Lấy tro ĐỔ XUỐNG sông Sài Gòn???

3 Comments

Hãy rải tro anh xuống lòng sông rộng
Đừng đổ đi cả một đời hoa…

Sáng nay nhận 1 email có bài viết rất hay của GS Nguyễn Hữu Liêm với tựa đề “Ngôn ngữ đã chết”. Hiện đang email xin phép ông post lại vào blog.

Quả thật ngôn ngữ đã chết, ít nhất là trong trường hợp Vũ Ân Thy (nhà văn/nhà thơ? nhà báo SGGP), với một bài báo khóc CAO VŨ HUY MIÊN:

Chị Hồng, vợ anh, một ca sĩ TNXP cùng thời với anh, kể lại rằng, trước khi đi xa, anh có nguyện vọng, đem đến Bình Hưng Hòa hỏa táng anh, lấy tro hài cốt của anh đổ xuống sông Sài Gòn”.

Cái chết của ngôn ngữ (Nguyễn Hữu Liêm)

8 Comments

Từ phía trái

Nguyễn Hữu Liêm

Cái chết của ngôn ngữ

“In the beginning was the Word.” (John I)

Ở đầu thế kỷ trước, con người ngôn ngữ tây phương, như là hiện tượng nhân văn sau cùng, được khai sinh. Ở giờ phút bắt đầu đó, hắn tuyên bố rằng tất cả các vấn nạn tôn giáo và triết học chỉ là vấn đề của ngôn ngữ. Không hề có vấn đề chân lý tự bản chất – những câu hỏi và khúc mắc siêu hình, nhìn kỹ ra, chẳng qua là sự hiểu lầm về ngôn từ. Ngôn ngữ bắt đầu tất cả. Và cũng chính ngôn ngữ sẽ chấm dứt toàn diện các hiện tượng nhân văn.

Chúng ta hãy nhìn lại. Con người xưa cũ mang ý chí lập danh, nay hắn chỉ muốn lập ngôn. Hắn thấy được rằng nhân loại sống chết theo ngôn từ. Nói như Foucault thì con người chỉ biết yêu sau khi đọc văn chương về yêu đương. Văn thơ làm say đắm, tạo nên hình ảnh, thần tượng. Những thế hệ kế tiếp viết tuyên ngôn và xách động cách mạng. Biết bao tầng lớp thanh niên đã bỏ nhà, gia đình bà con thân thích, lên đường đi vào cõi máu xương gian khổ vì tiếng gọi của khái niệm ngôn từ. Ngôn từ sáng tạo. Ngôn từ huỷ diệt. Văn chương nâng cao tinh thần và đày đọa ý chí. Ngôn ngữ và văn chương là cơn sóng cho con thuyền hiện hữu đi qua biển thế gian vô cùng.

Con người là con vật biểu tượng. Nhưng ngôn ngữ không những chỉ là biểu tượng – mà là của những nhánh cây xa cành từ một gốc rễ huyền nhiệm sâu xa. “Tự khởi thuỷ là ngôi Lời (the Word). Chân lý đã được hình thành và trở nên thực thể, ngôi Lời trở nên thân xác, và ngôi Lời chính là Chân Lý sống giữa chúng ta, mà chúng ta không biết” (John I). Và khi mà chân lý đến voi những cá nhân khao khát tinh thần “quây quần bên nhau” lắng nghe vị thầy phát ngôn về sự Thật (Vedas), mỗi lời nói của vị Thầy chính là Chân lý. Đạo chính là Lời – là “logos.”

Thế giới của ngôi Lời có rất ít lời nói. Con người ở đó chỉ nói khi có nguời biết lắng nghe. Trong sinh hoạt của cuộc sống hằng ngày, thiên nhiên nói và ca hát cho nhân loại. Khi mở miệng nói, người ta chỉ muốn đối thoại với Trời và Đất. Con người ít nói chuyện với nhau nếu không cần thiết – vì càng nói thì giữa người và người sự hiểu lầm càng tăng cao. Im lặng, vì thế, là phương cách thông hiểu phổ quát cho gia đình và tập thể.

Cho đến khi nhân loại chuyển sang một thời quán mới của tâm thức, văn viết xuất hiện và dần dần chiếm vai trò của văn nói. Nhưng con người cũng chỉ sử dụng văn tự, chữ viết, cho những nguyên tắc đạo lý sâu xa và vĩnh hằng – còn những gì liên quan đến chuyện thường nhật thì chỉ sử dụng tới lời nói mà không cần văn bản, ấn ký. Văn viết là chiếc cầu của ngôi Lời, bắt nhịp từ Đạo lý, qua sự thuyết giảng và “quây quần lắng nghe,” đến một thế giới văn nói chỉ quan tâm đến những vấn đề truyền thông hằng ngày. Nhưng khi chữ viết đã trở nên quá phổ biến, con người ngôn ngữ đã trở nên những trí thức vốn sống nhiều về lý tính qua chữ viết. Người có học, từ đó, theo giòng thời gian càng viết nhiều hơn là nói, đọc nhiều hơn là nghe. Cái học từ đó đồng nghĩa với cái đọc.

Tuy nhiên, vốn là con người sống giữa trần gian, kẻ đọc sách đối diện với một khoảng không mới. Đó là sự trống vắng giữa hai bờ của sách vở, vốn viết về chuyện lâu dài, sâu xa, đối với những mẫu đàm thoại hằng ngày trong cuộc sống đời thường. Đây là lúc một chiếc cầu truyền thông mới xuất hiện: Báo chí.

Khi từ giã thế giới tư tưởng từ sách vở, người thành phố ở Tây Âu thay vào khoảng trống đó bằng báo chí. Hắn càng yêu trần gian đang là, hắn càng mê báo chí. Mỗi trang báo là một ly cà phê đánh thức tri thức và tình cảm về với một thực tại đang đi qua mà chính hắn không muốn dấn thân trực tiếp. Khi đọc báo, hắn chỉ tiếp xúc với biến cố trần gian qua ký hiệu ngôn ngữ in trên giấy. Thân xác của người đọc báo chỉ tiếp xúc với hiện tượng bằng hai cơ năng của tay cầm tờ báo và mắt để đọc. Trong tất cả lục năng tạo nên hiện tượng, tờ báo chỉ cần “sắc” và “pháp” và lại bỏ ra ngoài “thanh, hương, vị, xúc.” Thế gian được người đọc tiêu thụ qua ngôn ngữ một cách thụ động.

Nói ngắn gọn: tờ báo chính là thế gian. Lòng khát sống với thế gian nay chính là ý chí muốn trang trải tâm tư vào từng trang báo.

Nhưng thế gian mà tờ báo dọn ra cho độc giả là một mặt hồ nông nỗi, lung linh phản chiếu rất mơ hồ một thực tại không có chiều sâu – chỉ vì ngôn ngữ của báo chí phản ảnh một hiện tượng ngôn ngữ không có nội dung nguyên tắc lâu dài vượt qua khỏi tính bất thường và giảo hoạt của biến cố. Mỗi bài báo là một hoạt cảnh cho một thực tại tuỳ theo góc cạnh tiếp thu và sự trình bày của nhà báo. Nhà báo nào, ngôn ngữ đó. Ngôn ngữ nào, thực tại đó. Con người ngôn ngữ thời nay đã đánh mất chiều sâu của nguyên tắc, của ngôi Lời khi hắn đắm chìm vào thế giới của báo chí.

Trong thế giới ngày hôm nay, ngôi Lời không có nơi trú ngụ. Con người báo chí của chữ viết và trang báo nay cũng đang chết dần mòn. Truyền hình và điện thoại đã lấn vào lãnh thổ của chữ viết. Chữ viết đã xuống ngôi từ lúc nó bị môi trường truyền thông mới của internet hạ bệ. Khi chữ viết xuất hiện trên màn ảnh vi tính, hay trên điện thoại, nó không còn trang trọng để được tôn trọng. Nó không có một sự hiện hữu lâu dài như là trên trang sách, trang báo giấy. Ngôn ng
báo chí từ internet thì cũng như là lời nói trên điện thoại hay là trên truyền hình. Chữ nghĩa cứ như gió thổi, như mây bay, như nước chảy qua cầu. Chúng xuất hiện và chúng tan đi ngay như bèo bọt của không gian ảo tuỳ theo từng cái click của bàn tay nhấn vào con chuột trên mặt bàn. Thế giới báo chí của internet không những chỉ là ảo, mà là bạc bẽo và vô vị.

Và đó là bản chất của trần gian bây giờ. Mọi người đều thi nhau nói rất nhiều nhưng không có điều gì đáng để lắng nghe; mọi người thi nhau viết thật nhiều nhưng không có điều gì đáng để đọc. Khi ngôn ngữ không còn nội dung chân lý để chuyên chở, không có cái Đạo để cưu mang, thì tất cả chữ viết của báo chí, dù ở phương tiện nào, rồi cũng bị đi vào phận ảo và bạc. “Con chồn có hang, con chim có tổ, nhưng đứa con của con Người (son of Man) – tức là ngôn ngữ – không có nổi chiếc gối để tựa đầu.” (Luke IX). Người thời nay, khi họ đã không còn tìm kinh sách, đâu còn tin vào lời lẽ, chữ viết của thánh hiền. Chân lý chỉ là ảo tưởng, ít ai còn tin vào chữ Đạo. Sách vở cũng chẳng mang giá trị nào – huống chi là ngôn ngữ báo chí.

Hễ khi sách vở và báo chí đã không còn là một cưu mang cho lý tưởng, không còn là con đường cho nguyên tắc, không là hiện thân cho ý chí cá nhân và tập thể, thì văn viết đã bị mất chỗ đứng tự trong lòng người đọc. Nguyên nhân của sự xuống dốc này không phải là vì nội dung, lập trường hay là khả năng của người viết, nhà văn hay nhà báo. Mà trái lại. Sách vở và báo chí đã chết khi con người ngôn ngữ thời đại đã không còn tin vào ngôn ngữ nữa.

Cái chết của văn hóa đọc, từ sách vở đến báo chí, và song song với nó là tự do báo chí và tư tưởng, ngôn luận – như trường hợp ở Việt Nam bấy lâu nay – phát xuất từ sự sụp đổ giá trị của văn viết. Khi cả một dân tộc không còn tin vào và coi trọng văn viết thì tự do tư tưởng, ngôn luận, báo chí tự nó chỉ là một trò ảo, để rồi sẽ không có một con người hay tập thể nào tôn trọng – hoặc chịu dấn thân tranh đấu cho lý tưởng này.

Trong cảnh chợ chiều của nhân loại, khi mà ngôn ngữ đang bày ra tràn ngập nhưng không ai coi trọng chúng nữa, chữ viết dù có cho không cũng không ai thèm nhận. Ngôn ngữ không còn là biểu tượng và tự chính nó nay đã là hư không. Văn viết đã mất hồn; văn nói không còn nghĩa. Hãy tin ta đi. Ngôn ngữ đã chết. Vì trong trái tim của nhân loại đương thời thì ngôi Lời đã tắt lửa tự thưở nào.

Vừa viết nhảm vừa nghe nhạc

1 Comment

Viết xong 3 truyện ngắn. Bắn 3 phát, chỉ cần trúng 1 phát báo xuân hay cận xuân để làm quà tết bè bạn và người thân là tốt rồi. Tháng này tính ra năng suất “lao động viết văn” cao nhất trong năm. Bỗng nhận ra cái cảm giác chán chán mỗi khi hoàn thành một truyện ngắn. Chẳng hiểu sao nữa. Hai bản thảo tiểu thuyết vẫn dang dở. Thiếu kiên nhẫn, thiếu sự tĩnh tâm cần thiết để ngồi đồng.

Mấy hôm nay đọc phongdiep.net thấy các nhà phê bình cứ chửi nhau loạn xạ. Một nhà văn có can dự thì đã bắt đầu tung c, đ lên blog rồi. Thảm! Đọc 3 truyện ngắn của Vũ Ngọc Tiến trong tập vừa bị thu hồi thấy xạo quá. Văn giả là thứ khó giấu nhất trên đời.

Cả năm nay gần như không nghe nhạc. Hôm nay mới nhận ra cái laptop thằng em cho là loại máy dòng entertainment. Loa cực hay, dù mở nhỏ và đêm khuya. Chọn nhạc, nhất quyết không thèm nghe TCS. À, một trong những lý do “cạch” TCS có lẽ TCS là giá trị của đám đông chăng? Vẫn thích nhất Văn Cao. Nhạc Văn Cao đã bị cái giọng chua lè và đầy đặn về kỹ thuật của Ánh Tuyết ám hại mười mấy năm nay. Trang web nhạc nào cũng có hơn nửa ca khúc Văn Cao do Ánh Tuyết bỏ bom. Hãi!

Bà con dạo này chán blog hết rồi. Biết bao nhiêu chi tiết văn học/học thuật trong những trang viết của mình đã nhặt nhạnh hoặc nhớ lại từ blog. Xưa từng add friend Trục Nhật Phi (CTT), một dạo thấy ổng toàn post truyện chưởng (tôi xem đấy là văn chương hạng bét), bực, remove. Gần đây đọc 1 số nghiên cứu văn hóa thấy hay quá, âm thầm lấy lại link, sáng ra bao nhiêu ý tưởng. Mà cụ này kiêu bà cố, hay tự khen nên nhiều lúc rất phản cảm. Ai cũng có một cái gót chân asin.

Mùa đông này phải về lại Đồ Sơn thôi. Những họng pháo phòng thủ trong hang núi chắc vẫn còn nguyên. Những bụi Dã Quì chắc đã rực vàng. Sẽ lang thang một mình, nhưng cứ nghĩ đến đoạn các đầu mối tiếp thị thịt tươi sẽ săn đuổi hết sức tận tình trong mùa ế khách này. Lại khớp!

À quên, vào edit thêm: Trung Quốc đã có những động thái mới nhất trên vùng biển Trường Sa. Tôi đã linh cảm điều này rất lâu rồi, và mới đây là đoạn cuối trong truyện ngắn Đông Chí: “Chuyến tới chúng tôi sẽ vào biển Hoàng hải, chở sắt cuộn từ Đại Liên Trung Quốc hay Incheon Nam Hàn gì đó đến Đài Loan. Mùa xuân còn xa. Quê nhà cũng còn xa. Nhưng cơn bão sót số mười ba, đang hình thành từ một áp thấp ở vùng biển Trường Sa rất gần với lo lắng của tôi khi đọc bản tin thời tiết. Chiếc đòn gánh của bà mẹ Việt Nam lại oằn xuống, sắt se ngày Đông chí”.

Bài hay BBC

2 Comments

Người Việt hải ngoại và California

Andrew Lâm
Pacific News Service, San Francisco

Phần lớn người Việt hải ngoại sống tại Hoa Kỳ
Gần ba triệu người Việt đã chạy ra nước ngoài và tản mác ở khắp năm châu lục. Cá nhân tôi có người thân sống ở sáu quốc gia và ba châu lục.

Nhưng gần một nửa số Việt kiều định cư tại Bắc Mỹ và số lượng lớn nhất tập trung tại California.

Tại sao lại là California? Ban đầu chỉ là sự may rủi. Trại tị nạn Pendleton, gần San Diego, là nơi đón nhận đa số trong đợt sóng tị nạn đầu tiên. Nhà làm phim Tony Bùi đã làm phim Green Dragon (Rồng xanh) để tưởng nhớ lớp người Mỹ gốc Việt thế hệ đầu, và nó kể câu chuyện về cuộc sống trong Trại Pendleton năm 1975.

Tiểu bang Vàng

Người tị nạn dần dần được những người Mỹ có lòng bảo trợ đưa ra khỏi trại. Nhiều người đến sống ở gần Quận Cam và San Diego. Có người lại lên miền bắc, đến Bay Area (Khu vực vịnh San Francisco) và rồi sau đó là thung lũng San Joaquin.

Từ may rủi chuyển thành nghiễm nhiên. Nhiều người đã định cư ở các bang khác cũng di cư lần hai tới đây, để đoàn tụ gia đình, để tránh rét và tìm việc.

Nhiều thuyền nhân, ở châu Âu và châu Á, cũng tìm đến đây, hy vọng làm giàu.

Theo điều tra dân số năm 2000, trong khoảng một triệu người Việt ở Mỹ đã có gần một nửa sống ở California – tiểu bang có dân số Việt lớn nhất bên ngoài Việt Nam.

Đó là vì sao Knight Ridder, một trong những dây chuyền báo chí lớn nhất của Mỹ, lại thành lập một tuần báo tiếng Việt, Viet Merc.

Tờ báo con của Knight Ridder, San Jose Mercury, cũng là một trong vài tờ báo Mỹ vẫn còn đặt văn phòng ở Việt Nam.

Từ tị nạn thành công dân

Nhiều người Mỹ gốc Việt, khi nói về đời mình, thường nhận xét cuộc sống của họ khác thế nào trước và sau khi rời Việt Nam.

Văn hóa Việt và Mỹ hòa quyện làm thành bản sắc

“Trước lúc ra đi, tôi không thể hình dung cuộc sống ở Mỹ sẽ ra sao” – tôi thường nghe câu này từ người thân, bạn bè khi họ kể về quá khứ.

Cái biến đổi trong tâm thức người Việt tị nạn chính là ý tưởng giản dị mà mạnh mẽ về sự tiến bộ.

Tại Tiểu bang Vàng (Golden State), nơi giấc mơ có thể thành hiện thực, anh ta trở nên tham vọng.

Anh ta nhìn thấy nhà hàng của mình từ bảng “cho thuê” của một cửa hàng tàn tạ trong một khu vực nghèo đói. Anh ta nhìn thấy con mình tốt nghiệp từ trường hạng nhất. Anh ta tưởng tượng có nhà với hồ bơi trong năm năm tới – toàn là những thứ không thể có ở quê nhà.

Tấn bi kịch bị trục xuất hồi đầu theo năm tháng được thay bằng niềm hân hoan khi có đẳng cấp mới cùng tiền bạc.

Một cộng đồng lúc đầu tự xem đang sống lưu vong dần dần có sự tự đánh giá khác. Họ bắt đầu xem mình là cộng đồng nhập cư. Bắt đầu xem nước Mỹ là nhà.

Chính trị cũ

Tôi đến Quận Cam để chiêm ngưỡng tượng đài chiến sĩ Việt Mỹ mà bố mẹ vẫn thường kể.

Cha tôi, viên tướng của miền Nam cũ, có chân trong ban cố vấn xây tượng đài. Chỉ trong một buổi chiều, người Việt ở Quận Cam đã quyên được hơn 200.000 đôla cho nó.

Nhưng tôi thấy lòng chia đôi khi đứng trước bức tượng. Tôi cảm giác điều gì đó giống như lòng yêu nước chảy trong huyết quản; và đồng thời, tôi cảm giác có nhu cầu phải tách xa.

Tôi chợt nhận ra rằng mặc dù một sợi dây lịch sử vẫn còn định hình những người mặc quân phục như cha tôi, thì một sợi dây khác cũng đang chi phối tôi.

Tiểu sử tác giả
Đến Mỹ năm 1975, ở tuổi 11
Biên tập viên ở Pacific News Service
Nhận giải của Asian American Journalists Association National Award (1993, 1995)
Có bài trên báo L.A. Times Magazine, New York Times

Trong khi cha xem mình là kẻ sống lưu vong tại Mỹ, tôi xem mình là một nhà báo Mỹ có nhiều chuyến đi về Vi
t Nam mà không nhiều rộn ràng cảm xúc.

Điều trớ trêu là cha không thể quay về đất nước mà cha trung thành chừng nào chính thể hiện nay còn cầm quyền.

Sự giận dữ của cha còn lại từ Chiến tranh Lạnh mà vẫn chưa kết thúc. Lịch sử, với cha tôi và với những người vẫn mặc quân phục 3 thập niên sau chiến tranh, có xu hướng chạy ngược lại về với ký ức cuộc chiến, về với cuộc tranh đấu đẫm máu mà đem lại thất bại và lưu vong.

Họ sống ở Mỹ nhưng hồn ở Việt Nam.

Phần còn lại của thế giới, biến đổi vì các lực đẩy toàn cầu hóa, đã vượt qua sự hận thù xưa, vượt qua tâm lý ‘ta và chúng nó’.

Tinh thần xuyên quốc gia

Với tôi, Việt Nam đã trở thành điểm chia tay, đôi khi là điểm đến và là mối ưu tư, nhưng không còn là quê hương.

Ngày xưa còn bé, tôi hát bài quốc ca ở sân trường Sài Gòn, mắt đẫm lệ, nhưng người đàn ông đang viết những dòng chữ này đã bớt dần cảm giác dân tộc xưa ấy.

Đứa bé ấy tin rằng biên giới, giống như Vạn lý trường thành, là đường phân ranh có thật, và ta không thể tranh cãi về sự toàn vẹn của nó.

Người đàn ông phát hiện ra rằng các đường biên giới bao giờ cũng có lỗ thủng.

Đứa bé ấy ngày nào tức tưởi vì bi kịch của dân tộc, căm giận lịch sử vì nó đã cướp đi quê nhà và bản sắc dân tộc.

Người đàn ông, dù ghen tị với những cảm xúc của thằng bé, đã cứng cỏi hơn vì quá trình tìm kiếm bản ngã của cá nhân.

Và không chỉ riêng tôi mới nghĩ thế. Những ngày này, tôi hay nói huyên thuyên về những cái tên của các nghệ sĩ, nhà văn người Mỹ gốc Việt, với sự hài lòng của một người từ lâu khao khát có thêm tiếng nói cho dân tộc, cho cộng đồng.

Kien Nguyen, Monique Truong, Truong Tran, Barbara Tran, Dustin Nguyen, Tony Bui, Andrew Pham, Duc Nguyen, Trung Tran, Long Nguyen, Dao Strom, Le thi Diem Thuy, Bao Long Chu, Nam Le – danh sách dài các nghệ sĩ, hơn một nửa là từ California, đang chầm chậm nhưng chắc chắn mở rộng.

Nếu chiến tranh Việt Nam là quá khứ chung của họ, quá khứ ấy không còn là điều duy nhất định nghĩa bản sắc của họ giờ này.

Chúng tôi đang trong quá trình tái tạo lại toàn bộ quan niệm về thế nào là người Việt, một định nghĩa vừa mở lại vừa bao quát

Họ là những nhà sáng tạo nổi lên vào lúc phương Đông đang nổi về kinh tế, văn hóa, và Tây phương ngày càng dựa vào phương Đông làm nguồn cảm hứng và giải trí.

Nhiều người trong chúng tôi đang thương lượng giữa Đông và Tây, ký ức và hiện đại, truyền thống và khát khao cá nhân. Chúng tôi đang trong quá trình tái tạo lại toàn bộ quan niệm về thế nào là người Việt, một định nghĩa vừa mở lại vừa bao quát.

Nam Nguyễn, chủ bút của tờ Cali Today, bảo tôi rằng huyền thoại tạo dựng dân tộc của người Việt cần được viết lại.

Nó cần là câu chuyện dân tộc vượt khỏi ràng buộc địa lý.

Đấy là truyền thuyết Lạc Long Quân – Âu Cơ, trăm trứng nở trăm con.

Nam Nguyễn bảo một người Việt mới đang “nở ra” ở nước ngoài. Anh không biết người Việt ấy là ai, vì người ấy chưa được mô tả trong bất kỳ huyền thoại hay văn chương nào của Việt Nam.

Nhưng tôi đã trông thấy người ấy.

Đó là Eric, cháu trai của tôi lướt web trong khi ông bà xem phim chưởng của Tàu lồng tiếng Việt.

Gần bên là bàn thờ phảng phất khói hương, nhưng trên màn hình máy tính là trò video game Nhật Bản.

Chỉ mới bảy tuổi mà thằng bé đã quen thuộc với mọi ý tưởng mâu thuẫn này, những ngôn ngữ và tình cảm khác biệt.

Eric chơi piano nhưng thích nhất là violin. Thằng bé nói tiếng Anh, chen tiếng Việt ở nhà cứ như đó là một ngôn ngữ.

Khi được hỏi muốn làm gì khi lớn, nó bảo “Chắc là làm phi hành gia,” cứ như thể đó là chuyện giản dị nhất trần đời.

Sự tưởng tượng của đứa bé không còn bị ràng buộc, và mặt trăng có thể là rất gần.

Và tôi cầu chúc cho đứa bé sẽ thừa hưởng thêm thật nhiều quê nhà và ngôn ngữ khi nó chu du bên trong và vượt khỏi bên ngoài Tiểu bang Vàng.

Về tác giả:Andrew Lâm, sinh năm 1964, có cha là Trung tướng Lâm Quang Thi. Ông cùng bố mẹ đến Mỹ năm 1975, sau đó học đại học ở Trường Berkeley và trở thành nhà báo. Đây là bản dịch tiếng Việt rút gọn từ một tiểu luận tiếng Anh sắp in trong một hợp tuyển về Việt Nam.


Đỗ Thanh
Tôi rất cảm động khi đọc bài viết này. Tôi không ghét bỏ tổ quốc hình chữ S mà tôi đã được sinh ra, tôi yêu đồng bào tôi những người dân da vàng. Nhưng đã có lúc tôi chốn chạy khỏi nó, khi “người vận hành” đất nước này làm thế nào để hàng trăm ngàn người phải trốn chạy khỏi tổ quốc của mình.

Tôi đã từng khóc khi bế đứa con trai hai tuổi nhìn lá cờ của nước sở tại trong sân trại tỵ nạn, lúc đó tôi tự hỏi tổ quốc tôi ở đâu, đâu là quê hương cho con tôi? Chúng ta không được lựa chọn vì đó là việc của tạo hóa, chỉ buồn một nỗi dân ta “được” rèn tập nhiều quá.

Trân
Tôi nhận thấy tác giả Andrew Lam ít nhiều còn tâm tư, tình cảm với cái cội nguồn VN, suy ngẫm về thân phận VN của chính mình và đồng hương. Đó làm
một sự đáng khen.

Đã lâu rồi tôi đã nhận xa một sự thật không thể đổi ngược là thế hệ sinh trưởng tại Mỹ (tôi nghĩ Âu Châu cũng vậy) sẽ không bao giờ gắn bó với đất VN hay cảm nhận cái “thân phận VN”.

Họ sinh ra và cùng lắm chỉ cảm giác như bao nhiêu người thiểu số khác tại hải ngoại nhưng họ sẽ sống một cuộc sống hoà nhập như người bản xứ. Tiêu chuẩn cuộc sống, chính trị, đạo đức của họ sẽ không khác người bản xứ .

Duyhanhbk
Là người dân trong nước tôi hoàn toàn cảm thông với những đồng bào mình sống xa tổ quốc. Cả triệu người dân do sống trong nước quá ngột ngạt đã phải tị nạn ở nước ngoài. Tôi cho rằng dòng máu Lạc Hồng mới là vĩnh cửu, chính trị chỉ là tức thời. Đã có thời chúng ta chạy theo cái không tưởng để cầm súng giết lẫn nhau dẫn đến mấy triệu dân Việt ngã xuống mà đất nước thì vẫn nghèo đói. Nhiều người con Việt dẫu yêu mảnh đất này vẫn phải ra đi sống cuộc sống tha hương.

Tôi hy vọng tương lai gần khác biệt chính trị sẽ hết và không còn là rào cản để người dân VIệt trong và ngoài nước kỳ thị nhau. Những ích kỷ về quyền lợi cá nhân của nhóm người nào đó đã đẩy dân tộc này đến thù hằn và chiến tranh. Nếu như sau năm 54 những người cộng sản từ bỏ đường lối đấu tranh cứng rắn và lập đối tác quan hệ đồng minh chiến lược với Mỹ rõ ràng lịch sử nước ta đã diễn ra theo một kết cục có hậu hơn.

Sơn Phúc
Đọc bài viết làm tôi nhớ đến tuổi thơ của mình. Một người được “nở” ra ở một nơi khác không phải là quê hương của mình có rất nhiều điều để nói.

Cha mẹ tôi di cư vào Nam năm 54, tôi sinh ra ở một thành phố miền Nam, hàng xóm tôi lúc đó thường gọi tôi là thằng nhóc Bắc Kỳ.

Rồi năm tháng qua đi tôi mới biết quê hương ngoài Bắc của mình lạc hậu quá nên mỗi khi ra đường hay bị người ta chọc quê.

Bây giờ ra đường ít ai biết được tôi là người Bắc 54 nhưng nếu ở Mỹ thì khác. Làm sao có thể che giấu gốc gác của mình? Người Việt mới dĩ nhiên văn minh hơn người Việt cũ, nhưng khác biệt đó chẳng nói lên được điều gì vì bạn sẽ không bao giờ trở thành tổng thống nước Mỹ.

An Pha, Bình Thuận
Andrew Lâm đã đi theo quy luật của thời đại. Bọn trẻ không thể nào quấn lấy hoài niệm của cha ông.

Bọn trẻ phải thoát ra được quá khứ tro tàn. Có như thế, dòng máu Lạc Hồng mới có thể sinh sôi nảy nở và hùng mạnh trên khắp năm Châu.

Quá khứ có cái hay, có cái dở. Bọn trẻ cũng cần phải bươi đống tro tàn để tìm kiếm những đốm than hồng không bao giờ vụt tắt. Nhưng đồng thời, chúng cũng có quyền gạt đi những đám bụi mờ ngăn chặn con đường tương lai.

Lịch sử thế giới đã chứng minh, không một dân tộc nào trên trái đất cứ ôm khư khư lấy tấm áo cũ, nhàu nát của mình. Lịch sử có sự tiến hoá. Mỗi cá nhân phải biết chọn cái đổi mới TỐT ĐẸP. Từ đó mới có thể tồn tại qua mọi thời. Người trẻ ở ngoại quốc, họ có quyền đó, miễn rằng đừng quên nguồn cuội TỐT ĐẸP của cha ông.

Thái Mai Sơn, Trà Vinh
Quyền lực nắm giữ địa cầu hôm nay trong tay 5 nước thắng thế chiến thứ hai. Bốn nước đa đảng, duy nhất còn lại một. Là con người mong quí bạn mở rộng kiến thức, tiến kịp trào lưu tiến hóa xã hội văn minh, như vậy con người mới vĩnh cửu hưởng trọn cái quyền mà tạo hóa ban cho.

Tình, Vũng Tàu
Xem bài và thấy tâm trạng người viết quá lộn xộn. Không xác định được ta là ai, chiến đấu cho giống nòi nào và chết cho tổ quốc nào.

Đấy là 1 trong các nguyên nhân dẫn đến thất bại mà người thân của Lâm mắc phải. Đến nay, Lâm vẫn không thoát ra được vòng luẩn quẩn đó.

Không khó lắm để thấy ý định muốn tạo ra một lớp “người Việt mới” có tinh thần tách ra khỏi lịch sử VN. Tốt thôi, người Mỹ đâu phải toàn là Mỹ gốc. Nhưng khi đã là Mỹ thì ai cũng sẵn sàng chết cho tổ quốc mình.

Lâm cứ ở Mỹ và hãy phụng sự tổ quốc như họ. Lâu lâu về VN chơi nếu thích, và khi đặt chân xuống TSN hãy nói to: Tôi không phải người VN. Sẽ chẳng có ai nhìn, mắng, hoặc đuổi Lâm.

Ở VN bây giờ cũng chẳng ai nhớ đến tướng Thi là ai. Quá lâu rồi để giữ mối hoài vọng về một chế độ đã mất. Nhưng muốn viết lại lịch sử thì Lâm và Nam Nguyễn chỉ có thể làm được khi về Biên hòa sinh sống. Vì đến giờ hai người vẫn chưa hiểu: Một chế độ chỉ tồn tại khi nó phải vì dân và được lòng dân.

Truyện ngắn Huynh Đệ

8 Comments

Thể theo lời đề nghị của nhà văn Trang Hạ, người dịch truyện Mẹ điên của Vương Hằng Tích mà khi đọc thì có lẽ phải 80% độc giả sẽ khóc (trong đó có tôi). Xin post ảnh của truyện Huynh đệ của báo TTCT tuần này. Theo báo viết Huynh đệ cũng là một truyện TQ gây xúc động lớn trên mạng và chưa rõ tác giả là ai.

Tuy nhiên bản thân tôi thấy Huynh đệ chỉ là bản sao kém cỏi của Mẹ điên mà thôi. Khi đọc đến 2/3 truyện thì tôi biết Huynh sẽ chết, đúng theo mạch truyện Mẹ điên… Trong lòng ác cảm sự đạo văn tinh vi này nên cuối cùng tôi chẳng thấy xúc động tí nào sau khi đọc hết Huynh đệ.

Ảnh chụp truyện Huynh đệ trong hai link sau:
Phần 1
Phần 2

Khảo cổ Trường An

4 Comments

Hình trên là đường cống thoát nước trục đông – tây vừa phát lộ tại di chỉ thành Trường An, kinh đô Hán cách đây hơn 2000 năm. Đường kính cống là 1,3m, xây bằng gạch chỉ, còn nguyên vẹn.

Người ta đã sơ lược tính được kích thước 1 trong 12 cổng thành Trường An : rộng 32m, sâu 20m, chia làm 3 lối đi, mỗi lối đi 8m.

Hô khẩu hiệu

4 Comments

Bạn nghĩ gì về bức ảnh trên?

Older Entries

Nghiên cứu lịch sử

Các bài nghiên cứu, biên khảo và dịch thuật các chủ đề về lịch sử

Le Minh Khai's SEAsian History Blog

Always rethinking the Southeast Asian past

trinhythu

Trịnh Y Thư WordPress.com site

trandangtuan.com

Men lá rượu ngô trong

4th Avenue Café

Free non-fiction translation

WordPress.com

WordPress.com is the best place for your personal blog or business site.

Trương Thái Du's Blog

Văn chương thiên cổ sự - Đắc thất thốn tâm tri...

No More Goat Soup

No goats were harmed in any way while making this blog. (We did kill all the sheep though)