Truyện ngắn ĐÔNG CHÍ

7 Comments

Đông chí

Trước Đông chí mấy ngày tàu tôi cặp cảng Cổ Bình (Furubira), vùng Hokkaido (Bắc Hải đạo). Trời lạnh khủng khiếp, mưa tuyết liên tục thành ra thủy thủ đoàn được nghỉ ngơi vài hôm chờ dỡ hàng. Phố thị ướt át và vắng lặng như đang ngủ đông nên chẳng ai có hứng đi bờ dạo chơi hay mua bán, xin xỏ, đổi chác.

Khi nghe nói tôi định lên núi, nữ nhân viên Đại lý hàng hải cứ trợn tròn mắt. Cô bảo trên ấy còn mấy con sói xám không nguy hiểm lắm vì đã rã bầy, chúng sợ tiếng va đập kim loại và luôn tránh xa lửa. Yukiko tặng tôi đôi giày đi tuyết cũ, chỉ dẫn đường hướng rõ ràng và dặn dò đừng qua đêm một mình ngoài trời.

Đông chí hay Noel, bản chất chỉ là tên gọi một thời điểm của chu trình thiên nhiên. Khoảng năm 2100 trước Công nguyên, nền văn minh cổ đại Hoa Hạ đã xác định mặt trời bình minh ngày Đông chí nằm chính giữa đỉnh núi Sùng. Các tia nắng đến tâm đồng hồ bán nguyệt bằng đá sẽ chui qua múi rãnh số hai. Khảo cổ học cơ bản thống nhất quan điểm thiên văn của di tích đàn Nam giao sơ khai này, tại di chỉ Đào Tự huyện Tương Phần, tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc.

Theo sách Lễ ký của Nho giáo, Tế giao được tiến hành vào ngày Đông chí. Khi ấy mặt trời dịch xuống vĩ độ 23 độ 27 phút nam (đi qua thành phố Rockhamton bang Queensland Australia). Đây là ngày lạnh nhất trong năm ở bắc bán cầu, đêm rất dài. Hơn ngàn năm trước phương Tây dùng lịch Julian, Đông chí nhằm 25 tháng 12. Thiên chúa giáo khi định vị giáng sinh tượng trưng cho chúa Jesu đã chọn Đông chí. Như vậy Đông chí năm thứ nhất từng được cho là khởi điểm của Công lịch. Khi lịch Gregorio thay thế lịch Julian thiếu chính xác, Đông chí bị điều chỉnh về ngày 22 tháng 12 hằng năm, giáng sinh đã không thay đổi theo vì thói quen.

Qui luật chuyển động tương đối giữa mặt trời và trái đất là: khi chạm Đông chí, mặt trời mỗi ngày lại mọc cao hơn một chút, tạo nên chu kỳ quay lại bán cầu bắc đến điểm mút Hạ chí (đi qua thành phố Quảng Châu, Trung Quốc). Văn minh nhân loại phát triển mạnh mẽ hơn ở bắc bán cầu. Lễ tế Nam giao hay giáng sinh có lẽ phát triển từ tục thờ mặt trời rất phổ biến. Chắc chắn khi chưa có tên Tế giao hoặc Giáng sinh thì Đông chí là một ngày khá trọng đại. Việc cầu khẩn mặt trời ở xa trở về, đem nắm ấm cho mùa màng và nhân sinh là điều dễ hiểu. Chìa khóa thiên văn này thậm chí có thể đã từng là bí quyết mị dân của những vị chủ tế/lãnh tụ đầy quyền lực.

***

Buổi trưa trước Đông chí tôi rời tàu, băng qua con đường ven biển và hướng về ngọn núi Omori. Tuyết ngập đất. Màu trắng nhức mắt. Mặt trời chói lọi nhưng cô quạnh giữa một nền xanh nhàn nhạt, nhàm chán và vô vị.

Tôi men theo đường mòn có phương vị tây bắc cho nên khi nghe tiếng gọi giật sau lưng, ở một ngã rẽ bên phải, thì gần như khuôn mặt Yukiko sáng rực lên như trăng rằm. Cô đối diện với mặt trời chính nam. Sau lớp kính râm tôi đoán Yukiko đang nheo mắt.

“Tôi cũng lên núi” – Yukiko cười rất tươi – “ Anh sẽ giúp tôi cưa một cành thông Noel thật đẹp nhé. Chúng ta cùng đường, chẳng biết có duyên ngộ gì hay không?”. Người tôi nóng bừng. Yukiko từng bảo nhà cô trên sườn núi. Cô hay ngắm vịnh Furubira và đỉnh Omori bằng ống nhòm chuyên dụng hàng hải.

“Cô phải quay về lúc ba giờ chiều. Nên kể bản thân tôi cũng là một mối nguy hiểm giữa rừng. Nếu không tìm được chòi gác nào đó, tôi cũng có sẵn chiếc lều cá nhân dã chiến tự may trong ba lô, để đêm nay nghe nhất dương sinh của Đông chí”.

“Tôi chỉ cần nhấn phím S.O.S trên điện thoại di động, năm phút sau sẽ có trực thăng cứu hộ đón” – Tiếng Yukiko giòn tan – “Anh không cần cả nghĩ thế. Anh làm tôi tò mò rồi đấy. Nhất dương sinh là gì?”.

“Theo Sử ký Tư Mã Thiên, ngày Đông chí là cực âm. Âm toàn trị thì nhất dương sinh, khởi đầu nảy nở tăng trưởng của vạn vật, mặt trời thoát khỏi tấm lưới tù nhốt (Thiên la). Đông chí là ngày đầu năm thiên văn, gần trùng với mùa xuân dương lịch. Tôi đi tìm và thuận dưỡng niềm lạc quan cá nhân giữa trời đất, thiên nhiên”.

“Có không sự bế tắc hiện tại khiến ta quay về quá khứ, vinh danh quá khứ? Một trí thức hữu dụng điển hình phương Tây không cần biết nhiều đến phương Đông. Họ ít khi thấu triệt quan niệm Nhân sinh bản ác của Tuân Tử là cách đề cao giáo dục, là sự tương hỗ đáng giá cho Nhân sinh bản thiện của Mạnh Tử chủ trì lòng nhân. Người Nhật chúng tôi thành công bởi không tự ti trong hào quang trung cổ, không sợ sệt tương lai, luôn dấn thân tiếp thu cái mới, cầu thị điều hay với ý thức trách nhiệm. Chúng tôi giàu có tri thức hơn bất cứ một người phương Tây hay phương Đông thuần chất nào”.

“Tôi e rằng bạn quên. Mâu thuẫn của nền văn minh vật chất phương Tây với thiên nhiên là mâu thuẫn hủy diệt lẫn nhau. Để có gỗ chất đầy vào hầm tàu của tôi đem đến cảng này, hàng chục hecta rừng đã bị tàn sát. Đất trống, đồi trọc sẽ dẫn đến lũ lụt chết người, an ninh lương thực của biết bao cộng đồng cư dân bị đe dọa. Hài hòa với tự nhiên, nương dựa vào thiên nhiên, cải tạo mặt đất để phục vụ đời sống, không “đấu tranh” một mất một còn với ô
ng trời mà tạo nên chỉnh thể đối lập trong thống nhất là tư duy, tư tưởng đã có từ rất xưa của người Á Đông”.

Nhìn vào mắt Yukiko tôi biết cô không nắm bắt được nội dung tôi muốn chuyển tải. Không phải cô kém cỏi mà chính vì giới hạn tiếng Anh của tôi và của cô. Nhưng có hề gì. Tôi bỗng nhớ đến truyền thuyết Sơn Tinh và Thủy Tinh của dân tộc mình. Rõ ràng đây là cuộc đấu tranh triệt tiêu đối thủ. Nó hoàn toàn sơ khai và sơ sinh so với chuyện Hạ Vũ trị thủy.

***

Càng lên cao sườn núi càng dốc. Tuyết thưa và mỏng dần. Cây cối nhiều hơn, ít rụng lá hẳn đi. Yukiko vẫn chưa chọn được cành thông như ý. Cô nhấn mạnh chỉ cắt tỉa nhánh chứ không cưa ngọn. Cô chấp nhận sự cân đối kém hoàn hảo, nhằm nuôi dưỡng mảng rừng che bão cho vịnh Furubira.

Xê xế, gió bắc chuyển mình. Tuyết rơi trắng trời. Yukiko và tôi đã thấm mệt dù không lạnh lắm, vì cường độ vận động cơ thể luôn duy trì rất cao. Đến lúc này cô mới hỏi có phải thật sự tôi muốn vào núi, ở qua đêm. Thế rồi cô tìm đủ cách thuyết phục tôi cho cô chia sẻ cuộc du ngoạn đáng nhớ. Cô đã chuẩn bị mọi thứ cần thiết trong ba lô, kể cả cà phê phin Việt Nam pha rượu sakê ủ nóng, từ lúc thấy tôi rời tàu qua ống nhòm. Yukiko rất thất vọng vì bè bạn, người thân chưa bao giờ chia sẻ với cô niềm ao ước phiêu lưu. Ngọn Omori thân thương luôn ở trong tầm mắt cô từ thơ bé, càng ngày càng xa vời bên cuộc sống phố thị tốc độ chóng mặt.

Yukiko tin loài người không bị thoái hóa, thui chột mà ngày càng mạnh mẽ hơn khi bỏ vùng xích đạo ấm áp để tiến lên phương bắc băng giá cách nay hằng chục ngàn năm. Những lý do như nhân mãn, thiếu hụt lương thực hoàn toàn thuyết phục. Yukiko thấy giá trị của thử thách là ổn hơn hết nhưng quá mơ hồ với những cái đầu trực quan dễ dãi. Vượt qua chướng ngại, vượt qua bản thân, vượt qua đối kháng ngoại vi, con người đã hòa với thiên nhiên trở thành một thể thống nhất, để trở thành loài động vật thống trị quả đất. Sự thống trị ấy đang cực đoan hóa, nó hiển hiện nguy cơ tự hủy cục bộ, đầu tiên là ở những nước nghèo, phải bán tài nguyên cứu đói, đấu giá môi trường với tăng trưởng.

Chúng tôi không có tham vọng lên đến đỉnh Omori chỉ trong một buổi chiều. Nỗ lực càng cao càng xa càng tốt, thế thôi. Tối mịt chúng tôi đành dừng lại giữa một thảm rừng thông thưa nhưng bằng phẳng. Chẳng thể tìm được vọng gác lửa mùa hè theo tấm bản đồ tỉ lệ xích khá nhỏ Yukiko mang theo.

Như hai nhà thám hiểm chuyên nghiệp, chúng tôi dựng lều, gom củi khô mục đốt lửa. Gã thủy thủ còn lấy lòng người đẹp bằng cách hướng dẫn cho Yukiko mấy nút dây hàng hải cơ bản, dễ thao tác, dễ mở, song cực kỳ chắc chắn. Sau bữa ăn nhẹ tiết kiệm, Yukiko khuyên tôi nên đi nghỉ nếu muốn cảm nhận thời khắc giao mùa. Một mầm dương đầy sức sống sẽ khởi sinh vào lúc không giờ ngày Đông chí, dù tiếng gió hú hiện hữu và tuyết rơi khá dày chẳng hứa hẹn điều gì.

***

Yukiko bảo trăng đã đánh thức cô. Lúc ấy mười một giờ tối, giờ Tokyo đi trước Bắc Kinh một tiếng và Hà Nội hai tiếng. Đống lửa sắp tắt. Gió lặng. Trời trong. Trăng vàng. Tuyết trắng. Sâu thẳm đâu đó tiếng sói tru. Cô độc nhưng hân hoan. Như gọi bầy. Như hứng tình.

Yukiko nhờ tôi chặt tỉa ít cành thông già trong tầm với để nhen lại hơi ấm. Lạ lùng thay, tạo hóa đã ban tặng con người xứ lạnh loài thông đầy nhựa sống. Dù còn tươi rói và xanh rượi, chúng vẫn sẵn sàng nuôi lửa giúp họ băng qua bóng đêm từ thuở hồng hoang.

Vị cà phê chắt chiu tinh hoa đất trời trên cao nguyên trung phần Việt Nam hòa điệu đẹp một cách đáng ngạc nhiên cùng rượu Sakê Phù Tang. Có phải kể thêm chiếc bình tráng thủy bảo ôn sản xuất tại Trung Hoa không nhỉ? Chúng tôi tự nhiên tựa vai vào nhau, không bởi tâm hướng dục tính. Chúng tôi cần san sẻ hơi người, cần có đồng loại đồng hành trong giây phút giao hòa đáng ghi nhớ.

“Yukiko nghĩa là Tuyết tử anh ạ. Hiểu sao cũng được. Con gái của tuyết. Cô gái tuyết” – Giọng Yukiko đầy xúc động và hoài tưởng – “Ba mẹ em gặp nhau trong tuyết, yêu nhau dưới trăng ở sườn núi này. Đáng lẽ họ đặt tên em là Tuyết Nguyệt nhưng ở Nhật chẳng ai dùng cái âm ít nhạc tính và rắc rối ấy. Trong lựa chọn của ông bà còn có cả Miyuki (Mỹ Tuyết) và Mitsuki (Mỹ Nguyệt). Cuối cùng sự giản dị truyền thống thắng thế”.

“Anh sợ bị người tuyết bắt cóc lắm” – Tôi pha trò – “Ở sườn núi bên kia họ đang dắt chó sói đi săn những con mồi lạc loài đấy”.

Yukiko dụi đầu vào lưng tôi như bắt đền rồi vụt bỏ chạy. Chúng tôi vờ đuổi nhau để làm nóng. Tiếng tuyết nén rào rạo dưới chân. Tưởng có thể tan vào ánh trăng huyễn hoặc. Bắt được nàng trong vòng tay, không hiểu sao tôi lại nhớ đến một câu thơ triết lý “ngoài luồng”, chứ không phải đôi dòng lục bát tình tự thấm đẫm hồn Việt lãng mạn nào đó.

“Trăng Trung Quốc tròn hơn trăng nước Mỹ

Đồng hồ Liên Xô tốt hơn đồng hồ Thụy Sỹ”.

Tôi giải nghĩa tên tác giả Việt Phương là vẻ đẹp Việt. Yukiko ngạc nhiên với biểu hiện duy ý chí đến siêu thực. “Anh chỉ là một lão già bảo h
oàng hơn vua, gửi hồn trong cái xác trai trẻ này thôi” – Nàng nói sau thoáng suy nghĩ khá lung – “Nếu làm quân vương thì anh luôn xem mỹ nhân là trang sức nhỉ?”.

Giúp em hiểu thấu đáo ngữ cảnh trên là một điều khó khăn. Nó tương tự việc trả lời tại sao người Việt đã phức tạp hóa Hán tự để có chữ Nôm, trong khi Nhật Bản chọn việc giảm nét tượng hình nhằm sáng tạo hệ thống ký âm Kana. Lý do nằm ở nhiều thế kỷ bắc thuộc và lệ thuộc chăng?

Ở xứ sở của tôi, bây giờ đã tháng Một âm lịch, tháng khởi đầu đúng như hàm nghĩa từ Một, tháng Tý dẫn dắt mười hai con giáp. Điều trái khoáy là chúng tôi lại ăn tết ở tháng Giêng, theo ý chỉ của Hán Vũ Đế trước công nguyên cả thế kỷ. Giêng Hai miền nam hết sức khô nóng, miền bắc mưa phùn ướt áo. Những ngày nghỉ dông dài, chộn rộn nỗi lo ăn mặc không còn phù hợp với nhịp điệu công nghiệp, văn minh đô thị. Tôi trộm nghĩ sao người Việt chưa lấy dương lịch làm chuẩn. Tết nguyên đán phải trở về đúng chất lễ hội nhàn kỳ thư thả của văn minh lúa nước đặc thù ngàn năm.

Trong cảm thức phố xá, thế hệ chúng tôi lạc lõng bên kiểu ước lệ khiên cưỡng và mang tính thời cuộc về quê hương như cau khế. Gắn bó cùng tuổi thơ leo trèo nghịch ngợm của tôi có chăng là me sấu. Tôi không hề gần gũi với chùm quả chua thật ngọt giả của thi ca bàn giấy, nặng mùi điệu bôlêrô than thân quân dịch, bên vỉa hè Sài Gòn ngày ngoại bang chiếm đóng. Tuy nhiên tôi biết những đồng bào đầy tự tôn và tự ti của tôi sẽ thẳng thừng bác bỏ bất cứ cái nhìn nào khác đi. Tỷ dụ sự so sánh bản chất giữa truyền thuyết Sơn tinh – Thủy tinh và chuyện Hạ Vũ trị thủy, rất dễ bị kết tội phỉ báng tiền nhân, bôi nhọ văn hóa.

Yukiko tin phản dân tộc tính trong mỗi cá nhân kểt tủa bởi sự lưu cữu những giá trị cần thay thế. Các bộ óc cuồng vĩ ít nhiều luôn có hành động phản văn hóa như Tần Thủy Hoàng đốt sách, Hitler diệt chủng. Vẫn biết khái niệm tích cực bao giờ cũng kèm theo phủ định, giả như anh hùng/hèn nhát, đoàn kết/chia rẽ, chiến thắng/chiến bại, thông minh/ngu đần, vinh quang/nhục nhã, sáng tạo/sao chép, vị tha/nhỏ nhen, thơm thảo/tham lam, giàu có/nghèo nàn… Phải chăng qui trình đánh tráo mệnh đề gốc cho những nhu cầu thiển cận, đã dẫn đến nô lệ ảo vọng trong tinh thần đám đông, biến di sản thành gánh nặng. Đó cũng là một nguyên nhân dẫn người Nhật vào vũng lầy gây hấn khu vực đầu thế kỷ hai mươi, vào mấy hố bom nguyên tử ở Nagazaki và Hiroshima chỉ sau đó bốn chục năm.

***

Chúng tôi im lặng nhìn lửa nuốt dần những mắt thông sần sùi. Sự im lặng cần thiết để con người lắng nghe đất trời chuyển mình qua ngày mới.

Yukiko hát một bài haiku súc tích của Kobayashi Issa. Điệu luân vũ loang thấm vào từng đơn vị tế bào trong tôi: “Chùa treo vách núi. Dưới đáy tuyết. Chuông ngân”. Cảm ơn em, trái tim hồng ngày băng giá. Cảm ơn trăng nhắc tôi về tổ quốc đằng xa.

Trong nắng ban mai, chúng tôi trở lại phố biển với một cành thông không đến nỗi xấu xí. Những mỏm đá trọc nối dài, những con đê bê tông chắn sóng vươn ra vịnh Cổ Bình vẫn khoác trên mình lớp áo tuyết mùa cũ, lấp lóa trắng. Một đoàn công nhân bốc xếp đội mũ cứng, mang giày đinh, mặc áo da cam dầy cộp, khệnh khạng và sạch sẽ như phi công vũ trụ đang nhận ca. Đợt mưa tuyết đã chấm dứt. Những lô gỗ sẽ nhanh chóng được giải phóng. Với tốc độ làm hàng nhanh gọn của các hải cảng Nhật, có lẽ tàu tôi phải nhổ neo trước Noel.

Chuyến tới chúng tôi sẽ vào biển Hoàng hải, chở sắt cuộn từ Đại Liên Trung Quốc hay Incheon Nam Hàn gì đó đến Đài Loan. Mùa xuân còn xa. Quê nhà cũng còn xa. Nhưng cơn bão sót số mười ba, đang hình thành từ một áp thấp ở vùng biển Trường Sa rất gần với lo lắng của tôi khi đọc bản tin thời tiết. Chiếc đòn gánh của bà mẹ Việt Nam lại oằn xuống, sắt se ngày Đông chí.

Thảo Điền

11.2008

Báo Văn Nghệ số 1, năm 2009.

Thêm một bài báo mới trên BBC : Việt Nam và “thế giới Trung Hoa”.

Nỗi lòng kẻ bị “biên tập”

5 Comments

Truyện ngắn Đông Chí chỉ bị biên tập 2 chữ duy nhất. Có lẽ người biên tập biết Hán văn nên đã đổi cách giải nghĩa tên tác giả Việt Phương của tôi từ “Vẻ đẹp Việt” thành “Hương thơm Việt”. Cũng có thể ông Việt Phương ngoài đời dùng chữ Phương bộ thảo [hương thơm, tiếng tăm, phẩm chất tốt đẹp]. Tuy vậy khi cái tên của ông trở thành chất liệu văn học thì tác giả truyện ngắn mới là người quyết định chữ Phương nghĩa là gì. Hơn nữa sự quyết định ấy phụ thuộc hoàn toàn vào mạch truyện, chứ không đơn giản là một lời giải thích vu vơ.

Chữ Phương tôi muốn ở đây chỉ sự cân đối, nó đối lập với thực tế méo mó trong hai câu thơ của Việt Phương mà tôi dẫn trong truyện: “Trăng Trung Quốc tròn hơn trăng nước Mỹ / Đồng hồ Liên Xô tốt hơn đồng hồ Thụy Sỹ”. Tuy vậy Phương bộ thảo vẫn còn mang một nghĩa nữa là “phẩm chất tốt đẹp”. Đặc biệt khi đi với chữ Phi, thành 芳菲 thì nó mang ý “tốt tươi”.

Do đó tôi hơi buồn khi truyện ngắn này của mình bị biên tập, bị cắt đi gần hết một tự nghĩa mà tôi muốn chuyển tải, dù chỉ trong hai chữ.

—–

Nói chung tôi cố gắng viết truyện ngắn thật kỹ, do đó ít khi bị biên tập “phũ phàng”. Kinh nghiệm đầu tiên về biên tập của truyện ngắn đầu tay lại khiến cho tôi kính phục. Hình như truyện Cuộc Cờ do nhà báo Nguyễn Trọng Chức của Tuổi Trẻ xử lý.

Đoạn màu đỏ bị cắt, có lẽ do tính “nhạy cảm” nếu nói quá rõ về cuộc cờ 1945-1975: Ta là ngày, nó là đêm. Ta sáng nó tối. Ta dương nó âm. Ta hiền nó dữ. Ta khôn nó ngu. Ta chính nghĩa nó ngụy thù …”. Cuối truyện một câu rõ ràng là thừa cũng bị lược đi nhưng tôi không còn lưu lại được vì sau đó câu thừa ấy cũng bị tôi xóa hẳn.

Truyện thứ hai báo Văn Nghệ chuyển nghĩa hẳn câu cuối, câu quan trọng nhất, định danh “con rồng chữ” tôi muốn đề cặp là “Xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Việc này dẫn đến nội dung truyện sẽ bị xô lệch, song tôi thông cảm được với báo.

—-

Tóm lại viết văn đăng báo ở VN cực kỳ khổ nhọc, phải lèn lách và phải lường trước tất cả những gì sẽ bị soi. Ngày mai tôi sẽ post truyện “Đông Chí” vừa đăng báo Văn Nghệ tết Tây. Hai năm liền đều bị xếp ở “chiếu tết tây”, cũng hơi buồn. Tuy nhiên tôi cũng rất lấy làm thú vị khi đã chuyển tải một số ngôn từ đắc địa (nhưng mang tính xây dựng) trong ấy : Toàn trị / duy ý chí / phải bán tài nguyên cứu đói / đấu giá môi trường với tăng trưởng / nô lệ ảo vọng trong tinh thần đám đông / biến di sản thành gánh nặng…

Thuyền cổ Nam Tống ở Hoàng Sa ?!?

19 Comments

Các mảnh gỗ thuyền.
Hình do đội khảo cổ dưới nước Tây Sa – Trung Quốc cung cấp.

Trục vớt thành công, vận chuyển về Hải Nam thuyền thời Nam Tống chìm ở dải đá ngầm Hoa Quang.

(Hải Nam nhật báo 30.12.2008)

Những mảnh vỡ trục vớt từ một chiếc thuyền thời Nam Tống bị chìm tại dải đá ngầm Hoa Quang, Tây Sa, Trung Quốc hơn 800 năm nay, đã được vận chuyển về cảng Đàm Môn, thành phố Quỳnh Hải, tỉnh Hải Nam lúc 12h30 ngày 28 tháng 12 năm 2008.

Việc trục vớt chiếc thuyền chìm này lên bờ được coi là là đóng góp to lớn của ngành Khảo cổ dưới nước Trung Quốc, bổ xung những khoảng trống (lịch sử).

Phạm Hiểu Quân, trưởng ban văn hóa tỉnh Hải Nam nói: Biển Nam Hải là con đường tơ lụa trên biển chủ yếu từ xưa của nước ta, những di sản văn hóa dưới nước rất phong phú. Chiếc thuyền này sẽ được gìn giữ, tu sửa phục chế và trưng bày toàn bộ tại viện bảo tàng tình nhà. Kế hoạch chính trước mắt là Viện bảo tàng tỉnh phải trù kiến kế hoạch công tác để thảo luận.

————————–

Còn một đoạn nữa, nhưng thôi. Chẳng ai quan tâm cả, treo blast mấy tiếng rồi.

Có vài điều thắc mắc với bài báo: Sao nội dung bảo là thuyền, nhưng chỉ có vài mảnh ván vụn, không thuyết phục tí nào. TQ có hẳn những bộ phận văn hóa cho việc chứng minh và thuyết phục chủ quyền của họ ở biển Đông (tức Nam Hải theo cách họ gọi), còn VN ta có gì?

Trích Tâm lý đám đông / Gustave Le Bon

2 Comments

§3.Tính thái quá (exagération) và tính phiến diện (simplisme) của tình cảm đám đông

Tất cả các tình cảm tốt và xấu mà đám đông thể hiện ra có hai đặc điểm chính; chúng rất đơn giản và rất thái quá. Cũng như trong nhiều trường hợp khác, trong mối liên quan này, thành viên của đám đông sẽ trở nên gần với những sinh thể nguyên thủy. Ở đó không tồn tại các mức độ tình cảm, anh ta nhìn sự vật một cách thô thiển, và không hề biết đến các thang bậc chuyển tiếp. Sự thái quá của tình cảm càng trở nên mạnh mẽ bởi nó lan truyền rất nhanh do sự kích hoạt và lây nhiễm và do sự thán phục mà nó nhận được đã làm gia tăng một cách đáng kể mức độ căng thẳng của nó.

Tính phiến diện và thái quá của tình cảm đám đông đã bảo vệ nó tránh khỏi nghi nghờ và lưỡng lự. Giống như ở phụ nữ, nó lập tức có thể đi đến hết tầm của sự việc. Từ một sự việc rõ ràng là đáng nghi tức khắc trở thành điều chắc chắn không thể lay chuyển. Một mầm mống nhỏ của ác cảm và dè bỉu trong mình, là người độc lập nó sẽ cho qua, là thành viên của đám đông lập tức chúng lớn nhanh thành nỗi căm thù man dại.

Sự dữ dội trong tình cảm đám đông, được hợp lại đặc biệt từ những con người khác biệt, sẽ gia tăng mạnh mẽ bởi do thiếu vắng bất kỳ một sự chịu trách nhiệm nào. Việc chắc chắn không bị trừng phạt, là cái gia tăng với độ lớn của đám đông, và ý thức về bạo lực có ý nghĩa trong giây lát quyết định bởi đám đông, đã đem lại cho tất cả mọi người những tình cảm và hành động mà một người độc lập khó có thể có được. Hòa lẫn trong đám đông, những kẻ ngu muội, những kẻ vô học và ganh ghét đã mất đi cái cảm giác vô tích sự và bất lực của họ; thay thế vào đó là ý thức về một sức mạnh thô bạo, không bền bỉ nhưng cực kỳ mạnh mẽ.

Thật đáng buồn vì sự thái quá của những tình cảm xấu trong đám đông đã khơi dậy những tàn dư của bản năng, kế thừa từ người nguyên thủy, những cái mà một người độc lập và có trách nhiệm do lo sợ bị trừng phạt sẽ kìm nén lại. Điều này tự nó giải thích vì sao đám đông có xu hướng bạo loạn nghiêm trọng.

Nếu một khi đám đông được tác động một cách khéo léo, nó có thể rất anh dũng và sẵn sàng hy sinh. Mức độ của nó có khi còn cao hơn nhiều lần so với một cá nhân độc lập. Sắp tới chúng ta sẽ có dịp quay lại điểm này khi nghiên cứu về tính đạo đức của đám đông.

Do đám đông chỉ bị kích động bởi những cảm nhận thái quá, cho nên người diễn thuyết, nếu muốn lôi cuốn được họ phải sử dụng những cách diễn đạt mạnh mẽ. Những cái thường thấy ở một nhà diến thuyết trong các cuộc hội họp của dân chúng là, phản đối ầm ĩ, quả quyết nọ kia, lặp đi lặp lại, nhưng tuyệt đối không bao giờ ông ta tự cho phép mình được nêu ra một bằng chứng nào.

Cũng chính sự thái quá trong tình cảm này là cái đám đông đòi hỏi ở những người anh hùng của họ. Những tính cách và đạo đức tuyệt vời của những người anh hùng phải luôn luôn được khuyếch đại. Trong nhà hát đám đông đòi hỏi người anh hùng của một bi kịch phải dũng cảm, khôn ngoan và đạo đức, những điều trong đời sống thực chẳng bao giờ có được như vậy.

Người ta có lý khi nói về cái vẻ ngoài đặc biệt của nghệ thuật sân khấu. Rõ ràng rằng nó tồn tại, nhưng các quy luật của nó chẳng hề có liên quan gì đến lý trí lành mạnh của con người và với logic học. Nghệ thuật nói trước đám đông, không có gì ghê gớm, nhưng đòi hỏi phải có một khẳ năng đặc biệt. Trong khi đọc một kịch bản nào đó người ta thường khó đánh giá đúng mức độ thành công của nó. Nhìn chung bản thân các giám đốc nhà hát đều rất không chắc chắn về sự thành công của vở kịch khi người ta đưa cho họ xem kịch bản, bởi để có thể đánh giá được, họ phải tự biến thành một đám đông. Nếu chúng ta có thể xem xét kỹ lưỡng từng chi tiết, chúng ta còn có thể chỉ còn ra những ảnh hưởng quan trọng của chủng tộc một cách dễ dàng. Màn bi kịch làm say sưa một đám đông của một vùng nào đó, thường lại không thành công hoặc thành công rất hạn chế ở một vùng khác, bởi nó không đủ sức để lôi cuốn đám khán giả mới.

Tôi không cần phải đặc biệt nhấn mạnh rằng, sự thái quá của đám đông chỉ diễn ra trong tình cảm và không hề diễn ra trong lý trí. Sự thực con người chỉ cần là thành viên của đám đông, như tôi đã từng chỉ, cũng đã là một sự suy giảm đáng kể năng lực lý trí của nó. Trong các công trình nghiên cứu về tội ác của đám đông Tarde cũng đã xác định như vậy.


Xuất lộ sách thẻ trúc tại di chỉ hoàng thành nước Nam Việt (Phiên Ngung/Quảng Châu)

2 Comments

南越国遗址挖出带字竹简 宗庙遗址或在东南(图)
作者: 廖靖文 通讯员 曹晓亮  发布时间: 2008-12-05  文章出处:广州日报

资料图:南越国宫署遗址

昨日,由中国社科院考古研究所和广州市文化局联合主办的“西汉南越国考古与汉文化国际学术研讨会”在广州开幕,100多位国内外著名的考古和汉文化专家就南越国的考古发现和汉代历史文化进行了研讨。

首次发掘出带文字竹简

历年在南越国宫署遗址中发掘的珍贵文化数不胜数,但论重量级当数2005年在渗水砖井底部发现的150多牧竹简,因为这是广州考古界首次发掘出带有文字的 竹简,是南越王宫的纪实文书,涵盖了宫室管理、职官、地理、法律、风俗等,对还原南越国历史面貌有极其重要的意义。这批竹简经过清洗脱色后,其红外线照片 被送往我国著名考古学家黄展岳先生处,黄先生经过几年的潜心辨别研究,昨天在研讨会上介绍了部分研究成果。

黄展岳介绍,出土的竹简共有150多枚,其实能辨别出字体的有101枚,较为完整的约80枚,上面的字体是汉初隶书,笔迹舒朗秀美,大部分为同一人分多次书写。

黄老介绍了竹简上一些有趣的内容,例如文字完整的004号竹简上,写有“大雞官奴堅當笞一百”,其中的“大雞官”一词经考证后是南越国特有的官职,赵佗设 立此官职专门负责用鸡骨头进行占卜算卦,当时南方少数民族流行鸡骨占卜,《史记》中记载了汉武帝灭南越后,专门命令南越的巫师用鸡骨占卜祭祀。这个竹简的 发现补充了南越百官之佚。

此外,还有这样的记载:“不得鼠当笞五十”,即谁捕鼠不力要打五十大板,以及关于“得鼠”后便可免去刑罚的记载。以“得鼠”的多少作为是否“当笞”的依据,说明当时鼠害或者鼠疫较为厉害。

“墓葬是扭曲的文化,墓志铭不一定是真实的,而遗址是没有经过加工的,原真性和科学性都远高于墓葬”,我国秦汉考古权威、中国社科院考古研究所学部委员刘 庆柱指出了南越国考古的重要地位:不仅发现了完整王陵,更重要的是宫署这一都城中心的出土,在国内考古界是屈指可数的。他举例说,希腊文化最重要的文物象 征是神庙遗址,罗马帝国象征是市中心的大型建筑和元老院,中国文化象征是长城都是遗址,可以根据遗址发现当时的社会面貌。

宗庙遗址可能在东南面

在南越国宫署的考古挖掘过程中,刘庆柱研究员发挥了关键作用,成功推断出宫殿的所在位置。昨天的论坛上,其他专家请他也推测一下至今尚未有发现的南越国宗 庙所在。刘庆柱谦虚表示,他仅仅只能“猜测”一下,按照秦始皇宫城的记载,宗庙是建在了都城的南城外,与宫署这个行政中心分离,国家已经从亲缘政治过渡到 地缘政治。他认为赵佗很可能参照了秦始皇的做法,把宗庙建在城南,很可能是在宫署的东南面。

接着宗庙的话题,考古专家麦英豪还介绍了南越国遗址上一个发现,一块瓦片上有“中共厨”的字样。麦英豪介绍“共”字是通“供”子,“共厨”是指供应祭祀用 的食品的场所,在中原的宫殿遗址中屡有发现,但“中共厨”却是首次发现。刘庆柱打趣道,“以中为尊”,很可能赵佗早有问鼎中原的野心,才命名为“中共厨 ”。

(责任编辑:高丹)

Đông Chí = Tế Giao = Noel

2 Comments

Đông chí hay Noel, bản chất chỉ là tên gọi một thời điểm của chu trình thiên nhiên. Khoảng năm 2100 trước Công nguyên, nền văn minh cổ đại Hoa Hạ đã xác định mặt trời bình minh ngày Đông chí nằm chính giữa đỉnh núi Sùng. Các tia nắng đến tâm đồng hồ bán nguyệt bằng đá sẽ chui qua múi rãnh số hai. Khảo cổ học cơ bản thống nhất quan điểm thiên văn của di tích đàn Nam giao sơ khai này, tại di chỉ Đào Tự huyện Tương Phần, tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc.

Theo sách Lễ ký của Nho giáo, Tế giao được tiến hành vào ngày Đông chí. Khi ấy mặt trời dịch xuống vĩ độ 23 độ 27 phút nam (đi qua thành phố Rockhamton bang Queensland Australia). Đây là ngày lạnh nhất trong năm ở bắc bán cầu, đêm rất dài. Hơn ngàn năm trước phương Tây dùng lịch Julian, Đông chí nhằm 25 tháng 12. Thiên chúa giáo khi định vị giáng sinh tượng trưng cho chúa Jesu đã chọn Đông chí. Như vậy Đông chí năm thứ nhất từng được cho là khởi điểm của Công lịch. Khi lịch Gregorio thay thế lịch Julian thiếu chính xác, Đông chí bị điều chỉnh về ngày 22 tháng 12 hằng năm, giáng sinh đã không thay đổi theo vì thói quen.

Qui luật chuyển động tương đối giữa mặt trời và trái đất là: khi chạm Đông chí, mặt trời mỗi ngày lại mọc cao hơn một chút, tạo nên chu kỳ quay lại bán cầu bắc đến điểm mút Hạ chí (đi qua thành phố Quảng Châu, Trung Quốc). Văn minh nhân loại phát triển mạnh mẽ hơn ở bắc bán cầu. Lễ tế Nam giao hay giáng sinh có lẽ phát triển từ tục thờ mặt trời rất phổ biến. Chắc chắn khi chưa có tên Tế giao hoặc Giáng sinh thì Đông chí là một ngày khá trọng đại. Việc cầu khẩn mặt trời ở xa trở về, đem nắm ấm cho mùa màng và nhân sinh là điều dễ hiểu. Chìa khóa thiên văn này thậm chí có thể đã từng là bí quyết mị dân của những vị chủ tế/lãnh tụ đầy quyền lực.


(Trích truyện ngắn Đông Chí)

Đất nước và Nhân dân

9 Comments

Bác Đào Hiếu nhắn tin qua điện thoại, báo bài viết Đất nước và Nhân dân đã lên diễn đàn BBC. Tôi cũng từng chia sẻ quan điểm này với bác, bằng chứng là bác rất thích truyện ngắn “Nguyễn Ức Trai” của tôi, đem luôn về trang web của mình. Trích:

Ngày 16 tháng 8 năm Nhâm Tuất, tức 19 tháng 9 năm 1442, Nguyễn Trãi, văn hào, thi hào, nhà tư tưởng lỗi lạc của dân tộc Việt Nam rơi đầu giữa pháp trường. Trong kháng chiến chống giặc Ngô, là thư kí của Lê Lợi, Nguyễn Trãi đã cùng vua thực hiện thành công chiến thuật đánh vào lòng người rất khôn khéo. Tuy nhiên đóng góp lớn lao nhất của Nguyễn Trãi với nhà Lê lại nổi bật ở vở kịch trả gươm. Huyền thoại hoàn kiếm là món mẹo chính trị cao tay, định danh vị, chính thống hóa ách đô hộ nhân dân Việt Nam của một triều đình phong kiến kéo dài nhiều trăm năm.”

Tôi đã rất khó khăn khi chọn lựa hai cụm từ “Dân tộc Việt Nam” và “Nhân dân Việt Nam”. Cũng như đã từng xét kỹ khái niệm Tổ quốc trong truyện ngắn “Ở bên ngoài tổ quốc“.

Nói cho cùng hành trình trao lại Dân tộc Việt Nam, Tổ quốc Việt Nam, Đất nước Việt Nam cho NHÂN DÂN VIỆT NAM phải được bắt đầu trước tiên ở tư duy. Lập tức nó sẽ đối mặt với những chân lý sáo mòn và không hề dễ dàng trả lời các câu hỏi, đại loại như: “Nguyễn Trãi là DÂN hay QUAN? Ông có công đánh đuổi xâm lăng nhưng cũng “có công” nô dịch nhân dân Việt Nam bằng Huyền thoại hoàn kiếm. Phải chăng quá trình “giá trị hóa” sự nghiệp Nguyễn Trãi của các thể chế chính trị Việt Nam xưa nay chính là quá trình mị dân?”. Trường hợp Nguyễn Trãi là minh chứng rõ ràng cho thấy không tồn tại một lực lượng trí thức uyên bác, độc lập và đủ tỉnh táo để nhìn ra đâu là quyền lợi của nhân dân, đâu là quyền lợi của kẻ thống trị.

Cho nên, một lần nữa tôi thấy công việc lớn lao nhất mà nhân dân Việt Nam phải làm trước mắt là xây dựng được một đội ngũ trí thức độc lập, phi cực đoan, có những tiếp cận thực tế hợp lý.

Như thế nào là bất hợp lý? Ít nhất tôi có một dẫn chứng từ nội tình Thái Lan: PAD đã phủ nhận Nhân dân cần lao và phiếu bầu của họ!

Đào Hiếu vừa đổi tên trang web của mình thành “Lề bên trái”, hình như là người thứ hai, sau Nguyễn Hữu Liêm dùng cụm từ “Từ bên trái”. Ngôn ngữ này có vẻ “thời cuộc”, “trước mắt” hơn là động cơ lâu dài. Tôi vẫn mong các bác đi xa hơn thế. Chẳng hạn Đào Hiếu lý luận biển Đông không thuộc về nhân dân. Tôi thì cho rằng biển Đông sẽ thuộc về nhân dân. Hay nói cách khác, nó phải là của hồi môn của thế hệ hôm nay, dành cho con cháu mai sau.

Older Entries

Nghiên cứu lịch sử

Các bài nghiên cứu, biên khảo và dịch thuật các chủ đề về lịch sử

Le Minh Khai's SEAsian History Blog

Always rethinking the Southeast Asian past

trinhythu

Trịnh Y Thư WordPress.com site

trandangtuan.com

Men lá rượu ngô trong

4th Avenue Café

Free non-fiction translation

WordPress.com

WordPress.com is the best place for your personal blog or business site.

Trương Thái Du's Blog

Văn chương thiên cổ sự - Đắc thất thốn tâm tri...

No More Goat Soup

No goats were harmed in any way while making this blog. (We did kill all the sheep though)