Trích chương 4, tiểu thuyết Miền cổ tích hoang hư

2 phản hồi

Phương dằn lòng không khóc khi rời Hải Phòng. Tàu hỏa xuyên qua những con hẻm nhếch nhác, những mái ấm chắp vá. Hải Phòng của Năm Sài Gòn và Tám Bính. Hải Phòng của Phương. Hơn nửa thế kỷ Hải Phòng vẫn vậy. Người thợ đóng tàu vẫn bạc mặt bên dòng sông Cấm. Công nhân xi măng vẫn hít thở trong bụi bặm mù trời. Bến Sáu Kho vẫn sực mùi mồ hôi ngai ngái của phu khuân vác.

Phương về thăm quê ngoại lần cuối rồi lang thang khắp Hà Nội. Anh lưỡng lự trước hai ngã đường còn lại. Tự thân Phương biết mình quá nông cạn và kém cỏi. Nghề văn chỉ dung nạp các khối óc thiên bẩm và thực sự dũng cảm. Ảo vọng là thứ dễ lây lan và đòi hỏi nỗ lực lớn để phủ quyết. Ngày nay nhiều người hay dẫn câu “Lập thân tối hạ thị văn chương” như cách làm duyên khôi hài, tự cao tự đại. Lối biện hộ cho thói vô trách nhiệm và bất tài của phường thầy tụng buôn mực bán chữ rất đa nghĩa. Cuối cùng Phương đành tìm may rủi.

Sáng tinh mơ Phương lững thững ra phố cổ. Chẳng biết người nghệ sĩ Bắc Hà “… lang thang hoài trên phố. Bơ vơ không nhớ nổi một con đường…” đang ở đâu. Mái ngói mơ màng nghiện vẻ cô đơn thấm đẫm trong tranh Bùi Xuân Phái. Hàng quán cửa đóng then cài. Những mắt lá bàng cuối cùng rũ rượi, run rẩy lo sợ trước cơn gió nhẹ đi hoang. Rồi mùa thu cũng cuốn phăng bằng hết. Phải chăng ngày hạ cũ quá thiếu nắng khiến sắc lá nhợt nhạt. Vậy mà sự ranh ma vẫn khó dấu. Dưới gốc cây bao nhiêu xơ lá vật vờ sau khi trả hết cho đất chất mùn nghèo nàn.

Phương ghé Thủy tạ hồ Gươm uống cà phê. Sương tan anh vào đền Ngọc Sơn thắp nhang. Phương cố ra vẻ thờ ơ vẫy tay phó nhòm chụp hộ anh tấm ảnh dưới tháp Bút. Phương chờ ảnh rửa gấp bên cạnh hai lão ông râu tóc bạc phơ say sưa chơi cờ tướng. Cỡ tiếng sau thì số phận an bài. Nhìn thật kỹ sẽ thấy ảnh không lấy được ngòi bút. Ba hán tự “Tả Thanh Thiên” nhạt nhòa.

Phương ngồi phịch xuống chiếc ghế con của bà cụ răng đen bán nước chè và thuốc lào. Vị trà tàu đắng lưỡi ngọt họng.

“Cho cháu một quẻ bác ơi – Phương quay sang ông già gầy guộc mặc áo thâm đang ngáp ruồi trước tấm bảng nhỏ “Viết sớ chữ Nho”.

Cặp kính đen chằm chằm nhìn Phương:

“Sinh viên xa nhà hả? Để dành tiền bồi dưỡng hai cái má hóp kia. Cứ học giỏi tương lai khắc sáng sủa. Hơn nữa, người như cậu đâu tin bói toán.

“Bác tinh quá nhỉ.

“Phệt quần mài dép dưới đáy xã hội mà mù là chết. Ở đời không may bị mù thì cũng chớ nên lòa. Mắt sáng đừng để lóa.

“Con rồi có làm nên cơm cháo gì không bác?

“Quân tử ăn không lấy no. Câu hỏi ấy dành cho tiểu nhân.

Phương ngắm hồ Gươm lần cuối như muốn đắm trọn mình trong tiết thu se lạnh. Tháp cổ trăm năm ru gió. Phất phơ hàng liễu bờ bên kia. Hương hoa sữa đêm qua còn vương đâu đó. Chuyện kể một thương nhân ma mãnh biết xem long mạch, hắn bợ đỡ thực dân rồi xin quan thầy Lang Sa cho phép xây tháp trên gò rùa để bí mật cải táng cha mẹ. Nhân công phản trắc ném hết xương cốt xuống nước rồi yểm hai chiếc quách không dưới móng tháp. Vài năm sau, hoạn lộ của tên Việt gian theo đuôi lũ cướp nước tan nát. Hắn bị giải quan và giam lỏng đến chết tại Hà Nội. Thật ra ngọn tháp xét kỹ chẳng lấy gì làm đẹp, hai tầng xây cửa gô tích xa lạ với truyền thống Á đông, nóc nhỏ bé tủn mủn không ra ngô khoai gì. Vì khuôn cảnh xung quanh trữ tình, nhìn mãi quen mắt nên giờ đây hồ Gươm mà không có tháp thì không còn thi vị…

Hồ Hoàn Kiếm huyền thoại của Lê Lợi, với Phương nửa gần nửa xa. Trong mắt mỗi người hồ Gươm mỗi khác, có buồn vui, có lãng mạn, có thực tế hoặc hư ảo. Không hiểu sao buổi sáng ấy Phương chợt nghĩ hồ Gươm là nghiên mực không bao giờ cạn. Chỉ cần chút tâm trí lãng đãng là đọc ngay được thiên lịch sử văn hiến bất hủ viết lên bầu trời và phản chiếu, thu nhỏ trên mặt nước xanh rêu phẳng lặng.

Gần 600 năm, người Việt cứ nhất mực gọi loài giải sống dưới hồ là rùa. Sự ngộ nhận khá ngây ngô, vì quy là rùa, còn giải tiếng Hán – Việt là miệt. Chẳng lẽ không gian của huyền thoại hoàn kiếm bao gồm hồ Gươm, gò ba ba và tháp cua đinh nghe quê mùa lắm. Thì ra chân lý đôi khi là thói quen sai lầm, lập đi lập lại nhiều đời.

Chân lý đã không thuộc về nhà cách mạng vĩ đại Hồ Quý Ly và những cải cách triệt để của ông. Giữa một lục địa bao la đầy dẫy tầm chương trích cú, việc ông đưa toán pháp vào để tuyển chọn hiền tài thật sáng suốt. Nếu không có ý chí độc lập tự chủ, ông ban bố chính sách, văn kiện triều đình bằng chữ Nôm làm gì. Kinh Lễ quy định đích thân thiên tử tế Nam giao, chư hầu cúng Xã tắc. Năm mậu thìn 968 Đinh Tiên Hoàng lập đàn Xã tắc. Thời Lý chỉ có Vu đàn, quan lại thường đến cầu mưa. Đời Trần sử sách không nhắc đến việc này, trừ hai câu thơ “Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã – Sơn hà thiên cổ điện kim âu”. Như vậy Đàn Giao xây ở Đốn sơn, Tây Đô chứng tỏ nhà Hồ đã nâng địa vị triều đình và quốc gia lên tầm cao mới. Nhân dân không theo ông, kẻ sĩ không đoàn kết bên ông chống ngoại xâm mà cứ bo bo xem mình là tôi đòi của họ Trần mạt vận thối nát. Đất nước dưới ách chiếm đóng quân Minh vĩnh viễn mất đi cơ hội vượt qua cái huôn nhược tiểu. Đành đoạn lắm, đoàn bô lão Kỳ La vẫn cố nguyền rủa người anh hùng thất trận, họ đọc trại Kỳ La thành Cơ Lê nghĩa là trói họ Lê (họ cha nuôi Hồ Quý Ly) và chơi chữ Thiên Cầm là đàn trời thành ra trời bắt. Chính xác thì người Việt đã đang tâm tống cổ cha con họ Hồ về Trung Hoa với dòng dõi nhà Ngu. Cuối đời mình, Hồ Nguyên Trừng, Edison Việt Nam đầu thế kỷ 15 với sáng chế tiêu biểu là súng trường cá nhân, đành an phận với chức thứ trưởng bộ Công chánh Minh triều, đau đáu hướng về cố quốc rồi tự gọi mình là “lão già nước Nam” trong trường thiên ai oán “Nam ông mộng lục”.

Hồ Quý Ly cũng chẳng phủi tay giũ áo đi biệt. Ông đã đào tạo cho non nước này tầng lớp sĩ phu mới, ít thiển cận và có đầu óc. Họ phò tá Lê Lợi phục quốc và xây dựng nhà nước Nho trị vững vàng. Đến đời cháu Lê Lợi, Việt Nam vụt lớn mạnh thành đế quốc rồi tiêu diệt được Chiêm Thành, trở lực khủng khiếp nhất trên con đường Nam tiến của dân Việt. Nguyễn Trãi nổi bật trong số ấy. Là quân sư thân cận Lê Lợi, văn võ song toàn chắc chắn họ Nguyễn đã giúp Lê Thái Tổ xây dựng màn kịch trả gươm. Khu đầm lầy thời Lý – Trần được nạo vét, đắp đập ngăn nước và thả giải bắt từ Lam kinh ra. Cho dù huyền thoại “hoàn kiếm” ra đời trên bất cứ nền tảng văn hóa nào, mục đích duy nhất và cuối cùng của nó vẫn là hợp thức hóa, chính thống hóa Lê triều. Hình ảnh rùa thần mang tính chất siêu nhiên, nó sao chép tích “Thăng long” thời Lý Công Uẩn, và xa lạ với khái niệm “thiên tử – con trời” trong triết lý Khổng giáo. Điều này chứng tỏ xã hội Việt Nam khi đó vẫn còn hơi hớm thần quyền lạc hậu. Để lấy lòng dân, Lê Lợi phải làm cho họ tin tưởng rằng mình có sự hậu thuẫn của các lực lượng siêu nhiên.

Nếu nhìn nhận lịch sử là sự vận động đa chiều của xã hội, thời điểm ra đời của huyền thoại hồ Gươm chính là bước ngoặt đáng lưu ý. Từ đó về sau, những truyền thuyết hoang đường như vậy vẫn còn xảy ra nhưng ở mức độ cường điệu khá thấp, và tác dụng ngày càng hạn hẹp. Nó chỉ ra chiều hướng thượng của dân trí.

Không còn nghi ngờ nhiều nữa, Nguyễn Trãi là đồng tác giả của huyền thoại hoàn kiếm. Ba họ nhà ông cuối cùng đã rơi đầu vì chính tài năng kiệt xuất của ông. Dân gian hoặc triều đình lại phong thần phong thánh cho ông cũng bằng một huyền thoại nhưng tuyệt đối u ám, trí trá và cực kỳ vô nghĩa, đó là câu chuyện máu đỏ rắn trắng thấm qua 3 trang sách nho học! Mọi anh tài ẩn mạng dưới sao khuê đều tự giác kê gươm sắc cạnh cổ mình. Khí chất ấy, đáng tiếc chẳng còn tồn tại đến hôm nay.

Cụ giải dưới kia chắc hiểu kẻ giả trí luôn mang giấc mộng hư văn vừa ngông vừa dại. Bọn họ mạo muội vay mượn nét chữ giáp cốt sơ khai trên lưng họ hàng cụ, vẽ vời sứ mệnh ảo tưởng. Ai đã cho mình cái quyền được kiểm duyệt, cắt xén, chắp vá cả Bình Ngô đại cáo. Câu “Việt Triệu, Đinh, Lý, Trần chi triệu tạo ngã quốc…” được dịch nôm thành “Từ Đinh, Lê, Lý, Trần gây nền độc lập…”. Và ở đâu đó, người ta chẳng ngại ngần vứt đi dòng chữ “thiếu lập trường”: Thị do thiên địa tổ tông chi linh hữu dĩ âm tướng, mặc hựu nhi trí nhiên dã (Nhờ trời đất tổ tông khôn thiêng chở che, giúp nước nhà). Áng văn lặng câm, vô hình chính là áng văn bất hủ. Những tiếng kêu thét tắc ngẹn làm người ta dựng tóc gáy: “Văn chương thiên cổ sự – Đắc thất thốn tâm tư”.

Hồ gươm là Văn trì, là giếng Thiên Quang, là tấm gương soi của thời gian. Tất thảy đen tối và trần trụi đều lộ tẩy. Trong ánh sáng thông tuệ, mặt gương trả lại sự thật và chân lý bạch nhật. Mặt gương đảo ngược hiện thực, giũ tung bụi mù vô minh và lắng nó xuống bùn. Những thân phận được tẩy sạch nhơ nhuốc không đáng có sẽ khoe ra vẻ đẹp vĩnh cửu từ lâu đã bị bóng tối đè nén, âm mưu hủy hoại.

Vầng dương ưng ửng góc trời hay đơn giản chỉ là ánh sáng liêu trai trung cổ? Hà Nội cuối thu. Mây thấp. Cơn mưa hồng thủy rất cần cho nền văn minh lúa nước. Hình thái tàn héo, già nua, cằn cỗi đã mất hết năng lực sáng tạo sẽ tan loãng. Ngày mới sẽ tái sinh, hoàn đồng và phục thiện mọi thứ. Lũ lụt đi qua phù sa ở lại. Mùa Xuân còn xa lắm không? Ngày mai lập đông, trời sẽ rét nứt da tái thịt?


Phương biết, anh là kẻ tình cờ đi qua thế gian này như một lữ khách không hành trang, chẳng sứ mệnh. Anh đành chọn cho mình bậc thang thấp nhất của trật tự Sĩ – Nông – Công – Thương để dấn bước vào đời. Bên cạnh hồ Gươm, giữa lòng Thăng Long ngàn năm văn vật Phương thấy hết sức ấm áp khi nhìn về tương lai. Ngày mai thật nhỏ bé, vị kỷ và hèn nhát nhưng hình như tuyệt đối an toàn.

Trích chương 11, tiểu thuyết Miền cổ tích hoang hư

4 phản hồi

“Ra ngoài không Phương, anh ngấy mấy tiểu phẩm hài trên truyền hình lắm rồi. Độ này người Việt ta cười như mắc bệnh tâm thần. Ngôi sao hài mọc từng chùm lố nhố từ phường, quận đến cả cái Sài Gòn nhỏ bên Cali cũng vừa lập nên năm bảy nhóm cạnh tranh khốc liệt. Nội dung thô tục, sống sượng và thậm chí bẩn thỉu”.

“Các xu hướng nghệ thuật thế kỷ hai mốt của chúng ta có lẽ đều đi đến hài. Diễn viên chính kịch quay sang hài kịch, thi sĩ khoác lốt thằng hề, nữ đóng nam, nam vào vai lại cái, cải lương cười, phim cười, báo cười, tranh cười, truyện cười… buổi tối mở vô tuyến hoặc vào quán cà phê nhạc cứ đụng hài… hô hố…”.

“Khi những vai hề làm chủ đời sống tinh thần rồi vỗ ngực xưng tên là nghệ sĩ vĩ đại, là thần tượng bất tử thì nền nghệ thuật của chúng ta bắt đầu lâm nguy rồi”.

“Nghệ thuật thể hiện thực tại bằng các loại hình tượng. Đằng sau tiếng cười dễ dãi hiện tại là khuôn mặt suy đồi, biến dạng và tha hóa của một thế hệ”.

“Để chứng tỏ mình ít điên khùng thì hãy ra đường dạo mát chờ giao thừa đi em ạ”.

“Hình như đêm nay bến Bạch Đằng có bắn pháo hoa”.

Phương vui vẻ như chú nhóc được người lớn dẫn đi chơi. Hai anh em vòng vèo trên phố. Trời se lạnh. Đường đông nhưng không lộn xộn như thường lệ, có lẽ phút liên giao làm mọi người hơi chùng xuống với những riêng tư thầm kín. Từng đoàn xe chăng đèn, cờ hoa rực rỡ diễu qua phố. Phương háo hức quan sát trong khi anh Chung ẩn giấu vẻ bí mật khang khác. Anh bảo Phương quay xe ra chợ Bến Thành và ghé vào sạp hoa muộn mua một bó hoa trắng. Người bán hoa ra giá khá cao, Phương trách. Anh Trung khẽ cười bảo “Thôi kệ, bó hoa này là ngoại lệ”. Sau đó, như chiếc máy Phương chạy quanh co theo lệnh của anh. Phương thật sự ngạc nhiên khi anh Chung yêu cầu dừng xe ở góc ngã tư Mạc Đỉnh Chi, trước tấm bia tưởng niệm tử sĩ tết Mậu thân.

Trước đây bia dựng gần toà nhà cũ. Việc bình thường hoá quan hệ Việt – Mỹ khiến tấm bia phải lùi xa ra lề đường. Nước Mỹ hùng cường xem ra hơi dễ bị tổn thương. Họ đập vội đập vàng cái cao ốc đồ sộ đã nhẵn mặt khắp địa cầu bằng hai hình ảnh bi tráng. Tết Mậu thân: hàng rào bê tông thủng; vách tường găm đầy vết đạn; một tầng cháy xém, khói bốc ra nghi ngút; sân cỏ khuôn viên rải rác máu tươi và xác chết. Mùa xuân 1975: cuộc tháo chạy hỗn loạn, người bu đen như kiến lên tận nóc sân thượng được tận dụng làm bãi đáp trực thăng.

Quang cảnh mới là khu nhà thấp lè tè, xa lạ với kiến trúc phổ thông bắc Mỹ. Họ vẫn bị quá khứ ám ảnh, các bức tường dầy bằng vật liệu chống mìn, song sắt bảo vệ kiên cố nửa kín nửa hở khoe khoang hệ thống máy thu hình cảnh giới hiện đại. Phương nghe người bạn làm trong Lãnh sự Mỹ bảo, đằng sau bia Mậu thân, phía trong hàng rào, người Mỹ cũng xây đài tưởng niệm liệt sĩ Huê Kỳ! Tư tưởng cao bồi vĩ quốc, ước vọng ngạo mạn làm kẻ khởi thảo chuẩn mực xã hội hiện đại và ép buộc các dân tộc thấp cổ bé họng noi theo, lẫn khuất đâu đó trong cách cư xử với đoàn rồng rắn cầu cạnh thường trực, chủ yếu là xin chiếu khán nhập cảnh. Nước Mỹ luôn nghĩ mình là thiên đường của tự do. Trớ trêu thay, những chú lính quèn gác cửa lại mang sát khí của sa tăng với dùi cui, ma trắc, súng điện và bản mặt lạnh tanh. Chỉ cần vài mảnh tự trọng rơi vãi, bất cứ con dân An Nam nào cũng phải mủi lòng vì đám gác cửa kia trăm phần trăm da vàng, tóc đen và mũi tẹt!

Tấm bia ẩn trong cái góc bình lặng nhất của Sài Gòn vào lúc này. Hàng điệp vàng che gần hết ánh đèn đường tạo ra cảnh tranh tối tranh sáng. Thấp thoáng bóng gái ăn sương. Dòng người thờ ơ lướt qua.

Anh Chung bước xuống, với tay phủi sạch lá khô rải rác trên bệ bia và trân trọng đặt bó hoa lên.

“Thật tệ! Sắp giao thừa rồi mà chẳng ai nhớ đèn nhang – Sương đọng nhiều trên nét chữ văn bia, anh Chung vẫn độc thoại – Nên gọi sương là mồ hôi hay nước mắt của đá nhỉ – Ở khoảng cách thích hợp và góc nhìn khéo chọn, từng giọt sương đang hút hết màu đỏ của tấm bia hồng nhạt”.

“Em để ý ngày lễ nào người ta cũng dọn dẹp và đặt hoa, thắp nhang. Hình như vì tế nhị ngoại giao nên ít khi linh đình nhưng không thiếu trang nghiêm”.

“Đây đích thực là trung tâm ngôi đền Chiến thắng. Chiến thắng quá vẻ vang nhưng vĩnh viễn cô độc. Chiến thắng đầu tiên và cuối cùng của sức mạnh truyền thống Á đông trước ngưỡng cửa mù mờ thời hậu hiện đại, nơi con người vẫn lúng túng tìm chỗ đứng thích hợp cho khoa học trong tổng thể văn hóa và văn minh”.

“Em lại thích chiến bại hơn. Gương mặt đưa đám của thái tử Anh quốc trong buổi lễ trao trả Hương Cảng ngày 1 tháng 7 năm 1997 có nên gọi là chiến bại đầu tiên của những tên kẻ cướp Tây dương không?”.

“Từ bài học Việt Nam kẻ mạnh đã hiểu nơi nào sử dụng được bom bay, tên lửa, nơi nào cần đến bẫy tiền và sức ép kinh tế. Hãy nhìn hàng tỉ Mỹ kim người Mỹ bỏ ra để truy tìm tử sĩ của họ. Xót xa thay cho hàng triệu nấm mộ chiến sĩ Việt Nam vô danh còn thất lạc. Một giúp đỡ nhỏ nhoi nước Mỹ cũng chối từ. Đồng tiền của kẻ giàu kia chính là sự sỉ nhục với chúng ta”.

“Nhưng việc cầu cạnh còn hơn cả nỗi nhục. Mấy tháng trước em tình cờ đọc trên báo mẩu nhắn tin không có tác giả. Những người tốt dấu tên này đi cắm trại và tình cờ đào trúng huyệt chôn sơ sài của một liệt sĩ. Họ giao bộ hài cốt ấy cho nghĩa trang liệt sĩ huyện sở tại. Họ mô tả rất kỹ vật kỷ niệm thủ công bằng hợp kim nhôm lấy từ xác máy bay. Đó là chiếc lá cây Mộc miên, mặt trước khắc bụi tre, mặt sau có ghi tên cậu em, ngày sinh và nguyên quán. Em vội vàng đáp xe ra miền Trung. Cậu đã được an táng kỹ càng. Em gợi ý xin người quản trang bí mật đào quách tĩnh để em đưa cậu về quê với gia tộc. Xong việc, theo thói quen Sài Gòn em dấm dúi chiếc phong bì kha khá. Ông ta từ chối và bảo em đi mua bó nhang cùng dăm thứ hoa quả đặt lên bàn thờ chung. Em ngạc nhiên. Người quản trang quắc mắt mắng: “Nếu anh không coi thái độ của tôi là tấm lòng thành kính với người đã khuất thì cứ cho rằng tôi sợ hồn thiêng quở phạt. Hãy nhớ rằng đâu chỉ có anh muốn thân thích mình hồi hương. Gần phần ba trong hơn hai ngàn nấm mộ ở đây hoàn toàn trống rỗng nhưng chẳng hề vô nghĩa. Anh khó hiểu tôi thì làm sao anh có thể hiểu được những cái tên không đầy đủ trên bia mộ quanh đây chính là nỗi đau của dân tộc Việt Nam. Nỗi đau không thể rịt bằng tiền đâu anh ạ!”.

“Em có bài học thật giá trị”.

“Văn minh Tây dương đang sử dụng loại siêu vũ khí là đồng tiền để tiến hành cuộc xâm lăng mới, cưỡng bức các dân tộc nghèo nàn lạc hậu”.

“Vài gã tỉ phú rút tiền từ túi này bỏ sang túi kia, Đông nam Á, Đông Âu và Nam Mỹ vạn phần khốn đốn. Lời chào muôn năm cũ là mưa bom bão đạn đổ lên đầu dân tộc Serb và cuộc chinh phạt Tresnia. Thây người chất đống, phố xá biến thành gạch vụn. Tương lai khó tìm được Việt Nam thứ hai”.

“Nếu người ta biết anh là Việt Kiều chắc chắn anh sẽ nổi tiếng lắm”.

“Lịch sử tuyệt đối công bằng và mười mấy linh hồn nơi đây hoàn toàn xứng đáng được tôn trọng. Sự hiu quạnh ở chốn này so với không khí lễ hội đằng kia làm anh chạnh lòng và đột nhiên nảy ra chuyện mua hoa. Chưa hẳn đây chỉ là chút biến thái của kẻ từng là dân triết học như anh. Đừng nghĩ lũ các anh đều xanh lè. Với phần đông người Việt tha phương tiền không phải là tất cả. Em không hiểu và sẽ không chịu hiểu đâu”.

“Hình như anh cũng ít sọc dưa”.

“Không hề! Bọn lãnh tụ miền nam cũ là những kẻ ăn chơi, cơ hội, nhu nhược và hoàn toàn bấp bênh trên mặt phẳng văn hóa. Chúng thừa ảo tưởng nhưng thiếu đầu óc thực tế, thậm chí cả lòng tự trọng. Thế hệ trẻ hơn rất bị động, luôn đứng trước sức ép đồng hóa cộng với ám ảnh quá khứ nên dễ bị khiêu khích và luôn sẵn sàng nổi loạn. Vừa mới thành hình, thai nhi đã nổi loạn tạo nên cơn đau bất thường cho người mẹ. Đủ 9 tháng mười ngày đứa trẻ phủ nhận chiếc tổ ấm vô cùng an toàn trong cuộc nổi loạn cá nhân vĩ đại nhất để dấn thân vào cuộc đời đầy dẫy chông gai, trắc trở”.

“Em muốn nổi loạn khi Clinton cao giọng tuyên bố bình thường hoá quan hệ Việt – Mỹ. Đáng buồn là nhiều người vội vã tung hô, hồ hởi, thỏa mãn đón ân sủng. Coca Cola, Pepsi rú lên như vừa tìm ra Tân thế giới “Vui mừng gặp lại các bạn!”. Quang Trung giả đem thư cầu hòa sang gặp hoàng đế Thanh triều nếu nghe được chắc cũng thẹn bầm tim”.

“Con người cần hướng cuộc nổi loạn của cộng đồng vào mục đích đi lên hơn là biểu thị sự bất lực trong cảm giác bị xúc phạm và tổn thương huyễn mị. Nói cho cùng sự nổi loạn là biểu hiện của con người man khai, là phép toán sơ đẳng, hạ cấp”.

“Em không tin luận lý ấy đúng trong tiền cảnh của thời hiện đại, của cuộc cách mạng thông tin và di truyền. Thành quả con người đạt được đã vượt xa khả năng tiếp nhận của chính họ, đó là chưa kể đến rào cản cố hữu”.

“Vượt qua nỗi nghi ngờ đơn thuần, tình cảnh này là lỗ hổng tồi tệ của các triết thuyết thế kỷ hai mươi. Chúng mất hẳn yếu tố dự đoán nghiêm túc trên con đường đi tới của nhân loại trừ những công thức toán học mơ hồ của thuyết tương đối”.

“Em không coi trọng yếu tố dự đoán. Bài học lịch sử rành rành ra đó. Em thích khái niệm chuỗi luận lịch sử”.

“Nên xem lý tưởng là nhân tố tích cực. Lý tưởng giúp điều chỉnh và cải thiện thực tại, đó là giá trị duy nhất của nó. Lạm dụng lý tưởng là việc làm sai lầm. Trước sau cũng đi vào ngõ cụt”.

“Đầu tiên là Mỹ, đến bây giờ hầu hết quốc gia có nền kinh kỹ phát triển đã ra lệnh cấm khoa học thực nghiệm sinh sản vô tính trên người. Phản ứng rất thụ động. Tư duy xã hội đi trước là võ đoán, đi sau thành thủ cựu. Chỉ mong hai hình thái trên song hành và bổ khuyết lẫn nhau”.

“Ở thế kỷ ánh sáng, châu Âu đã biết con người cần được bình đẳng trước tri thức. Học tập là quyền lợi được cổ xúy mạnh mẽ. Vấn đề tố chất của từng cá nhân liên quan đến sự học nảy sinh. Không phải ai cũng có khả năng, nghị lực và tinh thần lao động cần cù để đoạt được tấm bằng đại học. Tác động của di truyền là có thật nhưng ở mức độ nào thì chưa sáng tỏ”.

“Ba bốn tỉ mã di truyền của con người sắp được khám phá. Giới xã hội học toàn cầu đang lo lắng. Không biết các nhà khoa học có mở ra thời Hậu hiện đại rạch ròi như tổ ong không. Sẽ có những thế hệ sinh ra để làm chúa tể, làm công nhân, nông dân, binh lính… Người giàu sẽ không còn bệnh tật, tình cảm và cảm giác bị chế ngự. Phân hóa sẽ mãnh liệt khôn lường”.

“Đừng nên xem giả thuyết này là mặt trái của khoa học. Anh tin chắc rằng phương thuốc đầu tiên họ sẽ tạo ra trong tương lai phải là thuốc “nhân ái”. Trong khi chờ đợi phép màu, con đường ngắn nhất dẫn đến tình thương đại đồng chính là tri thức”.

Hai anh em mải mê luận bàn trên đường tìm chỗ tham dự đêm pháo hoa. Những phát súng chát chúa phóng lên không trung khói và lửa, tạo thành muôn vàn bông hoa rực rỡ chào đón năm Canh thìn. Kỳ lạ thật, không rõ con người còn tôn sùng, say mê khói lửa và tiếng nổ đến chừng nào. Thuở xưa sấm chớp đem đến cho con người nỗi sợ hãi thiên nhiên và cả lửa, nhân tố giúp họ dứt mình khỏi bóng đêm hoang thú, bước vào hành trình văn minh.

Phương chợt nghĩ, chẳng lẽ yếu tố nhân văn trong thuốc súng lại chính là sự nổi loạn di truyền của con người. Một viên quan Trung Hoa mê luyện đan trường sinh, đã tình cờ tạo ra thuốc súng. Bao nhiêu năm thuốc súng chỉ được dùng làm pháo tết, tạo nên tiếng nổ xua đuổi tà ma vô hình. Thế kỷ 19, những hạm đội “Man di” khạc lửa vào Hương Cảng, Sơn Trà cướp bóc lục địa Văn hiến. Nỗi chua sót muộn mằn ứ nghẹn. Ngày xưa nếu Socrate có mặt tại ải Hàm Cốc chắc ông ta chẳng ngại ngùng tháp tùng tác giả Đạo đức kinh vào rừng ẩn tích. Vậy mà dọc bờ tây Thái bình dương, hơn hai ngàn năm tiếp theo toàn thứ nổi loạn tầm thường, giành đất đai, địa vị, quyền thế. Thế hệ hôm nay hụt hơi theo đuôi bán cầu bên kia với mạng cáp quang không biên giới và các cuộc phiêu lưu trong đơn vị nhỏ nhất của sự sống.

Khởi nguyên, khoa học bị lẫn vào tôn giáo. Khi khoa học đủ mạnh để tạo cho mình chỗ đứng độc lập thì tôn giáo đã biến hình. Tôn giáo khôn khéo gạn lọc tinh túy của lẽ đời, đúc kết thành cứu cánh dẫn loài người bước ra khỏi bóng đêm hoang dã. Thời hiện đại tôn giáo bị thất sủng. Con người nhận ra mình hèn yếu đi vì tôn giáo. Giáo lý không thể thay đổi nhằm phù hợp với sự phát triển vượt bậc của tư duy nhân loại. Sự sùng bái phi lý, con đường mòn dẫn đến giác ngộ tín ngưỡng đang bị lấp đầy cỏ dại. Đó là cái vòng luẩn quẩn, chẳng le lói chút tương lai sáng sủa. Hơn nữa nấc thang mới của nhận thức không cho phép bất cứ cá nhân nào trở thành minh chúa. Không ai dám vỗ ngực tự xưng mình có tư cách và phẩm chất bẩm sinh. Sự hiền minh của các loại chúa trời sẽ là điên rồ trong mắt tương lai.
Như vậy mọi lối biện hộ cho chủ nghĩa độc đoán, chuyên quyền đã phá sản. Tự do thuộc về những con người đích thực. Áp đặt sẽ góp phần tha hóa xã hội trong cái vỏ bọc bình ổn tạm thời. Cá nhân độc lập tự do hoàn toàn có đủ năng lực, lý trí và tình cảm trước mâu thuẫn giữa lợi ích của bản thân và cộng đồng. Huyền thoại phi lý của tôn giáo hay những thứ na ná, nếu còn sống trong tri thức nhân loại, sẽ là sản phẩm tồi tệ hơn cả lạc hậu và sự thụt lùi khó cứu vãn. Thói man trá này là kẻ thù của phát triển, nhân văn cũng như khoa học.

Nhiều kẻ cầm quyền Tây dương từng coi khoa học là vũ khí tối ưu. Người Á đông có phần kiêng nể và cảnh giác với khoa học. Chúng ta ít khi thích thú sử dụng khoa học để hoàn thiện điều kiện sống mà chỉ xem đó là trò giải trí tầm thường. Tâm lý phản trí thức, phản khoa học luôn hiện hữu. Phần lớn thành tựu khoa học cận đại của nhân loại khởi nguồn từ châu Á Thái bình dương. Phương Đông nhận ra điều đó trong ngày đầu tiên của thế kỷ hai mươi. Và chúng ta phải học lại thành tựu thất truyền của tiền bối, đã được phát triển mạch lạc và hữu dụng, trong sách giáo khoa Tây dương. Không ít du học sinh Nhật phải quyên sinh, nhét bí quyết công nghệ trong bụng, trong quan tài mang về truyền bá cho dân tộc.

Khái niệm “Khoa học phương Tây, Đạo đức phương Đông” và luật cưỡng ép giáo dục của Minh Trị Thiên hoàng từ năm 1868 vẫn rất mới với đại bộ phận Á đông. Ba thành tựu khoa học có ảnh hưởng lớn nhất đến thế kỷ hai mươi là thuyết tiến hóa Darwin, ngành Phân tâm học của Sigmund Freud, thuyết tương đối mang tên Albert Einstein. Hai cái sau là sự kết hợp tài tình giữa khái niệm siêu hình võ đoán của triết học Á đông và chuỗi luận thực nghiệm, thống kê, kiểm chứng Tây dương. Nó biến đổi cách thức suy nghĩ về ý nghĩa của cuộc sống và xã hội con người. Tuy vậy, bản chất cội rễ của khoa học lại hoàn toàn phi nhân văn. Người ta chưa thiết kế được rào cản hữu hiệu để chặn đứng mưu đồ biến khoa học thành thứ vũ khí lợi hại. Hai quả bom nguyên tử nổ trên bầu trời Hiroshima và Nagazaki là cái tát nảy sao của khoa học tặng cho gương mặt nhân tính. Ví dụ thuyết phục nhất chắc chắn là thế giới ảo bên cạnh thế giới tạm gọi là thực. Đó là cõi gần như thực, hay thực tế ảo, giữa không gian điện toán. Môi trường này thuần công thức và rất trừu tượng, với hệ thống tín hiệu. Nó sinh ra thứ kinh nghiệm và tri thức chỉ là trật tự điện toán, nó làm cho những cá thể thực không những không mang thực tính, mà còn chứa đựng nền tảng bất định, chạy theo nhiều tham số luôn luôn đổi thay. Linh hồn con người thoát thai từ cuộc tiến hóa sinh vật, tức là bông hoa trổ ra từ cái gốc chương trình điện toán của tự nhiên. Như vậy, thế giới ảo phải chăng là lỗ đen vật lý của nhân văn, mặc dù trước mắt nó làm được khá nhiều việc rất vĩ đại. Ở thì tương lai, khoa học đơn thuần sẽ máy móc hóa linh hồn và hiện hữu. Con người hết còn trăn trở, thao thức. Họ sẽ vặt bẻ bông hoa nhân bản kia vứt đi, để tự nguyện chôn vùi đời mình trong những chuỗi luận bắt đầu từ vài tiên đề không chỗ dựa, chẳng hạn một cộng một bằng hai (!?). Sản phẩm của khoa học, sớm muộn cũng vây hãm con người bằng những giá trị tràn lan, xếp hàng ngang, chẳng giá trị nào cần thiết hơn giá trị nào. Hóa ra có có không không, có không biến ảo khôn lường. Đời sống nói riêng, hay lịch sử nói chung biến thành bãi rác biểu tượng, khái niệm và tín hiệu.

Người Á đông đã chế tạo kim chỉ nam giúp xác định phương hướng trên địa cầu, cách nay ba bốn thiên niên kỷ. Nhưng chúng ta chưa bao giờ là những thủy thủ giỏi trong giấc mơ đại dương cuối chân mây. Sẽ sai lầm nếu gán cho các chuyến viễn du sau này hơi hướng kinh tế. Nên gọi đây là cuộc chinh phục vĩ đại trong thân thiện và hòa bình. Thông kê cho thấy 50% người nhập cư bất hợp pháp vào nhiều nước có nền kỹ nghệ tân tiến thuộc giống da vàng. Ở bất cứ thành phố lớn nào tại Tây dương cũng có khu quần cư gần gũi về bản sắc của các dân tộc Hán, Việt, Nhật hoặc Hàn với tất cả truyền thống đáng quí được gìn giữ một cách vô thức như bản năng. Càng ngày càng nhiều tên Âu họ Á được nhắc đến như là tác giả của các công trình khoa học lớn. Tổ tiên chúng ta từng bằng lòng tự giam hãm mình trong làng quê nhỏ bé, có giếng nước cội đa, sân chùa, mái đình. Đâu cứ phải “Nhân li hương tiện, vật li hương quí”. Tiếc thay, tầm nhìn giới hạn ấy còn phảng phất quá nhiều trong đời sống và văn chương, thi ca, nhạc họa đương thời. Nỗi hoài vọng thôn dã vẫn quẩn quanh giữa nếp nghĩ thành thị Á châu và lịch sử ngắn ngủi của nó.

Thái Luân làm được giấy năm 105 sau Công nguyên. Phương pháp in ấn ra đời không lâu sau đó. Đây rõ ràng là cuộc đại cách mạng thông tin lần thứ ba của nhân loại, sau sự hoàn chỉnh ngôn ngữ và phát kiến văn tự. Trên cơ sở đó công nghiệp báo chí và xuất bản Tây dương hình thành. Tri thức và nhân quyền được khai phá rồi thiện toàn để truyền bá, giáo dưỡng cho quần chúng, tạo dựng tiền đề cho xã hội văn minh.

Lẽ nào ngàn năm nữa chúng ta vẫn ngậm ngùi, len lén ngước nhìn bầu trời, để làm thơ ca ngợi vẻ đẹp dòng ngân hà. Tư tưởng tối cổ Á đông qui định đỉnh đầu là phương nam, mặt đất là hướng bắc. Tên gọi đàn tế trời là Nam giao có lẽ xuất phát từ đó. Gần hai tỉ con dân Á đông phải cất mắt lên khỏi hướng bắc nhu nhược và đớn hèn bởi phương nam không thể mãi mãi là hồng ân của thiên tử. Thế kỷ hai mươi mốt, kỷ nguyên hòa bình tự do, dân chủ và phú c
ường bắt đầu từ đấy chứ không phải nơi các con số nhân tạo trống rỗng vô hồn.

Có vẻ ngược ngạo, từng cá nhân Á đông lục địa nên đem theo nỗi nhục lạc hậu bước vào cuộc đua với đồng loại năm châu, trước thềm thiên niên kỷ mới. Dù chúng ta có nền văn hiến vượt trội, nhưng tốc độ văn hóa năm trăm năm nay không cao nên bộ mặt văn minh kém tươi tắn so với Tây dương. Nỗi đau giúp người ta trưởng thành, thụ hưởng tất cả ý nghĩa của cuộc đời. Nỗi nhục sẽ là điểm tựa cho sự vươn lên không ngừng nghỉ. Điều này chừng nào mới trở thành kim chỉ nam, dẫn bước chúng ta khỏi lạc lối trong sự vị kỷ, đố kỵ và chia rẽ của những cá nhân, những dân tộc, những cộng đồng cấu thành phương đông thần thịnh xác suy!?

Chùm hoa lửa mạnh mẽ rộ lên lần cuối, bầu trời rực sáng chói lòa. Lẫn trong màu pháo hoa kỳ diệu là mùi vị rất riêng, tượng trưng cho sự may mắn, xum họp. Nếu Nobel biết người Á đông rất thích mùi thuốc súng cháy và chưa bao giờ xem đây là mùi của tử thần, chắc ông ta sẽ bớt day dứt khi vĩnh biệt cõi đời. Nguyên lý thăng thiên đã và đang đưa con người vươn tới những vì sao. Đó là cuộc vượt thoát thân phận vĩ đại của nhân loại, bước tiến mạnh mẽ không thể phủ nhận của khoa học.

Di sản vô giá của nền văn hiến Á đông cũng khó mô tả như vẻ đẹp của hội pháo hoa. Phải chăng người Á đông giờ đây cần quá khứ hơn bao giờ hết, như niềm tin soi rọi cho tương lai. Đến khi chúng ta quen với tàu vũ trụ như phi cơ, từ trên cao nhìn xuống, mong rằng trái đất vẫn còn mãi màu xanh bất tận thanh bình, mong rằng lúc đó, quá khứ huy hoàng không còn ám ảnh chúng ta như điều xa vời, không thực tế và khó lập lại với tương lai!

LM xin giải tán, giáo dân không nghe (?!?!?)

1 phản hồi

Bên trong Tòa Khâm Sứ
Các giáo dân ở lì bên trong khuôn viên tòa nhà
Công An Hà Nội đã khởi tố vụ án hình sự ”Hủy hoại tài sản, Gây rối trật tự công cộng và Chống người thi hành công vụ” xảy ra tại nơi trước đây là Tòa Khâm Sứ.

Tin từ Hà Nội cho biết Cơ quan Cảnh sát điều tra thuộc Công An Quận Hoàn Kiếm ra Quyết định khởi tố số 60/CAHK ngày 26-1-2008.

Liên tiếp trong nhiều ngày qua, hàng trăm giáo dân hầu hết là từ các địa phương xa Hà Nội đã tụ tập về số 42 Nhà Chung.

Họ căng lều, dựng bạt trên đất của Tòa Khâm Sứ cũ nay thuộc quyền quản lý của Nhà văn hóa, phòng VHTT, Trung tâm TDTT quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.

Tình hình trở nên căng thẳng hơn sau vụ xô xát nhẹ hôm 25/1/2008, liên quan đến một giáo dân người Mường và một luật sư sau khi người phụ nữ tìm cách mang bó hoa đến tượng Đức Mẹ bên trong khuôn viên tòa nhà.

Xô xát xảy ra khi hàng trăm người kéo đến cầu nguyện

Hai người này cáo giác bị các nhân viên bảo vệ đánh trong khi nhà chức trách nói họ hành hung nhân viên công lực.

Nguyên nhân Cơ quan Cảnh sát điều tra, CA quận Hoàn Kiếm, quyết định khởi tố vụ án hình sự là “Hủy hoại tài sản, Gây rối trật tự công cộng và Chống người thi hành công vụ” xảy ra tại 42 Nhà Chung, phường Hàng Trống, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.”

Truyền thông do nhà nước kiểm soát đã bắt đầu có những bài báo lên án điều các báo như Hà Nội Mới gọi là ”Tòa Tổng Giám mục và những giáo dân quá khích đã vi phạm nghiêm trọng các quy định của pháp luật.”

Nhưng Toà Tổng Giám mục Hà Nội muốn khiếu nại với Đài Truyền hình Hà nội, báo Hà Nội mới và báo An ninh Thủ đô vì theo họ đã đưa tin sai lạc.

”Xuyên tạc sự thật về đất đai của Toà Tổng Giám mục Hà Nội, đặc biệt khu đất Toà Khâm Sứ cũ. Toà Tổng Giám mục Hà Nội có đầy đủ bằng chứng pháp lý về vấn đề chủ quyền đối với khu đất và tài sản tại đây.”

Chính quyền Hà Nội đang muốn chấm dứt các cuộc cầu nguyện công khai của giáo dân trước khu vực Nhà Thờ lớn. Nhưng các giáo sĩ nói điều này nằm ngoài khả năng của họ.

Đầu ngày hôm nay, 29/1, có tin số lượng công an qua lại khu vực đang tranh chấp đã tăng lên. Nhưng phía công an cũng không can thiệp vào việc cầu nguyện của giáo dân.

Một giáo dân có mặt tại nơi cầu nguyện nói các giáo dân nhất quyết không rời nơi cầu nguyện mặc dù có linh mục đã ”qùy xuống” khuyên họ không cầu nguyện ngoài trời mưa, lạnh.

Tiếng cầu kinh của các giáo dân trước tượng Đức Mẹ trong khuôn viên Tòa Khâm Sứ cũ, trong khi đó, vẫn vang lên không ngừng.

Báo chí đã được bật đèn xanh ?

1 phản hồi

Vietnam to solve land issues according to law, official says
The government will consider any housing or land demand in accordance with the law, a religious affairs official said in response to a recent request by the Hanoi Catholic church for a property.

Duong Ngoc Tan, head of the Catholics Department under the Government Committee for Religious Affairs, told the Vietnam News Agency the government would consider property decisions according to a religious organization’s need for land.

According to Vietnam’s law, land is owned by the entire nation with the government acting as a representative for public ownership.

Organizations and individuals are only given land use rights.

The Hanoi church recently requested the government grant a 1-hectare (2.5-acre) lot, which the church turned over to the government in 1960.

Tan cited the Land Law which stipulates that the State does not accept any claim for land given to other users during the implementation of land policies of the Democratic Republic of Vietnam (1945-1975), the Provisional Revolutionary Government of the Republic of South Vietnam (1969-1976) and the Socialist Republic of Vietnam.

The National Assembly, Vietnam’s unicameral parliament also “approved a resolution on November 26, 2003, regulating that the State does not reconsider policies and the implementation of policies promulgated before July 1, 1991 regarding land management.”

Tan said Vietnam’s land and housing policy advocated the rights and benefits of all organizations and individuals while making sure the interest of the entire people and country was best served.

Based on the need of organizations and individuals, however, “the state considers granting them the right to use a land lot they used to own or a new one” for “stable and long-term” use, Vietnam News Agency quoted Tan as saying.

Hundreds of Catholic followers recently came to the land lot, located at 42 Nha Chung, which is under state management, to place a statue of the Virgin Mary and a cross and pray.

Meanwhile, parishioners of the Thai Ha Parish in Hanoi appropriated another land lot to build chapels and create nativity scenes.

“The Government Committee for Religious Affairs regretted the two incidents happened,” Tan said, adding that according to religious policies, all complaints should be addressed in line with law.

“It is a state policy that Catholics in particular and religious followers in general are Vietnamese citizens so that all religious organizations and followers are facilitated to carry out religious activities,” he said.

Source: VNA

BÁO HÀ NỘI MỚI

Tại 42 Nhà Chung, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội:
Dừng ngay những hành vi gây mất trật tự công cộng
26/01/2008 22:58

(HNMO) – Những ngày này không khí xung quanh khu đất 42 Nhà Chung khá căng thẳng, giáo dân từ các tỉnh, thành khác kéo về, đập phá tường rào, dựng lều, bạt che mưa, dựng cây Thanh giá và rước tượng Đức Mẹ vào trong khuôn viên khu đất và ở lì trong đó. Đã xảy ra xô xát giữa nhân viên bảo vệ của các cơ quan của quận Hoàn Kiếm đang sử dụng khu đất đó với giáo dân. Phố Nhà Chung và một số phố xung quanh thường xuyên bị tắc nghẽn giao thông…


Một số giáo dân từ các địa phương khác đã phá cổng, vào dựng lều trái phép
trong khuôn viên khu nhà 42 Phố Nhà Chung. Ảnh: PV

Tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến sự việc nêu trên, chúng tôi được ông Hoàng Công Khôi, Chủ tịch UBND quận Hoàn Kiếm cho biết, sáng 25-1-2008, Tòa Tổng Giám mục Hà Nội đã tổ chức Thánh lễ tạ ơn Chúa, mừng kỷ niệm 45 năm giám mục, 60 năm linh mục và thượng thọ 90 tuổi cho Hồng y Phạm Đình Tụng. (Về việc mừng thượng thọ Hồng y Phạm Đình Tụng, trước đó, chúng tôi đã được tham dự Đoàn dại biểu của thành phố do ông Chủ tịch UB MTTQ thành phố dẫn đầu đến Toàn Tổng Giám mục để thăm hỏi, tặng quà và chúc mừng; Bí thư Thành ủy cũng đã gửi thiếp chúc mừng thượng thọ Hồng y Phạm Đình Tụng). Trước khi Tòa Tổng Giám mục tiến hành Thánh lễ, ngày 24-1-2008, theo thẩm quyền và chức năng Nhà nước quy định, UBND quận Hoàn Kiếm đã gửi công văn khẳng định việc tổ chức Thánh lễ là việc làm có ý nghĩa đối với giáo hội, đồng thời đề nghị, để buổi lễ được tổ chức tôn nghiêm, Tòa Tổng Giám mục tổ chức các hoạt động tại buổi lễ theo đúng quy định của Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo; hướng dẫn bà con giáo dân và giáo sỹ về dự lễ giữ gìn an ninh trật tự, bảo đảm không ảnh hưởng đến giao thông công cộng, vệ sinh môi trường cảnh quan chung của địa phương. Chính quyền quận cam kết và trên thực tế đã làm tốt việc hỗ trợ bảo đảm an ninh trật tự, phân luồng giao thông, tạo điều kiện để buổi lễ do Tòa Tổng Giám mục tổ chức ngày 25-1 được diễn ra tốt đẹp.

Thế nhưng, thật đáng tiếc, sau khi buổi lễ kết
thúc, một số giáo sỹ và rất đông bà con giáo dân đã kéo sang cầu nguyện tại khu vực 42 Nhà Chung. Đây là khu đất hiện do 3 cơ quan là Phòng Văn hóa – Thông tin, Nhà Văn hóa và Trung tâm TDTT quận Hoàn Kiếm được giao quyền sử dụng. Một số giáo dân đã tự ý dùng kìm cộng lực, búa, xà beng (không biết họ đã chuẩn bị từ bao giờ và tại sao đi hành lễ lại phải mang những thứ đó?) đập phá hàng rào bảo vệ của 3 cơ quan nói trên. Khi các nhân viên bảo vệ của các cơ quan ra can ngăn đã bị một số giáo dân quá khích đánh bị thương phải đi cấp cứu.

Ngay sau khi sự việc xảy ra, 3 cơ quan đang sử dụng khu đất 42 Nhà Chung đã có công văn gửi UBND quận Hoàn Kiếm khẳng định, khu vực 42 Nhà Chung đang được các cơ quan quản lý, sử dụng để làm trụ sở và địa điểm để hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ, tổ chức các hoạt động văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao phục vụ nhân dân và thiếu nhi trong quận. Thế nhưng, ngày 25-1, ngay sau buổi lễ, phía Tòa Tổng Giám mục đã có những lời nói kích động trên loa phát thanh, sau đó một số giáo dân quá khích đã trèo qua hàng rào sắt ngoài cổng trước cửa cơ quan để mang hoa vào đặt tại bức tượng Đức mẹ (ngày 20-12 họ đã tự ý đặt tượng vào vị trí cây đa trong sân cơ quan). Các nhân viên bảo vệ của cơ quan đã yêu cầu các giáo dân này ra ngoài, nhưng không ai chịu ra, một số người đã gây sự, chửi bới và đánh nhân viên bảo vệ các cơ quan. Phía bên ngoài, các giáo dân đã xé rách và phá các biển giới thiệu hoạt động của Trung tâm TDTT, đẩy và phá 3 cánh cổng ra vào để tràn vào khu vực sân, tiếp tục đuổi đánh nhân viên của các cơ quan, đồng thời tháo dỡ biển tên của các có quan tại trụ sở làm việc. Tiếp sau đó, Tòa Tổng Giám mục đã cho linh mục và giáo dân dựng lều bạt, cho xây bệ để dựng Thánh giá ngay lối vào cơ quan Phòng Văn hóa quận; các giáo dân được bố trí thay phiên nhau ở trong các lều bạt, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động của các cơ quan tại khu vực này.

Ngay trong ngày 25 và 26-1, có rất nhiều Đoàn đại biểu của UBND quận, của phường, của nhân dân các khu vực xung quanh phố Nhà Chung vào kiến nghị ông Tổng Giám mục vận động bà con giáo dân dừng ngay các hoạt động vi phạm nghiêm trọng đến an ninh trật tự tại 42 Nhà Chung, tháo dỡ lều bạt, di chuyển ngay tượng và Thánh giá ra khỏi khu vực 42 Nhà Chung… nhưng không lần nào gặp được ông Tổng Giám mục? Tòa Tổng Giám mục chỉ cử một số đại diện ra tiếp và nói các giáo dân chỉ rút khi thành phố giải quyết kiến nghị về đất tại 42 Nhà Chung.

Về vấn đề đất tại 42 Nhà Chung, qua tìm hiểu chúng tôi được biết, ngày 6-11-2007, Bộ Xây dựng đã có công văn gửi Tòa Tổng Giám mục nêu rõ: Thực hiện chính sách của Nhà nước về cải tạo nhà cửa, ngày 24-11-1961, Linh mục Nguyễn Tùng Cương (đại diện quản lý) đã bàn giao cơ sở nhà đất 40a, nay là số nhà 42 Nhà Chung qua Nhà nước thống nhất quản lý. Căn cứ Nghị quyết số 23 ngày 26-11-2003 của Quốc hội khóa XI về nhà đất do Nhà nước quản lý, bố trí sử dụng trong quá trình thực hiện các chính sách quản lý nhà đất và chính sách cải tạo xã hội chủ nghĩa về nhà đất trước ngày 1-7-1991 thì cơ sở nhà đất 42 Nhà Chung hiện giao cho UBND quận Hoàn Kiếm, Hà Nội quản lý, sử dụng, thuộc sở hữu Nhà nước. Do vậy, việc Tòa Tổng Giám mục Hà Nội có đơn xin giao lại khu đất 42 Nhà Chung mà Nhà nước đã quản lý, bố trí sử dụng là không đủ cơ sở để giải quyết và không phù hợp với Nghị quyết số 23 của Quốc hội. Trung tâm TDTT và Nhà văn hóa quận Hoàn Kiếm tại số 42 Nhà Chung đã hoạt động liên tục trên 40 năm nay và hiện nay, nhu cầu sử dụng cơ sở nhà đất tại 42 phố Nhà Chung cho các sinh hoạt văn hóa của cộng đồng dân cư vẫn là cần thiết, cần được tiếp tục duy trì sử dụng ổn định. Trong trường hợp Hội đồng Giám mục Việt Nam và Tòa Tổng Giám mục Hà Nội có nhu cầu thực sự cần thiết về diện tích làm việc thì có văn thư và lập Đề án trình cấp có thẩm quyền xem xét để được giải quyết theo quy định của Luật đất đai năm 2004 và phù hợp với quy hoạch chung xây dựng của thành phố Hà Nội.

Có thể khẳng định, những việc làm tại 42 Nhà Chung của Tòa Tổng Giám mục và những giáo dân quá khích đã vi phạm nghiêm trọng các quy định của pháp luật. Điều 2 Pháp lệnh Tín ngưỡng, Tôn giáo năm 2004 có quy định: Chức sắc, nhà tu hành và công dân có tín ngưỡng, tôn giáo được hưởng mọi quyền công dân và có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ công dân. Không chỉ không làm tròn nghĩa vụ công dân, các giáo dân gây rối trật tự công cộng tại 42 Nhà Chung còn vi phạm vào Điều 143 Bộ Luật hình sự về tội hủy hoại và cố ý làm hư hỏng tài sản và Điều 245 về tội gây rối trật tự công cộng. Tất cả các giáo dân tụ tập tại khu vực 42 Nhà Chung đều vi phạm Luật cư trú, không chịu khai báo, xuất trình giấy chứng minh nhân dân khi các cơ quan chức năng kiểm tra. Không những thế, họ còn vi phạm pháp luật khi cố ý gây thương tích cho người thi hành công vụ, xây dựng trái phép, cầu nguyện không đúng nơi thờ tự…

Việc Tòa Tổng Giám mục dùng mọi cách thức lôi kéo, kích động các giáo dân tụ tập gây rối trật tự công cộng tại 42 Nhà Chung trong mưa phùn, rét hại những ngày áp Tết Mậu Tý là điều cần phê phán nghiêm khắc. Trước cách giải quyết có thiện chí, hợp tình hợp lý của các cấp chính quyền, họ lại tỏ ra coi thường kỷ cương phép nước, ngang nhiên lấn tới với các hành vi ngày càng nguy hiểm. Những việc làm có tính toán của họ không những đã vi phạm nghiêm trọng các qui dịnh của pháp luật mà còn đi ngược lại lời răn dạy của Chúa là các giáo dân phải sống tốt đời đ
p đạo, góp sức mình vào sự nghiệp cao cả xây dựng quê hương, đất nước. Bà con giáo dân cần tỉnh táo, tranh bị kích động, bị lôi kéo vào những việc làm sai trái.

Hiện nay trong khuôn viên 42 Nhà Chung vẫn còn lều bạt và một số giáo dân đang ở trong đó. Phố Nhà Chung có 6 trường học, có rất nhiều cơ quan đóng trên địa bàn, việc có rất đông giáo dân từ các địa phương khác kéo đến gây mất trật tự công cộng khiến người dân ở đây rất bức xúc, đã có rất nhiều đơn kiến nghị của nhân dân, các cơ quan, các ngành, đoàn thể và của bà con giáo dân sinh sống tại Hà Nội gửi đến UBND quận Hoàn Kiếm, gửi đến thành phố, yêu cầu phải dừng ngay những hành vi cố tình gây mất trật tự công cộng ở khu vực 42 Nhà Chung, trả lại sự bình yên cho con phố vốn nổi tiếng về sự bình an và yên tĩnh này.

Dương Hà

Trước sự việc một số giáo dân từ các địa phương tụ tập, gây mất trật tự công cộng tại khu vực 42 phố Nhà Chung, nhân dân sinh sống quanh khu vực và một số phường khác trên địa bàn thành phố đã có đơn kiến nghị gửi các cấp chính quyền, gửi Tòa Tổng Giám mục yêu cầu có biện pháp dừng ngay những việc làm trái pháp luật của số giáo dân nói trên. Dưới đây là những kiến nghị được nhân dân gửi đi ngày 26-1.

Hội Cựu chiến binh phường Hàng Trống

Chúng tôi, tập thể 160 cựu chiến binh phường Hàng Trống cực lực phản đối và lên án hành động của những giáo dân đã đặt Thánh giá, đặt tượng Chúa vào vị trí gốc cây đa rồi thờ cúng, phá hàng rào cơ quan, đánh cán bộ Nhà nước, dựng lều bạt, gọi loa, mở đài ầm ĩ… gây mất trật tự công cộng, làm ảnh hưởng đến việc học hành của nhiều trường học xung quanh. Chúng tôi yêu cầu Tòa Tổng Giám mục, chính quyền có biện pháp kiên quyết dừng ngay những việc làm trái pháp luật nêu trên.

Đại diện nhân dân phường Phan Chu Trinh

Nhân dân phường Phan Chu Trinh được biết ngày 25-1, có một số giáo dân từ các tỉnh cùng một số linh mục đến Phòng Văn hóa thông tin quận Hoàn Kiếm ở 42 phố Nhà Chung vượt tường gây mất trật tự và gây thương tích cho nhân viên bảo vệ ở đây. Đây là việc làm vi phạm pháp luật Nhà nước. Nhân dân phường Phan Chu Trinh rất phẫn nộ và bức xúc trước những hành động sai trái trên. Chúng tôi yêu cầu Tòa Tổng Giám mục địa phận Hà Nội cần khuyên răn các giáo dân bình tĩnh, hành động đúng pháp luật. UBND thành phố và quận Hoàn Kiếm cần nghiêm khắc xử lý những hành vi gây rối là mất trật an ninh.

Đại diện nhân dân phường Hàng Bài

Pháp lệnh Nhà nước CHXHCN Việt Nam về tôn giáo đã được ban hành và được thực hiện hơn 1 năm nay. Các chức sắc tôn giáo và các giáo dân đều nhiệt liệt đồng tình với Pháp lệnh này. Vì đây là thể hiện chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam tôn trọng và tạo mọi điều kiện cho các hoạt động tôn giáo hoạt động. Các tôn giáo và giáo dân được tự do tín ngưỡng và phải tôn trọng pháp luật. Hành động của một số giáo dân tại 42 Nhà Chung là gây rối trật tự công cộng, hủy hoại tài sản, tấn công và gây thương tích cho người thi hành công vụ khiến chúng tôi rất bức xúc và phẫn nộ. Chúng tôi yêu cầu các giáo dân quá khích chấm dứt ngay những hành động sai trái, vi phạm pháp luật, Tòa Tổng Giám mục Hà Nội cần khuyên răn giáo dân hành động đúng pháp luật.

P1 BIÊN KHẢO Chuỗi luận lịch sử trong huyền thoại Hồ Chí Minh

1 phản hồi

Chuỗi luận lịch sử

trong huyền thoại Hồ Chí Minh

A. Một vài huyền thoại phong kiến.

Có thể nói chậm nhất là từ thời nhà Đinh, việc xây dựng huyền thoại cho các lãnh tụ khai quốc rất được chú trọng.

1. Đinh Bộ Lĩnh:

Đại Việt sử lược (1388): Đinh Tiên Vương tên húy là Bộ Lĩnh, người ở động Hoa Lư. Lúc nhỏ mồ côi (cha), vương cùng với mẹ và 5 bà lão vào ở trong núi, bên cạnh ngôi đền thờ thần. Ngoài cửa có bụi sen núi. Dấu của loại ốc sên bò trên lá sen thành chữ Thiên tử. Vương lúc nhỏ thường cùng bọn chăn bò ở chốn sơn dã, được lũ trẻ tôn lên làm trưởng. Chúng lấy lễ quân thần để theo giúp vương. Những lúc cùng nhau chơi giỡn thì bọn trẻ đâu tay làm ghế ngồi để khiêng vương. Lại lấy cờ bông lau cho cầm đi trước dẫn đường. Có kẻ tả hữu theo bên, biểu tượng nghi vệ của bậc Thiên tử. Lúc rảnh rỗi bọn trẻ lại giục nhau đi nhặt củi để cung cấp cho vương như cách nạp thuế vậy. Chiều về, bà mẹ của Vương thấy vậy vui mừng mới nấu thịt lợn cho ăn. Các bậc già cả trong làng đều kháo nhau rằng: “Đứa trẻ này có cái khí lượng, cái nghi dung phi thường ắt có thể giúp đời, đem lại yên lành cho dân. Bọn chúng ta nếu không sớm theo về, ngày khác ắt hối lại thì đã muộn”. Rồi thúc giục con em đi theo Vương.

Tại làng Tế Áo, chú của Vương một mình chiếm giữ, chứ không chịu theo về. Vương thôi thúc quân lính đến đánh, không thắng được. Thua chạy đến vũng Đàm Gia, cầu gãy, Vương bị vây hãm giữa chỗ bùn lầy. Ông chú muốn đâm Vương, thì bỗng thấy hai con rồng vàng che trên mình Vương. Ông chú sợ hãi rút lui rồi đầu hàng. Lúc bấy giờ ở trong cõi không có chúa. Vương nghe Trần Minh Công là người giỏi mà không con nối dòng mới sang xin nương nhờ. Trần Minh Công nhìn qua một lượt biết Vương là người có khí lượng lớn mới nuôi làm con mình. Trần Minh Công đem binh lính của ngài giao hết cho Vương (Đinh Bộ Lĩnh) rồi sai đi đánh 12 sứ quân và đều được dẹp yên. Năm Mậu Thìn (năm 968 – ND) Trần Minh Công chết. Dân chúng ở kinh, phủ, lại, đa số đều theo về với Vương. Đến năm thứ nhất niên hiệu Khai bảo (năm Mậu Thìn-968 – ND) đời vua Triệu là Tống Thái Tổ, Vương xưng hoàng đế ở động Hoa Lư. Rồi dựng cung điện, chế triều nghi, sắp đặt trăm quan, lập xã tắc và tôn hiệu là Đại Thắng Minh Hoàng Đế.

2. Lê Hoàn:

Đại Việt sử lược (1388): Vua Tên húy là Hoàn, họ Lê, người ở Trường Châu, cha tên Mịch, mẹ là người họ Đặng. Người mẹ lúc mới mang thai, nằm mộng thấy mọc lên cây hoa sen, chốc lát thì hết trái, mới hái đem cho mọi người cùng ăn, đến lúc thức dậy không biết cớ làm sao. Đến năm thứ nhất niên hiệu Thiên Phúc (năm Bính Thân-936 – ND) tháng 7, ngày rằm thì sanh ra vua. Người mẹ thấy nơi tay của ngài có màu sắc lạ thường mới nói với người ta rằng: “Đức trẻ này lúc khôn lớn sợ tôi không kịp hưởng lộc của nó”. Hơn vài năm sau thì cha mẹ đều qua đời. Lúc bấy giờ có người ở Quảng Châu là Lê Sát thấy đứa trẻ khác lạ mới nuôi làm con mình. Gặp phải mùa đông lạnh, ngài (nhà vua – ND) mới nghiêng cái cối giã mà nằm. Lê Sát nhìn xem thì thấy có rồng vàng che trên mình của ngài. Do đó mà càng thấy lạ lắm vậy. Đến lúc lớn lên ngài theo giúp Nam Việt Vương Đinh Liễn. Tiên Vương (Đinh Tiên Hoàng) khen ngài là người trí dũng nhiều lần thăng chức, ngài được thăng đến chức Thập đạo tướng quân, Điện tiền chỉ huy sứ.

3. Lý Công Uẩn:

Đại Việt sử lược (1388): Vua Thái Tổ tên húy là Uẩn, họ Lý người ở Cổ Pháp thuộc Bắc Giang. Mẹ là người họ Phạm, sanh ra ngài vào ngày 17 tháng 2 năm thứ 5 niên hiệu Thái Bình (đời Đinh Tiên Hoàng, tức là năm Giáp Tuất-974 – ND). Lúc nhỏ, vua thông minh, tính khí khôi hoạt rộng rãi. Tới học ở chùa Lục Tổ, thiền sư Vạn Hạnh thấy cho là khác lạ, nói: “Đây là người phi thường, sau này đến lúc cường tráng tất có thể cứu đời, yên dân, làm chúa thiên hạ”.

Đến lúc lớn lên, vua, tánh khẳng khái, có chí lớn, không màng của cải, thích xem hết kinh sử. Trong khoảng niên hiệu Ứng Thiên (994-1005 – ND) vua theo giúp Lê Trung Tông. Lúc Trung Tông bị bọn Ngọa Triều (Lê Long Đĩnh) giết, quần thần đều chạy trốn mất hết cả, chỉ có một mình vua (Lý Thái Tổ- ND) ôm thây Trung Tông mà khóc. Ngọa Triều khen là người trung, phong làm Tả thần vệ Điện tiền đỗ chỉ huy sứ.

Trong làng vua có cây bông gạo bị sét đánh, để dấu vết thành bài văn rằng:

Thụ Căn yểu yểu

Mộc biểu thanh thanh

Hòa đao mộc lạc

Thập bác tử thành

Chấn cung xuất nhật

Đoài cung ẩn tinh

Lục thất niên gian

Thiên hạ thái bình

Tạm dịch:

Gốc rễ thăm thẳm

Vỏ cây xanh xanh

Lúa dao cây rụng

Mười tám con thành

Phương đông nhật mọc

Phương tây sao tàn

Khoảng sáu bảy năm

Thiên hạ thái bình

Vạn Hạnh bèn nói với vua rằng: “Gần đây tôi thấy bài sấm văn lạ, biết nhà Lê đương mất mà nhà Nguyễn đương lên. Họ Nguyễn lại không có ai khoan hòa, nhân hậu và trung thứ như ông, nên rất được lòng dân. Nay tuổi của tôi đã hơn 70 rồi, chỉ sợ không kịp thấy sự thịnh trị mà lấy làm giận”. Vua sợ lời nói tiết lộ ra nên bảo Vạn Hạnh vào ẩn ở Ba Sơn.

…Trước kia ở chùa Ứng Thiên trong làng có con chó sanh ra một con chó con trắng, trên lưng lại có lông đen làm thành chữ Thiên tử. Thế rồi đến năm Giáp Tuất thì nhà vua được sanh ra. Năm Canh Tuất (năm 1010) tức là năm thứ 2, tháng Giêng vua đổi niên hiệu là Thuận Thiên năm thứ nhất.

Lúc ban đầu vua thấy thành Hoa Lư chật hẹp, ẩm thấp, bèn dời đô đến thành Đại La. Lúc khởi sự dời đô, thuyền đậu dưới thành thì có rồng vàng hiện ra nơi thuyền của vua, nhân đó mà gọi là Thăng Long. Đổi Hoa Lư thành phủ Trường An, sông Bắc Giang là sông Thiên Đức và Cổ Pháp là phủ Thiên Đức.

4. Nhà Trần thay nhà Lý:

Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên (1697): Sử thần Ngô Sĩ Liên nói: “Đến thời Huệ Tông, cái độc hại cho thiên hạ đã ăn sâu lắm, mà vua không phải người giỏi giang cứng cáp, bề tôi giúp nước thì nhu nhược hèn kém, muốn chữa cái độc đã sâu thì làm thế nào được. Huống chi vua lại bị chứng hiểm, chữa không khỏi, lại không có con trai để nối nghiệp lớn, thế là điểm nguy vong đã hiện ra rồi. Tục truyền rằng Lý [Thái] Tổ khi mới được thiên hạ, xa giá về Cổ Pháp ngự chơi chùa ở hương Phù Đổng, có thần nhân đề thơ ở cột chùa rằng: “Nhất bất công đức thủy, Tùy duyên hoa thế gian. Quang quang trùng chiếu chúc. Một ảnh nhật đăng san”. [Một bát nước công đức [của Phật], theo duyên sinh hoá ở thế gian. Sáng rực hai lần đuốc rọi, mặt trời gác núi là hết bóng]. Sư chùa là Vạn Hạnh đem bài thơ ấy dâng lên. Lý Thái Tổ xem xong rồi nói: “Việc của thần nhân thì không thể hiểu được”. Người đời truyền tụng, không ai biết thơ ấy nói thế nào. Đến khi nhà Lý mất, mới cho bài thi ấy là nghiệm. Vì từ đời Huệ Tông trở lên đến Thái Tổ là tám đời mà Huệ Tông tên là Sảm, tức là mặt trời gác núi, hết bóng. Thế thì nhà Lý được nước là tự trời, mất nước cũng là tự trời vậy.

Việt sử tiêu án của Ngô Thì Sĩ (1775): Xưa vua Lý Thái Tổ mới lên ngôi, có đến chơi chùa Phù Đổng, thấy có bài thơ của vị thần đề ở cột chùa rằng: “Nhất bát công đức thủy, tùy duyên hóa thế gian, quang quang trùng chúc chiếu, một ảnh nhật đăng san” người đời bấy giờ không hiểu nghĩa làm sao, đến khi truyền được 8 đời vua, đến vua Huệ Tôn tên là Kiểu (hay Cảo) thì là chữ nhật ở trên chữ san, mà lặn bóng; thì câu thơ ấy quả nhiên ứng nghiệm. Như thế nhà Lý hưng và vong đều tại trời cả. Lại địa quyết làng Cổ Pháp có câu: “Tộ truyền bát diệp, diệp lạc âm sinh” (Truyền ngôi được 8 đời, tức là 8 lá rụng xuống rồi âm khí sinh ra, ý nói nhà Lý có 8 vua, khi mất ngôi vì có vua đàn bà) thì hưng và vong cũng có mạch đất nữa.

5. Nhà Hồ tiếm ngôi họ Trần:

Theo Khâm định Việt sử: Ông tổ nhà Quý Ly là Hồ Hưng Dật, người tỉnh Chiết Giang, về đời Ngũ Quý (907-959), sang bên ta, lập ấp ở tại làng (hương) Bào Đột thuộc Diễn Châu. Về sau, Hồ Liêm di cư sang Thanh Hóa, làm con nuôi Lê Huấn, do đấy, đổi theo họ Lê. Quý Ly là cháu bốn đời. Quý Ly có hai người cô đều được Trần Minh Tông lấy vào hậu cung: Một người, là bà Sinh Từ, sinh được nhà vua đây (Trần Nghệ Tông); một người, là bà Đôn Từ, sinh được Duệ Tông. Cho nên nhà vua tin dùng Quý Ly, cho Quý Ly do Chi hậu chánh chưởng thăng lên chức này; lại gả cho Quý Ly người em gái mới góa là Huy Ninh công chúa.

Vào thời Hồ Quí Ly, Nho Giáo đang dần chiếm ưu thế trong tầng lớp trí thức thành thị. Cũng theo Khâm Định Việt Sử: Tháng 12, năm Giáp Tuất 1394 Trần Nghệ Tông băng hà, Hồ Quý Ly dọn vương đạo cho mình bằng cách đặt tên thụy cho Nghệ Tông là Quang Nghiêu anh triết hoàng đế. Chi tiết này gợi lại cuộc bàn giao quyền lực êm thấm giữa hai vị tiên đế của Nho giáo: Đường Nghiêu đã truyền ngôi cho rể hiền là Ngu Thuấn. Đến năm 1400 Hồ Quý Ly truất phế vua Trần. Lên ngôi, Hồ Quý Ly đổi tên nước là Đại Ngu với lí do ông chính là hậu duệ Ngu Thuấn. Trước đây con Ngu Yên (dòng dõi Ngu Thuấn) là Vĩ Mãn được Chu Vũ Vương phong cho ở đất Trần là Hồ Công nên dùng luôn chữ Hồ làm họ. Theo Hồ Quí Ly, tổ Hồ Hưng Dật của ông ta là con cháu của Hồ Công.

6. Lê Lợi

Lam Sơn thực lục (Nguyễn Trãi): Nguyên xưa lúc Nhà vua chưa sinh, ở xứ Du sơn trong làng, dưới cây rừng quế, thuộc thôn sau Như Áng, thường có con hổ đen, thân nhau với người, chưa hề làm hại ai! Đến giờ Tý ngày mồng sáu tháng Tám năm Ất Sửu sinh ra nhà vua từ đó không thấy con hổ đâu! Người ta cho là chuyện lạ.

Lúc sinh nhà vua có ánh sáng đỏ đầy nhà, mùi hương đầy xóm. Lúc nhỏ, tinh thần và vẻ người coi rất mạnh mẽ, nghiêm trang; mắt sáng; miệng rộng; mũi cao; mặt vuông; vai trái có bảy nốt ruồi; đi như rồng; bước như hổ, tóc, lông đầy người, tiếng vang như chuông; ngồi như hùm ngồi! Kẻ thức giả biết là bậc người cực sang! Kịp khi lớn, thông minh, khôn, khỏe, vượt hẳn bọn tầm thường; làm Phụ đạo làng Khả Lam. Khi ấy nhà vua sai người nhà cày ruộng ở xứ Phật hoàng động Chiêu Nghi. Chợt thấy một nhà sư già, mặc áo trắng, từ thôn Đức Tề đi ra, thở dài mà rằng:

– Quý hoá thay phiến đất này! Không có ai đáng dặn!

Người nhà thấy thế, chạy về thưa rõ với nhà vua, nhà vua liền đuổi theo tìm hỏi chuyện đó.

Có người báo rằng:

– Sư già đã đi xa rồi.

Nhà vua vội đi theo đến trại Quần Đội, huyện Cổ Lôi, (tức huyện Lôi Dương ngày nay) thấy một cái thẻ tre, đề chữ rằng:

Thiên đức thụ mệnh.

Tuế trung tứ thập.

Số chi dĩ định,

Tích tai vị cập.

Nghĩa là:

“Đức trời chịu mệnh,

“Tuổi giữa bốn mươi!

“Số kia đã định,

“Chưa tới … tiếc thay!”

Nhà vua thấy chữ đề mừng lắm, lại vội vàng đi theo. Khi ấy có rồng vàng che cho nhà vua! Bỗng nhà sư bảo nhà vua rằng:

– Tôi từ bên Lào xuống đây, họ Trịnh, tên là sư núi Đá Trắng. Hôm thấy ông khí tượng khác thường tất có thể làm nên việc lớn!

Nhà vua quỳ xuống thưa rằng:

– Mạch đất ở miền đệ tử tôi sang hèn ra thế nào xin thầy bảo rõ cho?

Nhà sư nói:

– Xứ Phật Hoàng thuộc động Chiêu Nghi, có một khu đất chừng nửa sào, hình như quả quốc ấn. Phía tả có núi Thái Thất, núi Chí Linh (ở miền Lão Mang); bên trong có đồi đất Bạn Tiên. Lấy thiên sơn làm án (ở xã An Khoái). Phía trước có nước Long Sơn, bên trong có nước Long Hồ là chỗ xoáy trôn ốc (ở thôn Như Ứng). Phía hữu nước vòng quanh tay Hổ. Bên ngoài núi xâu chuỗi hạt trai. Con trai sang không thể nói được. Nhưng con gái phiền có chuyện thất tiết. Tôi sợ con cháu ông về sau, có thế phân cư. Ngôi vua có lúc trung hưng. Mệnh trời có thể biết vậy. Nếu thầy giỏi biết láng lại, thì trung hưng được năm trăm năm.

Nhà sư nói rồi, Nhà vua liền đem đức Hoàng khảo táng vào chỗ ấy. Tới giờ Dần, về đến thôn Hạ Dao Xá nhà sư bèn hóa bay lên trời! Nhân lập chỗ ấy làm điện Du Tiên. Còn động Chiêu Nghi thì làm am nhỏ (tức là nơi một Phật Hoàng). Đó là gốc của sự phát tích vậy.

Khi ấy nhà vua cùng người ở trại Mục Sơn là Lê Thận cùng làm bạn keo sơn. Thận thường làm nghề quăng chài. Ở xứ vực Ma Viện, đêm thấy đáy nước sáng như bó đuốc soi. Quăng chài suốt đêm, cá chẳng được gì cả. Chỉ được một mảnh sắt dài hơn một thước, đem về để vào chỗ tối. Một hôm Thận cúng giỗ (ngày chết của cha mẹ). Nhà vua tới chơi nhà. Thấy chỗ tối có ánh sáng, nhận ra mảnh sắt, nhà vua bèn hỏi?

– Sắt nào đây?

Thận nói:

– Đêm trước quăng chài bắt được.

Nhà vua nhân xin lấy. Thận liền cho ngay. Nhà vua đem về đánh sạch rỉ, mài cho sáng, thấy nó có chữ “Thuận thiên”, cùng chữ “Lợi”. Lại một hôm, Nhà vua ra ngoài cửa, thấy một cái chuôi gươm đã mài dũa thành hình, Nhà vua lạy trời khấn rằng:

– Nếu quả là gươm trời cho, thì xin chuôi và lưỡi liền nhau!

Bèn lấy mảnh sắt lắp vào trong chuôi, bèn thành ra chuôi gươm. Tới hôm sau, lúc đêm, trời gió mưa, sớm ngày mai, Hoàng hậu ra trông vười cải, bỗng thấy bốn vết chân của người lớn, rất rộng, rất to. Hoàng hậu cả kinh, vào gọi nhà vua ra vườn, được quả ấn báu, lại có chữ Thuận thiên (sau lấy chữ này làm niên hiệu) cùng chữ Lợi. Nhà vua thầm biết ấy là của trời cho, lòng lấy làm mừng, giấu giếm không nói ra.

Tích trả gươm trong dân gian : Kháng chiến chống Minh thành công, một ngày thanh bình du lãm hồ Lục Thủy, Lê Lợi thấy rùa vàng hiện lên đuổi theo thuyền rồng. Ông liền rút gươm toan tự vệ thì thanh gươm rơi ngay xuống nước. Rùa vàng ngậm gươm và lặn mất. Lê Lợi cho rằng thần thánh đã cho ông mượn gươm dẹp giặc, nay bình Ngô xong thần đòi lại gươm. Từ đó hồ Lục Thủy được đổi tên thành Hoàn Kiếm tức Trả gươm hay Hồ Gươm.

P2 BIÊN KHẢO Chuỗi luận lịch sử trong huyền thoại Hồ Chí Minh

13 phản hồi

Chuỗi luận lịch sử

trong huyền thoại Hồ Chí Minh

A. Một vài huyền thoại phong kiến.

Có thể nói chậm nhất là từ thời nhà Đinh, việc xây dựng huyền thoại cho các lãnh tụ khai quốc rất được chú trọng.

1. Đinh Bộ Lĩnh:

Đại Việt sử lược (1388): Đinh Tiên Vương tên húy là Bộ Lĩnh, người ở động Hoa Lư. Lúc nhỏ mồ côi (cha), vương cùng với mẹ và 5 bà lão vào ở trong núi, bên cạnh ngôi đền thờ thần. Ngoài cửa có bụi sen núi. Dấu của loại ốc sên bò trên lá sen thành chữ Thiên tử. Vương lúc nhỏ thường cùng bọn chăn bò ở chốn sơn dã, được lũ trẻ tôn lên làm trưởng. Chúng lấy lễ quân thần để theo giúp vương. Những lúc cùng nhau chơi giỡn thì bọn trẻ đâu tay làm ghế ngồi để khiêng vương. Lại lấy cờ bông lau cho cầm đi trước dẫn đường. Có kẻ tả hữu theo bên, biểu tượng nghi vệ của bậc Thiên tử. Lúc rảnh rỗi bọn trẻ lại giục nhau đi nhặt củi để cung cấp cho vương như cách nạp thuế vậy. Chiều về, bà mẹ của Vương thấy vậy vui mừng mới nấu thịt lợn cho ăn. Các bậc già cả trong làng đều kháo nhau rằng: “Đứa trẻ này có cái khí lượng, cái nghi dung phi thường ắt có thể giúp đời, đem lại yên lành cho dân. Bọn chúng ta nếu không sớm theo về, ngày khác ắt hối lại thì đã muộn”. Rồi thúc giục con em đi theo Vương.

Tại làng Tế Áo, chú của Vương một mình chiếm giữ, chứ không chịu theo về. Vương thôi thúc quân lính đến đánh, không thắng được. Thua chạy đến vũng Đàm Gia, cầu gãy, Vương bị vây hãm giữa chỗ bùn lầy. Ông chú muốn đâm Vương, thì bỗng thấy hai con rồng vàng che trên mình Vương. Ông chú sợ hãi rút lui rồi đầu hàng. Lúc bấy giờ ở trong cõi không có chúa. Vương nghe Trần Minh Công là người giỏi mà không con nối dòng mới sang xin nương nhờ. Trần Minh Công nhìn qua một lượt biết Vương là người có khí lượng lớn mới nuôi làm con mình. Trần Minh Công đem binh lính của ngài giao hết cho Vương (Đinh Bộ Lĩnh) rồi sai đi đánh 12 sứ quân và đều được dẹp yên. Năm Mậu Thìn (năm 968 – ND) Trần Minh Công chết. Dân chúng ở kinh, phủ, lại, đa số đều theo về với Vương. Đến năm thứ nhất niên hiệu Khai bảo (năm Mậu Thìn-968 – ND) đời vua Triệu là Tống Thái Tổ, Vương xưng hoàng đế ở động Hoa Lư. Rồi dựng cung điện, chế triều nghi, sắp đặt trăm quan, lập xã tắc và tôn hiệu là Đại Thắng Minh Hoàng Đế.

2. Lê Hoàn:

Đại Việt sử lược (1388): Vua Tên húy là Hoàn, họ Lê, người ở Trường Châu, cha tên Mịch, mẹ là người họ Đặng. Người mẹ lúc mới mang thai, nằm mộng thấy mọc lên cây hoa sen, chốc lát thì hết trái, mới hái đem cho mọi người cùng ăn, đến lúc thức dậy không biết cớ làm sao. Đến năm thứ nhất niên hiệu Thiên Phúc (năm Bính Thân-936 – ND) tháng 7, ngày rằm thì sanh ra vua. Người mẹ thấy nơi tay của ngài có màu sắc lạ thường mới nói với người ta rằng: “Đức trẻ này lúc khôn lớn sợ tôi không kịp hưởng lộc của nó”. Hơn vài năm sau thì cha mẹ đều qua đời. Lúc bấy giờ có người ở Quảng Châu là Lê Sát thấy đứa trẻ khác lạ mới nuôi làm con mình. Gặp phải mùa đông lạnh, ngài (nhà vua –  ND) mới nghiêng cái cối giã mà nằm. Lê Sát nhìn xem thì thấy có rồng vàng che trên mình của ngài. Do đó mà càng thấy lạ lắm vậy. Đến lúc lớn lên ngài theo giúp Nam Việt Vương Đinh Liễn. Tiên Vương (Đinh Tiên Hoàng) khen ngài là người trí dũng nhiều lần thăng chức, ngài được thăng đến chức Thập đạo tướng quân, Điện tiền chỉ huy sứ.

3. Lý Công Uẩn:

Đại Việt sử lược (1388): Vua Thái Tổ tên húy là Uẩn, họ Lý người ở Cổ Pháp thuộc Bắc Giang. Mẹ là người họ Phạm, sanh ra ngài vào ngày 17 tháng 2 năm thứ 5 niên hiệu Thái Bình (đời Đinh Tiên Hoàng, tức là năm Giáp Tuất-974 – ND). Lúc nhỏ, vua thông minh, tính khí khôi hoạt rộng rãi. Tới học ở chùa Lục Tổ, thiền sư Vạn Hạnh thấy cho là khác lạ, nói: “Đây là người phi thường, sau này đến lúc cường tráng tất có thể cứu đời, yên dân, làm chúa thiên hạ”.

Đến lúc lớn lên, vua, tánh khẳng khái, có chí lớn, không màng của cải, thích xem hết kinh sử. Trong khoảng niên hiệu Ứng Thiên (994-1005 – ND) vua theo giúp Lê Trung Tông. Lúc Trung Tông bị bọn Ngọa Triều (Lê Long Đĩnh) giết, quần thần đều chạy trốn mất hết cả, chỉ có một mình vua (Lý Thái Tổ- ND) ôm thây Trung Tông mà khóc. Ngọa Triều khen là người trung, phong làm Tả thần vệ Điện tiền đỗ chỉ huy sứ.

Trong làng vua có cây bông gạo bị sét đánh, để dấu vết thành bài văn rằng:

Thụ Căn yểu yểu

Mộc biểu thanh thanh

Hòa đao mộc lạc

Thập bác tử thành

Chấn cung xuất nhật

Đoài cung ẩn tinh

Lục thất niên gian

Thiên hạ thái bình

Tạm dịch:

Gốc rễ thăm thẳm

Vỏ cây xanh xanh

Lúa dao cây rụng

Mười tám con thành

Phương đông nhật mọc

Phương tây sao tàn

Khoảng sáu bảy năm

Thiên hạ thái bình

Vạn Hạnh bèn nói với vua rằng: “Gần đây tôi thấy bài sấm văn lạ, biết nhà Lê đương mất mà nhà Nguyễn đương lên. Họ Nguyễn lại không có ai khoan hòa, nhân hậu và trung thứ như ông, nên rất được lòng dân. Nay tuổi của tôi đã hơn 70 rồi, chỉ sợ không kịp thấy sự thịnh trị mà lấy làm giận”. Vua sợ lời nói tiết lộ ra nên bảo Vạn Hạnh vào ẩn ở Ba Sơn.

…Trước kia ở chùa Ứng Thiên trong làng có con chó sanh ra một con chó con trắng, trên lưng lại có lông đen làm thành chữ Thiên tử. Thế rồi đến năm Giáp Tuất thì nhà vua được sanh ra. Năm Canh Tuất (năm 1010) tức là năm thứ 2, tháng Giêng vua đổi niên hiệu là Thuận Thiên năm thứ nhất.

Lúc ban đầu vua thấy thành Hoa Lư chật hẹp, ẩm thấp, bèn dời đô đến thành Đại La. Lúc khởi sự dời đô, thuyền đậu dưới thành thì có rồng vàng hiện ra nơi thuyền của vua, nhân đó mà gọi là Thăng Long. Đổi Hoa Lư thành phủ Trường An, sông Bắc Giang là sông Thiên Đức và Cổ Pháp là phủ Thiên Đức.

4. Nhà Trần thay nhà Lý:

Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên (1697): Sử thần Ngô Sĩ Liên nói: “Đến thời Huệ Tông, cái độc hại cho thiên hạ đã ăn sâu lắm, mà vua không phải người giỏi giang cứng cáp, bề tôi giúp nước thì nhu nhược hèn kém, muốn chữa cái độc đã sâu thì làm thế nào được. Huống chi vua lại bị chứng hiểm, chữa không khỏi, lại không có con trai để nối nghiệp lớn, thế là điểm nguy vong đã hiện ra rồi. Tục truyền rằng Lý [Thái] Tổ khi mới được thiên hạ, xa giá về Cổ Pháp ngự chơi chùa ở hương Phù Đổng, có thần nhân đề thơ ở cột chùa rằng: “Nhất bất công đức thủy, Tùy duyên hoa thế gian. Quang quang trùng chiếu chúc. Một ảnh nhật đăng san”. [Một bát nước công đức [của Phật], theo duyên sinh hoá ở thế gian. Sáng rực hai lần đuốc rọi, mặt trời gác núi là hết bóng]. Sư chùa là Vạn Hạnh đem bài thơ ấy dâng lên. Lý Thái Tổ xem xong rồi nói: “Việc của thần nhân thì không thể hiểu được”. Người đời truyền tụng, không ai biết thơ ấy nói thế nào. Đến khi nhà Lý mất, mới cho bài thi ấy là nghiệm. Vì từ đời Huệ Tông trở lên đến Thái Tổ là tám đời mà Huệ Tông tên là Sảm, tức là mặt trời gác núi, hết bóng. Thế thì nhà Lý được nước là tự trời, mất nước cũng là tự trời vậy.

Việt sử tiêu án của Ngô Thì Sĩ (1775): Xưa vua Lý Thái Tổ mới lên ngôi, có đến chơi chùa Phù Đổng, thấy có bài thơ của vị thần đề ở cột chùa rằng: “Nhất bát công đức thủy, tùy duyên hóa thế gian, quang quang trùng chúc chiếu, một ảnh nhật đăng san” người đời bấy giờ không hiểu nghĩa làm sao, đến khi truyền được 8 đời vua, đến vua Huệ Tôn tên là Kiểu (hay Cảo) thì là chữ nhật ở trên chữ san, mà lặn bóng; thì câu thơ ấy quả nhiên ứng nghiệm. Như thế nhà Lý hưng và vong đều tại trời cả. Lại địa quyết làng Cổ Pháp có câu: “Tộ truyền bát diệp, diệp lạc âm sinh” (Truyền ngôi được 8 đời, tức là 8 lá rụng xuống rồi âm khí sinh ra, ý nói nhà Lý có 8 vua, khi mất ngôi vì có vua đàn bà) thì hưng và vong cũng có mạch đất nữa.

5. Nhà Hồ tiếm ngôi họ Trần:

Theo Khâm định Việt sử: Ông tổ nhà Quý Ly là Hồ Hưng Dật, người tỉnh Chiết Giang, về đời Ngũ Quý (907-959), sang bên ta, lập ấp ở tại làng (hương) Bào Đột thuộc Diễn Châu. Về sau, Hồ Liêm di cư sang Thanh Hóa, làm con nuôi Lê Huấn, do đấy, đổi theo họ Lê. Quý Ly là cháu bốn đời. Quý Ly có hai người cô đều được Trần Minh Tông lấy vào hậu cung: Một người, là bà Sinh Từ, sinh được nhà vua đây (Trần Nghệ Tông); một người, là bà Đôn Từ, sinh được Duệ Tông. Cho nên nhà vua tin dùng Quý Ly, cho Quý Ly do Chi hậu chánh chưởng thăng lên chức này; lại gả cho Quý Ly người em gái mới góa là Huy Ninh công chúa.

Vào thời Hồ Quí Ly, Nho Giáo đang dần chiếm ưu thế trong tầng lớp trí thức thành thị. Cũng theo Khâm Định Việt Sử: Tháng 12, năm Giáp Tuất 1394 Trần Nghệ Tông băng hà, Hồ Quý Ly dọn vương đạo cho mình bằng cách đặt tên thụy cho Nghệ Tông là Quang Nghiêu anh triết hoàng đế. Chi tiết này gợi lại cuộc bàn giao quyền lực êm thấm giữa hai vị tiên đế của Nho giáo: Đường Nghiêu đã truyền ngôi cho rể hiền là Ngu Thuấn. Đến năm 1400 Hồ Quý Ly truất phế vua Trần. Lên ngôi, Hồ Quý Ly đổi tên nước là Đại Ngu với lí do ông chính là hậu duệ Ngu Thuấn. Trước đây con Ngu Yên (dòng dõi Ngu Thuấn) là Vĩ Mãn được Chu Vũ Vương phong cho ở đất Trần là Hồ Công nên dùng luôn chữ Hồ làm họ. Theo Hồ Quí Ly, tổ Hồ Hưng Dật của ông ta là con cháu của Hồ Công.

6. Lê Lợi

Lam Sơn thực lục (Nguyễn Trãi): Nguyên xưa lúc Nhà vua chưa sinh, ở xứ Du sơn trong làng, dưới cây rừng quế, thuộc thôn sau Như Áng, thường có con hổ đen, thân nhau với người, chưa hề làm hại ai! Đến giờ Tý ngày mồng sáu tháng Tám năm Ất Sửu sinh ra nhà vua từ đó không thấy con hổ đâu! Người ta cho là chuyện lạ.

Lúc sinh nhà vua có ánh sáng đỏ đầy nhà, mùi hương đầy xóm. Lúc nhỏ, tinh thần và vẻ người coi rất mạnh mẽ, nghiêm trang; mắt sáng; miệng rộng; mũi cao; mặt vuông; vai trái có bảy nốt ruồi; đi như rồng; bước như hổ, tóc, lông đầy người, tiếng vang như chuông; ngồi như hùm ngồi! Kẻ thức giả biết là bậc người cực sang! Kịp khi lớn, thông minh, khôn, khỏe, vượt hẳn bọn tầm thường; làm Phụ đạo làng Khả Lam. Khi ấy nhà vua sai người nhà cày ruộng ở xứ Phật hoàng động Chiêu Nghi. Chợt thấy một nhà sư già, mặc áo trắng, từ thôn Đức Tề đi ra, thở dài mà rằng:

– Quý hoá thay phiến đất này! Không có ai đáng dặn!

Người nhà thấy thế, chạy về thưa rõ với nhà vua, nhà vua liền đuổi theo tìm hỏi chuyện đó.

Có người báo rằng:

– Sư già đã đi xa rồi.

Nhà vua vội đi theo đến trại Quần Đội, huyện Cổ Lôi, (tức huyện Lôi Dương ngày nay) thấy một cái thẻ tre, đề chữ rằng:

Thiên đức thụ mệnh.

Tuế trung tứ thập.

Số chi dĩ định,

Tích tai vị cập.

Nghĩa là:

“Đức trời chịu mệnh,

“Tuổi giữa bốn mươi!

“Số kia đã định,

“Chưa tới … tiếc thay!”

Nhà vua thấy chữ đề mừng lắm, lại vội vàng đi theo. Khi ấy có rồng vàng che cho nhà vua! Bỗng nhà sư bảo nhà vua rằng:

– Tôi từ bên Lào xuống đây, họ Trịnh, tên là sư núi Đá Trắng. Hôm thấy ông khí tượng khác thường tất có thể làm nên việc lớn!

Nhà vua quỳ xuống thưa rằng:

– Mạch đất ở miền đệ tử tôi sang hèn ra thế nào xin thầy bảo rõ cho?

Nhà sư nói:

– Xứ Phật Hoàng thuộc động Chiêu Nghi, có một khu đất chừng nửa sào, hình như quả quốc ấn. Phía tả có núi Thái Thất, núi Chí Linh (ở miền Lão Mang); bên trong có đồi đất Bạn Tiên. Lấy thiên sơn làm án (ở xã An Khoái). Phía trước có nước Long Sơn, bên trong có nước Long Hồ là chỗ xoáy trôn ốc (ở thôn Như Ứng). Phía hữu nước vòng quanh tay Hổ. Bên ngoài núi xâu chuỗi hạt trai. Con trai sang không thể nói được. Nhưng con gái phiền có chuyện thất tiết. Tôi sợ con cháu ông về sau, có thế phân cư. Ngôi vua có lúc trung hưng. Mệnh trời có thể biết vậy. Nếu thầy giỏi biết láng lại, thì trung hưng được năm trăm năm.

Nhà sư nói rồi, Nhà vua liền đem đức Hoàng khảo táng vào chỗ ấy. Tới giờ Dần, về đến thôn Hạ Dao Xá nhà sư bèn hóa bay lên trời! Nhân lập chỗ ấy làm điện Du Tiên. Còn động Chiêu Nghi thì làm am nhỏ (tức là nơi một Phật Hoàng). Đó là gốc của sự phát tích vậy.

Khi ấy nhà vua cùng người ở trại Mục Sơn là Lê Thận cùng làm bạn keo sơn. Thận thường làm nghề quăng chài. Ở xứ vực Ma Viện, đêm thấy đáy nước sáng như bó đuốc soi. Quăng chài suốt đêm, cá chẳng được gì cả. Chỉ được một mảnh sắt dài hơn một thước, đem về để vào chỗ tối. Một hôm Thận cúng giỗ (ngày chết của cha mẹ). Nhà vua tới chơi nhà. Thấy chỗ tối có ánh sáng, nhận ra mảnh sắt, nhà vua bèn hỏi?

– Sắt nào đây?

Thận nói:

– Đêm trước quăng chài bắt được.

Nhà vua nhân xin lấy. Thận liền cho ngay. Nhà vua đem về đánh sạch rỉ, mài cho sáng, thấy nó có chữ “Thuận thiên”, cùng chữ “Lợi”. Lại một hôm, Nhà vua ra ngoài cửa, thấy một cái chuôi gươm đã mài dũa thành hình, Nhà vua lạy trời khấn rằng:

– Nếu quả là gươm trời cho, thì xin chuôi và lưỡi liền nhau!

Bèn lấy mảnh sắt lắp vào trong chuôi, bèn thành ra chuôi gươm. Tới hôm sau, lúc đêm, trời gió mưa, sớm ngày mai, Hoàng hậu ra trông vười cải, bỗng thấy bốn vết chân của người lớn, rất rộng, rất to. Hoàng hậu cả kinh, vào gọi nhà vua ra vườn, được quả ấn báu, lại có chữ Thuận thiên (sau lấy chữ này làm niên hiệu) cùng chữ Lợi. Nhà vua thầm biết ấy là của trời cho, lòng lấy làm mừng, giấu giếm không nói ra.

Tích trả gươm trong dân gian : Kháng chiến chống Minh thành công, một ngày thanh bình du lãm hồ Lục Thủy, Lê Lợi thấy rùa vàng hiện lên đuổi theo thuyền rồng. Ông liền rút gươm toan tự vệ thì thanh gươm rơi ngay xuống nước. Rùa vàng ngậm gươm và lặn mất. Lê Lợi cho rằng thần thánh đã cho ông mượn gươm dẹp giặc, nay bình Ngô xong thần đòi lại gươm. Từ đó hồ Lục Thủy được đổi tên thành Hoàn Kiếm tức Trả gươm hay Hồ Gươm.

7. Nguyễn Phúc Ánh:

Trong cuộc chiến với Tây Sơn, Nguyễn Ánh từng trải qua lắm gian lao. Nhiều truyền thuyết, chuyện kể còn lưu truyền trong dân gian. Suốt 25 năm, Nguyễn Ánh chạy gần khắp nơi trong Nam, khi về Cà Mau, khi trốn ra đảo Phú Quốc, khi lại phiêu bạt sang Xiêm…


Nhiều lúc không còn lương thực, Nguyễn Ánh phải ăn trái bần chua với mắm sống; tay bốc cơm nguội, tay xé mắm chứ không dùng đũa. Một hôm có con cá nhỏ tự dưng nhảy vào thuyền ông, báo tin đừng sớm ra khơi, cứu ông khỏi bị Tây Sơn chận ngoài biển. Vào tháng 4 năm Nhâm Dần thứ III (1782 –
Năm thứ ba kể từ lúc Nguyễn Ánh thừa tự dòng Chúa – TTD) Nguyễn Ánh vào Hà Tiên, đi thuyền nhỏ ra biển giữa đêm tối như mực bổng có vật gì như đội dưới đáy thuyền, mờ sáng ông mới hay là một bầy rắn, bầy tôi ai cũng sợ hãi, Nguyễn Ánh giục thuyền chèo mau, một lúc sau bầy rắn đi hết, thuyền ra được đảo Phú Quốc, cái tích “gặp rắn thì đi, gặp quy thì vể” xuất hiện từ đó. Có lần thuyền Nguyễn Ánh định ra khơi, bỗng có con kỳ đà lội qua sông chặn đường không cho thuyền ra biển, sau Nguyễn Ánh mới rõ nếu ra thì sẽ bị quân Tây Sơn chặn bắt. Tích “Kỳ đà cản mũi” phát sinh từ chuyện này.


Những chuyện thoát hiểm của Nguyễn Ánh thật lắm ly kì. Năm Quý Mão thứ IV (1783) quân Tây Sơn vào Nam đánh riết, Nguyễn Ánh cùng năm, sáu kẻ bầy tôi phải bỏ chạy tháo quân. Qua sông Lật, nước chảy mạnh quá lại không có đò, Nguyễn Ánh phải nhào xuống lội qua. Đến sông Đặng có nhiều cá sấu, Nguyễn Ánh bí đường. Chợt có con trâu nằm trên bờ.  Nguyễn Ánh cỡi trâu mà qua, nhưng nước chảy xiết, nhấn chìm trâu, may thay có con cá sấu đỡ trâu lên, cứu ông thoát được lên bờ.


Tháng 7 năm Quý Mão (1783), Nguyễn Huệ nghe tin Nguyễn Ánh ở Côn Lôn, đem hết lính thủy vây riết. Tự nhiên giông tố nổi lên, mây kéo tối rầm, sóng biển dâng to, thuyền Tây Sơn bị chìm quá nhiều, Nguyễn Ánh mới thoát được.


Một lần, Nguyễn Ánh ra cửa biển Ma Ly thám thính tình thế Tây Sơn, gặp thuyền Tây Sơn hơn hai mươi chiếc vụt tới vây phủ. Ông liền kéo thuyền chạy về phía đông, lênh đênh ngoài cửa biển bảy ngày đêm. Thuyền hết nước, quân lính sắp chết khát, Nguyễn Ánh ngửa mặt lên trời khấn rằng: “Như tôi có mạng làm vua, xin cho thuyền ghé vào trong bờ để cứu tánh mạng mấy người trong thuyền! Nếu không, thuyền chìm xuống biển, tôi cũng cam tâm”. Bỗng nhiên gió lặng sóng im, mặt chia ra dòng trắng, dòng đen, bọc lấy dòng trong ở giữa. Trong thuyền có người múc uống, nếm thấy ngọt, liền la to: “Nước ngọt, nước ngọt!”. Ánh mừng rỡ sai múc, vừa được 4, 5 chum thì nước lại mặn như trước.


Trong cuộc chiến với Tây Sơn, nhiều khi quân Nguyễn Ánh thắng là nhờ may mắn. Khi quân Nguyễn Ánh đến gần thành Qui Nhơn, Trần Quang Diệu, Vũ văn Dũng vừa đến Quảng Nghĩa. Nghe quân Nguyễn Ánh đã giữ lại xứ Tam Quan, hai tướng bèn bỏ thuyền lên bộ, kéo đi hơn 20.000 quân. Diệu ở ngoài đèo Bến Đá giả gây thanh thế, Dũng đem quân đến Chung Xá mưu đánh úp Nguyễn Ánh. Ban đêm đi qua khe, có một con nai trong rừng nhảy ra, quân tiền đạo của Dũng nhìn thấy la lên: “Nai! Nai!”. Quân hậu đạo cũng vội la lên: “Đồng Nai”, Quân Tây Sơn tưởng là quân Nguyễn ở Đồng Nai bất thần ập tới nên khiếp sợ bỏ chạy, sập xuống hầm hố khá nhiều. Tống Viết Phúc nhân cơ hội đó đem vài trăm quân ra đuổi, làm quân Tây Sơn thua to. Quan trấn thủ thành Qui Nhơn là Lê Văn Thanh mãi không thấy viện binh đến, mà lương thực dự trữ đã hết sạch, nên đành phải mở cửa ra hàng. Nguyễn Ánh chiếm được thành, đổi Qui Nhơn là Bình Định.[1]

B. Tương quan giữa huyền thoại Hồ Chí Minh với các huyền thoại phong kiến

Chỉ cần đọc qua sơ nét các huyền thoại phong kiến, có thể thấy ngay huyền thoại HCM thấm đẫm chuỗi luận lịch sử.

1. Hình ảnh sen, quan hệ lãnh tụ – giáo chủ hay tính chính thống từ tiềm thức Phật quyền trong đại bộ phận dân chúng:

Một cách tình cờ Hồ Chí Minh sinh ra tại làng Sen tức Kim Liên. Từ bài ca dao nổi tiếng:

Trong đầm gì đẹp bằng sen

Lá xanh bông trắng lại chen nhụy vàng

Nhụy vàng bông trắng lá xanh

Gần bùn mà chẳng hôi anh mùi bùn

Khoảng năm 1947, Bảo Định Giang phóng tác thành:

Tháp Mười đẹp nhứt bông sen

Nước Nam đẹp nhứt có tên cụ Hồ

Sau đó hai câu thơ này đã được dân gian hóa trở lại thành ca dao:

Tháp Mười đẹp nhất bông sen

Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ

Việc so sánh Hồ Chí Minh, một lãnh tụ với bông sen (bông hoa tượng trưng của nhà Phật) không khác mấy với hình ảnh  bụi sen núi (Đinh Bộ Lĩnh), cây hoa sen (Lê Hoàn), họ Phạm (đồng âm với Phạn, tức Phật) của mẹ Lý Công Uẩn hay chi tiết một nhà sư nói chuyện thiên cơ với Lê Lợi. Tính chính thống tôn giáo trong tiềm thức dân tộc Việt Nam có thể khởi đi từ tận thời Sĩ Vương với hình thức lãnh tụ – giáo chủ, được mô tả rất rõ trong tiểu sử Sĩ Nhiếp ở Ngô Chí: “Anh em Sĩ Nhiếp đều làm quan coi quận, hùng cứ một châu, ở lánh xa muôn dặm, uy tín không ai hơn. Khi ra vào thì đánh chuông khánh, uy nghi đủ hết, kèn sáo thổi vang, xe ngựa đầy đường, người Hồ (tức các tu sĩ Phật giáo ngoại quốc – TTD) đi sát bánh xe đốt hương thường có đến mấy mươi người”.

Cần mở ngoặc thêm về Ngô Đình Diệm và sự thất bại không thể nào khác của ông ta ở đây. Một lãnh tụ không có huyền thoại đã là không ổn, ngoài ra họ Ngô lại còn là một giáo dân Thiên Chúa. Theo tôi hành động bắn chết Diệm – Nhu không thương tiếc của tướng sĩ đảo chính (đa phần theo Phật Giáo) có gốc rễ nơi các phong trào cấm Đạo của nhà Nguyễn hàng trăm năm trước. Ngô Đình Diệm là trường hợp “Hoàng tử Cảnh”[2] thứ hai trong lịch sử Việt Nam.

2. Gia vị thần quyền cũng là yếu tố chính thống:

Xin đưa ra hai đoạn trích tiêu biểu

a. Trong ngày 19 tháng 8, Bảo Đại bốn lấn gọi tôi qua hỏi đã tìm biết được lãnh tụ Việt Minh là ai chưa.
Sáng ngày 20, sau khi đi ra phố xem và biết chắc rằng những lời đồn đại về một bức thư kêu gọi Tổng khởi nghĩa của nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc mới được dán lên ở nhiều nơi công cộng, tôi liền báo cáo việc ấy với Bảo Đại và nói thêm: Theo lời lẽ của bức thư, thì chắc chắn nhà Cách Mạng nổi tiếng ấy là người cầm đầu Việt Minh.


Rồi tôi vừa hỏi, vừa gợi ý xem Bảo Đại có hiểu biết gì về lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc không, thì ngoài chuyện Con rồng tre đả kích Khải Định ra ông ta không biết gì cả. Tôi bèn kể cho Bảo Đại nghe việc sớm đi các nước phương Tây của nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc theo hiểu biết rất hạn chế của tôi lúc đó. Nhưng cảm thấy câu chuyện của mình không hấp dẫn Bảo Đại lắm, tôi chuyển sang chuyện một câu sấm được lưu truyền ở vùng Nghệ Tỉnh đã từ lâu và qua đó nhiều người đã thần thánh hóa nhà yêu nước Nguyễn Ái Quốc. Đó là câu sấm
“Đụn Sơn phân giải; Bò đái thất thanh, Nam Đàn sinh Thánh”. Nghĩa là : Núi Đụn Sơn tự phân chia ra, khe Bò Đái mất tiếng kêu đi thì đất Nam Đàn sẽ có thánh ra đời.

Vì Đụn Sơn và Bò Đái đều nằm trong địa phận huyện Nam Đàn. Nhân dân địa phương thường kể rằng:
Câu sấm đó là do nhà tiên tri Trạng Trình phán ra từ thế kỷ thứ 16. Đến cuối thế kỷ thứ 19, thì núi Đụn Sơn xưa kia là một hòn nguyên vẹn đã bị chia ra làm hai bằng một đường rạn nứt ở giữa, và khe Bò Đái xưa kia nước chảy ầm ầm ngày đêm thì đã không nghe tiếng nữa. Như thế tức là đã đến lúc đất Nam Đàn có Thánh ra đời…. Thánh đó là ai? Lúc đầu, người ta cho đó là nhà cách mạng Phan Bội Châu, nhưng khỏang năm 1920 trở đi, người ta lại cho đó là nhà yêu nước Nguyễn Ái Quốc mà hoạt động cách mạng ở Pháp đã bắt đầu vang dội vào trong nước. Câu chuyện nhuốm màu sắc thần bí ấy được tôi kể với niềm tin lúc đó đã được Bảo Đại lắng nghe một cách thích thú, say sưa hơn nhiều so với những mẩu chuyện thật tôi kể lúc đầu. Nghe xong, Bảo Đại liền nhắc lại một cách tự đắc câu sấm “Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân” cũng là của Trạng Trình…[3]

b. Từ làng quê sinh ra Bác, đi về phía Tây dăm bảy cây số, du khách sẽ đến với bến Sa Nam cạnh dòng Sông Lam đẹp đến nao lòng. Ngước mắt lên đã thấy “Rú Đụn cây bày như giáo dựng, buồm xuôi Lam phố tựa cờ giăng“. Dưới chân Rú Đụn, còn lại vết tích của thành Vạn An xưa, còn nấm mộ và ngôi đền linh thiêng thờ Mai Hắc Đế. Đã gần 1.300 năm rồi mà tên tuổi của ông vua Đen chưa phai nhạt trong ký ức của nhân dân. Từ mộ Vua Mai, nhìn qua bên kia Sông Lam là “Dãy Thiên Nhẫn đứt rồi lại nối, trông như đàn ngựa ruổi chạy quanh“. Nơi ấy có khe Vũ Nguyên, tục gọi là khe Bò Đái với ngọn thác kỳ vĩ từ Côn Sơn cao vài ba chục mét thả xuống hồ nước xanh ngăn ngắt. Lại nhớ về câu sấm ký xa xưa: “Đụn Sơn phân giải, Bò Đái thất thanh, thủy đáo Lam thành…”. Câu sấm ký dường như tiên tri về sự xuất hiện của một nhân vật lịch sử vĩ đại. Có người cho rằng, người đó là Phan Bội Châu – “một đấng thiên sứ, một lãnh tụ cách mạng, một nhà văn hóa lớn”. Còn cụ Phan, cụ lại cho rằng người đó là Nguyễn Ái Quốc – một hậu sinh yêu quý nối gót cụ và có nhiều mặt hơn cụ. Ngôi nhà cụ Phan và Bảo tàng Phan Bội Châu hiện nằm trong thị trấn Sa Nam, là điểm tham quan rất bổ ích.[4]

Nếu không có tính chính thống thần quyền, chưa chắc đã có huyền thoại HCM. Thật vậy, gương thất bại ngời ngời trong lịch sử: hai lãnh tụ ít được lòng dân nhất vì ít áp dụng “thần tích” nhất là Hồ Quí Ly và Nguyễn Ánh. Nếu quân Hồ Quí Ly bỏ hàng ngũ dẫn đến vương tướng bị quân Minh bắt sống hết vì ông đã quên sử dụng thần quyền, thì mức độ thần quyền nhạt nhẽo của Nguyễn Ánh cũng khiến dân Bắc Hà qui mà không phục. Ngay đến hôm nay văn chương Việt Nam vẫn còn tranh luận “Nguyễn Du có thực sự hoài Lê không” thì thật là lạ. Theo tôi Nguyễn Du hoài một thứ khác trong tâm thức ông kia, đó là thần quyền của lãnh tụ! Căn cứ vào hiến sử thì thần quyền được sử dụng rộng rãi trong chính trị Việt Nam từ thời Đô hộ tổng quản kinh lược chiêu thảo sứ Cao Biền (năm 865). Các thần tích xung quanh tên tuổi của ông, cộng với công xây thành Đại La và dẹp giặc dã đã khiến dân gian Việt Nam tôn ông là Cao Vương.

Năng lực thần quyền tỉ lệ nghịch với dân trí. Nếu Hồ Quí Ly noi theo Lý Thường Kiệt (với bài thơ thần Nam quốc sơn hà) thì chưa chắc quân Minh dễ dàng chiếm được nước ta như thế. Phải chăng đầu thế kỉ 15, dân trí là lí do cơ bản khiến nền chính trị Nho Giáo với giấc mơ hưng tiến dân tộc đã thất bại thảm hại. Khi lý tưởng chính trị, dù đã là khuôn vàng thước ngọc ở xứ sở nào đi nữa, cứ ngoan cố húc đầu vào bức tường dân trí chưa cao thì lịch sử đã có vết sẹo hai mươi năm loạn lạc vong quốc sẵn đấy để cảnh báo.

3. Tác quyền huyền thoại

Các huyền thoại lãnh tụ trải suốt lịch sử Việt Nam phần nhiều mô tả những sự việc mà lãnh tụ ấy can dự vào. Điển hình là Lý Công Uẩn nhìn thấy rồng bay lên dưới chân thành Đại La, Lê Lợi trả kiếm cho rùa thần v.v.. Chi tiết đặc trưng khiến ta không thể không đặt câu hỏi “Các vị lãnh tụ ấy có phải là đồng tác giả huyền thoại nói về mình hay không?”.

Đi dọc từ Nam chí Bắc, ta dễ thấy sự vật cái gì hơi khác thường là sẽ có bát hương với nhiều chân hương mới. Một hòn đá kì dị, một cái chết hi hữu, một xuất phát điểm tin đồn nhảm nhí hay một thân cây cổ thụ ngoại cỡ rất khả dĩ thành tụ điểm cúng bái, từ cầu an cầu phúc đến xin số đề! Sự lạ trong dân gian, nói huỵch toẹt ra chính là “thần”. Và con rùa thần của Lê Lợi ở hồ Hoàn Kiếm đơn giản chỉ là một con Giải (ba ba gai, ba ba trơn, cua đinh) khổng lồ. Công trình nghiên cứu của Viện khoa học công nghệ Việt Nam gần đây đã xác tín điều đó[5]. Hơn nữa loài Giải hồ Gươm từng tồn tại rất nhiều tại khu vực sông Mã, Lam Kinh. Theo Giáo sư “rùa” Hà Đình Đức hoàn toàn có khả năng Giải hồ Gươm đã được mang từ Lam Kinh ra thả ở hồ Lục Thủy vì tiêu bản Giải hiện nằm trong đền Ngọc Sơn có tuổi thọ khoảng 700 năm[6]. Giải rất giống rùa nhưng chắc chắn không phải là rùa, một loài vật có mặt trong tứ linh: Long, Lân, Qui, Phượng.

Loài Giải hồ Gươm trường thọ đã hé mở rằng: Nếu Lê Lợi không là chủ biên của huyền thoại trả gươm thì tất ông cũng là người đóng góp tích cực vào công trình huyền thoại hóa chính mình. Phải chăng Nguyễn Trãi đã tạo ra kịch bản ấy? Vị quân sư tài hoa của Lê Lợi sau này bị họa tru di cũng trong một huyền thoại: Máu bạch xà thấm qua ba trang sách. Hình như thế năng của Nguyễn Trãi trong lòng người rất cao, nên để an dân những kẻ đao phủ đã dùng chước “Gậy ông đập lưng ông”!

Không ra ngoài khuôn khổ truyền thống, huyền thoại Hồ Chí Minh có bàn tay xây dựng quan trọng của chính Hồ Chí Minh. Rất nhiều tác giả trên khắp thế giới viết sách về Hồ Chí Minh đều thấy còn quá nhiều điều bí ẩn về hành trình cách mạng của ông, dù rằng chính ông đã phần nào giải thích ông đã làm gì, ở đâu thời gian đó, trong một hai quyển sách ông viết về mình dưới bút danh Trần Dân Tiên hay T. Lan. Sự kín kẽ trong việc tự mô tả quá khứ của Hồ Chí Minh cũng góp phần xây dựng huyền thoại Hồ Chí Minh.

Nếu nhìn theo lí lẽ thông thường thì việc nhóm tác giả huyền thoại Hồ Chí Minh có cả Hồ Chí Minh không êm thuận lắm, nhưng nếu thử xuyên suốt các bóng râm trong lịch sử Việt Nam thì Hồ Chí Minh lại là người học trò lĩnh hội được nhiều tố chất lãnh tụ của các anh hùng dân tộc Việt Nam như Lý Công Uẩn, Lê Lợi…

C. Tư tưởng Hồ Chí Minh

Tư tưởng Hồ Chí Minh là gì nếu không phải sự nối dài huyền thoại Hồ Chí Minh để khẳng định tính chính thống của nhà nước Việt Nam hiện nay. Sau khi Liên Xô và phe XHCN sụp đổ ở Đông Âu thuật ngữ “Tư tưởng Hồ Chí Minh” mới được nhắc đến. Qua đại hội IX (năm 2001) của đảng Cộng Sản Việt Nam, văn kiện chính đã nêu rõ: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lê Nin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại”.

Theo một tài liệu trên internet mà tác giả bài này chưa thể kiểm chứng được độ xác thực, trong đại hội tháng 2 năm 1951, Hồ Chi Minh phát biểu: “Về lý luận, đảng Lao Động Việt Nam theo chủ nghĩa Mác-Lê Nin… lấy tư tưởng Mao Trạch Đông làm kim chỉ nam.” Khi đó, đại biểu miền Nam là Nguyễn Văn Trấn đã trình bày với Hồ Chí Minh rằng: “Có đồng chí còn nói: hay là ta viết Tư tưởng Mao Trạch Đông và tư tưởng Hồ Chí Minh”. Ông Hồ trả lời: “Không, tôi không có tư tưởng ngoài chủ nghĩa Mác-Lê Nin.” Một lần khác, có người đã hỏi Hồ Chí Minh vì sao ông không viết sách về lý thuyết cộng sản, thì ông trả lời ông không cần viết, vì đã có Mao Trạch Đông viết rồi.

Ở quyển hồi kí “Giọt nước trong biển cả” của mình, Hoàng Văn Hoan dẫn:

“Ðảng Lao động Việt Nam lấy học thuyết của Mác, Ăng Ghen, Lê Nin, Sta Lin và tư tưởng Mao Trạch Ðông kết hợp với thực tế của cách mạng Việt Nam làm nền tư tưởng của Đảng và kim chỉ nam của tất cả mọi hành động” (tr. 357).“Và trong bức điện Ðại hội thành lập Đảng Lao Ðộng Việt Nam gửi Đảng Cộng Sản Trung Quốc có đoạn nói “Ðảng nguyện noi gương anh dũng của Ðảng Cộng Sản Trung Quốc, học tập tư tưởng Mao Trạch Ðông, tư tưởng lãnh đạo nhân dân Trung Quốc và các dân tộc Á đông trên con đường độc lập và tự chủ (“báo Nhân Dân ngày 11/03/1951“).

“Trong bài viết giới thiệu quyển Kháng chiến nhất định thắng lợi của Trường Chinh, lí thuyết gia của Ðảng, báo Nhân Dân ngày 2 tháng 1-1956 có viết: Ðảng có đường lối chính trị và đường lối quân sự đúng đắn, lấy chủ nghĩa Mác-Lê và tư tưởng Mao Trạch Ðông làm nền tảng”.

“Nhân kỉ niệm 10 năm chiến thắng Ðiện Biên Phủ, Tướng Võ Nguyên Giáp viết: “Từ năm 1950 trở đi, sau cách mạng Trung Quốc thắng lợi, quân đội và nhân dân ta càng có điều kiện học tập những kinh nghiệm quý báu của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc, học tập tư tưởng quân sự Mao Trạch Ðông. Ðó là một yếu tố quan trọng giúp vào sự trưởng thành nhanh chóng của quân đội ta, góp phần vào những thắng lợi liên tiếp của quân ta, đặc biệt là trong chiến dịch Thu Ðông năm 1953-1954 và trong chiến dịch Ðiện Biên Phủ vĩ đại“ (báo Nhân Dân ngày 07/5/1964) (tr. 358-359).[7]

Nhìn qua người láng giềng Trung Hoa, mặc dù tư tưởng Mao Trạch Đông chưa hẳn đã hạ nhiệt, song những cái kế thừa luôn xếp lớp đứng đợi như chủ thuyết “Màu lông mèo” của Đặng Tiểu Bình, lí thuyết “Ba đại diện” của Giang Trạch Dân hoặc hiện nay, khi mới đủ lông đủ cánh với quan hệ khu vực và toàn cầu, nền kinh tế – chính trị Trung Hoa vừa đưa ra quan niệm “thế giới hài hòa” dưới tên Hồ Cẩm Đào.

Sự nối dài huyền thoại Hồ Chí Minh mà không có những lí luận thực tiễn kế thừa là sự lúng túng và bị động thấy rõ của nền chính trị Việt Nam. Càng ngày lí thuyết về tư tưởng Hồ Chí Minh lại càng trở nên phức tạp, người ta có thể nhìn nhận sự ghép nối, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào tất cả các hoạt động chính trị xã hội Việt Nam đương đại. Rườm rà hóa một chủ đề không quá khó hiểu, ở đây là tư tưởng Hồ Chí Minh, lại là một thuộc tính cố hữu của nền văn hóa Việt Nam nói chung. Ví dụ: trong khi người Nhật đơn giản hóa Hán tự để dùng thì người Việt đã phức tạp hóa chữ Hán thành chữ Nôm. Kinh nghiệm chỉ ra rằng, những người hay ôm đồm những đề tài đao to búa lớn và tuyệt đối trừu tượng thường là những người bất lực với tiểu tiết. Biên độ của vấn đề càng rộng thì thực chất càng loãng và sẽ sa đà vào những thứ chung chung, không có phương hướng, không thể giải quyết một cách rốt ráo.

Vấn nạn phức tạp hóa tư tưởng Hồ Chí Minh là sự bế tắc trong tư duy thực tế của lí luận chính trị Việt Nam. Nó cho thấy tinh thần sáng tạo đang thiếu vắng trong xã hội Việt Nam. Có thể đây chính là hằn vết nhiều lần dân tộc Việt Nam bị ngoại bang đô hộ.

D. Lời kết

Từ điển tiếng Việt của Trung tâm từ điển – ngôn ngữ xuất bản tại Hà Nội năm 1992 định nghĩa: “Huyền thoại (danh từ): Câu chuyện huyền hoặc, kì lạ, hoàn toàn do tưởng tượng, thần thoại.” Có lẽ tất cả các huyền thoại lãnh tụ Việt Nam đều “hoàn toàn do tưởng tượng” nhưng với mục đích chính trị rõ nét. Sợi chỉ đỏ này xuyên suốt chuỗi luận lịch sử chính trị Việt Nam.

Trên lí thuyết, tư tưởng Hồ Chí Minh là lẽ chính thống của Đảng cộng sản Việt Nam. Giá trị của huyền thoại Hồ Chí Minh, éo le thay, lại không nằm trong chính nội hàm của nó, mà cắm rễ một cách vững bền giữa tiềm thức của con người và xã hội Việt Nam. Mới đây thôi dư luận dân gian vẫn râm ran không dứt và đoán già đoán non lãnh tụ hiện tại của Đảng cộng sản Việt Nam, ông Nông Đức Mạnh là “con cháu” Hồ Chí Minh. “Mẹo” chính trị ư? Hay nguyện vọng của đại chúng? Giữa nhóm Á Đông gần gũi hiện ra các liên kết chân truyền: Mao Trạch Đông – Hoa Quốc Phong (con nuôi); Kim Nhật Thành – Kim Chính Nhật; Tưởng Giới Thạch – Tưởng Kinh Quốc; Lý Quang Diệu – Lý Hiển Long… Lại có người nghi vấn con ông Nông Đức Mạnh tên Tuấn và Liên dường như nhắc nhở đến Kim Liên (làng Sen) và Trần Quốc Tuấn (yếu nhân lịch sử mà Hồ Chí Minh luôn muốn so sánh và tôn sùng).

Những chân dung Hồ Chí Minh luôn sạch bụi, trang trọng nằm giữa bàn thờ tổ tiên trong nhiều gia đình truyền thống Việt Nam từ nông thôn đến thành thị là một thực tế không thể chối cãi. Hơn thế nữa, Hồ Chí Minh là cá nhân Việt Nam rõ nét nhất của thế kỉ hai mươi có ảnh được đặt vào ngôi đền anh hùng dân tộc cùng các tên tuổi chống ngoại xâm thành công suốt chiều dài lịch sử như Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung… Đó là chủ tố quan trọng đắp đổi thêm cùng huyền thoại, chính thống hóa quyền lực lúc sinh thời của ông và dọn cho ông một chỗ đứng trong kí ức dân tộc sau khi ông qua đời.

Dù kẻ muốn người không, Hồ Chí Minh vẫn là một nhân vật không thể thiếu trong các tài liệu lịch sử Việt Nam. Việc góp phần tự tạo dựng huyền thoại về mình của Hồ Chí Minh càng chứng tỏ ông rất am tường quá khứ dân tộc, cũng như con người và xã hội Việt Nam trong thế kỉ hai mươi. Điểm hơn người của ông ở đấy, và muốn luận được mất của ông chuẩn xác nhất cũng phải bắt đầu từ đấy.

Thung Lũng Đa Thiện,

Đà Lạt 12 – 2005

————–

Chú thích

Bài viết này đáng lẽ có tên là “Logic lịch sử trong huyền thoại Hồ Chí Minh”. Tuy vậy, do tác giả luôn cố gắng không dùng tiếng nước ngoài trong các văn bản Việt ngữ nên đã thay toàn bộ từ logic bằng “chuỗi luận” ở tất cả ngữ cảnh. Việc thay đổi này có tham khảo một số từ điển Việt ngữ đã dịch logic là “chuỗi lý luận”.


[1] Sao lục từ: http//www.vietnamgiapha.com/XemChiTietTungNguoi/ 51/17/THỪA%20THIÊN.html

[2] Hoàng tử Cảnh theo Bá Đa Lộc từ bé và thuận về đạo Thiên Chúa, do đó ông đã bị Nguyễn Ánh bạc đãi.

[3] Hồi ký Từ Triều Đình Huế đến chiến khu Việt Bắc – Phạm Khắc Hòe – vnthuquan.net

[4] http://www.vnn.vn/vanhoa/2004/01/46472/

[5] http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=26570&ChannelID=17

[6] Điều đáng tiếc ở ông Hà, dù là một trí thức nghiên cứu trong trường đại học nhưng không hiểu vì lí do gì ông hay đi ra khỏi khoa học mà nhẩm tính ngày tháng các lần rùa nổi rồi kết nối với các sự kiện thời sự chính trị một cách rất duy tâm. Sự lạ, cái “thần” lạc hậu còn có chỗ đứng trong lòng ông Hà thì với những người dân bình thường sẽ ra sao? Đây chắc chắn là chiếc thước đo dân trí nên tham khảo.

[7] Nguồn: tủ sách talawas.org

Tước lá mai….

1 phản hồi

May quá, ba cây mai tuy đã nở hoa cách đây 1 tháng nhưng nụ còn rất nhiều và chắc chắn tết này vẫn nở đẹp. Hôm nay cùng con gái tước lá, bón phân.

Nhuận bút báo tết tổng cộng gần 2 triệu, 500 sẽ mua tặng ông nội một cây mai mới, còn bao nhiêu cho con gái sắm hết đồ tết. Con gái vui lắm…

Older Entries