Hương nguyện và con đĩ
Nguồn blog Đông A
Gần đây tôi bắt gặp hai từ hương nguyện và con đĩ. Nghĩ thấy cũng hay hay nên tôi thử tìm hiểu về chúng. Một từ (hương nguyện) có lẽ đã xa lạ với chúng ta ngày nay, từ kia (con đĩ) ngày nay đã hiểu theo nghĩa không còn giống như ngày trước. Thời gian trôi qua, chẳng còn gì như cũ, kể cả chữ nghĩa.

Tôi đoan chắc rằng nhiều người không hiểu hương nguyện là gì. Cũng chẳng phải bởi thời gian trôi qua, ký ức ngôn ngữ không còn nên ngày nay không hiểu. Người xưa cũng vậy thôi. Hương nguyện là từ rất cắc cớ. Nó vốn ban đầu là hương nguyên. Hương là làng xã, nguyên là gốc, là trước, là trọn vẹn. Không biết từ này nguyên gốc từ đâu chui ra, mọi người đều chỉ truy nguyên về Luận ngữ, coi đây là nguồn gốc. Trong Luận ngữ, Khổng tử phán một câu: Hương nguyên, đức chi tặc dã, có nghĩa là hương nguyên là kẻ làm hại đức. Khổng tử chỉ nói thế, không giải thích gì vì vậy mà các học trò theo học đạo của ông có người không hiểu. Đến tận Mạnh tử, khi có một học trò hỏi ông, người như thế nào gọi là hương nguyên, Mạnh tử mới giải thích rằng: Ấy là những kẻ hay chê cười…Ðối với cuồng sĩ họ trách rằng:Mấy ông ấy có chí cao nguyện lớn để làm gì?…“.Ðối với quyến sĩ, họ trách rằng:Mấy ông ấy làm gì mà ăn ở khác đời? Làm gì mà lãnh đạm với đời? Ðã sinh ra và sống ở đời này, thì cứ làm việc đời nầy đi. Miễn được khen là tốt rồi“. Họ nịnh đời bằng cách che giấu điều tốt đẹp của người và khoe khoang việc xứng đáng của mình. Phường như thế là hương nguyên vậy“. Cậu học trò của Mạnh tử cắc cớ hỏi tiếp: “”Cả làng đều khen họ là người thật thà đứng đắn; đi đâu họ cũng làm như người thật thà đứng đắn. Tại sao đức Khổng tử nói rằng họ làm bại hoại nền dạo đức? Mạnh tử trả lời rằng: Muốn chê họ, thì chẳng có chỗ gì chê; muốn trách họ, thì chẳng có chỗ gì trách. Họ đồng hoá theo thói tục thông thường, họ dung hiệp với cõi đời ô trược. Lòng dạ họ dường như trung, tín; hành vi họ dường như liêm, khiết. Dân chúng lấy làm ưa thích họ, mà họ cũng tự nhận mình là trung, tín, liêm, khiết. Thế mà họ không thể cùng đi với mình vào Ðạo vua Nghiêu, vua Thuấn. Bởi thế, đức Khổng nói rằng họ làm bại hoại nền đạo đức vậy“. Ở đây cần phải chú ý rằng Mạnh tử cho rằng cõi đời này là ô trọc, thói tục ở đời không hợp với đạo, do đó những người hòa vào cõi đời, những người được dân ưa thích không thể đạt đạo, là đáng khinh bỉ. Đến Mạnh tử, hương nguyên vẫn là hương nguyên. Đến Tuân tử, hương nguyên biến thành hương nguyện. Tuân tử giải thích rằng nguyên và nguyện đồng nghĩa, bởi vì theo ông “nguyên khác” (“khác” là thành thực) còn đọc là nguyện, và do đó hương nguyên là người cẩn nguyện, tức là người mong cầu kỹ lưỡng. Từ đây có từ hương nguyện. Từ nguyên thành nguyện cũng mất mấy trăm năm. Nhưng không không đổi nguyên thành nguyện thì hương nguyên còn tù mù tăm tối. Nếu đối chiếu với ngày nay thì hương nguyện là những người được lòng dân chúng, làm việc ở đời, không tránh đời, không tự cao, tự đại. Họ là những người đắc cử. Rất khác với Khổng tử, là người phải tự tiến cử mình. Từ hương nguyện đến Việt Nam cũng thiên biến vạn hóa. Vì đạo trung dung khó, không mấy ai có thể đoan chắc là mình theo được, nên Phan Khôi có nói rằng bây giờ mà còn nói chuyện trung dung thì đấy là phường hương nguyện. Trần Trọng Kim bèn đáp lại rằng: Hương nguyện là bọn giả dối không có liêm sỉ, mượn tiếng đạo đức mà che đậy bề ngoài. Bọn ấy ở với quân tử có thể làm quân tử được, mà ở với tiểu nhân thì làm tiểu nhân. Nếu người ta mà thành thực theo đạo đến chết, thì sao lại là hương nguyện.” Ngô Đức Kế phê bình Phạm Quỳnh tán dương truyện Kiều, gọi Phạm Quỳnh là học phiệt. Phạm Quỳnh đáp trả gọi Ngô Đức Kế là đạo đức hương nguyện. Đến lượt Huỳnh Thúc Kháng đáp lại Phạm Quỳnh rằng: Đạo đức hương nguyện” là đạo đức thế nào? Cứ như lời ông Mạnh Tử đã giải thích thì hương nguyện là chiều đời dua tục, không nói trái với ai, chính là chỉ bọn nhu mỵ. Như con đĩ Kiều kia và cả chuyện Kiều nữa mới gọi là nhu mỵ. Thế mà cho kẻ bác [lại] học Kiều là đạo đức hương nguyện thì cái chuyện phong tình ấy là đạo đức gì? Ở đây lưu ý Huỳnh Thúc Kháng dùng đến 3 từ: hương nguyện, nhu mỵ và con đĩ. Nhưng theo Huỳnh Thúc Kháng, hương nguyện là chiều đời tua tục, không nói trái với ai. Nhu mỵ mói là hương nguyện, và ám chỉ Phạm Quỳnh mới đích thị là phường hương nguyện. Đến ông Hoàng Ngọc Hiến, hương nguyện trở thành philistine. Đấy hương nguyện nó lằng nhằng như vậy, thành ra xem ai nói hương nguyện cũng chưa chắc đã biết người ta muốn nói gì.

Huỳnh Thúc Kháng rất cao tay, giữa mặt báo gọi Thúy Kiều là con đĩ Kiều. Không ai bắt bẻ được họ Huỳnh ở điểm này. Kiều không phải là con đĩ thì là con gì? Không ai chê trách Huỳnh Thúc Kháng dùng từ thô tục, bởi vì “con đĩ” là một từ không thô tục, ít nhất theo quan niệm lúc bấy giờ. Nguyễn Khuyến có bài thơ Đĩ cầu Nôm viết cũng ghê:

Thiên hạ bao giờ cho hết đĩ?
Trời sinh ra cũng để mà chơi!
Dễ mấy khi làm đĩ gặp thời,
Chơi thủng trống long dùi âu mới thích
Đĩ bao tử càng chơi càng lịch,
Tha hồ cho khúc khích chị em cười:
Người ba đấng, của ba loài,
Nếu những như ai thì đĩ mốc.
Đĩ mà có tàn, có tán, có hương án, có bàn độc
Khá khen thay làm đĩ có tông
Khắp giang hồ chẳng chốn nào không.
Suốt Nam Bắc Tây Đông đều biết tiếng.
Đĩ mười phương chơi cho đủ chín,
Còn một phương để nhịn lấy chồng.
Chém cha cái kiếp đào hồng,
Bạn với kẻ anh hùng cho đứng số.
Vợ bợm, chồng quan, danh phận đó,
Mai sau ngày giỗ có văn nôm.
Cha đời con đĩ cầu Nôm.

Rằm tháng 8 nếu xem múa sư tử ngày xưa có thể thấy hai con đĩ đánh bồng.

Xem ra bọn chữ nghĩa chửi nhau cũng khiếp. Nào là hương nguyện, nào là con đĩ. Thanh tục thâm hiểm thế nào làm sao mà cân đong được bây giờ?