Truyện ngắn ĐÔNG CHÍ

7 Comments

Đông chí

Trước Đông chí mấy ngày tàu tôi cặp cảng Cổ Bình (Furubira), vùng Hokkaido (Bắc Hải đạo). Trời lạnh khủng khiếp, mưa tuyết liên tục thành ra thủy thủ đoàn được nghỉ ngơi vài hôm chờ dỡ hàng. Phố thị ướt át và vắng lặng như đang ngủ đông nên chẳng ai có hứng đi bờ dạo chơi hay mua bán, xin xỏ, đổi chác.

Khi nghe nói tôi định lên núi, nữ nhân viên Đại lý hàng hải cứ trợn tròn mắt. Cô bảo trên ấy còn mấy con sói xám không nguy hiểm lắm vì đã rã bầy, chúng sợ tiếng va đập kim loại và luôn tránh xa lửa. Yukiko tặng tôi đôi giày đi tuyết cũ, chỉ dẫn đường hướng rõ ràng và dặn dò đừng qua đêm một mình ngoài trời.

Đông chí hay Noel, bản chất chỉ là tên gọi một thời điểm của chu trình thiên nhiên. Khoảng năm 2100 trước Công nguyên, nền văn minh cổ đại Hoa Hạ đã xác định mặt trời bình minh ngày Đông chí nằm chính giữa đỉnh núi Sùng. Các tia nắng đến tâm đồng hồ bán nguyệt bằng đá sẽ chui qua múi rãnh số hai. Khảo cổ học cơ bản thống nhất quan điểm thiên văn của di tích đàn Nam giao sơ khai này, tại di chỉ Đào Tự huyện Tương Phần, tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc.

Theo sách Lễ ký của Nho giáo, Tế giao được tiến hành vào ngày Đông chí. Khi ấy mặt trời dịch xuống vĩ độ 23 độ 27 phút nam (đi qua thành phố Rockhamton bang Queensland Australia). Đây là ngày lạnh nhất trong năm ở bắc bán cầu, đêm rất dài. Hơn ngàn năm trước phương Tây dùng lịch Julian, Đông chí nhằm 25 tháng 12. Thiên chúa giáo khi định vị giáng sinh tượng trưng cho chúa Jesu đã chọn Đông chí. Như vậy Đông chí năm thứ nhất từng được cho là khởi điểm của Công lịch. Khi lịch Gregorio thay thế lịch Julian thiếu chính xác, Đông chí bị điều chỉnh về ngày 22 tháng 12 hằng năm, giáng sinh đã không thay đổi theo vì thói quen.

Qui luật chuyển động tương đối giữa mặt trời và trái đất là: khi chạm Đông chí, mặt trời mỗi ngày lại mọc cao hơn một chút, tạo nên chu kỳ quay lại bán cầu bắc đến điểm mút Hạ chí (đi qua thành phố Quảng Châu, Trung Quốc). Văn minh nhân loại phát triển mạnh mẽ hơn ở bắc bán cầu. Lễ tế Nam giao hay giáng sinh có lẽ phát triển từ tục thờ mặt trời rất phổ biến. Chắc chắn khi chưa có tên Tế giao hoặc Giáng sinh thì Đông chí là một ngày khá trọng đại. Việc cầu khẩn mặt trời ở xa trở về, đem nắm ấm cho mùa màng và nhân sinh là điều dễ hiểu. Chìa khóa thiên văn này thậm chí có thể đã từng là bí quyết mị dân của những vị chủ tế/lãnh tụ đầy quyền lực.

***

Buổi trưa trước Đông chí tôi rời tàu, băng qua con đường ven biển và hướng về ngọn núi Omori. Tuyết ngập đất. Màu trắng nhức mắt. Mặt trời chói lọi nhưng cô quạnh giữa một nền xanh nhàn nhạt, nhàm chán và vô vị.

Tôi men theo đường mòn có phương vị tây bắc cho nên khi nghe tiếng gọi giật sau lưng, ở một ngã rẽ bên phải, thì gần như khuôn mặt Yukiko sáng rực lên như trăng rằm. Cô đối diện với mặt trời chính nam. Sau lớp kính râm tôi đoán Yukiko đang nheo mắt.

“Tôi cũng lên núi” – Yukiko cười rất tươi – “ Anh sẽ giúp tôi cưa một cành thông Noel thật đẹp nhé. Chúng ta cùng đường, chẳng biết có duyên ngộ gì hay không?”. Người tôi nóng bừng. Yukiko từng bảo nhà cô trên sườn núi. Cô hay ngắm vịnh Furubira và đỉnh Omori bằng ống nhòm chuyên dụng hàng hải.

“Cô phải quay về lúc ba giờ chiều. Nên kể bản thân tôi cũng là một mối nguy hiểm giữa rừng. Nếu không tìm được chòi gác nào đó, tôi cũng có sẵn chiếc lều cá nhân dã chiến tự may trong ba lô, để đêm nay nghe nhất dương sinh của Đông chí”.

“Tôi chỉ cần nhấn phím S.O.S trên điện thoại di động, năm phút sau sẽ có trực thăng cứu hộ đón” – Tiếng Yukiko giòn tan – “Anh không cần cả nghĩ thế. Anh làm tôi tò mò rồi đấy. Nhất dương sinh là gì?”.

“Theo Sử ký Tư Mã Thiên, ngày Đông chí là cực âm. Âm toàn trị thì nhất dương sinh, khởi đầu nảy nở tăng trưởng của vạn vật, mặt trời thoát khỏi tấm lưới tù nhốt (Thiên la). Đông chí là ngày đầu năm thiên văn, gần trùng với mùa xuân dương lịch. Tôi đi tìm và thuận dưỡng niềm lạc quan cá nhân giữa trời đất, thiên nhiên”.

“Có không sự bế tắc hiện tại khiến ta quay về quá khứ, vinh danh quá khứ? Một trí thức hữu dụng điển hình phương Tây không cần biết nhiều đến phương Đông. Họ ít khi thấu triệt quan niệm Nhân sinh bản ác của Tuân Tử là cách đề cao giáo dục, là sự tương hỗ đáng giá cho Nhân sinh bản thiện của Mạnh Tử chủ trì lòng nhân. Người Nhật chúng tôi thành công bởi không tự ti trong hào quang trung cổ, không sợ sệt tương lai, luôn dấn thân tiếp thu cái mới, cầu thị điều hay với ý thức trách nhiệm. Chúng tôi giàu có tri thức hơn bất cứ một người phương Tây hay phương Đông thuần chất nào”.

“Tôi e rằng bạn quên. Mâu thuẫn của nền văn minh vật chất phương Tây với thiên nhiên là mâu thuẫn hủy diệt lẫn nhau. Để có gỗ chất đầy vào hầm tàu của tôi đem đến cảng này, hàng chục hecta rừng đã bị tàn sát. Đất trống, đồi trọc sẽ dẫn đến lũ lụt chết người, an ninh lương thực của biết bao cộng đồng cư dân bị đe dọa. Hài hòa với tự nhiên, nương dựa vào thiên nhiên, cải tạo mặt đất để phục vụ đời sống, không “đấu tranh” một mất một còn với ô
ng trời mà tạo nên chỉnh thể đối lập trong thống nhất là tư duy, tư tưởng đã có từ rất xưa của người Á Đông”.

Nhìn vào mắt Yukiko tôi biết cô không nắm bắt được nội dung tôi muốn chuyển tải. Không phải cô kém cỏi mà chính vì giới hạn tiếng Anh của tôi và của cô. Nhưng có hề gì. Tôi bỗng nhớ đến truyền thuyết Sơn Tinh và Thủy Tinh của dân tộc mình. Rõ ràng đây là cuộc đấu tranh triệt tiêu đối thủ. Nó hoàn toàn sơ khai và sơ sinh so với chuyện Hạ Vũ trị thủy.

***

Càng lên cao sườn núi càng dốc. Tuyết thưa và mỏng dần. Cây cối nhiều hơn, ít rụng lá hẳn đi. Yukiko vẫn chưa chọn được cành thông như ý. Cô nhấn mạnh chỉ cắt tỉa nhánh chứ không cưa ngọn. Cô chấp nhận sự cân đối kém hoàn hảo, nhằm nuôi dưỡng mảng rừng che bão cho vịnh Furubira.

Xê xế, gió bắc chuyển mình. Tuyết rơi trắng trời. Yukiko và tôi đã thấm mệt dù không lạnh lắm, vì cường độ vận động cơ thể luôn duy trì rất cao. Đến lúc này cô mới hỏi có phải thật sự tôi muốn vào núi, ở qua đêm. Thế rồi cô tìm đủ cách thuyết phục tôi cho cô chia sẻ cuộc du ngoạn đáng nhớ. Cô đã chuẩn bị mọi thứ cần thiết trong ba lô, kể cả cà phê phin Việt Nam pha rượu sakê ủ nóng, từ lúc thấy tôi rời tàu qua ống nhòm. Yukiko rất thất vọng vì bè bạn, người thân chưa bao giờ chia sẻ với cô niềm ao ước phiêu lưu. Ngọn Omori thân thương luôn ở trong tầm mắt cô từ thơ bé, càng ngày càng xa vời bên cuộc sống phố thị tốc độ chóng mặt.

Yukiko tin loài người không bị thoái hóa, thui chột mà ngày càng mạnh mẽ hơn khi bỏ vùng xích đạo ấm áp để tiến lên phương bắc băng giá cách nay hằng chục ngàn năm. Những lý do như nhân mãn, thiếu hụt lương thực hoàn toàn thuyết phục. Yukiko thấy giá trị của thử thách là ổn hơn hết nhưng quá mơ hồ với những cái đầu trực quan dễ dãi. Vượt qua chướng ngại, vượt qua bản thân, vượt qua đối kháng ngoại vi, con người đã hòa với thiên nhiên trở thành một thể thống nhất, để trở thành loài động vật thống trị quả đất. Sự thống trị ấy đang cực đoan hóa, nó hiển hiện nguy cơ tự hủy cục bộ, đầu tiên là ở những nước nghèo, phải bán tài nguyên cứu đói, đấu giá môi trường với tăng trưởng.

Chúng tôi không có tham vọng lên đến đỉnh Omori chỉ trong một buổi chiều. Nỗ lực càng cao càng xa càng tốt, thế thôi. Tối mịt chúng tôi đành dừng lại giữa một thảm rừng thông thưa nhưng bằng phẳng. Chẳng thể tìm được vọng gác lửa mùa hè theo tấm bản đồ tỉ lệ xích khá nhỏ Yukiko mang theo.

Như hai nhà thám hiểm chuyên nghiệp, chúng tôi dựng lều, gom củi khô mục đốt lửa. Gã thủy thủ còn lấy lòng người đẹp bằng cách hướng dẫn cho Yukiko mấy nút dây hàng hải cơ bản, dễ thao tác, dễ mở, song cực kỳ chắc chắn. Sau bữa ăn nhẹ tiết kiệm, Yukiko khuyên tôi nên đi nghỉ nếu muốn cảm nhận thời khắc giao mùa. Một mầm dương đầy sức sống sẽ khởi sinh vào lúc không giờ ngày Đông chí, dù tiếng gió hú hiện hữu và tuyết rơi khá dày chẳng hứa hẹn điều gì.

***

Yukiko bảo trăng đã đánh thức cô. Lúc ấy mười một giờ tối, giờ Tokyo đi trước Bắc Kinh một tiếng và Hà Nội hai tiếng. Đống lửa sắp tắt. Gió lặng. Trời trong. Trăng vàng. Tuyết trắng. Sâu thẳm đâu đó tiếng sói tru. Cô độc nhưng hân hoan. Như gọi bầy. Như hứng tình.

Yukiko nhờ tôi chặt tỉa ít cành thông già trong tầm với để nhen lại hơi ấm. Lạ lùng thay, tạo hóa đã ban tặng con người xứ lạnh loài thông đầy nhựa sống. Dù còn tươi rói và xanh rượi, chúng vẫn sẵn sàng nuôi lửa giúp họ băng qua bóng đêm từ thuở hồng hoang.

Vị cà phê chắt chiu tinh hoa đất trời trên cao nguyên trung phần Việt Nam hòa điệu đẹp một cách đáng ngạc nhiên cùng rượu Sakê Phù Tang. Có phải kể thêm chiếc bình tráng thủy bảo ôn sản xuất tại Trung Hoa không nhỉ? Chúng tôi tự nhiên tựa vai vào nhau, không bởi tâm hướng dục tính. Chúng tôi cần san sẻ hơi người, cần có đồng loại đồng hành trong giây phút giao hòa đáng ghi nhớ.

“Yukiko nghĩa là Tuyết tử anh ạ. Hiểu sao cũng được. Con gái của tuyết. Cô gái tuyết” – Giọng Yukiko đầy xúc động và hoài tưởng – “Ba mẹ em gặp nhau trong tuyết, yêu nhau dưới trăng ở sườn núi này. Đáng lẽ họ đặt tên em là Tuyết Nguyệt nhưng ở Nhật chẳng ai dùng cái âm ít nhạc tính và rắc rối ấy. Trong lựa chọn của ông bà còn có cả Miyuki (Mỹ Tuyết) và Mitsuki (Mỹ Nguyệt). Cuối cùng sự giản dị truyền thống thắng thế”.

“Anh sợ bị người tuyết bắt cóc lắm” – Tôi pha trò – “Ở sườn núi bên kia họ đang dắt chó sói đi săn những con mồi lạc loài đấy”.

Yukiko dụi đầu vào lưng tôi như bắt đền rồi vụt bỏ chạy. Chúng tôi vờ đuổi nhau để làm nóng. Tiếng tuyết nén rào rạo dưới chân. Tưởng có thể tan vào ánh trăng huyễn hoặc. Bắt được nàng trong vòng tay, không hiểu sao tôi lại nhớ đến một câu thơ triết lý “ngoài luồng”, chứ không phải đôi dòng lục bát tình tự thấm đẫm hồn Việt lãng mạn nào đó.

“Trăng Trung Quốc tròn hơn trăng nước Mỹ

Đồng hồ Liên Xô tốt hơn đồng hồ Thụy Sỹ”.

Tôi giải nghĩa tên tác giả Việt Phương là vẻ đẹp Việt. Yukiko ngạc nhiên với biểu hiện duy ý chí đến siêu thực. “Anh chỉ là một lão già bảo h
oàng hơn vua, gửi hồn trong cái xác trai trẻ này thôi” – Nàng nói sau thoáng suy nghĩ khá lung – “Nếu làm quân vương thì anh luôn xem mỹ nhân là trang sức nhỉ?”.

Giúp em hiểu thấu đáo ngữ cảnh trên là một điều khó khăn. Nó tương tự việc trả lời tại sao người Việt đã phức tạp hóa Hán tự để có chữ Nôm, trong khi Nhật Bản chọn việc giảm nét tượng hình nhằm sáng tạo hệ thống ký âm Kana. Lý do nằm ở nhiều thế kỷ bắc thuộc và lệ thuộc chăng?

Ở xứ sở của tôi, bây giờ đã tháng Một âm lịch, tháng khởi đầu đúng như hàm nghĩa từ Một, tháng Tý dẫn dắt mười hai con giáp. Điều trái khoáy là chúng tôi lại ăn tết ở tháng Giêng, theo ý chỉ của Hán Vũ Đế trước công nguyên cả thế kỷ. Giêng Hai miền nam hết sức khô nóng, miền bắc mưa phùn ướt áo. Những ngày nghỉ dông dài, chộn rộn nỗi lo ăn mặc không còn phù hợp với nhịp điệu công nghiệp, văn minh đô thị. Tôi trộm nghĩ sao người Việt chưa lấy dương lịch làm chuẩn. Tết nguyên đán phải trở về đúng chất lễ hội nhàn kỳ thư thả của văn minh lúa nước đặc thù ngàn năm.

Trong cảm thức phố xá, thế hệ chúng tôi lạc lõng bên kiểu ước lệ khiên cưỡng và mang tính thời cuộc về quê hương như cau khế. Gắn bó cùng tuổi thơ leo trèo nghịch ngợm của tôi có chăng là me sấu. Tôi không hề gần gũi với chùm quả chua thật ngọt giả của thi ca bàn giấy, nặng mùi điệu bôlêrô than thân quân dịch, bên vỉa hè Sài Gòn ngày ngoại bang chiếm đóng. Tuy nhiên tôi biết những đồng bào đầy tự tôn và tự ti của tôi sẽ thẳng thừng bác bỏ bất cứ cái nhìn nào khác đi. Tỷ dụ sự so sánh bản chất giữa truyền thuyết Sơn tinh – Thủy tinh và chuyện Hạ Vũ trị thủy, rất dễ bị kết tội phỉ báng tiền nhân, bôi nhọ văn hóa.

Yukiko tin phản dân tộc tính trong mỗi cá nhân kểt tủa bởi sự lưu cữu những giá trị cần thay thế. Các bộ óc cuồng vĩ ít nhiều luôn có hành động phản văn hóa như Tần Thủy Hoàng đốt sách, Hitler diệt chủng. Vẫn biết khái niệm tích cực bao giờ cũng kèm theo phủ định, giả như anh hùng/hèn nhát, đoàn kết/chia rẽ, chiến thắng/chiến bại, thông minh/ngu đần, vinh quang/nhục nhã, sáng tạo/sao chép, vị tha/nhỏ nhen, thơm thảo/tham lam, giàu có/nghèo nàn… Phải chăng qui trình đánh tráo mệnh đề gốc cho những nhu cầu thiển cận, đã dẫn đến nô lệ ảo vọng trong tinh thần đám đông, biến di sản thành gánh nặng. Đó cũng là một nguyên nhân dẫn người Nhật vào vũng lầy gây hấn khu vực đầu thế kỷ hai mươi, vào mấy hố bom nguyên tử ở Nagazaki và Hiroshima chỉ sau đó bốn chục năm.

***

Chúng tôi im lặng nhìn lửa nuốt dần những mắt thông sần sùi. Sự im lặng cần thiết để con người lắng nghe đất trời chuyển mình qua ngày mới.

Yukiko hát một bài haiku súc tích của Kobayashi Issa. Điệu luân vũ loang thấm vào từng đơn vị tế bào trong tôi: “Chùa treo vách núi. Dưới đáy tuyết. Chuông ngân”. Cảm ơn em, trái tim hồng ngày băng giá. Cảm ơn trăng nhắc tôi về tổ quốc đằng xa.

Trong nắng ban mai, chúng tôi trở lại phố biển với một cành thông không đến nỗi xấu xí. Những mỏm đá trọc nối dài, những con đê bê tông chắn sóng vươn ra vịnh Cổ Bình vẫn khoác trên mình lớp áo tuyết mùa cũ, lấp lóa trắng. Một đoàn công nhân bốc xếp đội mũ cứng, mang giày đinh, mặc áo da cam dầy cộp, khệnh khạng và sạch sẽ như phi công vũ trụ đang nhận ca. Đợt mưa tuyết đã chấm dứt. Những lô gỗ sẽ nhanh chóng được giải phóng. Với tốc độ làm hàng nhanh gọn của các hải cảng Nhật, có lẽ tàu tôi phải nhổ neo trước Noel.

Chuyến tới chúng tôi sẽ vào biển Hoàng hải, chở sắt cuộn từ Đại Liên Trung Quốc hay Incheon Nam Hàn gì đó đến Đài Loan. Mùa xuân còn xa. Quê nhà cũng còn xa. Nhưng cơn bão sót số mười ba, đang hình thành từ một áp thấp ở vùng biển Trường Sa rất gần với lo lắng của tôi khi đọc bản tin thời tiết. Chiếc đòn gánh của bà mẹ Việt Nam lại oằn xuống, sắt se ngày Đông chí.

Thảo Điền

11.2008

Báo Văn Nghệ số 1, năm 2009.

Thêm một bài báo mới trên BBC : Việt Nam và “thế giới Trung Hoa”.

Tản văn triết học Nguyễn Hữu Liêm

Leave a comment

Từ phía trái

Nguyễn Hữu Liêm

Mối sầu của Marx

“Từ thuở Tiên đi, sầu cũng nhỏ

Nhân gian thôi nhớ chuyện trên trời.”

Đó là hai câu thơ của Huy Cận trong lời mở đầu của Bùi Văn Nam Sơn về bản dịch “Hiện Tượng Học Tinh Thần” của G. W. F. Hegel. Khi trích dẫn hai câu thơ này, chàng học giả họ Bùi muốn nói đến một không khí triết học đã trở nên trống vắng và không còn mang cao vọng lớn lao sau tác phẩm này của Hegel. “Tiên” ở đây không phải là nàng tiên, hay là tiên sinh, mà là một nhà tiên tri cho thời đại và nhân loại. Khi nhà tiên tri đã ra đi, con người trần gian không còn màng đến việc tầy trời. Họ chỉ còn biết chuyện của trái đất, của cuộc sống thuần vật chất. Nhìn lại lịch sử thế giới trong gần một trăm năm qua, từ “duy tâm luận” của Hegel, nhân loại hăm hở chạy theo “duy vật chủ nghĩa” của Marx để rồi hệ quả là con người càng lún sâu vào cõi vật thể. Không còn ai nhìn lên cao để “nhớ chuyện trên trời.” Ngay cả nỗi sầu muôn năm nay cũng nhỏ.

Khi con người đã bỏ lại đằng sau mình hai thời quán giáo điều của tôn giáo và ý thức hệ của chủ thuyết chính trị thì hắn không còn gì siêu hình để tin vào, không còn lý tưởng vượt trần gian để sống và chết cho. Lịch sử nay đã không còn cứu cánh tính; cuộc đời cá nhân không còn cưu mang nội dung bản thể, hắn cũng mất luôn niềm xác tín vào ý nghĩa hiện hữu. Đây là thời điểm mà hắn bỏ rơi tôn giáo và chính trị để ra đi.

Khi thoát khỏi thần linh và ý hệ, ở giai đoạn đầu, con người cảm thấy bị chấn thương và bơ vơ. Nhưng nay, thì nỗi cô đơn cũng đã không còn – khi ý thức lịch sử cũng đã biến mất. Tất cả nhân loại này, từ đông sang tây, từ giàu đến nghèo, nay đã trở nên những chiếc máy thuần kinh tế. Những con người cách mạng oai hùng và huy hoàng thế kỷ trước nay chỉ còn là những con vật loay hoay với những ván bài tiền của. Họ đã bỏ quên trời đất ngoài kia để chỉ còn say sưa trong bóng tối với chính mình. Đó là những đứa con hoang lạc loài và tha hóa của Marx.

Gần hai thế kỷ trước, khi Marx đọc cuốn sách “Hiện Tượng” này của Hegel, chàng ta muốn chuyển ngược biện chứng tinh thần thành ra quy luật kinh tế. Gốc rễ của con người, thước đo cho nhân loại, không phải đến từ trời cao hay thần linh, mà là con người chính hắn. Marx muốn mang nhân gian này ra khỏi “vương quốc thiết yếu,” vốn chỉ biết bận tâm về nhu cầu vật chất, đến với “cõi tự do” nơi mà cá nhân và tập thể được dung thông trong hòa hợp giữa nhu cầu và khả năng. Chàng muốn giải phóng con người ra khỏi “vọng tưởng duy tâm” của Hegel, vốn là “thượng tầng cấu trúc” của thực tế vật chất, để đem nhân loại trở về với thực tại trần đời, để làm người thế gian thuần kinh tế. Nhân loại hãy thôi hoang phí năng lực vào ước vọng siêu hình để mà đem hết sức mình lo chuyện áo cơm bằng phương trình lịch sử.

Và như ai cũng đã biết rồi. Cơn mơ nào cũng phải được tỉnh thức. Chủ nghĩa Marx đã thất bại như là một ý thức hệ chính trị. Nhưng Marx đã tiên tri đúng về thân phận của con người thế gian này. Tất cả chúng ta nay chỉ là những con vật kinh tế. Không còn ai tin vào các “thượng tầng cấu trúc” của thế giới tư bản nữa. Thần linh biến mất. Trời cao không còn. Thượng đế đã chết. Bạn biết sao không? Cái điều nghịch ngẫu nằm ở chỗ rằng dù cho con người thế gian hôm nay, trên bình diện chính trị, họ đều chống Marx; nhưng tất cả chúng ta, trên bình diện kinh tế, đều là những đứa con ngoan của Marx.

Hãy nhìn lại. Lịch sử, theo Hegel, là sự “khai mở Tinh thần vào thời gian,” cũng như “Vũ trụ là sự khai mở Tinh thần vào không gian.” Thế giới, theo Hegel, là một hiện tượng tinh thần, mà trong đó, cá nhân tính chỉ là một hình thái tha hóa đang vươn mình tìm về lại chân lý vốn đang chờ đón ở cuối hành trình lịch sử. Cứu cánh tính của lịch sử và nhân loại là Tự do. “Lịch sử thế giới là một tiến trình trong ý thức Tự do,” Hegel tuyên bố. Trên cơ bản cá nhân, tự do là sự giác ngộ về “bản lai diện mục.” Trên cơ bản nhân loại, tự do là sự dung thông của ý chí cá thể với thực tế lịch sử. Đây là một con đường đầy gian truân, “một xa lộ đầy bi kịch,” mà Tinh thần tạo hóa, như là một nhà đạo diễn đầy thủ đoạn – “the cunning of Reason” – nhưng với thiện ý, đầy đoạ nhân gian như là những trừng phạt của cha mẹ dành cho con cháu trong nhà nhằm cho chúng mở mắt ra để trưởng thành và lớn lao lên mà biết đến đường về.

Đối với Hegel thì bản chất tha hóa của con người là nguyên nhân cho địa ngục trần gian. Trong khi đó, Marx thì cho rằng sự tha hóa của con người là hệ quả từ bản chất cấu trúc kinh tế vật chất có sẵn của xã hội. Marx muốn xem thế gian và lịch sử là đối tượng để chinh phục và đổi mới. “Chính ta sẽ dẫm trên đống gạch vụn lịch s
để đứng lên như là một thượng đế mới,” Marx viết. Con người và lịch sử như là một tiền đề và phản đề, soi gương lẫn nhau để mà biến thái lẫn nhau.

Một nửa nhân loại của thế giới, trong suốt hầu hết thế kỷ 20, đã nghe lời Marx như thế, để chủ ý thay đổi lịch sử nhằm chuyển hóa con người. Con người kinh tế sẽ phải được phủ định khi nhu cầu thiết yếu của vật chất không còn là mối bận tâm. Những con chiên Marxists không còn phải chỉ lo về chính mình. Mà trái lại. Hắn muốn hy sinh đời sống riêng tư bằng ý chí tự phủ định cho cứu cánh lịch sử. Từ đó, lịch sử là chủ thể của ý chí mà cá nhân phải phục tòng. Con người từ giã tính tha hóa cá nhân bằng cách hòa mình vào ý chí tập thể trong cứu cánh tính tự do. Muốn được giải phóng, hắn phải trước hết tự trói chặt chính mình vào cơ năng tổ chức. Chỉ còn có con người lịch sử chứ không còn cá thể riêng tư. Và thảm họa phát xuất từ đó.

Ở cuối thế kỷ 20, những con chiên Marxists mới thấy được rằng những cá nhân trong ý chí lịch sử duy vật, vừa đánh mất tự do của chính mình để rồi đồng lúc nô lệ hóa tha nhân. Khi Marxism không còn ai tin vào, nhân loại bỏ vất luôn khả năng lý tưởng. Khi cá nhân hết tin vào lịch sử, hắn cũng mất luôn niềm tin vào chính mình. Nhìn đâu, con người thời đại cũng chỉ còn thấy những thây ma thối rửa của thần linh, của tiên tri, của giáo điều, chủ nghĩa, của tổ chức, của đảng. Từ khi nhà tiên tri Karl Marx đã ra đi, thần đế cuối cùng trong thế gian này đã chết. Nhân gian từ nay đã hết mơ nói chuyện trên trời.

***

Một ngày mùa đông cuối năm 2008 ở vùng bắc California này, trời âm u mây chiều, trong không khí giá lạnh, tôi thấy từng đoàn xe cộ, người ta lũ lượt đi mua sắm trong tiếng nhạc Noel quen thuộc. Tôi thấy một nhân gian tất bật lo lắng thuần về kinh tế. Trong hơi men tàn của cơn say lý tưởng từ thế kỷ trước, có ai đó trong tôi đang thấy rằng đây là một hoạt cảnh nhàm chán loay hoay của một khối nhân loại không còn tôn giáo, không còn lịch sử.

Thượng đế đã chết. Hegel bị lãng quên. Marx nay rơi vào sọt rác. Không còn ai xứng đáng là kẻ tiên tri cho thời đại. Những đứa con rơi thuần duy vật của Marx nay đã mất hồn lịch sử. Mối sầu kim cổ lớn lao của nhân loại đi đâu mất rồi!

“Đại bàng vỗ cánh muôn năm trước

Đâu biết trời kia rộng mấy khơi.” (HC)

Lập thân tối hạ thị văn chương?

Leave a comment

Lập thân tối hạ thị văn chương?

Mở đầu bài báo “Quan niệm của tôi đối với văn chương”[1], Phan Bội Châu đã trích và dịch hai tác giả:

Tùy Viên:

“Mỗi phạn bất vong duy trúc bạch

Lập thân tối hạ thị văn chương”.

[Công ở non sông thiêng tấc dạ

Thân nhờ bút mực quá hèn trai]

Minh Nhân:

“Văn chương thiên cổ sự

Đắc thất thốn tâm tư”.

[Văn chương việc nghìn đời

Hay dở chỉ lòng biết]

Tiếp theo ông đặt dấu hỏi: “Xem hai câu ấy thì bảo văn chương là một việc có giá trị hay không?”. Sau mấy trang viết trải lòng, dẫn giải từ Hạ Vũ, Tả Truyện, Kinh Dịch tới Phật, Chúa, Kha Luân Bố, và mô tả sơ nét bối cảnh xã hội Việt Nam nửa thuộc địa nửa phong kiến đầy tăm tối ngột ngạt, cụ Phan kết luận: “Chúng ta chẳng nói đến văn chương còn nói gì? Nếu không thèm nói văn chương thì xin hỏi, ngoài việc văn chương thì có gì là chúng ta làm được? Lại như một hạng người không biết văn chương là cái gì, thì tôi không muốn bàn nói tới. Lập miệng thân cho thạo, anh võ là mình nuôi xác thịt cho no, ngựa trâu thây kệ. Nếu chỉ hạng người như thế mà ta còn nói văn chương với họ làm gì, nhưng há có lẽ đâu hai mươi lăm triệu đồng bào tai thông mắt sáng, hơn bốn nghìn năm tổ quốc sông lớn nguồn xa, mà không có người biết nghe văn chương ư? Vậy nên chúng ta phải cố học cho ra nghề văn chương”.

***

Gần đây tôi có đọc tâm sự mở (public) trên blog của một nhà thơ nổi tiếng, một chuẩn mực thành danh bằng thi ca. Nhà thơ bảo ông bà dạy “Lập thân tối hạ thị văn chương” mà ông quên! Tôi tìm câu “ông bà dạy” này trên internet và nhận thấy nó phổ biến khá rộng rãi trong xã hội Việt Nam, hay được các nhà văn nhà thơ trích dẫn với hàm ý: Đừng dại dột dấn bước, ao ước lập thân bằng văn nghiệp. Nó rất hạ đẳng, tàn nhẫn, bạc bẽo và đầy tai tiếng. Hơn hết văn chương không thể nuôi sống một con người.

Thật là kỳ lạ! Cụ Phan Bội Châu dạy một đằng, xã hội (ở góc độ nào đó) lại tiếp thu một nẻo. Cụ đưa ra, dẫn dịch hai nhận định trái ngược nhau về văn chương của nền Nho học Trung Quốc để thuyết phục đồng bào mình về giá trị vĩnh cửu của văn chương. Than ôi, lớp lớp hậu sinh chỉ ghi lòng tạc dạ thứ “âm ảnh” minh họa, thế thì nghĩa làm sao?

Trở lại với phần dịch ý của Phan Bội Châu, ta thấy hai từ “trúc bạch” và “văn chương” được ông chuyển ngữ thành “công ở non sông” và “bút mực”. Như vậy có thể xác định cụ Phan muốn hiểu “trúc bạch” là sự nghiệp lớn mà Tùy Viên luôn nghiền ngẫm trong lòng (tấc dạ). Bài báo của cụ Phan cũng nhắc đến “tam bất hủ” chép nơi Tả Truyện, theo thứ tự là lập đức, lập công và lập ngôn. Lập ngôn ở đây tức là viết văn. Lập công, cụ Phan dẫn trường hợp Hạ Vũ trị thủy, Quang Trung đại phá Mãn Thanh.

Rõ ràng Phan Bội Châu có phần đồng cảm trong cách dịch này, xuất phát từ chính sự nghiệp cách mạng vẻ vang nhưng gián đoạn của cụ? Cụ đến với hai câu thơ Tùy Viên bằng ít nhiều riêng tư sâu kín chăng? Cụ đã chuyển cho hậu thế một ý niệm nhưng vẫn có thể bàn thảo thêm, từ chính nội hàm ngữ nghĩa của thi từ Tùy Viên.

Tôi thử đọc “trúc bạch” khác đi, theo đúng từ điển, nó chỉ các loại sách cổ bằng thẻ trúc hoặc lụa thô. Giả thử Tùy Viên nghiền ngẫm văn chương của thánh nhân và giá trị lớn lao trong ấy ở mỗi bữa ăn, chứ không phải nghiền ngẫm lập công, thứ được đặt cao hơn lập ngôn (văn chương), sẽ khiến ta nhận ra một Tùy Viên khác hẳn cụ Phan mà không vô lối một chút nào. Nói cho cùng, đa nghĩa trong những ý thơ chưa bao giờ xa lạ với người thưởng lãm.

***

Trước khi đi sâu vào ngữ nghĩa, tôi đã có thao tác kiểm tra văn bản học đơn giản nhất là tìm trên internet câu “Lập thân tối hạ thị văn chương” bằng Hán tự. Điều bất ngờ là có vẻ cụ Phan Bội Châu đã sửa thơ Tùy Viên, sửa thơ Đỗ Phủ. Cụ chỉ nhớ ang áng và dùng những từ gần gũi với từ gốc? Cũng không nên loại trừ một hai yếu tố kỹ thuật như lỗi bản khắc in ấn nội địa Việt Nam, hoặc lệch pha của đường biên viễn không gian Hán văn.

Tùy Viên tiên sinh hay Viên Mai (1716-1798) người Chiết Giang, năm Càn Long thứ 4 (1739) ông đỗ tiến sĩ và vào làm ở Hàn lâm viện Thanh triều. Trong sự nghiệp văn chương vẻ vang đương thời của mình ông từng chủ trì Càn Long thi đàm và trước tác nhiều tác phẩm như Tùy Viên thi thoại, Tiểu thương sơn phòng văn tập, Tiểu thương sơn phòng thi tập… Nguyên văn hai câu thơ của Tùy Viên là:

Mỗi phạn bất vong duy trúc bạch

Lập danh tối tiểu thị văn chương

Ta thấy câu thứ hai có hai từ khác với trích dẫn của cụ Phan Bội Châu là danh/thân, tiểu/hạ. Ngoài ra hai câu thơ cụ Phan chú của Minh Nhân thì lại là hai câu đầu bài Cảm Tác của Đỗ Phủ, chỉ khác một chữ Tư:

Văn chương thiên cổ sự

Ðắc thất thốn tâm tri

Tác giả giai thù liệt

Danh thanh khởi lãng thuỳ

Khi kiểm tra tần số xuất hiện của hai câu chữ Hán “Lập danh tối tiểu thị văn chương” và “Văn chương thiên cổ sự” trên mạng, tôi thấy câu thứ nhất chỉ có 11 trang ghi nhận rất sơ sài, cực ít luận bình so với 696 trang của câu thứ hai. Điều đó nói lên Viên Mai quá nhỏ bé trước Đỗ Phủ chăng? Hay lời cảm thán của Viên Mai mang tính cá nhân, không có giá trị đại chúng phổ thông, không phải chân lý thường hằng tại quê hương ông? Ngược lại, câu tiếng Việt “Lập thân tối hạ thị văn chương” của Phan Bội Châu xuất hiện 123 lần, và “Văn chương thiên cổ sự” chỉ 51 lần.

Bản thân tôi thiên về cách hiểu mang tính cá nhân của Viên Mai: Mỗi bữa (ăn) không quên nghiền (ngẫm) sách vở (thánh hiền) / Lập danh bằng văn chương là một con đường hẹp (vì thánh nhân từ xưa đã có những trước tác mà ta phải cúi đầu thẹn thùng bởi bất tài). Do đó hai câu thơ của Viên Mai ngoài việc khiêm nhường tự trách mình, còn dung chứa lòng kính trọng tiền bối và di sản quá khứ. Logic này từng hiện hữu trong giai thoại Đường thi: Lý Bạch thăm Hoàng Hạc Lâu định đề thơ nhưng thấy tích cũ của Thôi Hiệu đành vứt bút ngửa mặt than: Nhãn tiền hữu cảnh đạo bất đắc / Thôi Hiệu đề thi tại thượng đầu. (Trước mắt có phong cảnh đẹp mà không làm thơ nổi. Vì đã có trứ tác Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu cao vời vợi rồi).

***

Có không sự tiến chuyển một câu thơ Hán của Viên Mai, qua nhà “biên tập” hữu ý hoặc vô tình Phan Bội Châu, để thành ngạn ngữ/cách ngôn Việt Nam hiện đại, trên cơ sở thực tế đáng buồn của môi trường văn học cũng như văn giới mấy chục năm trở lại đây? Đất nước chúng ta hôm nay, có lẽ không tồn tại người viết một cách chuyên nghiệp, ít nhất là ở tiêu chí sống tốt và làm giàu được bằng văn chương (như Mỹ, Anh và cả Trung Quốc chẳng hạn). Đã xuất hiện những khái niệm rất kêu và lạ tai như cổ vũ văn hóa đọc, xây dựng thị trường văn học, vận động rèn giũa trau dồi lực lượng tác giả. Nó dường như phi chuẩn với truyền thống vì cụ Phan từng tha thiết “Văn chương thiên cổ sự”, đau đời thoát tục, giáo dục khai sáng như các tiền bối Khổng, Mạnh. Tuy vậy nếu nhìn văn học rộng hơn thế, đời thường đi một chút, thì động thái trên rất cần thiết cho xã hội trên con đường hòa nhập đại đồng nhân loại.

Việt Nam đang chuyển mình, khi nền văn minh đô thị bước đầu hoàn bị, chắc chắn nó sẽ tự xem xét và điều chỉnh mọi riềng mối trong đó có văn học. Tôi hoàn toàn tin tưởng một ngày không xa nữa, cái gì của Viên Mai sẽ được ngôn ngữ Việt Nam trả lại cho Viên Mai.

Thảo Điền 12-2008

(bài đăng báo Lao Động cuối tuần số xuân 2009)


[1] Theo báo Đông Phương ngày 28-10-1931, in lại trong “Thơ văn Phan Bội Châu thời kỳ ở Huế (1926-1940)”, NXB Thuận Hóa 1988, trang 315 đến 319.

MAN ĐẢO – truyện ngắn

3 Comments

Man đảo

Truyện ngắn

“Đèn dầu đơi… Đèn dầu đơi. Mua dầu khuyến mãi đèn. Ô! Xin lỗi. Mua đèn khuyến mãi dầu!”. Quý rao hàng rất nhiệt tình. Hắn xí xô bằng tiếng Anh như thế này “Oils lamp… Oils lamp. Buy oils get fee lamp. Oh! Sorry. Buy lamp get fee oils…”.

Thổ dân Papua New Guinea vây quanh Quý càng lúc càng đông. Hắn quay mòng mòng bên cửa hàng tạp phẩm dã chiến: một tấm bạt rách bày đủ các thứ từ kim, chỉ, dao cạo râu, búp bê, áo thun, quần short đến đèn dầu. Sự nhạy bén của Quý thật đáng nể. Biết chắc chuyến này tàu được thuê chở gỗ ở các đảo nam Thái Bình Dương về Nhật, Quý đã đánh rất nhiều hàng từ mấy sạp chợ Xóm Chiếu gần cảng Sài Gòn để phục vụ “thượng đế ở trần”.

“Cu con, mày đi đâu đấy?” – Quý gọi giật tôi lại – “Giúp tao bán với, không thì mất hết”.

“Chẳng sao đâu. Tôi cá với anh người ở đây lành lắm. Tôi vào sâu trong bản thăm thú, đổi mì gói lấy con gà tơ và ít rau tươi”.

“Thổ tả!” – Quý rủa – “Mày đã mua mấy xô quặng vàng, không nhớ à?”.

Chuyện đó xảy ra ở cảng Rabaul. Người bản xứ đi thuyền độc mộc có càng chống lắc ra dụ cả tàu mua “quặng vàng”. Họ nhón một ít hạt tơi như cát thả xuống biển. Qua làn nước trong văn vắt, màu vàng lung linh mời gọi ánh mặt trời và tất cả chúng tôi. Không ai bảo ai, thủy thủ Việt Nam dấm dúi thu gom mỗi người mấy xô quặng. Họ bán rẻ như vé số, dại gì không mua một giấc mơ. Nhưng chiêm bao kết thúc quá sớm, khi ông đầu bếp già biết được và cảnh tỉnh. Thời trẻ ông từng học nghề thợ bạc. Ông bảo vàng là kim loại trơ nên nó thường kết thành vẩy vụn gần nguyên chất trong thiên nhiên chứ không thể hòa lẫn với sa thạch.

“Đảo này chưa có điện, họ chưa biết gian xảo đâu. Anh hãy gọi đèn dầu là ánh sáng văn hóa huyền ảo phương Đông cho nó oai. Thế mới kích thích người mua” – Tôi an ủi Quý trước khi hướng về những mái nhà sàn cheo leo nép mình vào vách núi.

***

Khe hở giữa hai ngọn núi nhỏ chồm ra biển là bãi cát đẹp, nơi Quý đang đứng bán hàng. Bờ suối thoai thoải chính giữa dẫn tôi vào ngôi làng của thổ dân nam đảo. Người ở đây da đen bóng, vóc dáng trung bình khá, nam nữ đều tóc xoăn dính chặt đầu. Họ ngụ dưới những mái lá giống như ở Tây Nguyên Việt Nam nhưng đơn giản hơn. Gần như cả làng đã chạy ra mép biển xem hoặc mua hàng.

Trước đây cộng đồng này sống sâu trong rừng, giữa một thung lũng hẹp, dân số chỉ khoảng hai trăm, chia thành vài chục bếp lửa. Ngôn ngữ của họ là một trong tám trăm năm mươi ngôn ngữ bản địa Papua New Guinea. Những người cao niên bảo khoảng năm đời trước, tổ tiên họ thoát ra khỏi cuộc chiến tàn bạo tại một hòn đảo nào đó rất xa. Hành trình vượt biển vô vọng dài dằng dặc, phó mặc cho may rủi trên một dòng hải lưu hiền hòa, đưa đoàn lưu dân đến cửa lạch này.

Lãnh tụ đầy quyền lực của họ là lão thầy cúng gia truyền, suốt đời vun vén lời nguyền mang tên đại dương: biển cả – cánh cửa trá hình của địa ngục, đầy tội ác và bất trắc,

Khi các công ty khai thác lâm sản đa quốc gia tới đây, thầy cúng truyền đời thứ tư đã quyết liệt phản đối, đồng thời cấm tiệt dân bản đi làm thuê. Không có nhân công giá rẻ tại chỗ, tốc độ tàn sát rừng rất chậm, nhiều tháng mới có một tàu biển vừa vừa đến ăn hàng.

Những nhà truyền giáo mắt xanh xuất hiện, mọi sự bắt đầu thay đổi. Quyền lực của thầy cúng bị chúa trời lấn át. Xung đột âm ỉ cháy trong làng. Thòng lọng đã thắt lại khi thầy cúng đánh thuốc độc nguồn nước sinh hoạt, giết hơn nửa đội công nhân đốn gỗ được gửi tới từ thành phố Rabaul, thủ phủ quần đảo. Các nhà lập pháp, hành pháp và tư pháp chung tay bắt bỏ tù gần như toàn bộ đàn ông trong gia tộc thầy cúng. Người ta dỡ làng cũ, dọn đến gần biển để tiện bề đi lại, phục vụ công trường thu gom và phân loại gỗ. Các chuyến tàu ùn ùn buông neo.

***

Tôi bước vào một kiến trúc tre nứa lớn có lẽ mang chức năng như nhà rông ở Việt Nam.

“Xin chào” – Tôi giật mình. Trong góc tối nhất của gian phòng ánh lên màu da trắng xanh trung niên, giọng mũi khọt khẹt y như lão hoa tiêu tôi từng gặp tại cảng Brisbane nước Úc.

“Chào anh” – Tôi nhìn về tấm bảng đen trên vách. Một bài học tiếng Anh vỡ lòng chưa xóa.

“Bọn mày lại đến đây bán rượu hả?”

“Hôm kia canô hải quan tịch thu hết rồi. Riêng tôi thì chẳng liên can. Không phải đạo đức gì, tôi là thủy thủ học việc, chưa rành buôn lậu”. Có lẽ ông ta biết chuyện nhiều thuyền viên trên tàu lén bán rượu Maxime Bình Đông cho công nhân khai thác gỗ.

“Uống nước trà nhé. Trà Papua nấu từ lá r
ng” – Williams mời tôi. Thì ra anh ta là giáo viên Anh ngữ của một tổ chức phi chính phủ, đến làng tám tháng nay.

Williams kể anh đang sống giữa một cộng đồng sắc tộc bán khai. Tôi hỏi Williams người ở đây có hiểu khái niệm bán khai là gì không. Hắn trả lời tất nhiên không. Tôi bảo ngôn ngữ của thế giới văn minh tởm lợm và nguy hiểm lắm. Tôi không tin mình đến từ thế giới “bên trên”. Định vị “phía ngoài/vượt khỏi” (beyond), “ở dưới” (below) nền văn minh đang thống trị nhân loại (the reigning civilization) theo cách Williams dùng, hàm chứa một âm mưu, biến kẻ nghe thành con nợ[1].

Williams cười khùng khục. Y bảo nước Úc có hẳn những hội đoàn suốt đời đấu tranh cho tôn chỉ của tôi, thậm chí nó còn mang giá trị triết học và tôn giáo. Y hỏi tôi đọc các tư tưởng ấy trên internet hả? Tôi nói tôi chẳng ở đây nhưng tôi cũng biết, trai gái lớn lên hoang dại. Đến độ tuổi nào đó họ sẽ nhìn vào mắt nhau để quyết định có chung ngủ trên thảm lá rừng không. Thế là thành gia đình, tình yêu. Họ tiến bộ hơn chúng ta. Họ không dùng ngôn ngữ bóng bẩy để lừa phỉnh chăn gối. Họ không đánh giá quần áo, giày dép, địa vị và túi tiền trước hôn nhân.

Williams nói hai bề chiếc lá chẳng bao giờ cùng màu. Hắn nghĩ tiêu chí xem xét một cộng đồng văn minh là nhân phẩm, ý thức của mỗi con người về nhân phẩm, sự lớn mạnh của khuynh hướng bảo vệ nhân phẩm trong tổng hòa các mối quan hệ xã hội. Nếu tôi chỉ nhìn bên dưới chiếc lá thì tôi chẳng bao giờ thấy giá trị của mặt trời được chất diệp lục chắt chiu, tinh kết… Pháp luật không thể diệt trừ được cái ác, cũng như nhà tù thường làm con người xấu xa hơn – Williams quả quyết như đinh đóng cột – Xã hội văn minh giúp đỡ sự lương thiện có lợi thế thượng phong. Cái ác không còn thì bói đâu ra quảng tâm.

Tôi không bắt bẻ được lý lẽ của Williams nhưng tôi nói tư duy của hắn xa lạ với nền tảng nhị nguyên phương Tây, nơi đúng/sai, được/mất luôn luôn rạch ròi. Williams bảo tất nhiên bề nổi của văn minh phương Tây là chợ vòm toàn cầu, rặt những con buôn người có máu mặt, hậu duệ của lũ cướp biển/bức sát/xâm lăng/diệt chủng mấy thế kỷ trước.

“Anh biết chứ chưa hiểu, anh bạn à” – Williams thật thà thổ lộ – “Chỉ khi nào anh vượt qua cái biết, xóa bỏ tín điều của thông tin, anh mới bắt đầu hiểu. Chẳng hạn những đứa trẻ phải học rất nhiều để tranh vẽ của chúng mất đi sự non nớt, trong khi các họa sĩ tài danh thì luôn cố gắng giũ bỏ mọi kiến thức để trở về đường nét vụng dại, ngây thơ”.

“Anh từng đọc Lão Tử của Á Đông?” – Tôi hỏi khó Williams – “Cảm ơn anh giúp tôi hiểu ông hơn. Văn minh tất yếu phải phát triển theo chu trình, con người sẽ không phí hoài quá khứ, dù đó là cái ngày hôm qua ăn lông ở lỗ”.

“Cảm giác mất mát tự thân khi sinh hoạt giữa dân chúng hiền hòa nơi đây là có thật. Hãy vào làng chơi đi, anh sẽ trải qua những phút giây sống ra sống khá kì ảo và đáng giá”. Williams chào tạm biệt tôi.

***

Mấy gói mì tôm mang theo, tôi đổi được một con gà giò. Dân chúng thích khẩu vị mì lắm. Họ gọi mì là râmi theo âm Nhật vì mì được người Nhật đem đến đây đầu tiên.

Tôi ngược chiều với hàng đoàn dân làng trở về nhà từ bãi biển. Họ vừa đi vừa cười nói vui vẻ và không ngớt chào hỏi. Tay ai cũng nâng niu ít nhất một món hàng Việt Nam. Đến mép nước tôi chẳng thấy Quý đâu. Chiếc canô hắn thuê cũng mất dạng. Chết tiệt – tôi rủa thầm. Tôi đi ké Quý trong khi hắn nghĩ canô hắn bỏ tiền thuê, tôi trèo lên thì phải bán hàng cùng hắn. Lỗi là ở tôi. Trong thế giới đèn điện, mọi thứ phải tự hiểu là nên trao đổi sòng phẳng.

Con gà bị trói ngơ ngác và bắt đầu quáng vì ánh ngày sắp tắt. Tôi ngồi xuống cạnh biển. Cố gột hết suy nghĩ vẩn vơ, tôi tận hưởng những làn gió thanh sạch đang luồn dần vào bóng đêm.

“Mày lên nhà tao ăn tối đi. Chút tao kiếm thuyền đưa mày về” – Chủ nhân ngôi nhà sàn gần biển nhất đang đứng sau lưng tôi. Theo hướng ngón tay trỏ của ông, ánh đèn dầu leo lét.

Vợ và hai con của Kapoo quây quần giữa nhà. Họ đang dùng một chảo tinh bột nhiều xơ được trần quết nhuyễn mịn. Họ bảo đấy là thứ củ địa phương, mọc hoang bìa rừng. Tôi khách khí thò ra con gà và hỏi Kapoo có rượu chứ. May quá, chiếc chai dẹp Kapoo lục được trong vách lá góc nhà là thứ Rhum Tanduay Philippine nổi tiếng, chứ không phải Maxime Bình Đông chế từ cồn công nghiệp pha loãng, tẩy bột màu và lắng cặn bằng thuốc trừ sâu tại quận Tư, Sài Gòn.

Kapoo kể, ngày ông còn bé, cả làng bất ngờ bị cấm thịt gà, không rõ lý do. Họ chỉ cắt tiết chúng khi hiến tế rồi ném xác xuống vực, ra biển. Ăn “gà thần” là tội lỗi tày trời và sẽ bị trừng phạt. Mùa hạn hán kinh hoàng nọ, do thực phẩm thiếu thốn, dần dần dân làng bắt đầu lén lút sử dụng lại nguồn chất đạm này. Lão thầy cúng độc địa nửa kín nửa hở, không khuyến khích nhưng cũng không truy xét gắt gao. Hắn biến toàn bộ con dân của mình, kể cả gia tộc hắn, thành những kẻ phạm tội. Vô hình chung luật “cấm ăn gà” trở thành công c
cai trị hữu hiệu. Thầy cúng mua chuộc tai mắt chỉ điểm khắp nơi. Mỗi khi cần hậu thuẫn, thỏa hiệp hay “chuyên chính”, ông ta lấy ngay con bài tẩy “giết gà” ra trấn áp. Cha Kapoo hàm oan vì một nhúm lông gà chôn sơ sài bên bờ suối, gần mái ấm của mình. Tất nhiên đa số gà của làng là gia cầm thả hoang, nó mang danh nghĩa những đứa con của mẹ rừng. Quá nhục nhã khi bị qui là kẻ cắp, cha Kapoo đã bảo toàn nhân phẩm của mình bằng cái chết tự nguyện đầy đau đớn. Trước khi tắt thở ông cố gắng trăn trối với con cái rằng ông vô tội. Cả cộng đồng đều phạm luật thì phải xem lại luật pháp. Thứ “hương ước” vô cảm kia là cạm bẫy chứ không phải đội cấm vệ quân nghiêm khắc của thần công lý.

Bữa rượu gần tàn. Williams bước vào tự nhiên như người thân của Kapoo. Anh ta pha trò: “Lại sự tích kim kê hả bác Kapoo?”. Williams hỏi Kapoo từ “luật pháp” bằng tiếng Anh dịch sang tiếng mẹ đẻ Kapoo là gì. Kapoo bảo một nửa “thầy cúng” một nửa “gà rừng”. Tôi bỗng rùng mình. Tội ác sẽ xây dựng hang ổ kiên cố tại những xứ sở mà hình luật là lưỡi kiếm sinh sát vô lương của kẻ cầm quyền. Nói man rợ chưa đúng lắm, nó “hạ cấp” hơn man rợ mấy bậc.

***

Williams đứng trên bờ vừa mở dây thuyền vừa vẫy tay chào. Anh bảo Kapoo nhất thiết phải tường thuật chuyện ăn thịt người cho tôi nghe rồi cười vang bến nước. Tiếng chèo tay nhè nhẹ nhưng dứt khoát. Ánh đèn dầu thôn xóm khuất nhanh khi thuyền rẽ trái. Trời tối đen như mực. Bóng núi đổ xuống hãi hùng, bên cạnh lời kể đều đều và chậm rãi của Kapoo.

“Chưa xưa lắm, cách làng tôi bảy cái thác hoặc mười bốn ngày chèo thuyền thì đụng một bộ lạc hung dữ, còn nguyên tục ăn thịt người. Khi phạm vào bậc thang tội trạng cao nhất, bất kể giới tính, trẻ già, kẻ thủ ác sẽ bị mổ. Ngày thi hành án luôn là lễ hội ai ai cũng náo nức mong đợi. Dân tình hả hê lấy máu tội nhân vẽ mặt nhảy múa. Món thịt người “nướng mọi” nghe bảo thơm vỡ mũi và ngon tuyệt trần, đặc biệt là sợi tủy xương cẳng chân béo ngậy chỉ dành cho thủ lĩnh.

Lạ là các nạn nhân không ra vẻ khủng hoảng. Họ có niềm tin mãnh liệt về kiếp sau huy hoàng nếu được “an táng” trong bụng đồng loại. Cho nên suốt tuần trăng “ân huệ” họ rất tích cực tẩm bổ để da thịt mỡ màng và luôn hát hò, thậm chí bứt dây trói, dậm dật những vũ điệu ma quỉ.

Khi “văn minh phá rừng nguyên sinh” tràn tới, con trai cả tù trưởng xin làm nghĩa tử một đốc công da trắng và muốn du ngoạn thế giới bên ngoài. Vị đốc công đem anh về Bamaga thành phố quê hương ông, bang Queensland. “Thái tử” mười tuổi được học hành. Chưa kịp đến ngưỡng vị thành niên hắn đã đổ đốn hippy, rượu chè, hút sách. Cha nuôi đành phải trả hắn về nơi chôn nhau cắt rốn.

Xa rừng lâu ngày, “thái tử” trở nên vô dụng và thô vụng giữa đời thường của bộ lạc. Hơn nữa, hắn còn nguyền rủa quyền lực của cha đẻ mình. Hắn phỉ báng tiên tổ và tất cả lề thói hủ lậu. Cuối cùng trong một cơn rượu chè điên loạn hắn đã phạm tội hiếp dâm kiêm loạn luân. Tù trưởng truất thừa kế của hắn và tuyên bố sẽ mở đại tiệc thịt người.

Kẻ tội đồ gào thét và tuyệt thực suốt tuần trăng ân huệ. Bộ da bọc xương của hắn thỉnh thoảng lại thều thào những câu cú như thơ không vần, lổm ngổm các khái niệm phương Tây, nào là tự do, nhân tính, phẩm giá, thân phận, số kiếp, định mệnh… Tất nhiên nhân dân không hiểu mà lại tỏ vẻ ngạc nhiên, vì hắn đánh mất truyền thống lạc quan trường tồn của tiền nhân khi đối mặt với tử thần.

Bữa thịt người thất bại thảm hại. Máu tử tội xám đặc như chì lỏng. Các bó cơ mỏng, dính chặt vào xương bốc mùi thum thủm. Bộ óc sàn sạn những cát. Mấy dây tủy vón cục và đen như đá cuội… Tù trưởng khởi phát bệnh thần kinh. Ông tuyên bố thượng đế đã chết, thiên đàng đã cấm cửa những kẻ hiến tế và vĩnh viễn hủy bỏ nghi thức man mọi”.

Kapoo dừng lời vừa lúc vách núi lặn xuống biển. Tôi đã nhìn thấy ánh điện sáng rực trên con tàu của mình.

Quý đang chong đèn vớt mực ở chiếu tiếp đất của cầu thang mạn. Hắn hồn nhiên chào Kapoo và tôi. Tôi mượn Quý mấy con mực đang chóc chách búng trong xô để nấu bát mì đãi Kapoo. Thứ hải sản tươi rói này nếu có thêm vài lá cải xanh mướt làm dáng thì ngon không thể tưởng tượng. Tôi lụi cụi trong bếp nên không để ý Quý đã lén ngoắc Kapoo về phòng hắn “tiếp thị” rượu. May mà trong túi Kapoo chỉ còn hơn mười Kina (khoảng chục Mỹ kim) nên anh lấy mỗi một chai Maxime Bình Đông.

“Ông dám bán cho bạn tôi rượu giả à?” – Tôi vặc Quý – “Thật là đê tiện”.

Quý sấn tới, túm cổ áo tôi gầm gừ: “Thằng oắt con, mày động vào miếng ăn của tao là tao ném mày xuống biển đấy”.

Kapoo luống cuống xổ một tràng bản ngữ líu lo rồi nhảy vào chắn giữa Quý và tôi. Phải giải thích mãi về “công nghệ” sản xuất rượu Kapoo mới sáng ra, dù anh không có chút ý niệm nào về thuốc trừ sâu. Tôi đành vứt chai rượu đi và đền Kapoo nửa thùng mì.

***

Tiễn Kapoo xong tôi lê bước về căn phòng sáu thước vuông của mình và nằm vật ra, chẳng thèm bật đèn. Tôi quên rất nhanh mọi thứ ruồi bu, trừ sự ám ảnh lạnh toát của câu chuyện ăn thịt người và quyết tâm bảo vệ nhân phẩm của cha Kapoo. Ngoài cửa sổ kín nước hình tròn, không gian đen đặc, quánh lên mớ lộn xộn vô minh. Tôi bỗng ước ao có một chiếc canô máy, để rẽ sóng trốn chạy con tàu rỉ sét đang dung chứa mình, dù trước mặt là màn đêm bất tận. Tôi sẽ mở hết gas, mơn trớn gió, băng lướt vào phía trong tâm hồn phẳng phiu xanh rượi bình minh hải hồ, cảm nhận tối đa gia tốc như biểu hiện rõ ràng nhất của tự do, của bay bổng và thoát ly.

Những tiếng động nhỏ nhẹ quen thuộc xuyên qua vách ván ép. Chắc chắn buồng ngủ cạnh bên đang nén chặt đám thủy thủ khát nước, ngồi đồng sát phạt nhau. “Tái phân bổ lợi nhuận buôn lậu rượu âm phủ” – họ vẫn hài hước đểu giả như thế.

Cái chết là cuộc trốn chạy cuối cùng chăng? Tôi không biết. Thiên đường được khai sáng cho người sống, bởi đang sống lúc nào cũng đồng nghĩa với đang chết. Sống, nói cho vẹn toàn, là gì nếu không phải hành trình đến sự chết.

Có lẽ nhận thức bật ra hôm ấy, đã kết liễu tình yêu viễn dương trong tôi. Vài năm sau tôi bỏ biển và những hành trình trót mang tên chết chóc nhưng đôi khi đầy lãng mạn và thử thách, để kiếm tìm một cuộc mưu sinh khác. Tôi hoài mong nơi ấy không có nỗi bi quan đánh đồng sự sống và cái chết. Nơi ấy tồn tại niềm khát khao sáng tạo của chúa trời, mãi mãi vinh danh lẽ hiếu sinh, dẫu rằng luôn bị giới hạn bằng những đơn vị đời người.

Thảo Điền 11.2008


[1] Các từ tiếng Anh được trích trong công bố Nobel Văn chương 2008.

leminhkhaiviet

About Vietnamese Cultural History and Scholarship

Xuân Bình

Nhà báo tự do

Nguyễn Huy Hoàng

the star is fading

Nghiên cứu lịch sử

Các bài nghiên cứu, biên khảo và dịch thuật các chủ đề về lịch sử

Le Minh Khai's SEAsian History Blog

Always rethinking the Southeast Asian past

trinhythu

Trịnh Y Thư WordPress.com site

trandangtuan.com

Men lá rượu ngô trong

4th Avenue Café

Free non-fiction translation

WordPress.com

WordPress.com is the best place for your personal blog or business site.

Trương Thái Du's Blog

Văn chương thiên cổ sự - Đắc thất thốn tâm tri...

No More Goat Soup

No goats were harmed in any way while making this blog. (We did kill all the sheep though)