Bắc An Hà, khu Hải Điện, TP Bắc Kinh.

Nam Ông Hồ Nguyên Trừng

Trương Thái Du

Hồ Nguyên Trừng (1374 – 1446) là con trai cả của Hồ Quý Ly. Tháng 11.1394 lần đầu tiên sử sách nhắc đến Nguyên Trừng với việc bổ nhiệm ông làm Phán sư tự dưới triều đình của Thái thượng hoàng Nghệ Tông. Tháng 6.1399 Nguyên Trừng lãnh chức Tư đồ. Tháng 2 năm 1400 Hồ Quý Ly tiếm ngôi nhà Trần, trong lòng muốn lập con thứ Hồ Hán Thương (là cháu ngoại Trần Minh Tông) làm Thái tử, bèn thăm dò ý Nguyên trừng bằng cách ra câu đối: “Thử nhất quyển kỳ thạch, hữu thì vi vân vũ dĩ nhuận sinh dân” (Hòn đá lạ bằng nắm tay này, có lúc làm mây làm mưa để nhuần thấm sinh dân). Nguyên Trừng khiêm tốn trả lời, ý nói không màng ngôi cao, chỉ mong được phụng sự đất nước: “Giá tam thốn tiểu tùng, tha nhật tác đống tác lương dĩ phù xã tắc”. (Cây thông nhỏ mới ba tấc kia, ngày sau làm rường cột để chống nâng xã tắc). Tháng 12 năm 1400 Hồ Quý Ly tự xưng Thái thượng hoàng và nhường ngôi cho Hán Thương. Hồ Nguyên Trừng lãnh chức Tả tướng quốc.

Cuối năm 1405, nguy cơ xâm lăng của nhà Minh ngày càng rõ rệt. Khi nghị bàn quốc sự các quan trong triều chia thành hai phái đánh và hòa. Hòa tức là chấp nhận sức ép của Bắc triều, cắt đất, cống nộp từ con người đến sản vật. Hồ Nguyên Trừng nói: “Thần không sợ đánh, chỉ sợ lòng dân không theo thôi”. Hồ Quý Ly rất tâm đắc ý chí của Nguyên Trừng nên đã thưởng cho Trừng chiếc hộp đựng trầu bằng vàng.

Giữa năm 1406 Hồ Nguyên Trừng thống lĩnh binh mã cự 10 vạn quân Minh từ Quảng Tây đánh sang. Trận đầu ông thất bại ở khu vực Đáp Cầu Bắc Ninh ngày nay, vì khinh quân địch ít. Sau đó ông cũng đuổi được chúng ra khỏi bờ cõi. Cuối năm 1406, đợt xâm lược mới của nhà Minh có quân số lên tới 80 vạn. Tả tướng quốc Nguyên Trừng chỉ huy một cánh quân tiên phong dọc sông Cái.

Thất bại này nối thất bại kia vì giặc mạnh lại biết dùng kế ly gián, chia rẽ họ Hồ với quân tướng và dân chúng. Giữa năm 1407, toàn bộ gia tộc họ Hồ, từ Hồ Quý Ly, Hồ Hán Thương, Hồ Nguyên Trừng đến con cháu đều bị bắt sống và giải về Kim Lăng, Trung Quốc.

Trên đây là tóm tắt gốc tích và hành trạng trong nước của Hồ Nguyên Trừng theo Đại Việt sử ký toàn thư, NXB KHXH Hà Nội 1993. Sách này còn ghi năm 1411 Hồ Ngạn Thần theo lệnh vua Trùng Quang Trần Quí Khoáng đến Yên Kinh (Bắc Kinh ngày nay) để cầu phong. Vua Minh sai Hồ Nguyên Trừng gặp Ngạn Thần thu thập tin tức Giao Chỉ.

Đến Khâm định Việt sử thông giám cương mục, NXB Hà Nội 1998, ngoài nội dung cũ, liên quan đến Hồ Nguyên Trừng còn có các chi tiết: Vua nhà Minh ngự điện nhận tù binh và hỏi Quý Ly rằng: “Giết vua, cướp nước, như thế có phải là đạo người bầy tôi không?”. Quý Ly không trả lời được, bèn giao cả xuống giam vào ngục tù, chỉ tha cho con là Trừng, cháu là Nhuế. Sau, Quý Ly ở trong ngục được tha ra, bắt đi thú thủ ở Quảng Tây; Trừng vì lành nghề chế binh khí, dâng phép chế súng lên vua Minh, nên được tha ra để dùng. Lời cẩn án – Sử cũ chép: “Khi Quý Ly đến Kim Lăng, vua nhà Minh giả vờ trao cho chức tham chính, sai người hộ tống đến nơi làm việc, rồi giết chết ở dọc đường”. Có lẽ nào đánh bắt được người đầu sỏ của giặc, không đem làm tội một cách đường hoàng mà lại phải dùng kế giả dối để giết bao giờ? Thật là vô lý! Nay theo sách Minh sử kỷ sự cải chính lại.

***

Giai đoạn sau cuộc đời Hồ Nguyên Trừng không được sử sách chính thống Việt Nam nhắc đến. Nhiều văn bản Trung Quốc còn lưu lại đến ngày nay đều thống nhất dùng họ Lê cho Hồ Nguyên Trừng và con cháu ông, đây là họ của Lê Huấn, cha nuôi Hồ Quý Ly. Để tiện bề theo dõi, trở xuống xin được đổi lại họ Hồ trong các đoạn dịch.

Theo Minh Sử[1]: Vào thời Minh Thành tổ, Giao Chỉ được bình định, kỹ thuật (chế tạo) thần cơ thương pháo được thu dung, thành lập và huấn luyện một binh đoàn trang bị súng thần cơ.

Kết nối dữ kiện trên với tài liệu của Tôn Lai Thần[2] (Sun Laichen) sẽ hiện ra chân dung nhà khoa học quân sự Hồ Nguyên Trừng: Theo lệnh vua Minh, các tù binh Đại Việt biết chế tạo vũ khí như Hỏa súng, Đoạn tiễn, Thần tiễn, Thuốc súng; đã bị áp giải đến Nam Kinh cùng với nhiều thợ thủ công các loại, tổng cộng lên đến khoảng 17.000 người. Trong số này có Hồ Nguyên Trừng. Đại Việt sử ký toàn thư cũng đặc biệt ghi nhận năm 1407 Hồ Nguyên Trừng đã chế tạo nhiều súng ống và tàu chiến để chống lại quân Minh xâm lược. Việc ngài Tả tướng quốc Nguyên Trừng nắm kỹ năng chế tạo vũ khí cầm tay cho thấy tầm quan trọng mà Đại Việt gửi gắm ở kỹ nghệ sản xuất thuốc súng cũng như cuộc cạnh tranh quyết liệt giữa Đại Việt và các nước láng giềng, trước hết là với Trung Hoa và Chiêm Thành. Thú vị là sự tinh thông ấy đã thay đổi vận mệnh Hồ Nguyên Trừng tại Trung Hoa…. Nguyên trừng được tha bổng và nhậm một chức quan thuộc Công bộ. Ông chịu trách nhiệm chế tạo hỏa súng, hỏa tiễn và thuốc súng trong Binh trượng cục (Cục chế tạo vũ khí) và rồi được thăng chức Thượng thư bộ Công (tương đương hàm bộ trưởng ngày nay – ND)… Theo một số sách vở Trung Hoa (Minh sử cảo), triều Minh khi tế thần súng cũng thường hiến cúng Hồ Nguyên Trừng. 73 tuổi, Hồ Nguyên Trừng mất, con ông (Lê Thúc Lâm – ND) đã thay ông tiếp tục chế tạo vũ khí cho nhà Minh đến khi về hưu năm 1470 ở tuổi 70.

Phần lớn ghi chép ở Việt Nam ngày nay cho rằng Hồ Nguyên Trừng làm quan triều Minh đến tam phẩm (Công bộ tả thị lang, thứ trưởng). Thực ra theo bộ Minh sử đầy đủ đã xuất bản ở Đài Loan, năm 1445 Hồ Nguyên Trừng được thăng chức nhị phẩm (Công bộ thượng thư)[3]. Điều này phù hợp với nghiên cứu của Tôn Lai Thần. Có lẽ làm “bộ trưởng” chưa được một năm thì họ Hồ mất nên tài liệu Việt Nam sơ suất. Hữu thị lang Hồ Thúc Lâm, con Hồ Nguyên Trừng đến tuổi hưu trí vẫn được triều Minh lưu dụng. Thậm chí đến cháu nội ông là Hồ Thế Vinh, năm 1469 cũng được tuyển làm Trung thư xá nhân tại Công bộ.

Hiện trên internet có rất nhiều trang đề cặp đến nơi yên nghỉ Hồ Nguyên Trừng. Chẳng hạn khảo biện “Hỏa long kinh”[4], thuộc chủ đề Trung Quốc lịch sử văn vật, tác giả Lý Bân, Đại học Thanh Hoa xuất bản 1.1.2002 viết: Tháng sáu, năm Chính thống thứ 10 (1445) thăng (Hồ Nguyên Trừng) làm Thượng thư bộ công, giữ việc nội phủ, tháng 7 năm sau mất, hưởng thọ 73 tuổi, an táng tại vùng núi phía tây Bắc Kinh, sườn núi Ngọc Đài, thôn Nam An Hà.

Từ những dữ kiện trên đây, có thể khẳng định Hồ Nguyên Trừng và con cháu ông là những công trình sư có đóng góp nghiên cứu và thực nghiệm khoa học quân sự lớn lao cho triều Minh. Phải chăng chính công tác “gián điệp” trong quá trình xâm lăng Đại Việt đầu thế kỷ 15, nhà Minh đã nhìn thấy “mỏ vàng” nhân lực trí lực đồ sộ ở nước Nam. Cướp đất và ra sức tiêu diệt văn hóa chưa đủ, họ còn bắt đi 17.000 trái tim khối óc người Việt đem về để kiến thiết Trung Quốc. Nguyễn An, nhân vật tham gia thiết kế và xây dựng Tử Cấm Thành, và Hồ Nguyên Trừng là những cái tên chói sáng trong số tù nhân kia. Họ bất tử vì tài năng kiệt xuất, lưu truyền thiên cổ.

***

Cuối đời, sống trong nhà tù lớn mang tên Trung Hoa, dù chức cao bổng hậu Hồ Nguyên Trừng vẫn ngóng về quê hương với nỗi niềm sâu nặng. Phải chăng đấy là lý do Nguyên Trừng lấy bút hiệu Nam Ông (ông già nước Nam) và viết quyển “Nam Ông mộng lục” bất hủ.

Trước tác gồm 31 phần, do Hồ Huỳnh, Thượng thư bộ Lễ Minh triều đề từ năm 1440, có cả hậu tự năm 1442 của Tống Chương. Ở lời nói đầu, Hồ Nguyên Trừng bảo: Trong xóm mười nhà thể nào cũng có người tín nghĩa như Khổng Tử, huống hồ nhân vật nước Nam không kể hết. Thời gian và chiến tranh làm sách vở tiêu tán hết, nên ông phải viết lưu lại cho đời. Bằng nỗi niềm thương nhớ cố quốc, hồi tưởng năm tháng đã qua, Hồ Nguyên Trừng ngỡ cuộc đời là một giấc mộng dài. Ông giải thích chữ “mộng”[6]: Những nhân vật trong sách, một thời phồn hoa, rồi thời cuộc biến đổi không còn để lại vết tích, chỉ còn một mình tôi biết được và kể ra, như vậy chẳng phải mộng là gì! Qua “Nam ông mộng lục” người ta phần nào hình dung được đất nước con người Việt Nam cách đây hơn 600 năm. Các mảng đời sống, tín ngưỡng, phong tục, lề thói… rất sinh động và chân thật. Hồ Huỳnh nhận định: “Văn họ Hồ ngắn gọn mà nghiêm trang, cẩn mật, cao nhã mà uyên bác, theo tình kể lại, theo nghĩa đặt lời… Ca ngợi sự tiết nghĩa thì bừng bừng cảm khái, có thể uốn nắn phong tục, biểu dương trước thuật thì siêu thoát, thanh tân, có thể nuôi dưỡng tính tình…”.

Gần đây ở ngôi làng Nam An Hà, cách Bắc Kinh 30km về phía tây, nơi có mộ chí Hồ Nguyên Trừng và con cháu ông đang ồn ào vụ kiện giải tỏa đất đai mồ mả để làm trường đua ngựa[7]. Không rõ khu vực giải tỏa có chạm đến nơi an nghỉ của Hồ Nguyên Trừng không. Cũng tra internet tôi biết gần đó hiện còn di chỉ Hỏa khí doanh (doanh trại chế tác/thử nghiệm vũ khí), phải chăng là nơi ba đời họ Hồ từng làm việc.

Trang viết biên khảo nhỏ này muốn đưa đến đông đảo người đọc những chi tiết có chọn lọc, về thân thế và sự nghiệp người Việt kiều từng giữ chức bộ trưởng, trong triều đình một cường quốc của thế giới cách nay hơn nửa thiên niên kỷ. Dám mong một ngày nào đó, nếu lăng Hồ Nguyên Trừng bị giải tỏa, di cốt ông sẽ được nhân dân Việt Nam đón về cải táng trong thành đá Tây Đô, Vĩnh Lộc, Thanh Hóa. Tòa thành ấy còn gọi là Thành nhà Hồ, vẫn ngạo nghễ với thời gian, ghi dấu nỗ lực chiến đấu chống ngoại xâm ngoan cường của ba cha con Hồ Quý Ly, Hồ Nguyên Trừng và Hồ Hán Thương.

Thảo Điền

17.11.2007


[1] Trung Hoa thư cục, Bắc Kinh 1974, tập 92, trang 2264.

[2] Tôn Lai Thần, Kỹ thuật quân sự Trung Hoa và Đại Việt từ 1390 đến 1497 (Sun Laichen, Chinese technology and Dai Viet : c.1390 – 1497), Viện nghiên cứu Á Châu (ARI), Đại học quốc gia Singapore 9.2003.

[3] Dẫn theo Lê Thị Minh Huyền, trang web viethoc.com, Minh sử tân hiệu – quyển 111 – biểu 12.

[6] Trần Văn Giáp, Tìm hiểu kho sách Hán Nôm, NXB Văn Hóa, Hà Nội, 1884, tập 1, trang 42. Dẫn theo Hồ Bạch Thảo, talawas.

[7] Lê thị Minh Huyền đã dẫn: http://www.chinacourt.org/html/article/200710/08/268077.shtml, trang web Pháp viện Trung Quốc cho biết ngày 14.11.2007 vụ án này đã bắt đầu bước vào trình tự phúc thẩm do tòa sơ thẩm bác đơn kiện.

Với Đà Lạt

Leave a comment

Lại một lễ hội hoa Đà Lạt sắp đến. Nỗi nhớ cao nguyên lâu lâu vẫn nhoi nhói đồng bằng.

Tôi đến Đà Lạt lần đầu năm 1998. Cảm động đến nỗi làm cả thơ, đăng trên báo Tuổi Trẻ:

TRONG SƯƠNG

Mắt sương lạc mất buổi chiều

Tóc sương xõa gió xiêu xiêu dáng đồi

Khăn sương ta trải em ngồi

Tay sương che lạnh ủ lời dịu êm

Mùi sương căng ngát vòm đêm

Tiếng sương nhè nhẹ ướp mềm môi nhau

Lòng sương thanh khiết một màu

Vai sương thấm những giọt sầu vu vơ

Vị sương ngọt đến không ngờ

Chân sương xin trọ bến bờ em thôi

Sáng ra nắng mới sương vơi

Chỉ còn cỏ nhớ nửa đời gió sương.

3 năm ở Đà Lạt, mua đất, xây nhà tôi làm khá nhiều thơ. Thơ ấy rất cũ, sáo mòn và chẳng có giá trị gì, nhưng nó cũng ghi nhận những mốc thời gian của cá nhân tôi.

Sắp đến Lễ hội hoa 2007, lấy lại bài cũ về hội hoa 2005 để lên blog:

NHỮNG ƯU TƯ TRONG LỄ HỘI HOA ĐÀ LẠT

Trương Thái Du

1. Lan man chữ nghĩa

Tương truyền năm 1893, khi đoàn thám hiểm của bác sĩ Yersin đặt chân đến cao nguyên Lâm Viên, thông qua phu dẫn đường phiên dịch ông hỏi cư dân bản địa: “Đây là đâu?”. Một người đã trả lời: “Đây là Đạ Lạch”. Ngữ âm này ngay lập tức biến thành địa danh Dalat trên bản đồ Đông Dương thuộc Pháp. Khi Việt hóa Dalat, chúng ta có tên gọi Đà Lạt.

Chính vì nguồn gốc từ Đà Lạt không được Yersin ghi chép lại, hoặc có ghi chép nhưng đã thất lạc nên trước nay xuất hiện rất nhiều cách giải thích ngữ nghĩa. Gần đây mọi người hầu như đã thống nhất với nhau rằng Đà Lạt tức là Đạ Lạch: (Dòng) nước, (dòng) suối của người Lạch. Cũng cần nhấn mạnh thêm một lần nữa: Ở chợ Đà Lạt được xây dựng năm 1937, người ta gắn một phù điêu chữ Latin: Dat allis laetium allis temperriem (cho người này niềm vui, cho người kia sự mát lành). Nhiều người từng lầm tưởng đó không phải là kiểu chơi chữ Dalat mà gán ghép nó thành gốc rễ của tên gọi Đà Lạt.

Người Lạch, chủ nhân đầu tiên của mảnh đất Đà Lạt là một phân chi trong dân tộc Kơ Ho. Dân tộc Kơ Ho lại là một chi lớn trong cộng đồng các dân tộc thiểu số Tây Nguyên Việt Nam với những đặc trưng văn hóa – chủng tộc thuộc về đại cộng đồng người tiền Đông Nam Á bản địa xa xưa. Những thành tựu nghiên cứu văn hóa lịch sử Việt Nam và thế giới gần đây cho thấy thuật ngữ “Cộng đồng người tiền Đông Nam Á” trải rộng từ Indonesia lên đến bờ nam sông Trường Giang Trung Quốc. Bằng các phương pháp truy nguyên ngữ âm học, các chuyên gia ngôn ngữ học Việt Nam hiện nay đã đi đến kết luận chữ Giang trong Trường Giang là Hán tự kí âm phương ngữ. Thật vậy, chữ Giang ghép bởi chữ Thủy (mang nghĩa nước, sông) và chữ Công (kí âm). Công có họ hàng với Krông, tức là dòng sông, dòng suối trong ngôn ngữ của cộng đồng người Đông Nam Á cổ và hiện vẫn tồn tại trong ngôn ngữ Tây Nguyên. Trường hợp tên gọi Mêkông (tiếng Thái, tức là mẹ của các dòng sông, dòng suối) cũng vậy. Ngày nay ở Tây Nguyên nhóm từ Đạ / Đak / Krông đều chỉ nước, sông, suối.

Tại hội nghị nghiên cứu thời kì Hùng Vương năm 1971, trong tham luận “Thử tìm nguồn gốc ngữ nghĩa của từ tố Lạc”, Nguyễn Kim Thản và Vương Lộc đã giải thích Lạc nghĩa là nước. Hai ông cũng liên hệ được Lạc với Nác (tức nước) theo phương ngữ miền trung Việt Nam. Theo tôi từ Lạc không đơn thuần chỉ là nước mà nó đôi khi còn được sử dụng với nghĩa Xứ Sở với các dẫn chứng liên hệ như Negeri (tiếng của người Mianagkabau ở Malaysia), Nưgar (tiếng của người Chiêm Thành).

Như vậy, khi xâu chuỗi các nghiên cứu trên lại với nhau ta có một nhóm t
tố mang nghĩa rất giống nhau là : Đạ / Đak / Krông / Lạc / Nác / Nước / Nưgar / Negeri. Câu hỏi đặt ra ở đây là: trong môi trường văn hóa – chủng tộc Đông Nam Á cổ, phải chăng cả dải đất Việt Nam ngày nay đều thuộc về con cháu vua Hùng, tổ tiên họ đều từng ở trong bọc trứng của Âu Cơ tức là Mẹ Đất? Chữ Âu ngoài nghĩa đất còn có thể là U, Mẹ, Núi, Non (1).

Nếu các nhà nghiên cứu của chúng ta tiếp tục các nỗ lực về nguồn không mệt mỏi, tôi tin rằng họ sẽ sớm chứng minh được từ Lạc, Nác và Đạ cũng như Đak có một mẫu số chung là nền văn hóa tiền Việt Nam. Xin được nêu ra ở đây một giả thuyết: không đơn giản Lạc / Nác / Đạ / Đak nói về nước, về sông, suối. Có thể chúng còn mang một nghĩa rộng hơn, trừu tượng hơn đó là Xứ Sở tương tự như Nưgar, Negeri. Do đó Đà Lạt, trái tim của Tây Nguyên là gì nếu không phải “Xứ sở của người Lạch thuộc dân tộc Kơ Ho, hậu duệ của một trong năm mươi người con lên núi cùng bà mẹ cao quí Âu Cơ”. Và thật tuyệt vời Đà Lạt lại chính là một tên gọi giúp chúng ta chứng minh nghĩa của Lạc Việt là Xứ sở của người Việt.

2. Lễ hội hoa hay festival hoa

“Hoa nghĩa là gì?”, một người bạn Nhật đang học tiếng Việt đã chỉ vào những cánh phướn sặc sỡ có dòng chữ Festival Hoa và hỏi tôi. Cái tên gọi nửa Tây – nửa Ta ấy còn vô duyên hơn rất nhiều công trình dành cho Lễ hội hoa 2005 vẫn dang dở bê tông, cát đá, xi măng, sắt thép trên thảm đất đỏ nhoèn nhoẹt dưới mưa phùn.

Cái khó của những lễ hội Việt Nam là làm sao vừa tôn vinh truyền thống dân tộc, vừa hài hòa với hiện đại. Song le, trên mảnh đất Lâm Viên này sự xung khắc giữa truyền thống thiểu số bản địa và ký ức Pháp thuộc lại hé mở nhiều khía cạnh cần xem xét cẩn trọng.

Nguồn gốc mỹ danh “Thành phố hoa” bắt đầu từ một bài báo của P. Munier trên Tạp chí Đông Dương (1941): “Ở bên phải tôi một lọ lớn cắm hoa Glay-ơn tuyệt đẹp. Ở bên trái tôi là nhũng đóa hoa Cẩm chướng xinh tươi như ở Pháp. Trong một lọ hoa khác là vài nhành Địa lan màu vàng tôi vừa hái trong rừng. Trước cửa sổ sáu cành hoa Mimosa đong đưa trong gió. Ba đóa hoa Cẩm tú cầu như ba khối tròn mà xanh biếc đặt trên lò sưởi chờ cắm vào bình. Đà Lạt là như vậy đó! Trước hết Đà Lạt là xứ sở của hoa…”(2).

Sau năm 1954, dưới trào Chủ tịch hội đồng thị xã Nguyễn Vỹ, cuộc cách mạng Việt hóa các địa danh Đà Lạt nói riêng và cao nguyên Lâm Viên nói chung, diễn ra rộng khắp. Tên danh nhân và những vùng đất lịch sử – văn hóa nước Việt thay thế dần tên Pháp: Duy Tân, Hàm Nghi, (Hồ) Xuân Hương, Vạn Kiếp… Các phương ngữ bản địa thì biến thành Việt âm: Langbian thành Lâm Viên, Djilinh thành Di Linh, B’lao thành Bảo Lộc…

Việc dịch xuôi tiếng Pháp như Bois d’ Amour là Rừng Ái Ân, Vallée d’ Amour là Thung lũng Tình yêu, Lac du cité Decoux (Hồ Đờ Cu – tên một viên toàn quyền Đông Dương) thành Hồ Vạn Kiếp, là hoàn toàn chính đáng. Đây là nỗ lực lớn lao của con người Đà Lạt nhằm phi thực dân hóa mảnh đất vạn xuân này. Mặc dù ít nhiều trong dân gian, vẫn không thiếu kẻ vọng ngoại, họ thích gọi hoa cúc là Margeurite, gọi du thuyền Thiên nga là Pedalo… chắc là cho oai!

Tuy nhiên, điều đáng tiếc nhất lại xảy ra với quá trình Việt hóa ngôn ngữ bản địa. Về khía cạnh nào đó, nó không khác kiểu tái lập thực dân. Thật vậy, tất cả các tên gọi bản địa đều mang những dấu tích văn hóa lịch sử của đồng bào dân tộc nơi đây. Chẳng hạn Langbian là ngọn núi do thần Lơm Biêng xây đắp làm trụ chống trời; Cam ly (tên thác) vốn là tên một tù trưởng dân tộc Cil, K’ Mly; Prenn (tên đèo) nghĩa là vùng lấn chiếm từng ghi dấu chân của các chiến binh vương quốc Chămpa thế kỷ 17 .v.v..

Các nhà nghiên cứu lịch sử Việt Nam đã từng xót xa vì không tìm ra gốc tích các địa danh, nhân danh thời Hai Bà Trưng hoặc trước nữa vì nó đã bị kí âm bằng Hán tự (do chúng ta không có chữ viết), như Mê Linh (có lẽ là M’linh, tương tự như trường hợp Djilinh – Di Linh), Trưng Trắc, Trưng Nhị… Lẽ nào bài học ấy không thể được nhìn nhận lại trong cách hành xử văn hóa của chúng ta với đồng bào thiểu số Tây Nguyên hôm nay?

“Festival hoa” hay “Lễ hội hoa” về nghĩa cũng như nhau cả thôi, nhưng nó cho thấy cách nhìn và những giới hạn của người tổ chức. Mong lắm sự cân nhắc có chiều sâu văn hóa dân tộc và bản địa, ở từng sự kiện Việt Nam muốn vươn ra tầm khu vực và thế giới, đó chính là một phần bản sắc riêng biệt nơi ta mà bè bạn mong thấy.

Thung lũng Đa Thiện,

Đà Lạt 12.2005

Chú thích:

(1) Xin xem thêm, cùng một tác giả: “Một cách tiếp cạn những vấn đề cổ sử Việt Nam” – Vnthuquan.net

(2) Theo Nguyễn Hữu Tranh, Đà Lạt năm xưa, Cty VH TH Lâm Đồng, 1993.

Phi tri vật ngôn

1 Comment

Sưu tầm trả lời 1 blogger trong friendlists:

Sách Luận Ngữ, đoạn 1, thiên 12 (Nhan Uyên) có lời đáp của Khổng Tử khi Nhan Uyên hỏi về đức nhân: PHI LỄ VẬT THỊ. PHI LỄ VẬT THÍNH. PHI LỄ VẬT NGÔN. PHI LỄ VẬT ĐỘNG.

Nghĩa là: Cái gì không hợp lễ thì đừng nhìn, đừng nghe, đừng nói, đừng hành động.

Trên cơ sở này người Nhật Bản Hidari Jingoro (1594-1634) đã điêu khắc chùm phù điêu 3 con khỉ bịt tai, bịt miệng và bịt mắt.

“Phi lễ vật ngôn” là trình độ cao rồi. Có lễ tất phải tri (hiểu biết). Bậc thấp hơn là PHI TRI VẬT NGÔN (không biết thì đừng nói).

Hán hóa nước Mỹ

Leave a comment

Trung Quốc: Đề tài tranh cử Tổng thống Mỹ 2008

Tom CurryQuang Diệu lược dịch

Thượng nghị sĩ Hillary Clinton báo động mối quan tâm về Trung Quốc, và cảnh báo về nợ và “sự xói mòn chủ quyền kinh tế”

WASHINGTON – Cử tri cùng các nhà bình luận và thăm dò ý kiến dư luận tin rằng đề tài cuộc chiến tranh tại Iraq sẽ là yếu tố quyết định trong cuộc tranh cử tổng thống tại Hoa Kỳ vào năm 2008, nhưng Thượng nghị sỹ Hillary Clinton, ứng cử viên của Đảng Dân Chủ, đang gia tăng tập trung vào đề tài của quốc gia khác: Trung Quốc.

Bà Clinton đang gửi ra một thông điệp cho cuộc tranh cử năm 2008: sự phụ thuộc quá nhiều của nước Mỹ vào các nhà đầu tư của Trung Quốc. Hôm thứ năm Bà Clinton đã tuyên bố trên làn sóng radio của CNBC rằng nước Mỹ đã chịu đựng “sự xói mòn từ từ trong nền kinh tế chủ quyền của chúng ta”.

Hôm thứ thứ Ba chỉ số của thị trường chứng khoán Thượng Hải và Thâm Quyến bị tuột dốc 9% gây cho thị trường chứng khoán của Hoa Kỳ bị xuống dốc khá mạnh vào ngày thứ Tư sau đó, tạo thêm cơ hội mới cho bà Clinton đưa ra lý lẽ rằng nền kinh tế của Mỹ quá phụ thuộc vào những biến động xảy ra tại Trung Quốc.

Trong lá thư gửi cho Bộ trưởng Bộ Tài chánh Henry Paulson và Chủ tịch Ngân hàng Dự trữ Liên bang Ben Bernanke, bà Clinton nói rằng sự bán tháo bán chạy tại thị trường chứng khoán vào ngày thứ Tư là “nhấn mạnh sự lệ thuộc nguy hiểm của nền kinh tế chúng ta vào những phát triển kinh tế tại các quốc gia như Trung Quốc. Trong khi chúng ta đang bị những thâm thủng mậu dịch va ngân sách quốc gia thì các quốc gia đó đang trở thành các ngân hàng cho chúng ta vay nợ.”

Thời điểm để “cứng rắn lên” với Trung Quốc ?

Trong buổi thuyết trình mới đây tại Ủy Ban Quốc Gia đảng Dân Chủ bà Clinton kể câu chuyện một trong những cử tri của bà ở Nữu Ước (New York) than phiền với bà vì bị mất việc làm tại một nhà máy sản xuất và hỏi, “Tại sao chúng ta không cứng rắn lên với Trung Quốc?”

Bà Clinton trả lời: “Làm sao anh có thể cứng rắn với người chủ nợ của anh?”

Trong lá thư gửi đến ông Paulson và Bernanke bà Clinton nhấn mạnh rằng Quốc hội và tổng thống phải “bảo đảm các chính phủ nước ngoài không được làm chủ qúa nhiều món nợ công khai (public debt) của chúng ta.”

Bà Clinton cũng cảnh báo trong thư “nếu Trung Quốc và Nhật Bản quyết định bán ra số lượng lớn ngoại tệ Hoa Kỳ, điều đó có thể sẽ gây nên khủng hoảng tài chánh và Hoa Kỳ sẽ phải tăng tiền lời và tạo điều kiện cho nền kinh tế bị trì trệ, thụt lùi.”

Trung Quốc không chỉ là đề tài của bà Clinton; dân biểu Duncan Hunter thuộc đảng Cộng Hòa là ứng cử viên tổng thống nhiều lần cũng lên tiếng báo động.

Trung Quốc, dân biểu đảng Cộng hoà ở tiểu bang California ông Duncan Hunter trong một quảng cáo mới đây trên TV nói “họ gian lận trong mậu dịch và họ mua của chúng ta tàu bè, phi cơ, tên lửa bằng chính đồng tiền của chúng ta, và họ cũng lấy đi của chúng ta hàng triệu công ăn việc làm.”

Trung Quốc thu mua công trái phiếu của Hoa Kỳ

Trong khi ấy các kinh tế gia không đảng phái báo động, không nhằm việc Trung Quốc thu mua công trái phiếu của chính phủ Mỹ, mà nói chung tới tình trạng lệch cán cân chi phó, phản ảnh việc Hoa Kỳ nhập cảng và mượn vốn cao hơn mức xuất cảng và cho (nước ngoài) vay

Khi bán hàng sang Hoa Kỳ nhiều hơn mua lại sản phẩm của Mỹ, Trung Quốc sẽ đầu tư số tiền thặng dư đó vào các loại trái phiếu của chính phủ tại đây.

Trong buổi điều trần mới đây tại Ủy ban Ngân sách Thượng viện, Fred Bergsten, Giám đốc Peterson Institute for International Economics, đã vạch ra sự thâm thủng cán cân chi phó, “bây giờ chiếm khoảng 7% tổng sản lượng quốc gia (GDP), tăng gấp hai lần mức thâm thủng trước, vào giữa thập niên 1980, là 3.4%.”

Nếu chủ nhân ngoại quốc quyết định bán hết tài sản tương-đương-với-đồng-mỹ-kim (dollar-denominated) đi, nó có thể gây sự mất giá của đồng đô-la Mỹ.

Bergsten nói tiếp, “Khả năng đồng dollar sụt giá bất ngờ quả thực là hiểm họa cao nhất trước mắt bắt nguồn từ sự thâm thủng ngân sách quốc gia và đây là lý do thuyết phục nhất buộc chúng ta phải kịp thời có hành động đối phó.”

Cuối năm 2006, giới đầu tư của Trung Quốc đang giữ 350 tỷ đô-la các loại trái phiếu của chính phủ của Hoa Kỳ tương đương với 15% của tổng số các loại trái phiếu chính phủ mà giới đầu tư thế giới đang có trong tay. Giới đầu tư Nhật Bản nắm giữ số lượng lớn hơn của Trung Quốc (640 tỷ đô-la). Anh Quốc và Nhật Bản cộng lại là 848 tỷ đô-la, hơn gấp đôi số lượng của Trung Quốc nắm giữ.

Tuy nhiên, Trung Quốc là chủ nợ có nhiều vấn đề với Mỹ vì những xung đột có tính cách chiến lược giữa hai nước. Sự kiện Trung Quốc thử nghiệm vũ khí chống vệ tinh nhân tạo gần đây nhất là một thí dụ.

Phương sách nào giải cứu?

Nếu cho rằng sự phụ thuộc nhiều vào Trung Quốc là một bài toán khó giải thì bà Clinton sẽ đưa đáp án bài toán này như thế nào?

Nếu là Tổng thống bà Clinton sẽ làm gì để “hạn chế các chính phủ nước ngoài không được làm chủ quá lớn của Hoa Kỳ?” Và bao nhiêu là quá nhiều, là quá lớn?

Trả lời phỏng vấn với CNBC bà Clinton nói “bây giờ chưa phải là thời điểm” để yêu cầu Quốc hội thông qua một dự luật hạn chế số lượng nợ thuộc chủ nợ nước ngoài.

Các chuyên gia kinh tế tán thành việc Mỹ cần giảm bớt sự phụ thuộc vào Trung Quốc và các quốc gia khác bằng ba phương pháp: nâng cao mức thuế, giảm thiểu chi tiêu của chính quyền liên bang, kêu gọi dân Mỹ tiết kiệm nhiều hơn hoặc áp dụng cả ba phương pháp đó.

Clinton chưa có chi tiết gì cho ba phương án này. Trong buổi phỏng vấn với CNBC hôm thứ Năm Hillary Clinton nhắc đến sự cần thiết cho “trách nhiệm chi thu tài khóa của chính phủ” nhưng không tuyên bố kế hoạch chi tiết của bất cứ cắt giảm chi
tiêu ngân sách hay gia tăng mức thuế nào.

Trong lá thư gởi cho hai ông Paulson và Bernanke, Clinton cũng đề cập đến một nước cờ không tốn công sức lắm, yêu cầu chính phủ “báo động khi các chủ nợ nước ngoài thu mua công phiếu đến mức 25% tổng sản lượng quốc gia” và yêu cầu soạn sẵn một kế hoạch hành động nhằm đối phó chuyện nợ nần này.

Thuyết dân túy, tập đoàn Wal-Mart và Trung Quốc là đề tài của 2008

Một chiến lược gia thuộc đảng Dân Chủ hiện không làm việc với bất cứ một ứng viên Tổng thống nào nói rằng ông hy vọng chủ đề của mùa tranh cử tổng thống năm 2008 sẽ là “chủ nghĩa dân túy kinh tế phản ảnh mối lo âu của người dân Mỹ về nền kinh tế, nói chung, và tương lai các thế hệ con cháu của họ sau này bị đổi chác hay bán đi cho các quốc gia khác, như Trung Quốc chẳng hạn.”

Ông ta nói, “Thực tế của hiệp ước thương mại một chiều với Trung Quốc đã đưa đến hậu quả mất hàng triệu việc làm lương cao ở các hãng xưởng để đổi lấy lợi nhuận cho một vài công ty, Wal-Mart chẳng hạn, trong lúc làm Hoa Kỳ ngày càng yếu đi.”

Nhà chiến lược này cho rằng Clinton có vấn đề khi phải đối phó với vấn đề Trung Quốc, ông nói, “Không có một ứng cử viên nào có nhiều nhược điểm hơn về vấn đến Trung Quốc và tập đoàn Wal-Mart hơn Clinton.” Tại sao? Vì Clinton đã từng là một thành viên trong hội đồng quản trị của tập đoàn Wal-Mart và vì, khi là Tổng thống, chồng bà, Bill Clinton đã thuyết phục Quốc hội Hoa Kỳ cho Trung Quốc quan hệ mậu dịch bình thường vĩnh viễn và ủng hộ Trung Quốc gia nhập WTO một cách dễ dàng vào năm 2000.

Và từ đó đến nay Trung Quốc trở nên một phần trong hệ thống thương mại toàn cầu, và nhờ đó mức xuất khẩu của Trung Quốc vào Hoa Kỳ được cất cánh bay cao.

Tuy nhiên, nếu dòng điệu của khối cử tri 2008 là chống Trung Quốc, thì những đối thủ tranh cử tổng thống khác của đảng Dân Chủ lần này như các thượng nghị sĩ John Edwards, Chris Dodd, và Joe Bidden đều đã bỏ phiếu chấp thuận cho chính quyền Clinton ký kết hiệp ước mậu dịch với Trung Quốc cũng không tránh được hệ lụy (vì đã “ủng hộ” đến Trung Quốc).

Nhìn lại thỏa hiệp năm 2000

Nguyên phó tổng thống Al Gore, người mà một số đảng viên đảng Dân Chủ thấy như là một ứng viên có khả năng hấp dẫn có thể vào cuộc đua năm 2008, cũng là người dẫn đầu chính quyền Clinton trong cố gắng thông qua hiệp ước mậu dịch với Trung Quốc.

“Nếu chúng ta mở rộng thị trường của Trung Quốc,” ông tiên liệu vào năm 2000, “sự khai phóng và mở cửa của thị trường TQ tất nhiên sẽ tạo ra áp lực mở rộng những điều kiện (về chính trị và xã hội) ở đó.

Một số công đoàn lao động đồng minh của đảng Dân Chủ đã thất vọng ê chề với Gore. Stephen Yokich, chủ tịch Công đoàn ngành chế tạo xe hơi (UAW) năm 2000 nói, “Lúc thì ứng cử viên tổng thống Gore tuyên bố tin tưởng vào các giá trị nhân quyền, quyền của công nhân… Khi khác, thì Phó Tổng Thống Gore lại bắt tay với nhóm chủ lợi và hát bài ca tụng thỏa ước gia nhập WTO mà Hoa Kỳ-Trung Quốc ký kết.”

Trong các ứng viên thực thụ hay có triển vọng của đảng Dân Chủ năm 2008 chỉ có hai người đã bỏ phiếu chống lại hiệp ước mậu dịch với Trung Quốc và giờ đây trông hấp dẫn với các cử tri có khuynh hướng chống Trung Quốc là Thượng nghị sĩ Russ Feingold (Wisconsin, đã rút ra khỏi vòng đua vào nhà Trắng), và Dân biểu Dennis Kucinich (Ohio) thì đang ráo riết vận động.


Nguồn: Clinton sounds the China alarm as ’08 issue, By Tom Curry National affairs writer, MSNBC, March. 2, 2007.
(1) Trong G7, chỉ có Canada không bị thâm thủng ngân sách quốc gia trong tài khóa 2005, 2006 và 2007 (chỉ tiêu đề ra). Nhật bản là quốc gia bị thâm thủng ngân sách cao nhất nếu tính ra tỷ lệ phần trăm với GDP.
(2) Trong suốt giai đoạn của chiến tranh thế giới thứ 2, tỷ lệ nợ quốc gia của Hoa Kỳ lên mức 120% so với GDP. Theo CIA fact book thì cuối năm 2006, Nhật bản có tỷ lệ nợ quốc gia so với GDP là 170%, Ý đại Lợi (Italy) 107,8%, Singapore 100.6%, Đức 66,8%, Pháp 64,7%, VietNam 47,5% ( tương đương 21 tỷ đô-la), Canada 30,20% ( vì được thăng dư ngân sách quốc gia trong tài khóa 2005 và 2006 nên số nợ quốc giảm xuống hơn 30% so với 2004) , HongKong 1%, USA 64,7% v.v… Vấn đề đặt ra là bao nhiêu phần trăm của tổng số nợ quốc gia trong tay các nhà đầu tư nước ngoài? (Nguồn: External debt).

– Theo ghi nhận của Wallstreet chỉ số Dow Jones ngày đó giảm 413 điểm tức hơn 3% và Nasdaq giảm hơn 60 điểm tức gần 3%.
– Công trái phiếu của chính phủ Hoa Kỳ (khác với trái phiếu của các công ty) gồm nhiều loại khác nhau và được chính phủ phát hành tùy theo giai đoạn và yêu cầu của tình hình kinh tế, chính trị. Điển hình là T-Bill: thời gian đáo hạn là 1năm hoặc ngắn hơn. Không có tiền lời. Tuy nhiên được bán ra với giá thấp hơn giá được in khi phát hành, công trái phiếu này bán cho các nhà đầu tư tại bản xứ và các nhà đầu tư nước ngoài.
T-Notes: thời gian đáo hạn là 2-10 năm và được chia tiền lời định kỳ 6 tháng. Khi đáo hạn thì chính phủ sẽ hoàn lại 100% giá trị của công trái phiếu này như lúc phát hành.
T-Bonds: là loại công trái phiếu có thời gian đáo hạn lâu nhất, từ 10-30 năm và được trả tiền lời định kỳ mỗi 6 tháng. Loại này đã bị ngừng phát hành năm 2001 nhưng 2006 chính phủ Hoa Kỳ phát hành trở lại.
– Theo báo cáo của bộ tài chánh liên bang Hoa Kỳ, tính đến tháng 6 năm 2006, chủ nợ lớn nhất của Hoa Kỳ là chính phủ liên bang Hoa Kỳ giữ 52% của tổng số nợ 8.500 tỷ đô-la. Những cơ quan thuộc chính phủ liên bang (chủ nợ) này gồm: quỹ tiết kiệm đầu tư An sinh xã hội và Y tế. Chính quyền của các tiểu bang Hoa Kỳ 467 tỷ đô-la, các tổ chức đầu tư cá nhân 423 tỷ đô-la, các quỹ hưu trí tư nhân và công cộng 319 tỷ đô-la, quỹ đầu tư liên danh 243 tỷ đô-la, các công ty bảo hiểm 166 tỷ đô-la, các ngân hàng tài chính và công đoàn tài chính 117 tỷ đô-la.
Phần còn lại khoảng $2.230 tỷ đô-la là nợ các nhà đầu tư nước ngoài: Nh
t bản: $644 tỷ, Trung Quốc $350 tỷ, UK $239 tỷ và các quốc gia xuất khẩu xăng dầu vào Mỹ $100 tỷ và nhiều quôc gia khác. (Nguồn: MAJOR FOREIGN HOLDERS OF TREASURY SECURITIESHistorical Debt Outstanding – Annual 2000 – 2006)

Older Entries

Nghiên cứu lịch sử

Các bài nghiên cứu, biên khảo và dịch thuật các chủ đề về lịch sử

Le Minh Khai's SEAsian History Blog

Always rethinking the Southeast Asian past

trinhythu

Trịnh Y Thư WordPress.com site

trandangtuan.com

Men lá rượu ngô trong

4th Avenue Café

Free non-fiction translation

WordPress.com

WordPress.com is the best place for your personal blog or business site.

Trương Thái Du's Blog

Văn chương thiên cổ sự - Đắc thất thốn tâm tri...

No More Goat Soup

No goats were harmed in any way while making this blog. (We did kill all the sheep though)