Cái chết của ngôn ngữ (Nguyễn Hữu Liêm)

8 Comments

Từ phía trái

Nguyễn Hữu Liêm

Cái chết của ngôn ngữ

“In the beginning was the Word.” (John I)

Ở đầu thế kỷ trước, con người ngôn ngữ tây phương, như là hiện tượng nhân văn sau cùng, được khai sinh. Ở giờ phút bắt đầu đó, hắn tuyên bố rằng tất cả các vấn nạn tôn giáo và triết học chỉ là vấn đề của ngôn ngữ. Không hề có vấn đề chân lý tự bản chất – những câu hỏi và khúc mắc siêu hình, nhìn kỹ ra, chẳng qua là sự hiểu lầm về ngôn từ. Ngôn ngữ bắt đầu tất cả. Và cũng chính ngôn ngữ sẽ chấm dứt toàn diện các hiện tượng nhân văn.

Chúng ta hãy nhìn lại. Con người xưa cũ mang ý chí lập danh, nay hắn chỉ muốn lập ngôn. Hắn thấy được rằng nhân loại sống chết theo ngôn từ. Nói như Foucault thì con người chỉ biết yêu sau khi đọc văn chương về yêu đương. Văn thơ làm say đắm, tạo nên hình ảnh, thần tượng. Những thế hệ kế tiếp viết tuyên ngôn và xách động cách mạng. Biết bao tầng lớp thanh niên đã bỏ nhà, gia đình bà con thân thích, lên đường đi vào cõi máu xương gian khổ vì tiếng gọi của khái niệm ngôn từ. Ngôn từ sáng tạo. Ngôn từ huỷ diệt. Văn chương nâng cao tinh thần và đày đọa ý chí. Ngôn ngữ và văn chương là cơn sóng cho con thuyền hiện hữu đi qua biển thế gian vô cùng.

Con người là con vật biểu tượng. Nhưng ngôn ngữ không những chỉ là biểu tượng – mà là của những nhánh cây xa cành từ một gốc rễ huyền nhiệm sâu xa. “Tự khởi thuỷ là ngôi Lời (the Word). Chân lý đã được hình thành và trở nên thực thể, ngôi Lời trở nên thân xác, và ngôi Lời chính là Chân Lý sống giữa chúng ta, mà chúng ta không biết” (John I). Và khi mà chân lý đến voi những cá nhân khao khát tinh thần “quây quần bên nhau” lắng nghe vị thầy phát ngôn về sự Thật (Vedas), mỗi lời nói của vị Thầy chính là Chân lý. Đạo chính là Lời – là “logos.”

Thế giới của ngôi Lời có rất ít lời nói. Con người ở đó chỉ nói khi có nguời biết lắng nghe. Trong sinh hoạt của cuộc sống hằng ngày, thiên nhiên nói và ca hát cho nhân loại. Khi mở miệng nói, người ta chỉ muốn đối thoại với Trời và Đất. Con người ít nói chuyện với nhau nếu không cần thiết – vì càng nói thì giữa người và người sự hiểu lầm càng tăng cao. Im lặng, vì thế, là phương cách thông hiểu phổ quát cho gia đình và tập thể.

Cho đến khi nhân loại chuyển sang một thời quán mới của tâm thức, văn viết xuất hiện và dần dần chiếm vai trò của văn nói. Nhưng con người cũng chỉ sử dụng văn tự, chữ viết, cho những nguyên tắc đạo lý sâu xa và vĩnh hằng – còn những gì liên quan đến chuyện thường nhật thì chỉ sử dụng tới lời nói mà không cần văn bản, ấn ký. Văn viết là chiếc cầu của ngôi Lời, bắt nhịp từ Đạo lý, qua sự thuyết giảng và “quây quần lắng nghe,” đến một thế giới văn nói chỉ quan tâm đến những vấn đề truyền thông hằng ngày. Nhưng khi chữ viết đã trở nên quá phổ biến, con người ngôn ngữ đã trở nên những trí thức vốn sống nhiều về lý tính qua chữ viết. Người có học, từ đó, theo giòng thời gian càng viết nhiều hơn là nói, đọc nhiều hơn là nghe. Cái học từ đó đồng nghĩa với cái đọc.

Tuy nhiên, vốn là con người sống giữa trần gian, kẻ đọc sách đối diện với một khoảng không mới. Đó là sự trống vắng giữa hai bờ của sách vở, vốn viết về chuyện lâu dài, sâu xa, đối với những mẫu đàm thoại hằng ngày trong cuộc sống đời thường. Đây là lúc một chiếc cầu truyền thông mới xuất hiện: Báo chí.

Khi từ giã thế giới tư tưởng từ sách vở, người thành phố ở Tây Âu thay vào khoảng trống đó bằng báo chí. Hắn càng yêu trần gian đang là, hắn càng mê báo chí. Mỗi trang báo là một ly cà phê đánh thức tri thức và tình cảm về với một thực tại đang đi qua mà chính hắn không muốn dấn thân trực tiếp. Khi đọc báo, hắn chỉ tiếp xúc với biến cố trần gian qua ký hiệu ngôn ngữ in trên giấy. Thân xác của người đọc báo chỉ tiếp xúc với hiện tượng bằng hai cơ năng của tay cầm tờ báo và mắt để đọc. Trong tất cả lục năng tạo nên hiện tượng, tờ báo chỉ cần “sắc” và “pháp” và lại bỏ ra ngoài “thanh, hương, vị, xúc.” Thế gian được người đọc tiêu thụ qua ngôn ngữ một cách thụ động.

Nói ngắn gọn: tờ báo chính là thế gian. Lòng khát sống với thế gian nay chính là ý chí muốn trang trải tâm tư vào từng trang báo.

Nhưng thế gian mà tờ báo dọn ra cho độc giả là một mặt hồ nông nỗi, lung linh phản chiếu rất mơ hồ một thực tại không có chiều sâu – chỉ vì ngôn ngữ của báo chí phản ảnh một hiện tượng ngôn ngữ không có nội dung nguyên tắc lâu dài vượt qua khỏi tính bất thường và giảo hoạt của biến cố. Mỗi bài báo là một hoạt cảnh cho một thực tại tuỳ theo góc cạnh tiếp thu và sự trình bày của nhà báo. Nhà báo nào, ngôn ngữ đó. Ngôn ngữ nào, thực tại đó. Con người ngôn ngữ thời nay đã đánh mất chiều sâu của nguyên tắc, của ngôi Lời khi hắn đắm chìm vào thế giới của báo chí.

Trong thế giới ngày hôm nay, ngôi Lời không có nơi trú ngụ. Con người báo chí của chữ viết và trang báo nay cũng đang chết dần mòn. Truyền hình và điện thoại đã lấn vào lãnh thổ của chữ viết. Chữ viết đã xuống ngôi từ lúc nó bị môi trường truyền thông mới của internet hạ bệ. Khi chữ viết xuất hiện trên màn ảnh vi tính, hay trên điện thoại, nó không còn trang trọng để được tôn trọng. Nó không có một sự hiện hữu lâu dài như là trên trang sách, trang báo giấy. Ngôn ng
báo chí từ internet thì cũng như là lời nói trên điện thoại hay là trên truyền hình. Chữ nghĩa cứ như gió thổi, như mây bay, như nước chảy qua cầu. Chúng xuất hiện và chúng tan đi ngay như bèo bọt của không gian ảo tuỳ theo từng cái click của bàn tay nhấn vào con chuột trên mặt bàn. Thế giới báo chí của internet không những chỉ là ảo, mà là bạc bẽo và vô vị.

Và đó là bản chất của trần gian bây giờ. Mọi người đều thi nhau nói rất nhiều nhưng không có điều gì đáng để lắng nghe; mọi người thi nhau viết thật nhiều nhưng không có điều gì đáng để đọc. Khi ngôn ngữ không còn nội dung chân lý để chuyên chở, không có cái Đạo để cưu mang, thì tất cả chữ viết của báo chí, dù ở phương tiện nào, rồi cũng bị đi vào phận ảo và bạc. “Con chồn có hang, con chim có tổ, nhưng đứa con của con Người (son of Man) – tức là ngôn ngữ – không có nổi chiếc gối để tựa đầu.” (Luke IX). Người thời nay, khi họ đã không còn tìm kinh sách, đâu còn tin vào lời lẽ, chữ viết của thánh hiền. Chân lý chỉ là ảo tưởng, ít ai còn tin vào chữ Đạo. Sách vở cũng chẳng mang giá trị nào – huống chi là ngôn ngữ báo chí.

Hễ khi sách vở và báo chí đã không còn là một cưu mang cho lý tưởng, không còn là con đường cho nguyên tắc, không là hiện thân cho ý chí cá nhân và tập thể, thì văn viết đã bị mất chỗ đứng tự trong lòng người đọc. Nguyên nhân của sự xuống dốc này không phải là vì nội dung, lập trường hay là khả năng của người viết, nhà văn hay nhà báo. Mà trái lại. Sách vở và báo chí đã chết khi con người ngôn ngữ thời đại đã không còn tin vào ngôn ngữ nữa.

Cái chết của văn hóa đọc, từ sách vở đến báo chí, và song song với nó là tự do báo chí và tư tưởng, ngôn luận – như trường hợp ở Việt Nam bấy lâu nay – phát xuất từ sự sụp đổ giá trị của văn viết. Khi cả một dân tộc không còn tin vào và coi trọng văn viết thì tự do tư tưởng, ngôn luận, báo chí tự nó chỉ là một trò ảo, để rồi sẽ không có một con người hay tập thể nào tôn trọng – hoặc chịu dấn thân tranh đấu cho lý tưởng này.

Trong cảnh chợ chiều của nhân loại, khi mà ngôn ngữ đang bày ra tràn ngập nhưng không ai coi trọng chúng nữa, chữ viết dù có cho không cũng không ai thèm nhận. Ngôn ngữ không còn là biểu tượng và tự chính nó nay đã là hư không. Văn viết đã mất hồn; văn nói không còn nghĩa. Hãy tin ta đi. Ngôn ngữ đã chết. Vì trong trái tim của nhân loại đương thời thì ngôi Lời đã tắt lửa tự thưở nào.

Truyện ngắn Huynh Đệ

8 Comments

Thể theo lời đề nghị của nhà văn Trang Hạ, người dịch truyện Mẹ điên của Vương Hằng Tích mà khi đọc thì có lẽ phải 80% độc giả sẽ khóc (trong đó có tôi). Xin post ảnh của truyện Huynh đệ của báo TTCT tuần này. Theo báo viết Huynh đệ cũng là một truyện TQ gây xúc động lớn trên mạng và chưa rõ tác giả là ai.

Tuy nhiên bản thân tôi thấy Huynh đệ chỉ là bản sao kém cỏi của Mẹ điên mà thôi. Khi đọc đến 2/3 truyện thì tôi biết Huynh sẽ chết, đúng theo mạch truyện Mẹ điên… Trong lòng ác cảm sự đạo văn tinh vi này nên cuối cùng tôi chẳng thấy xúc động tí nào sau khi đọc hết Huynh đệ.

Ảnh chụp truyện Huynh đệ trong hai link sau:
Phần 1
Phần 2

Khảo cổ Trường An

4 Comments

Hình trên là đường cống thoát nước trục đông – tây vừa phát lộ tại di chỉ thành Trường An, kinh đô Hán cách đây hơn 2000 năm. Đường kính cống là 1,3m, xây bằng gạch chỉ, còn nguyên vẹn.

Người ta đã sơ lược tính được kích thước 1 trong 12 cổng thành Trường An : rộng 32m, sâu 20m, chia làm 3 lối đi, mỗi lối đi 8m.

Hạ Vũ trị thủy

1 Comment

Trích đoạn truyện ngắn Tuyết nguyệt:

“Có không sự bế tắc giữa hiện tại để quay về quá khứ, vinh danh quá khứ? Một trí thức hữu dụng điển hình phương Tây không cần biết nhiều đến phương Đông. Họ ít khi thấu triệt quan niệm Nhân sinh bản ác của Tuân Tử là cách đề cao giáo dục, là sự tương hỗ đáng giá cho Nhân sinh bản thiện của Mạnh Tử chủ trì lòng nhân. Người Nhật chúng tôi thành công bởi không tự ti trong hào quang trung cổ, không sợ sệt tương lai, luôn dấn thân tiếp thu cái mới, cầu thị điều hay với ý thức trách nhiệm. Chúng tôi giàu có tri thức hơn bất cứ một người phương Tây hay phương Đông thuần chất nào”.

“Tôi e rằng các bạn đôi khi còn ngộ nhận. Mâu thuẫn của nền văn minh vật chất phương Tây với thiên nhiên là mâu thuẫn hủy diệt lẫn nhau. Để có gỗ chất đầy vào hầm tàu của tôi đen đến cảng này, hàng chục hecta rừng đã bị tàn sát. Đất trống, đồi trọc sẽ dẫn đến lũ lụt chết người, tàn phá nông nghiệp của biết bao cộng đồng cư dân. Hài hòa với tự nhiên, nương dựa vào thiên nhiên, cải tạo mặt đất để phục vụ đời sống, không “đấu tranh” một mất một còn với ông trời mà tạo nên chỉnh thể đối lập trong thống nhất là tư duy, tư tưởng đã có từ rất xưa của người Á Đông”.

Nhìn vào mắt Yukiko tôi biết cô không nắm bắt được nội dung tôi muốn chuyển tải. Không phải cô kém cỏi mà chính vì giới hạn tiếng Anh của tôi và của cô. Nhưng có hề gì. Tôi bỗng nhớ đến cuộc đấu tranh trong truyền thuyết Sơn Tinh và Thủy Tinh của dân tộc mình. Rõ ràng đây là cuộc đấu tranh triệt tiêu đối thủ. Nó hoàn toàn sơ khai và sơ sinh so với chuyện Hạ Vũ trị thủy.

***

Yukiko tin loài người không bị thoái hóa, thui chột mà ngày càng mạnh mẽ hơn khi bỏ vùng xích đạo ấm áp để tiến lên phương bắc băng giá cách nay mấy chục ngàn năm. Những lý do như nhân mãn, thiếu hụt lương thực hoàn toàn thuyết phục. Yukiko thấy giá trị của thử thách là ổn hơn hết nhưng quá mơ hồ với những cái đầu trực quan dễ dãi. Vượt qua chướng ngại, vượt qua bản thân, vượt qua đối kháng ngoại vi, con người đã hòa với thiên nhiên trở thành một thể thống nhất, để trở thành loài động vật thống trị quả đất. Sự thống trị ấy đang cực đoan hóa, nó hiển hiện nguy cơ tự hủy cục bộ, đầu tiên là ở những nước nghèo, phải bán tài nguyên cứu đói, đấu giá môi trường với tăng trưởng.

———-

Thơ: NGỦ

7 Comments

Ngủ

***

Chết một giấc dài

Hóa ra trong mơ còn nhạc

Gác cao

Thanh lặng

Gà cảnh gáy sai giờ

*

Chết một giấc dài

Mở mắt ra thấy toàn tượng sáp

Nụ cười

Câu nói

Tăm tắp nét khuôn

*

Chết một giấc dài

Bao nhiêu năm

Chật chội cõi riêng

Nhát hèn

Im tiếng

*

Chết một giấc dài

Thịt da nhăn như xác ướp

Nền khảo cổ hãnh tiến

Bảo thủ

Ngu đần

*

Chết một giấc dài

Đất nghèo

Vẫn giàu có lương tri

Vẫn tự sướng

*

Chết một giấc dài

Đỉnh màn ướt

Đáy quần nhớp nháp

Muỗi vo ve hát khúc đầm lầy

*

Chết một giấc dài

Ai kẻ không dám dậy?

Ngủ dưới ánh mặt trời

Mà hay?

*

Nhiều giấc chết dài

Nối nhau thành một cuộc đời vô nghĩa

***

(Còn nữa, còn sửa…)

Cụ rùa hay cụ Giải/Ba ba/Cua đinh?

6 Comments

Nhìn hình trên thì rõ ràng cụ “rùa” Hồ gươm phải được gọi là cụ Giải. Bỗng nhớ đến 1 đoạn tiểu thuyết “Miền cổ tích hoang hư” của chính… mình.

Một số dẫn chứng:
Báo Tuổi trẻ:
Thứ Tư, 31/03/2004, 08:27 (GMT+7)

Rùa hồ Gươm thuộc loài giải Thượng Hải

Hồ Gươm

TT (Hà Nội) – Theo Viện Khoa học & công nghệ VN, nhóm nghiên cứu hình thái rùa hồ Gươm (hồ Hoàn Kiếm) của viện đã xác định được rùa hồ Gươm thuộc loài giải Thượng Hải, một trong số năm loài của họ ba ba (gồm giải Thượng Hải, giải khổng lồ, ba ba gai, ba ba trơn và cua đinh).

Trước đó, Sách đỏ VN xuất bản năm 1992 chỉ xác định được rùa hồ Gươm thuộc loài giải (Pelochelys bibroni). Kết quả nghiên cứu cũng cho kết luận rùa hồ Gươm và những mẫu xương rùa thu thập được tại sông Mã (Thanh Hóa), Lương Sơn (Hòa Bình), Ba Vì (Hà Tây), Hạ Hòa (Phú Thọ) đều cùng thuộc loài giải Thượng Hải.

* Chiều 30-3, công bố kết quả nghiên cứu thành phần tảo độc, GS.TS Đặng Đình Kim, viện phó Viện Công nghệ môi trường, cảnh báo: “Mật độ tảo độc trong nước hồ Gươm hiện ở mức rất đáng báo động”.

Ông Kim cho biết tỉ lệ tảo Microcystis (rất độc) trên tổng số thực vật phù du trong nước hồ Gươm hiện nay là 97,6%. Năm 1998 tỉ lệ này là 41%. Trong đó có những loài tảo có mật độ trên 500 triệu tế bào/lít nước trong khi mức cảnh báo cao chỉ là 15 triệu tế bào/lít nước. Nhóm nghiên cứu đã thí nghiệm cho cá sống trong môi trường nước hồ Gươm, kết quả cá đều chết.

————

Giả thiết Giải Hồ gươm được đưa từ Lam Kinh đến Thăng Long được tôi nêu ra từ khoảng 2003, trong 1 bài tạp văn mang tên “Huyền thoại hoàn kiếm” dưới bút danh T.L.T, tạp chí T.Luận in tại Pháp. Sau này tôi có sửa bài này lại chút xíu, ký tên T.T.Du. Tôi nhớ rất rõ chỉ vài tuần sau khi bài này đăng tại Pháp thì trên báo SGGP có bài của GS Hà Đình Đức cũng có ý tưởng tương tự, sau này ông đã khai triển ý tưởng này ra và trả lời nhiều lần trên các báo đài. Có thể ông Đức ấp ủ ý tưởng từ lâu, trước đó, nhưng thực sự tôi không biết… Ở đây (1 bài báo 2008) thì ông bảo ông đưa ý tưởng này ra từ năm 1997.

———–

Phương ngắm hồ Gươm lần cuối như muốn đắm trọn mình trong tiết thu se lạnh. Tháp cổ trăm năm ru gió. Phất phơ hàng liễu bờ bên kia. Hương hoa sữa đêm qua còn vương đâu đó. Chuyện kể một thương nhân ma mãnh biết xem long mạch, hắn bợ đỡ thực dân rồi xin quan thầy Lang Sa cho phép xây tháp trên gò rùa để bí mật cải táng cha mẹ. Nhân công phản trắc ném hết xương cốt xuống nước rồi yểm hai chiếc quách không dưới móng tháp. Vài năm sau, hoạn lộ của tên Việt gian theo đuôi lũ cướp nước tan nát. Hắn bị giải quan và giam lỏng đến chết tại Hà Nội. Thật ra ngọn tháp xét kỹ chẳng lấy gì làm đẹp, hai tầng xây cửa gô tích xa lạ với truyền thống Á đông, nóc nhỏ bé tủn mủn không ra ngô khoai gì. Vì khuôn cảnh xung quanh trữ tình, nhìn mãi quen mắt nên giờ đây hồ Gươm mà không có tháp thì không còn thi vị…

Hồ Hoàn Kiếm huyền thoại của Lê Lợi, với Phương nửa gần nửa xa. Trong mắt mỗi người hồ Gươm mỗi khác, có buồn vui, có lãng mạn, có thực tế hoặc hư ảo. Không hiểu sao buổi sáng ấy Phương chợt nghĩ hồ Gươm là nghiên mực không bao giờ cạn. Chỉ cần chút tâm trí lãng đãng là đọc ngay được thiên lịch sử văn hiến bất hủ viết lên bầu trời và phản chiếu, thu nhỏ trên mặt nước xanh rêu phẳng lặng.

Gần 600 năm, người Việt cứ nhất mực gọi loài giải sống dưới hồ là rùa. Sự ngộ nhận khá ngây ngô, vì quy là rùa, còn giải tiếng Hán – Việt là miệt. Chẳng lẽ không gian của huyền thoại hoàn kiếm bao gồm hồ Gươm, gò ba ba và tháp cua đinh nghe quê mùa lắm. Thì ra chân lý đôi khi là thói quen sai lầm, lập đi lập lại nhiều đời.

Chân lý đã không thuộc về nhà cách mạng vĩ đại Hồ Quý Ly và những cải cách triệt để của ông. Giữa một lục địa bao la đầy dẫy tầm chương trích cú, việc ông đưa toán pháp vào để tuyển chọn hiền tài thật sáng suốt. Nếu không có ý chí độc lập tự chủ, ông ban bố chính sách, văn kiện triều đình bằng chữ Nôm làm gì. Kinh Lễ quy định đích thân thiên tử tế Nam giao, chư hầu cúng Xã tắc. Năm mậu thìn 968 Đinh Tiên Hoàng lập đàn Xã tắc. Thời Lý chỉ có Vu đàn, quan lại thường đến cầu mưa. Đời Trần sử sách không nhắc đến việc này, trừ hai câu thơ “Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã – Sơn hà thiên cổ điện kim âu”. Như vậy Đàn Giao xây ở Đốn sơn, Tây Đô chứng tỏ nhà Hồ đã nâng địa vị triều đình và quốc gia lên tầm cao mới. Nhân dân không theo ông, kẻ sĩ không đoàn kết bên ông chống ngoại xâm mà cứ bo bo xem mình là tôi đòi của họ Trần mạt vận thối nát. Đất nước dưới ách chiếm đóng quân Minh vĩnh viễn mất đi cơ hội vượt qua cái huôn nhược tiểu. Đành đoạn lắm, đoàn bô lão Kỳ La vẫn cố nguyền rủa người anh hùng thất trận, họ đọc trại Kỳ La thành Cơ Lê nghĩa là trói họ Lê (họ cha nuôi Hồ Quý Ly) và chơi chữ Thiên Cầm là đàn trời thành ra trời bắt. Chính xác thì người Việt đã đang tâm tống cổ cha con họ Hồ về Trung Hoa với dòng dõi nhà Ngu. Cuối đời mình, Hồ Nguyên Trừng, Edison Việt Nam đầu thế kỷ 15 với sáng chế tiêu biểu là súng trường cá nhân, đành an phận với chức thứ trưởng bộ Công chánh Minh triều, đau đáu hướng về cố quốc rồi tự gọi mình là “lão già nước Nam” trong trường thiên ai oán “Nam ông mộng lục”.

Hồ Quý Ly cũng chẳng phủi tay giũ áo đi biệt.
Ông đã đào tạo cho non nước này tầng lớp sĩ phu mới, ít thiển cận và có đầu óc. Họ phò tá Lê Lợi phục quốc và xây dựng nhà nước Nho trị vững vàng. Đến đời cháu Lê Lợi, Việt Nam vụt lớn mạnh thành đế quốc rồi tiêu diệt được Chiêm Thành, trở lực khủng khiếp nhất trên con đường Nam tiến của dân Việt. Nguyễn Trãi nổi bật trong số ấy. Là quân sư thân cận Lê Lợi, văn võ song toàn chắc chắn họ Nguyễn đã giúp Lê Thái Tổ xây dựng màn kịch trả gươm. Khu đầm lầy thời Lý – Trần được nạo vét, đắp đập ngăn nước và thả giải bắt từ Lam kinh ra. Cho dù huyền thoại “hoàn kiếm” ra đời trên bất cứ nền tảng văn hóa nào, mục đích duy nhất và cuối cùng của nó vẫn là hợp thức hóa, chính thống hóa Lê triều. Hình ảnh rùa thần mang tính chất siêu nhiên, nó sao chép tích “Thăng long” thời Lý Công Uẩn, và xa lạ với khái niệm “thiên tử – con trời” trong triết lý Khổng giáo. Điều này chứng tỏ xã hội Việt Nam khi đó vẫn còn hơi hớm thần quyền lạc hậu. Để lấy lòng dân, Lê Lợi phải làm cho họ tin tưởng rằng mình có sự hậu thuẫn của các lực lượng siêu nhiên.

Nếu nhìn nhận lịch sử là sự vận động đa chiều của xã hội, thời điểm ra đời của huyền thoại hồ Gươm chính là bước ngoặt đáng lưu ý. Từ đó về sau, những truyền thuyết hoang đường như vậy vẫn còn xảy ra nhưng ở mức độ cường điệu khá thấp, và tác dụng ngày càng hạn hẹp. Nó chỉ ra chiều hướng thượng của dân trí.

Không còn nghi ngờ nhiều nữa, Nguyễn Trãi là đồng tác giả của huyền thoại hoàn kiếm. Ba họ nhà ông cuối cùng đã rơi đầu vì chính tài năng kiệt xuất của ông. Dân gian hoặc triều đình lại phong thần phong thánh cho ông cũng bằng một huyền thoại nhưng tuyệt đối u ám, trí trá và cực kỳ vô nghĩa, đó là câu chuyện máu đỏ rắn trắng thấm qua 3 trang sách nho học! Mọi anh tài ẩn mạng dưới sao khuê đều tự giác kê gươm sắc cạnh cổ mình. Khí chất ấy, đáng tiếc chẳng còn tồn tại đến hôm nay.

Cụ giải dưới kia chắc hiểu kẻ giả trí luôn mang giấc mộng hư văn vừa ngông vừa dại. Bọn họ mạo muội vay mượn nét chữ giáp cốt sơ khai trên lưng họ hàng cụ, vẽ vời sứ mệnh ảo tưởng. Ai đã cho mình cái quyền được kiểm duyệt, cắt xén, chắp vá cả Bình Ngô đại cáo. Câu “Việt Triệu, Đinh, Lý, Trần chi triệu tạo ngã quốc…” được dịch nôm thành “Từ Đinh, Lê, Lý, Trần gây nền độc lập…”. Và ở đâu đó, người ta chẳng ngại ngần vứt đi dòng chữ “thiếu lập trường”: Thị do thiên địa tổ tông chi linh hữu dĩ âm tướng, mặc hựu nhi trí nhiên dã (Nhờ trời đất tổ tông khôn thiêng chở che, giúp nước nhà). Áng văn lặng câm, vô hình chính là áng văn bất hủ. Những tiếng kêu thét tắc ngẹn làm người ta dựng tóc gáy: “Văn chương thiên cổ sự – Đắc thất thốn tâm tư”.

Hồ gươm là Văn trì, là giếng Thiên Quang, là tấm gương soi của thời gian. Tất thảy đen tối và trần trụi đều lộ tẩy. Trong ánh sáng thông tuệ, mặt gương trả lại sự thật và chân lý bạch nhật. Mặt gương đảo ngược hiện thực, giũ tung bụi mù vô minh và lắng nó xuống bùn. Những thân phận được tẩy sạch nhơ nhuốc không đáng có sẽ khoe ra vẻ đẹp vĩnh cửu từ lâu đã bị bóng tối đè nén, âm mưu hủy hoại.

Vầng dương ưng ửng góc trời hay đơn giản chỉ là ánh sáng liêu trai trung cổ? Hà Nội cuối thu. Mây thấp. Cơn mưa hồng thủy rất cần cho nền văn minh lúa nước. Hình thái tàn héo, già nua, cằn cỗi đã mất hết năng lực sáng tạo sẽ tan loãng. Ngày mới sẽ tái sinh, hoàn đồng và phục thiện mọi thứ. Lũ lụt đi qua phù sa ở lại. Mùa Xuân còn xa lắm không? Ngày mai lập đông, trời sẽ rét nứt da tái thịt?

thôn Sấu

Quê hương yêu dấu (Dọc hành chấm đứng). Xin các bạn vui lòng ghi rõ nguồn và dẫn link đến trang này nếu đăng lại bài của tôi

thienthanh2017.wordpress.com/

Thượng thiện nhược thủy, thủy thiện lợi vạn vật nhi bất tranh - Lão Tử

Học Thế Nào

How We Learn

leminhkhaiviet

About Vietnamese Cultural History and Scholarship

Xuân Bình

Nhà báo tự do

Nguyễn Huy Hoàng

the star is fading

Nghiên cứu lịch sử

Các bài nghiên cứu, biên khảo và dịch thuật các chủ đề về lịch sử

Le Minh Khai's SEAsian History Blog

Always rethinking the Southeast Asian past

trinhythu

Trịnh Y Thư WordPress.com site

trandangtuan.com

Men lá rượu ngô trong

4th Avenue Café

Free non-fiction translation

WordPress.com

WordPress.com is the best place for your personal blog or business site.

Trương Thái Du's Blog

Văn chương thiên cổ sự - Đắc thất thốn tâm tri...

No More Goat Soup

No goats were harmed in any way while making this blog. (We did kill all the sheep though)