Những phát hiện lịch sử chấn động !?!?!?

29 Comments

Mấy ngày gần đây báo TN đăng tải nghiên cứu của tác giả Lê Mạnh Thát. Tôi không hề ngạc nhiên với cái tít “Những phát hiện lịch sử chấn động”. Gần như mọi hệ quả mà ông Lê rút ra, tương đồng một cách đáng ngạc nhiên với các khảo cứu của tôi. Vẫn biết sự thật chỉ có một, đường nào rồi cũng tới La Mã. Hy vọng ông Lê chứng minh được ông có con đường riêng của ông, và con đường đó sẽ ủng hộ kết quả khảo cứu của tôi.

Cổ sử Việt Nam – Một cách tiếp cận vấn đề – NXB Lao Động 2007, Trang 7, 8, 9, 10 :

Lịch sử Việt Nam từ thời Mê Linh liệt nữ trở về trước luôn là sự khơi gợi khám phá và thách thức cho bản thân tôi. Bằng những con đường không chiêu thức của một kẻ viễn kiến ngôi đền sử học, tôi đã tự tìm hiểu khoảng thời gian kia bằng dăm bài viết, có tham khảo một số sách vở và thư tịch cổ Việt Nam cũng như Trung Quốc. Khi hệ thống những bài viết này [1] hoàn thành, cũng là lúc nhận thức của tôi về thời bán sử Việt Nam bước qua một trang mới. Những nhầm lẫn và mâu thuẫn lộ liễu sẽ được thanh lọc, mạch sử đơn lẻ được tổng hợp lại để thành trang viết mới dài hơi hơn, cụ thể hơn. Tóm tắt nghiên cứu:

a) Giao Chỉ nguyên nghĩa là một khái niệm nói về vùng đất phía nam vương quốc của Đường Nghiêu – Ngu Thuấn. Giao Chỉ đầu thời Chu chính là đất Sở (Hồ Bắc, Trung Quốc). Giao Chỉ cũng còn gọi là Cơ Chỉ hoặc Cơ Sở, nó hàm nghĩa luôn tên nước Sở thời Xuân Thu và Chiến Quốc. Giao Chỉ nửa cuối thời Chiến Quốc ở phía nam nước Sở. Giao Chỉ thời Tần là Tượng Quận, Giao Chỉ thời Tây Hán là bắc bộ Việt Nam. Chỉ đến thời Đông Hán, Giao Chỉ mới biến thành địa danh cố định và xác thực trên địa đồ. Đóng khung bởi kiến thức thiên văn Tần – Hán, Nhật Nam nghĩa là vùng đất phía nam mặt trời, là bán cầu nam, Cửu Chân là Chân Trời, Xích Đạo. Có thể người Trung Quốc không lầm, hơn ai hết họ hiểu Giao Chỉ là gì nhưng nhiều sử gia đã cố ý tung hỏa mù và diễn dịch sai lạc ý nghĩa của từ Giao Chỉ. Đây là phương diện học thuật trong tổng thể âm mưu thực dân của đế quốc Hán.

b) Nhà nước Văn Lang sơ khai của người Lạc Việt được hình thành tại Động Đình Hồ (Hồ Nam, Trung Quốc) khoảng năm Nhâm Tuất 1199 TCN. Các vua Hùng cuối cùng trong số 18 vua Hùng đã chạy giặc Sở xuống đồng bằng Tây Giang, Quảng Tây, Trung Quốc và dựng lại phiên bản nhà nước sơ khai như Văn Lang Động Đình Hồ là Văn Lang Tây Giang. “Thục Vương tử” tên Phán của nước Thục (Quí Châu – Tây bắc Quảng Tây) đã thôn tính Văn Lang Tây Giang và dựng lên nước Tây Âu Lạc. Không ít cư dân Văn Lang Động Đình Hồ tiếp tục di chuyển xuống đồng bằng sông Hồng trước và sau thời điểm 179 TCN. Ở mảnh đất Việt Nam cổ, đoàn lưu dân này vẫn tổ chức xã hội theo mô hình Văn Lang Động Đình Hồ, song các nhóm thị tộc mẫu hệ không còn liên kết chặt chẽ với nhau tạo thành nhà nước sơ khai. Vua Hùng của họ chỉ còn là thủ lãnh tự trị từng khu vực nhỏ, tức là như tù trưởng, tộc trưởng mà thôi. Trong ngôn ngữ của Tư Mã Thiên, Tây Vu (vùng đất phía tây Nam Việt) chính là Tây Âu Lạc sau khi đã bị Triệu Đà thôn tính, nó không phải Tây Vu (vùng đất phía tây đồng bằng sông Hồng) thời Mã Viện. Thời Hán Vũ Đế, Tây Âu Lạc trở thành quận Hợp Phố. Chữ Tây trong Tây Âu Lạc, Tây Âu và Tây Vu ngày nay vẫn còn hiện diện trong tên gọi Quảng Tây, một tỉnh Trung Quốc giáp biên giới phía bắc Việt Nam. Người Lạc Việt ở Hợp Phố xưa hôm nay có thể là người Tráng. Truyền thống xem trống đồng là bảo vật linh thiêng của Lạc Việt vẫn được người Tráng lưu giữ. Ở nhiều ngữ cảnh, chữ Tráng đồng nghĩa với chữ Hùng trong từ Hùng Vương.

c) Địa bàn của người Lạc Việt cổ gồm Hồ Nam, Quảng Tây, Quảng Đông, Bắc Việt Nam và đảo Hải Nam. Người Lạc Việt gọi tổ quốc mình là Đất Nước, khi ký âm bằng Hán tự nó trở thành Âu Lạc. Do đó Lạc Việt chính là Nước Việt hay Việt Thường Quốc. Người Lạc Việt ủng hộ Triệu Đà lập nên nước Nam Việt có kinh đô tại Phiên Ngung cũng gọi nơi ấy là Âu Lạc. Từ đây sinh ra từ Tây Âu Lạc tương đương với Tây Âu, nghĩa là vùng đất phía tây Phiên Ngung. Do đó không tồn tại quốc gia Âu Lạc tại đồng bằng sông Hồng trước công nguyên. Sau năm 179 TCN người Lạc Việt ở Tây Âu Lạc (Quảng Tây) chạy giặc Triệu Đà xuống Bắc Việt đã dung hòa và pha trộn con người cũng như lịch sử với những người anh em cùng cội rễ Lạc Việt Động Đình Hồ. Chính cội rễ ấy đã che hết những mối nối ký ức, những khoảng trống và “mưu mô” của sử sách Trung Quốc, biến cổ sử Việt Nam thành một hệ thống vừa ít tư liệu vừa phức tạp nhưng cực kỳ mâu thuẫn.

d) Chiếu theo bản chất của danh xưng “Vua Hùng” thì Bà Trưng Trắc chính là vị Vua Hùng đầu tiên và cũng là cuối cùng của vùng đồng bằng sông Hồng. Tiếng trống đồng ở một sắc thái và tiết tấu nào đó sẽ là lời hiệu triệu nhân dân của Vua Hùng và Lạc Hầu, Lạc Tướng. Để bẻ gãy mầm mống các cuộc phản kháng của kẻ bị trị, Mã Viện đã càn quét và tịch thu rất nhiều trống đồng sau khi sát hại Hai Bà Trưng. Hậu quả là người Việt Nam đã bị tước mất trống đ
ng trong sinh hoạt văn hóa – xã hội hàng ngàn năm qua.

(Sách này hiện còn cỡ 100 bản tại nhà sách Hà Nội, 245 NTMK, Q1)

Năm 2005, BBC đã nhắc đến nội dung trên trong bài “Tiếng trống đồng Mê Linh“.

Tôi khảo cứu các vấn đề cổ sử Việt Nam từ đầu năm 2003, sau khi đi “thực tế” ở Trung Quốc về. Đến năm 2004 thì đã định hình hoàn chỉnh, liên tục được tạp chí talawas đăng tải. Các bạn có thể tìm kiếm với google để có mốc thời gian xác thực.

Dù sao như đã nói trong bài viết ở BBC: “Mặc dù còn rất nhiều sai sót, nhầm lẫn và mâu thuẫn trong các bài viết đã phố biến đây đó, tác giả hy vọng cách tiếp cận cốt lõi của mình nên được các nhà sử học chuyên nghiệp tham khảo nghiêm túc”.

Xem thêm:

1. Xác định ngữ nghĩa một cách có hệ thống các từ Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam

2. Quá trình hình thành quốc hiệu Việt Nam.

3. An Dương Vương không có thực.

Truyện ngắn CẶP TRUYỆN NGẮN SINH ĐÔI

3 Comments

Tặng LuMot Danna, hai người bạn đã giúp tôi có nhiều ý tưởng để viết.

Cặp truyện ngắn sinh đôi

Trương Thái Du

1. Hắn và anh

“Anh từ đâu đến…” Tôi hỏi hắn. Có vẻ ban đầu tôi định nói “Anh từ đâu đến, hay chỉ tình cờ đi qua đời em”. Do ngôn từ xắp xếp vừa xong, tôi đã nhận ra độ “sến” hơi nặng nên bỏ lửng. Phần ngập ngừng nén lại ong ong trong đầu, như thể tôi đang tự hỏi mình.

“Anh từ biển” – Hắn nói với một chút trầm ngâm.

Biển chiều nhiều mây. Sóng bạc đầu đuổi nhau. Một chiếc thuyền đánh cá nhỏ cắm sào nghỉ ngơi cuối tầm mắt. Nó không quá bé để ta ví von như xác lá dật dờ trên mặt nước, không quá lớn để thành chiếc võng thư nhàn đang đong đưa giữa bầu trời.

“Em không tin?” – Hắn cười vang rồi giơ một bàn tay ra hiệu hãy chờ. Hắn đi về phía biển, đi sâu vào biển. Hắn biến mất khỏi ánh mắt tôi chừng bốn mươi lăm giây, bằng chiều dài hơi lặn của một người bình thường. Vọt khỏi mặt nước, hắn ào chạy đến tôi. Tôi bật ngửa ra cát vì bị hắn dụi cái đầu ướt mèm vào ngực, vào bụng. Tôi nhột nên kéo khuôn mặt hắn lên. Nụ hôn mằn mặn. Hắn thì thào “Anh yêu em biết chừng nào!”. Thế rồi hắn động cỡn, bế xốc tôi, vừa chạy dọc bãi biển vắng vừa gào thét “Anh yêu em… Anh yêu em…”.

Lúc ấy tôi tin đúng là hắn đến từ biển. Biển xa mà núi thì gần. Nghịch lý thị giác ấy tôi cũng biết. Tầm nhìn xa trên biển chỉ hơn mười cây số nhưng cách Vũng Tàu năm mươi kilomet bạn đã thấy núi ở bên cạnh.

***

Đêm xuống rất nhanh. Hàng dương sâm sẫm. Những chớp đèn ngoài khơi, xa hút như sao trời. Lâu lâu mới có một con tàu lớn băng ngang. Hắn chỉ cho tôi đèn mạn màu xanh và đỏ, đèn cột, đèn mũi… Hắn dẫn giải tỉ mỉ cách nhìn đèn để biết hướng tàu chạy.

Sương bắt đầu xuống, tôi ớn lạnh khi thì thầm với hắn rằng hắn sẽ bỏ chạy một mình nếu cướp xuất hiện chứ. Hắn cười toáng lên. Hắn bảo tôi đừng bao giờ đặt những câu hỏi đã có sẵn trả lời. Hắn kể đêm Noel nọ, đứa em út hắn bị dí dao trên cầu Sài Gòn. Chú chàng nhanh tay rút chìa khóa xe máy và ù té ngay, mặc cô bồ lóng ngóng chưa biết xử trí thế nào. Hiện nay cô gái kia đã là em dâu hắn. Hắn bồi thêm chuyện thứ hai: Bạn trai hắn dẫn người yêu vào rừng thông Đồ Sơn mùa đông. Chưa bi bô xong tình huống giả định múa võ cứu người đẹp thì ma cô đến. Cặp tình nhân đành líu ríu lộn hết túi áo túi quần mời chúng lấy tiền và năn nỉ xin lại giấy tờ tùy thân. Đôi ấy cuối cùng cũng hạnh phúc và thành đạt.

Mặc hắn tránh né, tôi vẫn muốn truy bằng được cách hắn định xử trí. Hắn bảo trong tình huống ấy tôi phải bình tĩnh, hắn sẽ lôi kéo sự chú ý của bọn lưu manh để tôi bỏ chạy trước. Nhất thiết mỗi người một phía, la hét cầu cứu liên tục…

Hắn tỉnh táo quá. Tỉnh táo như một triết gia. Tôi biết đêm nay nàng trinh nữ tôi không có gì để lo, dẫu phải dùng tay hắn làm gối trong ngôi nhà rông chúng tôi thuê cạnh biển.

Tôi rúc vào lòng hắn. Sóng ngoài kia rì rào mãi bản tình ca dang dở. Hắn cũng không ngủ. Gần sáng hắn đoán gió chắc đang đổi hướng. Biển êm. Hắn bảo hắn nghe được hạ âm tưng tức của sóng lừng sắp hình thành.

Tôi bất ngờ có cảm giác an toàn như từng ở bên anh. Tôi biết hắn hơn anh ở chỗ đã làm tôi rung động. Tôi trèo lên người hắn, hôn từ mắt xuống môi, xuống cổ. Hắn luồn tay qua áo ngủ xoa lưng tôi, thì thào những lời yêu lịm ngọt.

“Anh sẽ suốt đời cho em cảm giác an toàn như thế này nhé” – Tôi gần như van xin hắn.

“Anh không phải một vị thánh. Anh từng trải và kiềm chế được tính dục vì như em biết anh đã một lần đổ vỡ” – Giọng hắn đều đều – “Cái gì của anh sẽ là của anh. Khi đến với em, anh cũng đâu mong gặp được một người con gái hoàn hảo”.

***

Về nhà sau chuyến đi ch
ơi biển xa ấy, tôi bắt đầu mơ về một đêm tân hôn huyền diệu. Tôi viết tay tặng hắn một đoạn Truyện Kiều của Nguyễn Du:

Đã cho vào bậc bố kinh

Đạo tòng phu lấy chữ trinh làm đầu

Ra tuồng trên bộc trong dâu

Những con người ấy ai cầu làm chi

Phải điều ăn xổi ở thì

Tiết trăm năm nỡ bỏ đi một ngày

Gẫm duyên kỳ ngộ xưa nay

Lứa đôi ai dễ đẹp tày Thôi – Trương.

Mây mưa đánh đổ đá vàng,

Quá chiều trước đã chán chường yến anh.

Trong khi tựa cánh liền cành,

Mà lòng rẻ rúng đã trình một bên.

Mái tây để lạnh hương nguyền,

Cho duyên đằm thắm ra duyên bẽ bàng.

Hắn cẩn thận kẹp tờ giấy học trò có kẻ ô ly nhạt vào giữa một quyển sách dầy chưng trong tủ. “Chính em sẽ làm khổ em thôi” – Tôi không hiểu hắn muốn nói gì.

Bên hắn tôi lại bất an. Càng bất an tôi càng muốn gần hắn. Tôi ngửi được và thích ngửi cái mùi đàn ông đặc trưng trên da thịt hắn. Nó chứa nam tính một cách rõ ràng, (lại) hơn anh. Nếu định nghĩa tình yêu là giá trị gì đó ngoài xác thịt thì tôi yêu anh chứ không hề yêu hắn. Anh đến với tôi khi tôi bắt đầu trở thành thiếu nữ. Bao nhiêu mùa xuân cứ trôi, anh vẫn chẳng vượt qua những nụ hôn thiếu lửa. Thiếu lửa, nhưng tôi chết cháy trong niềm khát khao trở thành đàn bà.

Rồi hắn xộc đến. Hắn là một con công trống lão luyện. Hắn biết tôi thích vũ điệu nào. Tôi kể về hắn cho anh nghe. Anh không chúc tôi hạnh phúc và cũng không muốn giật tôi trở lại vòng tay anh. Tôi cay đắng nhận ra anh là đàn ông nhưng không phải giống đực, ít nhất là ở ham muốn. Trong nền văn hóa của đất nước tôi, khi nói về giới tính, người ta nói về “giới tính xã hội” hơn là “giới tính sinh học”. Ngôn ngữ của chúng tôi rành mạch đến độ thiếu hụt, không có giống trung, không có giới tính thứ ba.

***

Một hôm tôi bảo với hắn từ nay thi thoảng tôi sẽ ngủ lại căn hộ độc thân một giường của hắn. Hắn mở tủ đưa tôi quyển sách dầy cộp kẹp giữ đoạn thơ Kiều. Hóa ra đây là tuyển tập các gương phụ nữ tiết liệt, nghĩa tháo, trung trinh, lay động muôn đời. Hơn nửa số truyện dịch từ sách Tàu. Có cả ảnh không ít miếu thờ, sắc phong triều đình nêu gương “trinh liệt nữ thần”. Hàng ngàn năm, biết bao nhiêu câu chuyện người ta cho là cảm động.

“Bây giờ em mới hiểu, không ít quyển sách nên bị đốt. Đốt sách chưa chắc là tội ác.” – Tôi cực đoan một cách độc địa.

Hắn bật nhạc. Dàn máy nhiều đèn chỉ thị, nút điều chỉnh nào cũng có đèn, bộ lọc tần số nhấp nháy hàng chục cột từ thấp đến cao. Căn phòng tối bỗng biến thành một góc trời đầy sao. Nhạc Văn Cao và Phạm Duy, những nét Đường thi đẹp mê hồn lấp lánh trong ca từ. Tôi không thích Trịnh Công Sơn của Sài Gòn ba trăm năm, dù hát thơ cũng là một nghệ thuật đáng trân trọng.

Tôi thực sự chưa hiểu tại sao mình chẳng chút e thẹn khi khỏa thân lần đầu tiên bên một người đàn ông. Vì màn đêm đồng lõa chăng? Tôi ôm hắn thật chặt. Chiếc linga căng đầy tự tôn, nóng rẫy áp vào đùi tôi. Ông Tứ Tượng từng lấy dương vật làm cầu tạm. Bà Nữ Oa đã sưởi ấm đoàn nhà trai rước dâu ướt lạnh bằng âm hộ của mình. Người Chăm xem sự hòa nhập giữa Yoni và Linga làm nên biểu tượng sáng tạo và sinh sôi của thần Siva, làm nên vẻ đẹp tôn giáo.

Hắn trốn chạy tôi và trốn chạy chính hắn. Hắn nghĩ chưa chắc chúng tôi sẽ gắn bó với nhau trọn đời. Hắn là người đốt lửa nhưng không muốn tôi biến thành thiêu thân? Hắn dùng một phạm trù đạo đức để chế ngự tự nhiên, trong khi tôi tự nhủ nếu hôm nay tôi không thành đàn bà thì hắn không phải người tôi tìm kiếm.

Đêm hẵng còn dài. Hơi thở của hắn không thể liền lạc. Nó ứa ra từ những kẽ nứt của thời gian và sự thinh lặng. Cẳng chân hắn giống cẳng chân tôi một cách kỳ lạ, như tôi và hắn là anh em ruột, như hắn chính là tôi và ngược lại.

Bỗng nhiên anh từ đâu nhảy xổ vào óc tôi. Anh nói hắn không phải là anh. Hắn chỉ là một phần mà tôi mong đợi ở anh. Muộn quá rồi. Hắn đã trườn lên người tôi. Vết đâm buốt óc. Bên dưới của kìm nén là cu
ồng nộ và mạnh bạo. Tôi cắn môi để khỏi bật khóc. Nước mắt rát đắng.

***

Và tất nhiên, cuối cùng tôi phải chia tay hắn. Tôi không thể lên giường với hắn và tưởng nhớ đến anh, mường tượng sự êm ái và nhẹ nhàng nếu anh là hắn.

Từ đó tôi thường tự giới thiệu với xã hội là tôi đã có một đời chồng. Tôi nhắc đến hắn làm gì. Tôi muốn nói về tôi. Tôi phát tín hiệu rõ ràng cho tất cả những quí ông mon men xung quanh mình. Có như vậy họ mới thôi suy già đoán non, ao ước, mong đợi nơi tôi một cô gái không khiếm khuyết, tối thiểu là ở khía cạnh bóng bẩy truyền thống.

Tôi không có lý do trách cứ hắn. Trong truyện ngắn này tôi bắt buộc phải gọi một trong hai nhân vật nam là hắn. Để tránh nhầm lẫn, đơn giản chỉ thế thôi. Bạn đọc đừng lần theo lối mòn, hãy thoát ra khỏi nhà tù khái niệm, hãy xem “hắn” là một danh từ chỉ ngôi thứ ba bình thường. Hoặc nếu không thích, bạn có thể thay “anh” bằng “hắn” và “hắn” bằng “anh” tại các ngữ cảnh gián tiếp, với vài thủ thuật vi tính văn bản. Tôi đã thử và thấy mạch truyện dịu đi rất nhiều. Ngôn ngữ đánh lừa chúng ta thâm sâu và hiểm độc như thế đấy.

2. Anh và hắn

“Anh từ đâu đến…” Tôi hỏi anh. Có vẻ ban đầu tôi định nói “Anh từ đâu đến, hay chỉ tình cờ đi qua đời em”. Do ngôn từ xắp xếp vừa xong, tôi đã nhận ra độ “sến” hơi nặng nên bỏ lửng. Phần ngập ngừng nén lại ong ong trong đầu, như thể tôi đang tự hỏi mình.

“Anh từ biển” – Anh nói với một chút trầm ngâm.

Biển chiều nhiều mây. Sóng bạc đầu đuổi nhau. Một chiếc thuyền đánh cá nhỏ cắm sào nghỉ ngơi cuối tầm mắt. Nó không quá bé để ta ví von như xác lá dật dờ trên mặt nước, không quá lớn để thành chiếc võng thư nhàn đang đong đưa giữa bầu trời.

“Em không tin?” – Anh cười vang rồi giơ một bàn tay ra hiệu hãy chờ. Anh đi về phía biển, đi sâu vào biển. Anh biến mất khỏi ánh mắt tôi chừng bốn mươi lăm giây, bằng chiều dài hơi lặn của một người bình thường. Vọt khỏi mặt nước, anh ào chạy đến tôi. Tôi bật ngửa ra cát vì bị anh dụi cái đầu ướt mèm vào ngực, vào bụng. Tôi nhột nên kéo khuôn mặt anh lên. Nụ hôn mằn mặn. Anh thì thào “Anh yêu em biết chừng nào!”. Thế rồi anh động cỡn, bế xốc tôi, vừa chạy dọc bãi biển vắng vừa gào thét “Anh yêu em… Anh yêu em…”.

Lúc ấy tôi tin đúng là anh đến từ biển. Biển xa mà núi thì gần. Nghịch lý thị giác ấy tôi cũng biết. Tầm nhìn xa trên biển chỉ hơn mười cây số nhưng cách Vũng Tàu năm mươi kilomet bạn đã thấy núi ở bên cạnh.

***

Đêm xuống rất nhanh. Hàng dương sâm sẫm. Những chớp đèn ngoài khơi, xa hút như sao trời. Lâu lâu mới có một con tàu lớn băng ngang. Anh chỉ cho tôi đèn mạn màu xanh và đỏ, đèn cột, đèn mũi… Anh dẫn giải tỉ mỉ cách nhìn đèn để biết hướng tàu chạy.

Sương bắt đầu xuống, tôi ớn lạnh khi thì thầm với anh rằng anh sẽ bỏ chạy một mình nếu cướp xuất hiện chứ. Anh cười toáng lên. Anh bảo tôi đừng bao giờ đặt những câu hỏi đã có sẵn trả lời. Anh kể đêm Noel nọ, đứa em út anh bị dí dao trên cầu Sài Gòn. Chú chàng nhanh tay rút chìa khóa xe máy và ù té ngay, mặc cô bồ lóng ngóng chưa biết xử trí thế nào. Hiện nay cô gái kia đã là em dâu anh. Anh bồi thêm chuyện thứ hai: Bạn trai anh dẫn người yêu vào rừng thông Đồ Sơn mùa đông. Chưa bi bô xong tình huống giả định múa võ cứu người đẹp thì ma cô đến. Cặp tình nhân đành líu ríu lộn hết túi áo túi quần mời chúng lấy tiền và năn nỉ xin lại giấy tờ tùy thân. Đôi ấy cuối cùng cũng hạnh phúc và thành đạt.

Mặc anh tránh né, tôi vẫn muốn truy bằng được cách anh định xử trí. Anh bảo trong tình huống ấy tôi phải bình tĩnh, anh sẽ lôi kéo sự chú ý của bọn lưu manh để tôi bỏ chạy trước. Nhất thiết mỗi người một phía, la hét cầu cứu liên tục…

Anh tỉnh táo quá. Tỉnh táo như một triết gia. Tôi biết đêm nay nàng trinh nữ tôi không có gì để lo, dẫu phải dùng tay anh làm gối trong ngôi nhà rông chúng tôi thuê cạnh biển.

Tôi rúc vào lòng anh. Sóng ngoài kia rì rào mãi bản tình ca dang dở. Anh cũng không ngủ. Gần sáng anh đoán gió chắc đang đổi hướng. Biển êm. Anh bảo anh nghe được hạ âm tưng tức của sóng lừng sắp hình thành.

Tôi bất ngờ có cảm giác an
toàn như từng ở bên hắn. Tôi biết anh hơn hắn ở chỗ đã làm tôi rung động. Tôi trèo lên người anh, hôn từ mắt xuống môi, xuống cổ. Anh luồn tay qua áo ngủ xoa lưng tôi, thì thào những lời yêu lịm ngọt.

“Anh sẽ suốt đời cho em cảm giác an toàn như thế này nhé” – Tôi gần như van xin anh.

“Anh không phải một vị thánh. Anh từng trải và kiềm chế được tính dục vì như em biết anh đã một lần đổ vỡ” – Giọng anh đều đều – “Cái gì của anh sẽ là của anh. Khi đến với em, anh cũng đâu mong gặp được một người con gái hoàn hảo”.

***

Về nhà sau chuyến đi chơi biển xa ấy, tôi bắt đầu mơ về một đêm tân hôn huyền diệu. Tôi viết tay tặng anh một đoạn Truyện Kiều của Nguyễn Du:

Đã cho vào bậc bố kinh

Đạo tòng phu lấy chữ trinh làm đầu

Ra tuồng trên bộc trong dâu

Những con người ấy ai cầu làm chi

Phải điều ăn xổi ở thì

Tiết trăm năm nỡ bỏ đi một ngày

Gẫm duyên kỳ ngộ xưa nay

Lứa đôi ai dễ đẹp tày Thôi – Trương.

Mây mưa đánh đổ đá vàng,

Quá chiều trước đã chán chường yến anh.

Trong khi tựa cánh liền cành,

Mà lòng rẻ rúng đã trình một bên.

Mái tây để lạnh hương nguyền,

Cho duyên đằm thắm ra duyên bẽ bàng.

Anh cẩn thận kẹp tờ giấy học trò có kẻ ô ly nhạt vào giữa một quyển sách dầy chưng trong tủ. “Chính em sẽ làm khổ em thôi” – Tôi không hiểu anh muốn nói gì.

Bên anh tôi lại bất an. Càng bất an tôi càng muốn gần anh. Tôi ngửi được và thích ngửi cái mùi đàn ông đặc trưng trên da thịt anh. Nó chứa nam tính một cách rõ ràng, (lại) hơn hắn. Nếu định nghĩa tình yêu là giá trị gì đó ngoài xác thịt thì tôi yêu hắn chứ không hề yêu anh. Hắn đến với tôi khi tôi bắt đầu trở thành thiếu nữ. Bao nhiêu mùa xuân cứ trôi, hắn vẫn chẳng vượt qua những nụ hôn thiếu lửa. Thiếu lửa, nhưng tôi chết cháy trong niềm khát khao trở thành đàn bà.

Rồi anh xộc đến. Anh là một con công trống lão luyện. Anh biết tôi thích vũ điệu nào. Tôi kể về anh cho hắn nghe. Hắn không chúc tôi hạnh phúc và cũng không muốn giật tôi trở lại vòng tay hắn. Tôi cay đắng nhận ra hắn là đàn ông nhưng không phải giống đực, ít nhất là ở ham muốn. Trong nền văn hóa của đất nước tôi, khi nói về giới tính, người ta nói về “giới tính xã hội” hơn là “giới tính sinh học”. Ngôn ngữ của chúng tôi rành mạch đến độ thiếu hụt, không có giống trung, không có giới tính thứ ba.

***

Một hôm tôi bảo với anh từ nay thi thoảng tôi sẽ ngủ lại căn hộ độc thân một giường của anh. Anh mở tủ đưa tôi quyển sách dầy cộp kẹp giữ đoạn thơ Kiều. Hóa ra đây là tuyển tập các gương phụ nữ tiết liệt, nghĩa tháo, trung trinh, lay động muôn đời. Hơn nửa số truyện dịch từ sách Tàu. Có cả ảnh không ít miếu thờ, sắc phong triều đình nêu gương “trinh liệt nữ thần”. Hàng ngàn năm, biết bao nhiêu câu chuyện người ta cho là cảm động.

“Bây giờ em mới hiểu, không ít quyển sách nên bị đốt. Đốt sách chưa chắc là tội ác.” – Tôi cực đoan một cách độc địa.

Anh bật nhạc. Dàn máy nhiều đèn chỉ thị, nút điều chỉnh nào cũng có đèn, bộ lọc tần số nhấp nháy hàng chục cột từ thấp đến cao. Căn phòng tối bỗng biến thành một góc trời đầy sao. Nhạc Văn Cao và Phạm Duy, những nét Đường thi đẹp mê hồn lấp lánh trong ca từ. Tôi không thích Trịnh Công Sơn của Sài Gòn ba trăm năm, dù hát thơ cũng là một nghệ thuật đáng trân trọng.

Tôi thực sự chưa hiểu tại sao mình chẳng chút e thẹn khi khỏa thân lần đầu tiên bên một người đàn ông. Vì màn đêm đồng lõa chăng? Tôi ôm anh thật chặt. Chiếc linga căng đầy tự tôn, nóng rẫy áp vào đùi tôi. Ông Tứ Tượng từng lấy dương vật làm cầu tạm. Bà Nữ Oa đã sưởi ấm đoàn nhà trai rước dâu ướt lạnh bằng âm hộ của mình. Người Chăm xem sự hòa nhập giữa Yoni và Linga làm nên biểu tượng sáng tạo và sinh sôi của thần Siva, làm nên vẻ đẹp tôn giáo.

Anh trốn chạy tôi và trốn chạy chính anh. Anh nghĩ chưa chắc chúng tôi sẽ gắn bó với nhau trọn đời. Anh là người đốt lửa nhưng không muốn tôi biến thành thiêu thân? Anh dùng một phạm trù đạo đức để chế ngự tự nhiên, trong khi tôi tự nhủ nếu hôm nay tôi không thành đàn bà thì anh không phải người tôi tìm kiếm.

Đêm hẵng còn dài. Hơi thở của anh không thể liền lạc. Nó ứa ra từ những kẽ nứt của thời gian và sự thinh lặng. Cẳng chân anh giống cẳng chân tôi một cách kỳ lạ, như tôi và anh là anh em ruột, như anh chính là tôi và ngược lại.

Bỗng nhiên hắn từ đâu nhảy xổ vào óc tôi. Hắn nói anh không phải là hắn. Anh chỉ là một phần mà tôi mong đợi ở hắn. Muộn quá rồi. Anh đã trườn lên người tôi. Vết đâm buốt óc. Bên dưới của kìm nén là cuồng nộ và mạnh bạo. Tôi cắn môi để khỏi bật khóc. Nước mắt rát đắng.

***

Và tất nhiên, cuối cùng tôi phải chia tay anh. Tôi không thể lên giường với anh và tưởng nhớ đến hắn, mường tượng sự êm ái và nhẹ nhàng nếu hắn là anh.

Từ đó tôi thường tự giới thiệu với xã hội là tôi đã có một đời chồng. Tôi nhắc đến anh làm gì. Tôi muốn nói về tôi. Tôi phát tín hiệu rõ ràng cho tất cả những quí ông mon men xung quanh mình. Có như vậy họ mới thôi suy già đoán non, ao ước, mong đợi nơi tôi một cô gái không khiếm khuyết, tối thiểu là ở khía cạnh bóng bẩy truyền thống.

Tôi không có lý do trách cứ anh. Trong truyện ngắn này tôi bắt buộc phải gọi một trong hai nhân vật nam là hắn. Để tránh nhầm lẫn, đơn giản chỉ thế thôi. Bạn đọc đừng lần theo lối mòn, hãy thoát ra khỏi nhà tù khái niệm, hãy xem “hắn” là một danh từ chỉ ngôi thứ ba bình thường. Hoặc nếu không thích, bạn có thể thay “anh” bằng “hắn” và “hắn” bằng “anh” tại các ngữ cảnh gián tiếp, với vài thủ thuật vi tính văn bản. Bạn thấy không, mạch truyện đã dịu đi rất nhiều. Ngôn ngữ đánh lừa chúng ta thâm sâu và hiểm độc như thế đấy.

Thảo Điền

24.2.2008

Truyện ngắn NƠI THỜI GIAN DỪNG LẠI

9 Comments

Nơi thời gian dừng lại

Bạn đọc nên biết đây là một câu chuyện có thật. Tôi chia truyện thành sáu tiểu đoạn, đánh số từ một trở đi. Khi tráo đổi thứ tự các tiểu đoạn, tôi thấy mạch truyện không bị đứt, mà còn tạo sự ưu tiên – tuồng như nhấn mạnh vào tiểu tiết nào đó. Văn bản, dù dưới dạng điện tử hoặc in trên sách hay báo sẽ giới hạn ý đồ tác giả nên tôi tạm lựa chọn một thứ tự mình thích như người đọc thấy dưới đây. Thật mãn ý nếu truyện này được in riêng lẻ thành sáu thiếp như sáu lá bài. Mỗi lần xáo bài người đọc sẽ có một câu chuyện ngẫu nhiên. Tôi lạm gọi kiểu viết này là thử nghiệm nghệ thuật sắp đặt. Hơn thế nữa, tôi luôn cố gắng để các chi tiết ở trạng thái thô mộc nhất, ít chữ nhất. Tôi mong mọi người sẽ hình dung đấy là những mảnh giấy màu được xé ra có chủ ý nhưng không quá cầu kỳ. Chúng sẽ được đan xen vào nhau, sắp đặt cạnh nhau, tượng hình nên truyện ngắn. Dù sao đi nữa, ở trường hợp này, sự câu thúc của trật tự thời gian là vô nghĩa trong mạch văn. Tôi rất mong “Nơi thời gian dừng lại” gợi nên một nét âm bản của cuộc sống ồn ào hiện đại.

2. Phải khẳng định tôi là kẻ vô thần. Tôi không tin dị đoan, ma quỷ, tiên thánh. Do đó chiếc xích đu nằm giữa vuông sân trời rộng và kín gió, tôi đặt tên là cỗ máy vĩnh cửu. Chẳng liên tục nhưng thi thoảng chiếc xích đu lại tự đưa đẩy như có người đang ngồi chơi, mà không vì một lý do cơ học rõ ràng nào.

Khu tôi ở vốn đã yên tịnh, vườn cây lưu niên hàng ngàn thước vuông xung quanh càng tách biệt căn nhà với thế giới xung quanh. Những đêm trăng thanh vắng tôi thường không ngủ được vì chiếc xích đu cứ kẽo kẹt mãi. Sân trời cỡ một sảnh khách lớn, ba phía đều có cửa phòng hoặc cửa sổ trổ ra, từ những mảng tường đá rửa hồng xám. Hàng lan can sắt nhìn xuống thảm cỏ bên hông. Bể đất to và sâu kéo dài suốt chiều dọc sân, đầu giáp lan can có bụi hoàng anh già cỗi xù xì leo lên những chiếc lam bê tông trang trí bên trên.

Hoa hoàng anh màu vàng ươm, gần giống hoa loa kèn. Khi lìa cành rơi xuống nó tạo nên những tiếng động tinh tế như bước chân tố nữ. Lá hoàng anh già cũng màu vàng. Đầu mùa khô, các xoáy gió đêm hiếm hoi sẽ khiến lá rụng hàng loạt. Chúng thường mông lung gợi hình tà áo mỏng liêu trai, xoắn xuýt quanh chiếc xích đu.

Thấy tôi đi sớm về khuya, thui thủi một mình, chòm xóm đồn nhà tôi bị ma ám. Họ thầm thì về những tiếng cười xé vải hun hút đêm sâu, tiếng đàn tranh rin rít từng tràng ai oán, tiếng cú rúc, tiếng chim lợn eng éc báo điềm xấu… Họ bảo không bị dớp ấy thì căn nhà đã đổi chủ xoành xoạch mỗi bận bất động sản nóng sốt, y như các khuôn viên xung quanh. Tôi từng đuổi không biết bao nhiêu là cò đất lâu lâu đến quấy rầy, nghe ngóng, dụ dỗ. Người ta không tin tôi, trơ tráo ngả giá mua số điện thoại của chủ nhân thực sự.

1. Tòa biệt thự xưa cũ, xây dựng theo phong cách Mỹ cuối thập niên 1960 mà tôi đang ở là tài sản tôi thừa kế từ người chú ruột quá cố. Chú vốn là sĩ quan quân y chế độ cũ. Cha tôi không thèm nhìn mặt chú. Ông ghét em trai một, ghét em dâu mười. Thím tôi bị gọi là đứa tiểu tư sản õng ẹo đồng bóng. Tập kết về, gia đình tôi ở chung với ông bà nội đã gần đất xa trời. Nhà chú cạnh bên.

Năm 1978 thím dắt con, dứt áo vượt biên cùng bạn tình. Học tập xong, chú tôi bán nhà nơi trung tâm thành phố. Ông lóc cóc đạp xe qua cầu Sài Gòn tìm chốn ẩn mình. Mẹ tôi đoán chú vẫn còn của chìm nhưng giả bộ cuốc đất trồng rau, nuôi gà vịt, sống chay tịnh tự cung tự cấp và cắt hết giao tiếp với xã hội.

Thời gian rong ruổi. Cha mẹ tôi về với tổ tiên. Anh hai tôi thành đại gia tiền muôn bạc vạn. Tôi khù khờ nhút nhát nên được anh lo cho chân thủ thư, sống như một chiếc bóng. Chị dâu hay nửa đùa nửa thật bảo tôi là âm bản, là thái cực cân bằng với thành đạt, thông minh, khôn khéo, thức thời của anh trai tôi.

Giỗ đầu cha tôi, anh hai không hiểu làm cách nào đón được chú đến thắp nhang. Từ đó anh cử hẳn một bà vú già trong gia đình qua chăm sóc chú đến cuối đời. Chú mất, di chúc bắt tôi phải giữ nguyên trạng ngôi nhà trong ít nhất hai mươi năm, sau đó muốn làm gì thì tùy. Chị dâu bực bội hỏi đào đâu ra tiền trước bạ. Tôi bảo anh hai đứng tên nhà cũng được. Anh mắng tôi ngu, anh tin tôi chứ không tin vợ. Tôi phải ký giấy tặng riêng anh phần di sản của bố mẹ, tức nửa căn nhà ông bà nội để lại.

Số là dạo ấy anh chị đang bất hòa. Lâu lâu anh lại dọa chị rằng người xưa đã bảo “Giàu đổi bạn – Sang đổi vợ”. Chị nổi khùng hoài, nhưng dần dần cũng thỏa hiệp được. Anh hai bay nhẩy, trăng hoa kín hơn. Chị ở nhà giả tảng không nghe, không biết, tự tìm thú vui như lễ chùa, tụ tập bạn bè cùng trang lứa.

4. Hai người khách tỏ vẻ áy náy rất thật vì làm phiền tôi trong ngày nghỉ cuối tuần. Hóa ra đây là tổ ấm cũ của họ. Bao năm xa xứ họ luôn bị thôi thúc trở về. Cây cối lớn vống lên. Riêng tòa nhà chẳng mấy đổi thay, cứ như một phần tư thế kỷ chỉ là chớp mắt.

Tôi dắt họ đi thăm mọi ngóc ngách. Chỗ nào họ cũng qua loa, chỉ trừ vuông sân trời có chiếc xích đu. Vừa bước qua cửa, bà vợ đã đổ sụp xuống bên bể đất trồng hoa. Ông chồng lặng lẽ gạt nước mắt, cúi mái đầu hoa râm phai thuốc nhuộm đỡ vợ dậy.

Cuối tháng Tư năm ấy, một mảnh đạn pháo lạc từ xa lộ đầu cầu Sài Gòn đã cướp đi đứa con gái bé bỏng vừa qua tuổi dậy thì của họ. Cô gục xuống bên chiếc xích đu sơn màu xanh hòa bình. Cha mẹ cô chỉ kịp gói gém thi thể trinh nữ trong mấy lớp ni lông rồi chôn tạm giữa bể đất, trước khi di tản.

Một lọ hoa, hai chung nước lọc và ba cây nhang cùng không khí đặc quánh xung quanh tạo nên lễ cải táng câm lặng nhưng đầy màu sắc tâm linh thần bí. Chúng tôi không nỡ dùng các dụng cụ đào bới như bay thợ hồ hoặc cuốc và xẻng nhỏ. Ba mươi đầu ngón tay trần cào vơi dần khoảng giữa bể đất để thăm dò. Gần đến đáy xi măng, khối rễ hoàng anh chằng chịt làm bật móng tay ông khách. Máu đỏ thấm ướt đất. Chưa kịp đau đớn, ông đã cuống cuồng hoảng hốt vì không thấy gì.

Mọi người nín thinh, tiếp tục bới, hất hết đất đen ra ngoài.

Điều kỳ lạ chỉ lộ diện khi niềm hy vọng sắp tắt. Chiếc tiểu sành màu da lươn. Xương cốt xếp đặt rất ngay ngắn. Hộp sọ thon nhỏ, có lẽ của khuôn mặt trái xoan. Mảnh đạn pháo hình lưỡi rìu chém vào thái dương vẫn còn kẹt lại.

Nắp cao su dẻo kín nước của chiếc vỏ chai thuốc pênêxilin được cậy ra. Mấy dòng chữ nhòe nhoẹt của chú tôi, mực dầu tái chế, bút Bic chắc đã thay bi mấy lần: Định dùng bể đất làm hồ nuôi cá trê phi thì phát hiện đây là một ngôi mộ. Xin thân nhân người quá cố lượng thứ. Ngày x tháng y năm 1982.

3. Hai anh em tôi sống tương đối ít va chạm. Tôi luôn nghe lời anh. Trước kia vài ba lần anh cho tôi tiền xài. Tôi không khi nào nhận. Anh chả cần hỏi cũng biết tôi đơn giản lắm. Không rượu chè, cờ bạc, cà phê cà pháo, tôi chỉ thích sách thì tiền khác nào giấy lộn. Sách trong mấy tầng lầu thư viện, hằng tháng chiêu nạp thêm cơ man bản in lưu chiểu mới nhất, tôi đọc đến kiếp sau cũng chưa hết.

Anh thấy tôi vô duyên trên đường tình nên bổn cũ soạn lại. Anh kiếm đâu ra một cô giúp việc sạch sẽ, trẻ trung gửi vào nhà tôi. Đêm đầu tiên như có ma phá. Chiếc xích đu rên xiết. Cô giúp việc mê ngủ la hét rùm trời. Tôi dậy bật đèn, gõ cửa phòng gia nhân. Cô giúp việc ôm tôi khóc rưng rức. Cô bảo vừa thấy ác mộng cũ.

Học hết phổ thông, một bà cùng quê dỗ ngon dỗ ngọt cô vào Sài Gòn. Gia đình cô đến có ba nhân khẩu. Hai ông bà già lương hưu rất hậu. Cậu út của họ mắc bệnh đao, luôn mặc độc mỗi chiếc quần đùi trễ rốn, rong chơi đầu trên xóm dưới, gặp ai cũng chửi. Mấy năm nay hắn giở chứng, cứ giục mẹ lấy vợ cho.

Đêm đầu tiên cô đến nơi ở mới, cậu kia trần truồng nạy cửa phòng đòi hợp cẩn. Cô gào khóc, cấu véo, cắn xé. Mãi sau mới thấy ông chủ trên lầu hét gọi quý tử. Cô bỏ trốn, tìm chị bạn đồng hương làm tại nhà anh tôi. Cô thật thà bảo anh tôi đã nói trắng rằng tôi không tâm thần, chỉ tội tồ quá, con gái thành phố chẳng để mắt tới. Nếu cô dụ được tôi, anh sẽ lo tất, sẽ tặng bố mẹ cô ngoài bắc một căn nhà mái bằng.

Tôi bảo tôi rất quý cô, mới gặp đã thấy quý. Từ khi dọn đến biệt thự này, trong đầu tôi luôn có cảm giác đã lập gia đình. Ở chung với cô tôi rất ngại. Tôi nhờ ông già bảo vệ nhà Tây thuê cạnh bên kiếm cho cô công việc lau dọn. Lương tàm tạm, đủ để cô tìm một chỗ trọ tồi tàn và hàng tháng giúp cha mẹ chút ít. Chưa đầy năm, cô hớn hở mời tôi dự đám cưới. Chồng cô là lái xe của chủ nhà.

5. Mấy đứa cháu con anh tôi đều du học tự túc ở Mỹ cả. Năm kia tôi nhờ chúng chuyển ít quà cho ông bà Việt Kiều già. Chúng kể họ sống đạm bạc, lẻ loi và cô độc lắm. Ông bà có tất cả bốn người con. Cô hai dính hòn tên mũi đạn. Ngày di tản cậu ba dạt theo bên ngoại, lỡ chuyến. Cuối năm ấy cậu cũng yểu mệnh, chết vì đói và khát trong những ngày lênh đênh vượt biển. Ông bà trách hai người sinh tại Mỹ mất gốc, đã Mỹ hóa hoàn toàn. Cũng vì cả gia đình sống biệt lập ở một tiểu bang không có cộng đồng Việt Nam đông đảo. Ông bà ao ước dăm năm nữa sẽ về Sài Gòn dưỡng già. Họ hỏi cháu tôi năm mươi ngàn Mỹ kim dành dụm của họ có mua nổi một căn nhà tàm tạm không, càng gần tôi càng tốt. Tự lúc nào họ đã thầm xem, thầm ước tôi là con là rể họ.

Anh tôi và chị dâu, nghe bảo hay kể công với đống vàng cạnh cầu Sài Gòn. Cháu tôi không vừa ý, chúng cảnh báo người làm ăn buôn bán nên biết điều với âm hồn trinh nữ trẻ. Theo chúng, căn nhà cũ của ông bà để lại mà anh chị đang cho thuê, mặt tiền một quận trung tâm, cũng chẳng làm họ thiệt thòi. Tôi nào hay biết nhưng đám cháu khôn đáo để, chúng ước lượng nhà của tôi bây giờ giá hàng triệu Mỹ kim. Tôi bảo chú già rồi, tiền bạc không biết tiêu, không biết tính, mai này để lại cho các cháu tất. Chúng cười tôi cả nghĩ xa xôi, bố chúng giàu lắm lắm, tôi không tưởng tượng nổi đâu. Xe cộ, nhà cửa anh tôi sắm cho chúng bên Mỹ, dù chỉ ở tạm mấy năm học, cũng làm cho triệu phú Mỹ phải tròn mắt.

6. Từ ngày qui định bắt buộc đội mũ bảo hiểm khi đi xe máy, tôi đổi chiếc Honda 81 giọt lệ kim vàng lấy một chiếc xe đạp điện Đài Loan. Thế mà hay, quãng đường tôi đến thư viện làm việc thường nhật thành ra có sức sống hơn. Lúc nào thích thì tôi tắt động cơ, nhấn bàn đạp cho săn gân cốt.

Tôi bỗng thấy yêu đời. Những đêm trăng thanh tôi không còn trốn trong phòng và nổi gai ốc vì nghe tiếng xích đu kẽo kẹt nữa. Tôi ra hẳn đấy, vừa đọc sách vừa thưởng trà bắc ủ hoa nhài tươi hái ngay trong bể đất. Có khi tôi thắp một nén hương trầm dìu dịu. Các vòng khói tròn quấn quít bức ảnh khắc đá dán đè lên tường đá rửa. Cô bé có cái nhìn thật lương thiện. Cô bằng tuổi tôi nhưng vẻ thanh xuân mãi mãi dừng lại ở khoảng khắc oan nghiệt năm nào.

Thảo Điền,

khai bút đầu xuân Mậu Tý

———————————–

Bạn có biết trong truyện này tôi thích nhất câu nào không? Nó nằm ở đoạn số 4: “Cô gục xuống bên chiếc xích đu sơn màu xanh hòa bình“. Cấu tứ truyện – một cách vô thức – hình như tôi đã dựa trên bản dạ khúc số 20, tập Vĩnh biệt của thiên tài Chopin – Nhà thơ của âm nhạc.

Truyện ngắn Ở BÊN NGOÀI TỔ QUỐC

12 Comments

(Ảnh Kota Kinabalu – TP tôi đề cặp đến trong truyện này)

Mời các bạn đọc truyện ngắn này, để tạm giải độc vấn đề chính trị tại entry trước.


Ghi chú ngày 28.4.2008: Truyện này tôi viết và post giải độc trong thời gian bị anh em CLB Nhà báo tự do và diễn đàn x-cafe ném đá. Truyện vừa được in trên báo Văn Nghệ – HNV số 17-18 (30.4.2008)


Ở bên ngoài tổ quốc

Trương Thái Du

Lấy clinker từ một cảng nhỏ gần Osaka Nhật Bản, sau hải trình 10 ngày, tàu chúng tôi đến Kota Kinabalu Malaysia trả hàng. Chồn chân đã lâu, thủy thủ đoàn ai nấy đều háo hức lên bờ thăm thú. Tôi làm lơ trước mọi lời rủ rê. Tôi bắt đầu chẳng thích đi bờ chung với các nhóm, từ phục vụ, chấm dầu, buộc dây đến cả sĩ quan trên tàu. Họ luôn nói dối không chớp mắt. Đến Nhật họ bảo họ là người Singapore. Đến Mã Lai, Thái Lan hay Indonesia họ nhận mình tới từ xứ sở hoa anh đào.

Tôi luôn hãnh diện là một người Việt Nam lạc loài, giữa đám thuyền viên giả Nhật giả Sing làm việc trên con tàu treo cờ Panama, chủ tàu và thuyền trưởng người Nhật. Mấy lần đi bờ cùng tôi họ đã lỗ nặng vì rất nhiều người có thiện cảm hơn với tôi. Chẳng hạn cửa hàng bớt sát giá cho bạn Việt Nam và ra sức xà xẻo Nhật xộp. Thiên hạ hiểu Việt Nam còn ít, do đó các câu chuyện rôm rả và gây chú ý cao. Với các anh Sing, họ à ừ cho qua chuyện, thậm chí nghi ngờ dân Sing sao tiếng Anh quá tệ, lại chẳng biết lấy một phương ngữ phổ biến như Triều Châu, Quảng Đông hay Phúc Kiến. Tôi thuộc thế hệ trẻ mới tốt nghiệp đại học. Ngoài lợi thế tiếng Anh, tôi còn tự học thêm tiếng Nhật tiếng Trung qua vài cẩm nang du lịch, đủ để huyên thuyên chào hỏi, dò đường. Tôi lại đọc được ít Hán tự nhờ ông nội Nho học. Giữa những kẻ đồng hương đồng thuyền sử dụng ngoại ngữ mỏi tay trên đất lạ, tôi nổi lên như một hoa tiêu dẫn lối thông tuệ. Tôi có thể trao đổi mọi vấn đề với rất nhiều người, từ anh công nhân bốc vác Indonesia, đến vị mục sư mắt xanh là tiến sĩ thần học đang truyền giáo cho thổ dân Papua New Guinea.

***

Hết ca, sau khi mở van khí tắm gió cho sạch bụi clinker, đốc công dỡ hàng Sadiq í ới gọi tôi. Hôm nay anh hẹn tôi du ngoạn Kota Kinabalu, thủ phủ bang Sabah, miền đông bắc đảo Borneo. Tôi quen Sadiq từ chuyến hàng trước đó hai tháng.

Tôi đội nón bảo hiểm nghiêm chỉnh, ngồi sau xe máy Sadiq. Kinabalu đẹp hơn và lớn gấp năm lần Vũng Tàu. Thành phố sạch sẽ, an bình, con người hiền hòa thân thiện. Mật độ xây dựng tổng thể ở đây chỉ khoảng năm mươi phần trăm, còn lại là công viên, vườn cảnh. Cây xanh dịu mát hiện hữu khắp nơi.

Sadiq kể, Kota Kinabalu nghĩa là thành phố (kota) góa phụ (balu – tiếng Malay) Trung Hoa (kina – phương ngữ thổ dân Kadazandusun). Truyền thuyết nói rằng một hoàng tử Trung Hoa đã đến ngọn núi mà thành phố này tựa lưng vào, để tìm viên ngọc quý khổng lồ được chúa rồng canh giữ trên đỉnh núi. Hoàng tử cưới một cô gái bản xứ xinh đẹp làm vợ. Được ngọc rồi, hoàng tử một mình trở về quê hương, để lại trái tim thiếu phụ tan nát.

Thời Anh thuộc Kinabalu có tên Jesselton. Thế chiến thứ hai, Nhật chiếm nơi này và đặt lại tên cũ Api – Api (vốn là tên một làng chài, trước khi bị thực dân Anh xâm lược cuối thế kỷ 19). Năm 1945, khi tấn công quân Nhật, máy bay đồng minh gần như đã san bằng Api – Api. Năm 1963, Jesselton thoát khỏi đêm dài nô lệ, cùng bang Sabah nằm trong liên bang Malaysia. Năm 1968 thành phố chính thức đổi tên thành Kinabalu.

Vài tiếng rãnh rỗi, Sadiq chỉ có thể giúp tôi cưỡi ngựa xem hoa, vòng vèo mấy đại lộ chính như Lintas, Punat Tanah, Tuaran… Điểm cuối của hành trình là vùng phố Tàu Luyang, quán hải sản của một người gốc Hoa, bạn thân Sadiq.

***

Bia thống trị Mã Lai là Carlsberg Đan Mạch. Hương vị hải sản bờ đông biển Đông chẳng khác mấy bờ tây như Nha Trang, Mũi Né. Ngày thường quán vắng, ông chủ Yang vui vẻ nhập hội cùng Sadiq và tôi. Yang gốc người Hẹ (Hakkas), đã ba đời sinh sống tại Kinabalu.

Yang trầm tư, trong khi Sadiq rất thông cảm với tình trạng cô đơn của tôi giữa những người đồng bào lúc nào cũng chối bỏ đất mẹ. Yang hỏi Sadiq tổ quốc của anh là bang Sabah hay liên bang Mã Lai. Sadiq trả lời cả hai. Yang cho rằng anh dân tộc Hoa nhưng tổ quốc của anh là Mã Lai chứ không phải Trung Quốc. Chú Yang đã trở về Phúc Kiến, sau sự kiện xung đột chủng tộc Hoa – Mã Lai tại Kuala Lumpur năm 1969 làm hàng trăm người bị giết. Ông sợ vết dầu bạo lực cực đoan loang đến Sabah. Kết quả là ông đã bị Hồng Vệ Binh buộc tội làm gián điệp tư bản và chết đói trong mấy năm cuối cuộc cách mạng văn hóa. May mắn, ở Kinabalu các dân
tộc Mã Lai, Hoa, Kadazans, Bajaus luôn sống bình yên bên nhau. Đạo Hồi, đạo Hindu, đạo Phật, đạo Công Giáo, đạo tin lành… luôn tôn trọng nhau.

Xét cho cùng tổ quốc là một khái niệm mang màu sắc chính trị, Yang triết lý. Nhân dân ở đâu cũng là kẻ bị trị. Văn hóa và kinh tế là của nhân dân, chính quyền thì thuộc về tầng lớp ăn trên ngồi trước. Người Hoa ở Mã Lai đóng thuế cho nhà nước Mã Lai. Người Hoa ở Trung Quốc đóng thuế cho nhà nước Trung Quốc.

Sadiq công nhận tư duy của Yang thiết thực, nó thoát khỏi sáo rỗng, và ở chừng mực nào đó, tố cáo sự lắt léo đáng sợ của diễn ngôn sa lông. Sadiq dẫn chứng đạo luật yêu nước ra đời để chống khủng bố tại Mỹ, đã và đang bị các tổ chức nhân quyền lên án là phi dân chủ, xâm phạm nhiều quyền lợi hiến định của công dân. Đạo luật ấy, Sadiq suy luận thành: “Nhân dân Mỹ nếu không theo Bush là không yêu nước”.

Câu chuyện đến đây thì tôi đã ngà ngà say. Tôi ghi nhận các vấn đề cần thêm nhiều trao đổi để sáng tỏ. Tôi bảo nước Malaysia có một anh đốc công và một trú khách chủ quán ăn đứng trên bậc thang dân trí khá cao. Dân tộc tôi, đất nước tôi, tổ quốc tôi ở trong hoàn cảnh địa – chính trị hoàn toàn khác với Mã Lai. Nếu chúng tôi không yêu tổ quốc thì vĩnh viễn chỉ có quận Giao Chỉ, chứ làm sao có nước Việt Nam. Tôi hãnh diện vì điều đó. Tôi coi thường các đồng nghiệp dốt nát của tôi đã sĩ diện hão, chối bỏ hai tiếng Việt Nam thân thương.

***

Biển đêm. Gió lặng. Con tàu ì ạch trượt trên tấm màn đen phẳng lì, trơn láng, căng cứng. Tháp cần cẩu đằng mũi hướng về chòm sao bắc đẩu. Thuyền trưởng người Nhật bước vào buồng lái lặng lẽ như một con mèo. Ông không có vẻ đi kiểm tra ca trực. Đợi ông tì trán vào khung kiếng nhìn ra ngoài trời một hồi lâu tôi mới lên tiếng:

“Ông nhớ nhà à?”.

“Ừ” – Tiếng trả lời ngường ngượng, nửa muốn giấu kín, nửa muốn chia sẻ tâm trạng.

“Giờ phút này tổ quốc của ông là gia đình, con cái, người thân”.

“Cuối tháng lãnh lương và tiền làm ngoài giờ, tổ quốc của tất cả chúng ta sẽ là Mỹ kim”.

Khơi gợi đôi câu, thế là thuyền trưởng vui lên. Giọng ông hoạt bát, nội dung dí dỏm. Các bạn biết không, đàn ông đi biển chúng tôi nói chuyện rất hay. Những người như thuyền trưởng, ba phần tư cuộc đời đã lênh đênh giữa sóng nước. Họ thu nhặt được cả một kho tàng văn chương truyền miệng để giải trí, xả stress.

Thấy không khí cởi mở, tôi xin ông nhận xét về thuyền bộ Việt Nam đánh thuê lần này. Ông khen nhiều hơn chê. Đại khái là cần cù, siêng năng, mau nắm bắt công việc nhưng kỷ luật còn kém và thiếu đoàn kết. Tôi kể ông nghe cái vụ giả Nhật, giả Sing. Ông cười vang. Ông bảo họ thiếu tự tin, mà càng thiếu tự tin thì càng thoái nhược. Tự tin như tôi ông cũng chẳng thích. Ông bảo con người tương lai là vô tổ quốc, rồi thế giới sẽ không còn biên giới địa lý, những khối văn hóa phải tương tác hòa bình nhiều chiều.

“Cậu tưởng tất cả người Nhật đều tôn vinh các chiến sĩ cảm tử đâm máy bay vào tàu chiến Mỹ trong thế chiến thứ hai là anh hùng dân tộc ư? Lầm chết. Họ không yêu tổ quốc như cái cách của phần lớn người Nhật là yêu lao động. Họ yêu chế độ quân phiệt. Họ trung thành với biểu tượng hình thức trong lịch sử Nhật Bản là hoàng gia. Họ bị các nhà chính trị nhào nặn, nhồi sọ, áp đặt những khái niệm lệch pha thảm hại thành chân lý. Làm gì có khái niệm tổ quốc chính xác và bất biến trong một cộng đồng”.

“Nước Nhật may mắn vì suốt lịch sử của mình rất ít bị xâm lược. Xáo trộn xã hội là quá trình các tập đoàn thống trị đổi chỗ cho nhau. Hiếm tài nguyên nên lao động đã tạo nên bộ mặt phồn vinh. Thuyền trưởng có từng nghe câu thành ngữ ‘đất lành chim đậu’ không?”.

“Chính đất lành sẽ thoái hóa con người, khiến họ trở nên nhu nhược, yếu hèn và phụ thuộc hẳn vào thiên nhiên. Những mảnh đất cằn cỗi, nơi dân chúng phải vượt qua nhiều trở ngại để sinh tồn, mới nhanh chóng tiến đến mô hình xã hội dân chủ vì dân, công bằng, văn minh, giàu mạnh. Ví dụ cụ thể: Nhật và các nước Bắc Âu. Hãy xem hàng năm chúng tôi đối mặt bao nhiêu thử thách, từ bão tố, động đất, đến cái lạnh khắc nghiệt của mùa đông. Kết quả là chúng tôi ngày càng mạnh mẽ hơn. Đó là điều một mảnh đất lành không thể đem lại cho con người”.

***

Bốn giờ kém mười lăm. Thủy thủ cùng trực với tôi đã xuống gõ cửa phòng thuyền phó nhất và một cậu thủy thủ khác để chuẩn bị giao ca. Tàu đang lướt qua eo Luzon nối liền biển Đông nhơ nhỡ và Thái Bình Dương bao la bất tận. Chúng tôi chở gỗ quý khai thác t�
�� những cánh rừng nguyên sinh tại thế giới thứ ba đến cảng Himeji, cách Kobe không xa.

Mấy ngày vừa rồi bản tin hàng hải dự đoán sắp có bão từ. Những vết đen của vầng thái dương sẽ dịch chuyển, co lại hay phình ra. Nó ảnh hưởng rất nhiều đến từ trường trái đất. La bàn con quay vẫn ổn định nhưng la bàn thường để tham chiếu thì không tin được nữa. Trách nhiệm của tôi là phải bàn giao vị trí chính xác của con tàu trên biển cho ca sau. Sai một ly, đi một dặm. Không cẩn thận tàu chệch hướng, cái tổ quốc có thời hạn tôi đang làm lính đánh thuê này sẽ đối diện nguy cơ đâm phải đá ngầm, buông neo dưới thủy cung.

Tôi chưa buồn ngủ. Có lẽ tôi sẽ ra cánh gà bên phải buồng lái ngồi chơi, chờ ngắm mặt trời lên. Bình minh trên biển dịu dàng lắm. Không cần kính bảo vệ mắt, tôi vẫn quan sát được những vết đen hoạt động theo chu kỳ hàng trăm năm. Chẳng rõ điểm mù thị trường có ảnh hưởng đến hình ảnh trung thực của sự kiện thiên nhiên kỳ thú này không.

Tôi từng quả quyết nhóm người giả Nhật, giả Sing xung quanh mình có những vết đen, những điểm mù trong nhận thức. Không hiểu sao lúc này tôi lại phân vân. Có không những điểm mù, những vết đen, những khuôn sáo, những ngộ nhận và cạm bẫy của diễn ngôn tồn tại trong tôi?

Thảo Điền

Đầu xuân Mậu Tý 2008.

Lê Lợi có phải là người Mường

8 Comments

Bài dưới đây của tác giả Phạm Tấn vừa đăng trên Tiền Phong. Khởi đầu bởi Hồ Quý Ly, vương quốc phong kiến tập quyền Đại Việt đã được xây dựng hoàn chỉnh vào đời cháu nội Lê Lợi. Các nhà Nho thời ấy bèn sáng tác bộ khung văn hiến 4000 năm mà người Việt hôm nay vẫn “dùng tốt”.

Sự kiện “xét lại” thân thế Lê Lợi dưới đây, mới nhìn thì tưởng đơn giản. Song tôi tin nó thuộc về một dòng chảy lớn, xác lập những giá trị chính thống mới cho con người Việt Nam ở thế kỷ 21.

Lê Lợi có phải là người Mường?

TP – Đồng bào vùng Lam Sơn ngày nay vẫn thường gọi Lê Lợi là đạo Cham và Nguyễn Thận ở Mục Sơn là đạo Mục. Căn cứ vào những tài liệu đã có và thành phần cư dân ở vùng Lam Sơn hiện nay phần lớn là người Mường, có người cho rằng Lê Lợi là một tù trưởng người Mường

Tượng Lê Lợi ở khu di tích bên Hồ Gươm, Hà Nội

Vừa qua, để kỷ niệm 580 năm giải phóng Đông Quan và thành lập vương triều Lê, một cuộc hội thảo khoa học quan trọng đã được tổ chức tại Hà Nội với nhiều bản báo cáo chứa đựng những thông tin rất thú vị.

Chúng tôi trích đăng bài của nhà nghiên cứu Phạm Tấn (Ban Quản lý Di tích danh thắng Thanh Hóa)

Cho đến nay, về vấn đề nguồn gốc Lê Lợi cũng đang còn có những ý kiến khác nhau trong giới Sử học. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là do sự ghi chép của sử sách và gia phả cũ cùng truyền thuyết địa phương lại có những từ ngữ khác nhau, cho nên có người thì suy luận thế này, có người lại suy luận thế khác.

Ngay từ năm 1977, trong lần tái bản thứ ba, sách “Khởi nghĩa Lam Sơn” của giáo sư Phan Huy Lê – Phan Đại Doãn đã có sự tổng hợp các loại ý kiến về nguồn gốc dân tộc của Lê Lợi (ở phần chú thích như: “Lam Sơn thực lục và Hoàng Lê ngọc phả chép rằng Lê Lợi làm phụ đạo Khả Lam (tức Lam Sơn).

Đồng bào vùng Lam Sơn ngày nay vẫn thường gọi Lê Lợi là đạo Cham và Nguyễn Thận ở Mục Sơn là đạo Mục. Căn cứ vào những tài liệu đó và căn cứ vào thành phần cư dân ở vùng Lam Sơn hiện nay phần lớn là người Mường, có người cho rằng Lê Lợi là một tù trưởng người Mường. Đó là một vấn đề cần nghiên cứu và xác minh thêm vì những căn cứ trên đây chưa đầy đủ và vững chắc.

Việc Lê Lợi làm phụ đảo Khả Lam được ghi chép trong “Lam Sơn thực lục” do Hồ Sĩ Dương biên soạn lại đời Vĩnh Trị (1676 – 1679), “Hoàng Lê ngọc phả” biên soạn đời Cảnh Hưng (1740 – 1786) và một số tài liệu khác như “Lam Sơn thực lục tục biên”, “Lê gia phả ký”…

Trong lúc đó, bia Vĩnh Lăng, chính sử như “Toàn thư” “Cương mục”, không chép việc Lê Lợi làm phụ đạo Khả Lam. Những tài liệu này chép rằng Lê Hối (ông tổ ba đời của Lê Lợi – Phạm Tấn) “đời đời làm quân trưởng một phương”. Theo “Lam Sơn thực lục” thì Lê Hối làm “sư công” (Mạc Bảo Thần dịch là “nghề ông thầy”.

“Hoàng Lê ngọc phả” cũng chép Lê Hối làm nghề “sư công” và nói rõ lai lịch của ông “hồ khẩu tứ phương, thiện ư giáo hối đa thành đạt giả, chúng nhân chi danh Viết Hối” (nghĩa là: kiếm ăn bốn phương, giỏi việc dạy bảo, nhiều người thành đạt, nhân đó người ta gọi là Hối). Như vậy, phải chăng Lê Hối vốn là người nơi khác, đi dạy học các nơi, rồi di cư đến Như Áng và sau dời đến chân núi Lam Sơn?” (S.đ.d, NXB KHXH – 1977, tr.121 – 122).

Đến năm 1998, ở sách “Việt – Nam cái nhìn địa văn hóa” (NXB VHDT và tạp chí VHNT – Hà Nội – 1998), tác giả – cố giáo sư Trần Quốc Vượng, trong bài “Xứ Thanh, vài nét về lịch sử – văn hóa” đã có viết một cách khẳng định về nguồn gốc Lê Lợi: “Ở đầu thế kỷ XV, khi toàn bộ miền Bắc Đại Việt đã bị giặc Minh chiếm đóng (1407 – 1427) thì một người con của dân tộc Mường xứ Thanh (nếu ông bố không phải là người Mường thì bà mẹ là người Mường gốc, theo văn bia của trạng nguyên Lương Thế Vinh thế kỷ XV, do ông Lê Xuân Kỳ – Phó Chủ tịch huyện Thọ Xuân công bố trên báo Nhân dân Chủ nhật, tháng 6/1993, thì Lê Lợi nếu không phải 100% người Mường thì cũng 60% người Mường vì mẹ ông là người Mường gốc Thủy Chú – Chủ Sơn, huyện Thọ Xuân (Thanh Hóa) và ông có rất nhiều “đồng chí” ban đầu của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn là người Mường như Lê Lai… Phạm Cuống…”. (S.đ.d, tr.279).

Như vậy, về nguồn gốc dân tộc của Lê Lợi cho đến nay vẫn còn tồn tại ba ý kiến khác nhau, đó là: Lê Lợi là người dân tộc Mường (đã từng làm tù trưởng Mường); Lê Lợi là người nửa Việt, nửa Mường (cha Việt, mẹ Mường, đẻ ra ở vùng Mường gốc); Lê Lợi là người Việt, có nguồn gốc từ nơi khác đến.

Trong ba loại ý kiến này, chúng tôi nghiêng về quan điểm nhận định, suy diễn của hai giáo sư Phan Huy Lê, Phan Đại Doãn cho rằng ông tổ ba đời của Lê Lợi là “Lê Hối vốn là người nơi khác, đi dạy học các nơi, rồi di cư đến Như Áng và sau dời đến chân núi Lam Sơn”.

Và rất tình cờ, may mắn, trước đây, trong dịp mở lớp sưu tầm lịch sử ở huyện Triệu Sơn (Thanh Hóa), tôi và nhà nghiên cứu Hán Nôm là ông Trịnh Ngữ (lúc đó là Trưởng phòng Bảo tàng – Lịch sử, Sở Văn hóa Thông tin Thanh Hóa) được ông Nguyễn Đăng Quýnh (nguyên là Giám đốc Mỹ thuật Thanh Hóa, là con cháu dòng họ Lê ở xã Thọ Ngọc, huyện Triệu Sơn, đổi ra họ Nguyễn Đăng vì lý do chạy Mạc, ở thế kỷ XVI) cho xem cuốn gia phả họ Lê (tức Nguyễn Đăng) bằng chữ Hán.

Qua phần dịch của ông Trịnh Ngữ, được biết rõ lai lịch nguồn gốc của Lê Lợi một cách cụ thể hơn so với những sử sách, gia phả khác mà chúng ta đã biết. Trong khi các sách “Toàn thư”, “Lam Sơn thực lục” (kể cả bản nhà Lê Sát, do Ty Văn hóa Thanh Hóa xuất bản năm 1976) và gia phả họ Lê (Kiều Đại, thành phố Thanh Hóa), v.v… chỉ nêu thế chứ tổ tiên của Lê Lợi từ Lê Hối – Lê Đinh – Lê Khoáng rồi đến Lê Lợi, thì ở bản gia phả họ Lê (Thọ Ngọc) lại nêu được thêm một vị cao tổ của Lê Lợi, đó là ông Lê Mỗi.

Gia phả nêu rõ: Lê Mỗi là người trang Bái Đô (nay thuộc xã Xuân Bái, huyện Thọ Xuân) sinh được 5 người con. Ông Lê Hối là con trai thứ hai của ông Lê Mỗi. Vốn dĩ ông (tức Lê Hố
i) cũng là người có học thức sâu rộng và rất am hiểu về thuyết phong thủy. Ông thường đi xem đất ở các vùng ở hai ven bờ sông Lương (tức sông Chu).

Một hôm đến vùng Vành Giá (tức vùng đất làng Như Áng) thấy đây là vùng đất tốt bèn cho dời nhà (từ trang Bái Đô) để đến ở rồi làm nghề sử công (dạy học). Tính ông thường thích đi săn bắn thú rừng. Có lần vượt qua dãy núi Cham (tức Lam Sơn, hay còn gọi là núi Dầu – P.V.T), đến gần chỗ sông Lương, thấy đây là vùng đất tương đối bằng phẳng, rộng rãi và thoáng đãng, có địa thế núi, sông thuận lợi cho việc canh tác và cư trú nên lại quyết định dời nhà đến đây ở và trong vòng 3 năm thì thành sản nghiệp, v.v…

Qua sự ghi chép của bản gia phả họ Lê (Thọ Ngọc), chúng ta lại biết rõ hơn là tổ tiên của Lê Lợi là ông Lê Mỗi (bố của Lê Hối, tằng tổ của Lê Lợi) là người ở trang Bái Đô – một vùng đất qua tìm hiểu của chúng tôi thì chưa bao giờ có người Mường ở.

Tượng Anh hùng dân tộc Lê Lợi tại TP Thanh Hóa – Ảnh: Hà Đình Đức

Điều đó có thể cho phép chúng ta kết luận nguồn gốc của Lê Lợi chính là nguồn gốc Việt (Kinh) mà từ đời ông Cao tổ (Lê Mỗi) – tằng tổ (Lê Hối) – hiển tổ (Lê Định) – hiển khảo (Lê Khoáng) rồi đến Lê Lợi, cộng lại là 5 đời (với trên dưới một thế kỷ) đều là những đại diện người Việt (ở thế kỷ XIII – XIV) đã có công khai phá vùng đất hoang rậm ở vùng núi Cham (tức Lam) ven sông Lương để tạo ra đây thành một trang – ấp Lam Sơn với cơ nghiệp ngày một bề thế, để rồi trở thành hương Lam Sơn, sách Lam Sơn và lộ Khả Lam nổi tiếng trong lịch sử dân tộc.

Còn về tấm bia hộp phát hiện ở làng Mường Thủy Chú (hay còn gọi là làng Chủ Sơn, xã Xuân Thắng, huyện Thọ Xuân) hiện tại đã được đưa về nhà thờ họ Trịnh ở xã Đông Minh, huyện Đông Sơn, Thanh Hóa thì mặt trên có hàng chữ: “Đại Việt Thái bảo Bình lạc hầu mộ chí”. Mặt dưới nói về Thái bảo lạc hầu Trịnh Duy Hiếu người sách Thủy Chú, huyện Lôi Dương.

Cả bốn đời nhà quan Thái bảo đều phụng sự dưới triều Hậu Lê. Cụ tổ là Trịnh Như Lưỡng được tặng Phò mã đô úy. Cụ bà là Lê Thị Quốc, trưởng công chúa, em ruột của Thái tổ Cao hoàng đế (Lê Lợi).

Ông nội Trịnh Khắc Phục là Vũ công thần thượng trụ quốc Ngọc Sơn hầu đã theo Lê Thái Tổ lập được công to, v.v… rồi có bài minh: vinh vinh thổ tú, hổn hổn sơn tuyền, tứ linh xã hộp, tam thập tứ niên. Ở dưới có ghi do Lương Thế vinh soạn. Với nội dung trên, tấm bia không hề có thông tin nào để khẳng định họ ngoại của Lê Lợi là gốc Mường cả.

“Đại Việt thông sử” của Lê Quý Đôn đã ghi chép rõ ràng về mẹ của vua Thái Tổ (Lê Lợi) như sau: “Thánh Từ Ý văn hoàng thái hậu họ Trịnh, tên húy là Ngọc Thương, người xã Thủy Chú, huyện Lôi Dương, tổ tiên húy là Thậm, vốn là người sách Mộc Trưng phủ Thanh Hóa (chưa xác định được ở đâu cụ thể – Phạm Tấn).

Cụ (Thậm) đi bắn chim qua đất Thủy Chú, mến cảnh nơi này rừng cây xanh tốt, ruộng đất màu mỡ, nên dời đến ở đây. Ông nội tên là Tám, làm quan đời Trần, khi đi đánh Chiêm Thành, có công bắt được con voi trắng, được trao chức Đại toát hữu.

Con trai tên là Sai, là cha sinh ra hoàng hậu, Sai nối chức cha làm Đại toát hữu, sinh được một trai, một gái. Con trai tên là Thốn…, con gái tức là cụ bà (Ngọc Thương). Khi cụ về với cụ ông, ở làng Lam Sơn, thì các tù trưởng người Man là Cầm Lô, Cầm Lạn (người Thái – Phạm Tấn) cướp của dân địa phương.

Cụ tuyên tổ (tức Lê Khoáng- P.V.T) cùng với cụ bà (Thương) dời đến ở Thủy Chú, sinh ra Chiêu Hiếu Đại vương Học và vua Thái Tổ, lại sinh ra ba gái là quốc thái trưởng công chúa Ngọc Tá, quốc trưởng công chúa Ngọc Vinh, quốc trưởng công chúa Ngọc Tiên…”. (Lê Quý Đôn toàn tập, tập III, ĐVTS, NXB KHXH, Hà Nội, 1978, tr.117- 118).

Như trên, rõ ràng bà Trịnh Thị Ngọc Thương – mẹ của Lê Lợi cũng có nguồn gốc là người Việt từ nơi khác đến Thủy Chú và tổ tiên bà cũng là người khẩn hoang vùng Thủy Chú để lập trang Thủy Chú, rồi sau đó trở thành hương, sách, xã Thủy Chú sau đó.

Tuy Thủy Chú (bây giờ gọi là làng Chủ Sơn, xã Xuân Thắng) là làng Mường, nhưng qua tài liệu của học giả người Pháp CH.Robequain viết trong cuốn “Thanh Hóa” trước đây, đồng thời với sự tìm hiểu của chúng tôi thì làng Mường Chủ Sơn ở Xuân Thắng cũng chỉ mới cư trú ở đây từ thế kỷ XIX (và nguồn gốc đều từ Hòa Bình hoặc huyện Ngọc Lặc và Như Xuân của Thanh Hóa đến). Vì vậy tất cả bà con Mường ở đây không hề có liên quan và biết gì về họ Trịnh ở Thủy Chú thời Trần – Lê. Lý do có thể vì chạy loạn nhà Mạc (thế kỷ XVI) mà Thủy Chú có thời kỳ là làng Phiêu tán.

Họ Trịnh Thủy Chú hiện nay có nhà thờ họ ở xã Đông Minh, huyện Đông Sơn – một di tích đã được xếp hạng. Nơi đây chính là vùng đất phong của Trịnh Khắc Phục và các con cháu. Với sự thật lịch sử như đã nêu, việc nói mẹ Lê Lợi là người Mường gốc là hoàn toàn không có căn cứ để xác định.

Chúng tôi cũng rất tán đồng với quan điểm của giáo sư Phan Huy Lê và giáo sư Phan Đại Doãn cho rằng một số người nói Lê Lợi là tù trưởng của người Mường là thiếu thuyết phục vì những căn cứ mà họ suy diễn là “chưa đầy đủ và vững chắc để xác định thành phần dân tộc của Lê Lợi”. Việc Lê Lợi làm phụ đạo Khả Lam (Lam Sơn) như Lam Sơn thực lục và Hoàng Lê ngọc phả chép cũng đang có nhiều cách kiến giải khác nhau.

Giáo sư Hoàng Xuân Hãn khi khảo cứu bài “văn kết thệ của nhóm Khả Lam” (tức văn thề Lũng Nhai – P.V.T) trong tập sách chữ Hán ở đền vua Lê thôn Kiều Đại (nay gọi là Thái miếu Bố Vệ ở thành phố Thanh Hóa) cũng rất chú ý đến cách xưng hô trong văn thệ: “… phụ đạo lộ Khả Lam, tôi (là) Lê Lợi (cùng) Lê Lai…., Trương Chiến…” và giải thích: “phụ đạo: chức coi một lĩnh vực ở vùng núi truyền đời, tuy phụ thuộc chính phủ trung ương nhưng kỳ thật gần độc lập” (La Sơn Yên Hồ, Hoàng Xuân Hãn, tập II, NXB Giáo dục, 1998, tr.618).

Với cách giải thích này, chúng tôi thấy có lý và phù hợp với sự ghi chép của Đại Việt sử ký toàn thư, bia Vĩnh Lẵng, Cương Mục, v.v… rằng Lê Hối “đời đời làm quân trưởng một ph
ương” (rồi có bản dịch lại ghi “đời đời cầm đầu một phương”, hoặc “từ đấy là chủ một miền, v.v…).

Như vậy, từ đó chúng ta có thể suy ra cái chức “phụ đạo lộ Khả Lam” mà từ Lê Hối đến Lê Lợi (gồm bốn đời) đã thay nhau làm nhờ thế lực tự xây dựng mà có chứ không phải do nhà nước (hay triều đình phong). Chức đó có ý nghĩa như một thủ lĩnh vùng (rộng, hẹp khác nhau) mà tất cả mọi người dân trong vùng đều thừa nhận và suy tôn một cách tự nhiên.

Ở thế kỷ X, người có thế lực nhất ở trong vùng cư trú vẫn được gọi là bậc hào trưởng (như Lê Lương ở giáo Bối Lý, Dương Đình Nghệ ở Dương Xá, tục gọi là Dàng v.v…). Và cách gọi này thường được dùng cho các thủ lĩnh vùng ở miền đồng bằng.

Còn ở miền núi, các thủ lĩnh vùng (có thể là vùng người Việt khẩn hoang thành trang, ấp rồi thành hương, sách lộ, có thể là vùng dân tộc Mường, hoặc Thái, hay lẫn lộn cả Mường – Việt, v.v…) lại gọi là “đạo như đạo Cham (Lê Lợi), đạo Mục (Lê Văn An), đạo Tép (Lê Lai), v.v…

Một minh chứng cụ thể nữa là vào thế kỷ XIV, dòng họ Nguyễn (của Lê Văn An – khai quốc công thần triều Lê) vốn dòng hào kiệt, thường hay di dời nơi ở. Ban đầu ở Gia Định, sau đến Nghệ An, Sơn Nam rồi đến sách Mục Sơn để bắt đầu khởi dựng cơ nghiệp từ đấy. Và tại đây, người Việt gốc Nguyễn (Lê Văn An) cũng trở thành một thủ lĩnh vùng mà dân gian gọi là đạo Mục.

Như vậy, một lần nữa chúng ta có thể khẳng định cái chức “phụ đạo” (hay gọi tắt như dân gian là đạo A, đạo B nào đó) thực chất là chức danh của các thủ lĩnh vùng ở khu vực rừng núi và bán sơn địa – nơi đó cả người Việt đến khai thác, lập nghiệp ở thành vùng riêng hoặc sống xen kẽ với người dân tộc.

Cho nên, với những chứng cứ đã nêu (mà quý nhất là thông tin từ bản gia phả họ Lê ở Thọ Ngọc) chúng ta càng yên tâm để kết luận nguồn gốc dân tộc của Lê Lợi là nguồn gốc Việt (Kinh) từ trang Bái Đô đến.

Phạm Tấn

Truyện ngắn khai bút Mậu tý

7 Comments

Nơi thời gian dừng lại

Bạn đọc nên biết đây là một câu chuyện có thật. Tôi chia truyện thành sáu tiểu đoạn, đánh số từ một trở đi. Khi tráo đổi thứ tự các tiểu đoạn, tôi thấy mạch truyện không bị đứt, mà còn tạo sự ưu tiên – tuồng như nhấn mạnh vào tiểu tiết nào đó. Văn bản, dù dưới dạng điện tử hoặc in trên sách hay báo sẽ giới hạn ý đồ tác giả nên tôi tạm lựa chọn một thứ tự mình thích như người đọc thấy dưới đây. Thật mãn ý nếu truyện này được in riêng lẻ thành sáu thiếp như sáu lá bài. Mỗi lần xáo bài người đọc sẽ có một câu chuyện ngẫu nhiên. Tôi lạm gọi kiểu viết này là thử nghiệm nghệ thuật sắp đặt. Hơn thế nữa, tôi luôn cố gắng để các chi tiết ở trạng thái thô mộc nhất, ít chữ nhất. Tôi mong mọi người sẽ hình dung đấy là những mảnh giấy màu được xé ra có chủ ý nhưng không quá cầu kỳ. Chúng sẽ được đan xen vào nhau, sắp đặt cạnh nhau, tượng hình nên truyện ngắn. Dù sao đi nữa, ở trường hợp này, sự câu thúc của trật tự thời gian là vô nghĩa trong mạch văn. Tôi rất mong “Nơi thời gian dừng lại” gợi nên một nét âm bản của cuộc sống ồn ào hiện đại.

Đã viết gần xong truyện ngắn khai bút Mậu Tý. Số chữ hiện tại là 1700. Định nhuận sắc cho đến 2500 – 3000 chữ. Bạn bè nào có hứng muốn đọc, xin cho email, tôi sẽ gửi riêng để đọc cho vui. Tôi không post lên vì định gửi báo trước.

Truyện ngắn CÀNH HOA ĐÀO LỬA

3 Comments

Mười bảy năm nay, tôi mãi nợ những cành đào tiễn xuân chỏng chơ giữa bãi rác bên hông chợ Đổng Quốc Bình, Hải Phòng. Có một lần tôi đã đốt cành đào trơ trụi sau những ngày tết, thay vì ném nó ra đường. Trong lòng những chiếc nụ chai chết có độ ẩm cao hơn bề ngoài nên nó đã nổ lép bép theo nguyên tắc vật lý phổ thông.

Vâng, bạn, tôi và rất nhiều người ít nhất đã từng một lần than vãn về sự cô đơn, cô độc trước dòng chảy cuộc sống hiện đại. Chúng ta có thể nghĩ ra thật nhiều lý do, nhưng tôi tin các bạn sẽ chia sẻ với tôi lý do đề cặp trong truyện ngắn này: Cho là nhận !!!

Năm mới, chúc các bạn thật vui tươi, hạnh phúc và đừng quên ngắm những cành đào, cành mai đang tận hiến hương sắc cho mùa xuân, cho con người…

(Truyện ngắn đăng trong số Tết Mậu Tý – Báo Văn Nghệ TP HCM)

Cành hoa đào lửa

Trương Thái Du

Đường phố vắng te. Thay vì chọn một giấc ngủ trưa dài trước đêm trừ tịch, y lại gò lưng trên con ngựa sắt, xiết hai bánh cao su xuống mặt lộ, hướng về cao nguyên. Nắng nhàn nhạt. Gió quẩn. Quần áo phần phật, thi thoảng lại hút dài một tiếng hú quai quái. Ánh mắt tít tắp, thăm thẳm tự do, ngun ngút cô độc. Trước mặt y là hai trăm chín mươi chín cây số và căn nhà gỗ trơ trọi giữa một đồi thông ngoại vi vắng vẻ của Đà Lạt. Sau lưng y là en nờ lần ba trăm sáu mươi lăm ngày phố thị ồn ào chật chội.

Giáp tết, khu phố y ở vắng dần sinh viên trọ học và những nhóm lao động nhập cư lam lũ. Trống trải. Y nảy ra ý định sẽ đón giao thừa một mình trên cao nguyên Lâm Viên. Bà xã y dư biết tính bốc đồng, xốc nổi, nói là làm của gã chồng gia trưởng nên chỉ phản đối lấy lệ. Hơn nữa y đã hứa đi hứa lại là sẽ có mặt ở nhà chiều mùng một. Con y thì ủng hộ hết mình. Cô nàng bi bô nói cười không dứt vì được y ứng trước mấy chuyến hội hoa xuân, chợ tết, rồi còn được bám càng y đi quà cáp hết lượt nội ngoại, thân thích.

Căn nhà gỗ đang đợi y được gọi là “quà tặng chứng khoán”. Không hiểu từ lúc nào, y nghĩ chứng khoán đồng nghĩa với cờ bạc. Nhỏ lớn, y chưa ăn được nửa xu trên chiếu bài nên chẳng mặn mà với cổ phiếu. Run rủi, cậu bạn thân nhất của y rất máu me đỏ đen. Lần đấu giá nọ, hắn đặt hú họa sát giá sàn lô chứng khoán vượt quá khả năng tài chính của mình. Không đủ tiền thì mất cọc, y chạy đôn chạy đáo và nhận ra số dư quyển sổ tiết kiệm phòng thân của vợ y rất khớp với số thiếu lô chứng khoán kia. Hắn dỗ ngon dỗ ngọt, tình nguyện buôn giấy tờ có giá không công cho vợ chồng y.

Không đầy hai tháng sau, tài khoản gia đình y bỗng dôi ra hàng trăm triệu đồng như phép lạ. Y khôi phục quyển sổ tiết kiệm, còn bao nhiêu đem lên Đà Lạt mua nhà. Không đủ tiền tỉ cho một chỗ tươm tất, y chẳng kén qui hoạch, lấy ngay một mái ngói rêu phong nằm giữa rừng thông cảnh quan. Tên cò bất động sản mừng hết lớn, hắn sung sướng như gặp đại gia rửa tiền vì y quyết cái rụp, không thèm trả giá.

Về lâu dài căn nhà gỗ sẽ bị giải tỏa dù có giấy chủ quyền. Y chỉ được sửa chữa sơ sài. Tìm một chỗ về với thiên nhiên, nước mưa chứa trong bể xi măng, ánh sáng đèn dầu hoặc nến, bếp củi… đã là tương đối tiện nghi. Y gửi anh bạn làm báo ở đỉnh đồi bên cạnh một chiếc ống nhòm hàng hải chuyên dụng. Vài hôm anh ngó giùm nhà y một lần. Anh bảo an ninh Đà Lạt khá tốt, địa hình đồi dốc, thời tiết lạnh lẽo nên trộm cướp ít.

***

Trời chưa tắt nắng y đã đến Đà Lạt. Giũ sạch bụi đường và gửi xe tại tòa báo quen, y xốc ba lô băng đồi. Hương rừng thưa á nhiệt đới quyến rũ. Lá mục thì thầm. Lách tách những mảnh vỏ thông nứt áo chuyển ngày. Cỏ cây xanh rượi, tròn căng ngực sữa vì vừa đi qua một mùa mưa dài hơn thường lệ. Xuống dốc nghiêng đất, lên dốc ngả trời, bước chân nôn nao. Lòng y thanh vắng và nhẹ nhàng như đang tọa thiền.

Chợt nhiên luồn qua vòm lá kim tiếng rao thiếu nữ ngân dài “Ai đ..à.
.o.. k..h..ô..n..g…”. Y chột dạ hướng về đáy hụt. Mảnh sáng hình chữ V chênh chếch trời tây như treo một bức tranh tố nữ. Đòn gánh là cây trúc nhỏ, dài và dẻo, bóng ngà màu thời gian, hai gốc đào khô quắt đánh đu hai đầu.

Cô gái tâm thần. Quần áo bẩn thỉu. Mắt vô hồn. Tóc rối. Má hồng. Cô nhốt y trong một vòng tròn tạo nên bởi những bước chân trần rất thanh thoát. “Ai đ..à..o.. k..h..ô..n..g…”, lời rao trong trẻo như đang được hát lên, nối nhau thành luân điệu.

“Bán tôi một nhánh nhé”.

“Không bán đâu. Chỉ đổi thôi”.

“Cô thích gì?”.

“Đừng nhìn tôi như thế. Cười lên thật tươi là đủ”.

“Chưa chắc cô ta điên” y thầm nghĩ rồi bật cười thành tiếng sảng khoái, đúng theo yêu cầu của cô gái.

Nhè nhẹ đặt gánh đào xuống, trật một gốc đưa lên cao, cô gái xuýt xoa “Hoa đẹp lắm anh à”. Y giả vờ hưởng ứng, tay chỉ vào những nách lá chai cứng như sẹo: “Nụ nhiều ghê. Em đưa anh xong về kẻo muộn. Sắp tối rồi”. “Sao lại nhăn nhó ngay thế. Ghét ghê. Đến giao thừa anh phải cười thêm cho em ba lần nữa nhé. Nhớ đấy. Đừng lừa em”. Vùng vằng giận giỗi, cô gái đẩy cành đào về phía y. Còn lại một cành vắt vẻo sau lưng, cô gái quay gót. “Ai đ..à..o.. k..h..ô..n..g…” tiếng rao đi theo bóng mặt trời đang khuất dần bên triền núi đằng xa.

Giấc ngủ cuối cùng trong năm, y định kéo dài hai giờ. Tuy vậy khi dọn dẹp nhà cửa xong y mới nhớ tất cả những gì thuộc về thế giới văn minh như đồng hồ, điện thoại di động y đều không đem theo. Y hy vọng sẽ áng lượng được thời điểm trước nửa đêm. Mà nếu có ngủ quên, y nghĩ, bất cứ lúc nào đều có thể là giao thừa của y, một cách ước lệ. Thật dễ chịu, bằng cách này y thoát xa đám đông và các thói tục cứng nhắc.

Y tỉnh giấc sớm hơn dự tính. Chưa chắc là y không nghe tiếng thì thầm của đống lửa dưới chân đồi. Những đốm sáng hắt qua cửa sổ, nhảy nhót trên trần nhà đẹp đến lạ. Cây nến nhỏ trên mặt bàn đã tắt tự bao giờ. Gốc đào khô mua chịu vẫn chễm chệ ngồi trên một trong hai chiếc ghế sa lông cũ kỹ.

Người nhóm lửa là một ông già rất khó đoán tuổi. Y cất tiếng chào. Không thèm nhìn, ông chìa tay mời y ngồi sưởi. Y đang lạnh run vì quên mang theo áo khoác. Quen với ánh sáng, y mới nhận ra ông già cũng có gốc đào khô giống y.

“Con gái ta bán ế, nó tặng ta để lên giường sớm”.

“Ông đang đợi giao thừa”.

“Ta chờ cậu”.

Y định hỏi cô gái có dặn ông đòi y ba nụ cười không, nhưng lại thôi. Thì ra ông già đã trông nhà cho y hơn nửa năm nay. Thậm chí ông đã thay y ký vào biên bản cam kết chỉnh trang ngôi nhà cũ trong dự án của nhà đầu tư nọ. Họ định biến nơi này thành khu nghỉ dưỡng thiên nhiên hoang sơ cao cấp, nghĩa là chặt thông càng ít càng tốt, không xắn đồi bạt núi làm đường, không xây dựng hàng rào ngăn cách…

Con gái ông bị bệnh đã nhiều năm. Sống trong nội thị cô lên cơn liên tục. Nhà cửa, vườn tược đổi lấy thuốc men hết, ông đành ra đây dựng một mái lá, trỉa cà phê đắp đổi qua ngày. Cũng may tình hình dần dần khá hơn, cô hết phá phách, nếu không thơ thẩn dạo chơi thì ngủ vùi.

“Người ta chỉ có thể tách ra khỏi đám đông chứ không thể sống thiếu đồng loại” – Ông già triết lý – “Con người ngày càng cô đơn hơn, ít giao tiếp hơn. Tìm kiếm quạnh hiu khác nào hèn nhát trốn chạy, nói cách khác là đi giật lùi”.

Y chột dạ. Hình như ông già hiểu hết lòng y, không cần sự tỏ bày dài dòng. Ông vẽ vạch cho y rõ cô đơn là tâm trạng cá nhân, là hoài vọng chẳng thành về những điều tích cực. Chưa bao giờ y hoài vọng những điều tích cực ở chính mình? Đùn đẩy trách nhiệm ra ngoài cái tôi là biến trá phổ thông tự lúc nào?

Y hoang mang, lặng câm ngắm lửa. Loài người bước khỏi bóng đêm thú tính nhờ lửa. Xum họp quanh đống lửa thời ăn lông ở lỗ, quanh ánh lửa bếp h�
��ng, quanh bát hương thờ cúng tổ tiên, quanh bầu trời pháo hoa đêm ba mươi, quanh những ly nước ủ lửa được gọi là rượu, con người sát vai nhau đi tới.

Gió nổi. Rừng thông hát vi vu. Thiên nhiên chuyển động, nhắc nhở phút đoàn viên tiễn năm cũ. Y đã chậm chưa? Cầu trời giờ này vợ con y vẫn ngủ, giấc ngủ thường nhật không mộng mị. Chẳng kịp chào người bạn già, y lao về căn nhà gỗ gói ghém thật nhanh mớ hành lý giản tiện. Bỏ mặc cửa không khóa, y chạy băng băng về hướng tòa báo. Y không còn khái niệm về hiện hữu xung quanh. Có thể chưa đến giao thừa, cũng có thể đã qua giao thừa mấy tiếng. Y leo hàng rào, tìm hốc đá bí mật người bảo vệ giấu chùm chìa khóa dự phòng. Mở kho lấy xe, y xuống đèo. Phải thật nhanh nhưng cũng phải thật an toàn. Y chạy đua với mặt trời, ngọn lửa vĩnh cửu sưởi ấm nhân loại. Y tin, y sẽ đến ngõ nhà mình trước bình minh. Y sẽ gào lên “chúc mừng năm mới” để gọi vợ con, thay vì bấm chuông. Y sẽ thật thà chào hỏi bất cứ ai y gặp, với tâm nguyện hạnh phúc, may mắn và thành đạt, từ mụ hàng xóm đáng ghét nhất trở đi.

***

Còn lại một mình, ông già đứng lên sửa quần áo. Củi được chất thêm. Khi lửa thật đượm, ông nhẹ nhàng đặt gốc đào khô ngay ngắn ở giữa. Các lưỡi lửa rát bỏng dần dần mọc khắp nhánh cành quắt queo, tựa như những chiếc lá đỏ cuối đông. Hàng trăm búp nụ chai chết từ một mùa xuân rất xa bắt đầu bật nổ. Vòm hoa bừng bừng, tung tóe sáng rỡ một góc rừng, hắt lên sườn đồi bóng ông già đang nặng nhọc bước về phía căn nhà gỗ. Ông cần khóa cửa giùm người bạn trẻ. Anh ấy vẫn thiếu con gái ông mấy nụ cười, thiếu ông câu hẹn gặp lại. Cho là nhận, ông lẩm bẩm chân lý cũ rích rồi cả cười. Sương về trắng đất, mang theo cả hương rượu tăm nhà ai vừa bật nắp.

Thảo điền 12.2007

thôn Sấu

Quê hương yêu dấu (Dọc hành chấm đứng). Xin các bạn vui lòng ghi rõ nguồn và dẫn link đến trang này nếu đăng lại bài của tôi

thienthanh2017.wordpress.com/

Thượng thiện nhược thủy, thủy thiện lợi vạn vật nhi bất tranh - Lão Tử

Học Thế Nào

How We Learn

leminhkhaiviet

About Vietnamese Cultural History and Scholarship

Xuân Bình

Nhà báo tự do

Nguyễn Huy Hoàng

the star is fading

Nghiên cứu lịch sử

Các bài nghiên cứu, biên khảo và dịch thuật các chủ đề về lịch sử

Le Minh Khai's SEAsian History Blog

Always rethinking the Southeast Asian past

trinhythu

Trịnh Y Thư WordPress.com site

trandangtuan.com

Men lá rượu ngô trong

4th Avenue Café

Free non-fiction translation

WordPress.com

WordPress.com is the best place for your personal blog or business site.

Trương Thái Du's Blog

Văn chương thiên cổ sự - Đắc thất thốn tâm tri...

No More Goat Soup

No goats were harmed in any way while making this blog. (We did kill all the sheep though)