Người trí thức
(Blog Nhị Linh)

+ Of Human Bondage: Hôm trước nghe Nguyễn Việt Hà (hay ai đó, chẳng nhớ rõ) nói Maugham (Mèo Gầm) là một nhà văn hạng hai, và rất thích thú vì chính bản thân Maugham cũng tự nhận mình là số một trong số các nhà văn hạng hai.

Không có con người, mà chỉ có “con người”.

+ Người trí thức là người như thế nào? (thêm một reference của phương Tây bàn về intellectual: cái text “The Formation of the Intellectuals” của Antonio Gramsci, tức là bác tổng bí thư đảng cộng sản Ý, trước thời Togliatti; trong bài đó Gramsci nói đến hai dạng nhóm: trí thức như một nhóm xã hội thuần chất và trí thức với tư cách là một phần của mỗi nhóm xã hội; trong Norton Anthology, Theory and Criticism version mới nhất có một điều kỳ quái to tướng là không hề có Gérard Genette, thậm chí là trong Index cũng không có luôn, trong khi có vô số người từ Platon đến Judith Butler và thậm chí Stuart Moulthrop về lý thuyết hypertext – trong khi khái niệm hypertexte hay hypertextualité lại chính là trung tâm trong lý thuyết liên văn bản của Genette).

Trước tiên phải nói ngay, không có trí thức thuần chất và không có trí thức tự thân. Câu “Chúng ta không sinh ra đã là trí thức ngay mà trở thành trí thức” tuy đúng là nhại câu của de Beauvoir “Chúng ta không sinh ra đã là phụ nữ ngay mà trở thành phụ nữ” nhưng cũng cần phân biệt: ở câu của Beauvoir (mới đây hở mông trên Le Nouvel Observateur), tuy rằng cần phải thế nào đó mới trở thành (hoặc xứng đáng với danh hiệu) phụ nữ, nhưng đằng nào thì… (tất nhiên trừ đi một số trường hợp đi sang Thái Lan rồi về đến cửa khẩu Nội Bài phải đút lót tiền cho hải quan vì mặt không khớp với ảnh hộ chiếu), còn trong câu liên quan đến trí thức kia, không có kích thước hoàn cảnh tự nhiên, mà là kích thước của con người xã hội. Một phát ngôn kiểu như thế này sẽ gây bối rối: “tôi là một trí thức, chấm hết”. Mà đúng chiều của nó là “tôi là một nhà văn, tôi là một kỹ sư, tôi là một người lái tàu nhưng trong nhà có năm tấn sách”, và tôi được coi là trí thức. Một nhà văn, một kỹ sư, một tiến sĩ (hoặc không gì cả trong ba cái kia) cộng thêm một cái gì đó nữa thì có thể chính danh trở thành trí thức (cái biểu đạt được chấp nhận, một diễn ngôn không gây chướng tai). Rất nhiều khi, cái gì đó nằm ở khả năng lên tiếng của những người đó ở các vấn đề nhất định, liên quan đến nhiều người. Như Chomsky chẳng hạn.

Và ngay lập tức, không có chuyện đào tạo con nhà người ta từ một thiếu niên tốt nghiệp trung học đã có bằng tú tài trở thành trí thức. Ở thời điểm đó người ta chỉ đào tạo một cử nhân, và trong hằng hà vô số cử nhân may ra mới có một vài nhân tố trở thành trí thức, hoặc đơn lẻ, hoặc thành nhóm.

Vấn đề dần dần đi đến chỗ: tại sao ở Việt Nam thời này khi nhắc đến tên bất kỳ ai người ta cũng dễ dàng nhăn nhó lắc đầu mà bảo, “không phải là trí thức”? trong khi ở bất kỳ nơi nào khác sự đồng thuận xã hội sẽ khá là nhanh chóng? Mà người Việt Nam làm trong một số ngành nghề nhất định là ngang hàng, thậm chí vượt trội các đồng nghiệp nước ngoài ở rất nhiều điểm (chẳng hạn như trong friendlist của blog này có một bác siêu sao về crypto ở Paris có thể chứng nhận, hoặc bác gì ở Cambridge bên Boston hay cạo gió cho mấy ông Nobel kinh tế).

Trả lời câu hỏi này theo một cách, thì có thể lấy vài người ra xem sao. Ở Việt Nam giai đoạn trước có hai nhân vật chắc chắn không thể phủ nhận không phải là trí thức: Phạm Quỳnh và Nhất Linh hehe. Nhót thêm hai bác Pháp nữa là Jean-Paul Sartre và Edgar Morin. Họ có gì chung, mà các trí thức-to be của Việt Nam ngày nay không có, để đến nỗi in cạc vidít cũng không dám đề intellectual? Không biết các bác khác thế nào, tôi thì nhìn thấy ngay, ngoài những điểm chung về học vấn, tài năng, chí khí, tất cả họ đều có khả năng tự đảm bảo cho quyền lên tiếng của mình. Cụ thể hóa của điều đó là các tờ báo. Nhất Linh: Phong Hóa, Ngày Nay, Phạm Quỳnh: Nam Phong, Jean-Paul Sartre: Les Temps Modernes, Edgar Morin: Arguments. Các tờ tạp chí có cương lĩnh chính là hình thức hữu hiệu nhất cho sự lên tiếng của trí thức. Có hai đặc điểm của tạp chí: thứ nhất là nó lên tiếng theo từng loạt đạn dài, điều này khiến cho báo bình thường không theo kịp (những vấn đề lớn cần được chứa trong những bài báo lớn), và thứ hai, nó quy tụ được những người đồng chí hướng đứng chung vào một chỗ (ít nhất trong một thời gian: lịch sử có chép lại là Jean Paulhan từng có mặt trong ban biên tập Les Temps Modernes một thời gian ngắn, nhưng dĩ nhiên sau đó sẽ out ngay, vì Sartre với Paulhan chả có điểm gì chung), và tạo ra các cuộc tranh luận ở phạm vi lớn, dù rằng đôi khi chỉ là vì cạnh tranh về ảnh hưởng xã hội giữa các tạp chí. Và lớn hơn hết, một tờ tạp chí giống như là một vật bảo chứng về lời nói và ý tưởng, nơi buộc người ta phải chịu trách nhiệm về những gì phát ngôn ra. Trách nhiệm vốn là một thuộc tính lớn của người trí thức (kiểu lợi rơm vạ đá). Trong tình hình hiện nay của chúng ta, những tờ báo Tết to kềnh càng lợi dụng quảng cáo ăn chơi rởm đời càng cho thấy rõ tính chất qua cầu gió bay, bút sa mà gà không chết, khi tạo ra chỗ cho người ta thích viết gì thì viết để lĩnh nhuận bút. À nhân tiện, đợt Tết vừa rồi hai người kiếm được nhiều tiền nhuận bút nhất chắc chắn là Nguyên Ngọc và Nguyễn Ngọc Tư. Cơ hội để bác Trần Hữu Dũng liên tiếp đặt hai dấu tam giác đỏ chỉ trỏ trên trang viet-studies. Văn chương của Nguyễn Ngọc Tư nhàm và nhảm, nhất là càng ngày càng phải viết nhiều để phục vụ cho chi chít các tờ báo. Bắt chước mấy bác dọn vườn trên báo Văn Nghệ cái: Rằng hay thì thật là hay/Nghe ra tép vạt bèo vơ thế nào.

Không phải tình cờ mà những năm xuất hiện người trí thức với tư cách thực thể cá nhân và con người xã hội ở Pháp (xung quanh vụ Dreyfus) cũng tương đồng với
sự ra đời như thác lũ của các tờ tạp chí. Theo một báo cáo (hình như của Monfort) trong khoảng 30 năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX ở Pháp có khoảng 300 tờ tạp chí mới, trong đó đại đa số chỉ ra được vài số, và cho đến giờ hình như chỉ còn lại NRF. Đó là một cuộc tranh đấu vì quyền được lên tiếng.

Còn chúng ta? talawas giờ trở thành tờ báo tường thơ ca hò vè đủ loại, mặc dù ban biên tập ở đó đã cố gắng gạt tất cả vào mục “ý kiến ngắn”. Dégénéré. Vietimes thì trở thành vật chứng cho sự vi phạm đạo đức cả của nghề báo lẫn của tinh thần phê bình. Vùi dập những người dù sao cũng đứng ở phần sáng của nhiều thứ và đưa lên những cái series B để mà tung hô như cái này, cái này, cái này. Từ “critique” xét về từ nguyên có nghĩa là sắp xếp, định giá một cách chuẩn tắc, nhưng có người nói rằng nó có chung gốc từ với “crime”. Phê bình Việt Nam thường xuyên chỉ nằm ở trường hợp thứ hai.

Thế cho nên là… muốn trở thành người lớn, thì trước tiên phải thôi là trẻ con đã.