Ai sẽ đòi lại chùa Báo Thiên?

11 phản hồi

TỪ CHÙA BÁO THIÊN TỚI NHÀ THỜ LỚN HÀ NỘI
Nguyễn An Tiêm
đăng ngày 01/01/2007

Lời dẫn của GĐ – Để phát triển nước Chúa trên khắp thế giới, đặc biệt là tại các vùng kém “văn minh”, một trong những sách lược bất di bất dịch của Giáo hội Công giáo La Mã là phải thủ tiêu nền văn hóa bản địa, mà trong đó, tôn giáo chủ đạo của dân tộc là mục tiêu đầu tiên phải tiêu hủy. Tại Việt nam, từ hơn bốn thế kỷ nay, tôn giáo đó là Phật giáo. Trong quá trình thực hiện sách lược nầy, biểu hiện phá hoại văn hóa vật thể rõ ràng nhất là cấu kết với chính quyền đô hộ Pháp để chiếm đất chùa, phá hủy chùa, rồi xây nhà thờ Công giáo trên “chiến lợi phẩm” đó.

Vương cung Thánh đường (Nhà thờ Đức Bà) tại Sài Gòn, nhà thờ La Vang tại Quảng Trị và nhiều nhà thờ khác trên khắp ba miền đất nước đã là những chứng tích phá hoại văn hóa không chối cải được của tội ác chống lại nhân loại (crime against humanity) của Vatican tại Việt Nam. Chiêu bài “đối thoại tôn giáo” và “hòa đồng tôn giáo” để thích nghi với thời đại mà Công đồng Vatican II (1962-1965) thường rêu rao chỉ là những xão ngôn che đậy ý đồ chống phá các tôn giáo khác. Vì gần 30 năm sau Công đồng, ý đồ đó vẫn lại được xác định mạnh mẽ hơn và tinh vi hơn trong Tông huần Á châu (Ecclesia in Asia) vào năm 1991 và Crossing the Threshold of Hope vào năm 1994 của chính Giáo hoàng John Paul II, người định hướng cho sách lược truyền giáo của Công giáo La Mã trong thiên niên kỹ mới, và đang được Vatican chuẩn bị để phong thánh.

Bài viết “Hà Nội: Từ Chùa Báo Thiên Tới Nhà Thờ Lớn” mà chúng tôi trích lại sau đây từ nguyệt san KHỞI HÀNH năm thứ xi – số 122 – tháng 12.2006 (Midway City, California – USA) xin được là một lời nhắc nhở, và cũng là một cảnh báo, cho những ai còn nặng lòng với sự sống còn văn hóa của dân tộc ta.

hinh1
Chùa Báo Ân và Nhà Thờ Lớn Hà Nội (nhà thờ Saint Joseph) chụp lại trên bưu thiếp in năm 1905, do bác sĩ Ch. E. Hocquard chụp vào khoảng 1884-1885. Chùa Báo Thiên, chùa Báo Ân … bị Pháp tàn phá trong khoảng thời gian ngay sau khi chụp, hoặc môt hai năm kế tiếp. Nhà thờ lớn Hà Nội là xây trên nền chùa Báo Thiên cũ. Hình và chú thích của Nguyễn An Tiêm, Khởi Hành.

HÀ NỘI : TỪ CHÙA BÁO THIÊN TỚI NHÀ THỜ LỚN
(Phần in đậm để nhấn mạnh là của GĐ)

– Nhà thờ lớn Hà Nội có từ bao giờ?

– Nhà thờ lớn Hà Nội hay nhà thờ Saint Joseph bắt đầu xây từ năm 1884, khánh thành ngày 24.12.1986.

– Đất xây nhà thờ St Joseph là đất công hay đất tư?

– Tại địa điểm này, năm 1057, thế kỷ XI, vua Lý Thánh Tông cho khởi công xây tháp Đại Thắng Tư Thiên, gọi tắt là Tháp Báo Thiên, thuộc nền Chùa Sùng Khánh, hay Chùa Báo Thiên, kinh đô Thăng Long. Theo nhiều tài liệu khác nhau thì trong khi Tháp Báo Thiên bị phá để xây Nhà thờ lớn thì Chùa Báo Ân cũng bị phá để xây Nhà Bưu Điện Hà Nội. Cả hai ngôi chùa này đều là hai chùa lớn bên hồ Hoàn Kiếm.

– Có tài liệu nào viết về vụ phá chùa để xây cất nhà thờ này không?

– Có. Gần nhất là một bản tin trong Thời Sự Khởi Hành số 66, tháng 4.2002 (số báo đặc biệt in màu nguyên hai trang KH Bản Đồ Việt Nam 1838 là năm lúc Pháp chưa đánh chiếm Việt Nam.)

Xin trích dẫn lại như sau:

“Thực dân Pháp cũng như bọn bành trướng phương Bắc luôn luôn muốn hủy diệt văn minh sông Hồng (cái nôi của Việt Nam), bằng cách này hay cách khác, kể cả việc o bế, bắt tay với các bộ lạc sau lưng miền Bắc, sau lưng các triều đại giòng dõi Hai Bà, Phùng Hưng, Ngô Quyền, Lý Trần Lê, … [là các triều đại đã nổi lên dựng nền độc lập cho V.N.] để chọc vào cạnh sườn Phong Châu, Tản Viên, lấp sông Tô Lịch, đổi dòng sông Hồng, sông Bạch Đằng … và phá Hòn Vọng Phu ở Đồng Đăng, xiết nợ Ải Nam Quan, Thác Bản Giốc …[Không phải vô tình mà cả Giang Trạch Dân lẫn Hồ Cẩm Đào (tháng 11.06) khi đến Việt Nam đã đáp xuống Đà Nẵng, xuống bơi ở China Beach Đà Nẵng] …

“Đọc lại sách vỡ cũ, người Việt yêu nước Việt thở dài: biết bao đền đài kiến trúc cổ bị phá sập, … như ngôi chùa Báo Thiên nguy nga và tôn nghiêm ở thủ đô Thăng Long đã bị giám mục Puginier chọn, và trên đó mọc lên một nhà thờ công giáo.

“Trong bài nói về vai trò của Viện Viễn Đông Bác Cổ Pháp với các di tích lịch sử Thăng Long, viết bởi France Mangin, có đọan sau đây của André Masson (Hà Nội dưới thời kỳ chinh phục 1873-1888):

“Phải h
ủy ngối chùa và chiếm đất
vào cái thời gọi là chinh phục mà chúng ta đã trải qua đó, nhìn bề ngoài thì không có gì dễ dàng bằng, nhưng tôi cảm thấy một sự ghê tởm nào đó khi phải lạm dụng quyền lực một cách như vậy.”

“Bài báo viết: “Sự đắn đo của ông Bonal đã được xoa dịu nhờ sự giúp đỡ của tổng đốc Nguyễn Hữu Độ và những trở ngại trong việc phá dỡ ngôi chùa đã được giải quyết nhanh chóng … Tiếp đó miếng đất đã được cho không Đoàn Truyền Giáo, và ông Bonal đã “hài lòng giao lại cho vị giám mục giấy tờ chính thức xác nhận quyền sỡ hữu (miếng đất).”

“Giám mục Puginier mở cuộc Xổ Số lấy tiền xây ngôi nhà thờ trên nền Chùa Báo Thiên, và hoàn thành ngôi nhà thờ năm 1886: đó là Nhà Thờ Lớn hiện nay tại Hà Nội.”

Thấy việc này thành công, trong những năm tiép theo, nhiều ngôi chùa khác tại Hà Nội bị phá hủy: chùa Táo (xây vào thế kỷ X, chùa Liên Trì (hay chùa Báo Ân, xem hình) đền Huyền Trân (xây thế kỷ XVI) …” [Phần dịch bài của France Mangin là của Đào Hùng.]

– Được gọi là một trong “tứ đại khí” của Việt Nam, tháp Báo Thiên như thế nào, và vì sao nay không còn nữa?

– Tháp Báo Thiên cao 20 trượng, gồm 12 tầng, ngọn bằng đồng hình tựa ngọn núi, cao chót vót trên nền trời Thăng Long. Tháp được xếp vào một trong bốn Đại Nam Tứ Khí, bốn vật báu của đất nước; mà ba (kiến trúc điêu khắc) qúi giá khác là chùa Quỳnh Lâm, vạc Phổ Minh, và chuông Quy Điền. Sự tích tháp Báo Thiên đã được hai danh sĩ Phạm Đình Hổ, Nguyễn Án viết như sau trong sách Tang Thương Ngẫu Lục:

“Cây Tháp Đại Thắng Tư Thiên tại chùa Báo Thiên dựng từ đời vua Lý Thái Tông (1054-1072). Tháp này xây 12 tầng, cao mấy chục trượng … Khoảng năm Tuyên Đức nhà Minh, Đức Thái Tổ Hoàng đế tiên triều [Lê Lợi] tiến binh vây Đông Đô. Viên quan giữ thành là Thành-sơn-hầu Vương Thông phá hủy cây tháp [lấy vật liệu] chế ra sung đồng để giữ thành [1414]. Tiên triều nhân nền cũ, đắp các núi đất phủ lên trên … Năm Giáp dần [1791] lại cho đào lấy những gạch đá ở nền tháp cũ để tu bổ thành lũy Thăng Long. Khi phá nền tháp thấy có tám pho tượng Kim Cương chia ra đứng bốn cửa, ngoài ra còn có tượng người tiên, chim muông, cả đến những giường ghế, chén bát, các thứ lặt vặt khác không kể xiết, toàn bằng đá

Những hòn gạch hoa, hòn nào cũng thấy khắc những chữ “Lý gia đệ tam đế, Long thụy Thái Bình [1054-1058], tứ niên tạo,” tức là “Đúc trong năm thứ tư niên hiệu Long thụy Thái Bình đời vua thứ ba triều nhà Lý.”

– Có sử sách gì khác viết về Tháp Báo Thiên không?

– Có. Nhà thơ Phạm Sư Mạnh (thế kỷ XIV), người Hải Dương, tiến sĩ đời vua Trần Minh Tông [1314-1329], người cực kỳ hay chữ, đã làm bài thơ như sau về Tháp Báo Thiên:

Trấn áp đông tây củng đế kỳ

Khuy nhiên nhất tháp độc nguy nguy

Sơn hà bất động kình thiên bút

Kim cổ nam ma lập địa chùy

Phong bãi chung linh thời ứng đáp

Tinh di đăng chúc dạ quang huy

Ngã lai dục tủy đề thi bút

Quản lãnh xuân giang tác nghiễn trì.

Nhà thơ Vô Ngã Phạm Khắc Hàm thoát dịch như sau trong tập Thơ Văn Lý Trần mà ông đang biên soạn:

ĐỀ THÁP BÁO THIÊN

Trấn áp đông tây giữ đế kỳ

Một mình cao ngất tháp uy nghi

Chống trời cột trụ non sông vững

Sừng sững ngàn năm một đỉnh chùy

Chuông khánh gió đưa vang đối đáp

Đèn sao đêm đến rực quang huy

Đến đây những muốn lưu danh tính

Mài mực sông xuân viết ngẫu thi.

Các tài liệu sau này cũng có, song chỉ có tính cách địa dư chí. Ví dụ, trong Từ điển đường phố Hà Nội của Đại Học Hà Nội xuất bản có cho biết rằng Chùa Báo Thiên thuộc thôn Báo Thiên, tổng Tiên Túc, (sau đổi là tổng Thuận Mỹ), huyện Thọ Xương. Sách này viết:

Nền nhà thờ hiện nay nguyên là nền đất chùa Báo Thiên rất nổi tiếng, ở đây có ngôi tháp gọi là Tháp Báo Thiên. Ngoài ra tại phố này (Phố Nhà Thờ, Avenue de la Cathédrale), còn có một ngôi chùa cổ, là Chùa Bà Đá. Tương truyền vào đời Lê Thánh Tông ở thôn Báo Thiên Tự có một người đào được một pho tượng Phật Bà bằng đá. Người đó liền lập một miếu nhỏ để thờ. Sau dân làng thấy thiêng mới xây thành ngôi chùa và gọi là chùa Bà Đá, tên chữ là Linh Quang Tự. Pho tượng đã bị mất trong một vụ cháy thời Pháp thuộc.”

NGUYỄN AN TIÊM

Tài liệu tham khảo:

-Nguyễn Bá Lăng: Chùa xưa tích cũ, Lá Bối, S.J., 1988; Kiến trúc Phật giáo V.N., Hoa Cau, 1989. Phạm Đình Hổ – Nguyễn Án: Tang Thương Ngẫu Lục, Sài Gòn, 1962. Trần V Giáp: Lược truyện các tác gia V.N., Hà Nội, 1962. Ng Khắc Cần – Ng Ng Đi
p: Encyclopedia Hanoi Vietnam, 2000. Ng Hoài – Ng Loan – Ng Tuệ: Từ điển đường phố Hà Nội, 2000. Tô Hoài, Ng Vinh Phúc: 1000 Năm Thăng Long Hà Nội, 2000. Và các Carte Postales của Charles Edouard Hocquard về Tonkin, 1884-1885. Đào Hùng, Tạp chí Xưa & Nay, 2002.

BIÊN KHẢO Lăng mộ Triệu Văn Vương

4 phản hồi

BẢO TÀNG LĂNG MỘ TRIỆU VĂN VƯƠNG TẠI QUẢNG CHÂU

Đa số bản đồ du lịch phổ thông của thành phố Quảng Châu, tỉnh Quảng Đông Trung Hoa đều có giới thiệu về Bảo tàng lăng mộ kiểu Tây Hán của Nam Việt Triệu Văn Vương. Đây là một địa chỉ văn hóa cực kỳ phong phú và giá trị trong vùng Hoa Nam. Bảo tàng nằm tại số 867 đường Giải phóng bắc, hơi chếch về bên trái cổng chính công viên Việt Tú nổi tiếng.

Năm 1983, khi san một quả đồi nhỏ để xây dựng các công trình dân sinh, tình cờ một ngôi mộ đá rất xưa, không hề có dấu tích bị xâm phạm, được phát lộ. Ngành khảo cổ học vào cuộc và thật bất ngờ, những di vật tìm được cho thấy đây là nơi yên nghỉ hơn hai ngàn một trăm năm qua của Nam Việt Vương Triệu Hồ. Triệu Hồ có thể là con Trọng Thủy [1], cháu nội Triệu Đà (? – 137 trước CN), ông ở ngôi được 16 năm (từ 137 đến 122 TCN) [2].

Mộ Văn Vương nằm lẹm vào triền đồi, gồm nhiều tảng đá xếp chồng lên nhau tạo thành không gian an táng bên trong. Cửa mộ là hai phiến đá được mài đẽo khá vuông vắn. Đà cửa cũng bằng đá, đã gẫy nhưng chưa sập hẳn, có lẽ do không chịu nổi sức nặng của khối đất đỏ bazan bên trên sau nhiều lần thấm đẫm nước mưa suốt hơn hai thiên niên kỷ. Tổng diện tích sàn mộ trên dưới 25 thước vuông, chia làm 6 khu gồm sảnh chính, gian quàn thi thể và 4 phòng chứa đồ tùy táng.

Xác Văn Vương nằm trong quan tài gỗ 2 lớp, được tẩm liệm kín bằng những mảnh ngọc mỏng hình chữ nhật, liên kết với nhau bởi chỉ tơ. Tuy nhiên mọi chất liệu hữu cơ đã bị phân hủy hoàn toàn. Ngay đến bộ xương người nay chỉ hiện hữu vẻn vẹn hai mảnh hàm còn nguyên bộ răng khá hoàn chỉnh.

Năm 1988, một viện bảo tàng đồ sộ được khánh thành trên chính ngọn đồi này. Người ta giữ nguyên hiện trạng hầm mộ, làm vòm che, đường dẫn để khách có thể bước xuống tham quan. Hơn một ngàn hiện vật còn khá nguyên vẹn lấy ra từ mộ được bảo quản và trưng bày trong các gian bảo tàng xây dựng phía sau. Nó phản ánh một cách trung thực, khách quan và rất đầy đủ chi tiết về chính trị, kinh tế và văn hóa của một triều đại nổi bật ở Hoa Nam, vốn không được tín sử Trung Hoa mô tả kỹ lưỡng cũng như xem trọng đúng mức.

Các di vật chính hiện trưng bày: Khá nhiều thao ấn [3] bằng vàng và ngọc khắc chữ triện như Long kim ấn “Văn đế hành tỉ”, Quy kim ấn “Thái tử”, Ngọc ấn “Triệu muội” (Muội có khả năng là tên khác của Triệu Hồ hoặc một danh xưng khiêm tốn của Nam Việt Vương với triều đình Tây Hán); các loại đồ gốm, nồi đồng, búa sắt, rìu sắt, dao, rựa, lò nướng thịt, lưới đánh cá, tiền đồng… Khánh đá, chuông đồng, tù và bằng ngọc bích… Mực tàu, nghiên mực… Thuốc bắc, sừng tê giác, ngọc trai… Bình nước, bình rượu, ly chén đĩa bằng đồng và ngọc, khuy áo vàng bạc đồng, gương đồng, tráp bạc, phù ngọc, chân bình phong đồng, tay nắm cửa đồng, đèn đồng, chân nến ngọc, vật trang sức bằng vàng bạc đồng ngọc bích ngọc trai; tượng mỹ thuật gốm, đá, đồng và ngọc, đỉnh trầm… Áo giáp sắt, giáo, mác, thương đao bằng kim khí, mũi tên đồng, kiếm sắt chuôi nạm ngọc… Tất cả đồ vật nói chung được chế tác ở một trình độ khá tinh xảo, thẩm mỹ cao, hoa văn đẹp nhưng nhỏ bé và giản dị [4].

Xét về quy mô, mộ Nam Việt Văn Vương khá khiêm tốn so với nhiều ngôi mộ cùng thời khác từng phát lộ ở Trung Hoa. Nó cho thấy khu vực Bách Việt nói chung và Nam Việt nói riêng còn kém phát triển ở khía cạnh nào đó, trong bức tranh toàn cảnh từ thời Tây Hán trở về trước.

Dù sao đi nữa, ở thì hiện tại di tích mộ Nam Việt Văn Vương chứa đựng những giá trị lịch sử vô giá cho các dân tộc Bách Việt xưa kia và người Việt Nam hiện đại. Giữa bối cảnh các vùng đất của Nam Việt cũ như Quảng Tây, Quảng Đông đã bị Hán hóa đến tận chân lông kẽ tóc, sự độc lập của Việt Nam ít nhiều sẽ giúp việc nghiên cứu quá khứ khách quan và công bằng hơn. Ví như tên đầy đủ của bảo tàng hiện nay là : Tây Hán Nam Việt Vương mộ bác vật quán; chữ “Tây Hán” được khuyên hiểu là “kỷ Tây Hán, thời Tây Hán, kiểu Tây Hán”. Song tác giả vẫn thấy chữ này như một chiếc cũi vô hình, trói buộc nhận thức, định dạng di tích mộ Nam Việt Văn Vương trong vòng cương tỏa của nền văn hóa Hán tộc, mặc dù ý chí độc lập và tự cường gần 100 năm của các triều đại Nam Việt Vương là không thể phản bác. Bằng chứng là từ thời Triệu Đà, Nam Việt đã chịu xưng vương trước nhà Hán nhưng Triệu Hồ vẫn sử dụng ấn “Nam Đế hành tỉ”, chữ Đế xem như một biểu tượng bất khuất.

Tuy còn những bất đồng thuận trong việc nhận định vai trò 5 đời vua Nam Việt giữa dòng lịch sử Việt Nam, song sử gia Việt Nam vẫn nên có những nghiên cứu nghiêm túc, đầy đủ về ngôi mộ này. Chẳng hạn có gì khác nhau giữa bó tên có mũi bằng đồng còn như mới trong viện bảo tàng đã nêu và loại nỏ và tên do Cao Lỗ, tướng của An Dương Vương chế tạo ra? Nếu truyền thuyết An Dương Vương là có thực, hiển nhiên nhiều di vật trong mộ Triệu Hồ sẽ là vật chứng so sánh có một không hai với những khám phá khảo cổ Việt Nam về An Dương Vương và Loa thành trong tương lai.

Quảng Châu nay chính là Phiên Ngung xưa, kinh đô Nam Việt. Nhìn những cao ốc tân kỳ thi nhau vươn lên trời cao, núi đồi bị bạt dần, lò
ng người không khỏi tiếc nuối. Ngung sơn, nơi có mộ Nam Việt Vương Triệu Đà chắc ở đâu đó trong lòng thành phố [5]. Mong những cọc móng các công trình xây dựng đồ sộ đừng phạm phải hài cốt Triệu Đà. Tuy nhiên chính những khối bê tông muôn hình muôn vẻ kia đang muốn vĩnh viễn che giấu tích xưa, người cũ. Thêm nhiều yếu tố tinh thần của con người và xã hội mới, vô hình chung hiện tại dường như đã đoạn tuyệt với quá khứ, bằng việc gia cố và chôn chặt những mộ phần cổ kính một cách chắc chắn hơn bao giờ hết.

Chú thích:

[1] Nói “có thể” là vì: Các sách sử xưa nay ở VN đều cho rằng Trọng Thủy tự tử theo Mỵ Châu vào năm 208 trước CN, năm An Dương Vương bại trận trước Triệu Đà. Như thế ít nhất Triệu Hồ phải sinh ra cùng năm đó. Vậy đến năm 122, khi mất, Triệu Hồ đã 86 tuổi. Xem hàm răng còn nguyên vẹn trong mộ sẽ thấy bất thường. Đại Việt sử ký toàn thư (NXB KHXH – Hà Nội 1993), Ngoại kỷ, Quyển 2 (phần Văn Vương) ghi nhận Triệu Hồ mất năm 52 tuổi có vẻ hợp lý với di cốt nhưng mâu thuẫn với những niên biểu khác trong cùng kỷ ấy.

[2] Các niên biểu ở đây đều lấy từ phụ chú của Viện Bảo Tàng Lăng mộ Nam Việt Vương tại Quảng Châu. Có vài khác biệt so với Việt sử.

[3] Thao ấn là loại ấn nhỏ để đeo, có dây choàng vào cổ. Tiếng Hán hiện đại đùng từ “Nữu ấn” để chỉ “Thao ấn”.

[5] Khâm định Việt sử thông giám cương mục (NXB GD Hà Nội 1998), Tiền biên, Quyển 1, ghi chú : Sách Thái bình hoàn vũ ký của Nhạc Sử đời Tống, mô tả Ngung Sơn chỉ cách Huyện lỵ Nam Hải (tức Phiên Ngung) 1 dặm về phía bắc.

[4] Theo tôi biết trên mạng có ít nhất hai bài đã viết về lăng mộ này. Một của Trương Quang tại http://perso.wanadoo.fr/charite/office1/013quangchau.html và một của Mai Thế Phú tại http://www.sgtt.com.vn/cacsobaotruoc/439_43/p12_13_thamditichviet.htm

Cả hai bài đều mắc những lỗi lớn giống nhau trong mô tả lăng mộ, và có khả năng bài thứ hai là bản “xào” từ bài thứ nhất. Tuy nhiên cũng nhờ thông tin từ hai bài này mà tôi đã tìm đến được Viện bảo tàng.

PHÊ BÌNH Đọc Linh sơn của Cao Hành Kiện

Để lại phản hồi

(Chú ý hình trên là Lý Nhuệ – Nhà văn TQ tôi yêu thích, không phải họ Cao)

Khép lại 81 chương của Linh Sơn [1] tôi mới hiểu mình chỉ bắt đầu đọc truyện. Nói đây là 81 truyện ngắn in cạnh nhau thì hơi quá. Thực ra, dễ thấy chúng cố ý rời rạc. Độc giả phải biến mình thành kẻ đồng sáng tác với nhà văn, đây là công việc thật nhọc nhằn.

Tiểu thuyết hiện đại là vậy. Nó kén công chúng nhưng luôn giả vờ khuất phục ngoại cảnh bằng các tiểu đoạn đơn lẻ. Nó hầu như không có mở đầu và chẳng thèm kết thúc. Chỉ cần đọc xong chương đầu, một cú điện thoại không chờ đợi sẽ ném nó lăn lóc giữa chồng nhật báo, đặc san đầy tin tức nóng hổi và các khung quảng cáo bắt mắt. Những ngày sau, trong khoảng khắc hiếm hoi vô định, bạn lôi tiểu thuyết ấy ra từ cuối đống ấn phẩm hỗn độn, bạn có thể bắt đầu đọc tiếp chương hai, hoặc nhẩy đến hẳn chương 52 cũng chẳng sao.

81 chương sách của nhà văn kiêm họa sĩ họ Cao chứa 81 lũy thừa 81 nét màu, đan xen, chồng chéo, hòa lẫn mất hút trong nhau rồi lại hiển hiện tinh khiết đến tột cùng ở đâu đó. Hơn thế nữa, bức tranh còn bị che mờ bằng vô số cơn mưa, màn sương, bóng tối và cả rêu phong ướt át hai bên trung lưu dòng Trường giang hùng vĩ. Cộng thêm cơ man những huyền thoại, truyền thuyết, truyện hoang đường, sinh hoạt thần bí, cạnh các con người tận thủy cùng sơn như mới bước ra từ thời ăn lông ở lỗ, bàng bạc sắc màu dân vũ, dân ca nguyên sơ. Linh sơn, do đó, hiện lên thật lung linh hư ảo và có thể nói nó quá quyến rũ.

Luận bàn qua loa vài điểm nhỏ trong quyến sách hơn 20 vạn chữ, bằng vài ngàn chữ, chẳng qua cũng chỉ là trò “thầy bói sờ voi”.

1. Về tên gọi Linh sơn

Ngay chương đầu, chẳng cần dài dòng, họ Cao nói thẳng: “Anh hỏi hắn đi đâu?”, “Linh Sơn”, “Đầu nguồn Vưu thủy” (trang 7). Trên chuyến xe đò đến Linh Sơn, lữ khách nhận thấy: “Người vùng này có ngữ điệu riêng, dù rằng đều là con cháu Viêm Hoàng, chung nến văn hóa, chung nòi giống cả” (trang 6). Linh Sơn của Cao chắc chắn không phải Linh Sơn trong sách bói “Sơn hải kinh”, cũng chẳng hề có ở địa lý chí “Thủy kinh chú”. Mãi đến chương 71 họ Cao mới úp mở về Đại Vũ: “Công lao của ông là nạo vét Hoàng Hà, nhưng tôi hoài nghi lắm” (trang 516), “Đại Vũ trở thành người đầu tiên giết người khác để thỏa mãn ý thích của mình” (trang 517). Sự nghi ngờ ở đây không phải xóa công, Cao toan dời việc trị thủy về lưu vực Trường giang. Vua Đại Vũ thì vậy, còn mẹ Nữ Oa phải lật ngược về chương 58, trang 407: “Khi Nữ Oa tạo ra loài người thì bà cũng tạo luôn nỗi bất hạnh. Con người do gan của Nữ Oa biến thành, sinh ra ở trong máu của đàn bà nên hắn không bao giờ được trong sạch”.

Cổ tích và huyền thoại của dân tộc Trung Hoa nói chung rất rối rắm, nhiều dị bản [2]. Viêm đế (tức Thần Nông) ở phương Nam, từ lưu vực Trường giang trở xuống, bà là vị thần có mình người đầu trâu [3]. Hoàng đế thuộc về phương Bắc, được cường điệu thành vị thần 4 mặt cai quản cả bốn phương, là con đẻ của dòng Hoàng Hà. Văn minh Hoa Hạ khai sinh trên cơ sở thống nhất Bắc – Nam bằng cuộc chiến tranh Nam – Bắc giữa Hoàng đế và Suy Vưu. Suy Vưu là con cháu Viêm đế nhưng đã giành ngôi báu của tiền nhân trước khi khai chiến với Hoàng đế. Suy Vưu thất bại trước Hoàng đế nhưng con người và không gian văn hóa Bắc – Nam đã hòa trộn làm một, cùng xây dựng huyền thoại Nghiêu – Thuấn.

Cao Hành Kiện bám vào bầu vú “phong nhũ” [4] của văn hóa Hoa Hạ để đi tìm Linh Sơn. Đại Vũ (còn có tên khác là Hạ Vũ, người được Nho giáo cho là hiền nhân, được Nghiêu – Thuấn nhường ngôi theo tục truyền hiền) bị xem là kẻ đầu tiên giết người để thỏa mãn ý thích. Cao muốn vượt thoát, chiêm nghiệm giá trị của chủ nghĩa cá nhân, tay chân ông chới với, bản năng đã khiến răng ông vội cắn vào vú mẹ để khỏi rơi xuống vực. Ngày xưa, khi Hoàng đế thắng Suy Vưu rồi, liền hạ lệnh diệt chủng tộc Miêu (dân tộc của Thần Nông, Suy Vưu), bà mẹ hẳn đau đớn lắm. Vì không thể giết hết nhân dân nên Hoàng đế luôn lo ngại về tộc Miêu ở phương Nam.

Tâm thức sâu thẳm của dân tộc Trung Hoa là tâm thức tội lỗi của những đứa con vừa hờn căm cha mình đã giết mẹ, vừa tìm cách chạy tội cho ông. Lạc đường trong mặc cảm ơ đíp văn hóa, Cao đã oán thán Nữ Oa, quy kết Hạ Vũ rồi làm tình với chính mình để sinh ra Linh Sơn. L
inh Sơn là núi thiêng của riêng họ Cao mà thôi, là nơi chủ nghĩa cá nhân tự thấy cần phải phôi thai ra chính nó, bỏ qua hiện thực lịch sử, quên mặc thời hữu và những bước đệm cần thiết. Sự hoang mang của nhân vật đi tìm Linh Sơn trong chương 76 chẳng biết có gần với xét lại không?

Họ Cao đã đi về nơi hoang dã. Ông mong tìm được những bản thể đơn độc để chứng minh cho chủ nghĩa của mình. Ông sợ sệt thứ văn hóa đã được học thuật nâng lên thành kinh sách. Bàn về bài dân ca trinh nguyên Cao bảo: “Chúng không bị các nhà văn làm hư hỏng! Bài ca xuất phát từ linh hồn! Anh hiểu chứ? Anh là người đã cứu một nền văn hóa đấy!” (trang 415 chương 59). Bút pháp phương Tây, một số thủ pháp nghệ thuật phương Tây dù họ Cao đã cố gắng dung nạp làm bạn văn, không giúp ông được mấy. Và để xa lánh thứ “kinh viện” kia, ông, có lẽ vô thức chiếm phần nhiều, đã đến rất gần Lão Tử và Đạo Đức Kinh. Cao không tự mâu thuẫn. Nó chỉ đơn giản cho thấy Cao chưa thành công như nhiều người lầm tưởng. Rõ nhất trong trọn chương kết, chương 81, ông chào người đọc bằng cách diễn nôm văn vẻ và dài dòng tinh túy của Lão Đam: “Đạo khả đạo, phi thường đạo. Danh khả danh, phi thường danh”.

2. “Chúng ta” và “ta”.

Cao bảo từ “chúng ta” là: “kỳ dị và đạo đức giả”, “không có cái gì giả dối hơn”, “khoa trương”, “thứ vờ vĩnh không có thuốc chữa” (chương 52, trang 366). Họ Cao tránh “chúng ta” như tránh hủi. Ông chia “ta” thành nhiều phân thể để phán xét tất cả. Cũng bởi cuộc đời ông, đáng tiếc, từng trải qua dằng dặc năm tháng, nơi những kẻ nhân danh “chúng ta” làm bao điều đáng xấu hổ.

Những cái mạo danh “chúng ta” đã hành hạ Cao, biến ông thành con chim bị thương. Để rồi với tư cách nhà văn, nhà văn hóa, “lương tâm của xã hội” (chương 79, trang 569), ông lại luôn cảnh giác những cành cây cong, mọc ra từ cội rễ văn hóa. Nỗi đau mà Cao ngỡ chỉ quằn quại rên xiết rõ nét nhất trên từng cái “ta”, thực ra trong “chúng ta” nó khủng khiếp không kém. Nó tàn bạo gấp bội vó ngựa Mông Cổ cuối thế kỷ 13, đầu thế kỷ 14. Nó phổ quát hơn sự kỳ thị người Hán trong 100 năm đầu Thanh triều. Nhưng “chúng ta” đã không đầu hàng. Từng phút từng giây “chúng ta” đồng hóa mọi âm mưu nô dịch bằng tính nhân bản trường tồn, để hôm nay trên chính trang viết của Cao, đó là sự thật không thể không đề cặp. Nguyên Huyện trưởng thời Quốc dân đảng bảo: “Bây giờ thì khác! Chẳng phải chúng ta đang sống yên ổn sao?” (chương 57, trang 406).

Căm thù kẻ mạo danh “chúng ta”, Cao căm thù luôn cái “chúng ta” vĩ đại của cả một nền văn hóa. Tôi không rõ Cao có kết kuận văn hóa Trung Hoa là căn nguyên của trò mạo danh kệch cỡm kia không. Anh trai Phục Hy và em gái (chính là bà Nữ Oa luôn ẩn hiện trong hành trình của Cao) sống sót sau nạn nước lụt đã lấy nhau vì cô đơn, vì cái “ta” quá nhỏ bé trước thiên nhiên. Nữ Oa đẻ ra rất nhiều cục thịt be bé. Bà bảo bọc chúng trong bào giấy, rồi leo lên thang trời. Gió thổi mạnh, bào giấy rách toang, các cục thịt rơi vãi khắp mặt đất hóa thành những con người [5]. Ai rơi xuống lá cây thì lấy họ Diệp, rơi xuống khúc gỗ thì mang họ Mộc… Từ đó trên mặt đất mới có những cái “ta” yếu đuối. Nền văn minh nông nghiệp phải quên đi cái “ta” để cùng nhau trị thủy, đắp đê, rồi xây Trường Thành cản vó ngựa Hung Nô.

Hôm nay, ngàn vạn đô thị mọc lên. Khối “chúng ta” bỗng thành vật cản. Những cái “ta” cửa đóng then cài, không chơi với hàng xóm có còn nhớ cha ông họ ngày xưa vẫn dùng “chúng ta” để đổi công cày cấy, trồng trọt, thu hoạch vụ mùa. Hãy để “chúng ta” tự nhiên phân hóa, biến thành những cái “ta” đúng như nó cần cho một lịch sử quần cư đô thị công nghiệp muộn màng của Á Đông. Mọi vội vã hấp tấp, hoặc áp đặt trên cơ sở chạy theo hình mẫu nào đó chỉ làm rối loạn quá trình tiến hóa tất yếu, gây ra những hiểu lầm và xung đột mù quáng.

Lạ là, cái “ta” của họ Cao nhìn bề ngoài thật cô đơn, nhưng hắn chẳng cô độc tí nào. Dòng máu văn hóa cuộn chảy không ngừng nghỉ, nóng hổi, ken dày, đậm đặc trong tâm trí hắn. Không theo trật tự, nhưng hắn lướt qua biết bao cá nhân lừng lẫy của lịch sử Trung Hoa từ Bàn Cổ lập thiên địa, đến Hán, qua Đường, xuôi Minh, tới Thanh và hoàn toàn không muốn dừng lại ở ngày hôm nay. Đằng sau sự bất hủ do lập đức, lập công, lập ngôn của tiền nhân là trùng điệp những thế hệ, những lớp sóng “chúng ta” lớn lao của dân tộc Trung Hoa. Cao phân thân, cuối cùng cũng để thấy “chúng ta” trong cái “ta” nơi ông. Giữa hành trình bị ảo tưởng là vô định, hiếm khi trên đoạn đường thật dài Cao chỉ có một mình. Khi không phân thân được, Cao vẫn rất cần một con người, tức là cần đứng giữa “chúng ta” để nhận thức về “ta”.

3.
nh hưởng và tránh né.

Tagore từng nói đại ý: “Phải biết hấp thụ vẻ đẹp tối thượng của phương Tây mới có thể vô nhiễm trước sự xấu xa cùng cực của chính nền văn hóa đó”. Điều này thật dễ hiểu, âm dương vẫn hòa hợp trong một thực thể. Người Trung Hoa luôn muốn Lão Tử song hành bên cạnh Khổng Tử để kiềm chế tính hiếu thắng và hoành tráng của Nho giáo.

Có người đã chỉ ra, mà tôi không đủ kiến thức để kiếm chứng, về hình thức, vài chỗ trong Linh Sơn Cao bị ảnh hưởng phương Tây rất rõ. Nào là đối thoại phi lý kiểu Beckett (chương 19), nào là tác giả vận dụng phương pháp “nhận diện bản thể” kiểu Roquentin trong Buồn Nôn của Sartre (chương 26) [6]. Theo tôi hình thức là cái bên ngoài, không quan trọng.

Chương 39 và 41, Cao tả về cuộc viễn du vào khu tự trị dân tộc Mèo. Ánh mắt Cao thật lạ lẫm trước cảnh mới, trước lễ hội tưng bừng và những hình ảnh đậm nét bản sắc riêng biệt như đua thuyền rồng, hát giao duyên và mở chợ tình, cúng bái tổ tiên. Điều toát ra trong hai chương sách này, hình như không khác mấy dòng ánh sáng ngạc nhiên háo hức của các bức tranh lão thực dân Paul Gauguin vẽ ở Tahiti, khoảng năm 1891 đến 1893: Những thiếu nữ ở trần, tay nâng niu sản vật nhiệt đới, đôi mắt ngọt ngào hơn cả miếng dưa hấu giữa mùa hạ khô khát. Cao cố gắng hòa mình vào không gian huyền ảo, tuy vẫn thắc thỏm: “… mọi người vào phòng ăn đã bày sẵn tiệc rượu, có cả bia và nước ngọt, chỉ thiếu mỗi khăn ăn” (trang 264). Chẳng biết trong tiệc đêm chiêu đãi của hoàng gia Thụy Điển, sau lễ trao giải Nobel, Cao Hành Kiện xúng xính trong bộ cánh đuôi tôm có sử dụng khăn ăn duyên dáng như một quý tộc Pháp quốc chính hiệu không?

Phụ nữ, dù chỉ là phần nhỏ của con người Cao trong phép phân thân, hay một cuộc đời hư cấu bên cạnh Cao, luôn chứa đựng giùm tác giả triết lý nhục dục. Tôi thấy công thức của nhà văn Nga nào đó “Một cộng một bằng một” ở đây: “Khi một người đàn bà và một người đàn ông ở bên nhau… Thế giới không tồn tại… Chỉ còn lại tình dục” (chương 64, trang 467, 468). Đôi khi tôi nghi ngại sự sùng mỹ phiến diện của Cao: “Tôi rất ghét đàn bà xấu xí, tôi không có cảm tình với chị chút nào” (chương 73, trang 529). Cao có phủ nhận cái “ta” ở một nửa nhân loại hay không, tôi đâu dám chắc. Tuy nhiên khung hình của Linh Sơn có vẻ tươi mát hơn với những người đàn bà đổi chỗ xoành xoạch, rất giống các cô bồ hay bạn gái qua đường sẻ chia nhiệm vụ cao cả của Jame Bond trong loạt phim thị trường “Điệp viên 007”.

Cao nghĩ Đại Vũ là kẻ giết người, thì Cao thừa dũng khí không từ một ai trong lịch sử Trung Hoa. Vậy mà tôi vẫn thấy tiếc, tiếc cho nhà văn Cao Hành Kiện, bậc thầy thượng thừa của kỹ thuật viết. Ông đã vô tình bỏ quên cả trăm năm lịch sử dân tộc Trung Hoa hết bị liệt cường xâu xé lại đến Nhật Bản xâm lăng. Làm sao có thể tính được bao nhiêu người đã nằm xuống dưới đường tên mũi đạn hoặc trong khói thuốc phiện, bao nhiêu tiền bạc bị bóc lột, bao nhiêu đất đai bị cắt nhượng, bao nhiêu bảo vật bị cướp bóc, bao nhiêu di sản văn hóa bị đại bác xóa sổ. Ngay cả hoàng cung Thanh triều cũng không tránh khỏi tan hoang. Ở một công viên nào đó, người phương Tây văn minh nhất thế giới đã treo chiếc bảng “Cấm chó và lũ Trung Quốc”!

Thời thanh niên tràn trề sức sống Cao phải nếm trải đày ải và chịu nhiều khổ nhục. Họ cấm ông cầm viết, luôn xét đoán và đe dọa bỏ tù ông. Đó là vết nhơ không ai có thể phủ nhận. Tuy vậy trong Linh Sơn, đôi khi Cao tỏ ra ngây thơ không thể tưởng tượng: “Nghe nói có đức Hồng y giáo chủ tòa thánh Vatican đến Quảng Châu, thế là ông làm một chuyến đến Quảng Châu mong ngài thỉnh giáo cho đạo lý chân chính của Thiên chúa giáo. Kết quả không những ông không được gặp vị giáo chủ mà còn còn bị nghi ngờ muốn câu kết với người nước ngoài… Một hôm ông bỗng tỉnh ngộ rằng Thiên chúa ở tít trời Tây không thể cầu cứu được, vậy quay về Phật tổ” (Cao kể lại lời của một nhà sư, chương 47, trang 326 và 327). Chi tiết hài hước làm duyên lấy điểm này cố tình quên béng rằng từ thời Thuận Trị, Khang Hy vua Trung Quốc không hề cấm đoán Ki Tô. Thậm chí Khang Hy còn giao mấy hoàng tử cho tu sĩ Ki Tô dạy dỗ, rồi ông định theo Chúa với vài điều kiện tiên quyết. Sau này các tu sĩ dòng thánh Dominique và dòng thánh Francois d’ assisie đã mạt sát tất cả thần học và lễ nghi Trung Hoa, làm triều đình và dân chúng nổi giận, khiến mối giao hảo cũ bị phá vỡ. Sự thiếu tin tưởng lẫn nhau giữa Trung Hoa và Ki Tô giáo nếu không là món nợ lâu đời, thì cũng có căn nguyên từ xa xưa.

Tôi không tin các vị giám khảo khả kính khi xét giải Nobel sẽ lưỡng lự, nếu Cao kể ra những tội ác mà thực dân phương Tây từng tung tóe trên mảnh đất Trung Hoa. Sự thật lịch sử luôn có thể được quan sát bằng con mắt nhân hậu, không thành kiến dân tộc chủ nghĩa. Họ cũng chẳng nỡ hiểu lầm nếu Cao nhìn nhận Thiên chúa giáo khác họ, với đôi mắt Á Đông, nhưng cùng bản th
iện rất con người.

4. Tạm kết luận cho những vấn đề đã nêu

Lịch sử nói chung là nhận thức thời gian đã qua trên cở sở chuỗi luận của kẻ chiến thắng, kẻ mang lợi thế. Như vậy tinh chất nguyên nghĩa nhất của sử liệu chính là ánh xạ phát ra từ tâm thức của những cá nhân, những thân phận đơn lẻ, những cái “ta” trong lũ “chúng ta”.

Lịch sử trong văn chương đôi khi chỉ cần phục vụ cho văn chương mà thôi. Tuy nhiên Cao đã viết: “Lịch sử loài người nếu chỉ do những qui luật không thể biết điều động bên trái bên phải, những trào lưu mù loà đến rồi lại đi, mà chẳng nghe ra tiếng nói khác nhau của cá nhân thì thật là buồn. Theo nghĩa đó, văn học chính là bổ sung cho lịch sử. Những qui luật lớn lao của lịch sử khi không thể giãi bày loài người được, thì con người cũng có thể lưu lại tiếng nói của chính mình. Loài người không phải chỉ có lịch sử, mà còn lưu lại văn học. Ấy cũng là con người phí không còn gìn giữ được chút tự tin thiết yếu” [7].

Bộ mặt hưng vượng của xã hội Nhật Bản hôm qua thế giới gọi là thần kỳ. Đến Đài Loan, Hàn Quốc thì mọi người bảo do công bà đỡ Mỹ. Phát triển vũ bão liên tục của Trung Quốc hơn 25 năm nay, cộng thêm khởi sắc Việt Nam, đã đến lúc người ta đặt vấn đề nghiêm túc về “Giá trị Á Đông”. Trương Di Vũ, Phó giáo sư Khoa Trung văn đại học Bắc Kinh từng trả lời phỏng vấn ông Phùng Lâm ngày 06-10-1996 như sau: “Cho dù người Thụy Điển không thích chúng ta, nhưng cũng sẽ chọn một đại biểu của chúng ta để chứng tỏ lòng yêu ghét và sức mạnh của họ” [8]. Họ Trương còn đoán trước năm 2005 hoặc lâu nhất là 2010 điều này sẽ xảy ra. Nếu suy diễn trường hợp Cao Hành Kiện là sự lúng túng của người Thụy Điển thì không ổn, nhưng rõ ràng nói về Cao, thật khó bước hẳn ra ngoài những “Giá trị Á Đông” tinh kết trong cá nhân ông. Đó phải chăng là quan hệ tương thiết giữa “ta” và “chúng ta”.

Một trong những khuôn mặt nhân văn của “chúng ta” là tôn trọng, nâng đỡ cái “ta”, ngược lại cũng có thể đúng. Song, khi đối diện với chính mình, cái “ta” chỉ còn đơn thuần là phương tiện. Vậy giá trị của “ta” phần lớn phụ thuộc vào điều nó đa mang. Biện hộ “chúng ta” đã làm “ta” tha hóa là con đường một chiều [9].

Chắc chắn Cao Hành Kiện biết Suy Vưu từng dẫn đầu 81 anh em và đám ma quỷ bất ngờ truất phế mẹ Thần Nông khoan hòa nhân ái, để đến nỗi nhà tan cửa nát.

Viết giữa xóm nhà lá Thủ Thiêm, quận 2, TP HCM

Tháng 9.2004

————

Chú thích:

[1] Núi thiêng, Cao Hành Kiện, Ông Văn Tùng dịch, NXB Văn Nghệ TP HCM 2003.

[2] Tất cả những dữ kiện thần thoại và truyền thuyết Trung Hoa tôi sử dụng trong bài đều rút từ quyển “Thần Thoại Trung Quốc”, Đinh Gia Khánh, NXB KHXH, Hà Nội 1991.

[3] Kinh Dương Vương, thủy tổ dân tộc Việt Nam chính là cháu 4 đời Thần nông. Tôi nói Thần Nông là Bà chứ không phải Ông trên cơ sở lập luận cá nhân. Hình ảnh Quan âm sau này trong Phật Giáo Việt Nam và Trung Hoa khẳng định Thần Nông không thể là Ông. Chế độ phụ hệ đưa xuống từ lưu vực Hoàng Hà đã cưỡng ép và biến đổi giới tính của Thần Nông chăng? Xin người đọc để ý thêm đôi long nữ được mô tả trong nghi thức cúng bái tổ tiên của người Mèo tại chương 41.

[4] Phong nhũ nghĩa là vú to, tôi mượn từ này trong một tựa truyện của Mạc Ngôn.

[5] Thần thoại Việt Nam có mẹ Âu Cơ và cha Lạc Long Quân đẻ ra bọc 100 trứng, nở thành 100 con. Bào hay bọc là như nhau, nên ở VN và Trung Quốc đều gọi người trong nước là “đồng bào”.

[6] Theo Thụy Khuê – Cao Hành Kiện – Sóng từ trường II

[7] Lý do của văn học – C
ao Hành Kiện – Diễn văn khi nhận giải Nobel – Nguyễn Tiến Văn dịch, nguồn tanvien.net

[8] Xin xem “Đại dự đoán Trung Quốc thế kỷ 21”, trang 813, Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin, 1999.

[9] Cùng thời với Cao Hành Kiện, người Việt Nam có Lưu Quang Vũ cũng suy tư bằng vở kịch “Tôi và chúng ta”. Xét cụ thể trên tác động xã hội, họ Lưu có vẻ sáng sủa hơn Cao.

Có không thế lực trong bóng tối giật dây ?

2 phản hồi

Sư sãi Campuchea
Các nhà sư nói người Campuchia Crom thiểu số tiếp tục bị ngược đãi
Xô xát đã xảy ra ở Phnom Penh khi một số sư sãi muốn tới gửi một thỉnh nguyện đơn lên đại sứ quán Việt Nam nhưng bị cảnh sát chặn đường.

Các sư muốn dư luận chú ý đến vấn đề mà họ cho rằng có tình trạng ngược đãi đang tiếp diễn đối với đồng bào thiểu số Campuchia Crom đang sống ở Việt Nam.

Có mặt tại Phnom Penh, phóng viên BBC Guy de Launey cho biết bạo lực xảy ra sau khi khoảng 50 vị sư mặc áo cà sa vàng tới đại sứ quán Việt Nam tại Phnom Penh và ngồi xuống biểu tình.

Khi cảnh sát chống bạo động yêu cầu các vị sư này phải rời đi, tình hình trở nên thêm tồi tệ.

Các người tranh đấu cho nhân quyền nói cảnh sát đã dùng gậy gộc đánh các vị sư.

Giới chức thì cáo buộc các vị sư này tìm cách xông vào đại sứ quán và còn mang theo gạch đá để ném cảnh sát.

Một số người thuộc cả hai phe đã bị thương trong vụ đụng độ, mặc dù không ai bị thương nặng.

Đòi đất

Các vị sư sãi từ trước đã biểu tình vì họ cho rằng Việt Nam ngược đãi sư sãi gốc Campuchia thiểu số tại Việt Nam.

Chủ tịch Nguyễn minh Triết đã có hội đàm với Quốc Vương Campuchea hồi trước đây trong năm nay

Thỉnh nguyện đơn của họ đề nghị phải trả tự do cho một vị sư bị bỏ tù tên là Tim Sakhorn, vì bị buộc tội “gây hại tới đoàn kết dân tộc” .

Họ cũng yêu cầu Việt Nam phải trả lại phần lãnh thổ mà họ nói là thuộc về Campuchia. Đây là một chủ đề nhạy cảm đối với chính phủ Campuchia.

Mối quan hệ giữa Campuchia với VN có từ năm 1979, khi quân đội VN giúp Campuchia lật đổ chính quyền Khmer Đỏ.

Tuy nhiên, rất nhiều người Campuchia không thích vị láng giềng lớn này, và họ bất bình trước việc mất các phần lãnh thổ trước đây trong lịch sử, trong đó có cả thành phố Hồ Chí Minh ngày nay.

Một số ngôi chùa tại Campuchia đã trở thành điểm tập trung cho các cuộc biểu tình phản đối về vấn đề này.

Trí thức Việt Nam đi trước những cuộc biểu tình 8 năm

4 phản hồi

Ngô Thế Vinh

Đá Vành Khăn: Bài học đối đầu giữa Phi Luật Tân và Trung Quốc trên quần đảo Trường Sa

Trận Armageddon trên Biển Đông

Vào những ngày thời tiết tốt, trời trong xanh như ngọc chan hòa nắng ấm giữa Biển Đông, có ai nghĩ được rằng những cụm đá, những vành san hô rải rác đó đây lại có thể trở thành lò thuốc súng, có nguy cơ nổ ra một trận chiến tranh vùng giữa các nước châu Á đang xâu xé nhau vì quyền lợi. Xa hơn nữa, như hư cấu tiểu thuyết Dragon Strike của Hawksley, tranh chấp trên Trường Sa có thể đưa tới cuộc Thế chiến thứ Ba.

Các vụ nổ súng lẻ tẻ làm chết hay bị thương dăm ba thủy thủ hay dân chài là chuyện vẫn thường xuyên xảy ra quanh Trường Sa, nhưng lại chẳng được coi là quan trọng để trở thành các dòng tin trên báo chí.

Ít ra cho đến bây giờ Hoa Kỳ vẫn cố kiềm chế, làm ra vẻ mối nguy cơ đụng độ giữa hai siêu cường Mỹ và Hoa lục trên Thái Bình Dương là không có thật. Nhưng trước thái độ hung hãn của Trung Quốc mới đây, Mỹ đã phải khởi sự kế hoạch “lá chắn tên lửa TMD” (Theater Missile Defence) nhằm vô hiệu hóa mọi cuộc tấn công phi đạn của đối phương để bảo vệ cho các đơn vị lính Mỹ trú đóng và cả ba đồng minh châu Á thiết thân của Mỹ là Nhật Bản, Nam Hàn và Đài Loan, cho dù Bắc Kinh hết sức giận dữ và cực lực phản kháng.

Vành khăn sô trên Biển Đông

Sự kiện gây chú ý cho toàn thế giới là vào tháng 2 năm 1995, giới quân sự Phi đã phát hiện Trung cộng đang xây các công sự hình bát giác trên bốn phía của hòn đảo nhỏ Vành Khăn (Mischief Reef) thuộc vùng lãnh hải của Phi. Vành Khăn được quen gọi là “đảo” thực sự chỉ là “đá” (reef) như một vành san hô mấp mé dưới mặt nước. Nhưng với các công trình xây cất của Trung Quốc ngày càng mở rộng và nâng cao thì tương lai Vành Khăn nghiễm nhiên trở thành một đảo nhân tạo.

Ai cũng biết Trung Quốc đã vi phạm Luật Biển (LOS Convention) nhưng Bắc Kinh vẫn ngang nhiên tuyên bố Vành Khăn thuộc quần đảo Trường Sa (Spratly Islands) trong vùng biển Lưỡi Rồng là của Trung Quốc, cho dù cách xa Hoa Lục cả ngàn km và chỉ cách đảo Palawan của Phi chưa đầy 200km.

Trong lúc cuộc thương thảo giữa Phi và Trung Quốc đang diễn ra ở Bắc Kinh vào tháng 3 năm 1995, bằng một phản ứng ngoạn mục, không lực Phi đã bất thần oanh tạc phá hủy một loạt các cấu trúc xây trên đá Vành Khăn, trên các bãi đá ngầm Trăng Khuyên (Half Moon), bãi Sa Bin (Sabina Shoal) và đồng thời hải quân Phi cũng bắt giữ 60 ngư phủ Trung Quốc đánh cá bất hợp pháp trong vùng lãnh hải của Phi.

Chiến thuật đoản kỳ của Trung Quốc là “mềm nắn rắn buông”, nhưng chiến lược trường kỳ của họ là tiếp tục bền bỉ chánh sách “tàm thực” (tằm ăn dâu). Dó đó mà tình hình chỉ tạm lắng dịu cho tới tháng 10 năm 98, khi các mùa dông bão qua đi, máy bay thám sát Phi đã lại chụp được những bức không ảnh cho thấy Trung Quốc tiếp tục khẩn trương xây cất các công sự kiên cố và lớn hơn trên đá Vành Khăn và có khả năng lan rộng ra các đảo và đá khác. Phi cũng ghi nhận được các tàu vận tải chở vật liệu kiến trúc đến với hàng trăm lính công binh Trung Quốc đang dựng khung xây cất thêm những công sự mới. Căng thẳng hơn nữa là có cả những chiến hạm loại Dazhi của hải quân Trung Quốc có nhiệm vụ yểm trợ cho các tiềm thủy đĩnh hoạt động trong vùng.
B. A. Hamzak, giám đốc Viện Nghiên cứu Hàng hải Mã Lai gọi “Hành động mới đây của Trung Quốc là hết sức vô trách nhiệm và cả hăm dọa… Nó đã không xây dựng được lòng tin cậy và an ninh trong vùng”. Chính B. A. Hamzak đã đưa ra một từ mới rất gợi hình là “Tây Tạng hóa Biển Đông”, đang được báo chí và giới ngoại giao sử dụng, nói tới tình huống các nước Đông Nam Á một hôm thức dậy thấy Biển Đông đã nằm trong tay Hoa lục, giống như cảnh ngộ của quốc gia Tây Tạng.

Vành Khăn trong một chuỗi biến cố

Ai có theo dõi tình hình cũng biết đây là một trong chuỗi biến cố có tính toán của Trung Quốc trong hơn ba thập niên qua nhằm “xác định chủ quyền trên Biển Đông” bằng sức mạnh quân sự, khi mà các lý lẽ lịch sử viện dẫn không có tính thuyết phục.

1974 Trung Quốc cưỡng chiếm toàn quần đảo Hoàng Sa (Paracel Islands) đang thuộc quyền kiểm soát của Việt Nam Cộng hòa;
1988 Trung Quốc chiếm thêm một số đảo và đá trong quần đảo Trường Sa đang thuộc quyền kiểm soát của Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam;
1995 Trung Quốc âm thầm chiếm đá Vành Khăn nằm trong Vùng EEZ Kinh tế Đặc quyền của Phi;
1998 Trung Quốc tiếp tục xây các căn cứ quân sự lâu dài trên đá Vành Khăn, có cả sân bay trực thăng, đài radar, những ụ súng phòng không, treo cờ Trung cộng và có các chiến hạm tuần tiễu, bất chấp sự phản kháng mạnh mẽ của Phi.

Những ngọn cờ trên Trường Sa

Quần đảo Trường Sa cho tới nay không phải là những đảo có dân cư trú, ngoại trừ những đơn vị quân đội của 5 quốc gia đang chiếm đóng, gồm Việt Nam, Phi Luật Tân, Mã Lai, Đài Loan và Trung Quốc. Thêm Brunei cũng lên tiếng tham dự vào cuộc tranh chấp. Trong số hàng trăm đơn vị đảo, đá, cồn và bãi với tổng số diện tích không quá mười cây số vuông (10km2) với nhiều đơn vị không có tên, tính đến nay:

Việt Nam hiện chiếm giữ cả thảy 13 cao địa, 22 đơn vị có tên và một số không tên. Đảo Trường Sa (Spratly) là nơi có bộ chỉ huy Việt Nam trú đóng.
Phi Luật Tân hiện chiếm cả thảy 10 cao địa, 18 đơn vị có tên và một số không tên. Không kể đá Vành Khăn (Mischief Reef) trên thực tế đã bị Trung Quốc chiếm.
Trung Quốc hiện chiếm 2 cao địa và 9 đá chìm và bãi ngầm có tên. Đá Chữ Thập (Fierry Cross Reef, chiếm của Việt Nam năm 1988) là nơi đặt bộ chỉ huy quần đảo Trường Sa của Trung Quốc.
Mã Lai hiện chiếm giữ 2 cao địa và 4 đơn vị có tên.
Đài Loan chiếm 1 cao địa: đảo Ba Bình (Itu Aba) cũng là đảo lớn nhất tại Trường Sa (xem sơ đồ 1 / Heinemann 95, chỉ ghi những địa danh chính).

Những lời than thở

Tháng 11/98 vừa qua, ngoại trưởng Phi Domingo Siazon đã nói trước quốc hội Phi rằng các công trình xây cất quy mô mới đây của Trung Quốc là kế hoạch quốc phòng thế kỷ 21 của Bắc Kinh nhằm bành trướng ra ngoài Đông Á và bao trùm cả Thái Bình Dương.

Trước những diễn tiến dồn dập trên đá Vành Khăn, hoàn toàn bất lợi cho Phi, Siazon chỉ còn biết than thở: “Chúng tôi yêu cầu Trung Quốc rút khỏi đá Vành Khăn, h
nói không. Chúng tôi yêu cầu cuộc tranh chấp được giải quyết qua một hội nghị quốc tế, họ cũng nói không. Chúng tôi đề nghị một chương trình hợp tác phát triển thì họ bảo để coi!”

Rồi Siazon tiếp: “Chúng tôi thì không có khả năng tới vùng biển ấy, hải quân Phi chỉ gồm có mươi chiếc tàu tuần (patrol boats) và đã được lệnh phải tránh xa để không gây sự biến nào”. Trung Quốc đã đưa lời cảnh cáo là tàu bè Phi không được tới gần hơn 5 hải lý và máy bay tuần thám Phi cũng không được bay thấp hơn 1500m.

Do có hiệp ước liên minh quân sự với Washington, bộ trưởng quốc phòng Phi Mercado đã kêu gọi Mỹ can thiệp, nhưng chánh phủ Clinton lạnh lùng trả lời là hiệp ước không áp dụng cho các vùng lãnh hải đó.

Chẳng còn một chọn lựa nào khác, Phi chỉ còn biết tuân thủ những đòi hỏi vô lối của Bắc Kinh. Cho dù đang giữa cuộc tranh chấp nhưng trên thực tế đá Vành Khăn đã tuột khỏi quyền kiểm soát của Manila.

Và trong chuyến du hành cuối năm 98 vừa qua, tư lệnh lực lượng Mỹ vùng Thái Bình Dương, đô đốc Joseph Prueher cũng chỉ phát biểu một cách chung chung là “Hoa Kỳ sẽ theo dõi sát diễn tiến trên đá Vành Khăn”. Bề ngoài thì như vậy nhưng bên trong không thể không có mối âu lo, phản ánh bằng câu nói của viên sĩ quan hải quân Mỹ với phóng viên tờ National Geographic: “Tôi chỉ mong sao họ không tìm ra dầu ở Trường Sa”.

Dầu khí thì chắc chắn là có ngoài Biển Đông và điển hình là đang có ba bãi dầu được khai thác: bãi Tứ Chính (Vanguard) của Việt Nam, bãi Cỏ Rong (Reed Bank) của Phi và bãi Natuna của Nam Dương.

Một an ủi có còn hơn không

Ý thức được sự quá yếu kém về quân sự, Phi bền bỉ trong các cuộc vận động ngoại giao, đòi đưa vấn đề ra trước đại hội đồng Liên Hiệp Quốc và cả vận động giới lập pháp Mỹ quan tâm nhiều hơn tới cuộc tranh chấp Trường Sa.

Ít ra cũng đã có một nghị sĩ cộng hòa, Dana Rohrabacher (Huntington Beach, California), thuộc Ủy ban Liên lạc Quốc tế Hạ viện Mỹ lên tiếng. Ngày 10 tháng 12 1998 ông được đưa lên một chiếc phi cơ quân sự C 130 của Phi bay sáu vòng trên không phận đá Vành Khăn, chụp hình được các công trình xây cất và cả các chiến hạm của hải quân Trung Quốc và ông tuyên bố: “Trung Quốc đang xây cất những công sự, tôi còn thấy được ánh chớp của những đèn hàn… Những điều chúng tôi thấy được vừa có tính cách báo động vừa bi thảm. Trung Quốc đã đưa các chiến hạm từ ngàn dặm xa xôi đi cướp đất của một nước láng giềng”. Ông tiếp: “Chúng ta không thể làm ngơ hành động côn đồ của Trung cộng trong quần đảo Trường Sa. Sự hiện diện quân sự của Trung Quốc không chỉ là mối quan tâm của Phi Luật Tân, đó cũng là mối quan tâm của Hoa Kỳ và các nước dân chủ trên thế giới”. Ông cũng lên án chánh quyền Clinton đã coi nhẹ biến cố Vành Khăn. Bằng một ngôn ngữ ngoại giao, ông hứa là sẽ vận động quốc hội Mỹ hỗ trợ gia tăng tiềm lực hải quân Phi… “Tôi đã biếu tổng thống Estrada một chai rượu Tequilla bự. Tôi hy vọng tiếp theo đó sẽ là một tuần dương hạm”.

Dana Rohrabacher tuy không phải là một tiếng nói thế lực trong giới lập pháp Mỹ, nhưng có còn hơn không và đó cũng là một dấu hiệu an ủi cho Phi.

Vài dấu hiệu chuyển động

Giữa cuộc tranh chấp chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa Trường Sa đang diễn ra trên Biển Đông, Việt Nam và Trung Quốc là hai nước có nguy cơ đối đầu nhất. Sau khi mất toàn quần đảo Hoàng Sa và một số đảo Trường Sa, ngoài những cuộc đấu khẩu ngoại giao, phía Việt Nam đã có những bước ứng xử nào:

Theo tin của Thông tấn Kyodo 19-09-98, Việt Nam mới đây đã hoàn tất việc xây dựng và trùng tu nhiều cơ sở “dân sự” trên đá san hô Tây (West Reef) trong quần đảo Trường Sa… có cả sân bay trực thăng với tổn phí lên tới 4 triệu đôla, là những công trình xây dựng có tính cách lâu dài.
Tài liệu Combat Fleets of the World 98-99, Naval Institute Press, ghi nhận một số chiến hạm của hải quân Việt Nam đã được đổi tên thành Biển Đông hay Trường Sa (BD 621, 622, 105, TS 01) trong đặc nhiệm bảo vệ Trường Sa.
Tờ Orange County Register 13-12-98, trong phần châu Á Thái Bình Dương loan tin: có hai con đường của thành phố Sài Gòn được đặt tên là Hoàng Sa và Trường Sa.
Theo báo Tuổi Trẻ trong nước 06-02-99, chánh phủ Việt Nam đang ráo riết buộc toàn thể cán bộ học tập nâng cao kiến thức sử học về chủ quyền của Việt Nam đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đại học Quốc gia Hà Nội cũng đã phối hợp với Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường cùng tổ chức hội nghị khoa học về lịch sử chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa Trường Sa. Nhiều công trình nghiên cứu về lịch sử, địa lý địa danh, đặc điểm khí hậu và các nguồn tài nguyên thiên nhiên của các đảo và vùng biển liên hệ đã được công bố… Thành phần tham dự hội nghị gồm các nhà khoa học thuộc nhiều lãnh vực từ các đại học và các viện nghiên cứu, đại diện các bộ Ngoại giao, Quốc phòng, Ủy ban Biên giới, các ban Trung ương Đảng, Văn phòng Chánh phủ…
Trên tấm bản đồ Việt Nam và Biển Đông (chứ không phải Nam Hải – South China Sea) với các địa danh thuần Việt của Tổng cục Địa chính xuất bản năm 1997 có ghi những chi tiết: (1) Quần đảo Hoàng Sa (hiện bị Trung Quốc chiếm đóng) là thuộc thành phố Đà Nẵng Quảng Nam, cách Đà Nẵng 390km, (2) Quần đảo Trường Sa thuộc tỉnh Khánh Hòa Nha Trang (nguyên thuộc tỉnh Phước Tuy thời Việt Nam Cộng hòa), cách Sài Gòn 670km.
Trên các tờ báo tiếng Việt xuất bản ở hải ngoại cũng thường xuyên có các tin và bài bình luận liên quan tới Hoàng Sa Trường Sa và chủ quyền trên Biển Đông.
Mùa hè 98, một cuộc hội thảo chuyên đề về Biển Đông của một số trí thức và chuyên gia Việt Nam hải ngoại được tổ chức ở New York với phần đúc kết sẽ được ấn hành như một tài liệu tham khảo nội bộ.
Trên Internet gần đây xuất hiện một website mang tên “Paracels Forum”, thiết trí như một diễn đàn chung cho những ai quan tâm tới vấn đề Hoàng Sa Trường Sa, địa chỉ: http://members.tripod.com/~Paracels/.
Tờ Đi Tới ở Montréal Canada thực hiện một số báo chuyên đề (tiếp sau Tập san Sử Địa, đặc khảo về Hoàng Sa Trường Sa 1975) cập nhật hóa các vấn đề liên quan tới Biển Đông với hai quần đảo Hoàng Sa Trường Sa trong bối cảnh mối bang giao lịch sử giữa hai nước Việt Nam và Trung Quốc.

Vành Khăn, con bài Domino của Trường Sa

Vào những thập niên 50-60, giữa cuộc chiến tranh lạnh, người Mỹ rất tin vào thuyế
t Domino về mối liên hệ của toàn vùng được hình dung bằng một hàng những con bài Domino đứng cạnh nhau, nếu con bài đầu tiên bị đổ thì sẽ đè lên con bài thứ hai và theo phản ứng dây chuyền cứ thế cả chuỗi bị sụp đổ.

Cuộc chiến tranh Việt Nam với bao nhiêu xương máu và tốn kém là một điển hình của thuyết Domino ấy.

Sau giai đoạn sụp đổ của khối Liên Xô, thập niên 90 được coi là thời kỳ “sau chiến tranh lạnh” đối với thế giới. Nhưng tại châu Á lại đang manh nha một cuộc “chiến tranh nóng” do sự bành trướng rất hung hãn của Trung Quốc.

Sau khi đã chiếm trọn Hoàng Sa và một số đảo của Trường Sa, mặc nhiên Trung Quốc đặt Việt Nam và các nước Đông Nam Á “trước một sự đã rồi”. Nhưng với tình hình hiện nay Trung Quốc có nuốt trọn được quần đảo Trường Sa hay không thì đá Vành Khăn là biểu tượng của con bài Domino đầu tiên ấy. Do đó Vành Khăn không chỉ là mục tiêu tranh chấp giữa Phi Luật Tân và Trung Quốc mà phải coi đó là thách đố đối với toàn thể các quốc gia Đông Nam Á. Bước tới, nếu Trung Quốc dứt khoát chiếm được đá Vành Khăn thì tất cả những đơn vị còn lại trong một chuỗi những đảo, đá, cồn và bãi của Trường Sa có tên hoặc không tên sẽ lần lượt rơi vào tay Trung Quốc, dĩ nhiên với tất cả hậu quả và hệ lụy của nó.

Lý lẽ của kẻ mạnh

Hơn 60 năm trước, vấn đề Hoàng Sa Trường Sa đã được báo chí Việt Nam dự báo và nhắc tới rất sớm: báo Nam Phong của Phạm Quỳnh (Hà Nội, NP 172, 05-1932) đã viết: “Vấn đề cương giới Hoàng Sa Trường Sa sẽ được giải quyết bằng gươm súng”. Sáu năm sau trên báo Ngày Nay (Hà Nội 24-07-1938) của nhóm Tự lực Văn đoàn, Hoàng Đạo lúc đó mới ở cái tuổi ngoài 30 đã viết trong mục “Người và Việc” như sau: “Lấy lý lẽ mới cũ ra mà nói thì Hoàng Sa Trường Sa là của An Nam. Nhưng ở trường quốc tế người ta không ai theo luật mới cũ cả. Nó chỉ là của sức mạnh”. Những dòng chữ ấy cho đến nay hoàn toàn đúng đối với Trung Quốc với lẽ của kẻ mạnh.
Sức mạnh thượng phong về hải, lục và không quân của Hoa lục là không thể phủ nhận. Nếu vạn bất đắc dĩ xảy ra một cuộc chiến tranh vùng trên Biển Đông, bất cứ cuộc đụng độ quân sự nào, thì sự toàn thắng đương nhiên ở về phía Bắc Kinh.

Tư thế của bầy trâu chống cọp

Cuộc khủng hoảng kinh tế vùng mới đây đã làm suy yếu hẳn thế liên minh của các quốc gia Đông Nam Á mà biểu hiện rõ nhất là trong cuộc họp thượng đỉnh ASEAN vừa qua tại Hà Nội, nguyên thủ các nước kể cả Việt Nam và Phi đều né tránh đề cập tới vấn đề gai góc này, nại lý do “còn nhiều vấn đề lớn hơn cần giải quyết, đặc biệt là lãnh vực kinh tế”. Trước con mãnh hổ Trung Quốc, những con đà điểu Đông Nam Á thấy hiểm nguy chỉ biết có rúc đầu xuống cát.

Ai cũng biết các đảo cho dù nhỏ hẹp tới đâu, nhưng khi thuộc về một quốc gia nào, người ta sẽ viện dẫn theo Luật biển về vùng kinh tế đặc quyền 200 hải lý để đòi hưởng trọn các nguồn tài nguyên về hải sản và các mỏ dầu khí trong đó, chưa kể tới giá trị chiến lược của các căn cứ quân sự ấy.

Cho dù đang là một nước xuất cảng dầu nhưng Trung Quốc sẽ phải nhập cảng dầu vào đầu thế kỷ tới nếu không tìm ra được các mỏ dầu mới mà Biển Đông với Hoàng Sa Trường Sa có hy vọng là lời giải đáp.

Giả thiết nếu quần đảo Trường Sa hoàn toàn rơi vào tay Trung Quốc, điều này có nghĩa là Trung Quốc còn chiếm hữu luôn một phần mỏ dầu rất phong phú của Nam Dương quanh đảo Natuna – nơi đã có ký kết một hợp đồng lên tới 30 tỉ đôla giữa Công ty Dầu khí Mỹ Exxon và Djakarta. Hiển nhiên đây là một đụng chạm trực tiếp tới quyền lợi thiết thân của tư bản Mỹ và chắc chắn không dễ dàng gì Mỹ để rơi vào tay Trung Quốc. Và Biển Đông không thể không dậy sóng nếu không đạt được một hợp tác phát triển và phân chia tài nguyên giữa các quốc gia lớn nhỏ trong vùng trên phương diện khai thác dầu khí, đánh cá và hải hành.

Trước âm mưu chia để trị, Trung Quốc sẽ áp đặt những điều kiện thật khắt khe trong các cuộc thương thảo song phương như giữa Bắc Kinh và Hà Nội hay Bắc Kinh và Manila…

Trung Quốc sẽ dễ dàng bẻ gẫy từng chiếc đũa nhưng với cả bó đũa thì không. Cọp dữ Hoa lục sẽ không dám xông vào giữa bày trâu hợp quần, nhưng sẽ giương móng vuốt chụp lấy từng con đứng riêng lẻ và cũng sẽ chẳng tha cả con trâu khỏe đầu đàn.

Chỉ có một đường sống duy nhất cho các nước Đông Nam Á là đoàn kết trong bình đẳng và tin cậy để có hành động phối hợp tạo thành một thế trận chung về chánh trị ngoại giao, kinh tế và quân sự, đủ sức đương đầu với con mãnh hổ Trung Quốc .

Tài liệu tham khảo

“South China Sea”, Tracy Dahlby, National Geographic 12-98, Vol. 194, No. 6
“Tis the Season”, Tiglao R., Sherry. A., Thayer N., FEER, 12-24-98
“Going Ballistic”, Wolf J., FEER, 02-18-99 (
Reuters, Beijing 02-25-99, “China Rejects Manila Report of Spratlys Buildup”
“Đặc khảo về Hoàng Sa và Trường Sa”, Tập san Sử Địa 29, 01.03-75, Nxb Khai Trí – Văn Nghệ
“Địa lý Biển Đông”, Vũ Hữu San, UBBVSVTLTVN, 05-95
Trăm Việt trên vùng định mệnh, Phạm Việt Châu, Nxb North Falls House 1997
Nguồn: Tạp chí Thế Kỷ 21, số 121, 05-1999

Quần đảo của ai?

1 phản hồi

Bài trên tạp chí văn chương damau

Quần đảo của ai?
Tác giả: Hoàng Đạo

LTS: Bài báo này Hoàng Đạo viết năm 1938 trên Ngày Nay, gần 70 năm, nhưng giá trị thời sự vẫn còn nóng bỏng. Đảo Hoàng Sa, mà người Pháp gọi là Paracels, đã là nguyên nhân tranh chấp giữa nhiều quốc gia thời ấy. Hoàng Đạo đã bình luận một cách tiên tri, rằng hòn đảo ấy “chỉ là của sức mạnh”.

Ngày nay, nó còn là kết quả của sự thần phục và tinh thần nhược tiểu.

Quần đảo Paracels bỗng nhiên hóa ra quan trọng.

Mấy hòn núi nhấp nhô trên mặt biển Đông, bỏ hoang đã bao nhiêu thế kỷ, bỗng nhiên ai nấy đều đến hỏi han một cách âu yếm lắm.

Nước Pháp và nước An-nam bảo là lĩnh thổ của mình và cố tìm trong kho sách mọt những chứng cớ cổ: Người An-nam đến đảo đã hơn một trăm năm, và vua Gia Long đã có dụ sát nhập đảo vào nước Nam. Và hăng hái đem quân đến.

Nước Nhật không bằng lòng, và cả quyết nói: đảo ấy của người Nhật. Vì có người Nhật được khai khẩn trong đảo. Rồi cũng hăng hái đem quân đến.

Nước Tàu của Tưởng Giới Thạch cũng ra mặt đòi là của mình. Vì từ 1909, Tàu đã sát nhập quần đảo vào lĩnh thổ Tàu rồi. Nhưng không hăng hái đem quân đến, vì có muốn cũng chẳng còn quân đâu mà kéo đến nữa.

Vậy quần đảo là của ai?

Lấy mới cũ mà nói, thì nó là của An-nam. Nhưng ở trường quốc tế, người ta không ai theo luật mới cũ cả.

Cho nên quần đảo ấy chẳng là của ai cả. Nó chỉ là của sức mạnh.

Rồi đây, Pháp mạnh hơn Nhật, thì nó là của Pháp. Mà nếu Nhật mạnh hơn Pháp, thì nó là của Nhật.

Còn Tàu, cái nước to mà yếu, thì ai người ta kể đến làm gì cho nhọc.

(trích Người và Việc, Ngày Nay số 120, ngày 24/7/1938)

Comment trên blog bác Dong A

1 phản hồi

Quan điểm và nhìn nhận của bác Dong A có thể nói là lạc quan. Tuy vậy, tôi lại thiên về ý kiến cho rằng vấn đề biển Đông rất có thể trở thành tâm chấn cho kịch bản Huntington.

Lịch sử các cường quốc đều nhờ đột phá của chiến tranh để phát triển cao hơn hoặc suy tàn. Người Mỹ ngày nay vô địch thiên hạ bởi họ luôn biết cách đều đều tổ chức những cuộc chiến tranh…

Trong logic ấy, quá trình chuyển hóa đang diễn ra ở TQ cũng rất cần một cuộc chiến tranh để đo lường sức mạnh, thăm dò phản ứng khắp thế giới, và hơn hết là cố chứng tỏ chỗ đứng quyền lực mới của TQ. Khả năng đau lòng: một cuộc chiến tranh có kiềm chế với VN, giành giật biển Đông là an toàn và đỡ tốn kém nhất cho TQ.

Chắc chắn các chính trị gia VN hiểu điều này hơn ai hết và hy vọng họ sẽ đương đầu với nguy cơ kia một cách khôn ngoan nhất, trên cơ sở kinh nghiệm lịch sử hàng ngàn năm chống họa Bắc phương.

Older Entries