Từ phía trái

Nguyễn Hữu Liêm

Mối sầu của Marx

“Từ thuở Tiên đi, sầu cũng nhỏ

Nhân gian thôi nhớ chuyện trên trời.”

Đó là hai câu thơ của Huy Cận trong lời mở đầu của Bùi Văn Nam Sơn về bản dịch “Hiện Tượng Học Tinh Thần” của G. W. F. Hegel. Khi trích dẫn hai câu thơ này, chàng học giả họ Bùi muốn nói đến một không khí triết học đã trở nên trống vắng và không còn mang cao vọng lớn lao sau tác phẩm này của Hegel. “Tiên” ở đây không phải là nàng tiên, hay là tiên sinh, mà là một nhà tiên tri cho thời đại và nhân loại. Khi nhà tiên tri đã ra đi, con người trần gian không còn màng đến việc tầy trời. Họ chỉ còn biết chuyện của trái đất, của cuộc sống thuần vật chất. Nhìn lại lịch sử thế giới trong gần một trăm năm qua, từ “duy tâm luận” của Hegel, nhân loại hăm hở chạy theo “duy vật chủ nghĩa” của Marx để rồi hệ quả là con người càng lún sâu vào cõi vật thể. Không còn ai nhìn lên cao để “nhớ chuyện trên trời.” Ngay cả nỗi sầu muôn năm nay cũng nhỏ.

Khi con người đã bỏ lại đằng sau mình hai thời quán giáo điều của tôn giáo và ý thức hệ của chủ thuyết chính trị thì hắn không còn gì siêu hình để tin vào, không còn lý tưởng vượt trần gian để sống và chết cho. Lịch sử nay đã không còn cứu cánh tính; cuộc đời cá nhân không còn cưu mang nội dung bản thể, hắn cũng mất luôn niềm xác tín vào ý nghĩa hiện hữu. Đây là thời điểm mà hắn bỏ rơi tôn giáo và chính trị để ra đi.

Khi thoát khỏi thần linh và ý hệ, ở giai đoạn đầu, con người cảm thấy bị chấn thương và bơ vơ. Nhưng nay, thì nỗi cô đơn cũng đã không còn – khi ý thức lịch sử cũng đã biến mất. Tất cả nhân loại này, từ đông sang tây, từ giàu đến nghèo, nay đã trở nên những chiếc máy thuần kinh tế. Những con người cách mạng oai hùng và huy hoàng thế kỷ trước nay chỉ còn là những con vật loay hoay với những ván bài tiền của. Họ đã bỏ quên trời đất ngoài kia để chỉ còn say sưa trong bóng tối với chính mình. Đó là những đứa con hoang lạc loài và tha hóa của Marx.

Gần hai thế kỷ trước, khi Marx đọc cuốn sách “Hiện Tượng” này của Hegel, chàng ta muốn chuyển ngược biện chứng tinh thần thành ra quy luật kinh tế. Gốc rễ của con người, thước đo cho nhân loại, không phải đến từ trời cao hay thần linh, mà là con người chính hắn. Marx muốn mang nhân gian này ra khỏi “vương quốc thiết yếu,” vốn chỉ biết bận tâm về nhu cầu vật chất, đến với “cõi tự do” nơi mà cá nhân và tập thể được dung thông trong hòa hợp giữa nhu cầu và khả năng. Chàng muốn giải phóng con người ra khỏi “vọng tưởng duy tâm” của Hegel, vốn là “thượng tầng cấu trúc” của thực tế vật chất, để đem nhân loại trở về với thực tại trần đời, để làm người thế gian thuần kinh tế. Nhân loại hãy thôi hoang phí năng lực vào ước vọng siêu hình để mà đem hết sức mình lo chuyện áo cơm bằng phương trình lịch sử.

Và như ai cũng đã biết rồi. Cơn mơ nào cũng phải được tỉnh thức. Chủ nghĩa Marx đã thất bại như là một ý thức hệ chính trị. Nhưng Marx đã tiên tri đúng về thân phận của con người thế gian này. Tất cả chúng ta nay chỉ là những con vật kinh tế. Không còn ai tin vào các “thượng tầng cấu trúc” của thế giới tư bản nữa. Thần linh biến mất. Trời cao không còn. Thượng đế đã chết. Bạn biết sao không? Cái điều nghịch ngẫu nằm ở chỗ rằng dù cho con người thế gian hôm nay, trên bình diện chính trị, họ đều chống Marx; nhưng tất cả chúng ta, trên bình diện kinh tế, đều là những đứa con ngoan của Marx.

Hãy nhìn lại. Lịch sử, theo Hegel, là sự “khai mở Tinh thần vào thời gian,” cũng như “Vũ trụ là sự khai mở Tinh thần vào không gian.” Thế giới, theo Hegel, là một hiện tượng tinh thần, mà trong đó, cá nhân tính chỉ là một hình thái tha hóa đang vươn mình tìm về lại chân lý vốn đang chờ đón ở cuối hành trình lịch sử. Cứu cánh tính của lịch sử và nhân loại là Tự do. “Lịch sử thế giới là một tiến trình trong ý thức Tự do,” Hegel tuyên bố. Trên cơ bản cá nhân, tự do là sự giác ngộ về “bản lai diện mục.” Trên cơ bản nhân loại, tự do là sự dung thông của ý chí cá thể với thực tế lịch sử. Đây là một con đường đầy gian truân, “một xa lộ đầy bi kịch,” mà Tinh thần tạo hóa, như là một nhà đạo diễn đầy thủ đoạn – “the cunning of Reason” – nhưng với thiện ý, đầy đoạ nhân gian như là những trừng phạt của cha mẹ dành cho con cháu trong nhà nhằm cho chúng mở mắt ra để trưởng thành và lớn lao lên mà biết đến đường về.

Đối với Hegel thì bản chất tha hóa của con người là nguyên nhân cho địa ngục trần gian. Trong khi đó, Marx thì cho rằng sự tha hóa của con người là hệ quả từ bản chất cấu trúc kinh tế vật chất có sẵn của xã hội. Marx muốn xem thế gian và lịch sử là đối tượng để chinh phục và đổi mới. “Chính ta sẽ dẫm trên đống gạch vụn lịch s
để đứng lên như là một thượng đế mới,” Marx viết. Con người và lịch sử như là một tiền đề và phản đề, soi gương lẫn nhau để mà biến thái lẫn nhau.

Một nửa nhân loại của thế giới, trong suốt hầu hết thế kỷ 20, đã nghe lời Marx như thế, để chủ ý thay đổi lịch sử nhằm chuyển hóa con người. Con người kinh tế sẽ phải được phủ định khi nhu cầu thiết yếu của vật chất không còn là mối bận tâm. Những con chiên Marxists không còn phải chỉ lo về chính mình. Mà trái lại. Hắn muốn hy sinh đời sống riêng tư bằng ý chí tự phủ định cho cứu cánh lịch sử. Từ đó, lịch sử là chủ thể của ý chí mà cá nhân phải phục tòng. Con người từ giã tính tha hóa cá nhân bằng cách hòa mình vào ý chí tập thể trong cứu cánh tính tự do. Muốn được giải phóng, hắn phải trước hết tự trói chặt chính mình vào cơ năng tổ chức. Chỉ còn có con người lịch sử chứ không còn cá thể riêng tư. Và thảm họa phát xuất từ đó.

Ở cuối thế kỷ 20, những con chiên Marxists mới thấy được rằng những cá nhân trong ý chí lịch sử duy vật, vừa đánh mất tự do của chính mình để rồi đồng lúc nô lệ hóa tha nhân. Khi Marxism không còn ai tin vào, nhân loại bỏ vất luôn khả năng lý tưởng. Khi cá nhân hết tin vào lịch sử, hắn cũng mất luôn niềm tin vào chính mình. Nhìn đâu, con người thời đại cũng chỉ còn thấy những thây ma thối rửa của thần linh, của tiên tri, của giáo điều, chủ nghĩa, của tổ chức, của đảng. Từ khi nhà tiên tri Karl Marx đã ra đi, thần đế cuối cùng trong thế gian này đã chết. Nhân gian từ nay đã hết mơ nói chuyện trên trời.

***

Một ngày mùa đông cuối năm 2008 ở vùng bắc California này, trời âm u mây chiều, trong không khí giá lạnh, tôi thấy từng đoàn xe cộ, người ta lũ lượt đi mua sắm trong tiếng nhạc Noel quen thuộc. Tôi thấy một nhân gian tất bật lo lắng thuần về kinh tế. Trong hơi men tàn của cơn say lý tưởng từ thế kỷ trước, có ai đó trong tôi đang thấy rằng đây là một hoạt cảnh nhàm chán loay hoay của một khối nhân loại không còn tôn giáo, không còn lịch sử.

Thượng đế đã chết. Hegel bị lãng quên. Marx nay rơi vào sọt rác. Không còn ai xứng đáng là kẻ tiên tri cho thời đại. Những đứa con rơi thuần duy vật của Marx nay đã mất hồn lịch sử. Mối sầu kim cổ lớn lao của nhân loại đi đâu mất rồi!

“Đại bàng vỗ cánh muôn năm trước

Đâu biết trời kia rộng mấy khơi.” (HC)