Có bậc cha mẹ nào chia sẻ với tôi tâm sự này, nhân ngày quốc tế thiếu nhi không?

12 phản hồi

Tôi ít khi xem phim VN. Tại sao thì ai cũng biết. Tối nay dò kênh loạn xạ bỗng trúng vào HTV7 đang phim. Người cha đạo mạo và đạo đức tâm sự với đứa cháu gái về con trai mình: “Nỗi nhục của bác là sanh cái thằng này ra”. Tất nhiên theo mạch phim “cái thằng này” sẽ là nhân vật phản diện, đạo đức kém. Tuy vậy con người thốt lên câu nói đầy triết lý ấy có xứng đáng làm cha không? Có đủ tư cách nói câu ấy không?

Tôi cũng mới làm cha gần năm năm nay. Nhân ngày 1/6, quốc tế thiếu nhi, quốc tế của những đứa trẻ, tôi xin khẳng định, với tôi “cái ông” trong phim kia không xứng đáng làm cha và hoàn toàn không đủ tư cách nói câu ấy. Hơn nữa, không bậc cha mẹ nào được quyền nói câu ấy với con cái mình. Thực ra, các hình thái khác của nội dung kia nhan nhản trong xã hội VN. Chẳng hạn: “Nếu biết đẻ mày ra mà mày như vậy chẳng thà đẻ trứng ra ăn cho sướng” ; “Hồi đẻ, biết mày vậy tao bóp mũi chết mẹ mày cho xong“.

Cho dù bạn đi theo trường phái “nhân chi sơ tính bản thiện” hay “nhân chi sơ tính bản ác”, nếu bạn có một đứa con trưởng thành vô đạo đức thì lỗi vẫn phần lớn thuộc về bạn. Giáo dục trong gia đình là yếu tố quyết định để hình thành tính cách đứa con. Đứa trẻ mới đẻ làm gì có tội mà bị nguyền rủa bằng những câu táng đởm như trên. Nó lớn lên mà mất đi bản thiện hoặc không tự diệt trừ được bản ác, đó là lỗi của những người làm cha, làm mẹ, của xã hội, của môi trường văn hóa…

Văn hóa nông nghiệp tuyệt đối hóa chữ hiếu, vô hình chung trao cho cha mẹ “quyền sát” đi theo “quyền sinh” họ tự nhiên có được. Đấy, cái phi nhân quyền trong văn hóa VN nằm ở đấy. Một nền văn hóa phi nhân quyền thì làm sao xây dựng thành công một xã hội nhân quyền? Cho nên quan điểm của tôi về tự do, dân chủ, dân sinh hay nhân quyền đều quay về khởi nguyên văn hóa, vì lẽ đó.

Tôi cho rằng con cái là phần nối dài của chính bản thân chúng ta. Khi ta yêu con cái là ta yêu chính ta. Khi con cái hư hỏng là chính chúng ta hư hỏng. Thái độ vô trách nhiệm, suy nghĩ nông cạn, hời hợt của người cha nọ trong phim, đáng buồn là một thực tế đầy rẫy ngoài đời sống.

Có bậc cha mẹ nào chia sẻ với tôi tâm sự này, nhân ngày quốc tế thiếu nhi không?

So sánh “chứng khoán” và “dân chủ”

3 phản hồi

Entry này như một câu trả lời, riêng tặng blogger myselfvn :

Hôm qua đọc bài này trên BBC, kết hợp với các sự “lùm xùm” của thị trường chứng khoán VN gần đây, tôi bỗng thấy hoàn toàn có thể so sánh chứng khoán với dân chủ ở góc độ nào đó.

Cũng xin nói rõ, dân chủ ở đây tạm đóng khung trong quan điểm nóng hổi của cựu tù McCain đã dẫn.

Tất nhiên McCain tán hay phết “…các liên minh của Hoa Kỳ ở châu Á – Thái Bình Dương cần được chỉ đạo bằng các giá trị và tiêu chuẩn dân chủ, chứ không phải nhờ sự lèo lái quyền lợi.” Và “sức mạnh của Hoa Kỳ, theo họ, là biết bảo vệ các tiêu chuẩn chung và lắng nghe, thuyết phục các nước bạn.”

Tuy vậy, với bản chất cầu lợi và thực dụng cố hữu, nội hàm của McCain hơi phô ở những chi tiết:

1. bài viết cho rằng Mỹ cần có “sự lãnh đạo mạnh mẽ” trong chính sách khu vực.
2. “quản trị các vấn đề khu vực và toàn cầu.”

Rõ rồi nhé. Dân chủ mà McCain muốn xuất khẩu phải đạt yêu cầu: Dưới sự lãnh đạo và quản trị sáng suốt của Mỹ! Trong quá khứ thì sự sáng suốt này có thể kể đến cuộc ám sát Ngô Đình Diệm. Gần đây hơn thì Mỹ không có dính dáng, lèo lái quyền lợi gì với các giếng dầu của Irak đâu, đừng nghe bọn “phản động” nó lếu láo.

Tóm lại “chứng khoán” hay “dân chủ”, đối với VN đều là hàng nhập khẩu từ văn minh Tây Dương nói chung và đỉnh cao Huê Kỳ nói riêng. Thị trường chứng khoán sập rồi, những con cá mập ăn xong rồi, rút êm rồi, tiền của cả triệu người biến thành giấy rồi, sàn chứng khoán Sài Gòn đang được “quản trị” bằng tư duy nông nghiệp đậm đà bản sắc dân tộc: “Tao thích thì tao rút dây điện” (cóp nhặt ý này từ blog Mr. Do). “Sự cố” chỉ lòe được ai đó thôi, chứ theo kiến thức tối thiểu từ Bill Gate thì một hệ thống giá trị hàng triệu USD luôn phải có những phương án “chập mạch” dự phòng.

Dù sao tôi vẫn luôn khẳng định tôi ủng hộ dân chủ, với ý nghĩa là giá trị cốt lõi định hình nền văn minh Tây Dương. Tôi cũng ủng hộ dân chủ mà nhân dân Việt Nam đang hướng tới, trên cơ sở tham khảo biện chứng, trên nền tảng giá trị văn minh 2000 năm của mình. Tôi coi thường tất cả những kẻ đầu cơ/mua bán dân chủ, những kẻ tư tưởng thì cóp nhặt, công lao chẳng có gì mà cứ đòi cống hiến cho nhân dân. Nói theo ngôn ngữ teen hiện đại là “Hài vãi…”

Thiên Đô Chiếu 遷都詔

Để lại phản hồi

遷都詔

Thiên Đô Chiếu

李公蘊

Lý Công Uẩn

昔商家至盤庚五遷。周室迨成王三徙。豈三代之數君徇于己私。妄自遷徙。以其圖大宅中。爲億万世子孫之計。上謹天命。下因民志。苟有便輒改。故國祚 延長。風俗富阜。而丁黎二家。乃徇己私。忽天命。罔蹈商周之迹。常安厥邑于茲。致世代弗長。算數短促。百姓耗損。万物失宜。朕甚痛之。不得不徙。

况高王故都大羅城。宅天地區域之中。得龍蟠虎踞之勢。正南北東西之位。便江山向背之宜。其地廣而坦平。厥土高而爽塏。民居蔑昏墊之困。万物極繁阜之丰。遍覽越邦。斯爲勝地。誠四方輻輳之要会。爲万世帝王之上都。

朕欲因此地利以定厥居。卿等如何。

Âm Hán Việt

Tích Thương gia chí Bàn Canh ngũ thiên, Chu thất đãi Thành Vương tam tỉ. Khởi Tam Đại chi sổ quân tuẫn vu kỷ tư, vọng tự thiên tỉ. Dĩ kỳ đồ đại trạch trung, vi ức vạn thế tử tôn chi kế; thượng cẩn thiên mệnh, hạ nhân dân chí, cẩu hữu tiện triếp cải. Cố quốc tộ diên trường, phong tục phú phụ. Nhi Đinh Lê nhị gia, nãi tuẫn kỷ tư, hốt thiên mệnh, võng đạo Thương Chu chi tích, thường an quyết ấp vu tư, trí thế đại phất trường, toán số đoản xúc, bách tính hao tổn, vạn vật thất nghi. Trẫm thậm thống chi, bất đắc bất tỉ.

Huống Cao Vương cố đô Đại La thành, trạch thiên địa khu vực chi trung; đắc long bàn hổ cứ chi thế. Chính Nam Bắc Đông Tây chi vị; tiện giang sơn hướng bối chi nghi. Kỳ địa quảng nhi thản bình, quyết thổ cao nhi sảng khải. Dân cư miệt hôn điếm chi khốn; vạn vật cực phồn phụ chi phong. Biến lãm Việt bang, tư vi thắng địa. Thành tứ phương bức thấu chi yếu hội; vi vạn thế đế vương chi thượng đô.

Trẫm dục nhân thử địa lợi dĩ định quyết cư, khanh đẳng như hà?

Nghĩa:

Xưa nhà Thương đến đời Bàn Canh năm lần dời đô[1], nhà Chu đến đời Thành Vương ba lần dời đô[2];, há phải các vua thời Tam Đại[3]; ấy theo ý riêng tự tiện dời đô. Làm như thế cốt để mưu nghiệp lớn, chọn ở chỗ giữa, làm kế cho con cháu muôn vạn đời, trên kính mệnh trời, dưới theo ý dân, nếu có chỗ tiện thì dời đổi, cho nên vận nước lâu dài, phong tục giàu thịnh. Thế mà hai nhà Đinh, Lê lại theo ý riêng, coi thường mệnh trời, không noi theo việc cũ Thương Chu, cứ chịu yên đóng đô nơi đây, đến nỗi thế đại không dài, vận số ngắn ngủi, trăm họ tổn hao, muôn vật không hợp. Trẫm rất đau đớn, không thể không dời.

Huống chi thành Đại La, đô cũ của Cao Vương[4], ở giữa khu vực trời đất, được thế rồng cuộn hổ ngồi, chính giữa nam bắc đông tây, tiện nghi núi sông sau trước. Vùng này mặt đất rộng mà bằng phẳng, thế đất cao mà sáng sủa, dân cư không khổ thấp trũng tối tăm, muôn vật hết sức tươi tốt phồn thịnh. Xem khắp nước Việt đó là nơi thắng địa, thực là chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương, đúng là nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời.

Trẫm muốn nhân địa lợi ấy mà định nơi ở, các khanh nghĩ thế nào?

(Bản dịch của Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, in trong Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1993)

Chú Thich:

1. Năm lần dời đô: Vua Thang (Thành Thang) đóng đô ở phía đông nam huyện Thương Khâu (thuộc tỉnh Hà Nam bây giờ). Trọng Đinh dời đô đến huyện Thành Cao (thuộc tỉnh Hà Nam). Hà Đản Giáp dời đô đến phủ Chương Đức (cũng thuộc tỉnh Hà Nam).Tổ Ất dời đô đến phủ Thuận Đức (tỉnh Hà Đông bây giờ). Bàn Canh dời đô đến huyện Yên Sư (hay Ân Sư thuộc tỉnh Hà Nam)

2. Ba lần dời đô: Chu Văn Vương đóng đô ở phía đông tỉnh Thiểm Tây. Chu Vũ Vương dời đô đến huyện Tương Yên (tỉnh Thiểm Tây). Chu Thành Vương dời đô đến huyện Lạc Dương (tỉnh Hà Nam).

3. Thời Tam Đại: Ba nhà Hạ, Thương, Chu trong lịch sử Trung Quốc.

4. Cao Biền: Quan đô hộ Giao Châu của nhà Đường vào khoảng các năm 864-875. Cao Biền đắp thêm thành Đại La (Hà Nội ngày nay) vào khoảng năm 866.

Thư gửi con gái ….

24 phản hồi

Nhã Quỳnh con,

Tính đến hôm nay con đã 4 tuổi 8 tháng. Định vài tháng nữa, con đúng năm tuổi, ba sẽ tìm cô giáo kèm con bên phím ngà. Sau cả ngày hì hục dọn phòng, thuê một đội thợ chuyên nghiệp “di dời” chiếc đàn nặng gần 300kg từ phòng khách lên phòng con trên lầu 1, ba thật quá thất vọng khi con bảo con không thích học Piano.

“Đàn piano buồn ngủ lắm ba ơi. Con nghe đàn là con đi đánh răng liền?”
“Sao lại đánh răng?”
“Thì con đánh răng xong con lên giường đi ngủ”…
“Chứ con thích học cái gì?”
“Con thích học sáo. Con thổi sáo cho mặt trời lên. Có gió, có nắng.”

Con biết không, khi mới hoài thai, tuần ba lần con đã được nghe đàn piano. Ngoài lý do giúp não bộ của con sớm phát triển với nhạc Mozart, ba còn gửi gắm trong hành động ấy mơ ước của riêng ba: sẽ có một ngày con đàn tặng ba những khúc thức u uẩn của Beethoven hoặc nhiều giai điệu day dứt dưới tên Chopin.

Ba tham lam quá phải không? Tuy nhiên nếu con vẫn nằng nặc không chịu học đàn thì ba cũng không nỡ ép, sẽ không có bất cứ hành động nào có tính chất ép buộc cả. Ba đang phân vân không biết có tìm được người dạy sáo cho con không đây. Hơn nữa, bước đầu học sáo của một đứa trẻ năm tuổi sẽ khó hơn học đàn piano rất nhiều. Làm sao con có thể dễ dàng chúm miệng cho hơi đi vào một cái lỗ nhỏ xíu. Còn các ngón tay phải luân chuyển nữa chứ.

Quá trình dạy dỗ con, cũng là quá trình ba phải tự tìm hiểu nghệ thuật giáo dục. Cha con mình thành thật cảm ơn các cô, các chú, các bác đã góp ý trong những comment dưới đây con nhé.

Bức thư này ba gửi con nhưng nó sẽ được lưu ký trên thế giới ảo mang tên hệ thống thông tin toàn cầu. Chắc chắn có ngày con sẽ đọc được những dòng chữ ở đây.

Ba yêu con nhất trên đời,

[IMG]http://i483.photobucket.com/albums/rr200/truongthaidu/P1010282.jpg[/IMG]

Phần 2 Chương 2 – Miền cổ tích hoang hư – Tiểu thuyết 140 ngàn chữ – Phiên bản mới…

1 phản hồi

Miền cổ tích hoang hư

Tiểu thuyết khoảng 140 ngàn chữ. Phiên bản 2008.

Chương 1 Nỗi hoài nghi : Ở đây

Chương 2 Ru khúc ấu thơ: Phần 1 Phần 2

Chương 2 Ru khúc ấu thơ – Phần 2


***

Triệt để xóa đi sự bóc lột, cha yêu cầu dì Thái cho cả hai người giúp việc nghỉ làm. Ông lo cho chị Tám một chân bán lương thực phân phối theo sổ tại phường sở tại. Không những trở thành công nhân viên chị còn được cấp cho căn hộ tập thể gần 60 thước vuông. Ngày mới bỗng nhiên cụ thể và cao quí đến không ngờ, hơn cả giấc mơ bạo dạn nhất của chị.

Chị Tám không đẹp. Chị biết vài con chữ đủ đọc báo nhưng hăng say làm việc xã hội nên phất lên như diều gặp gió. Mấy tháng sau chị thành Chủ nhiệm Hợp tác xã, kiêm Cửa hàng trưởng “Cửa hàng thịt tươi sống thanh niên tiền phong”. Nhờ vậy dì Thái ít khó nhọc trong những lần xếp hàng mua nhu yếu phẩm, thực phẩm theo sổ. Chẳng may chị Tám lấy nhằm anh cựu chiến binh tiềm ẩn bệnh tâm thần. Trái gió trở trời chồng chị vật vã nặng và thường uống rượu rất dữ. Lâu lâu khu phố lại có một đêm ma quái khi chồng chị Tám lên cơn. Sâu hút trong bóng tối tĩnh mịch, tiếng gào thét vô vọng của người điên thật nhức nhối. Chồng chị Tám cảm mạo và qua đời giữa cơn say. Đứa con đầu lòng của họ tiếp tục gây chú ý cho chòm xóm. Nó bụ bẫm và đẹp như thiên thần. Của đáng tội là nó chẳng chịu lớn lên hoặc già đi. Thằng bé ba bốn tuổi nhưng không biết đi đứng, bò toài, suốt ngày im lặng nằm một chỗ.

Dạo xóa bao cấp tình cờ run rủi có ông Nhật tóc hoa râm góa vợ phải lòng chị Tám. Ông xin cưới chị và nguyện suốt đời chăm sóc đứa trẻ. Đứa con sau của họ may mắn phát triển rất bình thường. Chị Tám trở thành bà chủ tư bản. Vợ chồng chị mở xưởng gia công hàng xuất khẩu với hàng trăm công nhân.

Mợ Hai truân chuyên hơn chị Tám nhiều. Mợ hơn 50 tuổi, tính tình hiện hậu đến khờ khạo. Mợ là chị em họ xa bên nội dì Thái. Mợ chẳng có gia đình, chồng con và ít hiểu biết. Dì Thái thuyết phục mãi cha mới đồng ý cho mợ ở lại với các điều kiện: “Không xem mợ Hai như gia nhân. Ở trong nhà mợ giúp được việc gì thì giúp. Không được sai bảo, ép uổng. Đưa ngay tên mợ vào tờ hộ tịch mới, ghi rõ quan hệ với chủ hộ là chị họ”. Dì Thái vui lòng. Nói cho cùng trước đây hoặc hiện nay dì đối xử với mợ Hai và chị Tám đâu đến nỗi nào. Dì vẫn chung tay dọn dẹp, nấu nướng cùng hai người.

Cỡ ba năm sau mợ Hai lần được tung tích người cháu ruột. Anh này đã trở thành Tỉnh đội phó tại quê nhà. Năm lần bảy lượt anh ta lên Sài Gòn năn nỉ mợ về quê sống với gia đình anh. Nể tình ruột thịt mợ bùi ngùi chia tay mọi người. Nửa năm sau thình lình mợ Hai trở lại Sài Gòn khóc lóc kể khổ. Nghe đâu bà vợ dữ dằn và lũ con hư hỏng của đứa cháu ruột mợ hành hạ mợ ra trò. Chúng nuôi mợ như kẻ ăn, người ở trong nhà. Dì Thái thương cảm quyết nhập lại hộ khẩu cho mợ Hai nhưng không thành. Vị cháu kia thuộc hàng tai to mặt lớn hăm dọa dì Thái đủ kiểu. Mợ Hai biết mình đang làm phiền ân nhân nên bí mật bỏ trốn. Mợ đi đâu không rõ. Thỉnh thoảng dì Thái nghe phong phanh ai đó gặp mợ khi thì bán trái cây, trà đá dạo ở Bắc Cần Thơ, khi thì hành khất tại bến xe bến đò. Dì Thái khai thác triệt để mọi thông tin. Dì đi tới đi lui chỗ này chỗ kia nhiều bận nhưng chẳng bõ công.

***

Giữa tháng mười Phương nhập học. Đích thân dì Thái đi xin cho Phương vào lớp. Ngày hai lần dì đưa đón Phương tới trường trong hơn một tháng. Phương là học trò duy nhất nói giọng Bắc rặt nên cậu luôn bị châm chọc. Mới tìm được chỗ ngồi, hỏi han làm quen đứa bạn cạnh bên Phương đã giật mình khi cậu ấy hét toáng lên: “Thằng này là Bắc Kỳ tụi bay ơi”. Năm bảy tên ngổ ngáo nhất loạt hát vang bài đồng dao phổ biến: “Bắc Kỳ ăn cá rô cây. Ăn nhằm lựu đạn chết cha Bắc Kỳ”. Phương thờ ơ và lãnh đạm, phần vì cậu chưa hiểu hết ý nghĩa lời hát. Chúng bạn chùng giọng, hai ba đứa xúm lại xì xào rồi bắt nhịp bài mới: “Từ Bắc vô Nam tay cầm bó rau. Tay kia cầm sợi dây dắt theo con cầy…”. Giai điệu nhịp nhàng, lạ tai làm Phương bật cười. Cũng may ch
chút xíu sau cô giáo vào lớp lập lại yên tĩnh.

Dần dà Phương cũng rõ nội dung bài kích. Dì Thái khuyên cậu cứ bỏ ngoài tai, thực tình các bạn chẳng có ý gì xấu. Trẻ con với nhau làm gì biết thù ghét, phân biệt đối xử. Cuối năm chuyện chọc ghẹo hết hẳn. Gần như Phương đã nói giọng Nam tương đối.

***

Thời cuộc bắt đầu ảnh hưởng mạnh tới đời sống gia đình. Dì Thái hiến hết số dư tài khoản ký thác ngân hàng cho ủy ban quân quản. Chắc dì bị sức ép của cha. Cũng có thể dì biết những qui định và giới hạn trong việc thanh lý tiền gởi, rút tiền mặt rất chặt chẽ dường như vượt quá sức dì. Hơn nữa, đồng tiền liên tục mất giá với tốc độ chóng mặt. Dì bán tống bán tháo các cơ sở làm ăn cũ và thu mình trong nhà. Dì dành phần lớn thời gian chăm sóc Phương. Lắm lúc Phương cũng không tự biết cậu đang dần xa cha mình. Điều đáng buồn cười là cả nhà phải giấu chuyện Phương bắt đầu học đàn dương cầm. Càng ngày cha càng ghét tiếng đàn. Một lần đang bực dọc, thấy dì Thái chơi đàn ông đã nổi giận.

Những nốt nhạc đầu tiên trong quyển sách “Phương pháp hoa hồng” hình như đã hẹn Phương từ thuở nào xa xăm lắm. Phương hết sức say mê. Cậu chăm chỉ tập và cũng cho dì Thái thấy mình có chút năng khiếu. Phương giữ mãi quyển sách vỡ lòng ấy như kỷ vật vô giá. Sách cũ, in khoảng năm 1940 tại Pháp. Anh Dũng mua tặng Phương ở vỉa hè khi biết dì bắt đầu cho Phương học đàn. Trang thứ nhất là dòng tiếng Pháp viết tay: “Tặng cho Hiếu – Ký tên – Ba Lê 9.1943″. Vài chữ thôi mà Phương luôn cảm thấy bồi hồi mỗi lần đọc lại. Hiếu chắc chắn là con trẻ trong một gia đình khoa cử. Năm 1943 số lượng người học đàn dương cầm ở Việt Nam hẳn cực ít. Hơn ba mươi năm với bao biến cố, những người ấy còn hay mất, cố ý hay vô tình vì đời sống mà quên đi tiếng đàn. Họ bán sách do túng thiếu hay sách bị đánh cắp? Chẳng câu trả nào lời thuyết phục.

Anh Chung mang tiếng đi Kinh tế mới nhưng cũng không đến nỗi nào. Có lẽ người lãnh đạo ở đó biết cha Phương. Chung rất hay về phép. Bước vào nhà thăm hỏi mẹ, tắm rửa xong là anh ngồi lì tại sa lông đọc ngấu nghiến báo cũ. Cơm nước nhiều khi phải mang tận nơi cho anh. Chung luôn tránh mặt cha và từ dạo bị gởi lên rừng anh chưa bao giờ tranh luận với ông thêm lần nào. Anh học được cách thoái thác những câu hỏi hết sức tài tình:

“Con thấy tình hình trên ấy ra sao?

“Thưa ba chắc báo chí nói nhiều và tổng quát hơn con. Cuộc sống chúng con chẳng khác gì sự mô tả của nhiều bài báo.

“Ba biết con giận ba. Công tử có học mà sinh hoạt chung với ma cô, gái điếm, bụi đời sẽ nhiều bất tiện. Ba tin con sẽ vượt qua, đó là cửa ải đầu tiên để xóa bỏ khoảng cách giữa người với người.

“Dạ.

“Con hãy tự nhận xét sự phấn đấu của bản thân mình cho ba nghe đi.

“Thưa ba như vậy con sẽ chủ quan nhiều. Tuy nhiên con chẳng biết tổ chức nhận xét con ra sao, họ bí mật quá. Tốt hơn hết ba nên hỏi thăm các chú, các anh lãnh đạo.

Anh Chung trở nên bí hiểm với mọi người trừ Phương. Anh hay trò chuyện với Phương bằng giọng lưỡi hết sức mỉa mai nhưng hoàn toàn không cố ý. Thực ra anh muốn một người nghe để tự nói với chính mình. Lạ là Phương không thấy ác cảm khi theo dõi anh độc thoại. Phương không đủ khả năng quan tâm đến các vấn đề anh Chung đề cặp. Cậu nắm bắt cốt lõi vấn đề bằng thiện cảm.

“Bé con học hành ra sao?

“Cô giáo ở đây khác ngoài bắc nhiều. Bài học cũng thế. Em chẳng biết nói sao nữa.

“Sắp giống rồi, đừng lo. Rán mà tr
ở thành trí thức em ạ. Con người hơn kém nhau ở sự hiểu biết.

“Sao anh không xin ba cho về sớm? Dì bảo trường anh đang chuẩn bị vào khóa mới.

“Anh thích sống trên rừng hơn. Bằng cấp ba có thể lo cho anh, còn tri thức thì mỗi người phải tự thân vận động.

“Dì nhớ anh lắm. Anh đừng lấy vợ và ở luôn trên đó nhé.

“Nếu lấy vợ thì anh sẽ về thành phố. Kinh tế mới tạo nên hàng vạn gia đình đầm ấm bên vỉa hè hoặc trong các khu ổ chuột hôi hám của hòn ngọc viễn đông.

“Ba nói tại họ lười lao động. Tuần trước công an đã phải đuổi hơn chục người ra khỏi mái hiên trước nhà mình. Ba giận dì lắm vì dì còn cho họ quần áo cũ nữa.

“Con ong xây cái tổ trên bản năng đúng đắn, trải qua sự chọn lọc tự nhiên với mục đích sinh tồn là tối thượng.

“Em chẳng thấy anh đi chơi. Bạn bè anh đâu hết rồi?

“Ra đường lúc này chán lắm. Đầu trên xóm dưới quân cảnh, công an đứng đầy. Họ toét còi dừng xe bảo anh này nên cắt tóc, chị kia phải mặc áo kín đáo hơn. Anh thích xem phim Liên Xô trên báo. Bạn bè anh đi săn cá mập ngoài biển Đông chưa về.

“Báo nói gì mà anh mê mẩn thế?

“Nhiều chứ. Này nhé ngay sau 30.4 ta đã thấy những con số vô hồn nhưng đầy thuyết phục: “Hàng triệu lính ngụy Sài Gòn bị tiêu diệt và rã ngũ, chiến lợi phẩm tính được hơn chục tỉ đô la”.

“Em không hiểu ý anh. Em biết dì rất muốn anh về học tiếp, ba đang lưỡng lự.

“Nói thật anh chưa muốn về đâu. Đợi xong đợt học chính trị. Ngồi giữa rừng chim hót nghe khái niệm mới mẻ của thế kỷ mười chín hay hơn là bị nhốt trong rạp chiếu phim, ngột ngạt, tù túng, đầy dẫy chuột cống và rệp.

“Anh vui nhỉ.

“Kẻ lạc quan dễ sống hơn. Em yếu đuối và đa cảm quá, khổ suốt đời thôi.

“Sao anh lại nói vậy.

“Tránh xa chiếc đàn dương cầm đi.

Rồi anh Chung lại trở về thành phố với giảng đường. Anh vẫn học giỏi như xưa nhưng hết sức tai tiếng. Cả nhà chỉ biết điều đó vào một buổi tối nóng nực. Cha giận giữ đến nỗi không thể kiềm chế. Vừa đi làm về ông đã hét toáng lên:

“Bà gọi ngay thằng nghịch tử lại đây cho tôi.

“Tôi kêu nó liền. Nhưng xin ông đi rửa mặt trước. Chẳng lẽ không thể để đến sau bữa cơm hả ông.

“Tôi tức no rồi.

“Thưa ba…

“Mày muốn vào tù không?

“Con phạm tội gì?

“Trường lớp không giáo dục được mày thì nhà tù làm thay.

“Ông bình tĩnh nói rõ đầu đuôi cho con hiểu, như vậy tốt hơn không – Dì Thái van lơn.

“Nó cầm đầu bọn chống đối trong lớp, vào các giờ học bộ môn chính trị. Nó biện minh cho nền văn hóa nô dịch của ngụy quyền. Họ chưa làm gì vì biết tôi là cha nó.

“Thưa ba đó đơn thuần là học thuật. Chỉ có nền văn hóa hèn kém bị hòa lẫn, mất tích chứ không có khái niệm nô dịch. Một nhóm người riêng lẻ không thể đại diện cho cả dân tộc. Không sức mạnh nào nô dịch được văn hóa. Dù đầy dẫy biến tướng xu thời nhưng thành tựu của văn hóa hai mươi năm qua tại miền Nam vẫn là phần không thể chia rẽ của nền văn hóa dân tộc Việt Nam. Nó chứa đựng tinh túy và trí tuệ của nửa dân số Việt Nam. Hay khắt khe hơn, loại bỏ hết Mỹ Ngụy và bè lũ tay sai, cũng còn hơn phần tư. Chúng ta thắng Mỹ bằng chính cội rễ văn hiến ngàn đời. Gốc của vấn đề ở đó. Lịch sử nhân loại rành rành quá nhiều bằng chứng. Mông Cổ và Mãn Châu hung hãn, đô hộ nhiều thế hệ người Trung Hoa. Nhưng chính nền văn hóa tiêu biểu của các dân tộc Á đông này đã nuốt trọn lãnh thổ Mãn Châu quốc và hơn nửa Mông Cổ một cách thầm lặng, không nhân nhượng.

Cha Phương chết lặng, không kịp phản ứng trước lập luật của anh Chung. Hình như ông đang mông lung suy nghĩ vẩn vơ. Rồi ông chợt tỉnh. Mặt ông sạm lại, giọng vỡ ra tức tối:

“Mặc xác học thuật và miệng lưỡi của mày. Đây là lời cuối: Hãy câm mồm nếu mày muốn tiếp tục đi học.

Tối đó anh Chung không ngủ. Phương biết vậy vì sáng sớm lúc sắp đi học, cậu thấy anh đã ngồi ngoài ban công từ lúc nào. Cái gạt tàn cạnh anh đầy cán thuốc lá.

“Trưa về em mua thuốc thêm cho anh nhé. Dì bảo con cãi cha mẹ là bất hiếu đấy. Anh đừng làm ba giận nữa thì xong ngay.

“Bé ngoan lắm. Anh không phải đứa con bất hiếu vì anh chỉ tranh luận với ba thôi. Ba nóng tính quá.

“Ba là người chiến thắng. Không bao giờ ba hiền như ông sĩ quan Ngụy trong tranh biếm họa của Ớt đâu. Thằng bé cỡ em mà dám tiễn cha nó đi tập trung bằng câu nói “Chăm chỉ học tập nghe ba! Ba rán cải tạo để thành người cha tốt”.

“Nè đừng lấy cái thứ “họ nhà Tôm” làm gương nha bé. Thôi đi học đi cưng.

“Họ nhà tôm là gì hả anh?

“À, tụi tôm nó đi giật lùi. Cơ quan bài tiết của nó nằm trên đầu. Người ta nói “lột đầu tôm” chứ có ai “mổ bụng tôm” bao giờ.

Anh Chung lánh mặt cha cả tháng. Cha ở nhà là anh không bao giờ bước ra khỏi phòng riêng. Ban ngày vắng cha, anh vui vẻ và quan tâm đến mọi người khác thường. Anh chỉ Phương làm toán, kèm cặp Phương viết chữ cho đúng nét. Anh trò chuyện nhiều với anh Dũng. Đặc biệt anh rất hay ở bên dì Thái. Anh làm dì ngạc nhiên bởi dám xung phong đi xếp hàng mua nước mắm, dầu hôi, rồi lặt rau dưới nhà bếp. Anh chỉ từ chối khi dì khuyên anh làm lành với cha.

Anh có đến trường nhưng chẳng viết bài và cũng không chong đèn học khuya như trước.

Luận điểm Phát Xít – Bài tham khảo

8 phản hồi

Trích đoạn dười đây từ talawas. Cũng phải nói trước quan điểm cá nhân của bản blog: Đây rõ ràng là đại ngôn của phe hiếu chiến trong chính phủ và quân đội Trung Quốc. Tư tưởng Phát Xít – Đế Quốc Á Đông đang sống dậy. Nhân dân Á Đông trong đó có nhân dân Việt Nam và Trung Quốc phải hết sức tỉnh táo.

——————————————–

Thứ 1: Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc

Đó là một đạo quân uy vũ, đó là một đạo quân văn minh, đó là một đạo quân thường thắng, đó là một đạo quân nhân dân, đó là đạo quân hùng mạnh nhất xuất hiện trong năm ngàn năm qua tại Trung Quốc, đó chính là Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc. Chỗ khác nhau của đạo quân này với các đạo quân khác trong lịch sử là ở chỗ, nó dường như hội tập được phẩm chất ưu tú và tín ngưỡng kiên trinh của mọi người Trung Quốc, nó dường như mang nặng tinh thần dân tộc rất đáng kiêu ngạo trong năm ngàn năm dân tộc Trung Hoa! Nó thực sự chiến đấu vì sự ổn định, hạnh phúc, của nhân dân và sự an ninh của người thân, mỗi một chiến sĩ của nó dường như đều mang gánh nặng gia đình, dường như nhẫn chịu những quở trách của xã hội, nhưng chỉ cần quân lệnh phát ra là người trước ngã kẻ sau xung phong tiến lên. Đó là một quân đội mà về phẩm chất và về tinh thần đều mãi mãi đáng cho chúng ta tôn trọng. Điều kiện đãi ngộ của họ thấp, điều kiện sinh hoạt kém, cho dù có hy sinh cũng chỉ được ít tiền trợ cấp nhỏ nhoi, nhưng bao giờ họ cũng tràn đầy tinh thần hy sinh và hiến dâng. Khi tổ quốc cần họ bất chấp tất cả xung phong tiến lên, cho dù đổ máu sa trường vẫn ngậm cười nơi chín suối. Trên chiến trường Triếu Tiên đấu quân Mỹ, đánh cho liên quân 24 nước nghe gió mà trốn chạy, tướng quân nước Anh đưa ra lời than thở “ai dám đánh nhau với Trung Quốc, kẻ đó là thằng điên”. Trên chiến trường Tây Tạng đấu Ấn Độ, dường như quân tới gần New Delhi, chiến trường Đông Bắc đánh Liên Xô, chiến dịch đảo Trân Bảo anh dũng đánh cho quân đội Liên Xô đã dùng hết loại vũ khí định dùng vũ lực trừng phạt Trung Quốc phải câm mồm im miệng. Chiến trường Tây Nam trừng phạt Việt Nam, đánh cho vùng Bắc Bộ Việt Nam có vô số thôn quả phụ, đánh cho chính quyền nhóc Việt cuối cùng phải nhận thua với Trung Quốc. Xây dựng đất nước 56 năm đạo quân đó đã qua hơn trăm trận đánh lớn nhỏ, mà không để mất một tấc đất, chưa hề bị thua một trận, nó dùng máu tươi và sinh mệnh của một tỉ nhân dân Trung Quốc đúc thành bức Trường thành gang thép. Đã để lại bao nhiêu tên tuổi anh hùng không đếm hết được, những anh hùng vô danh trong hữu danh, đã tạo nên một cái tên huy hoàng – Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc! Vâng, đó là đội quân con em của chúng ta, đó là những người đáng yêu nhất đương đại. Đối mặt với đạo quân đó, có lý do gì mà bạn không tự hào là người Trung Quốc, có lý do gì mà bạn không tin là Trung Quốc nhất định trỗi dậy, sẽ hùng mạnh. Trung Quốc không thể mất, Trung Quốc nhất định hùng mạnh, bởi vì chúng ta có Quân Giải phóng Nhân dân, chúng ta có đạo quân con em của nhân dân, có những con người đáng yêu nhất đương đại.

Bản tiếng Việt © 2008 talawas

Nguồn: Bản tiếng Trung tại http://www.shangdu.com ngày 15 tháng 5 năm 2008, lấy từ Lịch sử đích thiên không ngày 24 tháng 4 năm 2008 với nhan đề: “Lịch sử thượng thập đại thường thắng quân”

Trao đổi với bác Osin…

30 phản hồi

23g36 phút ngày 18.5 blog Nguyễn Việt Tiến có entry “Chuyện cái rắm” rất thâm thúy và đầy nọc Nho.

22g38 phút ngày 19.5.2008 blog Osin có entry “Tự do và báo chí“. Đọc entry này tôi có cảm giác Osin đã “nghiên cứu” khá tường tận phản biện của tác giả 5xu cũng được đăng tại blog Nguyễn Việt Tiến ngày 18.5.2008.

Nếu ai đó quan tâm Osin đã có những quan điểm mới, cách nhìn mới sau khi nghe phản biện thì xin vào các link tôi đã dẫn ở trên. Điều tôi quan tâm cũng là lí do tôi viết entry này, vượt qua khuôn khổ một comment nên xin bê về đây gõ bàn phím.

Cái sâu sắc của Osin và theo tôi cũng là cái sai lầm (có thể vô ý hoặc cố ý) của anh chính là những luận điểm kết nối trong bài “Tự do và báo chí”.

Sau khi nêu ra hoàn cảnh ra đời của “Quyền tự do ngôn luận Mỹ”, Osin đã nối nó một cách tài tình và đầy sơ hở với “Tự do ngôn luận” mà CT HCM đã đưa vào hiến pháp: “Quyền “tự do ngôn luận” mà Hồ Chí Minh đưa vào Hiến Pháp Việt Nam không thể không được hiểu theo nguyên tắc ấy”. Mắt xích này được chốt lại trong hai câu cuối: “Xét về mọi phương diện, cách mà báo chí bị “hình sự hóa” rồi sau đó bị “bịt miệng” nửa chừng, về căn bản là mang lại thuận lợi hơn cho báo chí. Nhưng, đó không phải là một thắng lợi mà đất nước này cần”.

Đến đây thì tôi đã phải à lên với thâm ý của Osin: Đất nước này cần tự do ngôn luận kiểu Mỹ.

Nhưng theo tôi, đất nước này sẽ loạn nếu “xài” thứ hàng nhập khẩu ấy. Hệ quả là, có khi “quyền lực thứ tư” lại đổi chỗ với “quyền lực thứ nhất” chứ chẳng chơi!

Khởi đi, thoát thai từ một nền văn minh nông nghiệp lạc hậu, đến nay xã hội Việt Nam vẫn còn trên dưới 70% nông dân. Vâng, họ biết chữ, biết đọc báo nhưng gót chân Asin của họ lại chính là việc họ luôn xem những điều được viết, được in trên báo là chân lý. Là một nhà báo kì cựu, chắc anh Osin hiểu điều này hơn ai hết. Trong trường hợp Nguyễn Việt Tiến Osin dẫn trong bài đang đề cặp cũng chứng minh rất rõ nhận định này: “Hôm qua (18-5), một vị giáo sư khả kính nói với tôi: “Chỉ riêng việc bao một cô bồ nhí từ khi cô ấy 16 cho tới năm cô ấy 23 đã đủ để bỏ tù ông Tiến”. Không chỉ có vị giáo sư ấy nghĩ về ông Tiến như vậy, qua những gì được đăng trên báo, dân chúng cũng đã nghĩ về ông như là một ông trùm chỉ biết ăn chơi”.

Trong bối cảnh ấy, một nền tự do báo chí – tự do ngôn luận kiểu Mỹ sẽ biến các nhóm quyền lợi ở Việt Nam (nếu có) thành những tập đoàn truyền thông độc lập nhưng cùng mị dân, cùng ru ngủ quần chúng, cùng lừa phỉnh quần chúng và luôn hằm hè khống chế lẫn nhau.

Vậy thử hỏi, đất nước này cần điều đó chăng?

Văn minh Á Đông phát triển liên tục không gián đoạn ít nhất đã 5000 năm nay. Văn minh Tây phương không được như vậy. Song những giá trị cốt lõi định hình mỗi nền văn minh đều đáng quí, đáng trân trọng và đáng tham khảo. Lý luận của Osin không phải là tham khảo biện chứng mà là toan bắt chước một cách máy móc.

Nếu tôi nặng 39kg, cao 1m52 thì tôi không bao giờ dám hình dung mình sẽ mặc vừa chiếc áo hoa khéo cắt của một chàng cao bồi nặng cả tạ, dài cỡ hai mét, vì như thế tôi đã tự biến mình thành một anh hề gánh xiếc, hoặc một con khỉ vô tư trèo me hái khế…

Cập nhật 21.05
Tôi cất 2 câu văn vần ngũ ngôn tự nhiên phát tiết trên blast ở đây:

Đu me khỉ hái khế
Chồng ghế hề đo chân

Nghe có vẻ đa nghĩa, nên tự sướng…

Older Entries