Ai sẽ đòi lại chùa Báo Thiên?

11 Comments

TỪ CHÙA BÁO THIÊN TỚI NHÀ THỜ LỚN HÀ NỘI
Nguyễn An Tiêm
đăng ngày 01/01/2007

Lời dẫn của GĐ – Để phát triển nước Chúa trên khắp thế giới, đặc biệt là tại các vùng kém “văn minh”, một trong những sách lược bất di bất dịch của Giáo hội Công giáo La Mã là phải thủ tiêu nền văn hóa bản địa, mà trong đó, tôn giáo chủ đạo của dân tộc là mục tiêu đầu tiên phải tiêu hủy. Tại Việt nam, từ hơn bốn thế kỷ nay, tôn giáo đó là Phật giáo. Trong quá trình thực hiện sách lược nầy, biểu hiện phá hoại văn hóa vật thể rõ ràng nhất là cấu kết với chính quyền đô hộ Pháp để chiếm đất chùa, phá hủy chùa, rồi xây nhà thờ Công giáo trên “chiến lợi phẩm” đó.

Vương cung Thánh đường (Nhà thờ Đức Bà) tại Sài Gòn, nhà thờ La Vang tại Quảng Trị và nhiều nhà thờ khác trên khắp ba miền đất nước đã là những chứng tích phá hoại văn hóa không chối cải được của tội ác chống lại nhân loại (crime against humanity) của Vatican tại Việt Nam. Chiêu bài “đối thoại tôn giáo” và “hòa đồng tôn giáo” để thích nghi với thời đại mà Công đồng Vatican II (1962-1965) thường rêu rao chỉ là những xão ngôn che đậy ý đồ chống phá các tôn giáo khác. Vì gần 30 năm sau Công đồng, ý đồ đó vẫn lại được xác định mạnh mẽ hơn và tinh vi hơn trong Tông huần Á châu (Ecclesia in Asia) vào năm 1991 và Crossing the Threshold of Hope vào năm 1994 của chính Giáo hoàng John Paul II, người định hướng cho sách lược truyền giáo của Công giáo La Mã trong thiên niên kỹ mới, và đang được Vatican chuẩn bị để phong thánh.

Bài viết “Hà Nội: Từ Chùa Báo Thiên Tới Nhà Thờ Lớn” mà chúng tôi trích lại sau đây từ nguyệt san KHỞI HÀNH năm thứ xi – số 122 – tháng 12.2006 (Midway City, California – USA) xin được là một lời nhắc nhở, và cũng là một cảnh báo, cho những ai còn nặng lòng với sự sống còn văn hóa của dân tộc ta.

hinh1
Chùa Báo Ân và Nhà Thờ Lớn Hà Nội (nhà thờ Saint Joseph) chụp lại trên bưu thiếp in năm 1905, do bác sĩ Ch. E. Hocquard chụp vào khoảng 1884-1885. Chùa Báo Thiên, chùa Báo Ân … bị Pháp tàn phá trong khoảng thời gian ngay sau khi chụp, hoặc môt hai năm kế tiếp. Nhà thờ lớn Hà Nội là xây trên nền chùa Báo Thiên cũ. Hình và chú thích của Nguyễn An Tiêm, Khởi Hành.

HÀ NỘI : TỪ CHÙA BÁO THIÊN TỚI NHÀ THỜ LỚN
(Phần in đậm để nhấn mạnh là của GĐ)

– Nhà thờ lớn Hà Nội có từ bao giờ?

– Nhà thờ lớn Hà Nội hay nhà thờ Saint Joseph bắt đầu xây từ năm 1884, khánh thành ngày 24.12.1986.

– Đất xây nhà thờ St Joseph là đất công hay đất tư?

– Tại địa điểm này, năm 1057, thế kỷ XI, vua Lý Thánh Tông cho khởi công xây tháp Đại Thắng Tư Thiên, gọi tắt là Tháp Báo Thiên, thuộc nền Chùa Sùng Khánh, hay Chùa Báo Thiên, kinh đô Thăng Long. Theo nhiều tài liệu khác nhau thì trong khi Tháp Báo Thiên bị phá để xây Nhà thờ lớn thì Chùa Báo Ân cũng bị phá để xây Nhà Bưu Điện Hà Nội. Cả hai ngôi chùa này đều là hai chùa lớn bên hồ Hoàn Kiếm.

– Có tài liệu nào viết về vụ phá chùa để xây cất nhà thờ này không?

– Có. Gần nhất là một bản tin trong Thời Sự Khởi Hành số 66, tháng 4.2002 (số báo đặc biệt in màu nguyên hai trang KH Bản Đồ Việt Nam 1838 là năm lúc Pháp chưa đánh chiếm Việt Nam.)

Xin trích dẫn lại như sau:

“Thực dân Pháp cũng như bọn bành trướng phương Bắc luôn luôn muốn hủy diệt văn minh sông Hồng (cái nôi của Việt Nam), bằng cách này hay cách khác, kể cả việc o bế, bắt tay với các bộ lạc sau lưng miền Bắc, sau lưng các triều đại giòng dõi Hai Bà, Phùng Hưng, Ngô Quyền, Lý Trần Lê, … [là các triều đại đã nổi lên dựng nền độc lập cho V.N.] để chọc vào cạnh sườn Phong Châu, Tản Viên, lấp sông Tô Lịch, đổi dòng sông Hồng, sông Bạch Đằng … và phá Hòn Vọng Phu ở Đồng Đăng, xiết nợ Ải Nam Quan, Thác Bản Giốc …[Không phải vô tình mà cả Giang Trạch Dân lẫn Hồ Cẩm Đào (tháng 11.06) khi đến Việt Nam đã đáp xuống Đà Nẵng, xuống bơi ở China Beach Đà Nẵng] …

“Đọc lại sách vỡ cũ, người Việt yêu nước Việt thở dài: biết bao đền đài kiến trúc cổ bị phá sập, … như ngôi chùa Báo Thiên nguy nga và tôn nghiêm ở thủ đô Thăng Long đã bị giám mục Puginier chọn, và trên đó mọc lên một nhà thờ công giáo.

“Trong bài nói về vai trò của Viện Viễn Đông Bác Cổ Pháp với các di tích lịch sử Thăng Long, viết bởi France Mangin, có đọan sau đây của André Masson (Hà Nội dưới thời kỳ chinh phục 1873-1888):

“Phải h
ủy ngối chùa và chiếm đất
vào cái thời gọi là chinh phục mà chúng ta đã trải qua đó, nhìn bề ngoài thì không có gì dễ dàng bằng, nhưng tôi cảm thấy một sự ghê tởm nào đó khi phải lạm dụng quyền lực một cách như vậy.”

“Bài báo viết: “Sự đắn đo của ông Bonal đã được xoa dịu nhờ sự giúp đỡ của tổng đốc Nguyễn Hữu Độ và những trở ngại trong việc phá dỡ ngôi chùa đã được giải quyết nhanh chóng … Tiếp đó miếng đất đã được cho không Đoàn Truyền Giáo, và ông Bonal đã “hài lòng giao lại cho vị giám mục giấy tờ chính thức xác nhận quyền sỡ hữu (miếng đất).”

“Giám mục Puginier mở cuộc Xổ Số lấy tiền xây ngôi nhà thờ trên nền Chùa Báo Thiên, và hoàn thành ngôi nhà thờ năm 1886: đó là Nhà Thờ Lớn hiện nay tại Hà Nội.”

Thấy việc này thành công, trong những năm tiép theo, nhiều ngôi chùa khác tại Hà Nội bị phá hủy: chùa Táo (xây vào thế kỷ X, chùa Liên Trì (hay chùa Báo Ân, xem hình) đền Huyền Trân (xây thế kỷ XVI) …” [Phần dịch bài của France Mangin là của Đào Hùng.]

– Được gọi là một trong “tứ đại khí” của Việt Nam, tháp Báo Thiên như thế nào, và vì sao nay không còn nữa?

– Tháp Báo Thiên cao 20 trượng, gồm 12 tầng, ngọn bằng đồng hình tựa ngọn núi, cao chót vót trên nền trời Thăng Long. Tháp được xếp vào một trong bốn Đại Nam Tứ Khí, bốn vật báu của đất nước; mà ba (kiến trúc điêu khắc) qúi giá khác là chùa Quỳnh Lâm, vạc Phổ Minh, và chuông Quy Điền. Sự tích tháp Báo Thiên đã được hai danh sĩ Phạm Đình Hổ, Nguyễn Án viết như sau trong sách Tang Thương Ngẫu Lục:

“Cây Tháp Đại Thắng Tư Thiên tại chùa Báo Thiên dựng từ đời vua Lý Thái Tông (1054-1072). Tháp này xây 12 tầng, cao mấy chục trượng … Khoảng năm Tuyên Đức nhà Minh, Đức Thái Tổ Hoàng đế tiên triều [Lê Lợi] tiến binh vây Đông Đô. Viên quan giữ thành là Thành-sơn-hầu Vương Thông phá hủy cây tháp [lấy vật liệu] chế ra sung đồng để giữ thành [1414]. Tiên triều nhân nền cũ, đắp các núi đất phủ lên trên … Năm Giáp dần [1791] lại cho đào lấy những gạch đá ở nền tháp cũ để tu bổ thành lũy Thăng Long. Khi phá nền tháp thấy có tám pho tượng Kim Cương chia ra đứng bốn cửa, ngoài ra còn có tượng người tiên, chim muông, cả đến những giường ghế, chén bát, các thứ lặt vặt khác không kể xiết, toàn bằng đá

Những hòn gạch hoa, hòn nào cũng thấy khắc những chữ “Lý gia đệ tam đế, Long thụy Thái Bình [1054-1058], tứ niên tạo,” tức là “Đúc trong năm thứ tư niên hiệu Long thụy Thái Bình đời vua thứ ba triều nhà Lý.”

– Có sử sách gì khác viết về Tháp Báo Thiên không?

– Có. Nhà thơ Phạm Sư Mạnh (thế kỷ XIV), người Hải Dương, tiến sĩ đời vua Trần Minh Tông [1314-1329], người cực kỳ hay chữ, đã làm bài thơ như sau về Tháp Báo Thiên:

Trấn áp đông tây củng đế kỳ

Khuy nhiên nhất tháp độc nguy nguy

Sơn hà bất động kình thiên bút

Kim cổ nam ma lập địa chùy

Phong bãi chung linh thời ứng đáp

Tinh di đăng chúc dạ quang huy

Ngã lai dục tủy đề thi bút

Quản lãnh xuân giang tác nghiễn trì.

Nhà thơ Vô Ngã Phạm Khắc Hàm thoát dịch như sau trong tập Thơ Văn Lý Trần mà ông đang biên soạn:

ĐỀ THÁP BÁO THIÊN

Trấn áp đông tây giữ đế kỳ

Một mình cao ngất tháp uy nghi

Chống trời cột trụ non sông vững

Sừng sững ngàn năm một đỉnh chùy

Chuông khánh gió đưa vang đối đáp

Đèn sao đêm đến rực quang huy

Đến đây những muốn lưu danh tính

Mài mực sông xuân viết ngẫu thi.

Các tài liệu sau này cũng có, song chỉ có tính cách địa dư chí. Ví dụ, trong Từ điển đường phố Hà Nội của Đại Học Hà Nội xuất bản có cho biết rằng Chùa Báo Thiên thuộc thôn Báo Thiên, tổng Tiên Túc, (sau đổi là tổng Thuận Mỹ), huyện Thọ Xương. Sách này viết:

Nền nhà thờ hiện nay nguyên là nền đất chùa Báo Thiên rất nổi tiếng, ở đây có ngôi tháp gọi là Tháp Báo Thiên. Ngoài ra tại phố này (Phố Nhà Thờ, Avenue de la Cathédrale), còn có một ngôi chùa cổ, là Chùa Bà Đá. Tương truyền vào đời Lê Thánh Tông ở thôn Báo Thiên Tự có một người đào được một pho tượng Phật Bà bằng đá. Người đó liền lập một miếu nhỏ để thờ. Sau dân làng thấy thiêng mới xây thành ngôi chùa và gọi là chùa Bà Đá, tên chữ là Linh Quang Tự. Pho tượng đã bị mất trong một vụ cháy thời Pháp thuộc.”

NGUYỄN AN TIÊM

Tài liệu tham khảo:

-Nguyễn Bá Lăng: Chùa xưa tích cũ, Lá Bối, S.J., 1988; Kiến trúc Phật giáo V.N., Hoa Cau, 1989. Phạm Đình Hổ – Nguyễn Án: Tang Thương Ngẫu Lục, Sài Gòn, 1962. Trần V Giáp: Lược truyện các tác gia V.N., Hà Nội, 1962. Ng Khắc Cần – Ng Ng Đi
p: Encyclopedia Hanoi Vietnam, 2000. Ng Hoài – Ng Loan – Ng Tuệ: Từ điển đường phố Hà Nội, 2000. Tô Hoài, Ng Vinh Phúc: 1000 Năm Thăng Long Hà Nội, 2000. Và các Carte Postales của Charles Edouard Hocquard về Tonkin, 1884-1885. Đào Hùng, Tạp chí Xưa & Nay, 2002.

BIÊN KHẢO Lăng mộ Triệu Văn Vương

4 Comments

BẢO TÀNG LĂNG MỘ TRIỆU VĂN VƯƠNG TẠI QUẢNG CHÂU

Đa số bản đồ du lịch phổ thông của thành phố Quảng Châu, tỉnh Quảng Đông Trung Hoa đều có giới thiệu về Bảo tàng lăng mộ kiểu Tây Hán của Nam Việt Triệu Văn Vương. Đây là một địa chỉ văn hóa cực kỳ phong phú và giá trị trong vùng Hoa Nam. Bảo tàng nằm tại số 867 đường Giải phóng bắc, hơi chếch về bên trái cổng chính công viên Việt Tú nổi tiếng.

Năm 1983, khi san một quả đồi nhỏ để xây dựng các công trình dân sinh, tình cờ một ngôi mộ đá rất xưa, không hề có dấu tích bị xâm phạm, được phát lộ. Ngành khảo cổ học vào cuộc và thật bất ngờ, những di vật tìm được cho thấy đây là nơi yên nghỉ hơn hai ngàn một trăm năm qua của Nam Việt Vương Triệu Hồ. Triệu Hồ có thể là con Trọng Thủy [1], cháu nội Triệu Đà (? – 137 trước CN), ông ở ngôi được 16 năm (từ 137 đến 122 TCN) [2].

Mộ Văn Vương nằm lẹm vào triền đồi, gồm nhiều tảng đá xếp chồng lên nhau tạo thành không gian an táng bên trong. Cửa mộ là hai phiến đá được mài đẽo khá vuông vắn. Đà cửa cũng bằng đá, đã gẫy nhưng chưa sập hẳn, có lẽ do không chịu nổi sức nặng của khối đất đỏ bazan bên trên sau nhiều lần thấm đẫm nước mưa suốt hơn hai thiên niên kỷ. Tổng diện tích sàn mộ trên dưới 25 thước vuông, chia làm 6 khu gồm sảnh chính, gian quàn thi thể và 4 phòng chứa đồ tùy táng.

Xác Văn Vương nằm trong quan tài gỗ 2 lớp, được tẩm liệm kín bằng những mảnh ngọc mỏng hình chữ nhật, liên kết với nhau bởi chỉ tơ. Tuy nhiên mọi chất liệu hữu cơ đã bị phân hủy hoàn toàn. Ngay đến bộ xương người nay chỉ hiện hữu vẻn vẹn hai mảnh hàm còn nguyên bộ răng khá hoàn chỉnh.

Năm 1988, một viện bảo tàng đồ sộ được khánh thành trên chính ngọn đồi này. Người ta giữ nguyên hiện trạng hầm mộ, làm vòm che, đường dẫn để khách có thể bước xuống tham quan. Hơn một ngàn hiện vật còn khá nguyên vẹn lấy ra từ mộ được bảo quản và trưng bày trong các gian bảo tàng xây dựng phía sau. Nó phản ánh một cách trung thực, khách quan và rất đầy đủ chi tiết về chính trị, kinh tế và văn hóa của một triều đại nổi bật ở Hoa Nam, vốn không được tín sử Trung Hoa mô tả kỹ lưỡng cũng như xem trọng đúng mức.

Các di vật chính hiện trưng bày: Khá nhiều thao ấn [3] bằng vàng và ngọc khắc chữ triện như Long kim ấn “Văn đế hành tỉ”, Quy kim ấn “Thái tử”, Ngọc ấn “Triệu muội” (Muội có khả năng là tên khác của Triệu Hồ hoặc một danh xưng khiêm tốn của Nam Việt Vương với triều đình Tây Hán); các loại đồ gốm, nồi đồng, búa sắt, rìu sắt, dao, rựa, lò nướng thịt, lưới đánh cá, tiền đồng… Khánh đá, chuông đồng, tù và bằng ngọc bích… Mực tàu, nghiên mực… Thuốc bắc, sừng tê giác, ngọc trai… Bình nước, bình rượu, ly chén đĩa bằng đồng và ngọc, khuy áo vàng bạc đồng, gương đồng, tráp bạc, phù ngọc, chân bình phong đồng, tay nắm cửa đồng, đèn đồng, chân nến ngọc, vật trang sức bằng vàng bạc đồng ngọc bích ngọc trai; tượng mỹ thuật gốm, đá, đồng và ngọc, đỉnh trầm… Áo giáp sắt, giáo, mác, thương đao bằng kim khí, mũi tên đồng, kiếm sắt chuôi nạm ngọc… Tất cả đồ vật nói chung được chế tác ở một trình độ khá tinh xảo, thẩm mỹ cao, hoa văn đẹp nhưng nhỏ bé và giản dị [4].

Xét về quy mô, mộ Nam Việt Văn Vương khá khiêm tốn so với nhiều ngôi mộ cùng thời khác từng phát lộ ở Trung Hoa. Nó cho thấy khu vực Bách Việt nói chung và Nam Việt nói riêng còn kém phát triển ở khía cạnh nào đó, trong bức tranh toàn cảnh từ thời Tây Hán trở về trước.

Dù sao đi nữa, ở thì hiện tại di tích mộ Nam Việt Văn Vương chứa đựng những giá trị lịch sử vô giá cho các dân tộc Bách Việt xưa kia và người Việt Nam hiện đại. Giữa bối cảnh các vùng đất của Nam Việt cũ như Quảng Tây, Quảng Đông đã bị Hán hóa đến tận chân lông kẽ tóc, sự độc lập của Việt Nam ít nhiều sẽ giúp việc nghiên cứu quá khứ khách quan và công bằng hơn. Ví như tên đầy đủ của bảo tàng hiện nay là : Tây Hán Nam Việt Vương mộ bác vật quán; chữ “Tây Hán” được khuyên hiểu là “kỷ Tây Hán, thời Tây Hán, kiểu Tây Hán”. Song tác giả vẫn thấy chữ này như một chiếc cũi vô hình, trói buộc nhận thức, định dạng di tích mộ Nam Việt Văn Vương trong vòng cương tỏa của nền văn hóa Hán tộc, mặc dù ý chí độc lập và tự cường gần 100 năm của các triều đại Nam Việt Vương là không thể phản bác. Bằng chứng là từ thời Triệu Đà, Nam Việt đã chịu xưng vương trước nhà Hán nhưng Triệu Hồ vẫn sử dụng ấn “Nam Đế hành tỉ”, chữ Đế xem như một biểu tượng bất khuất.

Tuy còn những bất đồng thuận trong việc nhận định vai trò 5 đời vua Nam Việt giữa dòng lịch sử Việt Nam, song sử gia Việt Nam vẫn nên có những nghiên cứu nghiêm túc, đầy đủ về ngôi mộ này. Chẳng hạn có gì khác nhau giữa bó tên có mũi bằng đồng còn như mới trong viện bảo tàng đã nêu và loại nỏ và tên do Cao Lỗ, tướng của An Dương Vương chế tạo ra? Nếu truyền thuyết An Dương Vương là có thực, hiển nhiên nhiều di vật trong mộ Triệu Hồ sẽ là vật chứng so sánh có một không hai với những khám phá khảo cổ Việt Nam về An Dương Vương và Loa thành trong tương lai.

Quảng Châu nay chính là Phiên Ngung xưa, kinh đô Nam Việt. Nhìn những cao ốc tân kỳ thi nhau vươn lên trời cao, núi đồi bị bạt dần, lò
ng người không khỏi tiếc nuối. Ngung sơn, nơi có mộ Nam Việt Vương Triệu Đà chắc ở đâu đó trong lòng thành phố [5]. Mong những cọc móng các công trình xây dựng đồ sộ đừng phạm phải hài cốt Triệu Đà. Tuy nhiên chính những khối bê tông muôn hình muôn vẻ kia đang muốn vĩnh viễn che giấu tích xưa, người cũ. Thêm nhiều yếu tố tinh thần của con người và xã hội mới, vô hình chung hiện tại dường như đã đoạn tuyệt với quá khứ, bằng việc gia cố và chôn chặt những mộ phần cổ kính một cách chắc chắn hơn bao giờ hết.

Chú thích:

[1] Nói “có thể” là vì: Các sách sử xưa nay ở VN đều cho rằng Trọng Thủy tự tử theo Mỵ Châu vào năm 208 trước CN, năm An Dương Vương bại trận trước Triệu Đà. Như thế ít nhất Triệu Hồ phải sinh ra cùng năm đó. Vậy đến năm 122, khi mất, Triệu Hồ đã 86 tuổi. Xem hàm răng còn nguyên vẹn trong mộ sẽ thấy bất thường. Đại Việt sử ký toàn thư (NXB KHXH – Hà Nội 1993), Ngoại kỷ, Quyển 2 (phần Văn Vương) ghi nhận Triệu Hồ mất năm 52 tuổi có vẻ hợp lý với di cốt nhưng mâu thuẫn với những niên biểu khác trong cùng kỷ ấy.

[2] Các niên biểu ở đây đều lấy từ phụ chú của Viện Bảo Tàng Lăng mộ Nam Việt Vương tại Quảng Châu. Có vài khác biệt so với Việt sử.

[3] Thao ấn là loại ấn nhỏ để đeo, có dây choàng vào cổ. Tiếng Hán hiện đại đùng từ “Nữu ấn” để chỉ “Thao ấn”.

[5] Khâm định Việt sử thông giám cương mục (NXB GD Hà Nội 1998), Tiền biên, Quyển 1, ghi chú : Sách Thái bình hoàn vũ ký của Nhạc Sử đời Tống, mô tả Ngung Sơn chỉ cách Huyện lỵ Nam Hải (tức Phiên Ngung) 1 dặm về phía bắc.

[4] Theo tôi biết trên mạng có ít nhất hai bài đã viết về lăng mộ này. Một của Trương Quang tại http://perso.wanadoo.fr/charite/office1/013quangchau.html và một của Mai Thế Phú tại http://www.sgtt.com.vn/cacsobaotruoc/439_43/p12_13_thamditichviet.htm

Cả hai bài đều mắc những lỗi lớn giống nhau trong mô tả lăng mộ, và có khả năng bài thứ hai là bản “xào” từ bài thứ nhất. Tuy nhiên cũng nhờ thông tin từ hai bài này mà tôi đã tìm đến được Viện bảo tàng.

PHÊ BÌNH Đọc Linh sơn của Cao Hành Kiện

Leave a comment

(Chú ý hình trên là Lý Nhuệ – Nhà văn TQ tôi yêu thích, không phải họ Cao)

Khép lại 81 chương của Linh Sơn [1] tôi mới hiểu mình chỉ bắt đầu đọc truyện. Nói đây là 81 truyện ngắn in cạnh nhau thì hơi quá. Thực ra, dễ thấy chúng cố ý rời rạc. Độc giả phải biến mình thành kẻ đồng sáng tác với nhà văn, đây là công việc thật nhọc nhằn.

Tiểu thuyết hiện đại là vậy. Nó kén công chúng nhưng luôn giả vờ khuất phục ngoại cảnh bằng các tiểu đoạn đơn lẻ. Nó hầu như không có mở đầu và chẳng thèm kết thúc. Chỉ cần đọc xong chương đầu, một cú điện thoại không chờ đợi sẽ ném nó lăn lóc giữa chồng nhật báo, đặc san đầy tin tức nóng hổi và các khung quảng cáo bắt mắt. Những ngày sau, trong khoảng khắc hiếm hoi vô định, bạn lôi tiểu thuyết ấy ra từ cuối đống ấn phẩm hỗn độn, bạn có thể bắt đầu đọc tiếp chương hai, hoặc nhẩy đến hẳn chương 52 cũng chẳng sao.

81 chương sách của nhà văn kiêm họa sĩ họ Cao chứa 81 lũy thừa 81 nét màu, đan xen, chồng chéo, hòa lẫn mất hút trong nhau rồi lại hiển hiện tinh khiết đến tột cùng ở đâu đó. Hơn thế nữa, bức tranh còn bị che mờ bằng vô số cơn mưa, màn sương, bóng tối và cả rêu phong ướt át hai bên trung lưu dòng Trường giang hùng vĩ. Cộng thêm cơ man những huyền thoại, truyền thuyết, truyện hoang đường, sinh hoạt thần bí, cạnh các con người tận thủy cùng sơn như mới bước ra từ thời ăn lông ở lỗ, bàng bạc sắc màu dân vũ, dân ca nguyên sơ. Linh sơn, do đó, hiện lên thật lung linh hư ảo và có thể nói nó quá quyến rũ.

Luận bàn qua loa vài điểm nhỏ trong quyến sách hơn 20 vạn chữ, bằng vài ngàn chữ, chẳng qua cũng chỉ là trò “thầy bói sờ voi”.

1. Về tên gọi Linh sơn

Ngay chương đầu, chẳng cần dài dòng, họ Cao nói thẳng: “Anh hỏi hắn đi đâu?”, “Linh Sơn”, “Đầu nguồn Vưu thủy” (trang 7). Trên chuyến xe đò đến Linh Sơn, lữ khách nhận thấy: “Người vùng này có ngữ điệu riêng, dù rằng đều là con cháu Viêm Hoàng, chung nến văn hóa, chung nòi giống cả” (trang 6). Linh Sơn của Cao chắc chắn không phải Linh Sơn trong sách bói “Sơn hải kinh”, cũng chẳng hề có ở địa lý chí “Thủy kinh chú”. Mãi đến chương 71 họ Cao mới úp mở về Đại Vũ: “Công lao của ông là nạo vét Hoàng Hà, nhưng tôi hoài nghi lắm” (trang 516), “Đại Vũ trở thành người đầu tiên giết người khác để thỏa mãn ý thích của mình” (trang 517). Sự nghi ngờ ở đây không phải xóa công, Cao toan dời việc trị thủy về lưu vực Trường giang. Vua Đại Vũ thì vậy, còn mẹ Nữ Oa phải lật ngược về chương 58, trang 407: “Khi Nữ Oa tạo ra loài người thì bà cũng tạo luôn nỗi bất hạnh. Con người do gan của Nữ Oa biến thành, sinh ra ở trong máu của đàn bà nên hắn không bao giờ được trong sạch”.

Cổ tích và huyền thoại của dân tộc Trung Hoa nói chung rất rối rắm, nhiều dị bản [2]. Viêm đế (tức Thần Nông) ở phương Nam, từ lưu vực Trường giang trở xuống, bà là vị thần có mình người đầu trâu [3]. Hoàng đế thuộc về phương Bắc, được cường điệu thành vị thần 4 mặt cai quản cả bốn phương, là con đẻ của dòng Hoàng Hà. Văn minh Hoa Hạ khai sinh trên cơ sở thống nhất Bắc – Nam bằng cuộc chiến tranh Nam – Bắc giữa Hoàng đế và Suy Vưu. Suy Vưu là con cháu Viêm đế nhưng đã giành ngôi báu của tiền nhân trước khi khai chiến với Hoàng đế. Suy Vưu thất bại trước Hoàng đế nhưng con người và không gian văn hóa Bắc – Nam đã hòa trộn làm một, cùng xây dựng huyền thoại Nghiêu – Thuấn.

Cao Hành Kiện bám vào bầu vú “phong nhũ” [4] của văn hóa Hoa Hạ để đi tìm Linh Sơn. Đại Vũ (còn có tên khác là Hạ Vũ, người được Nho giáo cho là hiền nhân, được Nghiêu – Thuấn nhường ngôi theo tục truyền hiền) bị xem là kẻ đầu tiên giết người để thỏa mãn ý thích. Cao muốn vượt thoát, chiêm nghiệm giá trị của chủ nghĩa cá nhân, tay chân ông chới với, bản năng đã khiến răng ông vội cắn vào vú mẹ để khỏi rơi xuống vực. Ngày xưa, khi Hoàng đế thắng Suy Vưu rồi, liền hạ lệnh diệt chủng tộc Miêu (dân tộc của Thần Nông, Suy Vưu), bà mẹ hẳn đau đớn lắm. Vì không thể giết hết nhân dân nên Hoàng đế luôn lo ngại về tộc Miêu ở phương Nam.

Tâm thức sâu thẳm của dân tộc Trung Hoa là tâm thức tội lỗi của những đứa con vừa hờn căm cha mình đã giết mẹ, vừa tìm cách chạy tội cho ông. Lạc đường trong mặc cảm ơ đíp văn hóa, Cao đã oán thán Nữ Oa, quy kết Hạ Vũ rồi làm tình với chính mình để sinh ra Linh Sơn. L
inh Sơn là núi thiêng của riêng họ Cao mà thôi, là nơi chủ nghĩa cá nhân tự thấy cần phải phôi thai ra chính nó, bỏ qua hiện thực lịch sử, quên mặc thời hữu và những bước đệm cần thiết. Sự hoang mang của nhân vật đi tìm Linh Sơn trong chương 76 chẳng biết có gần với xét lại không?

Họ Cao đã đi về nơi hoang dã. Ông mong tìm được những bản thể đơn độc để chứng minh cho chủ nghĩa của mình. Ông sợ sệt thứ văn hóa đã được học thuật nâng lên thành kinh sách. Bàn về bài dân ca trinh nguyên Cao bảo: “Chúng không bị các nhà văn làm hư hỏng! Bài ca xuất phát từ linh hồn! Anh hiểu chứ? Anh là người đã cứu một nền văn hóa đấy!” (trang 415 chương 59). Bút pháp phương Tây, một số thủ pháp nghệ thuật phương Tây dù họ Cao đã cố gắng dung nạp làm bạn văn, không giúp ông được mấy. Và để xa lánh thứ “kinh viện” kia, ông, có lẽ vô thức chiếm phần nhiều, đã đến rất gần Lão Tử và Đạo Đức Kinh. Cao không tự mâu thuẫn. Nó chỉ đơn giản cho thấy Cao chưa thành công như nhiều người lầm tưởng. Rõ nhất trong trọn chương kết, chương 81, ông chào người đọc bằng cách diễn nôm văn vẻ và dài dòng tinh túy của Lão Đam: “Đạo khả đạo, phi thường đạo. Danh khả danh, phi thường danh”.

2. “Chúng ta” và “ta”.

Cao bảo từ “chúng ta” là: “kỳ dị và đạo đức giả”, “không có cái gì giả dối hơn”, “khoa trương”, “thứ vờ vĩnh không có thuốc chữa” (chương 52, trang 366). Họ Cao tránh “chúng ta” như tránh hủi. Ông chia “ta” thành nhiều phân thể để phán xét tất cả. Cũng bởi cuộc đời ông, đáng tiếc, từng trải qua dằng dặc năm tháng, nơi những kẻ nhân danh “chúng ta” làm bao điều đáng xấu hổ.

Những cái mạo danh “chúng ta” đã hành hạ Cao, biến ông thành con chim bị thương. Để rồi với tư cách nhà văn, nhà văn hóa, “lương tâm của xã hội” (chương 79, trang 569), ông lại luôn cảnh giác những cành cây cong, mọc ra từ cội rễ văn hóa. Nỗi đau mà Cao ngỡ chỉ quằn quại rên xiết rõ nét nhất trên từng cái “ta”, thực ra trong “chúng ta” nó khủng khiếp không kém. Nó tàn bạo gấp bội vó ngựa Mông Cổ cuối thế kỷ 13, đầu thế kỷ 14. Nó phổ quát hơn sự kỳ thị người Hán trong 100 năm đầu Thanh triều. Nhưng “chúng ta” đã không đầu hàng. Từng phút từng giây “chúng ta” đồng hóa mọi âm mưu nô dịch bằng tính nhân bản trường tồn, để hôm nay trên chính trang viết của Cao, đó là sự thật không thể không đề cặp. Nguyên Huyện trưởng thời Quốc dân đảng bảo: “Bây giờ thì khác! Chẳng phải chúng ta đang sống yên ổn sao?” (chương 57, trang 406).

Căm thù kẻ mạo danh “chúng ta”, Cao căm thù luôn cái “chúng ta” vĩ đại của cả một nền văn hóa. Tôi không rõ Cao có kết kuận văn hóa Trung Hoa là căn nguyên của trò mạo danh kệch cỡm kia không. Anh trai Phục Hy và em gái (chính là bà Nữ Oa luôn ẩn hiện trong hành trình của Cao) sống sót sau nạn nước lụt đã lấy nhau vì cô đơn, vì cái “ta” quá nhỏ bé trước thiên nhiên. Nữ Oa đẻ ra rất nhiều cục thịt be bé. Bà bảo bọc chúng trong bào giấy, rồi leo lên thang trời. Gió thổi mạnh, bào giấy rách toang, các cục thịt rơi vãi khắp mặt đất hóa thành những con người [5]. Ai rơi xuống lá cây thì lấy họ Diệp, rơi xuống khúc gỗ thì mang họ Mộc… Từ đó trên mặt đất mới có những cái “ta” yếu đuối. Nền văn minh nông nghiệp phải quên đi cái “ta” để cùng nhau trị thủy, đắp đê, rồi xây Trường Thành cản vó ngựa Hung Nô.

Hôm nay, ngàn vạn đô thị mọc lên. Khối “chúng ta” bỗng thành vật cản. Những cái “ta” cửa đóng then cài, không chơi với hàng xóm có còn nhớ cha ông họ ngày xưa vẫn dùng “chúng ta” để đổi công cày cấy, trồng trọt, thu hoạch vụ mùa. Hãy để “chúng ta” tự nhiên phân hóa, biến thành những cái “ta” đúng như nó cần cho một lịch sử quần cư đô thị công nghiệp muộn màng của Á Đông. Mọi vội vã hấp tấp, hoặc áp đặt trên cơ sở chạy theo hình mẫu nào đó chỉ làm rối loạn quá trình tiến hóa tất yếu, gây ra những hiểu lầm và xung đột mù quáng.

Lạ là, cái “ta” của họ Cao nhìn bề ngoài thật cô đơn, nhưng hắn chẳng cô độc tí nào. Dòng máu văn hóa cuộn chảy không ngừng nghỉ, nóng hổi, ken dày, đậm đặc trong tâm trí hắn. Không theo trật tự, nhưng hắn lướt qua biết bao cá nhân lừng lẫy của lịch sử Trung Hoa từ Bàn Cổ lập thiên địa, đến Hán, qua Đường, xuôi Minh, tới Thanh và hoàn toàn không muốn dừng lại ở ngày hôm nay. Đằng sau sự bất hủ do lập đức, lập công, lập ngôn của tiền nhân là trùng điệp những thế hệ, những lớp sóng “chúng ta” lớn lao của dân tộc Trung Hoa. Cao phân thân, cuối cùng cũng để thấy “chúng ta” trong cái “ta” nơi ông. Giữa hành trình bị ảo tưởng là vô định, hiếm khi trên đoạn đường thật dài Cao chỉ có một mình. Khi không phân thân được, Cao vẫn rất cần một con người, tức là cần đứng giữa “chúng ta” để nhận thức về “ta”.

3.
nh hưởng và tránh né.

Tagore từng nói đại ý: “Phải biết hấp thụ vẻ đẹp tối thượng của phương Tây mới có thể vô nhiễm trước sự xấu xa cùng cực của chính nền văn hóa đó”. Điều này thật dễ hiểu, âm dương vẫn hòa hợp trong một thực thể. Người Trung Hoa luôn muốn Lão Tử song hành bên cạnh Khổng Tử để kiềm chế tính hiếu thắng và hoành tráng của Nho giáo.

Có người đã chỉ ra, mà tôi không đủ kiến thức để kiếm chứng, về hình thức, vài chỗ trong Linh Sơn Cao bị ảnh hưởng phương Tây rất rõ. Nào là đối thoại phi lý kiểu Beckett (chương 19), nào là tác giả vận dụng phương pháp “nhận diện bản thể” kiểu Roquentin trong Buồn Nôn của Sartre (chương 26) [6]. Theo tôi hình thức là cái bên ngoài, không quan trọng.

Chương 39 và 41, Cao tả về cuộc viễn du vào khu tự trị dân tộc Mèo. Ánh mắt Cao thật lạ lẫm trước cảnh mới, trước lễ hội tưng bừng và những hình ảnh đậm nét bản sắc riêng biệt như đua thuyền rồng, hát giao duyên và mở chợ tình, cúng bái tổ tiên. Điều toát ra trong hai chương sách này, hình như không khác mấy dòng ánh sáng ngạc nhiên háo hức của các bức tranh lão thực dân Paul Gauguin vẽ ở Tahiti, khoảng năm 1891 đến 1893: Những thiếu nữ ở trần, tay nâng niu sản vật nhiệt đới, đôi mắt ngọt ngào hơn cả miếng dưa hấu giữa mùa hạ khô khát. Cao cố gắng hòa mình vào không gian huyền ảo, tuy vẫn thắc thỏm: “… mọi người vào phòng ăn đã bày sẵn tiệc rượu, có cả bia và nước ngọt, chỉ thiếu mỗi khăn ăn” (trang 264). Chẳng biết trong tiệc đêm chiêu đãi của hoàng gia Thụy Điển, sau lễ trao giải Nobel, Cao Hành Kiện xúng xính trong bộ cánh đuôi tôm có sử dụng khăn ăn duyên dáng như một quý tộc Pháp quốc chính hiệu không?

Phụ nữ, dù chỉ là phần nhỏ của con người Cao trong phép phân thân, hay một cuộc đời hư cấu bên cạnh Cao, luôn chứa đựng giùm tác giả triết lý nhục dục. Tôi thấy công thức của nhà văn Nga nào đó “Một cộng một bằng một” ở đây: “Khi một người đàn bà và một người đàn ông ở bên nhau… Thế giới không tồn tại… Chỉ còn lại tình dục” (chương 64, trang 467, 468). Đôi khi tôi nghi ngại sự sùng mỹ phiến diện của Cao: “Tôi rất ghét đàn bà xấu xí, tôi không có cảm tình với chị chút nào” (chương 73, trang 529). Cao có phủ nhận cái “ta” ở một nửa nhân loại hay không, tôi đâu dám chắc. Tuy nhiên khung hình của Linh Sơn có vẻ tươi mát hơn với những người đàn bà đổi chỗ xoành xoạch, rất giống các cô bồ hay bạn gái qua đường sẻ chia nhiệm vụ cao cả của Jame Bond trong loạt phim thị trường “Điệp viên 007”.

Cao nghĩ Đại Vũ là kẻ giết người, thì Cao thừa dũng khí không từ một ai trong lịch sử Trung Hoa. Vậy mà tôi vẫn thấy tiếc, tiếc cho nhà văn Cao Hành Kiện, bậc thầy thượng thừa của kỹ thuật viết. Ông đã vô tình bỏ quên cả trăm năm lịch sử dân tộc Trung Hoa hết bị liệt cường xâu xé lại đến Nhật Bản xâm lăng. Làm sao có thể tính được bao nhiêu người đã nằm xuống dưới đường tên mũi đạn hoặc trong khói thuốc phiện, bao nhiêu tiền bạc bị bóc lột, bao nhiêu đất đai bị cắt nhượng, bao nhiêu bảo vật bị cướp bóc, bao nhiêu di sản văn hóa bị đại bác xóa sổ. Ngay cả hoàng cung Thanh triều cũng không tránh khỏi tan hoang. Ở một công viên nào đó, người phương Tây văn minh nhất thế giới đã treo chiếc bảng “Cấm chó và lũ Trung Quốc”!

Thời thanh niên tràn trề sức sống Cao phải nếm trải đày ải và chịu nhiều khổ nhục. Họ cấm ông cầm viết, luôn xét đoán và đe dọa bỏ tù ông. Đó là vết nhơ không ai có thể phủ nhận. Tuy vậy trong Linh Sơn, đôi khi Cao tỏ ra ngây thơ không thể tưởng tượng: “Nghe nói có đức Hồng y giáo chủ tòa thánh Vatican đến Quảng Châu, thế là ông làm một chuyến đến Quảng Châu mong ngài thỉnh giáo cho đạo lý chân chính của Thiên chúa giáo. Kết quả không những ông không được gặp vị giáo chủ mà còn còn bị nghi ngờ muốn câu kết với người nước ngoài… Một hôm ông bỗng tỉnh ngộ rằng Thiên chúa ở tít trời Tây không thể cầu cứu được, vậy quay về Phật tổ” (Cao kể lại lời của một nhà sư, chương 47, trang 326 và 327). Chi tiết hài hước làm duyên lấy điểm này cố tình quên béng rằng từ thời Thuận Trị, Khang Hy vua Trung Quốc không hề cấm đoán Ki Tô. Thậm chí Khang Hy còn giao mấy hoàng tử cho tu sĩ Ki Tô dạy dỗ, rồi ông định theo Chúa với vài điều kiện tiên quyết. Sau này các tu sĩ dòng thánh Dominique và dòng thánh Francois d’ assisie đã mạt sát tất cả thần học và lễ nghi Trung Hoa, làm triều đình và dân chúng nổi giận, khiến mối giao hảo cũ bị phá vỡ. Sự thiếu tin tưởng lẫn nhau giữa Trung Hoa và Ki Tô giáo nếu không là món nợ lâu đời, thì cũng có căn nguyên từ xa xưa.

Tôi không tin các vị giám khảo khả kính khi xét giải Nobel sẽ lưỡng lự, nếu Cao kể ra những tội ác mà thực dân phương Tây từng tung tóe trên mảnh đất Trung Hoa. Sự thật lịch sử luôn có thể được quan sát bằng con mắt nhân hậu, không thành kiến dân tộc chủ nghĩa. Họ cũng chẳng nỡ hiểu lầm nếu Cao nhìn nhận Thiên chúa giáo khác họ, với đôi mắt Á Đông, nhưng cùng bản th
iện rất con người.

4. Tạm kết luận cho những vấn đề đã nêu

Lịch sử nói chung là nhận thức thời gian đã qua trên cở sở chuỗi luận của kẻ chiến thắng, kẻ mang lợi thế. Như vậy tinh chất nguyên nghĩa nhất của sử liệu chính là ánh xạ phát ra từ tâm thức của những cá nhân, những thân phận đơn lẻ, những cái “ta” trong lũ “chúng ta”.

Lịch sử trong văn chương đôi khi chỉ cần phục vụ cho văn chương mà thôi. Tuy nhiên Cao đã viết: “Lịch sử loài người nếu chỉ do những qui luật không thể biết điều động bên trái bên phải, những trào lưu mù loà đến rồi lại đi, mà chẳng nghe ra tiếng nói khác nhau của cá nhân thì thật là buồn. Theo nghĩa đó, văn học chính là bổ sung cho lịch sử. Những qui luật lớn lao của lịch sử khi không thể giãi bày loài người được, thì con người cũng có thể lưu lại tiếng nói của chính mình. Loài người không phải chỉ có lịch sử, mà còn lưu lại văn học. Ấy cũng là con người phí không còn gìn giữ được chút tự tin thiết yếu” [7].

Bộ mặt hưng vượng của xã hội Nhật Bản hôm qua thế giới gọi là thần kỳ. Đến Đài Loan, Hàn Quốc thì mọi người bảo do công bà đỡ Mỹ. Phát triển vũ bão liên tục của Trung Quốc hơn 25 năm nay, cộng thêm khởi sắc Việt Nam, đã đến lúc người ta đặt vấn đề nghiêm túc về “Giá trị Á Đông”. Trương Di Vũ, Phó giáo sư Khoa Trung văn đại học Bắc Kinh từng trả lời phỏng vấn ông Phùng Lâm ngày 06-10-1996 như sau: “Cho dù người Thụy Điển không thích chúng ta, nhưng cũng sẽ chọn một đại biểu của chúng ta để chứng tỏ lòng yêu ghét và sức mạnh của họ” [8]. Họ Trương còn đoán trước năm 2005 hoặc lâu nhất là 2010 điều này sẽ xảy ra. Nếu suy diễn trường hợp Cao Hành Kiện là sự lúng túng của người Thụy Điển thì không ổn, nhưng rõ ràng nói về Cao, thật khó bước hẳn ra ngoài những “Giá trị Á Đông” tinh kết trong cá nhân ông. Đó phải chăng là quan hệ tương thiết giữa “ta” và “chúng ta”.

Một trong những khuôn mặt nhân văn của “chúng ta” là tôn trọng, nâng đỡ cái “ta”, ngược lại cũng có thể đúng. Song, khi đối diện với chính mình, cái “ta” chỉ còn đơn thuần là phương tiện. Vậy giá trị của “ta” phần lớn phụ thuộc vào điều nó đa mang. Biện hộ “chúng ta” đã làm “ta” tha hóa là con đường một chiều [9].

Chắc chắn Cao Hành Kiện biết Suy Vưu từng dẫn đầu 81 anh em và đám ma quỷ bất ngờ truất phế mẹ Thần Nông khoan hòa nhân ái, để đến nỗi nhà tan cửa nát.

Viết giữa xóm nhà lá Thủ Thiêm, quận 2, TP HCM

Tháng 9.2004

————

Chú thích:

[1] Núi thiêng, Cao Hành Kiện, Ông Văn Tùng dịch, NXB Văn Nghệ TP HCM 2003.

[2] Tất cả những dữ kiện thần thoại và truyền thuyết Trung Hoa tôi sử dụng trong bài đều rút từ quyển “Thần Thoại Trung Quốc”, Đinh Gia Khánh, NXB KHXH, Hà Nội 1991.

[3] Kinh Dương Vương, thủy tổ dân tộc Việt Nam chính là cháu 4 đời Thần nông. Tôi nói Thần Nông là Bà chứ không phải Ông trên cơ sở lập luận cá nhân. Hình ảnh Quan âm sau này trong Phật Giáo Việt Nam và Trung Hoa khẳng định Thần Nông không thể là Ông. Chế độ phụ hệ đưa xuống từ lưu vực Hoàng Hà đã cưỡng ép và biến đổi giới tính của Thần Nông chăng? Xin người đọc để ý thêm đôi long nữ được mô tả trong nghi thức cúng bái tổ tiên của người Mèo tại chương 41.

[4] Phong nhũ nghĩa là vú to, tôi mượn từ này trong một tựa truyện của Mạc Ngôn.

[5] Thần thoại Việt Nam có mẹ Âu Cơ và cha Lạc Long Quân đẻ ra bọc 100 trứng, nở thành 100 con. Bào hay bọc là như nhau, nên ở VN và Trung Quốc đều gọi người trong nước là “đồng bào”.

[6] Theo Thụy Khuê – Cao Hành Kiện – Sóng từ trường II

[7] Lý do của văn học – C
ao Hành Kiện – Diễn văn khi nhận giải Nobel – Nguyễn Tiến Văn dịch, nguồn tanvien.net

[8] Xin xem “Đại dự đoán Trung Quốc thế kỷ 21”, trang 813, Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin, 1999.

[9] Cùng thời với Cao Hành Kiện, người Việt Nam có Lưu Quang Vũ cũng suy tư bằng vở kịch “Tôi và chúng ta”. Xét cụ thể trên tác động xã hội, họ Lưu có vẻ sáng sủa hơn Cao.

Bà già ngu ngốc

Leave a comment

‘Internet làm cả thế giới ngu ngốc’

Doris Lessing, người vừa giành giải Nobel Văn chương năm 2007, cho rằng mạng thông tin toàn cầu đã tạo ra những thế hệ không biết gì vì họ chỉ cắm đầu vào những thứ như chat, viết blog mà quên đọc sách.

Nhà văn Lessing. Ảnh: WordPress.

“Chẳng ai để tâm suy nghĩ cuộc sống của họ bị Internet biến đổi thế nào”, nhà văn nữ 88 tuổi người Zimbabwe nói. “Họ mải mê với nó mà không thoát được ra. Do họ luôn tiếp nhận quá nhiều thông tin mới nên chẳng còn thời gian tìm hiểu kho tàng văn hóa cổ xưa”. Theo bà, để viết được văn, người ta phải có mối liên hệ chặt chẽ với thư viện, sách vở và truyền thống.

Lessing không thừa nhận những mặt tích cực của Internet như giúp người dùng dễ dàng tìm thông tin mà họ không thể có được từ thư viện hay việc blog giúp hàng triệu người nói lên suy nghĩ của họ.

Nhà văn được Viện Hàn lâm Thụy Điển, tổ chức trao giải Nobel từ năm 1901, mô tả là “người viết hùng ca về cuộc sống của người phụ nữ và chống lại sự phân chia giai tầng xã hội”.

Việt Toàn (theo The Age)

Thơ DƯƠNG CẦM

1 Comment

Dương cầm

*

Tiếng pha lê vụn vỡ

Niềm hoan lạc đêm sâu

Chẳng hiểu em cười hay khóc

Mười ngón tay nồng ấm nhựa thanh xuân?

*

Chuyến du hành

Đi lại con đường chưa có trong ký ức

Cái ngày mang tên em không em

Tiếng đàn từ chốn nào xa xăm lắm

*

Đối âm đuổi nhau

Mông lung bóng hồng hoang chiều chết

Thầm thì giai điệu

Nứt mình

sáp nến lửa xanh leo lét ma trơi trung cổ

*

Áo em màu hoàng hạc

Tóc em ngược sáng rối bời trăng

Đừng nói câu sám hối

Hãy hát lên lời biển mặn ngàn năm

*

Hời ru

Cõi nhớ u mê

Vỡ òa những mảnh pha lê dương cầm…

*

1999

Phê bình LƯƠNG CHÂU TỪ

3 Comments

Cuối năm 2004, trong những ngày xảy ra sự kiện ngư dân VN bị bắt chết và bắt bớ tại cửa vịnh Bắc Bộ, tôi đã bình bài thơ dưới đây của Vương Hàn và gửi gắm những tâm sự thời cuộc. Báo điện tử Evan biên tập cắt đi những ý tưởng “nhạy cảm” ở các dòng chữ màu đỏ. Mời các bạn đọc lại bài viết, như một sự chia sẻ với thời sự hôm nay.

———————————————————————

Ngày xuân thanh bình

đọc Lương Châu Từ của Vương Hàn

Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi

Dục ẩm tỳ bà mã thượng thôi.
Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu
Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi.

Vương Hàn (687 – 726) tự Tử Vũ người Tấn Dương, Tinh Châu, Sơn Tây. Năm 710 ông đậu tiến sĩ và ra làm quan. Bài Từ này Vương Hàn làm năm 713 tại Lương Châu. Lương Châu ngày nay thuộc tỉnh Cam Túc, Tây Bắc Trung Quốc. Thời Đường những đạo quân lớn thường tập trung ở đây trước khi đi về phía Tây hoặc phía Bắc để phá vỡ các lực lượng du mục hung dữ luôn đe dọa Trung Hoa.

Lương Châu Từ thuộc dòng thơ Biên Tái buổi Thịnh Đường. Tâm trạng bi nhưng không lụy của người lính chiến khắc họa thành công ước vọng hòa bình sâu sa, thê thiết nhưng giàu nhân bản. Tạm dịch nghĩa: Rượu nho đỏ ngon rót vào chén ngọc dạ quang. Ta đã muốn uống, lại được tiếng đàn tỳ bà giục giã thôi thúc vui vẻ. Nếu có lỡ say vạ vật nơi sa trường xin người đừng cười chê. Xưa nay chinh chiến mấy ai có ngày trở về.

“Dạ quang bôi” là thứ chén ngọc thạch trắng, phát sáng khi để trong bóng tối. “Bồ đào mỹ tửu” là loại rượu nho sóng sánh màu đỏ sậm. Mạch so sánh ngầm ở câu thơ đầu khúc chiết nhưng đầy đủ đã làm nổi bật chữ “bi” chủ thể xuyên suốt bài ca. Màu trắng tang thương, trắng cả trong bóng tối, làm nền, làm bồi cảnh cho màu đỏ nơi huyết quản chinh nhân trong bức tranh thơ trác việt.

Câu thơ thứ hai xưa nay có rất nhiều cách hiểu. Đa số cho rằng người chiến sĩ rất muốn uống rượu nhưng lại bị tiếng đàn tỳ bà giục giã lên đường. Nghĩa ấy sẽ rất khập khiễng khi vận vào câu tiếp theo, nếu đã uống vội uống vàng thì làm sao có thể nghiêng ngả say trên sa trường. Cũng xuất hiện khả năng “tỳ bà mã thượng” là cách ví von chùm lục lạc nhạc ngựa của đoàn kỵ mã đang chồn chân. Sự nôn nao gấp ruổi nơi loài thuần thú va đập với dục năng rất người ở đây là muốn uống, muốn say, muốn tạm quên sự đời. Phần dịch nghĩa tôi không đưa khả năng này vào, xin tạm để đây như một tồn nghi, một lối hiểu cần thêm nghiền ngẫm. Ổn nhất khi giải thích “tỳ bà mã thượng” là nhóm nhạc công ngồi trên lưng ngựa giúp vui cho buổi tiệc khao quân xuất trận.

Đàn tỳ bà và rượu vang đỏ mang đặc trưng Tây Vực. Rượu truyền thống của người Trung Hoa là rượu lúa mạch, rượu gạo. Chiếc chén ngọc quí giá biết thưởng thức hơi men xa lạ, người lính viễn chinh thấu triệt kỳ thanh trong cung đàn xứ khác trưng ra khuôn mặt khó thấy của văn hóa Trung Hoa: sự khát khao làm chủ các giá trị hữu và phi vật thể từ bên ngoài.

Câu ba, từ “sa trường” có rất nhiều điều để nói. Suốt chiều dài lịch sử của mình, người Trung Hoa hằng mấy ngàn năm không ngon giấc khi nghe thoảng trong gió lạnh tiếng hí ngựa Hồ. Họa Bắc phương khiến sa mạc, những vùng cát trắng mênh mông phía Tây và Bắc Trung Nguyên đồng nghĩa với chiến trường. Người Hán hai lần mất nước bởi những đoàn quân từ phương Bắc. Họ thường nhận định quá trình Hán hóa kẻ thù ở Trung Hoa đồng nghĩa với phục quốc. Trong mối tác động tương hỗ, không thể không quan tâm tới cách họ dung nạp văn hóa ngoại lai và biến nó thành của mình.

Vương Hàn nặng lòng đặt nét màu cuối cho bức tranh: “Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi”. Chén rượu hồng bất ngờ vượt lên trên cả niềm đau chia ly, để ngời ngợi nỗi bi thống máu xương chiến địa. Ngoại ngôn trong Lương Châu Từ rất gần với vô ngôn. Nói là vô bởi ta chẳng thấy bờ biên ngôn ngữ, hơn nữa như Lão Tử viết: “Tri giả bất bác, bác giả bất tri”, ôm đồm “bác giả – khối kiến thức rộng lớn của bể từ” khác gì tự biến mình thành kẻ bất tri.

Nghệ thuật của Vương Hàn nằm giữa đỉnh cao nghệ thuật Thịnh Đường Thi, song tư tưởng ông gửi gắm còn cao hơn thế. Không biết tự bao giờ nó đã vươn khỏi biên giới quốc gia khai sinh ra mình. Ánh sáng nhân văn luôn lan tỏa mạnh mẽ và vĩnh viễn trường tồn. Ở Việt Nam, tư tưởng này khá nhiều lần phảng phất trong các danh tác cổ kim. Có thể kể ngay ra đây bài “Màu tím hoa sim” của Hữu Loan vừa gây sóng cồn về “bản quyền” trong làng văn nghệ:

Từ chiến khu ba
Nhớ về ái ngại
Lấy chồng thời chiến chinh
Mấy người đi trở lại
Lỡ khi mình không về
Thì thương người vợ chờ
Bé bỏng chiều quê

Hoặc Hòn Vọng Phu của Lê Thương:

Qua Thiên San kìa ai tiễn rượu vừa tàn,
Vui ca vang rồi đi tiến binh ngoài ngàn.
Người đi ngoài vạn lí quan san,
Người đứng chờ trong bóng cô đơn.

Vui ra đi rồi không ước hẹn ngày về,
Ai quên ghi vào gan đã bao nguyện thề.
Nhìn chân trời xanh biếc bao la,
Người mong chờ vẫn nhớ nơi xa
Bao nhiêu năm bồng con đứng đợi chồng về,
Bao nhiêu phen thời gian xóa phai lời thề,
Người tung hoành bên núi xa xăm,
Người mong chồng còn đứng muôn năm

Hiếm có dân tộc nào, nền văn minh nào lâu bền và vững mạnh mà không yêu chuộng hòa bình và hòa hợp. Người Trung Hoa hiểu điều đó không phải nhờ Mạnh Tử từng dạy: “Ai không thích giết người thì thống nhất được thiên hạ”. Càng đối mặt với đại họa thì càng hiểu ý nghĩa của hòa bình. Khát khao hòa bình cộng với biết bao công sức và xương máu lương dân từ thời Chiến Quốc đến triều Minh để xây Trường Thành, vẫn chưa đủ để bảo vệ người Trung Hoa thoát khỏi cảnh chiến chinh. Minh Thành Tổ dời đô từ Nam Kinh đến Yên Kinh để trực tiếp chống chọi Bắc Họa cũng chẳng xong. Mặc cho Trường Thành cao dài như bất tuyệt, mỗi lần chính trị Trung Hoa đồi bại, quí tộc phản trắc nhũng nhiễu là nước mất, nhà tan.

Đoàn chinh nhân trong thơ Vương Hàn là gì nếu không phải những viên gạch tạo nên bức Trường Thành trừu tượng của dân tộc Trung Hoa. Mặc dù là gốc rễ của mọi thành tựu, là tiền phương ngăn cản chiến tranh tạo dựng hòa bình, nhân dân ở đâu cũng cứ đời đời là nạn nhân của mưu toan thế sự mờ ám bất công.

Họa Bắc phương với Việt Nam mấy ngàn năm nay, trớ trêu lại mang tên Trung Hoa. Trong chuỗi liên đới Bắc – Nam của lịch sử Á Đông, Chiêm Thành là kẻ thiệt thòi cuối cùng và đã biệt tích. Nho Giáo lên ngôi ở Việt Nam trong thế kỷ 15 sau quãng thời gian 20 năm đất nước bị Minh triều nô dịch. Sự chiến thắng của tư tưởng Nho Giáo trong đời sống chính trị Đại Việt ảnh hưởng không nhỏ đến con đường nam tiến của dân tộc Việt Nam. Nên chăng đặt câu hỏi văn minh Chiêm Thành còn lại gì trong lòng dân tộc Việt Nam, ngoài kỳ quan Tháp Chàm ngạo hận trở thành di sản quí giá vinh danh nhân loại.

Ngày xuân thanh bình, ngân nga bên xứ hoa ngàn Đà Lạt Vạn Xuân mấy câu Hán Việt Lương Châu Từ, bỗng thấy trời xanh thấu lòng biển. Dòng sông mây trắng miên man chảy về đông, hun hút nỗi bất tri sa mạc nước. Với người thơ Vương Hàn, nhân văn là thái độ trước nghĩa hướng của các ngôn từ chiến tranh, hòa bình và hòa hợp.

Nguyên tác Hán văn:

凉州词

王 翰

葡萄美酒夜光杯,

欲饮琵琶马上催。

醉卧沙场君莫笑,

古来征战几人回。

Bản dịch của Trần Trọng San

Rượu bồ – đào, chén dạ quang

Muốn say, đàn đã rền vang giục rồi

Sa trường say ngủ ai cười

Từ xưa chinh chiến mấy người về đâu

Bản dịch của Trương Thái Du

Rượu ngon

hồng chén dạ quang

Lòng ham,

nhạc giục hoang mang tỳ bà

Đừng cười

ra trận ta say

Chiến chinh máu chảy xưa nay ai về?

Thung lũng Đa Thiện,

Đà Lạt xuân 2005

Tin vui trong ngày: Con rồng chữ lọt vào topten…

2 Comments

Cập nhật 18h 5.12.2007: Theo tin từ báo Văn Nghệ, truyện ngắn Con rồng chữ đã được chọn vào topten truyện ngắn hay 2007. Đây cũng là truyện ngắn mở đầu cho blog của tôi.

Cả tuần nay bận rộn và có những điều bực mình cũng như thất vọng.

1. Tiện net của bà xã, nhân viên nghỉ mất mấy người. Thế là phải tuyển người cho vợ. Hãnh diện là tôi biết nhìn người, chưa bao giờ nhận cho bà xã một cô cậu sinh viên (làm thêm) mà bả không vừa ý.

2. Cuộc thi truyện ngắn báo TT đã có kết quả chung khảo. Không có tên thằng tôi, người mở đầu cuộc thi ấy. Ngẫm lại email của P.T.Hoài năm ngoái thật đúng: “Là người viết thì cứ viết và phải tự tin anh ạ. Mỗi người cảm nhận văn chương mỗi khác, nói chung là yếu tố may mắn phải tính đến”. Cứ dặn lòng, già rồi thi thố gì nữa, quên đi! Nhưng cũng không khỏi bực mình vì hình như cuộc thi của TT mà có mấy người của TT lấy truyện vào chung khảo. Hà hà… vừa đá bóng vừa thổi còi, tự nó đã hạ thấp cuộc thi xuống… (AQ đấy… Không hề đề cặp đến văn mình dở ẹc…)

3. Sáng nay đã gửi 6 truyện ngắn và 3 bài biên khảo cho báo Văn Nghệ theo yêu cầu nhận được hôm qua của BBT (tìm bài cho số Xuân và Tết).

4. Blogger bè bạn ồn ào vụ TT. Một dòng chảy duy nhất, đầy tâm lý đám đông nên chỉ đứng ngoài nhìn. Tôi có viết một truyện ngắn nêu rõ: vị lãnh tụ của gia đình rất không nên biến sự nghiệp và ngôi nhà của mình thành con cờ tượng trưng trên một bàn cờ. Phải chăng tính phản biện của TT mà mọi người đang tiếc nuối góp phần đưa truyện này đến bạn đọc?

Older Entries

Anle20's Blog

Just another WordPress.com weblog

levinhhuy

Quắc mắt xem khinh nghìn lực sĩ/ Cúi đầu làm ngựa bé nhi đồng

thôn Sấu

Quê hương yêu dấu (Dọc hành chấm đứng). Xin các bạn vui lòng ghi rõ nguồn và dẫn link đến trang này nếu đăng lại bài của tôi

thienthanh2017.wordpress.com/

Thượng thiện nhược thủy, thủy thiện lợi vạn vật nhi bất tranh - Lão Tử

Học Thế Nào

How We Learn

leminhkhaiviet

About Vietnamese Cultural History and Scholarship

Xuân Bình

Nhà báo tự do

Nguyễn Huy Hoàng

the star is fading

Nghiên cứu lịch sử

Các bài nghiên cứu, biên khảo và dịch thuật các chủ đề về lịch sử

Le Minh Khai's SEAsian History Blog

Always rethinking the Southeast Asian past

trinhythu

Trịnh Y Thư WordPress.com site

trandangtuan.com

Men lá rượu ngô trong

4th Avenue Café

Free non-fiction translation

WordPress.com

WordPress.com is the best place for your personal blog or business site.

Trương Thái Du's Blog

Văn chương thiên cổ sự - Đắc thất thốn tâm tri...

No More Goat Soup

No goats were harmed in any way while making this blog. (We did kill all the sheep though)