Thơ mùa xuân

1 Comment

Emtry đầu năm xin gửi đến quí anh chị, bè bạn những lời chúc tốt đẹp nhất. Tôi đã khai bút một bài báo nhỏ về lịch sử thể theo đề nghị của một BTV mà tôi rất quí mến. Tuy vậy để bài báo hoàn thành cũng mất mấy ngày. Đầu xuân xin post lại bài thơ lục bát của tôi đăng trên báo Tết Hà Nội Mới cách đây 16 năm, như một món quà ôn cố tri tân.

Mưa xuân

Xoè tay đón hạt mưa gần

Chạnh nghe lạnh buốt muôn phần mưa xa

Tiếng mưa thầm thĩ mái nhà

Tiếng lòng nén mãi mắt nhoà đường mưa

Mưa về xanh ngõ rêu xưa

Mưa qua vàng vạt cỏ thưa lối mòn

Mưa rơi tím tái giọt buồn

Mưa giăng trắng tóc chập chờn mộng hoang.

Mưa dâng ngập bến thời gian

Đẩy con thuyền nhớ trôi ngang biền chờ

Tìm người lỗi hẹn cơn mưa

Tìm bong bóng nước bên bờ phôi pha .

Hà Nội 1993

Ảnh: Con gái Trương Nhã Quỳnh đi xem bắn pháo hoa.

Photobucket

Triệu Mạt và Văn hóa Đông Sơn

20 Comments

Entry trước tôi viết theo trí nhớ về nhận xét của ông Tạ Chí Đại Trường nói đến dấu ấn Đông Sơn trong lăng mộ Triệu Mạt. Và quả thực sau khi tra kỹ sách vở, tôi hoàn toàn đúng.

Ông Trường viết : Việc phát hiện mộ Triệu Mạt / Triệu Văn Vương, cháu Triệu Đà cho thấy dấu vết Đông Sơn đậm đà trên vùng Quảng Châu ngày xưa vì hình tượng người lông chim trang trí trên tường mộ đã không khác trên trống đồng tí nào mà còn mang tính hoành tráng hơn.

Xin khẳng định các bức tường đá trong lăng Triệu Mạt không hề có bức trang trí nào. Bức trang trí trên tường mới (đầu entry) là phục chế lại bức tranh trên một chiếc thạp Đông Sơn theo trình tự sau:

Ảnh 1. Kho đồ tùy táng lúc mới mở huyệt mộ. Nhìn rõ chiếc thạp Đông Sơn. Chiếc thạp này có lẽ từng có nắp nhưng đã bị mục nát.

Photobucket

Ảnh 2: Chiếc thạp sau khi được vệ sinh sạch sẽ. Những hình vẽ như trên trống đồng hiện ra.

Photobucket
Ảnh chụp từ sách Nam Việt Quốc Sử, tác giả Trương Vinh Phương GS ĐH Trung Sơn, Quảng Đông nhân dân xuất bản xã, 1995.

Triệu Muội hay Triệu Mạt

Tên của Triệu Văn Vương (cháu Triệu Đà) ghi bằng chữ triện trong 2 cục phong nê tìm thấy trong mộ là . Đọc đúng là Triệu Mạt vì chữ Mạt này gồm hai phần Mục (目) và Mạt 末. Rất dễ nhầm lẫn giữa Muội và Mạt vì Muội = Mục (目) và Mùi (未). Mạt và Mùi chỉ khác nhau ở chỗ hai nét ngang dài ngắn đổi chỗ cho nhau.

Thực ra Mạt và Muội trong các sách cổ TQ ngàn năm trở lại đây thì đồng nghĩa và hay dùng lẫn lộn. Chỉ xin lưu ý không nên dùng nghĩa Mạt/Muội = mắt mờ (của hôm nay), vì biết đâu thời Triệu Đà cách nay hơn 2000 năm, chữ Mạt mang nghĩa khác. Chữ Mạt này cũng không có trong quyển từ điển đầu tiên của TQ là Thuyết Văn. Điều này có thể dẫn đến việc chữ Mạt là phương ngữ của Nam Việt. Hay nói cách khác, có khi đây là CHỮ NÔM ĐẦU TIÊN CÒN CHỨNG TÍCH CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM.

Nếu là người TQ thì không nên phân vân gì cả. Nhưng người Việt Nam lại khác. Chữ Mạt tiếng Nôm đọc là MẮT. Đặc biệt trong Kiến Văn Tiểu Lục của Lê Quí Đôn có dẫn rằng thời Trần người VN gọi MẶT TRỜI là BỘT MẠT.

Chúng ta đã ở rất gần, rất gần với một tia hy vọng: Mạt là chữ Nôm đầu tiên của dân tộc VN còn chứng tích lưu lại và Mạt nghĩa là thiên tử, là trời.

Tuy vậy tôi xin dừng ở đây vì sở học của mình rất hèn kém. Không dám đi sâu hơn nữa.

Một số nhận xét trên chủ đề:

1. Mộ Triệu Mạt (hay Triệu Hồ theo Sử Ký) có thạp đồng, thạp tùy táng nhưng không đập vỡ như truyền thống Đông Sơn. Thạp này người TQ luận là để đựng rượu, trong khi văn minh Đông Sơn có thể đựng nước, ngũ cốc. Không loại trừ chiếc thạp này là sản phẩm giao lưu văn hóa giữa Đông Sơn và Phiên Ngung.

2. Các di vật trong mộ cho thấy tầm vóc phát triển rất cao của kinh đô Nam Việt. Hơn tầm vóc Đông Sơn rất nhiều và mang đậm dấu ấn văn minh Hoa Hạ. Đơn giản vì họ Triệu là người Hoa bắc. Việc xuất hiện các miếu thờ Triệu Đà, Lữ Gia ở Việt Nam có khả năng cho thấy một cuộc di tản chính trị lớn bằng đường biển của người Nam Việt sau khi Phiên Ngung thất thủ.

3. Vậy phải chăng người Kinh ở VN hiện nay là con cháu hợp huyết của cư dân Đông Sơn bản địa và người Nam Việt di cư?

Tạ Chí Đại Trường

12 Comments

Hôm nay đọc bài này của bác Trường:

Việc phát hiện mộ Triệu Mạt / Triệu Văn Vương, cháu Triệu Đà cho thấy dấu vết Đông Sơn đậm đà trên vùng Quảng Châu ngày xưa vì hình tượng người lông chim trang trí trên tường mộ đã không khác trên trống đồng tí nào mà còn mang tính hoành tráng hơn.

Cứ sợ trí nhớ phỉnh nên đành phải nhờ thằng google cho xem ảnh, cho chắc.

Vẫn không thể tìm được bất cứ hình tượng người lông chim nào trang trí trên các vách đá của mộ.

Ảnh trên là trang trí ở một bức tường của Viện bảo tàng, lấy nguyên mẫu từ thân của một chiếc thạp đồng trong mộ.

ảnh 1: Thạp đồng

Thap Dong

ảnh 2: Họa tiết trên thạp

Hoa van Dong Son

Chỉ một chi tiết rất nhỏ thôi, có thể làm đứt gãy hẳn một bài khảo cứu công phu. Thậm chí biết đâu nó sẽ chạy tuột vào những trang sách giáo khoa, qua việc copy của các luận văn tiến sĩ giấy, gây nên ngộ nhận đời đời…

TRUYỆN NGẮN: Sao anh không gõ cửa?

3 Comments

Ai đã ngủ với Molly? Câu hỏi ấy đánh đố cả nhóm thuyền trưởng tương lai. Bằng chứng là độ này Molly lên lớp vui lắm, đôi má cứ hồng rực khác lạ dù chẳng son phấn. Mắt nàng long lanh trên bục giảng, nhưng tiếc là không hướng đủ lâu về một ai cụ thể.

Minh, Văn và Nam là nhóm bạn học cũ đang tham dự khóa bỗi dưỡng quản lý ngắn hạn, sau hàng chục năm dài tung hoành bốn bể. Có tấm bằng mong đợi, họ mới bước lên nấc thang cao nhất trên bất cứ con tàu viễn dương nào.

Molly dạy họ ngoại ngữ. Nghe bảo cô đến Việt Nam bằng chương trình trao đổi giáo dục cấp bộ nào đấy. Cha gốc Pháp, mẹ người Úc nhưng cả gia đình Molly đều là công dân Hoa Kỳ. “Chất” Pháp của cô ai tinh lắm mới nhận ra. Âm L của Molly có xu hướng [en] hơn là [el].

***

Molly và ba anh học trò lưu trú cùng tầng hai tòa nhà dịch vụ khá tiện nghi trong khuôn viên mênh mông của ký túc xá. Thời bao cấp trước kia, sinh viên quí tộc Lào và Campuchia được bố trí ở đây.

Đám trung niên cứ hau háu nhìn cô giáo trẻ như nhìn gái, quả thật không ổn. Kể cũng lạ, họ tự giác khai báo đều nếm “gà tây” cả rồi, còn chộn rộn nỗi gì? Đấy là suy nghĩ của bu Dậm, một bà già trầu bắc bộ bán nước chè chén ở gầm cầu thang tầng trệt. Bu có thể kể vanh vách ấm ức của Minh vì các nàng Kiều Vladivostok đầy tàn nhang như ghẻ ruồi, từ má đến bẹn. Minh còn thuật đi thuật lại không chán kỳ công “trả thù dân tộc” tại khu đèn đỏ Amsterdam Hà Lan, dù Văn và Nam chắc mẩm bọn ấy đa phần dùng ngôn ngữ mẹ đẻ hệ slave. Văn hay tấm tắc khen nhà thổ nam đảo biết dạy các nữ nô lệ đen mun lời cảm ơn khá nhiệt thành. Riêng tay Nam luôn “nho – cáo” thánh tướng, chê ỉ chê ôi mùi hăng hắc của da thịt bọn mũi lõ.

Trong bọn Nam là đứa văn vẻ nhất. Hắn hay trao đổi với Molly nhiều vấn đề góc cạnh mỗi khi có dịp gặp cô tại sảnh sinh hoạt chung của tầng lầu. Hai người còn lại sẽ lập tức bị cuốn theo, vì vẻ đẹp của Molly hơn là bất cứ điều gì khác. Molly thường bảo họ chỉ cần học tiếng Anh bằng phương pháp thuộc lòng và phản xạ giao tiếp, trên cơ bản từ vựng chuyên ngành và phổ thông, sẽ đủ dùng cho nghề biển. Nam muốn đi xa hơn thế. Molly lắc đầu:

“Ngôn ngữ thể hiện tư duy biệt lập của từng dân tộc, từng mảnh ghép nhỏ của nhân loại. Anh sẽ đánh mất dân tộc tính của mình nếu sử dụng tiếng Anh giỏi hơn tiếng Việt”.

“Tôi cho rằng nguyên tử văn minh Việt Nam bao gồm hạt nhân tĩnh đã được hình thành và tiến hóa lâu đời, phần bị động/nhạy cảm/dễ thay đổi bao phủ bên ngoài có thể hàm chứa cả ngôn ngữ”.

“Không thể rạch ròi thế đâu” – Molly đáp – “Anh cho rằng văn hóa, kinh tế và chính trị không thuộc hạt nhân tĩnh? Hoàn toàn đồng ý. Tạm công nhận ngôn ngữ nằm ở phạm trù văn hóa nhé. Tôi sẽ cho anh ví dụ về ảnh hưởng của phần động đến phần tĩnh”.

“Một nền văn minh trơ là nền văn minh tự cô lập. Sự tương tác của các nền văn minh cũng như phản ứng hóa học thôi mà. Tất nhiên tôi không biện hộ chiến tranh, không nên xem vũ lực đối đầu có bản chất thiên nhiên”.

“Giả sử anh giữ nguyên hạt nhân tĩnh Việt Nam và thay ba yếu tố động trên kia của Mỹ vào. Lập tức phát sinh hủy lực, ít nhất là ở ngôn ngữ. Anh sẽ hiểu từ God là Trời, Phật, Chúa hay Chúa Trời? Anh sẽ xưng tôi/tao với những bậc cao niên sinh thành ra mình? Tôi đã dạy ngoại ngữ ở khá nhiều quốc gia. Tôi thấy nơi nào con người ý thức được giá trị của tiếng nói bản địa, nơi ấy có quyền hãnh diện với căn tính riêng của mình trong đại đồng thế giới”.

“Thì đấy, Phạm Quỳnh chẳng bảo “Truyện Kiều còn thì tiếng ta còn, tiếng ta còn thì nước Nam còn” là gì?”. Minh bỗng nhiên ra vẻ uyên bác nói riêng với Nam. Được nước, cả nhóm nhao nhao chuyển đề tài đời thường hơn.

Bởi nhiều cuộc trò chuyện như thế này, Nam gần như bị tách ra khỏi bộ ba, trở thành nghi phạm có khả năng tòm tem với Molly. Văn luận rằng phòng Molly và Nam ở cạnh nhau, chỉ cần bước qua ban công thấp nhìn xuống hồ bơi là xong, tuyệt đối kín đáo.

***

Sau một kỳ nghỉ cuối tuần về Hà Nội vì chứng nghiện Pizza, Molly bỗng nhiên xuất hiện trên bục giảng trong tà áo dài. Cả lớp học trồ lên, khen lấy khen để. Văn thì thầm “Thằng Nam đâu, hãy xác định “hạt nhân tĩnh” của bộ quốc phục kia đi”. Nam tỉnh bơ phán: “Chỗ nào các nhà tạo mẫu không thể khoét, gọt, cắt, xén là “hạt nhân tĩnh”. Tiếng cười thiếu đứng đắn phụ họa sau đó đã khiến Molly trừng mắt.

Hôm ấy Molly giảng rất kỹ hai từ “tiến bộ” và “thay đổi”. Cô quả quyết tính động của văn minh phương Tây gói trọn trong đó. Hạt nhân tĩnh ở thế giới của Molly rõ ràng là tinh thần thượng đế. Hằng ngàn năm trung cổ man rợ chứng thực thượng đế chưa bao giờ tạm trú tại nhà thờ, đó là lý lẽ của Nietzsche. Molly tin thượng đế luôn hiện hữu trong mỗi cá nhân. Cô bất an bởi tổ quốc kiêu ngạo của mình. Không còn khiêm tốn thì sau tất cả vinh quang, người ta chỉ thấy phiền muộn.

Cuối buổi học Minh nhận xét, nhìn qua hai
tam giác bên sườn áo dài, bụng Molly đã có nếp nhăn. Nàng còn trẻ, rất tự do như từng giới thiệu, nhưng nhiều khả năng đã sinh nở. “Đúng không?” Minh đột ngột cao giọng và nhìn thẳng vào Nam. Những đôi mắt của người đi biển lúc nào cũng xanh màu ngàn khơi. Cô độc nhưng dạn dĩ. Chúng luôn bị cái khát ám ảnh. Nó thực tế như khát sữa. Lãng mạn như nhớ bờ. Và hơn hết, cứ khắc khoải nỗi trong lành dịu ngọt của suối nguồn. Minh bó tay. Hắn đành giải thích có lẽ Nam đã học được kiểu lạnh lùng xa cách buổi sáng, của các cô da trắng tóc vàng nhảy tàu, sau đêm buôn hương bán phấn. Minh từng cược lớn vì hắn dễ dàng nhìn thấy “niềm ân ái” trong mắt các đôi lứa ở xứ sở mình, và cả Thái Lan, Indonesia hay Mã Lai nữa. Hắn hoài nuôi ngạc nhiên với Nam, để bế tỏa một câu hỏi lửng lơ khó chịu.

***

Một hôm mấy thầy trò rảo bước từ khu học bộ về phòng ở, tới chân cầu thang đột nhiên Molly kinh hãi hét toáng lên, nhảy chồm chồm như động kinh rồi ôm Nam chặt cứng. Lý do dễ hiểu nhưng không ai công nhận, lúc ấy Nam đi gần Molly nhất. Nam hả hê và chẳng thèm giấu giếm lòng tri ân bọn chuột cống không biết sợ người. Molly sốc thật sự. Cô gửi hiệu trưởng hai trang giấy đánh máy kín chữ, tố cáo lũ chuột, đặt vấn đề vệ sinh và sự cần thiết của y tế dự phòng. Lá thư sau đó được dán trang trọng ở bảng tin nội bộ của trường.

“Công nhận người yêu mày rảnh thật” Minh bảo Nam “Nhỡ gã nhà báo nào biết chuyện, sẽ gây hẳn phong trào diệt chuột cả nước chứ chẳng chơi”.

“Sao cậu thiếu thiện chí thế? Molly không đãi bôi như khách du lịch “khoai tây” hay thể hiện trên truyền thông. Cô ấy sống giữa chúng ta chứ có lướt qua đâu mà”.

Mấy tháng học hành thi cử chóng qua. Molly gợi ý một bữa tiệc chia tay nho nhỏ ở Đồ Sơn cho ba cậu học trò lớn tuổi và to xác. Nghe đến biển, ai nấy đều thở ra mùi sóng và rạo rực những chân trời mênh mang.

Các tán bàng chênh chếch như vô tình xòe ô phủ bóng mát cho vỉa hè ngày thường vắng lặng. Mấy chú bé đen mặn của phố nhỏ tạm ngừng trò chơi con trẻ, tròn mắt ngắm mái tóc vàng ánh của Molly tung bay trong gió. Cô em gái khổng lồ của các chàng thủy thủ đang ngước mặt đắm mình vào trời xanh. Góc nào đấy, một chiếc loa thùng rè đục cũ kỹ đang nghêu ngao những giai điệu quen thuộc của bản tình ca Người đàn bà đang yêu: “We may be oceans away. You feel my love. I hear what you say…”.

“Thẳng thắn mà nói, tôi yêu đất nước này quá. Tôi phải lòng tổ quốc của các bạn rồi đấy”. Đó là khúc cao trào của riêng Molly, trước khi nàng đem nửa bài hát còn lại chạy về biển, đuổi theo những con tàu viễn dương đang rẽ nước ngoài xa.

Nam cho rằng mình may mắn nhất. Hắn không bao giờ quên vòng tay của Molly trước đám chuột cống hôi hám. Một lần ở đáy quả đất, Nam bỗng giật mình vì chợt nhớ mùi cơ thể Molly không hề “hăng hắc”. Trí tưởng tượng hơi tự ti ngày nào của hắn bên chén trà Tàu và ống điếu thuốc lào thật báng bổ. Nam tìm giấy viết hỏi thăm Molly vài dòng. Lá thư đóng dấu bưu cục của một quốc gia ở vịnh Guinea, nơi tàu Nam ghé qua sau đó:

“Mũi Hảo vọng Nam Phi, ngày… tháng… năm…

“Cô giáo Molly yêu quí,

“Nam luôn mong cô khỏe mạnh và gắn bó mãi với trường Hàng hải, cũng như thành phố hoa phượng đỏ. Học trò của cô đã trở thành thuyền trưởng gần hết rồi. Cô không chỉ dạy tiếng Anh mà còn giúp chúng tôi tỏ tường văn minh phương Tây nói chung và Hoa Kỳ nói riêng. Tôi biết nước Mỹ đang thay đổi và tìm kiếm ổn định ở thời buổi suy thoái kinh tế. Cũng như Việt Nam dù hết sức ổn định vẫn cần thay đổi và tiến bộ.

“Học thuật Việt Nam hiện nay có trào lưu nhị phân nông nghiệp/du mục lệch pha rất hài hước. Hình thức kinh tế du mục đã song song khai sinh và tồn tại với săn bắt hái lượm, ở những vùng địa lý khác nhau. Vì thế văn minh lúa nước cũng khởi đi từ trọng động. Giữa tĩnh luôn có động và ngược lại. Xu hướng trọng tĩnh có thể do quá trình thiếu tự tin dài lâu, hơn là căn nguyên xuất phát. Những bài học giáo khoa khó thuyết phục kia nguy hiểm ở chỗ sẽ cưỡng bức các thế hệ trẻ tri thức mù quáng trong logic còn phải bàn luận. Hạt nhân tĩnh của văn minh Việt Nam là triết lý nhân sinh Khổng Nho. Xa xưa, nó không đủ dũng cảm để thay đối và tìm kiếm tiến bộ. Cung cấm hoàng đế Á Đông nào cũng có điện Thái Hòa. Thái Hòa chính là ổn định mãi mãi, như tham vọng của vua Tần khi tự xưng là hoàng đế đầu tiên, rồi đòi truyền ngôi muôn đời đến vạn thế! Người Trung Hoa thế kỷ hai mốt đang thực thi tư tưởng “xã hội hài hòa”, họ cũng cho thấy tầm bảo thủ của mình.

“Tôi rất mong tiến bộ kết hợp hài hòa sẽ là mô hình lưỡng cực tương hỗ, tạo dựng xương sống thanh bình và thịnh vượng cho văn minh tổng thể nhân loại trước mắt. Nó sẽ xóa bỏ quan niệm sai lầm hàng thế kỷ nay của Rudyar Kipling “Đông là Đông và Tây là Tây, cặp đôi này không bao giờ gặp gỡ nhau”.

***

Thật bất ngờ, khi Nam vẫn còn quanh quẩn ở Đại tây dương, anh đã nhận được bản fax hồi âm của Molly từ Thái bình dương:

“Người đàn ông khát khao đầy đủ từ thể xác, trí tuệ đến tinh th
n luôn được các cô gái tôn quí, Molly trong số đó.

“Tôi cũng sắp rời Việt Nam đến Trung Mỹ. Không rõ bao giờ chúng ta mới được gặp lại nhau, hay anh và tôi cứ vẫn chia đôi quả đất làm hai nửa Đông/Tây như bây giờ?

“Chúc Nam luôn bằng an…

“Chỉ đùa thôi nhé, ngày xưa sao anh không gõ cửa?”.

———-

Thảo Điền 1.2008

T.T.D

———-

Việt Nam và Thế giới Trung Hoa

8 Comments

Bài viết này đã đăng trên trang web BBCDCV. Ở BBC, nó được trình bày khác với bản thảo nhưng không thay đổi nội dung.

Việt Nam và “thế giới Trung Hoa”

Trung Hoa hơn hai ngàn năm qua, sau khi Tần Thủy Hoàng nhất thống Trung Nguyên, chưa bao giờ đơn giản mang thực nghĩa một quốc gia. Nó là cả một thế giới bởi qui mô đồ sộ từ lãnh thổ, dân số, văn hóa, kinh tế đến ảnh hưởng ra bên ngoài. Từ trước đến nay phương Tây luôn hành xử với Trung Hoa trên nhận thức này.

Do đó khi xét đến quan hệ Việt – Trung, giới hạn Trung Hoa trong khuôn khổ một quốc gia là khá bất cập. Vào những ngày tháng đầu tiên vận động Đông Du ở ngưỡng cửa thế kỷ 20, Nguyễn Tiểu La đã tâm sự với Phan Bội Châu: “Tôi tưởng tình thế liệt cường bây giờ, nếu không phải nước đồng chủng đồng văn, tất không ai chịu giúp ta: nước Tàu đã chịu nhượng nước Việt Nam cho Pháp, huống gì hiện nay quốc tế suy hèn, cứu mình không xong mà cứu được ai? Duy Nhật Bản là nước tân tiến trong nòi giống da vàng, vừa mới đánh được Nga, dã tâm đương hăng hái lắm; qua tới đó đem lợi hại bày tỏ, tất có hiệu quả, dầu họ không xuât binh mã, mà mượn tư lương mua khí giới tất có thể dễ dàng”[1]. Đoạn tô đậm gần như đã xác định Việt Nam thuộc về “thế giới Trung Hoa”, trước khi người Pháp can thiệp vào Đông Dương.

Xung đột Việt – Hoa rất nhiều lần được hiểu là sự xâm lăng từ phương bắc. Phức tạp hơn thế nhiều, nó còn gánh vác “xứ mệnh” mở rộng “thế giới Trung Hoa” nữa. Nhà Nguyên luôn ghép Đại Việt và Chiêm Thành vào một chiến dịch. Nhà Minh vừa bình định Đại Việt vừa gửi Trịnh Hòa thám hiểm những vùng biển mới. Khi nền chính trị Đại Việt qui thuận hoàn toàn Nho giáo dưới triều Lê, Chiêm Thành bị diệt vong. Tuy thế, nền tảng văn hóa bản địa phi Trung Hoa của mảnh đất Trung bộ đã trở thành “chiến khu” đắc địa cho họ Nguyễn đối kháng với chúa Trịnh. Gần ba trăm năm Trịnh – Nguyễn phân tranh cũng là thời gian thực thi đồng hóa bởi “thế giới Trung Hoa” với mảnh đất viễn nam của nó. Gia Long thống nhất Việt Nam và lên ngôi, đánh dấu chiến thắng bề ngoài của vùng đất mới. Song thiết chế văn hóa – chính trị trùm phủ lên Yên kinh thu nhỏ tại Huế, lại nói lên thâm nghĩa của cuộc dâu bể.

Ở vào khu vực biên viễn của “thế giới Trung Hoa”, không ít lần người Việt đã có những toan tính và cơ hội vượt thoát. Đầu thế kỷ 19 vua Gia Long đôi lúc nhìn về phương Tây một cách thiện cảm, chẳng hạn như phong quan tước cho những người châu Âu có công. Tuy nhiên đến Minh Mạng thì con thuyền Việt Nam lại quay đầu bế quan tỏa cảng, tuyệt giao với thế giới ngoài Trung Hoa.

Một trăm năm tiếp theo, dã tâm ăn cướp dưới chiêu bài khai hóa của thực dân Pháp đã cộng hưởng mãnh liệt với cảm thức “về nguồn” hủ lậu, khiến dân tộc Việt Nam thành kẻ lỡ đường, thành tâm điểm xung đột giữa thế giới Tây dương và Trung Hoa.

Từ 1945, mâu thuẫn vốn có lại kết hợp nhuần nhuyễn với màu sắc ý thực hệ, làm cho mảnh đất Việt Nam trở thành chiến trường thử vũ khí nóng rực suốt ba mươi năm.

Sau năm 1975 Việt Nam đứng trước đến ba thế giới: Khối XHCN với Liên Xô lãnh đạo, thế giới tư bản phương Tây và thế giới Á đông lục địa (một định vị làm rõ nghĩa của “thế giới Trung Hoa”). Chủ nghĩa dân tộc cốt lõi của Hồ Chí Minh ở thời điểm 1945, một lần nữa đứng ở ngã ba đường. Người Mỹ nuốt lời hứa bồi thường chiến tranh và quẳng ra bánh vẽ của “nhà hàng” World Bank và IMF. “Thế giới Trung Hoa” gia nhiệt Khơ Me Maoist làm sức ép ở biên giới Tây nam. Người Việt đành đoạn bước vào con đường “viễn giao” XHCN và hoàn toàn không ngờ nó sẽ chóng vánh sụp đổ ngay năm 1991 trước mắt.

Chiến tranh lạnh hạ màn. Nhân loại hỗn mang. Tôi nhớ mãi bản tin đặc biệt của đài truyền hình Việt Nam tháng tám năm 1991, sau khi Gennady Yanayev tuyên bố thành lập “Ủy ban khẩn cấp nhà nước” tại Moscow. Ngôn ngữ ở đây xác nhận chính trị gia Hà Nội đang nín thở dò đường, run rẩy trước tương lai bất định. Liên bang Xô Viết không thể gượng dậy, một lần nữa “thế giới Trung Hoa” lại kênh kiệu đón về mảnh đất hình chữ S.

***

Phải công nhận ở trong “thế giới Trung Hoa” gần hai mươi năm nay, Việt Nam đã tiến những bước dài và phát triển vượt bậc. Song, sự phát triển ấy có tương thích với tiềm năng đất nước hay không, có đủ bảo vệ quyền lợi dân tộc Việt trước con rồng dữ Trung Hoa hay không?

Thách thức, rủi ro bao giờ cũng đem theo cơ hội. Cần phải khẳng định rõ ràng rằng một dân tộc đơn lẻ không bao giờ có thể bình đẳng với cả một thế giới văn hóa – chính trị. Mâu thuẫn quyền lợi Việt – H
oa trên biển Đông đã, đang và sẽ giúp người Việt nhìn nhận lại chính mình, suy tư đến “thế giới” mà mình thuộc về.

Khi nhà văn Đỗ Hoàng Diệu viết những dòng chữ: “Có lẽ ông tổ anh từng là vua chúa vương giả Trung Hoa gặp nạn nên chạy loạn sang đây. Tôi thấy Thụ thật ngây thơ nhưng không dám nói. Dòng họ nào ở miền bắc này mà không chạy loạn hay đội trên đầu xứ Trung Hoa?”, không biết cô có ý thức được mình đã chạm vào đáy sâu tâm can của cả một dân tộc.

John Barrow (1764-1848) một quí tộc lớn của hải quân Anh đã viết về hoàng đế Gia Long như sau[2]: “Giống như một hậu duệ Trung Hoa thực sự, như Ngài từng tuyên xưng, của một vương gia nhà Minh, Ngài luôn luôn dùng bữa một mình, không cho phép vợ Ngài hay bất kỳ người nào khác trong gia đình được ngồi ăn cùng mâm với Ngài”.

Hoặc giả ít người Việt Nam có thể tưởng tượng được: “Theo số liệu thống kê của Cao Uỷ Tị Nạn Liên Hiệp Quốc, 5 năm sau ngày 30-4-1975, đã có hơn 675.000 người gốc Hoa trong tổng số 900.000 người Việt rời khỏi Việt Nam[3]”.

Tôi đoan chắc rằng phức cảm huyết thống/cội nguồn là một ẩn số vô cùng to lớn, giúp người Việt Nam luôn cảm thấy an toàn khi ở trong “thế giới Trung Hoa”. Mỗi khi nhắc đến từ “Trung Quốc”, cho dù ở giữa một câu miệt thị, hàng loạt hiệu ứng tinh thần đối chọi sẽ xuất hiện trong tâm hồn mọi đám đông Việt Nam, kích thích họ không thua gì ma túy hoặc những khẩu hiệu cách mạng. Chính phức cảm này đã trói chân trói tay nhà Nguyễn đầu thế kỷ 19, khiến họ không thể thoát khỏi “thế giới Trung Hoa” hủ lậu khép kín thời ấy. Nó biến sự so sánh Việt Nam và Phù Tang luôn luôn không tưởng, vì cơ bản dân tộc Nhật khá đồng chủng và không bị pha trộn huyết thống Hoa Hạ.

Ở giữa “thế giới văn hóa Đông Nam Á”, trường hợp Thái Lan chẳng hạn, các lãnh tụ chính trị gốc Hoa của họ ít khi nào giấu giếm xuất thân và cơ bản xã hội cũng bàng quan với thông tin ấy. Trái lại, tại Việt Nam, câu chuyện tương tự thường là kín đáo. Cựu thủ tướng quá cố Võ Văn Kiệt dành nhiều thời gian phản biện nghi án “bán nước” của tổ tiên mình. Nhưng ngay cả khi ông đã mất, không nguồn tin chính thống nào dám xác nhận Võ Văn Kiệt là cháu của đại thần Minh hương Phan Thanh Giản. Câu trả lời ở đây là: Một phần huyết thống Hán của dân tộc Kinh bị đè nén, bị xuyên tạc bởi những sử gia Marxist, bị dồn ép giữa con bài quyền lợi hai dân tộc Việt – Hoa. Vô hình chung nó trở thành “dục vọng” ngầm, nó sẽ lèo lái đất nước Việt Nam như đã từng lèo lái: càng độc lập lãnh thổ thì càng Hán hóa về phương diện chính trị và văn hóa! Đó là sai lầm của sử học cận đại khi bó buộc lịch sử Việt Nam trong thuyết bản địa, của kiểu tư duy thuần ý chí và hơn hết là của sự kém tự tin đến giả dối, của tầm nhìn làng quê trong vấn đề chủng tộc.

Điểm mù nhận thức kia, luôn được hà hơi tiếp sức thêm bằng niềm tin lỗi thời và những quan điểm truyền thống lạc lõng của cả một nền văn hóa chính trị, bắt đầu bằng tục xưng thần của Triệu Đà và tiếp nữa bằng việc “nhận họ” của Hồ Quý Ly. Mặc dù khi truy nguyên mình là hậu duệ Đường Ngu, chủ tâm Hồ Quý Ly muốn ngang hàng với Minh triều, muốn độc lập lãnh thổ với Minh triều, muốn chấm dứt triều cống.

***

Thế kỷ 21, các đường biên văn hóa đang nhạt nhòa. Nhân loại dần bước đến thời kỳ đại đồng, bắt đầu bằng mũi nhọn thương mại. Do những đặc thù lịch sử, ngoài giá trị mang dấu ấn “thế giới Trung Hoa”, kho tàng của dân tộc Việt Nam đã và đang dung chứa các giá trị tốt đẹp khác của “thế giới Đông Nam Á” và văn minh phương Tây. Một mô hình phát triển khôn khéo cho nước Việt hôm nay, phải chăng là kiểu hòa hợp các tích cực tương đồng và giảm thiểu nhiều khuyết điểm đối chọi phủ nhận lẫn nhau? Đặc biệt nên hết sức cẩn thận trước các con đường hoàn toàn thiên lệch về bất cứ chiều hướng nào.

Cơ may thịnh vượng cho dân tộc Việt Nam dường như rất cần một tiến trình “phi hán hóa” tỉnh táo và đừng lẩm cẩm như trào lưu “trong sáng tiếng Việt” cách đây không lâu. Hẳn nhiên người Việt đang sẵn lợi thế hơn bao giờ hết, để dứt bỏ phụ thuộc vào “thế giới Trung Hoa” hàng ngàn năm qua. Bước khỏi bóng râm định mệnh, chúng ta mới dễ dàng bảo vệ một cách hữu hiệu nhất quyền lợi của chính mình trên mọi phương diện, trong đó có chủ quyền biển Đông.

————————

Đánh giá về bài viết này,blog Ba sàm viết: Bài nầy của blog
ger Trương Thái Du (trong friend list của Ba Sàm). Theo một số bài vở và trao đổi qua lại của nhân vật nầy, có thể hiểu ổng là người cổ súy ra mặt, kiên nhẫn và khá bài bản cho “tình đoàn kết hữu hảo” giữa VN và TQ bất chấp những gì đã xảy ra; đồng thời cũng không giấu được thái độ khó chịu với sức mạnh của Hoa Kỳ cũng như mối quan hệ ngày càng tốt đẹp của đại cường nầy với Việt Nam. Tuy nhiên, dù bà con có không khoái, cũng vẫn nên đọc, bài nầy có lối bảo vệ lập luận của mình khá tinh vi tựa như bài
:
Suy nghĩ khác về quan hệ Việt – Trung”

Dù cho hai tác giả nầy có phải là người gốc Hoa hay không, nhưng như Ba Sàm từng nói, bất cứ người Việt Nam nào có dòng máu Việt, hay Hoa, Miên, v.v.. đều hiểu lời răn xưa của ông cha “ăn cây nào rào cây nấy”. Những nhà lãnh đạo có được uy tín ở đất nước nầy trong cả quá trình lịch sử cũng vậy, dẫu họ có gốc gác tổ tiên là người dân tộc nào đi nữa.

Xin được trả lời như sau:

1. Thái độ không thiện cảm của tác giả với Mỹ là dễ hiểu. Người Á Đông từ lâu tuy xem Hoa Kỳ phần nào đó thuộc về thế giới phương Tây, nhưng trên góc độ văn minh nó chỉ ở bên lề, là phần nối dài của văn minh phương Tây (với mũi nhọn kinh tế chính trị đáng nể nhưng luôn luôn “ốm đói” về mặt văn hóa). Khái niệm “Quyền lực mềm” được cổ xúy gần đây dường như đã chỉ ra sự lỗi thời, “man rợ”, “lưu manh” của thứ “quyền lực súng ống và tư lợi Mỹ”. “Ảo tưởng Mỹ” đã từng là ác mộng với không ít người Việt Nam, cụ thể ở thời điểm 1965-1975. “Ảo tưởng Mỹ” chỉ còn sống trong những bộ óc thiếu chiều sâu và kinh nghiệm xương máu quá khứ.

2. Tuy chưa có thời gian tìm hiểu kỹ “lời răn xưa của cha ông” mà Ba Sàm đề cặp, song tôi luôn nghi ngờ những luận điểm kiểu như“ông bà dạy” và những lệch pha thời đại. Giả như “Gái một con trông mòn con mắt” nói về những cô dâu về nhà chồng từ thuở mười ba, chưa hoàn thiện thể hình, chứ không thể áp dụng vào luật hôn nhân ngày nay, khi người nữ phải trên mười tám tuổi. Nền tảng đạo đức Á Đông không đặt nặng vấn đề chủng tộc và nguồn gốc (khác với bọn diệt chủng cực đoan Hitler), người quân tử chỉ sống và chết ở dưới một mặt trời!


[1] Phan Bội Châu – Tự phán – NXB VH-TT 2000, trang 45-46.

[3] Người Hoa tại Việt Nam, Nguyễn Văn Huy – nguồn Thongluan.org.

Anle20's Blog

Just another WordPress.com weblog

levinhhuy

Quắc mắt xem khinh nghìn lực sĩ/ Cúi đầu làm ngựa bé nhi đồng

thôn Sấu

Quê hương yêu dấu (Dọc hành chấm đứng). Xin các bạn vui lòng ghi rõ nguồn và dẫn link đến trang này nếu đăng lại bài của tôi

thienthanh2017.wordpress.com/

Thượng thiện nhược thủy, thủy thiện lợi vạn vật nhi bất tranh - Lão Tử

Học Thế Nào

How We Learn

leminhkhaiviet

About Vietnamese Cultural History and Scholarship

Xuân Bình

Nhà báo tự do

Nguyễn Huy Hoàng

the star is fading

Nghiên cứu lịch sử

Các bài nghiên cứu, biên khảo và dịch thuật các chủ đề về lịch sử

Le Minh Khai's SEAsian History Blog

Always rethinking the Southeast Asian past

trinhythu

Trịnh Y Thư WordPress.com site

trandangtuan.com

Men lá rượu ngô trong

4th Avenue Café

Free non-fiction translation

WordPress.com

WordPress.com is the best place for your personal blog or business site.

Trương Thái Du's Blog

Văn chương thiên cổ sự - Đắc thất thốn tâm tri...

No More Goat Soup

No goats were harmed in any way while making this blog. (We did kill all the sheep though)