Đế đạo, nhược tiểu và con đường hòa bình…

7 phản hồi

Nhiều lần tôi tự hỏi mặc cảm nước nhỏ / nhược tiểu của người Việt Nam không rõ manh nha từ thời điểm nào trong lịch sử. Thiên “Lịch sinh, Lục Giả” trong Sử ký thuật lại câu chuyện giữa Triệu Đà và Lục Giả: “Triệu Đà lại hỏi: “Ta với Hán đế nhà Hán ai giỏi hơn?”. Lục Giả nói: “Hoàng đế nhà Hán nối nghiệp Ngũ Đế, Tam Vương, thống trị cả Trung Quốc, đất hàng muôn dặm, chính quyền ở tay một nhà, nhà vua ở góc bể, sao dám ví với nhà Hán?”. Triệu Đà nói rằng: “Ta giận rằng không khởi binh ở Trung Quốc, nên phải làm vua ở đất này. Sao lại vội bảo ta không bằng nhà Hán?”.

Qua đến thời Lý, theo Việt sử tiêu án, Thái Tông hỏi quần thần: “Tiên đế thăng hà đã 16 năm nay, nước Chiêm Thành chưa có cho một sứ thần nào sang nước ta, có phải là oai đức của Trẫm chưa đến nước ấy, hay là chúng cậy có núi sông hiểm trở đó chăng? Quần thần thưa: “Đức tuy đã có đến chúng mà oai chưa được rộng”. Năm Giáp Thân 1044, để ra oai, Thái Tông thân chinh đánh Chiêm Thành và thu được thắng lợi vang dội.

Tự Triệu, Đinh, Lý, Trần (theo niên biểu của Nguyễn Trãi trong Bình Ngô đại cáo), đến Lê, Tây Sơn, Nguyễn, nước Việt nhiều lần dùng từ Đại cho quốc danh của mình, tuy mạnh yếu mỗi thời một khác nhưng chưa bao giờ nao núng nếu phải đương đầu với Hán, Tống, Nguyên, Minh, Thanh. Họ từng bá chủ khu vực Đông Dương.

Phải chăng chỉ đến khi tiếp xúc với văn minh phương Tây, bị người Pháp nô thuộc, mặc cảm thua thiệt và hèn kém đã khiến tâm hồn dân tộc Việt xuất hiện tư tưởng nhược tiểu?

Năm 1975, Mỹ rút khỏi chiến trường Đông Dương. Được hà hơi tiếp sức bởi chiến thắng 30.4, người Việt Nam đột ngột dứt bỏ mặc cảm nhược tiểu và toan đi tìm những vinh quang cũ trong lịch sử. Tuy nhiên thời đã khác, trật tự thế giới cũng đã khác. Hàng thập kỷ đói nghèo và bị cô lập sau đó lại kéo người Việt Nam trở về nỗi niềm nước nhỏ.

*

Đọc đến đây, không ít độc giả cũng như tôi đã thấy dần hiện lên một từ cũ mà nhà cầm quyền Bắc Kinh từng gán gọi Việt Nam cách nay ba mươi năm: “Tiểu bá”. Phản đề của “Tiểu bá” chính là “Đại bá”, là tham vọng muôn đời nay của các tập đoàn chính trị phương Bắc. Có lẽ tôi lại phải chấp nhận bị “ném đá” ở đâu đó, trước sự xét nét tiêu cực của ai đấy sau khi bài viết này được công bố. Riêng với lý tính mà nói, đây là một từ ngữ không thích hợp để dùng song song với nhược tiểu, nhằm phân tích thấu đáo những uẩn khúc trong tâm hồn dân tộc Việt Nam, thử xem nó tác động như thế nào đến vận mệnh đất nước hôm qua, hôm nay và mai sau, trong bối cảnh khu vực phức tạp hiện thời. Tôi không đủ lãng mạn và thỏa hiệp để tìm kiếm và chấp nhận những thi tứ đại loại như “Từ thuở mang gươm đi mở cõi…”. Theo Sử ký, Triệu Đà làm vua Nam Việt ngoài mặt xưng vương với nhà Hán nhưng trong nước vẫn dùng đế hiệu. Minh chứng rõ ràng nhất là chiếc ấn “Văn đế hành tỉ” của cháu nội Triệu Đà xuất lộ từ năm 1983 tại Quảng Châu. Hơn nữa, suốt chiều dài lịch sử, các triều đại Đại Việt đã liên tục thực thi chính sách kia của Triệu Đà. Cho nên trong khuôn khổ ở đây, xin được dùng từ “Đế đạo” bên cạnh “Nhược tiểu” như hai mặt của một vấn đề, hai thái cực đã cộng sinh trong thực thể chính trị – văn hóa Việt Nam hàng thế kỷ nay.

Thực sự chủ đề này bản thân tôi đã nghiền ngẫm khá lâu, hôm 17.3.2009, lại nghe một ý kiến phát biểu trong hội thảo về Trường Sa và Hoàng Sa tại Hà Nội, đại ý: “Trung Quốc sẽ gây hấn, xâm chiếm Trường Sa khi họ đã ‘nắm’ được Lào”. Tôi nhìn nhận tính thực tế của nhận định ấy nhưng vẫn áy náy bởi nền tảng tư duy của nó. Gốc rễ của lập luận trên phải chăng xuất phát từ quan điểm phải gây dựng ảnh hưởng khu vực mạnh mẽ nhằm bảo vệ chủ quyền cũng như biển đảo của dân tộc Việt Nam? Nếu vậy nó sẽ trượt trở về vòng xoáy luẩn quẩn, nơi các giá trị đế đạo/nhược tiểu nhiều lần đổi chỗ cho nhau, trong các quyết sách chính trị Việt Nam suốt thế kỷ hai mươi.

Xin nêu ví dụ về chính thể Sài Gòn trước 1975: Từ chính sách đế đạo bắc phạt của Ngô Đình Diệm không được Mỹ ủng hộ, lập tức phương kế nhược tiểu được thực thi bằng việc giao khoán chiến tranh cho Hoa Kỳ. Kết quả là chế độ ấy đã sụp đổ nhanh chóng, ngoài sức tưởng tượng của nhiều người. Lạ là, hơn ba mươi năm đất nước Việt Nam bị chia cắt, chưa bao giờ hòa bình có đủ cơ hội để gây ảnh hưởng.

*

Việc cắm mốc giới đất liền Việt – Trung trùng kỷ niệm 30 năm chiến tranh biên giới Việt – Trung, tiếp theo là những diễn biến phức tạp trên Biển Đông với các yếu tố bổ trợ như tàu quân sự Mỹ thám sát biển, Philippine vẽ đường cơ sở, khiến cho dư luận xã hội Việt Nam hừng hực suy tư vận mệnh tổ quốc. Người Việt đang chứng minh họ có lòng yêu nước hiếm gặp trên thế giới. Song le, tôi vẫn thấy rõ rệt hai khuynh hướng đế đạo và nhược tiểu trong các luồng dư luận.

Đế đạo: Không ngừng tô vẽ hận thù. Cổ xúy đối kháng, kích động đám đông từ một quyển tiểu thuyết đậm chất nhân văn như Ma chiến hữu trở đi.

Nhược tiểu: Tự ý thức thất thế, ra điều tìm kiếm chỗ dựa dẫm. Hồ hởi với sự xuất hiện của tàu Mỹ. Phóng đại thua thiệt của nhà nước Việt Nam trên bàn đàm phán biên giới đất liền[1].

Là một người dân sống trên mảnh đất Việt Nam tôi luôn tự hỏi tại sao hoàn toàn vắng bóng những ý tưởng thiên về đối thoại và những giải pháp hòa bình? Tôi vẫn biết nếu không có các vấn đề Biển Đông giữa Việt Nam và Trung Quốc thì hòa bình thật dễ dàng. Hòa bình chưa bao giờ mang nghĩa nhu nhược. Hòa bình là giá trị tối cao của những quốc gia vừa mạnh mẽ, vừa văn minh. Biết sức mạnh thực sự của mình đến đâu không phải là cái biết dễ dàng. Cho nên mới có câu “Biết người biết ta, trăm trận trăm thắng”. Hòa bình luôn là một chiến thắng vinh quang nhất cho nhân dân bất cứ một quốc gia nào. Xin hãy tham khảo cách mà những nước nhỏ ở Âu châu đã tránh chiến tranh thế giới thứ I và thứ II. Xin hãy tham khảo cách mà người Canada và người Mexico sống cạnh Mỹ. Và cũng xin tham khảo luôn hòn đảo Cuba XHCN nghèo nàn, lạc hậu và độc tài ngoài khơi Hoa Kỳ.

Tôi rất buồn khi thấy nhiều cựu chiến binh chưa nghiệm hết cay đắng trong đáp từ của một lãn
h tụ Thái Lan, khi nghe tả niềm tự hào chiến thắng các đế quốc lớn của người Việt Nam: “Người Thái tự hào vì chưa phải đánh nhau với cường quốc nào”!

Con đường đi đến hòa bình bằng đối kháng luôn là con đường dài nhất, hao tổn nguyên khí quốc gia vào bậc nhất. Hòa bình không phải hành động phi tự vệ. Người Việt Nam hoàn toàn có thể vừa suy tư về hòa bình, vừa kiên quyết bảo vệ những vùng biển cha ông mình đã khám phá và khai thác bằng công lý, lẽ phải, bằng nỗ lực tự cường nội tại. Tôi không hiểu bằng cách nào mà lãnh tụ Hồ Chí Minh đã khiến Mao Trạch Đông dặn dò đoàn cố vấn kháng Pháp trước khi sang Việt Nam: “Sau khi đến Việt Nam, các đồng chí phải nói với họ, tổ tông xưa chúng tôi ức hiếp các đồng chí, chúng tôi tạ tội xin lỗi các đồng chí và một lòng một dạ giúp đỡ các đồng chí đánh bại bọn thực dân Pháp[2].

Kích động hận thù giữa những dân tộc, giữa những nền văn hóa lúc nào cũng là tội ác đáng khinh bỉ. Với hận thù, người ta chỉ còn lại sự mù quáng, chỉ còn mỗi con đường tự đưa mình vào tròng tai họa, để tự sướng về tiên liệu thần thánh. Sự mù quáng không bao giờ khải giác được rằng chính hận thù đã là tai họa.

Thảo Điền

Tháng 3.2009

© 2009 talawas


[1] Khi viết câu này, tôi đã dè dặt tham khảo rất kỹ tài liệu “Tranh chấp biên giới Việt – Hoa” của CIA Mỹ năm 1979, được bạch hóa một phần năm 2002, do nhà báo Vũ Quý Hạo Nhiên dịch và giới thiệu trên báo Viet Tide ở Hoa Kỳ và trên blog của ông vừa rồi. Ít nhất chúng ta cũng có thể rút ra kết luận rằng, việc đơn phương xác định chủ quyền của Việt Nam năm 1979 tại nhiều khu vực không được Pháp – Thanh dựng cột mốc là thiếu khôn ngoan. Do đó rất khó tìm ra căn cứ để khẳng định chắc chắn sự mất đất của Việt Nam sau hiệp ước biên giới 1999. Tâm trạng chung của dư luận là dường như Việt Nam không thể kém cạnh Campuchia và Lào khi cắm mốc, nhưng chắc chắn sẽ bị thiệt với Tàu, vì chính cảm giác nhược tiểu.

[2] [http://www.diendan.org/the-gioi/hoi-ki-co-van-trung-quoc-2/] Hồi ký cố vấn Trung Quốc, Dương Danh Dy dịch.

Bài này của ông bạn tôi…

1 phản hồi

Cuộc chiến không người chiến thắng

Tiến sĩ Hàn Hiếu Vinh

Viết riêng cho BBCVietnamese.com từ ĐH Butler

Cuộc chiến Việt – Trung 1979 xuất phát từ nhiều yếu tố

Năm 1979, Lê Duẩn đã là người đứng đầu Đảng Cộng sản Việt Nam hơn hai thập niên, và Đặng Tiểu Bình chỉ vừa trở thành người quyền lực nhất ở Trung Quốc.

Hai lãnh đạo này có nhiều điểm chung. Họ đều là dân cách mạng Cộng sản trung kiên. Cả hai có kinh nghiệm chính trị và quân sự phức tạp mặc dù Lê Duẩn thích ở tiền tuyến trong khi họ Đặng lại chuộng thuật cai trị đằng sau cánh gà. Cả hai đều có ý chí mạnh và vừa trải qua những biến động lớn – cuộc chiến Việt Nam, và với Đặng là Cách mạng Văn hóa. Cả hai cũng được ghi công cho những đột phá mới đây: với Lê Duẩn là sự thất bại của miền Nam Việt Nam và một Việt Nam thống nhất; với Đặng, khai triển cải cách và đưa Trung Quốc ra với thế giới. Cả hai lãnh đạo cũng đối diện vấn đề tương tự, đặc biệt là phát triển kinh tế và hòa nhập chính trị sau thời gian dài xung đột.

Sự tương đồng của hai lãnh đạo và hai đất nước đặt ra khả năng lẽ ra họ có thể là đồng minh gần gũi trong năm 1979. Nhưng sau những thập niên làm “đồng chí, anh em”, thì đến năm 1979, mối quan hệ gặp rắc rối nghiêm trọng.

Suy sụp trong quan hệ

Nhiều yếu tố đã dẫn đến sự suy sụp trong quan hệ song phương: tranh chấp lãnh thổ ở đất liền và Biển Đông, sự đối xử với người Hoa ở Việt Nam, Việt Nam xâm lấn Campuchia và làm đồng minh với Liên Xô, Trung Quốc từ chối cấp thêm viện trợ, và “ba lần phản bội” của Trung Quốc.

Các yếu tố này không phải là quan trọng như nhau. Tranh chấp lãnh thổ và sự đối xử với Hoa kiều là vấn đề lịch sử, còn các vấn đề khác mang tính chất gần đây và thúc bách hơn.

Các vấn đề lịch sử, mang tầm quan trọng thứ yếu trong trường hợp này, đã ngủ yên khi hai nước thân thiện với nhau, và được làm sống dậy khi các vấn đề gần đây khiến hai chính phủ xoay sang đối địch. Khi đã được dựng dậy, chúng làm các vấn đề gần trở nên căng thẳng hơn, khiến hai bên khó đạt được thỏa hiệp.

Sự tồn tại của các vấn đề này không có nghĩa chiến tranh là tất yếu. Quyết định gây chiến là do Đặng Tiểu Bình và các đồng minh gần gũi trong chính phủ Trung Quốc đưa ra. Mặc dù toàn bộ các tranh chấp giữa hai chính phủ cũng đóng vai trò khiến Đặng khai chiến, nhưng việc Việt Nam xâm lấn Campuchia có vẻ là chấc xúc tác cuối cùng. Trong các cuộc gặp lãnh đạo nước ngoài như Lý Quang Diệu và Jimmy Carter cuối 1978 và đầu 1979, Đặng lập lờ nhưng liên tục trình bày ý tưởng rằng Trung Quốc sẽ có cuộc chiến trừng phạt vì Việt Nam đánh Campuchia.

Cuộc chiến 1979 hoàn tất vòng luân hồi yêu – ghét trong lịch sử quan hệ Việt – Trung: tình yêu giữa hai dân tộc trong thời đại Hồ Chí Minh và Mao Trạch Đông bỗng chốc chuyển thành sự thù ghét trong thời Lê Duẩn – Đặng

Cuộc chiến 1979 hoàn tất vòng luân hồi yêu – ghét trong lịch sử quan hệ Việt – Trung: tình yêu giữa hai dân tộc trong thời đại Hồ Chí Minh và Mao Trạch Đông bỗng chốc chuyển thành sự thù ghét trong thời Lê Duẩn – Đặng.

Thật thú vị khi suy tư và tự hỏi liệu lịch sử có diễn ra khác đi nếu Hồ và Mao vẫn nắm quyền trong năm 1979. Liệu ông Hồ có đồng ý cho Lê Duẩn từ bỏ chính sách trung lập trong tranh chấp Xô – Trung? Liệu ông Hồ có đồng ý với chính sách mới với người Hoa ở Việt Nam và quyết định xâm lấn Campuchia? Liệu Mao có đồng ý chính sách ngừng viện trợ cho Việt Nam, sẽ dùng cuộc chiến trừng phạt như cách phản ứng Việt Nam xâm lấn Campuchia?

Cần thấy rằng trong trận chiến chửi mắng nhau hồi cuối thập niên 1970 và 1980, Việt Nam không chỉ công kích họ Đặng và thế hệ lãnh đạo thứ hai của Trung Quốc mà tấn công cả thế hệ đầu tiên như Mao và Chu Ân Lai, trong khi Trung Quốc chỉ công kích Lê Duẩn và thế hệ lãnh đạo thứ hai của Việt Nam.

Trung Quốc không bao giờ chỉ trích Hồ Chí Minh; ngược lại, tiếp tục ca ngợi ông Hồ đã thúc đẩy tình hữu nghị, và chê trách Lê Duẩn vì phản bộ chính sách và lời dạy của ông Hồ. Nó cho ta cảm tưởng rằng Trung Quốc tin nếu Hồ Chí Minh còn sống năm 1979, mọi chuyện sẽ khác, nhưng Việt Nam cho rằng sẽ chẳng khác gì nếu Mao cầm quyền năm 1979.

Không ai thắng

Mặc dù cả hai phía đều tự nhận thắng lợi, nhưng cuộc chiến không có người chiến thắng. Việt Nam không bảo vệ được đường biên giới phía bắc và chịu thiệt hại kinh tế cũng như nhân mạng. Với Trung Quốc, cuộc xâm lăng ngắn ngủi gây ra thương vong nặng nề, và bộc lộ những khiếm khuyết của quân đội. Quan trọng hơn, cuộc chiến không giải quyết được tranh chấp giữa hai nước. Trung Quốc chống đối Việt Nam tiến vào Campuchia, nhưng chiến tranh vẫn không ngăn Việt Nam rút khỏi Campuchia. Trung Quốc chống Việt Nam liên minh với Liên Xô, nhưng chiến tranh lại làm quan hệ thêm khăng khít.

Mậu dịch biên giới phát triển rầm rộ từ thập niên 1990

Những yếu tố quan trọng nhất dẫn đến việc giải quyết vấn đề Campuchia và bình thường hóa Việt – Trung trong thập niên 1990 là thay đổi lãnh đạo ở cả Liên Xô và Việt Nam, sự tan rã của Liên Xô và kéo theo là chấm dứt liên minh Việt – Xô, chứ không liên quan mấy tới cuộc chiến năm 1979.

30 năm sau, chúng ta đã chứng kiến sự chu
yển hóa của hai nước, sự cải thiện quan hệ cũng như tiến trình hòa nhập của châu Á Thái Bình Dương. Trong số các tranh chấp dẫn tới cuộc chiến 1979, chỉ còn một phần của tranh chấp lãnh thổ là đang tiếp tục.

Tranh chấp quanh Hoàng Sa và Trường Sa sẽ không thể giải quyết trọn vẹn trong tương lai gần. Mặc dù những tranh chấp tồn đọng có thể thỉnh thoảng gây ra mâu thuẫn như các vụ biểu tình của sinh viên Việt Nam, hay các tuyên bố chỉ trích nhau của hai chính phủ, nhưng chúng không thể tạo ra xung đột quân sự hay đổ vỡ trong quan hệ song phương.

Tình trạng hiện nay của quan hệ Việt – Trung là nằm ở giữa tình yêu thời đại Hồ – Mao và sự căm thù của giai đoạn Duẩn – Đặng – một sự trộn lẫn giữa yêu và ghét

Nhiều diễn biến gần đây có tác dụng trung hòa mâu thuẫn. Mậu dịch biên giới đã tạo ra tình thân kinh tế giữa hai nước; du lịch, trao đổi văn hóa giáo dục đang làm tăng hiểu biết giữa hai dân tộc. Chỉ riêng ở Quảng Tây đã có hơn 20 chương trình cấp đại học và cao học về Việt Nam. Ngay cả khi còn là đồng minh thập niên 1950 và 1960, cũng không có nhiều như thế số sinh viên Trung Quốc học tiếng và văn hóa Việt Nam.

Lãnh đạo hai nước nhận thức tầm quan trọng của duy trì hòa bình trong khu vực; họ đã liên tục gặp nhau và đồng ý giải quyết tranh chấp qua đàm phán. Sự hòa nhập khu vực theo hình thức ASEAN + 1, ASEAN + 3, Thỏa thuận Thương mại Tự do ASEAN – Trung Quốc, Apec và các tổ chức khác cũng sẽ giúp cải thiện quan hệ.

Rõ ràng sự thù ghét chi phối quan hệ Việt – Trung cuối thập niên 1970 sang đầu 1990 đã giảm bớt, nhưng tình yêu cuối thập niên 1940 kéo dài đến 1970 vẫn chưa phục hồi hoàn toàn.

Tình trạng hiện nay của quan hệ Việt – Trung là nằm ở giữa tình yêu thời đại Hồ – Mao và sự căm thù của giai đoạn Duẩn – Đặng – một sự trộn lẫn giữa yêu và ghét.

Liều lượng thích hợp của hai thái cực này có thể giúp tạo ra sự tỉnh táo, ổn định và hòa bình.

Nếu có thể tạo dựng cơ chế phù hợp để duy trì và thắt chặt mối cân bằng quyền lợi, khát vọng, và tình cảm của hai bên, Việt Nam và Trung Quốc sẽ có nhiều cơ hội để cuối cùng có thể loại bỏ chiến tranh, đối địch ra khỏi mối quan hệ.

Về tác giả: Ông Hàn Hiếu Vinh (Han Xiaorong) nhận bằng tiến sĩ ở Đại học Hawaii và hiện dạy ở Khoa Lịch sử – Nhân học của Đại học Butler, Hoa Kỳ. Ông từng là nghiên cứu gia ở Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc trong 5 năm. Quan tâm nghiên cứu hiện nay của ông là về người Hoa ở Việt Nam.

——–

BBC phải cảm ơn tui nha. Tui giới thiệu bác Hàn trang này. Bác Hàn là SV Thiên An Môn đấy. Bác từng bảo với tôi bác chú tâm nghiên cứu lịch sử, văn hóa và mối liên hệ Hoa-Việt nhằm làm cho con người hiểu nhau hơn, bác phục vụ con người nói chung, không phụng sự chính trị.

GS chủ tịch hội sử viết thế này thì thua…

4 phản hồi

Phan Huy Lê viết thế này, trích ở đây:

Trong thư tịch cổ của Trung Quốc cũng ghi nhận, trong thời Bắc thuộc, từ thời Tây Hán, vải và nhãn là những sản phẩm nổi tiếng Giao Chỉ và Cửu Chân. Sách Nam phương thảo mộc trạng do Kế Hàm soạn năm Vĩnh Hưng thứ 1 (305) đời Tây Tấn (265-317), cho biết : « Hán Vũ đế năm Nguyên Đỉnh thứ 6 (111 TCN) phá nước Nam Việt, xây dựng cung Phù Lệ, tên Phù lệ là lấy tên lệ chi (cây vải) đặt cho, đem chuyển 100 cây vải từ Giao Chỉ về trồng ở sân, nhưng không một cây nào sống. Sau nhiều năm liền đem cây vải về trồng, cuối cùng chỉ có một cây hơi xanh tốt nhưng không có hoa quả. Vua lấy làm tiếc vật quý và trong lúc buồn bực, sai giết người trông nom đến mấy chục, rồi không trồng nữa và bắt cống nộp hàng năm (tuế cống) » 28.Vấn đề gây tranh cãi là Giao Chỉ ở đây là quận Giao Chỉ miền bắc nước ta hay bộ Giao Chỉ bao gồm cả miền Lĩnh Nam ở nam Trung Quốc. Triệu Đà sau khi đánh chiếm nước Âu Lạc, đã lập 2 quận Giao Chỉ (Bắc Bộ) và Cửu Chân (bắc Trung Bộ). Năm 111 TCN nhà Hán đánh chiếm nước Nam Việt, lập ra các quận Nam Hải, Thương Ngô, Quế Lâm, Hợp Phố, Châu Nhai, Đạm Nhĩ, Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam. Sáu quận trên là miền Lĩnh Nam và đảo Hải Nam, ở nam Trung Quốc, riêng hai quận Châu Nhai, Đạm Nhĩ trên đảo Hải Nam đã lập năm Nguyên Phong thứ 1 (110 TCN) 29. Quận Nhật Nam là miền bắc Lâm Ấp (khoảng trung Trung Bộ từ Hoành Sơn đến Cù Mông) do quân Hán mới chiếm thêm năm 111 TCN. Năm Nguyên Phong thứ 5 (106 TCN) nhà Hán lập Giao Chỉ bộ quản lý cả 9 quận do chức Thứ sử đứng đầu 30. Như vậy sự việc cống vải từ Giao Chỉ do Nam phương thảo mộc trạng chép vào năm Nguyên Đỉnh thứ 6 tức năm 111 TCN là quận Giao Chỉ thuộc miền bắc nước ta, chứ không phải là bộ Giao Chỉ bao gồm cả miền nam Trung Quốc lập sau đó 5 năm, vào năm Nguyên Phong thứ 5 tức năm 106 TCN. Hơn nữa, Cổ kim sử văn loại tùng còn chép thêm : « Ngụy Văn đế (220-226) hạ chiếu cho quần thần rằng, quả phương nam, loại quý lạ là long nhãn, lệ chi, lệnh hàng năm nộp cống là xuất từ Giao Chỉ, Cửu Chân » 31. Sự kiện này cũng được chép trong Nam phương thảo mộc trạng 32. Như vậy cây vải không chỉ có ở Giao Chỉ mà cả ở Cửu Chân và lệ cống vải bắt đầu từ Tây Hán, tiếp tục đến Nguỵ. Tư liệu này cho biết thêm Cửu Chân tức vùng Thanh Nghệ Tĩnh hiện nay, thời đó đã có cây vải và lệ cống vải bao gồm cả vùng này. Cây vải ở vùng Thanh Hoá, Nghệ An có nguồn gốc lâu đời và sau này thoái hoá dần thành loại vải chua, vải rừng hiện nay.

—————-

1. Năm 111 TCN quân Hán dừng lại tại Phiên Ngung, ở quận Giao Chỉ chẳng có ma Tàu nào làm thái thú, ai đem vải mà cống?

2. Quận Giao Chỉ, Cửu Chân chỉ được đặt tên từ sau năm 111TCN. Không có chuyện Triệu Đà đặt tên hai quận này. Căn cứ này là từ Thủy Kinh chú, nhũng gì mà Thủy Kinh Chú sai lạc với Sử Ký thì phải bỏ đi chứ. Giản thư trong Thái Miếu Nam Việt mới được khảo cổ Quảng Đông đào lên, nghiên cứu sắp xong rồi. Mời GS quá bộ qua ấy đọc thử ạ! Khi đi GS nhớ mang theo thư ký đọc chữ Hán…

3. Sau khi liệt kê hàng loạt sách, hàng loạt dẫn chứng thì đùng cái ông GS kết luận Giao Chỉ quận chứ không phải Giao Chỉ bộ, đến trẻ con mẫu giáo cũng phải lác mắt thán phục.

4. Giao Chỉ ban đầu chỉ là khái niệm, định tính. Do đó Giao Chỉ bộ chính là định tính vùng đất phương nam của nhà Hán. Sử gia VN lầm lẫn từ đời này đến đời khác, cứ tưởng quận Giao Chỉ phải là trung tâm của Giao Chỉ bộ, Thứ sử sẽ đóng trị sở ở đó.

Người ta chỉ tin những gì họ muốn tin và đã tin…

1 phản hồi

Bác Đông A viết thế này: Nhưng tôi cho rằng người Việt chưa sẵn sàng tiếp nhận lịch sử như nó vốn có. Không ít người sẵn sàng lợi dụng cơ hội nếu có và bất chấp để thổi phồng ngọn lửa thù hận giữa các dân tộc. Có những vấn đề bị đánh tráo ví dụ như chuyện Ma chiến hữu và Chú Mìn Phù gì đó. Tôi nghĩ rằng chỉ khi nào không còn ai thù hận nữa (hay số người thù hận rất ít) thì lịch sử lại trở về là lịch sử. Thực ra những ồn ào ngợi ca đâu có phải là những gì mà những người đã hy sinh cần hay vì nó mà phụng sự.

—–

Bao nhiêu năm nay tôi đã ngây thơ tin rằng sự gì càng gần sự thật thì càng giá trị.

Người ta chỉ dịch những gì họ tin

7 phản hồi

Và chỉ tin những gì họ muốn tin…

Bản gốc:

South China Morning Post
March 15, 2009 Sunday

Beijing, Bangkok and the Great Game
Thailand has nurtured relations with both China and the US for decades, writes Greg Torode


When ousted Thai prime minister Thaksin Shinawatra told a Hong Kong audience last week that Beijing was uncomfortable about him speaking in the city, he unwittingly highlighted one of China’s most important strategic interests in Southeast Asia.

Beijing’s quiet but steady courtship of Thailand is a diplomatic success story that stretches back more than 30 years, presaging its more recent outreach to the rest of the region.

But Beijing is not alone in having courted Bangkok. Its rival superpower the United States, Thailand’s cold-war ally, has influenced the nation’s development more than any other in modern times in its fight against communism.

Successive Thai governments – military, democratic or autocratic – have courted both giants in a hedging strategy so striking that both China and the US now count Thailand as their most important friend in Southeast Asia. It will be intriguing to see how any Sino-US rivalry over Thailand plays out in coming years. Thailand’s political turmoil and questions over the royal succession add to the uncertainty.

Thaksin – who is on the run from a two-year jail sentence – aborted a plan to appear two weeks ago at the Foreign Correspondents’ Club in Hong Kong; instead he spoke, slightly distorted, three days ago on a grey-tinged screen via a hastily arranged video link from Dubai.

“I have had no conversations with the Chinese or Hong Kong governments, but I have some kind of feeling that they may be uncomfortable because of their relationship [with Thailand],” he told a packed audience of businesspeople, academics and journalists. “So I’d better stay away to protect that relationship.”

Thaksin was the most popular and the most powerful elected prime minister Thailand has known. During his five years in power, he pushed the nation even closer to Beijing.

He also pushed through a deal on a free-trade pact with minimal oversight, and pleased mainland leaders by making life harder for Falun Gong and Taiwanese elements in Bangkok – even though he courted domestic controversy by doing so.

He kept the US happy as well, allowing the CIA to run so-called “black” flights through Thailand carrying terror suspects in the wake of the September 11 attacks – though Thailand denied any of the suspects were held on its soil. This smoothed the way for the country to be declared a “major non-Nato ally” of Washington in 2003.

Beijing found in Thaksin, a first-generation Thai Chinese, a warm partner to deal with. But it was playing a long game, and had established more enduring contacts in the political establishment, and in business and royal circles, whose members had always been suspicious of the billionaire telecoms tycoon.

China was the first major power to recognise Thailand’s military-led government after the ousting of Thaksin in a bloodless coup in 2006.

Thaksin appears to know he is damaged goods as he runs short of money, time and options in the wake of his conviction in absentia in October for abuse of power in a land deal while he was in office. Beijing does not seem ready to sacrifice the connections it has built up in Thailand for the sake of a former leader in Thaksin’s position.

Diplomatic and political analysts believe that while China would be reluctant to get involved overtly by extraditing Thaksin to Thailand, it wants him to keep a low profile while on Chinese soil.

Zhang Yunling, of the Chinese Academy of Social Sciences’ Institute of Asia-Pacific Studies in Beijing, said China would uphold the principle of non-interference and keep out of whatever decisions Thai authorities made regarding Thaksin.

Professor Zhang said Beijing attached high importance to relations with its neighbours, and relationships with those in power were especially important no matter how close Beijing was to Thaksin when he was in power.

Those relationships have been in play for decades, partly because Thailand has assimilated overseas Chinese to a far greater degree than any other country in the region. At least 60 per cent of Bangkok residents consider themselves to have Chinese blood.

While China surprised many international analysts with its swift donation of more than $1US billion to the bailout of Thailand led by the International Monetary Fund at the height of the regional financial crisis in 1997, that action was merely a reflection of a trend that went back more than 20 years.

Ian Storey, a fellow at Singapore’s Institute of Southeast Asian Studies, has noted how China sold Thailand oil at so-called friendship prices during the oil shock of the early 1970s, and formalised diplomatic relations in 1975.

“There is a comfort level that has only continued to grow,” Dr Storey said. “China sees the Thailand friendship as a special relationship – and easily its most important in Southeast Asia – and that is not easily affected by whoever is in power.”

Vietnam’s invasion of Cambodia 30 years ago – as cold-war tensions roiled communist neighbours – pushed the armed forces of Thailand and China into a relationship of convenience, as they worked to help the ousted Khmer Rouge in their jungle hideouts. Those links have blossomed into a strategic relationship that has seen the two militaries embark on joint exercises in recent years and Thailand buy Chinese weapons and ammunition. Thai officers have also undergone training in China, and the two sides now hold annual defence talks.

Dr Storey said the relationship was not all smooth sailing, with evidence pointing to unhappiness among Thai military brass at the quality of both Chinese materiel and training. “The relationship is highly significant but it is dwarfed by the depth and scale of the US-Thai military relationship. That is America’s strongest and most historic military relationship in Southeast Asia. I can’t see China matching that any time soon.”

China’s emerging military relationship with Thailand was acknowledged in July as both countries toasted the 33rd anniversary of formal ties during a visit to Beijing by the Thai prime minister at the time, Thaksin crony Samak Sundaravej. Speaking in the Great Hall of the People, President Hu Jintao said China and Thailand were “each other’s good neighbour, brother and partner, with the two peoples sharing deep traditio
nal friendship”.

Noting that the relationship had “always been ahead” of ties with its other neighbours in the region, Mr Hu added: “China greatly appreciates the way ? King Bhumibol [Adulyadej] and the Thai royal court and government give priority in developing Chinese ties ? and thanks Thailand for giving valuable support on such major issues as Taiwan, Tibet and the Beijing Olympics.”

Mr Hu’s reference to the Thai royalty served as a reminder of Beijing’s close ties with Crown Princess Sirindhorn, the king’s popular second daughter.

Thitinan Pongsudhirak, director of the Institute of Security and International Relations at Bangkok’s Chulalongkorn University, said China was now the most connected major power in Thailand in “ways we don’t see”.

“It has strong links across the political and royal spectrum ? The US is always first and foremost, but the trend towards China is there. You give it 20 years and they will be even,” he said.

Dr Thitinan sees China’s rising connections as a combination of accident and design rather than a grand, conspiratorial competition.

One factor to watch in coming years would be Thailand’s troubled democratic development, he said. “If Thailand becomes less democratic, it will find the Chinese development model more appealing ? and that could further China’s influence.”

Western and Asian diplomats say they can see a time when, for all Thailand’s hedging, it leans even closer to China at the expense of the US.

“It won’t necessarily be marked or striking, but it could prove to be a significant tilt – and that will be something Washington finds hard to live with,” a veteran western envoy said. “Some of us are already talking about it like the new ‘Great Game’.”

Few expect it to happen suddenly. Instead it will be gradual, given the enduring strength and depth of US ties – even though those aspects may not always be obvious.

Fearful of anti-royalist communism taking hold, Thailand played a key role in helping the US project its military power during the Vietnam war, welcoming planes, troops and supply bases.

In the process, the military, FBI and CIA developed key Thai institutions and trained thousands of personnel – far beyond anything else attempted in the region.

In the 1950s and 1960s, the CIA even played a role in helping to fund and organise efforts to promote support for King Bhumibol, whose moral stature is now unquestioned in Thailand after 62 years on the throne. Such links remain valuable today.

Both China and the US maintain extensive intelligence operations in Bangkok as part of their diplomatic presence. Both sides court prominent and “useful” Thais of all political shades.

As he spoke to the FCC on Thursday, Thaksin appeared to be placing a dollar bet each way, aware that his comments would be heard in both Washington and Beijing – which are both still issuing him visas. He questioned the excesses of Wall Street capitalism and Washington’s faith in free markets, yet praised democracy.

As a former prime minister, Thaksin knows better than most the increasing complexity and importance of Thailand’s relations with both countries.

Additional reporting by Kristine Kwok

Bản dịch: Trên Vietnamnet

Để ý là Vietnamnet không tin (nên không dịch) 60% cư dân Bangkok tự cho là mình có mang dòng máu Trung Hoa. Vì sao? Nếu dịch “Những mối quan hệ này đã và đang diễn ra nhiều thập niên, một phần bởi vì Thailand dung đón Hoa kiều ở một mức độ cực lớn khi so sánh với các quốc gia cùng khu vực. Tối thiểu 60% cư dân Bangkok tự cho là họ có dòng máu Trung Hoa”.

Lập tức người đọc Việt Nam sẽ tự hỏi, thế thì ở Sài Gòn và Hà Nội thì 70% chăng?

Như tôi đã lập luận ở đây: “Câu trả lời ở đây là: Một phần huyết thống Hán của dân tộc Kinh bị đè nén, bị xuyên tạc bởi những sử gia Marxist, bị dồn ép giữa con bài quyền lợi hai dân tộc Việt – Hoa.

Vô hình chung nó trở thành “dục vọng” ngầm, nó sẽ lèo lái đất nước Việt Nam như đã từng lèo lái: càng độc lập lãnh thổ thì càng Hán hóa về phương diện chính trị và văn hóa!

Đó là sai lầm của sử học cận đại khi bó buộc lịch sử Việt Nam trong thuyết bản địa, của kiểu tư duy thuần ý chí và hơn hết là của sự kém tự tin đến giả dối, của tầm nhìn làng quê trong vấn đề chủng tộc.

Điểm mù nhận thức kia, luôn được hà hơi tiếp sức thêm bằng niềm tin lỗi thời và những quan điểm truyền thống lạc lõng của cả một nền văn hóa chính trị, bắt đầu bằng tục xưng thần của Triệu Đà và tiếp nữa bằng việc “nhận họ” của Hồ Quý Ly”.

Khảo sử: Cửu Chân

5 phản hồi

Cửu Chân là khái niệm Xích đạo trong cổ thư?

Trương Thái Du

Theo Sử Ký của Tư Mã Thiên, sau khi xâm lăng Nam Việt, Hán Vũ đế lấy Lĩnh Nam chia thành chín quận. Đến Hán Thư mới chú rõ tên hai quận cực nam là Cửu Chân và Nhật Nam. Đây là văn bản cổ xưa nhất nói đến Cửu Chân và Nhật Nam. Các sách sử ra sau như Thủy Kinh chú viết Triệu Đà đặt tên Cửu Chân, hoặc sử Việt cho rằng Cửu Chân là một tên gọi có từ thời Hùng Vương, e rằng thiếu căn cứ.

Chữ Cửu ít nhất có ba lần nằm trong địa danh cổ phía ngoài trung lưu Hoàng Hà, nơi phát tích của văn minh Hoa Hạ, đó là Cửu Nghi (九嶷, dãy núi phía nam Trường Giang), Cửu Châu (九州, một đảo chính gần lục địa Á Đông nhất của Nhật Bản) và Cửu Chân (九真). Cửu trong Cửu Nghi và Cửu Châu xưa nay đều được hiểu là (số) Chín. Riêng Cửu Chân thì sử học lưỡng lự, không hiểu nó mang nghĩa gì. Có ý kiến cho rằng Chân ở đây nói về khái niệm “chân nhân – lão tiên” trong Đạo giáo.

Là một người đi biển, có chút ít kiến thức thiên văn thực hành, tôi nghiệm ra rằng ba địa danh ở trên có liên quan đến thiên văn, cụ thể nó là hệ quả của quá trình quan sát mặt trời trong hằng ngàn năm của người Trung Hoa cổ. Có thể tin rằng một trong những nghĩa của từ Cửu là (mặt) trời. Thuyết văn (quyển tự điển từ thời Đông Hán) chú giải: “Cửu là chữ Dương (mặt trời) biến ra”. Số Chín là ngôi cao nhất thường được gán cho vua chúa, dân gian có Chín tầng trời. Số Chín từng biểu trưng cho vua (thiên tử) thì cũng không phải không có khả năng nó tượng trưng cho trời, mang nghĩa khác là mặt trời.

Tại vùng Hoa Bắc mặt trời mọc chếch ở hướng Đông nam và lặn xiên qua phía Tây nam. Để nhìn thấy mặt trời ở bất cứ thời điểm ban ngày nào, trừ một số ít ngày trước và sau Hạ chí, cơ bản người ta phải quay mặt về phương Nam. Việc đồng hóa vua là con (mặt) trời có lẽ xuất phát từ tục thờ mặt trời phổ biến ở bất cứ nền văn minh nào trên quả đất. Do đó dẫn tới các qui chế hành lễ như vua quay về hướng nam tế trời, ngồi nghe chầu, huyệt mộ hoàng đế mở cửa phía nam .v.v..

Mặt trời chuyển động tương đối xung quanh quả đất theo hai qui luật: Hằng ngày là từ Đông sang Tây, hằng năm thì từ Nam chí tuyến đến Bắc chí tuyến và ngược lại.

Rõ ràng hằng ngày mặt trời với người Trung Quốc dường như mọc từ hòn đảo Cửu Châu, nước Nhật. Nếu ta áp nghĩa Cửu là mặt trời ở đây thì sẽ bật ra sự thống nhất xuyên suốt trong nội hàm tên gọi nước Nhật: Cửu Châu (xứ sở của mặt trời) = Nhật Bản (gốc của mặt trời) = Phù Tang (Theo truyền thuyết cổ phương Đông có cây dâu rỗng lòng gọi là Phù Tang hay Khổng Tang, là nơi thần Mặt Trời nghỉ ngơi trước khi cưỡi xe lửa du hành ngang qua bầu trời từ Đông sang Tây, do đó Phù Tang hàm nghĩa văn chương chỉ nơi Mặt trời mọc).

Từ đó ta sẽ cảm thấy có lý nếu cho rằng từ qui luật chuyển động hằng năm của mặt trời, trên hướng nam tính từ các kinh đô cổ Trung Quốc, sẽ xuất hiện ít nhất hai mốc mang nghĩa “gốc của mặt trời”. Tôi luận “ít nhất hai mốc” ở đây là vì, khác với hướng Đông (đi qua Cửu Châu) văn minh Hoa Hạ luôn tiến về phía nam, càng ngày càng hiểu hơn vùng đất phương nam thì các “gốc của mặt trời” có thể cũng dịch chuyển và thay đổi để chính xác hơn.

Trước tiên xin xét đến Cửu Nghi (九嶷): Sử Ký chỉ ghi tên, không giải thích. Đến thời Ngụy (Tam quốc) sách Tập giải Hoàng Lãm cho rằng dãy núi này có chín dòng suối giống nhau nên gọi là Cửu Nghi. Sau nữa đến Thủy Kinh chú thì bảo núi có chín ngọn nên mang danh Cửu Nghi. Thử hỏi một dãy núi ngăn cách cả vùng Lĩnh Nam với phía bắc thì có thể đếm được mấy con suối, mấy đỉnh nhọn? Sự mâu thuẫn này phải chăng xuất hiện do lỗ hổng kiến thức của các tác giả chú giải? Từ Nghi trong Cửu Nghi bỏ đi chữ “núi” trên đầu vẫn đọc là Nghi () nghĩa là ngờ vực, nghi hoặc. Tôi cho rằng những vị quan xem thiên văn, ghi chép sự di chuyển mặt trời hằng năm ở Hoa bắc trước Tư Mã Thiên, vì chưa có dịp đến thực địa ở phương nam, đã nghi ngờ rằng “gốc mặt trời” ở đâu đó sau dãy núi này.

Dẫn luận ấy sẽ làm rõ nghĩa một cách hoàn hảo từ Cửu Chân, mặc dù bản thân Cửu Chân hoàn toàn có thể đứng riêng để biểu thị “gốc mặt trời” vì Chân mang một nghĩa rất rõ ràng là Gốc (qui chân là trở về gốc).

***

Tóm lại, nếu dùng một số kiến thức thiên văn cơ bản cùng với khả năng chỉ mặt trời của chữ Cửu, ta có thể đưa ra một số kết luận bất ngờ sau đây: Trong ngôn ngữ Trung Hoa cổ đại, Cửu Châu mang nghĩa là gốc của mặt trời theo qui luật chuyển động hằng ngày và Cửu Chân chính là gốc của mặt trời theo qui luật chuyển động hằng năm. Cửu Châu, Cửu Nghi và Cửu Chân xuất phát đều là những tên gọi định tính, ước đoán và hoàn toàn là khái niệm. Sau này các khái niệm chuyển đổi mục đích sử dụng thành địa danh, cộng với những đứt đoạn kiến thức trong xã hội, phải chăng người ta đã đánh mất ý nghĩa ban đầu của chúng?

Nếu thiên văn học hiện đại xem “gốc mặt trời” hằng năm là vị trí mặt trời trên xích đạo vào ngày Thu phân và Xuân phân thì Cửu Chân chính là Xích đạo, trong khả năng chính xác còn hạn chế của thiên văn Trung Hoa cách đây hơn 2000 năm. Bằng chứng là sau khái niệm Cửu Chân đã rất gần với thiên văn học hiện đại (chỉ sai lệch trong khoảng 15 đến 18 độ vĩ, vì rằng khu vực bắc trung
bộ Việt Nam từng được xác định là Cửu Chân), ta còn có khái niệm Nhật Nam
(日南)tiếp nối. Nhật Nam chính là (vùng đất) phía nam mặt trời, nơi các sử quan Trung Hoa đoán con người khi xây nhà phải quay cửa về hướng bắc để đón ánh mặt trời (Sử Ký), không như nguyên tắc phổ thông ở Hoa Bắc. Ngày nay ta thấy những vùng đất ấy là ở phía nam châu Phi, Nam Mỹ hoặc châu Úc. Nói cách khác Nhật Nam tương đương với khái niệm Bán cầu nam trong thiên văn hiện đại.

Kết hợp kiến thức thiên văn với văn hóa, cũng như lối ký âm Lĩnh Nam bằng Hán tự, tôi cũng đã bước đầu đề nghị một vài cách hiểu các thuật ngữ cổ sử Việt Nam như Giao Chỉ, Âu Lạc, Tượng Quận. Những vấn đề này xin hẹn bạn đọc trong bài báo sau. Chỉ mong hướng đi này sẽ được các nhà khảo sử chuyên nghiệp tham khảo và phản biện, hầu góp phần khai mở những góc hẹp chưa sáng tỏ trong các trang sử nước nhà.

Box minh họa: Hình trên mô tả chuyển động tương đối hằng năm giữa mặt trời và trái đất. Đường Hoàng đạo (Ecliptic) là tập hợp vị trí mặt trời mọc thay đổi hằng ngày trong chu kỳ một năm. Mặt phẳng chứa đường Hoàng đạo tạo thành một góc 23 độ rưỡi với mặt phẳng xích đạo (Celestial equator). Hai mặt phẳng này giao nhau tại đường thẳng nối điểm Xuân phân (Vernal equinox) và Thu phân (Autumnal equinox). Khi mặt trời đi đến điểm Hạ chí, ở bắc bán cầu mặt trời giữa trưa nằm trên đỉnh đầu người quan sát tại vĩ độ 23 độ rưỡi (vĩ tuyến 23 độ rưỡi gọi là Bắc chí tuyến, nó đi qua thành phố Quảng Châu tức Phiên Ngung trong Sử Ký). Mặt phẳng xích đạo (Celestial equator) chia trái đất làm hai nửa là Bán cầu bắc và Bán cầu nam.

Chữ Cửu trong kinh điển: Tên gọi Cửu Chân xuất hiện lần đầu tiên trong Hán Thư. Hán Thư dùng chữ Hán thế kỷ thứ I, vì gia tộc họ Ban (Ban Bưu, Ban Cố, Ban Chiêu) biên soạn Hán Thư đều sinh ra, lớn lên và mất đi trong thế kỷ này. Thuyết Văn giải tự, quyển tự điển chữ Hán đầu tiên của Hứa Thận bắt đầu được viết vào năm 100. Cho nên có thể kết luận không có sự lệch pha đáng kể nào trong ngôn ngữ của Hán Thư và Thuyết Văn.

Hán Vũ đế đặt tên chín quận phía nam, trong đó có Cửu Chân vào năm Nguyên Phong nguyên niên (110 TCN). Không lâu sau đó, học giả Lưu Hướng (77 TCN – 6 TCN) đã sưu tầm, biên soạn, dẫn dịch và hiệu đính các trước tác của Khuất Nguyên. Tôi nhắc đến Khuất Nguyên vì trong các tác phẩm của ông do Lưu Hướng khảo dẫn, chữ Cửu xuất hiện tương đối dày đặc: Cửu ca, Cửu chương, Cửu biện, Cửu hoài, Cửu thán, Cửu tư… Chỉ duy nhất tập Cửu chương là có Chín bài thơ (chín chương), còn các tựa khác mang chữ Cửu có vẻ gần gũi với chữ Thiên trong bài thơ Thiên Vấn của Khuất Nguyên hơn. Như một hệ quả tất yếu, chúng tôi cũng tìm thấy từ Cửu Châu trong bài Thiên Vấn của Khuất Nguyên:

九州安錯 川穀何洿
東流不溢 孰知其故

(Âm Hán Việt: Cửu châu an thác / Xuyên cốc hà ô / Đông lưu bất dật / Thục tri kỳ cố).

Cửu Châu ở đây nghĩa là Chín Châu tạo nên Trung Nguyên, một cơ sở địa lý Hoa Hạ thời Xuân thu – Chiến quốc. Cho nên trong từ Cửu Châu của người Nhật, ít khả năng Cửu lại là (số) Chín.

Lưu ý đặc biệt ở đây là, các tác phẩm của Khuất Nguyên bằng chữ Hán chắc chắn là bản dịch từ ngôn ngữ nước Sở, chúng được gọi chung là Sở từ cũng vì lý do ấy. Vậy, chữ Cửu của Lưu Hướng và của Hán Vũ đế có tương quan nào với nhau hay không, có khía cạnh nào đó chỉ Trời như định nghĩa của Thuyết văn sau này hay không, là một câu hỏi thú vị cần giải đáp. Sử dụng cả ba nghĩa hướng của chữ Cửu là (số) Chín, Trời (thiên), Vua (thiên tử) trong Sở Từ , ta sẽ thấy sự thống nhất và mạch lạc trong nhiều tầng ẩn dụ của tư tưởng và tình cảm Khuất Nguyên.

Thảo Điền

2.2009

Entry cuối vì Yahoo chuối?

13 phản hồi

Hai tin này có liên quan với nhau không?

1. Mỹ đưa tàu chiến đến biển đông.

2. Trung Quốc lo ngại về sự an toàn của trái phiếu Mỹ.

Chỉ qua blast thôi, đã thấy không ít người vui mừng, phấn khởi với diễn biến mới ở biển đông.

Ôi, những niềm vui bế tắc và luôn ở bên ngoài nội lực mảnh đất hình chữ S này. Tội nghiệp!

Có những thế hệ đã từng mong Nga – Trung đánh Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng, chưa rút ra bài học gì sao?

Chẳng lẽ vì biển đông, ai đó đang muốn Mỹ đánh Trung Quốc đến người Việt Nam cuối cùng? Đê tiện đến thế ư!

****

Đọc bao nhiêu tiểu thuyết về thời kỳ Đại nhảy vọt và Đại văn cách ngu muội của TQ, nhớ lại người Nhật từng đâm đầu tự tử vào Trân Châu Cảng, tôi bỗng thấy việc Trung – Mỹ choảng nhau trên biển đông không phải không có khả năng xảy ra. Bọn chính trị gia cuồng vĩ ở mảnh đất Á Đông này chưa bao giờ tuyệt tự cả!

Chỉ thương những cái đầu trẻ con đang rừng rực khí thế “dựa dẫm” chú Sam cao bồi. Bọn “chậm lớn” trí não, dù từng nếm bơ thừa sữa cặn và “quả lừa” đồng minh của quân viễn chinh Mỹ, hài đến không thể tả!

Chiến tranh ư? Mỹ đánh TQ xong sẽ “kính mời” Việt Nam Hoàng Sa và Trường Sa ư? Căn cứ vào đâu để bảo Mỹ sẽ không “kính mời” thêm Philippine, Malaysia, Indonesia, Brunei cho nó đông vui… hao?

Mỹ đánh xong Trung Quốc nó sẽ “kính mời” cả lục địa Á Đông và Đông Nam Á này ít ra là nửa thế kỷ đói rách, giải quyết hậu quả. Nhá !

Mỹ đánh xong TQ, nó sẽ “kính mời” mảnh đất hình chữ S những cơn bão phóng xạ, có tâm là căn cứ tàu ngầm hạt nhân Hải Nam, cách bờ biển Thanh Hóa 200km. Nhá!

——–

À, đúng như tôi hy vọng. Những trí thức Việt Nam có giá trị, có tên tuổi, nhưng nhiều khi chưa nổi tiếng (hoặc không thèm khoe khoang là ta nổi tiếng) chuẩn bị lên tiếng về Ma Chiến Hữu. Sắp tới sẽ có khối chuyện vui. Bà con nhớ đón xem…

Older Entries