Truyện ngắn: Nơi thời gian dừng lại

5 Comments

Nơi thời gian dừng lại

Trương Thái Du

2. Phải khẳng định tôi là kẻ vô thần. Tôi không tin dị đoan, ma quỷ, tiên thánh. Do đó chiếc xích đu nằm giữa vuông sân trời rộng và kín gió, tôi đặt tên là cỗ máy vĩnh cửu. Chẳng liên tục nhưng thi thoảng chiếc xích đu lại tự đưa đẩy như có người đang ngồi chơi, mà không vì một lý do cơ học rõ ràng nào.

Khu tôi ở vốn đã yên tịnh, vườn cây lưu niên hàng ngàn thước vuông xung quanh càng tách biệt căn nhà với thế giới xung quanh. Những đêm trăng thanh vắng tôi thường không ngủ được vì chiếc xích đu cứ kẽo kẹt mãi. Sân trời cỡ một sảnh khách lớn, ba phía đều có cửa phòng hoặc cửa sổ trổ ra, từ những mảng tường đá rửa hồng xám. Hàng lan can sắt nhìn xuống thảm cỏ bên hông. Bể đất to và sâu kéo dài suốt chiều dọc sân, đầu giáp lan can có bụi hoàng anh già cỗi xù xì leo lên những chiếc lam bê tông trang trí bên trên.

Hoa hoàng anh màu vàng ươm, gần giống hoa loa kèn. Khi lìa cành rơi xuống nó tạo nên những tiếng động tinh tế như bước chân tố nữ. Lá hoàng anh già cũng màu vàng. Đầu mùa khô, các xoáy gió đêm hiếm hoi sẽ khiến lá rụng hàng loạt. Chúng thường mông lung gợi hình tà áo mỏng liêu trai, xoắn xuýt quanh chiếc xích đu.

Thấy tôi đi sớm về khuya, thui thủi một mình, chòm xóm đồn nhà tôi bị ma ám. Họ thầm thì về những tiếng cười xé vải hun hút đêm sâu, tiếng đàn tranh rin rít từng tràng ai oán, tiếng cú rúc, tiếng chim lợn eng éc báo điềm xấu… Họ bảo không bị dớp ấy thì căn nhà đã đổi chủ xoành xoạch mỗi bận bất động sản nóng sốt, y như các khuôn viên xung quanh. Tôi từng đuổi không biết bao nhiêu là cò đất lâu lâu đến quấy rầy, nghe ngóng, dụ dỗ. Người ta không tin tôi, trơ tráo ngả giá mua số điện thoại của chủ nhân thực sự.

1. Tòa biệt thự xưa cũ, xây dựng theo phong cách Mỹ cuối thập niên 1960 mà tôi đang ở là tài sản tôi thừa kế từ người chú ruột quá cố. Chú vốn là sĩ quan quân y chế độ cũ. Cha tôi không thèm nhìn mặt chú. Ông ghét em trai một, ghét em dâu mười. Thím tôi bị gọi là đứa tiểu tư sản õng ẹo đồng bóng. Tập kết về, gia đình tôi ở chung với ông bà nội đã gần đất xa trời. Nhà chú cạnh bên.

Năm 1978 thím dắt con, dứt áo vượt biên cùng bạn tình. Học tập xong, chú tôi bán nhà nơi trung tâm thành phố. Ông lóc cóc đạp xe qua cầu Sài Gòn tìm chốn ẩn mình. Mẹ tôi đoán chú vẫn còn của chìm nhưng giả bộ cuốc đất trồng rau, nuôi gà vịt, sống chay tịnh tự cung tự cấp và cắt hết giao tiếp với xã hội.

Thời gian rong ruổi. Cha mẹ tôi về với tổ tiên. Anh hai tôi thành đại gia tiền muôn bạc vạn. Tôi khù khờ nhút nhát nên được anh lo cho chân thủ thư, sống như một chiếc bóng. Chị dâu hay nửa đùa nửa thật bảo tôi là âm bản, là thái cực cân bằng với thành đạt, thông minh, khôn khéo, thức thời của anh trai tôi.

Giỗ đầu cha tôi, anh hai không hiểu làm cách nào đón được chú đến thắp nhang. Từ đó anh cử hẳn một bà vú già trong gia đình qua chăm sóc chú đến cuối đời. Chú mất, di chúc bắt tôi phải giữ nguyên trạng ngôi nhà trong ít nhất hai mươi năm, sau đó muốn làm gì thì tùy. Chị dâu bực bội hỏi đào đâu ra tiền trước bạ. Tôi bảo anh hai đứng tên nhà cũng được. Anh mắng tôi ngu, anh tin tôi chứ không tin vợ. Tôi phải ký giấy tặng riêng anh phần di sản của bố mẹ, tức nửa căn nhà ông bà nội để lại.

Số là dạo ấy anh chị đang bất hòa. Lâu lâu anh lại dọa chị rằng người xưa đã bảo “Giàu đổi bạn – Sang đổi vợ”. Chị nổi khùng hoài, nhưng dần dần cũng thỏa hiệp được. Anh hai bay nhẩy, trăng hoa kín hơn. Chị ở nhà giả tảng không nghe, không biết, tự tìm thú vui như lễ chùa, tụ tập bạn bè cùng trang lứa.

4. Hai người khách tỏ vẻ áy náy rất thật vì làm phiền tôi trong ngày nghỉ cuối tuần. Hóa ra đây là tổ ấm cũ của họ. Bao năm xa xứ họ luôn bị thôi thúc trở về. Cây cối lớn vống lên. Riêng tòa nhà chẳng mấy đổi thay, cứ như một phần tư thế kỷ chỉ là chớp mắt.

Tôi dắt họ đi thăm mọi ngóc ngách. Chỗ nào họ cũng qua loa, chỉ trừ vuông sân trời có chiếc xích đu. Vừa bước qua cửa, bà vợ đã đổ sụp xuống bên bể đất trồng hoa. Ông chồng lặng lẽ gạt nước mắt, cúi mái đầu hoa râm phai thuốc nhuộm đỡ vợ dậy.

Cuối tháng Tư năm ấy, một mảnh đạn pháo lạc từ xa lộ đầu cầu Sài Gòn đã cướp đi đứa con gái bé bỏng vừa qua tuổi dậy thì của họ. Cô gục xuống bên chiếc xích đu sơn màu xanh hòa bình. Cha mẹ cô chỉ kịp gói gém thi thể trinh nữ trong mấy lớp ni lông rồi chôn tạm giữa bể đất, trước khi di tản.

Một lọ hoa, hai chung nước lọc và ba cây nhang cùng không khí đặc quánh xung quanh tạo nên lễ cải táng câm lặng nhưng đầy màu sắc tâm linh thần bí. Chúng tôi không nỡ dùng các dụng cụ đào bới như bay thợ hồ hoặc cuốc và xẻng nhỏ. Ba mươi đầu ngón tay trần cào vơi dần khoảng giữa bể đất để thăm dò. Gần đến đáy xi măng, khối rễ hoàng anh chằng chịt làm bật móng tay ông khách. Máu đỏ thấm ướt đất. Chưa kịp đau đớn, ông đã cuống cuồng hoảng hốt vì không thấy gì.

Mọi người nín thinh, tiếp tục bới, hất hết đất đen ra ngoài.

Điều kỳ lạ chỉ lộ diện khi niềm hy vọng sắp tắt. Chiếc tiểu sành màu da lươn. Xương cốt xếp đặt rất ngay ngắn. Hộp sọ thon nhỏ, có lẽ của khuôn mặt trái xoan. Mảnh đạn pháo hình lưỡi rìu chém vào thái dương vẫn còn kẹt lại.

Nắp cao su dẻo kín nước của chiếc vỏ chai thuốc pênêxilin được cậy ra. Mấy dòng chữ nhòe nhoẹt của chú tôi, mực dầu tái chế, bút Bic chắc đã thay bi mấy lần: Định dùng bể đất làm hồ nuôi cá trê phi thì phát hiện đây là một ngôi mộ. Xin thân nhân người quá cố lượng thứ. Ngày x tháng y năm 1982.

3. Hai anh em tôi sống tương đối ít va chạm. Tôi luôn nghe lời anh. Trước kia vài ba lần anh cho tôi tiền xài. Tôi không khi nào nhận. Anh chả cần hỏi cũng biết tôi đơn giản lắm. Không rượu chè, cờ bạc, cà phê cà pháo, tôi chỉ thích sách thì tiền khác nào giấy lộn. Sách trong mấy tầng lầu thư viện, hằng tháng chiêu nạp thêm cơ man bản in lưu chiểu mới nhất, tôi đọc đến kiếp sau cũng chưa hết.

Anh thấy tôi vô duyên trên đường tình nên bổn cũ soạn lại. Anh kiếm đâu ra một cô giúp việc sạch sẽ, trẻ trung gửi vào nhà tôi. Đêm đầu tiên như có ma phá. Chiếc xích đu rên xiết. Cô giúp việc mê ngủ la hét rùm trời. Tôi dậy bật đèn, gõ cửa phòng gia nhân. Cô giúp việc ôm tôi khóc rưng rức. Cô bảo vừa thấy ác mộng cũ.

Học hết phổ thông, một bà cùng quê dỗ ngon dỗ ngọt cô vào Sài Gòn. Gia đình cô đến có ba nhân khẩu. Hai ông bà già lương hưu rất hậu. Cậu út của họ mắc bệnh đao, luôn mặc độc mỗi chiếc quần đùi trễ rốn, rong chơi đầu trên xóm dưới, gặp ai cũng chửi. Mấy năm nay hắn giở chứng, cứ giục mẹ lấy vợ cho.

Đêm đầu tiên cô đến nơi ở mới, cậu kia trần truồng nạy cửa phòng đòi hợp cẩn. Cô gào khóc, cấu véo, cắn xé. Mãi sau mới thấy ông chủ trên lầu hét gọi quý tử. Cô bỏ trốn, tìm chị bạn đồng hương làm tại nhà anh tôi. Cô thật thà bảo anh tôi đã nói trắng rằng tôi không tâm thần, chỉ tội tồ quá, con gái thành phố chẳng để mắt tới. Nếu cô dụ được tôi, anh sẽ lo tất, sẽ tặng bố mẹ cô ngoài bắc một căn nhà mái bằng.

Tôi bảo tôi rất quý cô, mới gặp đã thấy quý. Từ khi dọn đến biệt thự này, trong đầu tôi luôn có cảm giác đã lập gia đình. Ở chung với cô tôi rất ngại. Tôi nhờ ông già bảo vệ nhà Tây thuê cạnh bên kiếm cho cô công việc lau dọn. Lương tàm tạm, đủ để cô tìm một chỗ trọ tồi tàn và hàng tháng giúp cha mẹ chút ít. Chưa đầy năm, cô hớn hở mời tôi dự đám cưới. Chồng cô là lái xe của chủ nhà.

5. Mấy đứa cháu con anh tôi đều du học tự túc ở Mỹ cả. Năm kia tôi nhờ chúng chuyển ít quà cho ông bà Việt Kiều già. Chúng kể họ sống đạm bạc, lẻ loi và cô độc lắm. Ông bà có tất cả bốn người con. Cô hai dính hòn tên mũi đạn. Ngày di tản cậu ba dạt theo bên ngoại, lỡ chuyến. Cuối năm ấy cậu cũng yểu mệnh, chết vì đói và khát trong những ngày lênh đênh vượt biển. Ông bà trách hai người sinh tại Mỹ mất gốc, đã Mỹ hóa hoàn toàn. Cũng vì cả gia đình sống biệt lập ở một tiểu bang không có cộng đồng Việt Nam đông đảo. Ông bà ao ước dăm năm nữa sẽ về Sài Gòn dưỡng già. Họ hỏi cháu tôi năm mươi ngàn Mỹ kim dành dụm của họ có mua nổi một căn nhà tàm tạm không, càng gần tôi càng tốt. Tự lúc nào họ đã thầm xem, thầm ước tôi là con là rể họ.

Anh tôi và chị dâu, nghe bảo hay kể công với đống vàng cạnh cầu Sài Gòn. Cháu tôi không vừa ý, chúng cảnh báo người làm ăn buôn bán nên biết điều với âm hồn trinh nữ trẻ. Theo chúng, căn nhà cũ của ông bà để lại mà anh chị đang cho thuê, mặt tiền một quận trung tâm, cũng chẳng làm họ thiệt thòi. Tôi nào hay biết nhưng đám cháu khôn đáo để, chúng ước lượng nhà của tôi bây giờ giá hàng triệu Mỹ kim. Tôi bảo chú già rồi, tiền bạc không biết tiêu, không biết tính, mai này để lại cho các cháu tất. Chúng cười tôi cả nghĩ xa xôi, bố chúng giàu lắm lắm, tôi không tưởng tượng nổi đâu. Xe cộ, nhà cửa anh tôi sắm cho chúng bên Mỹ, dù chỉ ở tạm mấy năm học, cũng làm cho triệu phú Mỹ phải tròn mắt.

6. Từ ngày qui định bắt buộc đội mũ bảo hiểm khi đi xe máy, tôi đổi chiếc Honda 81 giọt lệ kim vàng lấy một chiếc xe đạp điện Đài Loan. Thế mà hay, quãng đường tôi đến thư viện làm việc thường nhật thành ra có sức sống hơn. Lúc nào thích thì tôi tắt động cơ, nhấn bàn đạp cho săn gân cốt.

Tôi bỗng thấy yêu đời. Những đêm trăng thanh tôi không còn trốn trong phòng và nổi gai ốc vì nghe tiếng xích đu kẽo kẹt nữa. Tôi ra hẳn đấy, vừa đọc sách vừa thưởng trà bắc ủ hoa nhài tươi hái ngay trong bể đất. Có khi tôi thắp một nén hương trầm dìu dịu. Các vòng khói tròn quấn quít bức ảnh khắc đá dán đè lên tường đá rửa. Cô bé có cái nhìn thật lương thiện. Cô bằng tuổi tôi nhưng vẻ thanh xuân mãi mãi dừng lại ở khoảng khắc oan nghiệt năm nào.

Thảo Điền,

khai bút đầu xuân Mậu Tý

Cửu Chân / Cửu Châu: Lại một phát hiện quan trọng?

6 Comments

Chữ Cửu trong kinh điển: Tên gọi Cửu Chân xuất hiện lần đầu tiên trong Hán Thư. Hán Thư dùng chữ Hán thế kỷ thứ I, vì gia tộc họ Ban (Ban Bưu, Ban Cố, Ban Chiêu) biên soạn Hán Thư đều sinh ra, lớn lên và mất đi trong thế kỷ này. Thuyết Văn giải tự, quyển tự điển chữ Hán đầu tiên của Hứa Thận bắt đầu được viết vào năm 100. Cho nên có thể kết luận không có sự lệch pha đáng kể nào trong ngôn ngữ của Hán Thư và Thuyết Văn.

Hán Vũ đế đặt tên chín quận phía nam, trong đó có Cửu Chân vào năm Nguyên Phong nguyên niên (110 TCN). Không lâu sau đó, học giả Lưu Hướng (77 TCN – 6 TCN) đã sưu tầm, biên soạn, dẫn dịch và hiệu đính các trước tác của Khuất Nguyên. Tôi nhắc đến Khuất Nguyên vì trong các tác phẩm của ông do Lưu Hướng khảo dẫn, chữ Cửu xuất hiện tương đối dày đặc: Cửu ca, Cửu chương, Cửu biện, Cửu hoài, Cửu thán, Cửu tư… Chỉ duy nhất tập Cửu chương là có Chín bài thơ (chín chương), còn các tựa khác mang chữ Cửu có vẻ gần gũi với chữ Thiên trong bài thơ Thiên Vấn của Khuất Nguyên hơn. Như một hệ quả tất yếu, chúng tôi cũng tìm thấy từ Cửu Châu trong bài Thiên Vấn của Khuất Nguyên:

九州安錯 川穀何洿


東流不溢 孰知其故

(Âm Hán Việt: Cửu châu an thác / Xuyên cốc hà ô / Đông lưu bất dật / Thục tri kỳ cố).

Lưu ý đặc biệt ở đây là, các tác phẩm của Khuất Nguyên bằng chữ Hán chắc chắn là bản dịch từ ngôn ngữ nước Sở, chúng được gọi chung là Sở từ cũng vì lý do ấy. Vậy, chữ Cửu của Lưu Hướng và của Hán Vũ đế có tương quan nào với nhau hay không, có khía cạnh nào đó chỉ Trời như định nghĩa của Thuyết văn sau này hay không, là một câu hỏi thú vị cần giải đáp. Sử dụng cả ba nghĩa hướng của chữ Cửu là (số) Chín, Trời (thiên), Vua (thiên tử) trong Sở Từ , ta sẽ thấy sự thống nhất và mạch lạc trong nhiều tầng ẩn dụ của tư tưởng và tình cảm Khuất Nguyên.

Một cách ca tụng riêng về chủ nghĩa anh hùng…

2 Comments

Chuyện kể rằng rất đông người đứng chật cây cầu bắc qua một dòng nước xiết. Họ nhìn xuống, cảm thông và lo lắng cho một sinh linh sắp chết đuối đang vùng vẫy kêu cứu. Bỗng mọi người lặng đi khi thấy ai đó rời cầu, tung những sải tay chắc nịch đến bên kẻ xấu số sắp chìm.

Nhà báo nọ chứng kiến cảnh tượng xúc động liền xông vào tác nghiệp, hy vọng có một bài phỏng vấn nóng hổi. Câu hỏi là: “Xin cho biết điều đầu tiên bạn muốn nói sau hành động anh hùng nghĩa hiệp”.

Người vừa thực thi “chủ nghĩa anh hùng” không dấu nổi bực dọc trả lời: “Ông mà biết thằng nào đẩy ông xuống nước thì nó no đòn”.

———-

Tôi nghĩ câu giới thiệu ở bìa bốn quyển Ma Chiến Hữu (NXB Văn Học) cũng mang hàm ý sâu sắc của câu chuyện trên: “Một cách ca tụng riêng về chủ nghĩa anh hùng cách mạng”. Chính nội dung truyện đã quyết định suy nghĩ dứt khoát này của tôi.

Nếu tôi thất vọng bao nhiêu trước những lời nhục mạ không thương tiếc từ Mạc Ngôn đến Trần Trung Hỷ và NXB Văn Học, thì lại vui mừng tương tự như vậy với nhận thức đúng đắn và thẳng thắn của hai blogger trong friendlist của mình là LinhMr. Do. Thế giới blogger Việt Nam đã trưởng thành vượt bậc và đang phân hóa thành một kênh thông tin xã hội có giá trị tham khảo cao, nếu không muốn nói nó đang góp phần xây dựng dân trí.

Tôi tin sau khi đọc ý kiến của các Hot Bloggers trên, “ai đó” sẽ nhìn lại mình, xem lại phát ngôn của mình với một tinh thần trách nhiệm và cầu thị cần thiết.

Entry for 22 February 2009

3 Comments

Minh họa: Hình trên mô tả chuyển động tương đối hằng năm giữa mặt trời và trái đất. Đường Hoàng đạo (ecliptic) là tập hợp vị trí mặt trời mọc thay đổi hằng ngày trong chu kỳ một năm. Mặt phẳng chứa đường Hoàng đạo tạo thành một góc 23 độ rưỡi với mặt phẳng xích đạo (Celestial equator). Hai mặt phẳng này giao nhau tại đường thẳng nối điểm Xuân phân (vernal equinox) và Thu phân (autumnal equinox). Khi mặt trời đi đến điểm Hạ chí, ở bắc bán cầu mặt trời giữa trưa nằm trên đỉnh đầu người quan sát tại vĩ độ 23 độ rưỡi (vĩ tuyến 23 độ rưỡi gọi là Bắc chí tuyến, nó đi qua thành phố Quảng Châu tức Phiên Ngung trong Sử Ký). Mặt phẳng xích đạo (celestial equator) chia trái đất làm hai nửa là Bán cầu bắc và Bán cầu nam.

Phần này tôi ghi chú ở đây để người đọc có sự chuẩn bị một số khái niệm thiên văn khi đọc bài báo “Cửu Chân” sắp tới.

——–

GS Xiaorong Han vừa gửi một nghiên cứu mới nhất của ông với lời cảm ơn: “I would like to thank the Institute for Research & Scholarship and Center for Global Education at Butler University for funding trips to China and Vietnam in 2007 and 2008. I am grateful for help generously provided by the following teachers and friends in China and Vietnam: Profs. Fan Honggui and Huang Xingqiu of Guangxi; Mr. Liu Zhiqiang of Beijing; Profs. Châu Thi Hải, Nguyễn Văn Hảo and Nguyễn Văn Huy of Hanoi; Mr. Truong Thai Du of Ho Chi-minh city; and Prof. Fan Ruiping of Hong Kong. The author alone bears responsibility for the views as well as any errors in this article”. Rất tiếc ông gửi email trễ quá, nếu trước 17.2 thì tài liệu này có thể được dịch và giới thiệu trên diễn đàn BBC ba mươi năm cuộc chiến 1979.

Chắc chắn Bột Mạt = (Mặt) Trời

36 Comments

Nhân việc tra cứu cổ thư viết bài về Cửu Chân, tôi có giới thiệu bên VVH bài báo về chữ Nôm đầu tiên còn chứng tích của người VN trên báo TT&VH.

Một vị trưởng thượng trong diễn đàn VVH đã giúp tôi bằng cách chỉ ra 1 chi tiết cực kỳ quý giá, chứng tỏ linh cảm của tôi về Mạt = Mặt trời là rất rất rất khả dĩ: Trích Nguyên Sử

Trong Nguyên sử, Ngoại Di Liệt truyện có dẫn lời nói của Trần Nhật Hối [Trần Thánh Tông hay Trần Nhân Tông?] ví Trấn Nam Vương Thoát Hoan là Mạt quang/末光.

日烜复遣其善忠大夫阮德舆朝请郎阮文翰奉书与镇南王:“不能亲见末光然中心欣幸以往者钦蒙圣诏云别敕我军不入尔境今见邕州营站桥梁往往相接实深惊惧幸昭仞忠诚少加矜恤。”

——–

Mừng quá và vui quá.

Đến đây thì anh Giao chắc phải đồng ý với tôi thôi.

Không nghi ngờ gì nữa, tôi là người đầu tiên tìm được một chữ Nôm của người Việt Nam cách đây ít nhất 2146 năm (từ năm Triệu Mạt lên ngôi hoàng đế Nam Việt).

Hạnh phúc

Hạnh phúc quá

Hạnh phúc bởi vì tôi vừa may mắn đóng góp vào lịch sử ngôn ngữ Việt Nam một chi tiết cực kỳ quí giá.

Xin cảm ơn bạn Huybom, người đã hết mình ủng hộ tìm tòi của tôi và giúp vấn đề được đưa đến công chúng qua bản báo của bạn.

Mấy suy nghĩ về Cửu Châu, Cửu Nghi, Cửu Chân.

10 Comments

Được TT&VH động viên và trọng thị (chắc tác giả lời giới thiệu trọng thị là của Huybom), mấy hôm nay đi kiếm cơm suốt ngoài đường tôi cứ suy nghĩ miên man về những vấn đề cổ sử mình từng đào xới. Có lẽ tôi sẽ viết những bài báo nho nhỏ, giải nghĩa dần dần một cách khoa học các địa danh cổ mà tôi từng giải thích. Hy vọng nó sẽ có giá trị hơn hẳn một quyển sách khô cứng đã xuất bản.

Tạm thời hôm nay trình bày sơ nét ở đây, nhằm kiếm tư liệu và lên kế hoạch cho một bài báo mới.

Mặt trời là đối tượng quan sát đầu tiên của thiên văn học Hoa Hạ. Với vùng trung lưu Hoàng Hà, nơi phát tích văn minh Hoa Hạ, mặt trời với họ mọc ở hướng Đông Nam và lặn ở Tây Nam. Để nhìn thấy mặt trời ở bất cứ thời điểm ban ngày nào, cơ bản là phải quay mặt về phương Nam. Việc đồng hóa vua là con (mặt) trời có lẽ xuất phát từ tục thờ mặt trời phổ biến ở bất cứ nền văn minh nào trên quả đất. Do đó dẫn tới các qui chế đế vương như vua phải ngồi nhìn về phía nam, mộ hoàng đế cửa mở phía nam .v.v..

Quan sát qui luật chuyển động hằng ngày của mặt trời từ Đông sang Tây, cho ra khái niệm Cửu Châu (九州).

Quan sát qui luật chuyển động hằng năm của mặt trời từ Nam lên Bắc và ngược lại cho ra khái niệm Cửu Nghi (九嶷), Cửu Chân (九真).

Người Nhật cũng như người Việt đã giải thích chữ Cửu là (số) Chín. Các cách giải thích cũ có vẻ không còn thuyết phục bằng một số lập luận của tôi khi đi theo Thuyết văn định nghĩa Cửu là Mặt trời.

Thật vậy ta thấy đảo Cửu Châu gần Hoa lục nhất. Có lẽ đó là nơi những nhà thám hiểm cổ đại TQ đã đặt chân đến đầu tiên. Họ đã gọi vùng đất ấy theo khái niệm Cửu Châu tức vùng đất mặt trời (mọc), có thể trước khi họ đặt chân tới. Nghĩa của từ Cửu Châu vẫn tiếp tục được dùng cho đến ngày nay, bằng các từ tương đương khác là Nhật Bản (gốc của mặt trời) hay Phù Tang (Theo truyền thuyết cổ phương Đông có cây dâu rỗng lòng gọi là Phù Tang hay Khổng Tang, là nơi thần Mặt Trời nghỉ ngơi trước khi cưỡi xe lửa du hành ngang qua bầu trời từ Đông sang Tây, do đó Phù Tang hàm nghĩa văn chương chỉ nơi Mặt Trời mọc).

Khi văn minh Hoa Hạ còn đứng từ xa nhìn xuống phương nam, nhìn xuống Lĩnh Nam, họ thấy một rặng núi lớn thường chặn ánh mặt trời. Chắc chắn họ đã nghĩ gốc trời (Xích đạo) ở đâu đó sau ngọn núi ấy và đặt tên nó là Cửu Nghi (Núi chứa mặt trời). Từ Cửu Chân chỉ xuất hiện sau khi Hán Vũ Đế bình định xong nước Nam Việt, khi những đoàn quân đế quốc đã vượt Cửu Nghi đi đến Phiên Ngung (bắc chí tuyến).

Không nghi ngờ gì nữa, Cửu Chân chính là khái niệm Xích Đạo của các sử gia kiêm thiên văn gia như Tư Mã Thiên. Tất nhiên độ sai lạc của kiến thức từ hơn 2000 năm trước là rõ ràng, nhưng tính chất Xích Đạo trong khái niệm Cửu Chân là bất biến. Nó còn được bổ xung và hoàn thiện thành một hệ thống với khái niệm Nhật Nam (bán cầu nam).

Một bài báo nhỏ trên TT&VH

4 Comments

Thứ Tư, 18/2/2009, 13:58 (GMT+7)
Đi tìm tên của cháu Triệu Đà và chữ Nôm đầu tiên(*)

(TT&VH) – LTS: Tự nhận là người nghiên cứu nghiệp dư, nhưng tác giả Trương Thái Du đã có những nghiên cứu và kiến giải sâu sắc về một số vấn đề cổ sử của Việt Nam. Ông vừa gửi TT&VH một bài viết mới của mình:

Tên của cháu nội Triệu Đà là gì?

Tất cả các sách sử Việt và Trung xưa nay đều thống nhất theo Sử Ký của Tư Mã Thiên, ghi tên tục của Triệu Văn đế là Triệu Hồ (cháu nội Triệu Đà, làm vua Nam Việt từ 137 đến 124 trước Công nguyên). Năm 1983 khảo cổ Quảng Đông đã khai mở ngôi mộ táng của Triệu Hồ tại một ngọn đồi trong nội thành Quảng Châu. Chiếc ấn vàng tùy táng khắc chữ triện “Văn đế hành tỉ” khiến các chuyên gia không thể nghi ngờ ngôi mộ này là của ai khác. Tuy nhiên, vấn đề tên tục của Triệu Văn đế đã gây nên tranh cãi, cũng như hé lộ nhiều khả năng về một loại ngôn ngữ dùng Hán tự ký âm có liên quan mật thiết đến chữ Nôm Việt Nam.

Kho đồ tùy táng lúc mới mở huyệt mộ. Nhìn rõ chiếc thạp Đông Sơn.
Chiếc thạp này có lẽ từng có nắp nhưng đã bị mục nát.

Người ta không thể tìm được bất cứ chữ Hồ nào giữa các di vật trong mộ phần Triệu Văn đế, ngoài hai con dấu trình bày dưới thể triện ghi rõ Triệu Mạt (赵眜). Một số tài liệu Việt ngữ trên mạng đôi khi phiên âm là Triệu Muội. (Thực ra Mạt và Muội trong các sách cổ từ thời Hán trở lại đây thì đồng nghĩa và hay dùng lẫn lộn…).

Chiếu theo Thuyết Văn (quyển tự điển có từ thời Đông Hán), Mạt nghĩa là mắt mờ. Nếu chỉ xét chữ Mạt ở góc độ thuần Hán thì không lý gì một vương tử và sau này là thái tử, là thiên tử suốt một vùng Lĩnh Nam, lại có cái tên xấu và vô nghĩa như vậy. Có ý kiến cho rằng âm Mạt theo phương ngữ Hoa Nam hiện nay rất gần với âm Hồ. Phải chăng cháu Triệu Đà được đặt tên theo nghĩa Nam Việt, rồi sau đó phải dùng chữ Hán có âm gần giống để ghi lại trên giấy tờ, ấn tín. Chính vì thiếu thống nhất và không gian cách trở, ở Lĩnh Nam ký âm thành Triệu Mạt, trong khi tại Trung Nguyên các sử quan viết thành Triệu Hồ.

Chiếc thạp sau khi được vệ sinh sạch sẽ.
Những hình vẽ như trên trống đồng hiện ra.

Mạt – chữ Nôm đầu tiên còn chứng tích?

Nguyên tắc ký âm ấy, là những mầm mống quan trọng đầu tiên để hình thành hệ thống sử dụng Hán tự xây dựng chữ viết vùng Lĩnh Nam, trong đó chữ Nôm Việt Nam là một nhánh lớn đáng ghi nhận. Đặc biệt, Mạt trong chữ Nôm ngày nay, người Việt Nam vẫn đang đọc là Mắt.

Tham khảo thêm chữ Nôm cổ của người Choang ở Quảng Tây, ta thấy họ đọc từ Mạt trong Triệu Mạt là [bo:t]. Rất gần với Bột trong Bột Mạt và Phù Bột Mạt.

Quyển Kiến Văn tiểu lục của Lê Quý Đôn đã dẫn tư liệu của sứ nhà Nguyên chép rằng thời Trần người Đại Việt gọi trời là Bột Mạt, mặt trời là Phù Bột Mạt. Như vậy có không khả năng Bột Mạt là trùng ngữ do sự cộng sinh giữa hai ngôn ngữ khác nhau? Nghĩa là Bột Mạt = Bột = Mạt = Trời. Nó tương tự như Chia Ly = Chia = Ly.

Nếu nghiên cứu sâu sắc theo chiều hướng trên, có rất nhiều khả năng giải nghĩa chữ Mạt trong từ Triệu Mạt ý chỉ trời, ngôi vị thượng tôn của nước Việt cổ, mà biểu trưng rõ ràng nhất là hình ảnh ở giữa trống đồng Đông Sơn.

Chúng tôi hy vọng bài báo nhỏ này sẽ khơi gợi một chủ đề lý thú cho các chuyên gia khảo cổ và ngôn ngữ chuyên nghiệp ở Việt Nam. Trong góc nhìn nghiệp dư và rất cảm tính của mình, chúng tôi thấy chữ Mạt có cơ hội trở thành chữ Nôm đầu tiên còn chứng tích của dân tộc Việt Nam hiện đại.

Ngoài ra lăng mộ Triệu Mạt đã trở thành một viện bảo tàng lớn tại Hoa Nam. Nó còn chứa đựng nhiều giá trị văn hóa lịch sử có liên quan hữu cơ đến quá trình hình thành quốc gia Việt Nam xưa kia. Chẳng hạn những bó mũi tên đồng giống y hệt loại tên đã đào được ở vùng Cổ Loa, một chiếc thạp Đông Sơn với hình thuyền đặc trưng…

Trương Thái Du (truongthaidu@yahoo.com)

(*) Đầu bài do TT&VH đặt

(Ảnh chụp từ sách Nam Việt Quốc Sử, tác giả Trương Vinh Phương – GS ĐH Trung Sơn, Quảng Đông nhân dân xuất bản xã, 1995)

Older Entries

Nghiên cứu lịch sử

Các bài nghiên cứu, biên khảo và dịch thuật các chủ đề về lịch sử

Le Minh Khai's SEAsian History Blog

Always rethinking the Southeast Asian past

trinhythu

Trịnh Y Thư WordPress.com site

trandangtuan.com

Men lá rượu ngô trong

4th Avenue Café

Free non-fiction translation

WordPress.com

WordPress.com is the best place for your personal blog or business site.

Trương Thái Du's Blog

Văn chương thiên cổ sự - Đắc thất thốn tâm tri...

No More Goat Soup

No goats were harmed in any way while making this blog. (We did kill all the sheep though)