Một bài viết nhạt toẹt…

8 phản hồi

Thạch Chi Du và Nguyễn Hoài Thu
Bài viết riêng cho BBCVietnamese.com

Có nên né tránh cuộc chiến 30 năm trước?

Trong quá trình cải cách mở cửa dựng xây đất nước, dường như vấn đề chiến tranh biên giới Việt Trung là đề tài không nên nhắc tới.

Ngược lại, quan hệ hữu nghị do chủ tịch Hồ Chí Minh và chủ tịch Mao Trạch Đông gây dựng vào những năm 50 của thế kỉ trước thường xuyên được nhắc tới và được coi như cơ sở vững chắc trong quan hệ Việt Trung. Từ khi Trung Quốc và Mỹ thiết lập quan hệ ngoại giao vào những năm 70 có ảnh hưởng đến quan hệ hai nước, tiếp sau đó hơn 20 năm quan hệ không được yên bình dường như là khoảng thời gian đang bị quên lãng.

Thế nhưng, cải cách mở cửa và quan hệ ngoại giao phải chăng là động lực tiếp tục hướng tới tương lai trong quan hệ 2 nước? Quá khứ đã ra đi và không trở lại, nói đúng hơn chỉ là 1 đoạn trong vòng tuần hoàn của lịch sử, những năm tháng cố tình lãng quên lại xuất hiện. Kỷ niệm 30 năm chiến tranh biên giới Việt Trung, vấn đề này đáng để cho chúng ta cùng suy ngẫm.

Nghiên cứu Trung Quốc ở Việt Nam

Trong 10 năm trở lại đây, khi các học giả phương Tây bắt đầu thảo luận về “Trung quốc là mối đe dọa” hay “Trung Quốc nổi lên như 1 cường quốc” thì các học giả nghiên cứu Trung Quốc ở Việt nam dường như không đề cập tới vấn đề đó.

Nghiên cứu về Trung Quốc có ảnh hưởng thách thức gì đến bá quyền quốc tế hay trật tự quốc tế không phải là vấn đề mà chính phủ Việt Nam yêu cầu các chuyên gia lưu tâm đến, bởi vì đó là vấn đề của các nước lớn. Chính phủ Việt Nam cho rằng chính sách đối ngoại, ngoại thương của Trung Quốc mới là vấn đề cần quan tâm.

Việt nam cùng Trung Quốc đang cố gắng phát triển kinh tế, thực hiện chính sách cải cách mở cửa, vì vậy cái mà Việt Nam cần là kinh nghiệm và bài học của Trung Quốc trong quá trình cải cách mở cửa chứ không coi Trung Quốc là mối đe dọa bên cạnh mình.

Quả thật Trung Quốc lớn mạnh là mối đe dọa lớn của các nước phương Tây.

Nhưng khi bản thân quốc lực Việt Nam chưa mạnh, thì vấn đề Trung Quốc có vai trò gì với trật tự quốc tế và có đe dọa gì với quốc tế dường như quá tầm tay của Việt Nam. Từ xưa đến nay, vương triều Trung Quốc vốn đã to lớn và có ảnh hưởng đến Việt Nam, vì vậy Trung Quốc có lớn đến đâu đi chăng nữa dường như là vấn đề mà các nước lớn khác quan tâm, chứ không nằm trong mối quan tâm của mình.

Việt Nam cũng có khát vọng trở thành con rồng nhỏ châu Á, vì vậy, Việt Nam cùng chia sẻ một ý nghĩ chung với Trung Quốc: nếu Trung Quốc có ý định biến thành cường quốc cũng có nghĩa hai nước Việt Trung đang ở cùng một giai đoạn lịch sử.

Như vậy cảm giác tương trợ giữa hai nước mạnh hơn cảm giác uy hiếp. Việt Nam bắt đầu cải cách muộn hơn Trung Quốc, vì vậy càng có ý nguyện quan sát học hỏi kinh nghiệm của Trung Quốc. Trung Quốc có thành công hay không sẽ là điều mà Việt Nam cần quan tâm chứ không phải đề phòng.

Xuất phát điểm của học giả Việt Nam khi nghiên cứu về Trung Quốc hoàn toàn không giống các học giả phương Tây, bởi lẽ học giả phương Tây lo lắng Trung Quốc có âm mưu tranh bá xưng vương nên nghiên cứu phán đoán từ những biến đổi về tiềm lực kinh tế quốc phòng của Trung Quốc.

Học giả phương Tây quan tâm nhiều tới tư duy chiến lược ngoại giao lớn của Trung Quốc, trong khi học giả Việt Nam chỉ quan tâm và nắm vững những sự việc cụ thể xảy ra với Trung Quốc. Họ cũng không xuất phát từ lý luận hoặc những nguyên tắc trong quan hệ đối ngoại của Trung Quốc, càng không có đủ nguồn lực nghiên cứu toàn diện mọi mặt về quan hệ ngoại giao của Trung Quốc.

Trọng tâm nghiên cứu chủ yếu là Trung Quốc và các nước trong khu vực châu Á, Thái Bình Dương. Có thể từ những nghiên cứu đó có thể giúp Việt Nam tìm ra con đường ngoại giao nhịp nhàng hơn trong khu vực cũng như với người láng giềng khổng lồ Trung Quốc.

Chưa thỏa đáng

Thế nhưng né tránh nhắc tới vấn đề chiến tranh biên giới Trung Việt dường như hiển hiện rõ là học giả Việt Nam vẫn chưa tìm được con đường thỏa đáng để giải quyết cách nhìn về chiến tranh biên giới Việt Trung.

Nếu như chiến tranh biên giới 30 năm trước cần phải né tránh không nhắc tới mới có thể tiến bước về tương lai, thì có nghĩa là vẫn chưa thể thực sự vượt qua khoảng thời gian đó.

Nhìn về lịch sử, quan hệ chính trị giữa hai nước như thế nào vẫn chưa có được cách nhìn chung. Cũng vì vậy trong quá trình xung đột biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc, người Việt chưa bao giờ đứng cùng chiến tuyến với Trung Quốc. Chiến tranh Trung Pháp vào cuối thế kỉ 19 là ví dụ điển hình cho điều này.

Nếu như việc tích cực phân tích nghiên cứu chiến tranh biên giới Việt Trung có khả năng gợi lại ký ức không tốt đẹp cho hai bên, thì cũng có nghĩa rằng hữu nghị trước mắt của hai bên chỉ là hiện tượng tuần hoàn mang tính tạm thời, trong khi đó sự xung đột trong suốt quá trình lịch sử giữa hai nước trong tương lai có khả năng sẽ lại chi phối quan hệ song phương.

Trong suốt khoảng thời gian dài, mặc dù đã trải qua nhiều thăng trầm lịch sử nhưng cũng có thể dùng câu nói sông liền sông núi liền núi để miêu tả quan hệ láng giềng hữu nghị Việt Trung.

Hồ chủ tịch đã từng viết trong bài thơ năm 1963 miêu tả quan hệ hai nước như sau: “Việt Trung hai nước thắm tình hữu nghị, vừa là bạn bè, vừa là đồng chí”.

Việt Nam luôn coi Trung Quốc là nước lớn. Để duy trì độc lập tự chủ và phát triển đất nước của mình, Việt Nam luôn nhắc nhở Trung Quốc nên xử lí các mối quan hệ theo phong thái của nước lớn và những đoạn trường lịch sử Việt Trung cùng trải qua trong lịch sử.

Vì vậy, làm sao đối mặt quá khứ, lý giải chiến tranh biên giới Trung Việt, để tương lai có thể xử lý hòa thuận mối quan hệ hai nước, là nhiệm vụ tư tưởng không thể thiếu được.

Ông Thạch Chi Du là Giáo sư tại Đại học Quốc gia Đài Loan. Tác phẩm gầ
n đây của ông là Democracy (Made in Taiwan) (‘Dân chủ làm tại Đài Loan’, Lexington Books, 2008). Nguyễn Hoài Thu đang là Nghiên cứu sinh tiến sỹ, Đại học Trung Sơn, Cao Hùng, Đài Loan.

Trong tháng Hai, BBC sẽ có loạt bài – trên cả phát thanh và trang mạng – đánh dấu 30 năm cuộc chiến biên giới Việt – Trung 1979, nhìn từ nhiều quan điểm khác nhau. Rất mong nhận được những bài bình luận, hồi ức của quý độc giả về sự kiện lịch sử này.

Đầu năm đọc phải sách dở

11 phản hồi

Chuyến mua sách tất niên chẳng tìm đâu ra một quyển sách hay đành vơ đại:

1. Vòm không của lịch sử: Dày 871 trang, tác giả lạ hoắc Từ Quý Tường. Tôi luôn ngại mua sách dày vì nằm đọc rất khó.
2. Nhật Bản học của Dương Ngọc Dũng. Nhìn cái ảnh bác TS Harvard này ở bìa 4 tí nữa phì cười, trông không khác gã trộm trâu. Phong cách “giao lưu” Harvard đỉnh nhất của bác Dũng là chửi tục như hát hay. Hy vọng năm rộng tháng dài sẽ tìm thấy trong sách những điều bổ ích.
3a. “Từ điển Trung Anh cho người đang yêu” của Quách Tiểu Lộ.
3b. Ngoài ra còn quyển “Nhiều cách sống” của Nguyễn Quỳnh Trang chưa đọc từ đợt mua sách lần trước. Quyết định mua là do một friend nào đó trên blog có ưu ái nhắc đến quyển này (hay là đãi bôi vì được tặng sách, chẳng nhớ).

Mấy ngày tết chọn hai tác giả nữ VN & TQ trẻ tuổi, hy vọng tìm sự thư giãn nhẹ nhàng. Vậy mà có nhẹ nhàng được đâu.

“Từ điển…” chỉ được cấu trúc lạ, nội dung nhạt toẹt, đọc ào ào và chẳng đọng chút gì. Cuối truyện mới biết hóa ra đây là tác phẩm đầu tay của Quách. An ủi chút xíu vì quyển sau (Thạch Thôn) đã chắc tay hơn quyển này rất nhiều. Sẽ vẫn mua sách của họ Quách (nếu có).

“Nhiều cách sống” thì thất bại thảm hại. Vừa đọc vừa chê và quyết tâm gấp chéo những chỗ “lưu ý” để “nhặt sạn”, nhằm hóa cải một quyển sách dở thành “bài học nên tránh”… Phải chăng đây là cách “tiết kiệm” hiệu quả tiền bạc lẫn thời gian?

Tựa sách: Hóa ra là xén một câu của nhà văn hạng hai Nhật Bản Murakami.
Tên nhân vật chính: Lâm Lâm nhé. Bỗng nhớ đến chị hai sến nhão “Em xinh không?” mới đổi bút danh thành Đình Đình. Cảm giác như là bị ép dùng con xe máy Hongda Tàu giả Honda Dream Nhật đi du lịch liên tỉnh vậy.
Nội dung: Nhạt từng xăng ti mét. Hư cấu rất giả tạo từ sự kiện đến tình tiết. Chẳng hạn trang 36, cô gái ngồi ghế trước taxi bốn chỗ (cạnh lái xe) có thể nhìn qua kính chiếu hậu (dành cho lái xe) mà tả cảnh ở băng sau như phim hành động USA.
Ngôn ngữ: Văn viết cực kỳ thừa thãi. Từng câu, từng đoạn, từng chương. Có những đoạn tôi nhẩm cắt đi hơn nửa số chữ mà vẫn diễn đủ ý.

(còn tiếp…)

Thơ mùa xuân

1 phản hồi

Emtry đầu năm xin gửi đến quí anh chị, bè bạn những lời chúc tốt đẹp nhất. Tôi đã khai bút một bài báo nhỏ về lịch sử thể theo đề nghị của một BTV mà tôi rất quí mến. Tuy vậy để bài báo hoàn thành cũng mất mấy ngày. Đầu xuân xin post lại bài thơ lục bát của tôi đăng trên báo Tết Hà Nội Mới cách đây 16 năm, như một món quà ôn cố tri tân.

Mưa xuân

Xoè tay đón hạt mưa gần

Chạnh nghe lạnh buốt muôn phần mưa xa

Tiếng mưa thầm thĩ mái nhà

Tiếng lòng nén mãi mắt nhoà đường mưa

Mưa về xanh ngõ rêu xưa

Mưa qua vàng vạt cỏ thưa lối mòn

Mưa rơi tím tái giọt buồn

Mưa giăng trắng tóc chập chờn mộng hoang.

Mưa dâng ngập bến thời gian

Đẩy con thuyền nhớ trôi ngang biền chờ

Tìm người lỗi hẹn cơn mưa

Tìm bong bóng nước bên bờ phôi pha .

Hà Nội 1993

Ảnh: Con gái Trương Nhã Quỳnh đi xem bắn pháo hoa.

Photobucket

Ban Ki Moon chúc tết

15 phản hồi

Ảnh trên là mấy dòng chữ chúc tết của ông Tổng thư ký Liên Hợp Quốc, được VTC dịch bậy bạ như sau: “Chúc nhân dân tất cả các nước đón một năm mới hạnh phúc và thịnh vượng”.

Đánh máy lại cho rõ:

(Chúc nhân dân Trung Quốc và người Hoa trên toàn thế giới Năm mới vui vẻ hạnh phúc).

——

Hóa ra ngài Ban Ki Moon xem tất cả những ai ăn tết Âm lịch trên thế giới này đều là người TQ cả.

Vụ này chắc người phát ngôn Lê Dũng của Bộ ngoại giao phải cải chính thôi: “Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định những người chuẩn bị ăn tết âm lịch/tết dân tộc tại Việt Nam đa số áp đảo là người Việt Nam”

Tổng kết năm cũ

4 phản hồi

Mậu tý có thể nói là một năm viết khá khỏe của tôi.

Bốn truyện ngắn đăng báo Văn Nghệ:
1. Nơi thời gian dừng lại
2. Ở bên ngoài tổ quốc
3. Hòm thư ảo mị
4. Đông chí (Tết Tây)

Hai truyện ngắn đăng báo Văn Nghệ TP HCM
5. Đêm thị dân
6. Dạ khúc ven rừng

Hai bài báo trên talawas
7. Suy nghĩ bên cạnh một đám tang lặng lẽ
8. Có nên giữ nguyên trạng biển Đông

9. Bài báo trên Đàn Chim Việt Kẻ thất tiết của lịch sử

10. Bài báo trên BBC Việt Nam và thế giới Trung Hoa , được dịch ra tiếng Trung.
11. Bài báo xuân Viettide (ảnh trên)
12. Bài báo xuân Lao Động: Lập thân tối hạ thị văn chương?
13. Một vài truyện ngắn lẻ và cũ in chung tại NXB Trẻ (và hình như cả NXB Văn Học) nhưng không nhận được nhuận bút hoặc sách biếu.
14. Một bài báo về ông Lê Mạnh Thát đăng liên tục ba ngày liên tiếp trên ba tờ báo TT&VH, Nhân Dân, Thanh Niên.
15. Các truyện ngắn được nhiều trang mạng sử dụng như Diễn Đàn, Hội Nhà Văn, Da Màu .v.v..

——–

Bản thảo truyện ngắn gồm 28 truyện, 55 ngàn chữ được Bách Việt nhận xét như sau (Đã biên tập các yếu tố cá nhân liên quan của tác giả email):

Tôi đã chuyển bản thảo của anh đến những người trong ban thẩm định. Thực ra thì các truyện ngắn của anh viết khá đều tay, và khá chỉn chu. Đó là 1 điểm mạnh mà ko phải bất cứ tập bản thảo nào cũng có được. Tuy nhiên, chính sự chỉn chu đó, đôi khi, lại khiến người đọc có cảm giác bị bó chặt trong 1 bộ vét, tất nhiên vấn đề không phải ở chỗ bản thân bộ vét mà là người đó lại cứ thích “đóng” áo bà ba, quần lá tọa kia. Hi vọng anh ko phật ý vì cách ví von đó; âu cũng chỉ là nói cho vui. Vấn đề của tập bản thảo là ở chỗ, nếu tách riêng từng truyện, có thể nói là khá hay, nhưng khi gộp hết vào thành 1 tập truyện ngắn, lại dễ khiến độc giả nhanh nản, vì trước sau vẫn duy trì gần như 1 lối viết ấy. Giọng văn của anh chứng tỏ 1 bản lĩnh từng trải hơn tuổi thực rất nhiều, nhưng ko biết có phải vì bản thân tác giả bôn ba nhiều trên dặm ngàn sóng gió nên có phần hơi “già” chút xíu ko?!

Trong tình hình hiện tại, tính chất của tập bản thảo chưa phù hợp lắm với định hướng phát triển của Bách Việt. Rất mong anh thông cảm, và hy vọng vào 1 cơ hội hợp tác khác“.

Mỗi người có thể đọc những dòng chữ “ngoài văn bản” ở email này, cho nên xin khỏi bình luận gì thêm. Xin cảm ơn Bách Việt và cách làm chuyên nghiệp của họ, ít nhất là ở việc thẳng thắn trao đổi với tác giả.

——-

Nói chung một năm viết lách có vui, có buồn, có thất vọng và cũng có cảm kích. Chẳng hạn mất mấy thời gian để báo sớm cho tác giả sẽ sử dụng cái này cái kia, để khỏi gây ra cảnh in trùng hoặc gỡ bỏ trước khi in. Chẳng hạn có hay không nhuận bút thì nói trước, mập mờ kẻ có người không trên cùng một cơ quan thì chỉ gây ra những hiểu lầm (vì hơn nửa bản quyền những gì tôi viết đã “kính tặng” một cách vô tư).

Giả như Viettide cứ mong sớm gửi nhuận bút, tôi cảm kích lắm, vì đó là thái độ trân trọng tác giả. Nhưng nghĩ vài chục bạc mà làm phiền họ đi tới đi lui ngày xuân bận rộn nên xin hoãn, hy vọng lúc nào anh/chị ấy về VN, lấy tiền đó đổi vài ly bia bên câu chuyện chữ nghĩa thì hay hơn.

Giả như một bác Việt Kiều đã hưu trí cuối năm về thăm quê email mời café, tặng chocolate, lịch bàn rồi nói chuyện văn hóa văn nghệ. Sao mà ấm cúng lạ. Những người xa quê mới đáng thương làm sao. Các trang viết của tôi trở thành sợi dây vô hình nối họ với cội nguồn. Cảm giác có ích cho ai đó thật quí giá.

—–

Gần như tôi không cần cố gắng viết sao cho Việt Cộng không nhức đầu, Việt Kiều không nhức mắt và Việt Gian không ngứa miệng. Cứ đường đường bám lấy nhân văn là xong thôi. Đó cũng là định hướng mãi mãi của sự viết nơi tôi.

Kính chúc các bạn đọc một năm mới an khang, thịnh vượng và thành công mỹ mãn.

Một bài báo nhơ nhuốc…

7 phản hồi

Trong những ngày giáp tết truyền thống của dân tộc Việt Nam, báo Telegraph Anh quốc đã có một bài viết hết sức sống sượng, từ cái tựa trở đi. Cái tựa này được diễn giải ngay lập tức ở những dòng nội dung đầu tiên của bài báo: “Ho Chi Minh, the father of modern Vietnam, kept a mistress 40 years his junior who was murdered by his comrades, an author claims”. [ Hồ Chí Minh, quốc phụ của nước Việt Nam hiện đại, đã giấu một tình nhân nhỏ hơn ông 40 tuổi, người này đã bị giết bởi những đồng chí của ông, một nhà văn đã khẳng định như thế].

Tác giả Thomas Bell đã tự khoe trình độ “lá cải” của mình một cách nồng nhiệt đến ngu xuẩn. Tôi tin rằng bất cứ một người Việt Nam nào có lòng tự trọng tối thiểu đều không thể đồng tình với việc khai thác đời tư khả ố này. Nhất là đời tư mang tính qui chụp, hạ bệ hèn hạ hơn là dẫn luận logic, khoa học và trung thực.

***

Tôi đến với cái tên Dương Thu Hương trong niềm yêu thích văn chương vào một đêm giữa thập kỷ 80, thế kỷ trước. Giọng đọc truyện đêm khuya ấm áp của nữ phát thanh viên đài tiếng nói Việt Nam dường như vẫn còn văng vẳng bên tai tôi, mỗi khi nhớ lại. Và rồi tôi dần dần yêu thích những tác phẩm làm nên tên tuổi bà như “Các vĩ nhân tỉnh lẻ”, “Những thiên đường mù”…

Cách đây dăm bảy năm, trong một thương vụ kinh doanh tôi tình cờ gặp cô em ruột Dương Thu Hương. Qua một vài câu chuyện trao đổi vơ vẩn, đời tư Dương Thu Hương hiện ra cũng đầy góc cạnh và hoen nhơ. Tôi chỉ nhớ vậy, chứ không thể kể ra chi tiết nội dung mình từng nghe, bởi tôi cảm thấy đời tư là phần ít quan trọng nhất và không đáng quan tâm, trong cống hiến xã hội của bất cứ tên tuổi nào.

Cái tên Dương Thu Hương cứ nhạt dần nơi tôi, khi bà dùng “thương hiệu” mê hoặc một thời để làm… chính trị chửi bới và lăng mạ như một kẻ vô học. Và có lẽ với tác phẩm mới nhất “Đỉnh cao chói lọi”, bà đã tự đào huyệt chôn mình trong mắt rất nhiều độc giả.

***

Có quá đáng lắm không nếu cho rằng bài báo đang được BBC Việt ngữ dẫn dịch và quảng bá, chẳng khác gì cái tát cho đất nước Việt Nam, trong những ngày cuối năm xum họp ấm cúng nơi nơi. Ở một đất nước mà sự tôn trọng luôn dành cho những người cao tuổi, những người đã mất trong thời khắc thiêng liêng của đất trời, bài báo kia phải bị lên án và tẩy chay.

Tư duy xuất bản và nhìn nhận tác phẩm

3 phản hồi

“Sự nghiệp” lớn nhất của tôi trong năm 2008 là đọc sách. Bí quyết chọn tiểu thuyết của tôi là hạn chế tiếp cận các tác giả dưới 35 tuổi. Văn nói cho cùng là trải nghiệm đời sống. Trẻ quá thì văn thường nhạt.

Cuối năm âm lịch, may mắn đọc được mấy quyển rất hay của TQ:

1. Thạch Thôn / Quách Tiểu Lộ: Một câu chuyện cảm động từ những trang giữa trở đi. Phần đầu hơi khô cứng và rời rạc nhưng càng đọc càng cuốn hút. Tác giả khắc họa lại bức tranh u ám của xã hội TQ suốt tuổi trẻ của cô. Những mảng màu sống động cuối truyện có niềm lạc quan tương lai và sự tha thứ. Cũng có thể đây là một một quyển sách không hay với ai đó, dù nó từng được in ở Anh và Doris Lessing trân trọng giới thiệu. Tuy vậy với tôi, cái tên Thạch Thôn lại có sức cuốn hút kỳ lạ. Bởi, tổ tiên tôi từng sống tại một ngôi làng có chữ Thạch – “Thạch Bàn hương”, không xa Thạch Thôn của Tiểu Lộ.

2. Rừng Hoang / A Lai: Một tác giả Tây Tạng, có ảnh hưởng xã hội lớn tại TQ. Truyện rất hay nhưng nặng nề. Nó tố cáo sự xâm lăng văn hóa của người Hán đã đánh những đòn chí tử vào gốc rễ tinh thần dân tộc Tây Tạng. Đỉnh điểm là Đại cách mạng Văn Hóa. Tất cả những đau đớn, nghiệt ngã, thậm chí ngu muội nhất đã được A Lai nêu tên, vạch mặt qua cách khai thác hình ảnh con người và thiên nhiên quanh một trận cháy rừng. Lãnh tụ Mao Trạch Đông và thiên đường XHCN của ông hiện ra vừa hài hước, vừa mông muội, hơn hết là hoàn toàn hoang tưởng.

3. Ma Chiến Hữu / Mạc Ngôn: Quyển này tôi đang đọc giữa chừng nhưng thật sự xúc động. Những người VN từng đếm xác bọn xâm lược TQ như xác xúc vật năm 1979, rất nên đọc qua. Mạc Ngôn đã dẫn độc giả đến bản quán những người lính tràn qua biên giới VN cách đây 30 năm. Thì ra họ toàn là nông dân, những người nông dân đói rét và bất hạnh ở các làng quê Hoa nam. Bằng ngòi bút nhân văn, vượt qua những biên giới chính trị, Mạc Ngôn đã tố cáo chiến tranh và khóc cho nhân dân cần lao TQ.

———-

Mỗi lần đọc xong một quyển tiểu thuyết TQ, tôi thường tự hỏi tại sao nhà văn TQ có thể quán xuyến được các vấn đề chính trị xã hội “nhạy cảm”, trong khi nhà văn VN nói chung là “không được phép”.

Nhà văn VN hèn?

Nhà nước VN quá lo xa, sợ văn chương sẽ đánh đổ chế độ?

Văn chương luôn luôn là nhân văn. Văn chương luôn luôn là lương tri. Người ta không thể viết văn với hận thù mù quáng, bởi bạn đọc sẽ vứt ngay nó vào sọt rác.

Không cho văn chương lên tiếng, khác nào mãi mãi “khoanh” lại những sai lầm quá khứ trong ký ức xã hội, ký ức dân tộc. Con vi trùng đó không bị tiêu diệt, bắt đầu bằng văn chương, thì chẳng ai dám chắc, một ngày nào đó nó sẽ không sống dậy mãnh liệt. Ổ bệnh càng “lờn thuốc” thì tính hủy diệt của nó càng lớn.

Để bắt đầu một nền văn học TQ rạng rỡ như hôm nay, có lẽ người TQ đã khởi đi từ tư duy xuất bản và nhìn nhận các tác phẩm, trong góc độ xây dựng của nó. Văn chương TQ gần đây mạnh bạo hơn, quyết liệt hơn và sâu sắc hơn Cao Hành Kiện rất nhiều.

Phải chăng đó là lý do sách dịch TQ bán rất chạy tại VN?

Older Entries