Kẻ thất tiết của lịch sử

12 Comments

Để tưởng nhớ lời nguyền của tổ ngoại Phạm Vụ Mẫn, Án sát sứ Sơn Tây, người đã anh dũng bỏ mình trong một trận phục kích của liên quân Pháp – Công giáo bản xứ, cuối thế kỷ 19.

Thế giới blog, truyền hình, báo in, báo mạng Việt Nam cả tuần nay ầm ào về câu nói của ông Ngô Quang Kiệt trong cuộc gặp gỡ với giới chức Hà Nội hôm 21 tháng 9. Trừ báo chí chính thống đi đường một chiều, bất cứ ở đâu để ngỏ khả năng trao đổi đều rất nóng, đôi khi nóng đến mức thô tục. Chẳng hạn trong blog Tắc Kè, gần 1000 comment chia làm hai phe xỉ vả nhau không thương tiếc. Đến độ blog nhà báo Bố Cu Hưng phải chua xót treo blast: “Ơ hay, sao lại vào nhà tớ để cau có và chửi bới loạn xạ chỉ vì tớ nghĩ khác cậu? Tiếc là Nam Cao đã mất!”.

Nguyên văn một đoạn nói chuyện của ông Ngô Quang Kiệt như sau, tôi không bỏ dấu ngắt câu: “”Chúng tôi đi nước ngoài rất nhiều chúng tôi rất là nhục nhã khi cầm cái hộ chiếu Việt Nam đi đâu cũng bị soi xét chúng tôi buồn lắm chứ chúng tôi mong muốn đất nước mình mạnh lên làm sao như một anh Nhật nó cầm cái hộ chiếu là đi qua tất cả mọi nơi không ai xem xét gì cả anh Hàn Quốc bây giờ cũng thế còn người Việt Nam chúng ta thì tôi cũng mong đất nước lớn mạnh lắm và làm sao thật sự đoàn kết thật sự tốt đẹp để cho đất nước chúng ta mạnh đi đâu chúng ta cũng được kính trọng (1)”.

Derrida, triết gia Giải cấu trúc/ Hủy cấu trúc nổi tiếng đã đề xuất cách đọc/hiểu giải kiến tạo (deconstructive readings). Ông nhận định phát ngôn/văn bản không bao giờ chỉ chứa một nội hàm đơn độc.

Về mặt cá nhân phát ngôn của ông Ngô Quang Kiệt là thăng hoa của diễn ngôn trong tinh thần chính ông. Về mặt giáo hội công giáo, lời của tổng giám mục giáo phận Hà Nội trong cuộc gặp gỡ với nhà chức trách phải mang tiếng nói của số đông giáo dân, chứa đựng nguyện vọng của giáo hội/giáo phận. Cho nên những ai bênh vực ông đều không sai và những ai nghi ngờ ông vẫn có thể đúng.

Ben Stocking, nhà báo hãng thông tấn Mỹ AP đã dùng từ “vụng về” khi đề cặp đến câu nói nóng hổi kia của ông Kiệt. Nguyên văn “State media called Kiet’s patriotism into question when he made a clumsy statement on television (2)”.

Đại sứ của Tổng thống Bush về vấn đề Tự do Tôn giáo, John V. Hanford cũng có ý kiến: “Một trong những vấn đề là tài sản được sang tay nhiều lần. Trong trường hợp miếng đất nhiều người biết đến ở Việt Nam, tôi nghĩ trước đây của người Phật giáo sau nhờ người Pháp mới thành của người Công giáo cho nên rất phức tạp (3)”.

Trên diễn đàn BBC có một ý kiến rất sáng tỏ, trả lời cho phần câu nói của ông Kiệt mà truyền thông nhà nước không dẫn: “Lấy ẩn dụ đi nước ngoài bị nhục nhã tôi thấy không ổn. Việc kiểm tra an ninh chuyến bay hiện rất khó chịu, phải tụt giày, tháo nịt, đứng lên bục giăng thẳng hai tay cho máy rà vào nách vào háng, có nơi còn sờ bằng tay nữa. Vì an ninh chung đành vậy thôi. Còn việc miễn visa thì không dính líu đến đẳng cấp quốc gia. Mỹ có miễn visa cho Nga đâu (4)”. Như vậy ông Kiệt đã đánh đồng đẳng cấp quốc gia, sự văn minh, hùng mạnh với việc thân Âu – Mỹ, là đồng minh chí cốt với Âu – Mỹ chăng? Là tổng giám mục Hà Nội, chắc chắn ông đã đi các nước tây dương là chủ yếu. Không nói thì ai cũng hiểu thủ tục visa, sự soi xét bực mình trên thế giới diễn ra chủ yếu tại các nước Âu – Mỹ. Hướng về đỉnh cao văn minh, giàu có của nhân loại chẳng có gì sai. Song người Việt Nam có lý do để lo lắng ở sự “hướng tới” này.

Tuy vậy chủ điểm chính tôi muốn bàn thảo ở đây là có nên đánh đồng những người có ý kiến phản đối ông Kiệt với truyền thông chính phủ, cuộc cờ chính trị của ông Kiệt sai ở nước nào?

Hiển nhiên truyền thống của Ca tô giáo là can dự chính trị. Truyền thống ấy vẫn còn nhưng Ca tô giáo Việt Nam đang thiếu những con người có bản lĩnh chính trị. Nếu có bản lĩnh chính trị ông Kiệt đã không lỡ miệng. Nếu có bản lĩnh chính trị giáo phận Hà Nội đã không chọn mảnh đất tòa khâm sứ cũ đầy dấu ấn lịch sử và cực kỳ nhạy cảm để “đòi đất”. Nếu họ khởi đi bằng Thái Hà hoặc các khu khác và sau cùng là tòa khâm sứ thì có khi nhà nước đã nhượng bộ ở mức độ nào đó, như đã từng nhượng bộ tại La Vang chẳng hạn.

Cơ hội cho những đối thoại “hòa bình” giữa chính quyền và giáo hội công giáo là không còn ở tương lai gần. Không chỉ vì chiến dịch truyền thông “dữ dội” của nhà nước Việt Nam xung quanh phát ngôn của ông Kiệt. Không chỉ vì những “vận động” lương dân xung quanh Thái Hà tập trung phản đối hành động của nhà thờ. Không chỉ vì tổng giám mục lỡ lời. Không chỉ vì giáo phận Hà Nội chọn sai thời điểm và địa điểm “đòi đất”. Chính quyền Việt Nam vẫn chưa dùng con bài tẩy là giáo hội Phật giáo “quốc doanh” như ai đó từng phòng xa.

Những người phản bác ông Kiệt, khi phải chọn lựa, đã chọn ý hướng hơi thiên về chính quyền. Vì nói cho cùng, với tòa khâm sứ và những lùm xùm xung quanh, giáo phận của ông Kiệt đã đánh thẳng vào nỗi hận lịch sử của lương dân Việt Nam với công giáo và thực dân từ thế kỷ 19.

Ở tòa khâm sứ cũ, kẻ mạnh đã thắng, kẻ bản lĩnh hơn đã thắng. Đó là chân lý, là nhân – quả của đời sống thực. Sẽ có người vặn tôi về công bằng, công lý. Xin viện dẫn những lời ở cuối cuốn sách “Chủ nghiã nhân vị”, do Trung tâm đào tạo chủ nghĩa nhân vị Vĩnh Long xuất bản với sự đỡ đầu của Liên đoàn công chức thuộc Phong trào Cách mạng Quốc gia, sách do các linh mục Nguyễn Văn Tất, Thiên và Trần Mục Đích viết, cựu Bộ trưởng Nội vụ (VNCH) Lâm Lễ Trinh đề tựa: “Xã hội chỉ tốt đẹp nếu có những bất bình đẳng. Các nhà bác học mới có thể dậy cho những người ngu dốt. Người giàu mới có thể làm công việc từ thiện. Nếu như tất cả những bất bình đẳng đó đều không tồn tại, thì tìm ở đâu ra lòng từ thiện, ở đâu ra sự công bằng? Ở đâu ra sự hào hiệp?”

Lẽ thường, một cô gái thất tiết nên cẩn thận khi đề
cặp đến trinh phẩm trước mặt những người đàn ông nhạy cảm. Vì chỉ trong phép Chúa mới có biểu tượng trắng trong vĩnh hằng! Thật nặng nề và hơi quá đáng nếu nói giáo hội công giáo là kẻ thất tiết với lịch sử của dân tộc Việt Nam, nhưng bản thân kém cỏi không giúp tôi tìm được hình ảnh so sánh nào thích hợp hơn.


1) Theo Vietcatholic.net
2) http://www.philly.com/philly/wires/ap/news
3) http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/story
4) http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/story

© 2008 http://www.danchimviet.com

Giỗ đầu những người thợ xây cầu Cần Thơ

9 Comments

Chỉ còn 3 ngày nữa là đúng một năm thảm họa cầu Cần Thơ xảy ra.

Xin thắp sớm một nén nhang cho hương hồn những người thợ xây dựng xuất thân từ nông dân đã bỏ mình.

Người nông dân Việt Nam còn khổ nhiều lắm. Con đường khải ngộ từ “Nông dân có ruộng” đến “Nông dân có việc làm” là con đường đầy xương máu và nước mắt, vượt qua mông muội.

Ngày xưa Tây Dương tích lũy tư bản, phân hóa xã hội để tiến lên thịnh vượng bằng bóc lột, giết chóc, chiếm đất, nô lệ nông nô trong nước họ; và cướp phá, xâm lược, diệt chủng, buôn bán người ở mức độ toàn cầu.

Ngày nay một phần những thứ đó vẫn diễn ra trên những cánh đồng Việt Nam.

Thảm họa quốc gia mang tên “Cầu Cần Thơ” vẫn chưa được làm sáng tỏ, chưa rút ra những bài học đáng giá. Đau xót lắm thay!

Những người nông dân không cần nước mắt nhi nữ, không cần những sẻ chia bàn giấy tự huyễn. Họ cần tư tưởng để định hướng cho hành động, cho con đường vượt thoát.

Ai sẽ làm điều đó?

Hãy trả lời trong khói hương đám giỗ đầu những người thợ Cầu Cần Thơ!

Xử lý lính Ma tà bán nước đội mồ tái sinh trong “phép Chúa”

8 Comments

Tôi từng viết truyện ngắn Con rồng chữ, đã đăng trên báo Văn Nghệ Hội nhà văn VN và được chọn là 1 trong 10 truyện ngắn hay trên báo này trong năm 2007. Bằng thủ pháp văn học tôi đã nhận định rằng: Việc các chính thể VN xưa nay luôn “bắt chước” Trung Quốc không còn phù hợp ở thế kỷ 21 nữa. Một số âm Bắc Kinh tôi dùng trong truyện, nếu dịch ra thì rất “nặng”, ví dụ: Nuli – Sixiang 2.0 (Nô lệ tư tưởng 2 ngàn (năm)), “tinhthanhaibatrung.net/votim.rar” (tinh thần độc lập của Hai Bà Trưng bị bóp nghẹt (vỡ tim)). Nói chung đó là vấn đề kinh tế/chính trị với khẩu hiệu “Xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa.”. Ngay bản thân tựa truyện cũng đã “cả gan” bắt chước Cụ Hồ với “Con rồng tre” nổi tiếng.

Tuy vậy, nhìn mâu thuẫn của nhà nước cũng như đại bộ phận dân chúng phi công giáo với công giáo tại giáo xứ Hà Nội, cụ thể là vụ việc 42 Nhà Chung và Thái Hà, tôi nghĩ chính phủ VN không thể không xem lại chính sách của mình với công giáo, với Vatican, trên cơ sở tham khảo sâu sắc chọn lựa của chính phủ Trung Quốc.

Rõ ràng, chính phủ TQ chưa bao giờ bị động trước Vatican. Thậm chí nếu không được chuẩn thuận từ chính phủ TQ thì linh mục không được công nhận. Người TQ nắm rất rõ bản chất ấu trĩ, cực đoan và phản tiến bộ của những kẻ ăn trên ngồi tróc trong công giáo. Họ cũng hiểu rằng bản chất tôn giáo lúc nào cũng tốt đẹp nhưng những kẻ chăn chiên lại hết sức phản động. Nếu không có cuộc thay máu Ca Tô giáo bằng Tin Lành ở Châu Âu vài trăm năm trước thì sẽ không thể có cuộc cách mạng tư sản, có sự thinh vượng hôm nay, dù thịnh vượng ấy bao gồm cả tội ác diệt chủng, bóc lột, xâm lược, nô dịch hóa nhân loại ở mức độ toàn cầu.

Trước mắt, với các diễn biến hiện tại, dù sao tôi cũng thấy an lòng. Trò khuấy đảo, kích động, trả lương để các giáo dân ngây thơ ngồi đồng “đòi đất” đang được xử trí thông minh và có kiềm chế.

Cái may mắn nữa là công giáo Hà Nội có một ông TGM vừa dại vừa hung hăng, không biết lựa lời để giấu đi bản chất trung cổ của công giáo. Chỉ một câu nói phỉ báng quốc tịch Việt Nam thôi, đã đủ để mọi người phi công giáo xem ông là tên lính Ma tà bán nước, đội mồ sống dậy từ giữa thế kỷ 19.

Theo TTXVN, thông điệp cảnh cáo họ Ngô đã được tuyên. Có lẽ những biện pháp mạnh đang được dự trù. Tuy vậy tôi vẫn hy vọng giáo phận Hà Nội sớm tỉnh ngộ, sớm chấm dứt khiêu khích chính quyền để không xảy ra điều gì đáng tiếc.

“Chúng tôi rất là nhục nhã khi cầm cái hộ chiếu Việt Nam!”.

6 Comments

Phải chấm dứt ngay những hoạt động thách thức pháp luật ở khu đất 42 Nhà Chung

Báo Thanh Niên
21/09/2008 1:15

Hiện trạng khu đất 42 Nhà Chung đang được cải tạo thành công trình công ích – Ảnh: Ngọc Thắng
* Phóng viên Ben Stocking đã vi phạm pháp luật VN

Từ cuối năm 2007 đến nay, Tòa Tổng giám mục (TGM) Hà Nội đã liên tục tiến hành nhiều hoạt động vi phạm pháp luật nghiêm trọng tại khu đất 42 Nhà Chung, trong đó đỉnh điểm là lá đơn khiếu nại có nội dung thách thức chính quyền ngày 19.9.2008.

Theo hồ sơ tài liệu về nhà đất đang lưu trữ tại Sở Tài nguyên – Môi trường và Sở Xây dựng Hà Nội, khu đất số 40a (nay là số 42) Nhà Chung trước đây có nguồn gốc tôn giáo, trong thời kỳ Pháp thuộc do Hội truyền giáo ngoại quốc (Hội thừa sai Paris) quản lý và sử dụng. Sau khi hòa bình lập lại tại miền Bắc, thực hiện chính sách cải tạo XHCN về nhà đất của Nhà nước, ngày 21.11.1961, linh mục Nguyễn Tùng Cương (lúc đó là quản lý Tòa TGM Hà Nội) đã bàn giao cơ sở nhà đất số 42 Nhà Chung cho Nhà nước thống nhất quản lý. Liên tục từ đó đến nay, khu đất này được UBND quận Hoàn Kiếm quản lý, sử dụng làm trụ sở cơ quan phòng Văn hóa – Thể thao quận, Trung tâm Thể dục – Thể thao, Nhà văn hóa quận.

Từ năm 2001 đến nay, Tòa TGM Hà Nội đã gửi nhiều đơn thư kiến nghị lên Chính phủ, Quốc hội, UBND TP Hà Nội và các bộ ngành liên quan đề nghị trả lại khu đất 42 Nhà Chung. Tuy nhiên, căn cứ vào các quy định pháp luật hiện hành, đặc biệt là Nghị quyết số 23 ngày 26.11.2003 của Quốc hội khóa XI, chính quyền các cấp đã trả lời đơn kiến nghị của Tòa TGM Hà Nội với nội dung khẳng định không có cơ sở để trả lại khu đất này cho nhà thờ.

Tháng 9.2007, theo đề xuất của Bộ Xây dựng, Thủ tướng Chính phủ đã đồng ý cho UBND TP Hà Nội tổ chức lập dự án đầu tư xây dựng công viên cây xanh – nhà thư viện, phòng đọc tại khu đất 42 Nhà Chung, cũng như xem xét giải quyết nguyện vọng xin đất của Tòa TGM Hà Nội.

Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, ngày 22.7.2008, Sở Tài nguyên – Môi trường TP Hà Nội đã có văn bản gửi Hội đồng Giám mục Việt Nam hướng dẫn chi tiết về việc lập hồ sơ xin sử dụng đất theo đúng quy định của pháp luật, sau đó giới thiệu 3 địa điểm (khu đất 1 ha tại Cổ Nhuế, Từ Liêm; khu đất 2 ha tại Phùng Khoang, Từ Liêm; khu đất gần 7.500m2 tại 67 Phó Đức Chính, quận Ba Đình) để Tòa TGM lựa chọn xây dựng công trình phục vụ mục đích tôn giáo. Tiếp đó, ngày 18.9, UBND quận Hoàn Kiếm phối hợp với Sở Quy hoạch – Kiến trúc TP Hà Nội tổ chức họp thông báo quy hoạch kiến trúc của Dự án công viên cây xanh – thư viện phòng đọc phục vụ nhân dân tại khu đất 42 Nhà Chung tới đông đảo đại diện cộng đồng dân cư (có mời đại diện Tòa TGM) và các báo, đài Trung ương, địa phương. Công trình bắt đầu khởi công xây dựng vào sáng 19.9.

Tuy nhiên, Tòa TGM Hà Nội đã đáp lại hướng giải quyết đúng luật, có tình của chính quyền bằng thái độ bất hợp tác và tỏ rõ quan điểm phải đòi lại đất (chứ không xin đất) cho bằng được.

“Chiến dịch” đòi đất của Tòa TGM Hà Nội

Phóng viên Ben Stocking đã vi phạm pháp luật VN

Trả lời câu hỏi: Vì sao phóng viên AP Ben Stocking bị công an tạm giữ trong 2 giờ đồng hồ và bị đánh ngày 19.9.2008?

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Dũng trả lời:

Theo thông tin chúng tôi nhận được, sáng ngày 19.9.2008, phóng viên Ben Stocking đã vi phạm quy định của pháp luật Việt Nam, cố tình chụp ảnh tại khu vực đã có biển cấm. Những người làm nhiệm vụ giữ gìn trật tự đã nhắc nhở nhưng ông Ben Stocking cố tình không tuân thủ.

Hoàn toàn không có việc lực lượng an ninh Việt Nam hành hung ông Ben Stocking.

Theo Website Bộ Ngoại giao

Từ cuối năm 2007, Tòa TGM Hà Nội đã tổ chức và tiến hành một loạt hoạt động vi phạm pháp luật nhằm đòi lại khu đất 42 Nhà Chung.

Ngày 15.12.2007, TGM Ngô Quang Kiệt phát tán lên một số trang web nước ngoài bức thư có nội dung kêu gọi các linh mục, tu sĩ, chủng sinh và giáo dân Tổng giáo phận Hà Nội cầu nguyện và kích động việc đòi đất tại 42 Nhà Chung. Sự việc trở nên nghiêm trọng khi vào trưa ngày 25.1.2008, Tòa TGM Hà Nội đã kích động lôi kéo khoảng 100 linh mục và hơn 1.000 giáo dân tại Hà Nội, Hà Tây, Hòa Bình, Hà Nam, Nam Định, Bắc Ninh sang khu vực 42 Nhà Chung, đẩy đổ cổng sắt, tràn vào sân, dùng búa đập phá cửa, xô xát đánh bị thương bảo vệ cơ quan, sau đó dựng một cây thánh giá cao 5m ngay trước trụ sở phòng Văn hóa – thể thao quận và một nhà bạt khung sắt để túc trực canh giữ thánh giá.

Từ ngày 14.8 đến nay, lợi dụng việc một số linh mục, giáo dân xứ Thái Hà phá tường rào, chiếm đất của công ty may Chiến Thắng tại 178 Nguyễn Lương Bằng, Tòa TGM Hà Nội và TGM Ngô Quang Kiệt đã liên tục công khai phát tán bài phát biểu, thư hiệp thông, trực tiếp đến khu đất của công ty may Chiến Thắng để cùng linh mục, giáo dân cầu nguyện trái phép.

Ngay sau khi UBND quận Hoàn Kiếm công bố quy hoạch chi tiết kiến trúc dự án tại khu đất 42 Nhà Chung vào chiều ngày 18.9, sáng 19.9, Tòa TGM Hà Nội đã gửi đơn khiếu nại khẩn cấp do TGM Ngô Quang Kiệt ký tên phản đối việc xây dựng công viên tại khu đất. Trong đơn có nhiều nội dung xuyên tạc sự thật như: “phong tỏa Tòa TGM Hà Nội”, “sử dụng các lự
c lượng vũ trang để hỗ trợ cho việc phá hoại tài sản của chúng tôi”, sử dụng ngôn từ trịch thượng, tỏ thái độ coi thường pháp luật và thách thức chính quyền như “chúng tôi có quyền sử dụng những khả năng có thể để bảo vệ tài sản của chúng tôi” (?). Chưa dừng lại đó, Tòa TGM Hà Nội đã bố trí loa với công suất cực lớn chĩa từ Nhà thờ Lớn sang khu đất và địa bàn dân cư bên cạnh để phát thanh nội dung đơn khiếu nại và những lời lẽ kích động khác.

Về thái độ của một Tổng giám mục

Đến lúc này, có thể khẳng định, tất cả những hoạt động vi phạm pháp luật của giáo sĩ, giáo dân diễn ra tại khu đất 42 Nhà Chung và 178 Nguyễn Lương Bằng trong thời gian qua có sự xúi giục, kích động, chỉ đạo của Tòa TGM Hà Nội, trong đó có vai trò rất rõ của TGM Ngô Quang Kiệt. Thực chất, mục đích sâu xa của họ là lấy việc kích động giáo dân đòi đất ở hai khu vực này để tạo nên hiệu ứng đòi đất có nguồn gốc tôn giáo ở các nơi khác trong cả nước, gây mất ổn định, an ninh trật tự xã hội.

Trong buổi làm việc giữa Chủ tịch UBND TP Hà Nội Nguyễn Thế Thảo và đại diện Tòa TGM Hà Nội vào trưa ngày 20.9, TGM Ngô Quang Kiệt cùng một số linh mục thân tín đã lộ rõ ý đồ đòi đất bằng mọi giá, bất chấp pháp luật khi liên tục phủ nhận, bác bỏ hiệu lực các văn bản, quy định pháp luật của nước CHXHCN Việt Nam, thậm chí còn cho rằng Nghị quyết 23 của Quốc hội là “vi hiến”, rằng quy định của Hiến pháp “đất đai thuộc sở hữu toàn dân, giao cho Nhà nước quản lý” là không có giá trị! Đáng buồn hơn, vào cuối buổi làm việc, ông Ngô Quang Kiệt còn phát biểu một câu khiến cho tất cả những ai có lòng tự tôn dân tộc đều cảm thấy bị xúc phạm nặng nề: “Chúng tôi đi nước ngoài rất nhiều và chúng tôi rất là nhục nhã khi cầm cái hộ chiếu Việt Nam!”.

Tuyệt đại đa số những giáo dân Việt Nam lâu nay luôn kính Chúa yêu nước, sống Phúc âm trong lòng dân tộc sẽ nghĩ gì về một một vị chủ chăn có thái độ hằn học, lạc loài như vậy đối với chính đất nước sinh ra ông ta? Một TGM như vậy liệu có còn xứng đáng để các giáo dân và giáo sĩ tin tưởng?

Nhóm PVXH

Họp báo về Dự án xây dựng công trình Công viên 42 Nhà Chung (Hà Nội)

* Chủ tịch UBND TP Hà Nội tiếp Tổng giám mục Giáo phận Hà Nội

Ngày 20.9, UBND TP Hà Nội đã tổ chức họp báo thông tin về nhà đất, giải phóng mặt bằng để xây dựng công viên cây xanh – nhà thư viện, phòng đọc (gọi tắt là dự án công trình Công viên 42 Nhà Chung) và tình hình vi phạm pháp luật của một số giáo sĩ, giáo dân trong thời gian qua tại khu vực 42 Nhà Chung, Q.Hoàn Kiếm, Hà Nội. Ông Vũ Hồng Khanh – Phó chủ tịch UBND TP Hà Nội và ông Lại Hồng Khánh – Trưởng ban Tuyên giáo Thành ủy Hà Nội chủ trì.

Thay mặt UBND TP, ông Vũ Hồng Khanh thông báo:

Theo hồ sơ tài liệu về nhà đất đang lưu trữ tại Sở Tài nguyên-Môi trường và Sở Xây dựng Hà Nội, nguồn gốc nhà đất số 40a (nay là số 42) phố Nhà Chung mang bằng khoán điền thổ số 1765 khu Nhà thờ.

Trong thời kỳ thực hiện chính sách của Nhà nước về nhà đất, ngày 24.11.1961, Linh mục Nguyễn Tùng Cương – lúc đó là quản lý Tòa Tổng giám mục (TGM) Hà Nội đã bàn giao cơ sở nhà đất 40a (nay là số 42) phố Nhà Chung cho Nhà nước thống nhất quản lý. Liên tục từ đó đến nay, khu nhà đất 42 Nhà Chung do UBND Q.Hoàn Kiếm quản lý, sử dụng làm trụ sở cơ quan Phòng Văn hóa – Thể thao quận, Trung tâm Thể dục – Thể thao, Nhà văn hóa quận.

Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, UBND TP Hà Nội đã giao UBND Q.Hoàn Kiếm làm chủ đầu tư dự án xây dựng công trình Công viên 42 Nhà Chung. Chiều 18.9.2008, UBND Q.Hoàn Kiếm phối hợp với Sở Quy hoạch – Kiến trúc đã tổ chức họp thông báo quy hoạch kiến trúc của dự án này tới đông đảo đại diện cộng đồng dân cư, các cơ quan, đơn vị, tổ chức trong khu vực, đại diện cơ sở tôn giáo và nhiều giáo dân trên địa bàn (trong đó có mời đại diện Tòa TGM). Ngày 19.9.2008, các lực lượng chức năng của TP đã tiến hành tháo dỡ hàng rào ngăn giữa khu đất tại 42 Nhà Chung và phố Nhà Chung để đưa phương tiện máy móc kỹ thuật, vật tư phục vụ tổ chức thi công công trình liên tục trong ngày, phấn đấu hoàn thành trong thời gian ngắn nhất để sớm đưa vào khai thác, sử dụng, đáp ứng nhu cầu của nhân dân.

Ngay sau khi UBND Q.Hoàn Kiếm tổ chức công bố quy hoạch kiến trúc dự án, chiều 18.9.2008, Tòa TGM giáo phận Hà Nội đã có đơn đề ngày 19.9.2008 khiếu nại phản đối việc xây dựng công viên cây xanh tại 42 Nhà Chung. Đặc biệt, Tòa TGM Hà Nội còn chỉ đạo bố trí loa với công suất cực lớn chĩa từ Nhà thờ Lớn sang khu đất và địa bàn dân cư khu vực để kích động giáo dân thể hiện sự coi thường pháp luật Nhà nước. Bên cạnh đó, Tòa TGM Hà Nội đã quyết định lùi buổi lễ kính Đức mẹ sầu bi từ 15.9 sang 21.9.2008 (chủ nhật) nhằm tạo thêm thời gian huy động người để tiến hành các hoạt động tôn giáo trái phép, gây mất an ninh trật tự, gây áp lực với chính quyền.

Từ những hành động này, có thể khẳng định: Tòa TGM Hà Nội chưa từ bỏ ý định đòi lại đất, đã có sự phối hợp chặt chẽ với các giáo xứ, giáo phận ở các địa phương khác, kích động, đẩy giáo dân ra cầu nguyện trái phép, lấy việc đòi đất tại 42 Nhà Chung, giáo xứ Thái Hà để gây mất ổn định, an ninh trật tự xã hội.

Để tiếp tục thi công dự án công trình Công viên 42 Nhà Chung, ông Vũ Hồng Khanh cho biết, UBND TP Hà Nội đã giao UBND Q.Hoàn Kiếm tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các cơ quan, đơn vị liên quan tập trung đôn đốc thi công công trình đảm bảo chất lượng và tiến độ trong thời gian sớm nhất để phục vụ cho các sinh hoạt cộng đồng dân cư. Đồng thời giao Công an TP tổ chức lực lượng bảo vệ thi công an toàn, không gây tắc nghẽn giao thông trên các tuyến đường xung quanh khu vực 42 Nhà Chung trong suốt thời gian thi công.

* Sáng 20.9, Chủ tịch UBND TP Hà Nội Nguyễn Thế Thảo đã tiếp Tổng giám mục Giáo phận Hà Nội Ngô Quang Kiệt và các giáo sĩ.

Chủ tịch TP cũng nhấn mạnh chủ trương xây dựng công trình Công viên 42 Nhà Chung là đúng đắn, hợp lòng dân, phù hợp với nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân, trong đó có bà con giáo dân…

Các cơ quan chức năng của TP cũng đã trả lời cụ thể 4 nội dung được đề cập trong đơn khiếu nại khẩn cấp của Tòa TGM Hà Nội. Liên quan đến vấn đề an ninh trật tự khi triển khai xây dựng tại khu vực 42 Nhà Chung, TP khẳng định không có chuyện lực lượng cảnh sát sử dụng các biện pháp để trấn áp, phong tỏa Tòa TGM Hà Nội…

TGM Ngô Quang Kiệt đã cảm ơn Chủ tịch UBND TP có buổi tiếp cởi mở, chân tình, mong muốn có sự hài hòa trong khối đoàn kết thống nhất, hy vọng qua đây hai bên sẽ hiểu nhau hơn….

Theo TTXVN

Gửi ông không muốn làm người Việt

Người Việt nói: “Chim có tổ, người có tông”. Ví dụ như tôi, có tên, có họ của người Việt. Xung quanh tôi, mỗi người có tên khác, họ khác cũng vẫn là tên họ Việt. Chúng tôi tự hào là người Việt. Tự hào thuộc về dân tộc Việt – dân tộc bao ngàn năm nay không luỵ ai, không sợ ai, không bao giờ xúc phạm đến ai; Dân tộc đời này sang đời khác nhắn nhủ nhau: “Bầu ơi thương lấy bí cùng”; Dân tộc này, đàn bà lúc gian khó nhất sống theo nguyên tắc: “Chồng ta áo rách, ta thương”, đàn ông phút tử sinh nói rằng: “Ta thà làm quỷ nước Nam!”. Thấy tên ông cũng là những âm sắc tiếng Việt, mà sao ông có thể mở miệng nói rằng: Ra nước ngoài, ông xấu hổ là người Việt.

Ông đã nói vậy, chẳng có ai ép ông làm người Việt đâu. Hôm nay, người Việt ra nước ngoài được cầm quyển hộ chiếu Việt Nam trên tay là do cả sông máu Việt đã đổ ra, cả núi xương Việt đã chất chồng để có độc lập tự do. Có độc lập, tự do mới có công dân Việt, mới có hộ chiếu Việt. Máu xương ấy dẫu nhiều, nhiều lắm, cũng không có để cho ông lạm hưởng. Tục ngữ Việt Nam có câu “Thóc đâu mà đãi gà rừng”.

Dĩ nhiên, ông có thể có những hộ chiếu khác. Vì những lí do rất khác với tư tưởng của Chúa, ai đó có thể cho ông hộ chiếu của xứ khác. Nhưng ông cũng nên biết: Ở những xứ ấy- ở phương Tây- người ta cũng có câu châm ngôn: “Con chim làm bẩn tổ của mình là con chim đáng kinh tởm”.

Trần Đăng Tuấn

Trí thức Tây Dương “chửi” Ca Tô Giáo

6 Comments

QUA CÁC THỜI ĐẠI

DANH NHÂN TRÍ THỨC ÂU MỸ

NGHĨ GÌ VỀ THẦN (GOD), KI-TÔ GIÁO?

Trần Chung Ngọc Sưu Tầm

Trong những phần trích dẫn sau đây, danh từ “tôn giáo” chỉ những tôn giáo độc thần như Ki Tô Giáo, và danh từ “thần” (God) chỉ vị thần của tôn giáo đó mà các tín đồ thờ phụng. Những từ này không áp dụng cho Phật Giáo, Lão Giáo hay Khổng Giáo.

1. Simonides (556-468 TTL = Trước Thường Lịch), Thi sĩ Hi Lạp: * Càng suy nghĩ về chủ đề Thần, tôi càng thấy nó trở nên tối tăm. (The more I consider the subject of God, the more obscure it becomes.)

2. Empedocles (495-435 TTL), Triết gia Hi Lạp: * Không có thần nào làm ra thế giới, cũng chẳng có người nào làm ra; thế giới từ xưa vẫn luôn luôn như vậy. (None of the gods has formed the world, nor has any man; it has always been.)

3. Aristotle (384-322 TTL), Triết Gia Hi Lạp: * Con người tạo ra Thần theo hình ảnh của chính con người, không chỉ theo hình dạng của con người mà còn theo lối sống của con người. (Men creates gods after their own image, not only with regard to their form but with regard to their mode of life.)

4. Demosthenes (384-322 TTL), Nhà hùng biện thành Athenes: * Chúng ta tin bất cứ cái gì chúng ta muốn tin. (We believe whatever we want to believe.)

5. Epicurus (341-270 TTL), Triết Gia Hi Lạp: * Hoặc Thần muốn hủy bỏ sự ác, và không thể; Hoặc Thần có thể hủy bỏ nhưng không muốn.. Nếu Thần muốn, nhưng không thể làm được, Thần bất lực. Nếu Thần có thể, nhưng không muốn, Thần thật là xấu xa.. Nếu Thần không thể và cũng không muốn, Thần vừa bất lực vừa xấu xa. Nhưng nếu (như họ thường nói) Thần có thể hủy bỏ sự ác Và Thần thật sự muốn như vậy, Tại sao trên cõi đời này lại có sự ác? (Either god wants to abolish evil, and cannot; Or he can, but does not want to; If he wants to, but cannot, he is impotent. If he can, but does not want to, he is wicked.. If he neither can, nor wants to, He is both powerless and wicked. But if (as they say) god can abolish evil, And god really wants to do it, Why is there evil in the world?)

6. Lucretius (99-55 TTL), Triết Gia La Mã: * Mọi tôn giáo đều tuyệt vời đối với người dốt nát, có ích đối với chính trị gia, và lố bịch đối với triết gia. (All religions are equally sublime to the ignorant, useful to the politician, and ridiculous to the philosopher.)

7. Statius (~45-96 TL = Thường Lịch), Thi sĩ La Mã: * Chính là sự sợ hãi trong thế giới đã tạo ra các thần. (It was fear in the world that created the gods.)

8. Tacitus (55-120 TL), Sử gia La Mã: * Ki Tô Giáo là một sự mê tín có tính truyền nhiễm.(Như bệnh dịch hạch. TCN) (Christianity is a pestolent superstition.)

9. Michel de Montaigne (1533-1592), Văn sĩ Pháp: * Không có gì được tin chắc bằng những điều mà chúng ta biết ít nhất. (Nothing is so firmly believed as what we least know); * Những người có trình độ hiểu biết đơn giản, ít đầu óc tìm tòi và ít học vấn là những tín đồ Ki Tô tốt (Men with simple understanding, little inquisitive and little instructed make good Christians.)

10. Sir Francis Bacon (1561-1626), Khoa học gia và triết gia Anh: * Người tin thuyết Chúa Ba Ngôi tin rằng một trinh nữ chính là mẹ của một đứa con đã tạo ra bà ta. (The trinitarian believes a virgin to be the mother of a son who is her maker.)

11. Ferdinand Magellan (1480-1521), Nhà hàng hải Bồ Đào Nha: * Giáo hội bảo rằng trái đất thì phẳng dẹt, nhưng tôi biết rằng nó hình cầu, vì tôi đã nhìn thấy bóng nó trên mặt trăng, và tôi tin vào một cái bóng hơn là tin vào giáo hội. (The church says the earth is flat, but I know that it is round, for I have seen the shadow on the moon, and I have more faith in a shadow than in the church)

12. Thomas Hobbes (1588-1679), Tư tưởng Gia Anh: * Thần học là vương quốc của sự tối tăm (Theology is the kingdom of darkness); * Tôn giáo giống như những viên thuốc mà người ta phải nuốt chửng cả viên. (Religions are like pills, which must be swallowed whole without chewing).

13. Baron de Montesquieu (1689-1755), thành viên Hàn Lâm Viện Pháp: * Không có vương quốc nào phải chịu đựng nhiều nội chiến như là vương quốc của Chúa Ki-Tô (No kingdom has ever suffered as many civil wars as the kingdom of Christ); * Nếu các hình tam giác mà tạo ra một v
thần thì chúng sẽ làm cho ông ta có ba cạnh
(If triangles made a god, they would give him three sides); * Lịch sử có đầy những cuộc chiến tranh tôn giáo; nhưng, chúng ta phải nhận xét cẩn thận, không phải vì có nhiều tôn giáo mà có nhiều chiến tranh, mà vì tinh thần không khoan nhượng trong một tôn giáo (Ca-Tô giáo) nghĩ rằng mình có quyền thống trị (History is full of religious wars; but, we must take care to observe, it was not the multiplicity of religions that produce these wars, it was the intolerating spirit which animated that one which thought she had the power of governing).

14. Voltaire (1694-1778), Văn hào, Triết gia .. Pháp: * Ki-Tô giáo là tôn giáo lố bịch nhất, vô lý nhất và đẫm máu nhất làm nhiễm độc thế giới. (Christianity is the most ridiculous, the most absurd and bloody religion that has ever infected the world); * Trong 1700 năm, Ki Tô giáo không làm gì khác ngoài việc gây hại cho nhân loại (For 1700 years, the Christian sect has done nothing but harm; * Những tín đồ Ki-Tô là những người bất khoan dung nhất (Christians have been the most intolerant of all men); * Hãy nghiền nát cái đồ ô nhục (Easez l’infâme! [crush the infamous thing – Christianity]; * Vô thần là thói xấu của một số nhỏ những người thông minh (Atheism is the vice of a few intelligent people); * Thần Ki-Tô luôn luôn ở phía những tiểu đoàn mạnh nhất (God is always on the side of the heaviest battalions); * Tai họa giáng vào thế giới qua tội lỗi của Adam. Nếu cái tên ngu đần ấy không phạm tội, chúng ta đã có thể không bị làm khổ bởi bệnh đậu mùa, bệnh ghẻ, hoặc môn thần học, hoặc đức tin duy nhất có thể cứu rỗi chúng ta (Evil came into the world through the sin of Adam. If that idiot had not sinned, we should not have been afflicted with the smallpox, nor the itch, nor theology, nor the faith which alone can save us.); * Lời của Thần Ki Tô là lời của các linh mục; sự vinh quang của Thần Ki Tô là sự hãnh diện của các linh mục; ý của Thần Ki Tô là ý của các linh mục; xúc phạm Thần là xúc phạm các linh mục; tin vào Thần là tin vào mọi điều linh mục nói (The word of God is the word of the priests; the glory of god is the pride of the priests; the will of god is the will of the priests; to offend god is to offend the priests; to believe in god is to believe in all that the priests tell us.)

15. David Hume (1711-1776), Triết gia Tô Cách Lan: * Những tín đồ Ca-Tô là một hệ phái trí thức? Trong mọi tôn giáo, tôn giáo vô lý và vô nghĩa nhất là tôn giáo mà trong đó những người hiến thân cho Chúa ăn thịt Chúa mình sau khi đã tạo ra ông ấy (The Roman Catholics are a very learned sect?..Of all religions, the most absurd and nonsensical is that whose votaries (người hiến thân cho Chúa) eat, after having created, their deity).

16. Denis Diderot (1713-1784), Khoa học Gia Pháp: * Ki-Tô giáo dạy chúng ta phỏng theo một vị Thần độc ác, ngấm ngầm, ghen tuông, và không thể nguôi trong những cơn phẫn nộ của ông ta (The Christian religion teaches us to imitate a God that is cruel, insidious, jealous, and implacable in his wrath); * Sự cuồng tín chỉ cách sự man rợ có một bước (Fanaticism is just one step away from barbarism); * Hãy xét cái hình ảnh mà người ta vẽ cho chúng ta về Đấng Tối Cao, người có đầu óc ngay thẳng nhất phải ước rằng hắn ta đừng có hiện hữu (Considering the picture that is drawn for us of the Supreme Being, the most righteous soul must be tempted to wish that he did not exist).

17. Edward Gibbon (1737-1794), Sử gia Anh: * Đối với cái nhìn triết lý, những thói xấu của giới giáo sĩ thì ít nguy hại hơn những đức tính của họ rất nhiều (To a philosophic eye, the vices of the clergy are far less dangerous than their virtues.); * Những tội nghiêm trọng nhất đã bị dẹp bỏ, Người đại diện của Chúa Ki Tô (Giáo hoàng John XXIII, 1414) chỉ bị kết tội là ăn cướp, sát nhân, hãm hiếp, giao hợp đồng giống, và loạn luân (The most serious charges were suppressed; the Vicar of Christ (Pope John XXIII, 1414) was accused only of piracy, murder, rape, sodomy, and incest.)

18. Pierre Bayle (1647-1706), Triết gia Pháp: * Về những vấn đề tôn giáo, rất dễ lừa dối một người, nhưng rất khó mà giải hoặc hắn (In matters of religion, it is very easy to deceive a man, and very hard to undeceive him); * Không có quốc gia nào hiếu chiến như là những quốc gia theo Ki Tô Giáo (No nations are more warlike than those which profess Christianity)

19. Samuel Butler (1612-1680), Thi sĩ Anh: * Chúa Ki-Tô chỉ bị đóng đinh trên thập giá một lần, và trong vài tiếng đồng hồ. Hãy nghĩ tới hàng ngàn người bị hắn đóng đinh trên thập giá một cách thầm lặng từ khi đó (Christ was only crucified once, and for a few hours. Think of thousands he has been crucifying in a quiet way ever since).

20. Daniel Defoe (1660-1731), Tiểu thuyết gia Anh: * Trong tất cả những tai họa mà nhân loại phải chịu đựng, sự độc đoán của giới giáo sĩ là tệ hại nhất (Of all the plagues with which mankind are cursed, Ecclesiastic tyranny’s the worst.)

21. Frederik the Great (1712-1786), Vua nước Phổ: * Mọi nhà thần học đều giống nhau.. Mục đích của họ luôn luôn là đặt bạo quyền trên tâm thức con người. Do đó họ khủng bố mọi người chúng ta
dám táo bạo phanh phui sự thật
(Theologians are all alike .. Their aim is always to wield despotic authority over men’s consciences. They therefore persecute all of us who have the temerity to unveil the truth.)

22. Hugo Grotius (1583-1645), Học giả Hòa Lan: * Người nào đọc lịch sử giới giáo sĩ không đọc gì khác ngoài sự gian giảo và điên rồ của các giám mục và linh mục. (He who reads eccleciastical history reads nothing but the roguery and folly of bishops and churhmen.)

23. Claude Adrien Helvétius (1715-1771), Triết gia Pháp: * Chúng ta không bảo người mà tin rằng ăn thịt Chúa mình là điên; chúng ta bảo rằng điên, một người nói rằng hắn là Giê-su Ki Tô. (A man who believes that he eats his God we do not call mad; a man who says he is Jesus Christ, we call mad.)

24. Baron d’Holbach (1723-1789), Triết gia Pháp: * Nếu sự không hiểu thiên nhiên đã sinh ra những thần, thì sự hiểu biết về thiên nhiên sẽ đi đến chỗ dẹp bỏ những thần này. (If the ignorance of nature gave birth to the gods, knowledge of nature is destined to destroy them.)

25. Benjamin Franklin (1706-1790), Khoa học gia Mỹ: * Cách nhìn mọi sự việc bằng đức tin là nhắm con mắt của lý trí. (The way to see by faith is to shut the eye of reason).

26. Immanuel Kant (1724-1804), Triết gia Đức: * Cái chết của tín lý là sự sinh ra của đạo đức; Lý trí không bao giờ có thể chứng minh sự hiện hữu của Thần KiTô (The death of dogma is the birth of morality; Reason can never prove the existence of God.)

27. John Milton (1608-1674), Thi sĩ Anh: * Đạo Ca-Tô Rô-Ma có ít tính chất tôn giáo hơn là sự chuyên chế của giới linh mục, những người trang bị với những bổng lộc của quyền lực dân sự, với chiêu bài tôn giáo, đã chiếm lấy quyền của Chúa (Romanism is less a religion than a priestly tyranny armed with the spoils of civil power which, on the pretext of religion, it hath seized against the command of Chist himself.)

28. Lady Mary Wortley Montagu (1689-1762), Văn sĩ Anh: * Trên khắp thế giới, các linh mục có thể nói láo, và các tín đồ tin, (Priests can lie, and the mob believe, all over the world).

29. Thomas Paine (1737-1809), triết gia Anh, tác giả cuốn sách nổi tiếng Thời Đại Của Lý Trí: * Cuốn Tân Ước dạy chúng ta những gí? Tin rằng Đấng Toàn Năng phạm tội lăng nhăng với một người đàn bà đã có chồng; và tin vào cái chuyện lăng nhăng này gọi là đức tin. (What is the New Testament teaches us? To believe that the Almighty committed debauchery with a woman engaged to be maried; and the belief of this debaucery is called faith; * Nguồn gốc của sự xấu xa nhất, của những sự độc ác khủng khiếp nhất, và những sự khổ sở to lớn nhất giáng lên đầu nhân loại là ở trong cái gọi là mạc khải, hay tôn giáo mạc khải (The most detestable wickedness, the most horrid cruelties, and the greatest miseries that have afflicted the human race have had their origin in this thing called revelation, or revealed religion); * Tin vào một vị Thần độc ác làm cho con người thành độc ác (Belief in a cruel god makes a cruel man.); * Một thầy giáo giỏi có ích hơn là 100 linh mục (One good school master is of more use than a hundred priests.)

30. Ethan Allen (1738-1789), Nhà cách mạng Mỹ: * Giáo lý Chúa Ba Ngôi là vô căn cứ, và có khuynh hướng đưa đến mê tín và thờ hình tượng (The doctrine of the Trinity is destitute of foundation, and tend manifestly to superstition and idolatry.)

31. Thomas Jefferson (1743-1826), Tổng Thống Mỹ: * Trong mọi quốc gia và trong mọi thời đại, linh mục đều đã thù nghịch đối với tự do.(In every country and in every age, the priest has been hostile to liberty). * Thần Ki-Tô là một nhân vật có những tính cực kỳ độc ác, bất khoan dung, đồng bóng , và bất công. (The God is a being of terrific character – cruel, vindictive, capricious, and unjust); * Đã tới 5, 60 năm từ ngày tôi đọc cuốn Khải Huyền, và từ đó tôi coi nó chỉ là những lời điên dại mê sảng của 1 kẻ cuồng điên (It has been 50 and 60 years since I read the Apocalypse, and I then considered it merely the ravings of a maniac).

32. James Madison (1751-1836), Tổng Thống Mỹ: * Trong gần 15 thế kỷ, cơ sở hợp pháp của Ki Tô giáo đã được phán xét. Hoa trái của Ki Tô giáo là gì? Ở khắp nơi, không nhiều thì ít, sự lười biếng và hãnh diện của giới giáo sĩ, sự ngu tối và quỵ lụy của giới tín đồ, sự mê tín, cố chấp và bạo hành trong cả hai giới (During almost 15 centuries has the legal establishment of Christianity been on trial. What has been its fruits? More or less in all places, pride and indolence in the clergy; ignorance and servility in the laity; in both, superstition, bigotry, and persecution.)

33. Napoleon Bonaparte (1769-1821), Hoàng đế Pháp: * Hiệp hội Giêsu là hội nguy hiểm nhất, và đã gây nên nhiều tổn hại hơn tất cả những hội tôn giáo khác (The Society of Jesus is the most dangerous of orders, and has done more mischief than all the others); * Kiến thức và lịch sử là những kẻ thù của tôn giáo (Knowledge and history are the enemies of religion); * Ở mọi nơi và mọi thời, linh mục đã đưa vào sự gian dối và sai lầm (Priests have everywhen and everywhere introduced fraud and falsehood)

34. Arthur Schopenhauer (1788-1860), Triết gia Đức: * Bạn có thể ghi nhận
là đức tin và kiến thức thì liên hệ với nhau như là hai cán cân; khi cán cân bên này lên thì cán cân kia xuống
(You may observe that faith and knowledge are related as the scales of a balance; when the one goes up, the other goes down); * Những hoa trái của Ki Tô giáo là chiến tranh tôn giáo, những cuộc tàn sát, những cuộc chiến tranh thập giá, những tòa án xử dị giáo, sự tiêu diệt các thổ dân Mỹ, và đưa những nô lệ Phi Châu vào thay thế (The fruits of Christianity were religious wars, butcheries, crusades, inquisitions, extermination of the natives in America, and the introduction of African slaves in their place); * Ca-Tô giáo là tôn giáo lên thiên đường bằng cách cầu xin, vì nó quá phiền toái để tự mình đạt được. Linh mục là những kẻ buôn bán thiên đường (The Catholic religion is an order to obtain heaven by begging, because it would be too troublesome to earn it. The priest are the brokers for it); * Mọi tín lý, bất kể là vô lý tới đâu, khi cấy vào con người từ nhỏ, chắc chắn là ở trong đó suốt đời (Any dogma, no matter how extravagantly absurd, inculcated in childhood, is sure to retain its hold for life.)

35. Percy Bysshe Shelley (1792-1822), Thi sĩ Anh: * Ki Tô giáo thật sự cũng phạm phải nhiều điều độc ác như Do Thái giáo, và còn hơn Do Thái giáo về mức tan hoang mà nó gây nên. 11 triệu người, đàn ông, đàn bà, và trẻ con bị giết trong những chiến tranh, bị sát hại trong khi đang ngủ, thiêu sống trong những ngày hội hè công cộng, đầu độc, tra tấn, ám sát, và cướp bóc trong tinh thần của Tôn Giáo hòa bình, và cho sự vinh quang của vị Thần nhân từ nhất. Cái tên của Thần Ki Tô đã làm hàng rào Thánh bao quanh mọi tội ác (Christianity indeed has equaled Judaism in atrocities, and exceeded it in the extent of its desolation. 11 million of men, women, and children have been killed in battle, butchered in their sleep, burned to death at public festivals of sacrifice, poisoned, tortured, assassinated, and pillaged in the spirit of the Religion of Peace, and for the glory of the most merciful God.; The name of God has fenced about all crime with holiness.) * Ki Tô giáo chất đầy trái đất với quỷ, hỏa ngục với con người, và thiên đường với những nô le(Christianity peoples earth with demons, hell with men, and heaven with slaves.)

36. John Stuart Mill (1806-1873), Triết gia Anh: * Giáo hội bất khoan dung nhất trong mọi giáo hội: giáo hội Ca-Tô Rô-ma (The most intolerant of churches, the Roman Catholic Church.)

37. Abraham Lincoln (1809-1865), Tổng Thống Mỹ: * Cả hai (Ca Tô và Tin Lành) đều đọc cùng một cuốn thánh kinh, cầu nguyện cùng một Thần, và người này viện đến sự giúp đỡ của Thần chống người kia (Both read the same Bible, and pray to the same God; and each invokes His aid against the other.)

38. Charles Darwin (1809-1882), Khoa học gia Anh, nhà lập thuyết Tiến Hóa: * Khoa học và chúa KiTô chẳng có liên hệ gì với nhau. Tôi không tin đã có một sự mạc khải nào (Science and Christ have nothing to do with each other. I do not believe that any revelation has ever been made).

39. Charles Dickens (1812-1870), Văn hào Anh: * Tôi tin rằng sự phổ biến đạo Ca-Tô là phương cách khủng khiếp nhất của sự thoái hóa chính trị và xã hội còn sót lại trên thế giới. Những nhà truyền giáo là những kẻ quấy rầy hạng nhất, và làm cho mọi nơi mà họ tới trở thành tệ hơn (I believe the dissemination of Catholicity to be the most horrible means of political and social degradation left in the world. Missionaries are perfect nuisances, and leave every place worse than they found it.)

40. Thomas Henry Huxley (1825-1895), Khoa học gia Anh: * Tín điều về sự không thể sai lầm của Thánh kinh cũng chẳng hiển nhiên hơn tín điều về không sự sai lầm của các giáo hoàng (The dogma of infallibility of the Bible is no more self-evident than is that of the infallibility of the popes.) * Từ một nô lệ của chế đô giáo hoàng, người trí thức đã trở thành thân trâu ngựa của Thánh kinh (có nghĩa là bỏ Ca-Tô sang Tin lành. TCN) From being a slave of the papacy, the intellect was to become the serf of the Bible.) * Hệ thống giáo sĩ là kẻ thù sống chết của khoa học. Thuyết tiến hóa loại bỏ thuyết sáng tạo và mọi sự can thiệp của Thần Ki Tô (The ecclesiastical system is the deadly enemy of science. Evolution excludes creation and all other kinds of supernatural interventions.) * Hoài nghi là bổn phận cao nhất và đức tin mù quáng là tội không thể tha thứ được (Skepticism is the highest duty and blind faith the one unpardonable sin.)

41. Leo Tolstoy (1828-1910) văn hào Nga: * Tôi tin chắc rằng giáo lý của giáo hội (Ca-Tô) là một sự nói láo xảo quyệt và xấu xa theo lý thuyết, và là sự pha trộn của sự mê tín thô thiển nhất và trò ma thuật về phương diện thực hành (I am convinced that the teaching of the church is in theory a crafty and evil lie, and in practice a concoction of gross superstition and witchcraft.) * Đúng vậy, tội không chấp nhận một thuyết không hiểu được là thuyết Ba Ngôi, và huyền thoại về sự sa ngã của con người, vì chúng vô lý trong thời đại của chúng ta. (It is true, I deny an incomprehensible Trinity, and the fable regarding the fall of man, which is absurd in our day.) * Đúng vậy, tôi không chấp nhận cái chuyện có tính cách xúc phạm về một vị Thần sinh ra từ một trinh nữ đề chuộc tội cho nhân loại (It is true, I deny the sacrilegious story of a God born of a virgin to redeem the race.)

Robert G. Ingersoll (1833-1899), Học giả Mỹ: * Tôi muốn gì cho ngày giáng sinh? Tôi bắt giáo hoàng phải vứt đi cái mũ ba tầng của ông ta, cởi bỏ bộ quần áo thiêng liêng của ông ta, và thừa nhận rằng ông ta không hành động cho Thần Ki Tô – không phải là không thể sai lầm – mà chỉ l
một người Ý thông thường. Tôi bắt tất cả những hồng y, tổng giám mục, giám mục, linh mục thừa nhận rằng họ chẳng biết gì về thần học, về thiên đường hay hỏa ngục, về số phận tương lai của nhân loại, về quỷ hay hồn ma, về các thần hay thiên thần. Tôi muốn toàn thể thế giới không còn bất công, không còn mê tín
(What I want for Christmas? I would have the pope throw away his tiara, take off his sacred vestments, and admit that he is not acting for god – is not infallible – but is just an ordinary Italian. I would have all the cardinals, archbishops, bishops, priests admit that they know nothing about theology, nothing about hell or heaven, nothing about the destiny of the human race, nothing about devils and ghosts, gods or angels. I would like to see the whole world free – free from injustice – free from superstition). * Một thầy giáo giỏi có giá trị hơn 1000 linh mục (One good schoolmaster is worth a thousand priests.) * Trong nhiều thế kỷ, cây thập giá và lưỡi gươm là đồng minh của nhau. Cùng với nhau, chúng tấn công nhân quyền. Chúng chống đỡ cho nhau (For many centuries, the sword and the cross were allies. Together they attacked the rights of man. They defended each other.) * Nếu Ki Tô giáo chỉ ngu đần và phản khoa học, nếu Thần của Ki Tô giáo chỉ dốt nát và có lòng tốt, nếu Ki Tô giáo hứa hẹn cho các tín đồ một sự hỉ lạc vĩnh hằng, và nếu các tín đồ thực hành hạnh tha thứ mà Ki Tô Giáo răn dạy, thì tôi là người chẳng đụng gì đến tín ngưỡng của họ. Nhưng Ki Tô giáo còn có một mặt khác. Tôn giáo này không chỉ ngu đần mà còn lắt léo, không chỉ phản khoa học mà còn vô nhân tính. Thần của tôn giáo này không chỉ dốt nát mà còn ác độc. Tôn giáo này không chỉ hứa hẹn cho tín đồ một phần thưởng vĩnh hằng mà còn khẳng định rằng hầu hết mọi người (tín đồ hay không. TCN) đều bị giam cầm trong những tòa hình ngục của Thần và sẽ bị vĩnh viễn đau đớn. Đó là sự man rợ của Ki Tô Giáo. (If Christianity were only stupid and unscientific, if its god were ignorant and kind, if it promised eternal joy to believers, and if the believers practiced the forgiveness they teach, for one I should let the faith alone. But there is another side to Christianity. It is not only stupid, but malicious. It is not only unscientific, but it is heartless. Its god is not only ignorant, but infinitely cruel. It not only promises the faithful an eternal reward, but declares that nearly all of the children of men, imprisoned in the dungeons of god will suffer eternal pain. This is the savagery of Christianity.)

43. Mark Twain (1835-1910), Văn hào Mỹ: * Đức tin là tin vào cái mà chúng ta biết nó không như vậy (Faith is believing what you know ain’t so). * Không phải là những phần trong thánh kinh mà tôi không hiểu làm tôi bực mình, mà là những phần mà tôi hiểu (It ain’t those parts of the Bible that I can’t understand that bother me, it is the parts that I do understand.)

44. John Burroughs (1837-1921), Văn hào Mỹ: * Khoa học đã đóng góp cho sự phát triển của nền văn minh Tây phương trong 100 năm nhiều hơn là sự đóng góp của Ki Tô Giáo trong 1800 năm. (Science has done more for the development of Western civilization in 100 years than Christianity in 1800 years.) * Nền văn minh của chúng ta không được xây dựng trên Ki Tô Giáo mà là trên lý trí và khoa học (Our civilization is not founded upon Christianity; it is founded upon reason and science.) * Những người hoài nghi và những người không tin (Ki Tô giáo) không bao giờ có thể giết nhau như những tín đồ Ki Tô đã giết nhau (Skeptics and disbelievers could never slaughter each other as the Christians have.)

45. Friedrich Nietzche (1844-1900), Triết gia Đức: * Thần Ki-Tô đã chết (Có đâu để mà chết? TCN) God is dead. * Chúng ta không nên đi đến nhà thờ nếu chúng ta muốn hít thở không khí trong lành (One should not go to church if one wants to breathe pure air.)

46. Pierre Laplace (1749-1827), Khoa học gia Pháp: * Kính thiên văn đã quét hết vòm trời mà không thấy Thần Ki-Tô ở đâu. (The telescope sweeps the skies without finding god.)

47. Sir James Paget (1814-1899), Y sĩ Anh: * Nơi công cộng cũng như trong tư gia, tôi không biết một cuốn sách nào mà lại là nguồn gốc của cách xử sự hung ác và tàn bạo như là cuốn thánh kinh (I know of no book which has been a source of brutality and sadistic conduct, both public and private, that can compare with the Bible.)

48. Thomas Carlyle (1795-1881), Văn hào Anh: * Thần Ki-Tô chẳng làm gì cả. Một người có giáo dục, lương thiện, không thể nào còn tin vào Ki-Tô giáo của lịch sử. (God does nothing. It is not possible that educated, honest men can even profess much longer to belief in historical Christianity.)

49. Alexandre Dumas (1802-1870), Văn hào Pháp: * Tín đồ Ca-Tô và Tin Lành, trong khi thiêu sống và giết lẫn nhau, có thể cộng tác để nô lệ hóa những ngưới anh em da đen của họ (Catholics and Protestants, while engaging in burning and murdering each other, could cooperate in enslaving their black brethen.)

50. Oliver Wendell Holmes, Sr. (1809-1894), Học giả Mỹ: * Người mà luôn luôn lo lắng rằng linh hồn mình sẽ bị đầy đọa thường là có một linh hồn không đáng để đầy đọa (The man who is always worrying about whether or not his souls would be damned generally has a soul that isn’t worth a damn.) * Sự thật là cả cái hệ thống tín ngưỡng với chuyện sa ngã của con người đã rơi ra khỏi sự thông minh của con người sáng suốt (The truth is that the whole system of beliefs which comes in with the story of the fall of man is gently falling out of enlightened human intelligence.)

51. Victor Hugo (1802-1885), Văn hào Pháp: * Khi anh bảo tôi rằng Thần của anh đã tạo ra anh theo hì
nh ảnh của ông ấy, tôi trả lời rằng hắn ta phải thật là xấu trai
(When you tell me that your deity made you in his own image, I reply that he must have been very ugly.) * Trong mỗi làng đều có một ngọn đuốc soi sáng: người thầy giáo – và một kẻ làm tắt bó đuốc đó: ông linh mục xứ (There is in every village a torch: the schoolmaster – and an extinguisher: the parson.) .

52. Émile Zola (1840-1902), Văn hào Pháp: * Nền văn minh sẽ không đi đến tột đỉnh cho đến khi phiến đá cuối cùng từ cái nhà thờ cuối cùng rơi đè lên ông linh mục cuối cùng (Civilization will not attain to its perfection until the last stone from the last church falls on the last priest.) * Phải chăng khoa học đã thoái lui? Không phải! Chính Ca-Tô giáo đã luôn luôn phải thoái lui trước khoa học, và sẽ còn bị bắt buộc phải thoái lui (Has science ever retreated? No! It is Catholicism which has always retreated before her, and will always be forced to retreat.)

53. Mikhail A. Bakunin (1814-1876), Văn hào Nga: * Ki Tô giáo là sự từ bỏ hoàn toàn lẽ thường và lý trí (Christianity is the complete negation of common sense and sound reason.) * Thần học là khoa học về sự nói láo của thần thánh (Theology is the science of the divine lie.)

54. Ludwig Feuerbach (1804-1872), Triết gia Đức: * Bất cứ khi nào mà đạo đức được đặt căn bản trên thần học, quyền của con người tuỳ thuộc vào thần quyền, thì những sự vô đạo đức, bất công, ô nhục nhất có thể được biện minh và thiết lập (Whenever morality is based on theology, whenever right is made dependent on divine authority, the most immoral, unjust, infamous things can be justified and established.)

55. William E. H. Lecky (1838-1903), Sử gia ANhĩ Lan: * Hầu hết Âu châu, trong nhiều thế kỷ, đã bị ngập máu, máu đổ do sự chủ mưu trực tiếp hoặc với sự hoàn toàn chấp thuận của những người có quyền trong giới giáo sĩ (Almost all Europe, for many centuries, was inundated with blood, which was shed at the direct instigation or with the full approval of the ecclesiastical authorities). * Bất cứ khi nào mà giới giáo sĩ, Ca-Tô hay Tin Lành, đứng cạnh thế quyền dân sự, thì kết quả là sự bạo hành (Whenever the clergy were at the elbow of the civil arm, no matter whether they were Catholic or Protestant, persecution is the result.)

56. August Bebel (1840-1913), Nhà xã hội Đức: * Ki Tô giáo là kẻ thù của tự do và văn minh. Nó buộc nhân loại trong xiềng xích. (Christianity is the enemy of liberty and of civilization. It has kept mankind in chains.)

57. Giuseppe Garibaldi (1807-1882), Nhà lãnh đạo Ý (Người đã tiến quân và thu hẹp lãnh thổ của Ca-Tô, chỉ còn lại Vatican ngày nay): * Vatican là con dao găm đâm vào tim nước Ý. (The Vatican is a dagger in the heart of Italy.) * Linh mục là hiện thân của sự sai lầm (The priest is the personification of falsehood.) * Giáo hội Ca-Tô là nàng hầu của sự chuyên chế và là kẻ thù trung kiên của tự do (The Catholic Church is the handmaid of tyranny and the steady enemy of liberty.)

58. Elbert Hubbard (1856-1915), Văn hào Mỹ: * Thiên đường: Ốc đảo Coney (không có thật) trong sự tưởng tượng của người Ki Tô (Heaven: The Coney Island of the Christian imagination.) * Thần Ki Tô: John Doe (1 tên đặt cho một nhân vật mà không ai biết là ai) của triết lý và tôn giáo (God: The John Doe of philisophy and religion.) * Thần học là một sự toan tính giải thích một chủ đề bởi những người không hiểu chủ đề đoTheology is an attempt to explain a subject by men who do not understand it).

59. Sigmund Freud (1856-1939), Nhà Phân tâm Aﯺ * Tôn giáo giống như là chứng bệnh suy nhược thần kinh của trẻ con (Religion is comparable to a childhood neurosis.) * Giáo hội Ca-Tô là đối thủ của mọi tự do tư tưởng (The Catholic Church so far has been the implacable enemy of all freedom of thought.)

60. George Bernard Shaw (1856-1950), Nhà viết kịch Anh: * Không phải là không tin thì nguy hiểm cho xã hội của chúng ta, mà chính là sự tin (It is not disbelief that is dangerous to our society, it is belief.) * Đối với tín đồ Ca-Tô, chỉ có hai quốc gia, thiên đường và hỏa ngục; chỉ có hai trạng thái của con người, cứu rỗi hay bị đày đọa (For the Catholic, there are but two countries, heaven and hell; but two conditions of men, salvation and damnation.)

61. George Santayana (1863-1952), Triết gia Mỹ: * Đối với Shakespeare, về vấn đề tôn giáo, sự chọn lựa nằm ở hoặc Ki Tô giáo hoặc không tin gì. Ông ta đã chọn không tin gì (For Shakespeare, in the matter of religion, the choice lay between Christianity and nothing. He chose nothing.) * Ki Tô giáo đàn áp tôn giáo, tra tấn và thiêu sống con người. Như một con chó săn, tôn giáo này đánh hơi và truy lùng kẻ lạc đạo. Tôn giáo này gây nên những cuộc chiến tranh, và nuôi dưỡng thù hận và tham vọng. Tôn giáo này thánh hóa sự tận diệt và sự chuyên chế (Christianity persecuted, tortured, and burned. Like a hound it tracked the very scent of heresy. It kindles wars, and nursed furious hatred and ambitions. It sanctified extermination and tyranny..)

62. Bertrand Russell (1872-1970), Triết gia, Nhà Toán học Anh, tác giả cuốn Why I Am Not A Christian: * Quan điểm của tôi về tôn giáo giống như quan điểm của Lucretius. Tôi coi nó như là một bệnh chứng xuất phát từ sự sợ hãi và là nguồn gốc của sự khổ sở không thể kể được của loài người (My own view on
religion is that of Lucretius. I regard it as a disease born of fear and as a source of untold misery to the human race.) * Nếu tôi nhớ không lầm, không có một lời nào trong các Phúc Âm ca tụng sự thông minh (So far as I can remember, there is not one word in the gospels in praise of intelligence.) * Đàn áp tôn giáo được sử dụng trong thần học chứ không ở trong số học (Persecution is used in theology, not in arithmetic.)

63. Albert Einstein (1879-1955), Khoa học Gia Do Thái, Thuyết Tương Đối: * Tôi không thể quan niệm một Thần Ki Tô thưởng phạt tạo vật của chính mình (I cannot conceive of a God who rewards and punishes his creatures)

64. H. L. Mencken (1880-1956), Văn hào Mỹ: * Nói một cách đại cương, tôi tin rằng tôn giáo là một sự nguyền rủa đối với nhân loại (I believe that religion, generally speaking, has been a curse to mankind.) * Đức tin có thể định nghĩa ngắn gọn như là một niềm tin phi lý vào những gì không chắc chắn xảy ra (Faith may be defined briefly as an illogical belief in the occurrence of the improbable.) * Thần học: một nỗ lực để giải thích cái không thể biết được bằng những lời không đáng để biết (Theology: an effort to explain the unknowable by putting it into terms of the not worth knowing.) * Tổng giám mục: một chức sắc Ki Tô cao chức hơn chức của Chúa Ki Tô (Archbishop: A Christian ecclesiastic of a rank superior to that attained by Christ.)

65. Alfred North Whitehead (1861-1947), Toán gia và Triết gia Mỹ: * Tôi coi nền thần học Ki Tô Giáo như là một trong những tai họa lớn của nhân loại (I consider Christian theology to be one of the great disasters of the human race)..

66. Theodore Dreiser (1871-1945), Văn hào Mỹ: * Mọi hình thức của tôn giáo tín điều phải dẹp bỏ. Thế giới đã tồn tại mà không cần đến nó trong quá khứ và có thể cũng như vậy trong tương lai (All forms of dogmatic religion should go. The world did without them in the past and can do so again.)

67. Arthur Koestler (1905-1983), Triết gia Anh: * Tại Jerusalem, cái bộ mặt giận dữ của thần Gia-vê ấp ủ những phiến đá nóng, những phiến đá đã chứng kiến những cuộc thánh sát, cưỡng hiếp, và cướp bóc nhiều hơn bất cứ nơi nào trên thế giới. Dân cư ở đây bị đầu độc bởi tôn giáo (In Jerusalem..the angry face of Yahweh is brooding over the hot rocks which have seen more holy murder, rape and plunder than any other place on earth. Its inhabitants are poisoned by religion.)

68. Edgar Lee Masters (1869-1950), Thi sĩ Mỹ: * Nhiều cuốn sách đã được viết ra để chứng tỏ Ki Tô giáo đã làm suy yếu thế giới, rằng tôn giáo này đã gạt ra ngoài sự khai sáng và trí tuệ của Hellas để nhường chỗ cho một giáo lý mê tín và ngu xuẩn (Many books have been written to show that Christianity has emasculated the world, that it shoved aside the enlightenment and wisdom of Hellas for a doctrine of superstition and ignorance.)

69. George Moore (1852-1933), Tiểu thuyết gia ANhĩ Lan: * Thiên đường có thể để cho giáo dân, nhưng thế giới này chắc chắn là để cho các linh mục (Heaven may be for the laity, but this world is certainly for the clergy.)

70. H. G. Wells (1866-1946), Tiểu thuyết gia Anh: * Cái đồ xấu ác nhất trong thế giới ngày nay là Giáo hội Ca-Tô Rô-ma (The most evil thing in the world today is the Roman Catholic Church.)

71. Culbert Olson, Thống đốc bang California, 1938-1943: * Tôi không hiểu làm sao mà người nào đọc thánh kinh mà lại có thể tin rằng đó là lời của Thần Ki-Tô, hoặc tin đó không phải là chuyện man rợ của một dân tộc man rợ (I don’t see how anybody can read the Bible and believe it’s the word of God, or believe that it is anything but a barbarous story of a barbaric people.)

72. Preserved Smith (1880-1941), Sử gia Mỹ: * Không còn nghi ngờ gì nữa, cuốn thánh kinh là khối cản trở trên con đường tiến bộ, khoa học, xã hội và ngay cả đạo đức. Nó được viện dẫn để chống Copernicus (Thuyết trái đất quay xung quanh mặt trời. TCN) cũng như là chống Darwin (Thuyết Tiến Hóa. TCN) (There can be no doubt that the Bible became a stumbling -block in the path of progress, scientific, social and even moral. It was quoted against Copernicus as it was against Darwin.)

73. Isaac Asimov (1920-1992), Khoa học gia Mỹ: * Đối với tôi, có vẻ như là Thần Ki Tô đã được con người phát minh ra một cách thuận tiện; Chắc chắn là tôi không tin những huyền thoại của xã hội chúng ta, thiên đường và hỏa ngục, Thần Ki Tô và thiên thần, Sa-Tăng và quỷ (It seems to me that God is a convenient invention of the human mind; I certainly don’t believe in the mythologies of our society, in heaven and hell, in God and angels, in Satan and demons..)

74. Steve Allen (1921 – ), Mỹ, tác giả 43 cuốn sách đủ loại: * Rất hiếm có một trang sách nào trong cuốn thánh kinh mà trong đó một người có đầu óc cởi mở không nhận thấy một sự mâu thuẫn, một chuyện lịch sử bất khả hữu, một sai lầm hiển nhiên, một sự kiện lịch sử không thể nào xảy ra (There is scarcely a page of the Bible on which an open mind does not perceive a contradiction, an unlikely history, an obvious error, an historical impossibility..); * Một người vô thần không ghét Thần Ki Tô, hắn chỉ không thể tin được là một Thần có thể hiện hữu. (An atheist does not hate God; he simply is one who is unable to believce that a God exist); * Cuốn th
nh kinh đã được dùng để khuyến khích niềm tin vào sự mê tín thô thiển nhất và làm ngăn cản sự dạy những chân lý khoa học
(The Bible has been used to encourage belief in the grossest superstition and to discourage the free teaching of scientific truths); * Chỉ sau khi tôi đọc cuốn thánh kinh từ đầu đến cuối tôi mới nhận ra rằng Thần Ki Tô trong đó thật sự là một bạo chúa thích trả thù, ác như quỷ, còn ác hơn sự khát máu điên rồ, sự dã man, sự tàn phá của những con người như Hitler, Stalin, Pol Pot, hoặc bất cứ kẻ sát nhân tập thể nào trong lịch sử cổ xưa hoặc hiện đại (It was only when I finally undertook to read the Bible through from beginning to end that I perceived that its depiction of the Lord God was actually that of a monstrous, vengeful tyrant, far exceeding in bloodthirstiness and insane savagery the depredations of Hitler, Stalin, Pol Pot, or any mass murderer of ancient or modern history.)

75. Carl Sagan, Khoa học gia Mỹ: * Nếu các bạn muốn cứu con mình khỏi bị bệnh bại liệt, bạn có thể cầu Chúa hoặc mang nó đi chích ngừa.. Hãy chọn khoa học (If you want to save your child from polio, you can pray or you can inoculate.. Choose science)

Ghi Chú: Trên đây chỉ là một số nhỏ điển hình những phát biểu về Thần Ki Tô và Ki Tô Giáo trong giới trí thức Âu Mỹ qua các thời đại. Tôi chỉ chọn đưa ra những lời phát biểu tương đối ngắn gọn. Nếu đưa ra hết những nhận định về Thần Ki Tô và Ki Tô giáo nói chung, Ca-Tô giáo nói riêng, tôi cần một cuốnsách dày vài trăm trang.

Martin Luther King, Jr.

6 Comments

“Chúng Ta Không Có Một Ý Định Nào Đáng Ca Ngợi Ở Việt Nam”
“We have no honorable intentions in Vietnam.”
Martin Luther King, Jr., 1967

Những tội phạm chiến tranh thuộc Thủy, Lục, Không quân Hoa Kỳ đã tàn sát 3 triệu người ở Việt Nam, trong rất nhiều nơi như Mỹ Lai. Hầu hết các nạn nhân là đàn bà và trẻ con.

CIA có ngay cả một chương trình khủng bố chính thức của quốc gia Mỹ ở Việt Nam, được biết là “Chiến Dịch Phụng Hoàng” hay “Kế Hoạch Phụng Hoàng”. [Kế hoạch Phụng Hoàng còn được biết dưới tên “Kế Hoạch Ám Sát” (Douglas Valentine, The Phoenix Program, p. 191: “Phoenix was labeled an Assassination Program”).] Qua Kế Hoạch Phụng Hoàng, nhiều trăm ngàn người đã bị tra tấn đến chết trong những “trung tâm thẩm vấn” trên khắp Nam Việt Nam. Những trung tâm tra tấn này được dựng lên bởi Mỹ rõ ràng cho mục đích đó. Phụ nữ luôn luôn bị hãm hiếp như là một phần của tra tấn trước khi bị giết. Khủng bố, hãm hiếp và giết người hàng loạt một cách đại qui mô trên khắp miền quê là chính sách của tập thể Lục Quân, Không Quân, Thủy Quân Lục Chiến, Thủy Quân Hoa Kỳ. Cuộc tàn sát ở Mỹ Lai là một chiến dịch trong Kế Hoạch Phụng Hoàng.

Chính sách diệt chủng dân Việt Nam của Mỹ có nguồn gốc từ ngay sau Đệ Nhị Thế Chiến.

Mỹ đã ủng hộ Pháp trong toan tính lấy lại quyền cai trị đẫm máu của thực dân Pháp ở Đông Nam Á.

Ngoài việc liên minh với những thế lực thực dân đàn áp dân Việt Nam, Mỹ đã thực sự phối hợp lực lượng với những kẻ đã từng cộng tác với Nhật Bản. Và ai là kẻ thù mới của Mỹ? Hồ Chí Minh và những người theo ông ta – Việt Minh – những người đã cộng tác chặt chẽ trong nỗ lực chống Nhật của Mỹ và Đồng Minh. Việt Minh còn cứu cả những phi công Mỹ bị bắn rơi thuộc Phi Đoàn 14 của Mỹ. Nhưng những điều này không đáng kể gì đối với những tên tài phiệt trong công ty Mafia nằm trong chính quyền Mỹ. Cái thủ đoạn cổ điển của Mỹ đâm sau lưng đồng minh của mình đã đặt điệu cho cơn ác mộng khủng khiếp ở Đông Nam Á trong 35 năm tới.

Hồ Chí Minh đã bị cái Công Ty Mafia trong chính quyền Mỹ phản bội vì họ đơn giản khoác cho ông ta cái nhãn hiệu “Cộng sản”.

Tuy nhiên, sự thật là từ đầu Hồ Chí Minh đã thực sự ngưỡng mộ mọi thứ cùa “Mỹ”! Trong cuộc chiến chống Nhật ông ta đã đánh giá sai lầm bản chất thật của giới tài phiệt Mỹ nắm quyền. Cũng như nhiều triệu người bị thông tin sai lạc trên thế giới, ông ta ngây thơ cho rằng Mỹ là “quán quân về dân chủ”. Rất có thể là khi đó ông ta không có cách nào để biết rõ hơn, nhưng ông ta tin vào sự tuyên truyền của Mỹ – rằng Mỹ tranh đấu cho những giá trị của con người cao hơn tư lợi liều lĩnh.

Với sự ngây thơ chính trị đáng kinh ngạc, Hồ Chí Minh đã viết nhiều lá thơ cho Tổng Thống Truman và Bộ Ngoại Giao Mỹ – yêu cầu Mỹ giúp để giải phóng dân Việt Nam ra khỏi sự thống trị của Pháp.

Ông ta cũng còn thảo một bản “Tuyên Ngôn Độc Lập Cho Việt Nam”, phỏng theo ý tưởng của Mỹ, và bắt đầu bằng những lời như sau: “ Mọi người sinh ra đều bình đẳng. Họ được đấng sáng tạo phó cho với….”

Chúng ta có thể tưởng tượng đến những trận cười ác ôn rất có thể đã vang trong những hành lang của Bộ Ngoại Giao Mỹ.

Hồ Chí Minh, và cả dân tộc Việt Nam, đã khám phá ra bản chất thật của Mỹ bằng con đường đắt giá.

“Tôi muốn nói rằng vài tháng trước ở Detroit chúng tôi có một cuộc điều tra trong đó có 150 quân nhân đã được giải ngũ trong danh dự đã làm chứng cho những tội ác chiến tranh phạm ở Đông Nam Á. Họ nói những câu chuyện của thời đó là chính họ đã hãm hiếp, cắt tai, chặt đầu, kẹp giây điện từ những bộ máy truyền tin vào nhưng cơ quan sinh dục rồi quay điện, chặt chân tay, làm nổ tan xác, bắn chơi vào các thường dân, triệt hạ cả làng theo kiểu của Thành Cát Tư Hãn, bắn trâu bò, chó, làm trò chơi, đầu độc các kho lương thực và hầu như là tàn phá toàn diện miền quê Nam Việt Nam, ngoài sự tàn phá thông thường của chiến tranh và sự tàn phá thông thường và đặc biệt của những cuộc bỏ bom trên đất nước
này.”

John Kerry,

Hải Quân Trung úy,

lãnh tụ của những cựu quân nhân Mỹ ở Việt Nam chống chiến tranh,

làm chứng trước Ủy Ban Ngoại Giao của Thượng Viện năm 1971.

Những hành động tàn bạo của Quân đội Mỹ và những kỹ thuật tra tấn của Lực Lượng Đặc Biệt:

Trong thời những chính quyền thời Kennedy và Johnson số quân sát nhân xâm lăng của quân đội Mỹ nhảy vọt từ 23000 năm 1963 lên tới 184000 năm 1966. Con số này cao nhất trong năm 1969 mà Nixon làm Tổng Thống, với 542000 binh sĩ Mỹ chiến đấu chống Việt Cộng.

Nhưng đó không phải là tất cả những gì họ đã làm.

Quá nhiều “con em của chúng ta” đã phạm phải những tội ác cuồng dâm chống nhân loại. Lính Mỹ tra tấn tù binh. Lính Mỹ hiếp người qua đường hậu môn, hãm hiếp và bạo sát đàn bà và con gái. Lính Mỹ tàn sát toàn thể đàn ông, đàn bà, trẻ con trong nhiều làng – kể cả con nít – ở nhiều, nhiều nơi như Mỹ Lai và Thanh Phong.

[Thanh Phong là cái làng mà Nguyên Thượng Nghi Sĩ Robert Kerrey (không phải là John Kerry) đã chỉ huy một toán SEALS 7 người vào tàn sát 21 người đàn ông, đàn bà và trẻ con trong làng vào tháng 2, 1969. Vào căn nhà lá đầu tiên, toán này đã cắt cổ một ông lão, vợ ông ta và 3 đứa cháu. (“Former US Senator Robert Kerrey, newly inaugurated as the president of the New School University, one of the most prestigious positions in American academia, has admitted participating in a death squad attack on a Vietnamese village [Thanh Phong] 32 years ago, in which he and six soldiers under his command killed 21 women, children and elderly men. “In the course of the nighttime assault, the American raiders [U.S. Navy SEALS] killed every Vietnamese they encountered — men, women, children. They used every weapon in their arsenal, from knives to rifles and grenades to light anti-tank weapons, expending more than 1,200 rounds of ammunition on a village where only a few dozen people lived. “…the SEALS slit the throats of an elderly man, his wife and three grandchildren in the first hut they encountered when they entered the village. The graves of these five victims, marked with a common date of death, can be seen in the village today.” TCN]

Từ cuốn Rogue State: A Guide to the World’s Only Superpower của William Blum:

Lực Lượng Đặc Biệt dạy binh sĩ của mình thi hành nhiệm vụ ở Việt Nam phải dùng tra tấn như thế nào là một phần trong sự thẩm vấn.

Chiến dịch Phụng Hoàng nổi tiếng, dựng lên bởi CIA để quét sạch hạ tầng cơ sở của Việt Cộng, đã tra tấn những người bị tình nghi như sau:

· Quay điện vào các bộ phận sinh dục của nam và nữ.

· Cắm vào tai một cái đũa gỗ dài 15 cm rồi đập dần đũa vào óc cho đến khi nạn nhân chết.

· Những người bị tình nghi cũng bị ném từ trên trực thăng xuống để làm gương cho những người tình nghi quan trọng khác phải khai, tuy đây có thể coi như là sát nhân đối với nạn nhân bị ném, nhưng cũng là một hình thức tra tấn đối với những người khác.

· Vi phạm Quy Ước Geneva, Mỹ trao tù binh cho đồng minh Nam Việt Nam của họ biết rõ rằng nhưng người này sẽ bị tra tấn, viên chức Mỹ thường có mặt trong cuộc tra tấn.

Cuộc Tàn Sát Bắt Đầu Trong Sự Sốt Sắng:

Cương quyết thi hành dịch vụ diệt chủng, Không Quân Mỹ phát động chiến dịch “Rolling Thunder” tấn công dân Việt Nam năm 1964. Riêng cuộc tấn côn
g này đã thả xuống dất nước nhỏ bé nhiều bom hơn là toàn thể số bom dùng trong Đệ Nhị Thế Chiến.

Trong 5 năm tiếp theo, nhiều trăm ngàn người dân Việt Nam, đàn ông, đàn bà, trẻ con bị nghiền nát và thiêu sống bởi những phi hành đoàn của Không Quân Mỹ. Đất nước Việt Nam phải chịu đựng 22 tấn thuốc nổ cho mỗi 1.6 km vuông. Nghĩa là 660 kg chất nổ mạnh cho mỗi người, đàn ông, đàn bà và trẻ con.

Trong 13 năm chiến tranh ác ôn của Mỹ chống dân tộc Việt Nam, tổng cộng là 8 triệu tấn bom (bom Napalm và bom chùm) và chất độc khai quang màu Cam đã thả trên đất nước – và ít ra là 3 triệu người đã bị tàn sát.

Hầu hết người Mỹ có lẽ không thể nào hiểu nổi điều này nghĩa là gì.

Chỉ những người Mỹ sống sót trong những lò thiêu tập thể người Do Thái (6 triệu), Serbian (1 triệu, và người Russian-Ukranian (20 triệu) trong Đệ Nhị Thế Chiến trong tay của người Đức hoặc người [Công Giáo] ở Croatia, hoặc những chuyện trong gia đình của thổ dân bị Mỹ tàn sát tập thể (90 triệu), hoặc dân Armenian (2 triệu), Hi Lạp (1 triệu) và dân Assyrian (nhiều trăm ngàn) trong những thập niên 1920, 1930 dưới tay của người Thổ Nhĩ Kỳ, Iraq và Kurd – chỉ những người như thế này may ra mới có thể hiểu được những gì người Đông Nam Á phải trải qua dưới bàn tay của quân lực Mỹ.

BA – TRIỆU – NGƯỜI !

Cùng với lò nướng thịt thổ dân Mỹ, lò nướng thịt người Việt Nam của Mỹ đã xếp Mỹ xuống đáy của địa ngục – cùng với những công ty nổi tiếng như Nazi của Đức, chính quyền Công Giáo Ustashi ở Croatia, quân lực Nhật Bản, quân lực Thổ Nhĩ Kỳ, những đoàn quân bạo dâm chiến thắng của Tây Ban Nha, những đoàn quân Mông Cổ, La Mã và những con quỷ diệt chủng như trên.

Đại đa số người Mỹ tuyệt đối không có một kinh nghiệm nào để so sánh với những điều trên. Nhưng đó là những điều đã xẩy ra trong thời đại của chúng ta, đối với những người trên 27 tuổi. Chỉ có những người đứng đắn, có lòng tốt, ở Mỹ là những người công khai chống sự ác ôn này. Và những người có đủ can đảm để xuống đường thì được thưởng bởi những đòn đập bởi những con heo nhơ bẩn sát nhân với máu lạnh trong FBI và vệ binh quốc gia.

Trong khi đó thì những người Mỹ ái quốc, kỳ thị chủng tộc tiếp tục sống cái gọi là đời sống “bình thường”, hoàn toàn lãnh đạm với cuộc tàn sát đẫm máu được thi hành nhân danh họ, ăn nhậu trên những miếng thịt bò tái và xem TV, chơi “golf” và đi dự những “parties” trong khi những đứa trẻ Việt Nam bị thiêu sống trong làng mạc của chúng bởi những tên phi công trời đánh của chúng ta, và vô số phụ nữ thường dân Việt Nam bị hãm hiếp tàn bạo và toàn thể các gia đình bị bắn chết bằng súng liên thanh bởi những binh sĩ trời đánh của chúng ta.

Không chỉ những con quỷ Nazi Đức mới phạm tội diệt chủng. Chính quyền ác ôn và quân lực Mỹ của chúng ta cũng phạm tội diệt chủng. Hằng triệu người. Và tuyệt đại đa số nạn nhân là người dân thường không có ai bảo vệ. [Vậy mà có tên chống Cộng ngu đến độ đòi đưa Cộng Sản ra Tòa Án Xử Tội Phạm Chiến Tranh vì vụ Tết Mậu Thân ở Huế]

Dân thường Đàn Ông . Đàn Bà. Trẻ Con.

Hãy coi câu chuyện ở Mỹ Lai như là một thí dụ về người lính Mỹ anh hùng của chúng ta khi hành sự – tàn sát trẻ con và hãm hiếp con gái Việt Nam để làm cho thế giới yên ổn cho những công ty như Coca Cola và hãng dầu Standard.

Sau cuộc tàn sát …bệnh tật và chết thêm:

Nhờ có sự kỳ thị chủng tộc kiêu căng, tự cho là công chính và không quan tâm của Mỹ mà người Việt Nam tiếp tục bị đau khổ. Năm 1985 người ta ước tính là một phần ba đất đai [Nam] Việt Nam bị nhiễm độc, vì Không Quân Mỹ đã dùng thuốc khai quang như Chất Độc Màu Cam. Điều này đã khiến cho Việt Nam nghèo nàn, đất đai bị ô nhiễm nặng và có đầy những trái bom chùm chưa nổ – và người dân bị khủng khoảng tâm lý. 30 năm chiến tranh diệt chủng được nối tiếp bởi gần 20 năm cấm vận của Mỹ. [Giáo sư Noam Chomsky cũng đã châm biếm, cho rằng Mỹ đã thắng một phần ở Việt Nam (A partial victory) vì đã thành công để lại cho Việt Nam một di sản tan hoang đất nước, khó có cơ hội phục hồi
về xã hội và kinh tế… (Nhưng CS đã phục hồi được về xã hội và kinh tế, và còn tiến xa hơn trước)
]

Trong những năm từ khi những binh sĩ Mỹ giết người, hãm hiếp, lực lượng SEALS [Sea, Air and Land Forces], của Thủy Quân bị đá ra khỏi Việt Nam một cách ô nhục, cái di sản ác ôn của Mỹ để lại vẫn tiếp tục có ảnh hưởng đến người dân. Chất độc Da Cam đã đưa đến nhiều vụ khuyết tật bẩm sinh trong những thế hệ người dân Việt Nam và nhiều trăm ngàn trường hợp chết về ung thư đã xẩy ra trong những người sống trong những vùng bị trải thuốc khai quang..

Những trái bom chùm chưa nổ đã tạo ra những bãi mìn không có họa đồ, làm cho mọi người sợ hãi không dám canh tác trong những cánh đồng có thể trồng trọt được và ruộng lúa. Những trái bom đó của Mỹ vẫn tiếp tục giết hại, làm chân tay tàn phế và bị tàn tật suốt đời cho nhiều ngàn trẻ con và người lớn Việt Nam.

“Tôi tin rằng nếu chúng ta đừng xía những bàn tay dơ bẩn, đẫm máu, nắm đầy đô-la vào việc của những quốc gia trong Thế Giới Thứ Ba đầy những người thất vọng, bị khai thác, thì những quốc gia này sẽ tìm ra giải pháp cho chính họ. Và nếu bất hạnh là cuộc cách mạng của những quốc gia này phải dùng đến bạo lực là vì những người có của từ chối không chịu chia sẻ với những người không có bằng phương pháp hòa bình nào, thì những gì họ chiếm được sẽ là của chính họ, không phải là của kiểu Mỹ mà họ không muốn và nhất là không muốn bị nhét xuống cổ họng bởi người Mỹ.”

Tướng David Sharp

Nguyên Chỉ Huy Trưởng Thủy Quân Lục Chiến Mỹ

1966

“Theo sự phán xét của tôi, chúng ta sẽ trở thành kẻ có tội vì là sự đe dọa lớn nhất cho nền hòa bình thế giới. Đó là một sự thực xấu xa, và người Mỹ chúng ta không thích đối diện với nó. Tôi thật không muốn nghĩ rằng một trang sử của Mỹ sẽ được viết ra liên quan đến chính sách vô pháp của chúng ta ở Đông Nam Á.”

Thượng Nghị Sĩ Wayne Morse

(Đảng dân Chủ – Oregon), 1967

“Cái tội ác lớn nhất từ sau Đệ Nhị Thế Chiến là chính sách đối ngoại của Mỹ.”

Ramsey Clark,

Nguyên Chưởng Lý Mỹ dưới triều Lyndon Johnson.

*

http://www.intellnet.org/resources/american_terrorism/Vietnamesevictims.html

“We have no honorable intentions in Vietnam.”

— Martin Luther King, Jr.
1967

Hương nguyện

2 Comments

Hương nguyện và con đĩ
Nguồn blog Đông A
Gần đây tôi bắt gặp hai từ hương nguyện và con đĩ. Nghĩ thấy cũng hay hay nên tôi thử tìm hiểu về chúng. Một từ (hương nguyện) có lẽ đã xa lạ với chúng ta ngày nay, từ kia (con đĩ) ngày nay đã hiểu theo nghĩa không còn giống như ngày trước. Thời gian trôi qua, chẳng còn gì như cũ, kể cả chữ nghĩa.

Tôi đoan chắc rằng nhiều người không hiểu hương nguyện là gì. Cũng chẳng phải bởi thời gian trôi qua, ký ức ngôn ngữ không còn nên ngày nay không hiểu. Người xưa cũng vậy thôi. Hương nguyện là từ rất cắc cớ. Nó vốn ban đầu là hương nguyên. Hương là làng xã, nguyên là gốc, là trước, là trọn vẹn. Không biết từ này nguyên gốc từ đâu chui ra, mọi người đều chỉ truy nguyên về Luận ngữ, coi đây là nguồn gốc. Trong Luận ngữ, Khổng tử phán một câu: Hương nguyên, đức chi tặc dã, có nghĩa là hương nguyên là kẻ làm hại đức. Khổng tử chỉ nói thế, không giải thích gì vì vậy mà các học trò theo học đạo của ông có người không hiểu. Đến tận Mạnh tử, khi có một học trò hỏi ông, người như thế nào gọi là hương nguyên, Mạnh tử mới giải thích rằng: Ấy là những kẻ hay chê cười…Ðối với cuồng sĩ họ trách rằng:Mấy ông ấy có chí cao nguyện lớn để làm gì?…“.Ðối với quyến sĩ, họ trách rằng:Mấy ông ấy làm gì mà ăn ở khác đời? Làm gì mà lãnh đạm với đời? Ðã sinh ra và sống ở đời này, thì cứ làm việc đời nầy đi. Miễn được khen là tốt rồi“. Họ nịnh đời bằng cách che giấu điều tốt đẹp của người và khoe khoang việc xứng đáng của mình. Phường như thế là hương nguyên vậy“. Cậu học trò của Mạnh tử cắc cớ hỏi tiếp: “”Cả làng đều khen họ là người thật thà đứng đắn; đi đâu họ cũng làm như người thật thà đứng đắn. Tại sao đức Khổng tử nói rằng họ làm bại hoại nền dạo đức? Mạnh tử trả lời rằng: Muốn chê họ, thì chẳng có chỗ gì chê; muốn trách họ, thì chẳng có chỗ gì trách. Họ đồng hoá theo thói tục thông thường, họ dung hiệp với cõi đời ô trược. Lòng dạ họ dường như trung, tín; hành vi họ dường như liêm, khiết. Dân chúng lấy làm ưa thích họ, mà họ cũng tự nhận mình là trung, tín, liêm, khiết. Thế mà họ không thể cùng đi với mình vào Ðạo vua Nghiêu, vua Thuấn. Bởi thế, đức Khổng nói rằng họ làm bại hoại nền đạo đức vậy“. Ở đây cần phải chú ý rằng Mạnh tử cho rằng cõi đời này là ô trọc, thói tục ở đời không hợp với đạo, do đó những người hòa vào cõi đời, những người được dân ưa thích không thể đạt đạo, là đáng khinh bỉ. Đến Mạnh tử, hương nguyên vẫn là hương nguyên. Đến Tuân tử, hương nguyên biến thành hương nguyện. Tuân tử giải thích rằng nguyên và nguyện đồng nghĩa, bởi vì theo ông “nguyên khác” (“khác” là thành thực) còn đọc là nguyện, và do đó hương nguyên là người cẩn nguyện, tức là người mong cầu kỹ lưỡng. Từ đây có từ hương nguyện. Từ nguyên thành nguyện cũng mất mấy trăm năm. Nhưng không không đổi nguyên thành nguyện thì hương nguyên còn tù mù tăm tối. Nếu đối chiếu với ngày nay thì hương nguyện là những người được lòng dân chúng, làm việc ở đời, không tránh đời, không tự cao, tự đại. Họ là những người đắc cử. Rất khác với Khổng tử, là người phải tự tiến cử mình. Từ hương nguyện đến Việt Nam cũng thiên biến vạn hóa. Vì đạo trung dung khó, không mấy ai có thể đoan chắc là mình theo được, nên Phan Khôi có nói rằng bây giờ mà còn nói chuyện trung dung thì đấy là phường hương nguyện. Trần Trọng Kim bèn đáp lại rằng: Hương nguyện là bọn giả dối không có liêm sỉ, mượn tiếng đạo đức mà che đậy bề ngoài. Bọn ấy ở với quân tử có thể làm quân tử được, mà ở với tiểu nhân thì làm tiểu nhân. Nếu người ta mà thành thực theo đạo đến chết, thì sao lại là hương nguyện.” Ngô Đức Kế phê bình Phạm Quỳnh tán dương truyện Kiều, gọi Phạm Quỳnh là học phiệt. Phạm Quỳnh đáp trả gọi Ngô Đức Kế là đạo đức hương nguyện. Đến lượt Huỳnh Thúc Kháng đáp lại Phạm Quỳnh rằng: Đạo đức hương nguyện” là đạo đức thế nào? Cứ như lời ông Mạnh Tử đã giải thích thì hương nguyện là chiều đời dua tục, không nói trái với ai, chính là chỉ bọn nhu mỵ. Như con đĩ Kiều kia và cả chuyện Kiều nữa mới gọi là nhu mỵ. Thế mà cho kẻ bác [lại] học Kiều là đạo đức hương nguyện thì cái chuyện phong tình ấy là đạo đức gì? Ở đây lưu ý Huỳnh Thúc Kháng dùng đến 3 từ: hương nguyện, nhu mỵ và con đĩ. Nhưng theo Huỳnh Thúc Kháng, hương nguyện là chiều đời tua tục, không nói trái với ai. Nhu mỵ mói là hương nguyện, và ám chỉ Phạm Quỳnh mới đích thị là phường hương nguyện. Đến ông Hoàng Ngọc Hiến, hương nguyện trở thành philistine. Đấy hương nguyện nó lằng nhằng như vậy, thành ra xem ai nói hương nguyện cũng chưa chắc đã biết người ta muốn nói gì.

Huỳnh Thúc Kháng rất cao tay, giữa mặt báo gọi Thúy Kiều là con đĩ Kiều. Không ai bắt bẻ được họ Huỳnh ở điểm này. Kiều không phải là con đĩ thì là con gì? Không ai chê trách Huỳnh Thúc Kháng dùng từ thô tục, bởi vì “con đĩ” là một từ không thô tục, ít nhất theo quan niệm lúc bấy giờ. Nguyễn Khuyến có bài thơ Đĩ cầu Nôm viết cũng ghê:

Thiên hạ bao giờ cho hết đĩ?
Trời sinh ra cũng để mà chơi!
Dễ mấy khi làm đĩ gặp thời,
Chơi thủng trống long dùi âu mới thích
Đĩ bao tử càng chơi càng lịch,
Tha hồ cho khúc khích chị em cười:
Người ba đấng, của ba loài,
Nếu những như ai thì đĩ mốc.
Đĩ mà có tàn, có tán, có hương án, có bàn độc
Khá khen thay làm đĩ có tông
Khắp giang hồ chẳng chốn nào không.
Suốt Nam Bắc Tây Đông đều biết tiếng.
Đĩ mười phương chơi cho đủ chín,
Còn một phương để nhịn lấy chồng.
Chém cha cái kiếp đào hồng,
Bạn với kẻ anh hùng cho đứng số.
Vợ bợm, chồng quan, danh phận đó,
Mai sau ngày giỗ có văn nôm.
Cha đời con đĩ cầu Nôm.

Rằm tháng 8 nếu xem múa sư tử ngày xưa có thể thấy hai con đĩ đánh bồng.

Xem ra bọn chữ nghĩa chửi nhau cũng khiếp. Nào là hương nguyện, nào là con đĩ. Thanh tục thâm hiểm thế nào làm sao mà cân đong được bây giờ?

Older Entries

Nghiên cứu lịch sử

Các bài nghiên cứu, biên khảo và dịch thuật các chủ đề về lịch sử

Le Minh Khai's SEAsian History Blog

Always rethinking the Southeast Asian past

trinhythu

Trịnh Y Thư WordPress.com site

trandangtuan.com

Men lá rượu ngô trong

4th Avenue Café

Free non-fiction translation

WordPress.com

WordPress.com is the best place for your personal blog or business site.

Trương Thái Du's Blog

Văn chương thiên cổ sự - Đắc thất thốn tâm tri...

No More Goat Soup

No goats were harmed in any way while making this blog. (We did kill all the sheep though)