Đế đạo, nhược tiểu và con đường hòa bình…

7 Comments

Nhiều lần tôi tự hỏi mặc cảm nước nhỏ / nhược tiểu của người Việt Nam không rõ manh nha từ thời điểm nào trong lịch sử. Thiên “Lịch sinh, Lục Giả” trong Sử ký thuật lại câu chuyện giữa Triệu Đà và Lục Giả: “Triệu Đà lại hỏi: “Ta với Hán đế nhà Hán ai giỏi hơn?”. Lục Giả nói: “Hoàng đế nhà Hán nối nghiệp Ngũ Đế, Tam Vương, thống trị cả Trung Quốc, đất hàng muôn dặm, chính quyền ở tay một nhà, nhà vua ở góc bể, sao dám ví với nhà Hán?”. Triệu Đà nói rằng: “Ta giận rằng không khởi binh ở Trung Quốc, nên phải làm vua ở đất này. Sao lại vội bảo ta không bằng nhà Hán?”.

Qua đến thời Lý, theo Việt sử tiêu án, Thái Tông hỏi quần thần: “Tiên đế thăng hà đã 16 năm nay, nước Chiêm Thành chưa có cho một sứ thần nào sang nước ta, có phải là oai đức của Trẫm chưa đến nước ấy, hay là chúng cậy có núi sông hiểm trở đó chăng? Quần thần thưa: “Đức tuy đã có đến chúng mà oai chưa được rộng”. Năm Giáp Thân 1044, để ra oai, Thái Tông thân chinh đánh Chiêm Thành và thu được thắng lợi vang dội.

Tự Triệu, Đinh, Lý, Trần (theo niên biểu của Nguyễn Trãi trong Bình Ngô đại cáo), đến Lê, Tây Sơn, Nguyễn, nước Việt nhiều lần dùng từ Đại cho quốc danh của mình, tuy mạnh yếu mỗi thời một khác nhưng chưa bao giờ nao núng nếu phải đương đầu với Hán, Tống, Nguyên, Minh, Thanh. Họ từng bá chủ khu vực Đông Dương.

Phải chăng chỉ đến khi tiếp xúc với văn minh phương Tây, bị người Pháp nô thuộc, mặc cảm thua thiệt và hèn kém đã khiến tâm hồn dân tộc Việt xuất hiện tư tưởng nhược tiểu?

Năm 1975, Mỹ rút khỏi chiến trường Đông Dương. Được hà hơi tiếp sức bởi chiến thắng 30.4, người Việt Nam đột ngột dứt bỏ mặc cảm nhược tiểu và toan đi tìm những vinh quang cũ trong lịch sử. Tuy nhiên thời đã khác, trật tự thế giới cũng đã khác. Hàng thập kỷ đói nghèo và bị cô lập sau đó lại kéo người Việt Nam trở về nỗi niềm nước nhỏ.

*

Đọc đến đây, không ít độc giả cũng như tôi đã thấy dần hiện lên một từ cũ mà nhà cầm quyền Bắc Kinh từng gán gọi Việt Nam cách nay ba mươi năm: “Tiểu bá”. Phản đề của “Tiểu bá” chính là “Đại bá”, là tham vọng muôn đời nay của các tập đoàn chính trị phương Bắc. Có lẽ tôi lại phải chấp nhận bị “ném đá” ở đâu đó, trước sự xét nét tiêu cực của ai đấy sau khi bài viết này được công bố. Riêng với lý tính mà nói, đây là một từ ngữ không thích hợp để dùng song song với nhược tiểu, nhằm phân tích thấu đáo những uẩn khúc trong tâm hồn dân tộc Việt Nam, thử xem nó tác động như thế nào đến vận mệnh đất nước hôm qua, hôm nay và mai sau, trong bối cảnh khu vực phức tạp hiện thời. Tôi không đủ lãng mạn và thỏa hiệp để tìm kiếm và chấp nhận những thi tứ đại loại như “Từ thuở mang gươm đi mở cõi…”. Theo Sử ký, Triệu Đà làm vua Nam Việt ngoài mặt xưng vương với nhà Hán nhưng trong nước vẫn dùng đế hiệu. Minh chứng rõ ràng nhất là chiếc ấn “Văn đế hành tỉ” của cháu nội Triệu Đà xuất lộ từ năm 1983 tại Quảng Châu. Hơn nữa, suốt chiều dài lịch sử, các triều đại Đại Việt đã liên tục thực thi chính sách kia của Triệu Đà. Cho nên trong khuôn khổ ở đây, xin được dùng từ “Đế đạo” bên cạnh “Nhược tiểu” như hai mặt của một vấn đề, hai thái cực đã cộng sinh trong thực thể chính trị – văn hóa Việt Nam hàng thế kỷ nay.

Thực sự chủ đề này bản thân tôi đã nghiền ngẫm khá lâu, hôm 17.3.2009, lại nghe một ý kiến phát biểu trong hội thảo về Trường Sa và Hoàng Sa tại Hà Nội, đại ý: “Trung Quốc sẽ gây hấn, xâm chiếm Trường Sa khi họ đã ‘nắm’ được Lào”. Tôi nhìn nhận tính thực tế của nhận định ấy nhưng vẫn áy náy bởi nền tảng tư duy của nó. Gốc rễ của lập luận trên phải chăng xuất phát từ quan điểm phải gây dựng ảnh hưởng khu vực mạnh mẽ nhằm bảo vệ chủ quyền cũng như biển đảo của dân tộc Việt Nam? Nếu vậy nó sẽ trượt trở về vòng xoáy luẩn quẩn, nơi các giá trị đế đạo/nhược tiểu nhiều lần đổi chỗ cho nhau, trong các quyết sách chính trị Việt Nam suốt thế kỷ hai mươi.

Xin nêu ví dụ về chính thể Sài Gòn trước 1975: Từ chính sách đế đạo bắc phạt của Ngô Đình Diệm không được Mỹ ủng hộ, lập tức phương kế nhược tiểu được thực thi bằng việc giao khoán chiến tranh cho Hoa Kỳ. Kết quả là chế độ ấy đã sụp đổ nhanh chóng, ngoài sức tưởng tượng của nhiều người. Lạ là, hơn ba mươi năm đất nước Việt Nam bị chia cắt, chưa bao giờ hòa bình có đủ cơ hội để gây ảnh hưởng.

*

Việc cắm mốc giới đất liền Việt – Trung trùng kỷ niệm 30 năm chiến tranh biên giới Việt – Trung, tiếp theo là những diễn biến phức tạp trên Biển Đông với các yếu tố bổ trợ như tàu quân sự Mỹ thám sát biển, Philippine vẽ đường cơ sở, khiến cho dư luận xã hội Việt Nam hừng hực suy tư vận mệnh tổ quốc. Người Việt đang chứng minh họ có lòng yêu nước hiếm gặp trên thế giới. Song le, tôi vẫn thấy rõ rệt hai khuynh hướng đế đạo và nhược tiểu trong các luồng dư luận.

Đế đạo: Không ngừng tô vẽ hận thù. Cổ xúy đối kháng, kích động đám đông từ một quyển tiểu thuyết đậm chất nhân văn như Ma chiến hữu trở đi.

Nhược tiểu: Tự ý thức thất thế, ra điều tìm kiếm chỗ dựa dẫm. Hồ hởi với sự xuất hiện của tàu Mỹ. Phóng đại thua thiệt của nhà nước Việt Nam trên bàn đàm phán biên giới đất liền[1].

Là một người dân sống trên mảnh đất Việt Nam tôi luôn tự hỏi tại sao hoàn toàn vắng bóng những ý tưởng thiên về đối thoại và những giải pháp hòa bình? Tôi vẫn biết nếu không có các vấn đề Biển Đông giữa Việt Nam và Trung Quốc thì hòa bình thật dễ dàng. Hòa bình chưa bao giờ mang nghĩa nhu nhược. Hòa bình là giá trị tối cao của những quốc gia vừa mạnh mẽ, vừa văn minh. Biết sức mạnh thực sự của mình đến đâu không phải là cái biết dễ dàng. Cho nên mới có câu “Biết người biết ta, trăm trận trăm thắng”. Hòa bình luôn là một chiến thắng vinh quang nhất cho nhân dân bất cứ một quốc gia nào. Xin hãy tham khảo cách mà những nước nhỏ ở Âu châu đã tránh chiến tranh thế giới thứ I và thứ II. Xin hãy tham khảo cách mà người Canada và người Mexico sống cạnh Mỹ. Và cũng xin tham khảo luôn hòn đảo Cuba XHCN nghèo nàn, lạc hậu và độc tài ngoài khơi Hoa Kỳ.

Tôi rất buồn khi thấy nhiều cựu chiến binh chưa nghiệm hết cay đắng trong đáp từ của một lãn
h tụ Thái Lan, khi nghe tả niềm tự hào chiến thắng các đế quốc lớn của người Việt Nam: “Người Thái tự hào vì chưa phải đánh nhau với cường quốc nào”!

Con đường đi đến hòa bình bằng đối kháng luôn là con đường dài nhất, hao tổn nguyên khí quốc gia vào bậc nhất. Hòa bình không phải hành động phi tự vệ. Người Việt Nam hoàn toàn có thể vừa suy tư về hòa bình, vừa kiên quyết bảo vệ những vùng biển cha ông mình đã khám phá và khai thác bằng công lý, lẽ phải, bằng nỗ lực tự cường nội tại. Tôi không hiểu bằng cách nào mà lãnh tụ Hồ Chí Minh đã khiến Mao Trạch Đông dặn dò đoàn cố vấn kháng Pháp trước khi sang Việt Nam: “Sau khi đến Việt Nam, các đồng chí phải nói với họ, tổ tông xưa chúng tôi ức hiếp các đồng chí, chúng tôi tạ tội xin lỗi các đồng chí và một lòng một dạ giúp đỡ các đồng chí đánh bại bọn thực dân Pháp[2].

Kích động hận thù giữa những dân tộc, giữa những nền văn hóa lúc nào cũng là tội ác đáng khinh bỉ. Với hận thù, người ta chỉ còn lại sự mù quáng, chỉ còn mỗi con đường tự đưa mình vào tròng tai họa, để tự sướng về tiên liệu thần thánh. Sự mù quáng không bao giờ khải giác được rằng chính hận thù đã là tai họa.

Thảo Điền

Tháng 3.2009

© 2009 talawas


[1] Khi viết câu này, tôi đã dè dặt tham khảo rất kỹ tài liệu “Tranh chấp biên giới Việt – Hoa” của CIA Mỹ năm 1979, được bạch hóa một phần năm 2002, do nhà báo Vũ Quý Hạo Nhiên dịch và giới thiệu trên báo Viet Tide ở Hoa Kỳ và trên blog của ông vừa rồi. Ít nhất chúng ta cũng có thể rút ra kết luận rằng, việc đơn phương xác định chủ quyền của Việt Nam năm 1979 tại nhiều khu vực không được Pháp – Thanh dựng cột mốc là thiếu khôn ngoan. Do đó rất khó tìm ra căn cứ để khẳng định chắc chắn sự mất đất của Việt Nam sau hiệp ước biên giới 1999. Tâm trạng chung của dư luận là dường như Việt Nam không thể kém cạnh Campuchia và Lào khi cắm mốc, nhưng chắc chắn sẽ bị thiệt với Tàu, vì chính cảm giác nhược tiểu.

[2] [http://www.diendan.org/the-gioi/hoi-ki-co-van-trung-quoc-2/] Hồi ký cố vấn Trung Quốc, Dương Danh Dy dịch.

Khảo sử: Cửu Chân

5 Comments

Cửu Chân là khái niệm Xích đạo trong cổ thư?

Trương Thái Du

Theo Sử Ký của Tư Mã Thiên, sau khi xâm lăng Nam Việt, Hán Vũ đế lấy Lĩnh Nam chia thành chín quận. Đến Hán Thư mới chú rõ tên hai quận cực nam là Cửu Chân và Nhật Nam. Đây là văn bản cổ xưa nhất nói đến Cửu Chân và Nhật Nam. Các sách sử ra sau như Thủy Kinh chú viết Triệu Đà đặt tên Cửu Chân, hoặc sử Việt cho rằng Cửu Chân là một tên gọi có từ thời Hùng Vương, e rằng thiếu căn cứ.

Chữ Cửu ít nhất có ba lần nằm trong địa danh cổ phía ngoài trung lưu Hoàng Hà, nơi phát tích của văn minh Hoa Hạ, đó là Cửu Nghi (九嶷, dãy núi phía nam Trường Giang), Cửu Châu (九州, một đảo chính gần lục địa Á Đông nhất của Nhật Bản) và Cửu Chân (九真). Cửu trong Cửu Nghi và Cửu Châu xưa nay đều được hiểu là (số) Chín. Riêng Cửu Chân thì sử học lưỡng lự, không hiểu nó mang nghĩa gì. Có ý kiến cho rằng Chân ở đây nói về khái niệm “chân nhân – lão tiên” trong Đạo giáo.

Là một người đi biển, có chút ít kiến thức thiên văn thực hành, tôi nghiệm ra rằng ba địa danh ở trên có liên quan đến thiên văn, cụ thể nó là hệ quả của quá trình quan sát mặt trời trong hằng ngàn năm của người Trung Hoa cổ. Có thể tin rằng một trong những nghĩa của từ Cửu là (mặt) trời. Thuyết văn (quyển tự điển từ thời Đông Hán) chú giải: “Cửu là chữ Dương (mặt trời) biến ra”. Số Chín là ngôi cao nhất thường được gán cho vua chúa, dân gian có Chín tầng trời. Số Chín từng biểu trưng cho vua (thiên tử) thì cũng không phải không có khả năng nó tượng trưng cho trời, mang nghĩa khác là mặt trời.

Tại vùng Hoa Bắc mặt trời mọc chếch ở hướng Đông nam và lặn xiên qua phía Tây nam. Để nhìn thấy mặt trời ở bất cứ thời điểm ban ngày nào, trừ một số ít ngày trước và sau Hạ chí, cơ bản người ta phải quay mặt về phương Nam. Việc đồng hóa vua là con (mặt) trời có lẽ xuất phát từ tục thờ mặt trời phổ biến ở bất cứ nền văn minh nào trên quả đất. Do đó dẫn tới các qui chế hành lễ như vua quay về hướng nam tế trời, ngồi nghe chầu, huyệt mộ hoàng đế mở cửa phía nam .v.v..

Mặt trời chuyển động tương đối xung quanh quả đất theo hai qui luật: Hằng ngày là từ Đông sang Tây, hằng năm thì từ Nam chí tuyến đến Bắc chí tuyến và ngược lại.

Rõ ràng hằng ngày mặt trời với người Trung Quốc dường như mọc từ hòn đảo Cửu Châu, nước Nhật. Nếu ta áp nghĩa Cửu là mặt trời ở đây thì sẽ bật ra sự thống nhất xuyên suốt trong nội hàm tên gọi nước Nhật: Cửu Châu (xứ sở của mặt trời) = Nhật Bản (gốc của mặt trời) = Phù Tang (Theo truyền thuyết cổ phương Đông có cây dâu rỗng lòng gọi là Phù Tang hay Khổng Tang, là nơi thần Mặt Trời nghỉ ngơi trước khi cưỡi xe lửa du hành ngang qua bầu trời từ Đông sang Tây, do đó Phù Tang hàm nghĩa văn chương chỉ nơi Mặt trời mọc).

Từ đó ta sẽ cảm thấy có lý nếu cho rằng từ qui luật chuyển động hằng năm của mặt trời, trên hướng nam tính từ các kinh đô cổ Trung Quốc, sẽ xuất hiện ít nhất hai mốc mang nghĩa “gốc của mặt trời”. Tôi luận “ít nhất hai mốc” ở đây là vì, khác với hướng Đông (đi qua Cửu Châu) văn minh Hoa Hạ luôn tiến về phía nam, càng ngày càng hiểu hơn vùng đất phương nam thì các “gốc của mặt trời” có thể cũng dịch chuyển và thay đổi để chính xác hơn.

Trước tiên xin xét đến Cửu Nghi (九嶷): Sử Ký chỉ ghi tên, không giải thích. Đến thời Ngụy (Tam quốc) sách Tập giải Hoàng Lãm cho rằng dãy núi này có chín dòng suối giống nhau nên gọi là Cửu Nghi. Sau nữa đến Thủy Kinh chú thì bảo núi có chín ngọn nên mang danh Cửu Nghi. Thử hỏi một dãy núi ngăn cách cả vùng Lĩnh Nam với phía bắc thì có thể đếm được mấy con suối, mấy đỉnh nhọn? Sự mâu thuẫn này phải chăng xuất hiện do lỗ hổng kiến thức của các tác giả chú giải? Từ Nghi trong Cửu Nghi bỏ đi chữ “núi” trên đầu vẫn đọc là Nghi () nghĩa là ngờ vực, nghi hoặc. Tôi cho rằng những vị quan xem thiên văn, ghi chép sự di chuyển mặt trời hằng năm ở Hoa bắc trước Tư Mã Thiên, vì chưa có dịp đến thực địa ở phương nam, đã nghi ngờ rằng “gốc mặt trời” ở đâu đó sau dãy núi này.

Dẫn luận ấy sẽ làm rõ nghĩa một cách hoàn hảo từ Cửu Chân, mặc dù bản thân Cửu Chân hoàn toàn có thể đứng riêng để biểu thị “gốc mặt trời” vì Chân mang một nghĩa rất rõ ràng là Gốc (qui chân là trở về gốc).

***

Tóm lại, nếu dùng một số kiến thức thiên văn cơ bản cùng với khả năng chỉ mặt trời của chữ Cửu, ta có thể đưa ra một số kết luận bất ngờ sau đây: Trong ngôn ngữ Trung Hoa cổ đại, Cửu Châu mang nghĩa là gốc của mặt trời theo qui luật chuyển động hằng ngày và Cửu Chân chính là gốc của mặt trời theo qui luật chuyển động hằng năm. Cửu Châu, Cửu Nghi và Cửu Chân xuất phát đều là những tên gọi định tính, ước đoán và hoàn toàn là khái niệm. Sau này các khái niệm chuyển đổi mục đích sử dụng thành địa danh, cộng với những đứt đoạn kiến thức trong xã hội, phải chăng người ta đã đánh mất ý nghĩa ban đầu của chúng?

Nếu thiên văn học hiện đại xem “gốc mặt trời” hằng năm là vị trí mặt trời trên xích đạo vào ngày Thu phân và Xuân phân thì Cửu Chân chính là Xích đạo, trong khả năng chính xác còn hạn chế của thiên văn Trung Hoa cách đây hơn 2000 năm. Bằng chứng là sau khái niệm Cửu Chân đã rất gần với thiên văn học hiện đại (chỉ sai lệch trong khoảng 15 đến 18 độ vĩ, vì rằng khu vực bắc trung
bộ Việt Nam từng được xác định là Cửu Chân), ta còn có khái niệm Nhật Nam
(日南)tiếp nối. Nhật Nam chính là (vùng đất) phía nam mặt trời, nơi các sử quan Trung Hoa đoán con người khi xây nhà phải quay cửa về hướng bắc để đón ánh mặt trời (Sử Ký), không như nguyên tắc phổ thông ở Hoa Bắc. Ngày nay ta thấy những vùng đất ấy là ở phía nam châu Phi, Nam Mỹ hoặc châu Úc. Nói cách khác Nhật Nam tương đương với khái niệm Bán cầu nam trong thiên văn hiện đại.

Kết hợp kiến thức thiên văn với văn hóa, cũng như lối ký âm Lĩnh Nam bằng Hán tự, tôi cũng đã bước đầu đề nghị một vài cách hiểu các thuật ngữ cổ sử Việt Nam như Giao Chỉ, Âu Lạc, Tượng Quận. Những vấn đề này xin hẹn bạn đọc trong bài báo sau. Chỉ mong hướng đi này sẽ được các nhà khảo sử chuyên nghiệp tham khảo và phản biện, hầu góp phần khai mở những góc hẹp chưa sáng tỏ trong các trang sử nước nhà.

Box minh họa: Hình trên mô tả chuyển động tương đối hằng năm giữa mặt trời và trái đất. Đường Hoàng đạo (Ecliptic) là tập hợp vị trí mặt trời mọc thay đổi hằng ngày trong chu kỳ một năm. Mặt phẳng chứa đường Hoàng đạo tạo thành một góc 23 độ rưỡi với mặt phẳng xích đạo (Celestial equator). Hai mặt phẳng này giao nhau tại đường thẳng nối điểm Xuân phân (Vernal equinox) và Thu phân (Autumnal equinox). Khi mặt trời đi đến điểm Hạ chí, ở bắc bán cầu mặt trời giữa trưa nằm trên đỉnh đầu người quan sát tại vĩ độ 23 độ rưỡi (vĩ tuyến 23 độ rưỡi gọi là Bắc chí tuyến, nó đi qua thành phố Quảng Châu tức Phiên Ngung trong Sử Ký). Mặt phẳng xích đạo (Celestial equator) chia trái đất làm hai nửa là Bán cầu bắc và Bán cầu nam.

Chữ Cửu trong kinh điển: Tên gọi Cửu Chân xuất hiện lần đầu tiên trong Hán Thư. Hán Thư dùng chữ Hán thế kỷ thứ I, vì gia tộc họ Ban (Ban Bưu, Ban Cố, Ban Chiêu) biên soạn Hán Thư đều sinh ra, lớn lên và mất đi trong thế kỷ này. Thuyết Văn giải tự, quyển tự điển chữ Hán đầu tiên của Hứa Thận bắt đầu được viết vào năm 100. Cho nên có thể kết luận không có sự lệch pha đáng kể nào trong ngôn ngữ của Hán Thư và Thuyết Văn.

Hán Vũ đế đặt tên chín quận phía nam, trong đó có Cửu Chân vào năm Nguyên Phong nguyên niên (110 TCN). Không lâu sau đó, học giả Lưu Hướng (77 TCN – 6 TCN) đã sưu tầm, biên soạn, dẫn dịch và hiệu đính các trước tác của Khuất Nguyên. Tôi nhắc đến Khuất Nguyên vì trong các tác phẩm của ông do Lưu Hướng khảo dẫn, chữ Cửu xuất hiện tương đối dày đặc: Cửu ca, Cửu chương, Cửu biện, Cửu hoài, Cửu thán, Cửu tư… Chỉ duy nhất tập Cửu chương là có Chín bài thơ (chín chương), còn các tựa khác mang chữ Cửu có vẻ gần gũi với chữ Thiên trong bài thơ Thiên Vấn của Khuất Nguyên hơn. Như một hệ quả tất yếu, chúng tôi cũng tìm thấy từ Cửu Châu trong bài Thiên Vấn của Khuất Nguyên:

九州安錯 川穀何洿
東流不溢 孰知其故

(Âm Hán Việt: Cửu châu an thác / Xuyên cốc hà ô / Đông lưu bất dật / Thục tri kỳ cố).

Cửu Châu ở đây nghĩa là Chín Châu tạo nên Trung Nguyên, một cơ sở địa lý Hoa Hạ thời Xuân thu – Chiến quốc. Cho nên trong từ Cửu Châu của người Nhật, ít khả năng Cửu lại là (số) Chín.

Lưu ý đặc biệt ở đây là, các tác phẩm của Khuất Nguyên bằng chữ Hán chắc chắn là bản dịch từ ngôn ngữ nước Sở, chúng được gọi chung là Sở từ cũng vì lý do ấy. Vậy, chữ Cửu của Lưu Hướng và của Hán Vũ đế có tương quan nào với nhau hay không, có khía cạnh nào đó chỉ Trời như định nghĩa của Thuyết văn sau này hay không, là một câu hỏi thú vị cần giải đáp. Sử dụng cả ba nghĩa hướng của chữ Cửu là (số) Chín, Trời (thiên), Vua (thiên tử) trong Sở Từ , ta sẽ thấy sự thống nhất và mạch lạc trong nhiều tầng ẩn dụ của tư tưởng và tình cảm Khuất Nguyên.

Thảo Điền

2.2009

Truyện ngắn Man Đảo

7 Comments

“Đèn dầu đơi… Đèn dầu đơi. Mua dầu khuyến mãi đèn. Ô! Xin lỗi. Mua đèn khuyến mãi dầu!”. Quý rao hàng rất nhiệt tình. Hắn xí xô bằng tiếng Anh như thế này “Oils lamp… Oils lamp. Buy oils get fee lamp. Oh! Sorry. Buy lamp get fee oils…”.

Thổ dân Papua New Guinea vây quanh Quý càng lúc càng đông. Hắn quay mòng mòng bên cửa hàng tạp phẩm dã chiến: một tấm bạt rách bày đủ các thứ từ kim, chỉ, dao cạo râu, búp bê, áo thun, quần short đến đèn dầu. Sự nhạy bén của Quý thật đáng nể. Biết chắc chuyến này tàu được thuê chở gỗ ở các đảo nam Thái Bình Dương về Nhật, Quý đã đánh rất nhiều hàng từ mấy sạp chợ Xóm Chiếu gần cảng Sài Gòn để phục vụ “thượng đế ở trần”.

“Cu con, mày đi đâu đấy?” – Quý gọi giật tôi lại – “Giúp tao bán với, không thì mất hết”.

“Chẳng sao đâu. Tôi cá với anh người ở đây lành lắm. Tôi vào sâu trong bản thăm thú, đổi mì gói lấy con gà tơ và ít rau tươi”.

“Thổ tả!” – Quý rủa – “Mày đã mua mấy xô quặng vàng, không nhớ à?”.

Chuyện đó xảy ra ở cảng Rabaul. Người bản xứ đi thuyền độc mộc có càng chống lắc ra dụ cả tàu mua “quặng vàng”. Họ nhón một ít hạt tơi như cát thả xuống biển. Qua làn nước trong văn vắt, màu vàng lung linh mời gọi ánh mặt trời và tất cả chúng tôi. Không ai bảo ai, thủy thủ Việt Nam dấm dúi thu gom mỗi người mấy xô quặng. Họ bán rẻ như vé số, dại gì không mua một giấc mơ. Nhưng chiêm bao kết thúc quá sớm, khi ông đầu bếp già biết được và cảnh tỉnh. Thời trẻ ông từng học nghề thợ bạc. Ông bảo vàng là kim loại trơ nên nó thường kết thành vẩy vụn gần nguyên chất trong thiên nhiên chứ không thể hòa lẫn với sa thạch.

“Đảo này chưa có điện, họ chưa biết gian xảo đâu. Anh hãy gọi đèn dầu là ánh sáng văn hóa huyền ảo phương Đông cho nó oai. Thế mới kích thích người mua” – Tôi an ủi Quý trước khi hướng về những mái nhà sàn cheo leo nép mình vào vách núi.

***

Khe hở giữa hai ngọn núi nhỏ chồm ra biển là bãi cát đẹp, nơi Quý đang đứng bán hàng. Bờ suối thoai thoải chính giữa dẫn tôi vào ngôi làng của thổ dân nam đảo. Người ở đây da đen bóng, vóc dáng trung bình khá, nam nữ đều tóc xoăn dính chặt đầu. Họ ngụ dưới những mái lá giống như ở Tây Nguyên Việt Nam nhưng đơn giản hơn. Gần như cả làng đã chạy ra mép biển xem hoặc mua hàng.

Trước đây cộng đồng này sống sâu trong rừng, giữa một thung lũng hẹp, dân số chỉ khoảng hai trăm, chia thành vài chục bếp lửa. Ngôn ngữ của họ là một trong tám trăm năm mươi ngôn ngữ bản địa Papua New Guinea. Những người cao niên bảo khoảng năm đời trước, tổ tiên họ thoát ra khỏi cuộc chiến tàn bạo tại một hòn đảo nào đó rất xa. Hành trình vượt biển vô vọng dài dằng dặc, phó mặc cho may rủi trên một dòng hải lưu hiền hòa, đưa đoàn lưu dân đến cửa lạch này.

Lãnh tụ đầy quyền lực của họ là lão thầy cúng gia truyền, suốt đời vun vén lời nguyền mang tên đại dương: biển cả – cánh cửa trá hình của địa ngục, đầy tội ác và bất trắc,

Khi các công ty khai thác lâm sản đa quốc gia tới đây, thầy cúng truyền đời thứ tư đã quyết liệt phản đối, đồng thời cấm tiệt dân bản đi làm thuê. Không có nhân công giá rẻ tại chỗ, tốc độ tàn sát rừng rất chậm, nhiều tháng mới có một tàu biển vừa vừa đến ăn hàng.

Những nhà truyền giáo mắt xanh xuất hiện, mọi sự bắt đầu thay đổi. Quyền lực của thầy cúng bị chúa trời lấn át. Xung đột âm ỉ cháy trong làng. Thòng lọng đã thắt lại khi thầy cúng đánh thuốc độc nguồn nước sinh hoạt, giết hơn nửa đội công nhân đốn gỗ được gửi tới từ thành phố Rabaul, thủ phủ quần đảo. Các nhà lập pháp, hành pháp và tư pháp chung tay bắt bỏ tù gần như toàn bộ đàn ông trong gia tộc thầy cúng. Người ta dỡ làng cũ, dọn đến gần biển để tiện bề đi lại, phục vụ công trường thu gom và phân loại gỗ. Các chuyến tàu ùn ùn buông neo.

***

Tôi bước vào một kiến trúc tre nứa lớn có lẽ mang chức năng như nhà rông ở Việt Nam.

“Xin chào” – Tôi giật mình. Trong góc tối nhất của gian phòng ánh lên màu da trắng xanh trung niên, giọng mũi khọt khẹt y như lão hoa tiêu tôi từng gặp tại cảng Brisbane nước Úc.

“Chào anh” – Tôi nhìn về tấm bảng đen trên vách. Một bài học tiếng Anh vỡ lòng chưa xóa.

“Bọn mày lại đến đây bán rượu hả?”

“Hôm kia canô hải quan tịch thu hết rồi. Riêng tôi thì chẳng liên can. Không phải đạo đức gì, tôi là thủy thủ học việc, chưa rành buôn lậu”. Có lẽ ông ta biết chuyện nhiều thuyền viên trên tàu lén bán rượu Maxime Bình Đông cho công nhân khai thác gỗ.

“Uống nước trà nhé. Trà Papua nấu từ lá rừng” – Williams mời tôi. Thì ra anh ta là giáo viên Anh ngữ của một tổ chức phi chính phủ, đến làng tám tháng nay.

Williams kể anh đang sống giữa một cộng đồng sắc tộc bán khai. Tôi hỏi Williams người ở đây có hiểu khái niệm bán khai là gì không. Hắn trả lời tất nhiên không. Tôi bảo ngôn ngữ của thế giới văn minh tởm lợm và nguy hiểm lắm. Tôi không tin mình đến từ thế giới “bên trên”. Định vị “phía ngoài/vượt khỏi” (beyond), “ở dưới” (below) nền văn minh đang thống trị nhân loại (the reigning civilization) theo cách Williams dùng, hàm chứa một âm mưu, biến kẻ nghe thành con nợ[1].

Williams cười khùng khục. Y bảo nước Úc có hẳn những hội đoàn suốt đời đấu tranh cho tôn chỉ của tôi, thậm chí nó còn mang giá trị triết học và tôn giáo. Y hỏi tôi đọc các tư tưởng ấy trên internet hả? Tôi nói tôi chẳng ở đây nhưng tôi cũng biết, trai gái lớn lên hoang dại. Đến độ tuổi nào đó họ sẽ nhìn vào mắt nhau để quyết định có chung ngủ trên thảm lá rừng không. Thế là thành gia đình, tình yêu. Họ tiến bộ hơn chúng ta. Họ không dùng ngôn ngữ bóng bẩy để lừa phỉnh chăn gối. Họ không đánh giá quần áo, giày dép, địa vị và túi tiền trước hôn nhân.

Williams nói hai bề chiếc lá chẳng bao giờ cùng màu. Hắn nghĩ tiêu chí xem xét một cộng đồng văn minh là nhân phẩm, ý thức của mỗi con người về nhân phẩm, sự lớn mạnh của khuynh hướng bảo vệ nhân phẩm trong tổng hòa các mối quan hệ xã hội. Nếu tôi chỉ nhìn bên dưới chi
ếc lá thì tôi chẳng bao giờ thấy giá trị của mặt trời được chất diệp lục chắt chiu, tinh kết… Pháp luật không thể diệt trừ được cái ác, cũng như nhà tù thường làm con người xấu xa hơn – Williams quả quyết như đinh đóng cột – Xã hội văn minh giúp đỡ sự lương thiện có lợi thế thượng phong. Cái ác không còn thì bói đâu ra quảng tâm.

Tôi không bắt bẻ được lý lẽ của Williams nhưng tôi nói tư duy của hắn xa lạ với nền tảng nhị nguyên phương Tây, nơi đúng/sai, được/mất luôn luôn rạch ròi. Williams bảo tất nhiên bề nổi của văn minh phương Tây là chợ vòm toàn cầu, rặt những con buôn người có máu mặt, hậu duệ của lũ cướp biển/bức sát/xâm lăng/diệt chủng mấy thế kỷ trước.

“Anh biết chứ chưa hiểu, anh bạn à” – Williams thật thà thổ lộ – “Chỉ khi nào anh vượt qua cái biết, xóa bỏ tín điều của thông tin, anh mới bắt đầu hiểu. Chẳng hạn những đứa trẻ phải học rất nhiều để tranh vẽ của chúng mất đi sự non nớt, trong khi các họa sĩ tài danh thì luôn cố gắng giũ bỏ mọi kiến thức để trở về đường nét vụng dại, ngây thơ”.

“Anh từng đọc Lão Tử của Á Đông?” – Tôi hỏi khó Williams – “Cảm ơn anh giúp tôi hiểu ông hơn. Văn minh tất yếu phải phát triển theo chu trình, con người sẽ không phí hoài quá khứ, dù đó là cái ngày hôm qua ăn lông ở lỗ”.

“Cảm giác mất mát tự thân khi sinh hoạt giữa dân chúng hiền hòa nơi đây là có thật. Hãy vào làng chơi đi, anh sẽ trải qua những phút giây sống ra sống khá kì ảo và đáng giá”. Williams chào tạm biệt tôi.

***

Mấy gói mì tôm mang theo, tôi đổi được một con gà giò. Dân chúng thích khẩu vị mì lắm. Họ gọi mì là râmi theo âm Nhật vì mì được người Nhật đem đến đây đầu tiên.

Tôi ngược chiều với hàng đoàn dân làng trở về nhà từ bãi biển. Họ vừa đi vừa cười nói vui vẻ và không ngớt chào hỏi. Tay ai cũng nâng niu ít nhất một món hàng Việt Nam. Đến mép nước tôi chẳng thấy Quý đâu. Chiếc canô hắn thuê cũng mất dạng. Chết tiệt – tôi rủa thầm. Tôi đi ké Quý trong khi hắn nghĩ canô hắn bỏ tiền thuê, tôi trèo lên thì phải bán hàng cùng hắn. Lỗi là ở tôi. Trong thế giới đèn điện, mọi thứ phải tự hiểu là nên trao đổi sòng phẳng.

Con gà bị trói ngơ ngác và bắt đầu quáng vì ánh ngày sắp tắt. Tôi ngồi xuống cạnh biển. Cố gột hết suy nghĩ vẩn vơ, tôi tận hưởng những làn gió thanh sạch đang luồn dần vào bóng đêm.

“Mày lên nhà tao ăn tối đi. Chút tao kiếm thuyền đưa mày về” – Chủ nhân ngôi nhà sàn gần biển nhất đang đứng sau lưng tôi. Theo hướng ngón tay trỏ của ông, ánh đèn dầu leo lét.

Vợ và hai con của Kapoo quây quần giữa nhà. Họ đang dùng một chảo tinh bột nhiều xơ được trần quết nhuyễn mịn. Họ bảo đấy là thứ củ địa phương, mọc hoang bìa rừng. Tôi khách khí thò ra con gà và hỏi Kapoo có rượu chứ. May quá, chiếc chai dẹp Kapoo lục được trong vách lá góc nhà là thứ Rhum Tanduay Philippine nổi tiếng, chứ không phải Maxime Bình Đông chế từ cồn công nghiệp pha loãng, tẩy bột màu và lắng cặn bằng thuốc trừ sâu tại quận Tư, Sài Gòn.

Kapoo kể, ngày ông còn bé, cả làng bất ngờ bị cấm thịt gà, không rõ lý do. Họ chỉ cắt tiết chúng khi hiến tế rồi ném xác xuống vực, ra biển. Ăn “gà thần” là tội lỗi tày trời và sẽ bị trừng phạt. Mùa hạn hán kinh hoàng nọ, do thực phẩm thiếu thốn, dần dần dân làng bắt đầu lén lút sử dụng lại nguồn chất đạm này. Lão thầy cúng độc địa nửa kín nửa hở, không khuyến khích nhưng cũng không truy xét gắt gao. Hắn biến toàn bộ con dân của mình, kể cả gia tộc hắn, thành những kẻ phạm tội. Vô hình chung luật “cấm ăn gà” trở thành công cụ cai trị hữu hiệu. Thầy cúng mua chuộc tai mắt chỉ điểm khắp nơi. Mỗi khi cần hậu thuẫn, thỏa hiệp hay “chuyên chính”, ông ta lấy ngay con bài tẩy “giết gà” ra trấn áp. Cha Kapoo hàm oan vì một nhúm lông gà chôn sơ sài bên bờ suối, gần mái ấm của mình. Tất nhiên đa số gà của làng là gia cầm thả hoang, nó mang danh nghĩa những đứa con của mẹ rừng. Quá nhục nhã khi bị qui là kẻ cắp, cha Kapoo đã bảo toàn nhân phẩm của mình bằng cái chết tự nguyện đầy đau đớn. Trước khi tắt thở ông cố gắng trăn trối với con cái rằng ông vô tội. Cả cộng đồng đều phạm luật thì phải xem lại luật pháp. Thứ “hương ước” vô cảm kia là cạm bẫy chứ không phải đội cấm vệ quân nghiêm khắc của thần công lý.

Bữa rượu gần tàn. Williams bước vào tự nhiên như người thân của Kapoo. Anh ta pha trò: “Lại sự tích kim kê hả bác Kapoo?”. Williams hỏi Kapoo từ “luật pháp” bằng tiếng Anh dịch sang tiếng mẹ đẻ Kapoo là gì. Kapoo bảo một nửa “thầy cúng” một nửa “gà rừng”. Tôi bỗng rùng mình. Tội ác sẽ xây dựng hang ổ kiên cố tại những xứ sở mà hình luật là lưỡi kiếm sinh sát vô lương của kẻ cầm quyền. Nói man rợ chưa đúng lắm, nó “hạ cấp” hơn man rợ mấy bậc.

***

Williams đứng trên bờ vừa mở dây thuyền vừa vẫy tay chào. Anh bảo Kapoo nhất thiết phải tường thuật chuyện ăn thịt người cho tôi nghe rồi cười vang bến nước. Tiếng chèo tay nhè nhẹ nhưng dứt khoát. Ánh đèn dầu thôn xóm khuất nhanh khi thuyền rẽ trái. Trời tối đen như mực. Bóng núi đổ xuống hãi hùng, bên cạnh lời kể đều đều và chậm rãi của Kapoo.

“Chưa xưa lắm, cách làng tôi bảy cái thác hoặc mười bốn ngày chèo thuyền thì đụng một bộ lạc hung dữ, còn nguyên tục ăn thịt người. Khi phạm vào bậc thang tội trạng cao nhất, bất kể giới tính, trẻ già, kẻ thủ ác sẽ bị mổ. Ngày thi hành án luôn là lễ hội ai ai cũng náo nức mong đợi. Dân tình hả hê lấy máu tội nhân vẽ mặt nhảy múa. Món thịt người “nướng mọi” nghe bảo thơm vỡ mũi và ngon tuyệt trần, đặc biệt là sợi tủy xương cẳng chân béo ngậy chỉ dành cho thủ lĩnh.

Lạ là các nạn nhân không ra vẻ khủng hoảng. Họ có niềm tin mãnh liệt về kiếp sau huy hoàng nếu được “an táng” trong bụng đồng loại. Cho nên suốt tuần trăng “ân huệ” họ rất tích cực tẩm bổ để da thịt mỡ màng và luôn hát hò, thậm chí bứt dây trói, dậm dật những vũ điệu ma quỉ.

Khi “văn minh phá rừng nguyên sinh” tràn tới, con trai cả tù trưởng xin làm nghĩa tử một đốc công da trắng và muốn du ngoạn thế giới bên ngoài. Vị đốc công đem anh về Bamaga thành phố quê hương ông, bang Queensland. “Thá
i tử” mười tuổi được học hành. Chưa kịp đến ngưỡng vị thành niên hắn đã đổ đốn hippy, rượu chè, hút sách. Cha nuôi đành phải trả hắn về nơi chôn nhau cắt rốn.

Xa rừng lâu ngày, “thái tử” trở nên vô dụng và thô vụng giữa đời thường của bộ lạc. Hơn nữa, hắn còn nguyền rủa quyền lực của cha đẻ mình. Hắn phỉ báng tiên tổ và tất cả lề thói hủ lậu. Cuối cùng trong một cơn rượu chè điên loạn hắn đã phạm tội hiếp dâm kiêm loạn luân. Tù trưởng truất thừa kế của hắn và tuyên bố sẽ mở đại tiệc thịt người.

Kẻ tội đồ gào thét và tuyệt thực suốt tuần trăng ân huệ. Bộ da bọc xương của hắn thỉnh thoảng lại thều thào những câu cú như thơ không vần, lổm ngổm các khái niệm phương Tây, nào là tự do, nhân tính, phẩm giá, thân phận, số kiếp, định mệnh… Tất nhiên nhân dân không hiểu mà lại tỏ vẻ ngạc nhiên, vì hắn đánh mất truyền thống lạc quan trường tồn của tiền nhân khi đối mặt với tử thần.

Bữa thịt người thất bại thảm hại. Máu tử tội xám đặc như chì lỏng. Các bó cơ mỏng, dính chặt vào xương bốc mùi thum thủm. Bộ óc sàn sạn những cát. Mấy dây tủy vón cục và đen như đá cuội… Tù trưởng khởi phát bệnh thần kinh. Ông tuyên bố thượng đế đã chết, thiên đàng đã cấm cửa những kẻ hiến tế và vĩnh viễn hủy bỏ nghi thức man mọi”.

Kapoo dừng lời vừa lúc vách núi lặn xuống biển. Tôi đã nhìn thấy ánh điện sáng rực trên con tàu của mình.

Quý đang chong đèn vớt mực ở chiếu tiếp đất của cầu thang mạn. Hắn hồn nhiên chào Kapoo và tôi. Tôi mượn Quý mấy con mực đang chóc chách búng trong xô để nấu bát mì đãi Kapoo. Thứ hải sản tươi rói này nếu có thêm vài lá cải xanh mướt làm dáng thì ngon không thể tưởng tượng. Tôi lụi cụi trong bếp nên không để ý Quý đã lén ngoắc Kapoo về phòng hắn “tiếp thị” rượu. May mà trong túi Kapoo chỉ còn hơn mười Kina (khoảng chục Mỹ kim) nên anh lấy mỗi một chai Maxime Bình Đông.

“Ông dám bán cho bạn tôi rượu giả à?” – Tôi vặc Quý – “Thật là đê tiện”.

Quý sấn tới, túm cổ áo tôi gầm gừ: “Thằng oắt con, mày động vào miếng ăn của tao là tao ném mày xuống biển đấy”.

Kapoo luống cuống xổ một tràng bản ngữ líu lo rồi nhảy vào chắn giữa Quý và tôi. Phải giải thích mãi về “công nghệ” sản xuất rượu Kapoo mới sáng ra, dù anh không có chút ý niệm nào về thuốc trừ sâu. Tôi đành vứt chai rượu đi và đền Kapoo nửa thùng mì.

***

Tiễn Kapoo xong tôi lê bước về căn phòng sáu thước vuông của mình và nằm vật ra, chẳng thèm bật đèn. Tôi quên rất nhanh mọi thứ ruồi bu, trừ sự ám ảnh lạnh toát của câu chuyện ăn thịt người và quyết tâm bảo vệ nhân phẩm của cha Kapoo. Ngoài cửa sổ kín nước hình tròn, không gian đen đặc, quánh lên mớ lộn xộn vô minh. Tôi bỗng ước ao có một chiếc canô máy, để rẽ sóng trốn chạy con tàu rỉ sét đang dung chứa mình, dù trước mặt là màn đêm bất tận. Tôi sẽ mở hết gas, mơn trớn gió, băng lướt vào phía trong tâm hồn phẳng phiu xanh rượi bình minh hải hồ, cảm nhận tối đa gia tốc như biểu hiện rõ ràng nhất của tự do, của bay bổng và thoát ly.

Những tiếng động nhỏ nhẹ quen thuộc xuyên qua vách ván ép. Chắc chắn buồng ngủ cạnh bên đang nén chặt đám thủy thủ khát nước, ngồi đồng sát phạt nhau. “Tái phân bổ lợi nhuận buôn lậu rượu âm phủ” – họ vẫn hài hước đểu giả như thế.

Cái chết là cuộc trốn chạy cuối cùng chăng? Tôi không biết. Thiên đường được khai sáng cho người sống, bởi đang sống lúc nào cũng đồng nghĩa với đang chết. Sống, nói cho vẹn toàn, là gì nếu không phải hành trình đến sự chết.

Có lẽ nhận thức bật ra hôm ấy, đã kết liễu tình yêu viễn dương trong tôi. Vài năm sau tôi bỏ biển và những hành trình trót mang tên chết chóc nhưng đôi khi đầy lãng mạn và thử thách, để kiếm tìm một cuộc mưu sinh khác. Tôi hoài mong nơi ấy không có nỗi bi quan đánh đồng sự sống và cái chết. Nơi ấy tồn tại niềm khát khao sáng tạo của chúa trời, mãi mãi vinh danh lẽ hiếu sinh, dẫu rằng luôn bị giới hạn bằng những đơn vị đời người.

Thảo Điền 11.2008


[1] Các từ tiếng Anh được trích trong công bố Nobel Văn chương 2008.

thôn Sấu

Quê hương yêu dấu (Dọc hành chấm đứng). Xin các bạn vui lòng ghi rõ nguồn và dẫn link đến trang này nếu đăng lại bài của tôi

thienthanh2017.wordpress.com/

Thượng thiện nhược thủy, thủy thiện lợi vạn vật nhi bất tranh - Lão Tử

Học Thế Nào

How We Learn

leminhkhaiviet

About Vietnamese Cultural History and Scholarship

Xuân Bình

Nhà báo tự do

Nguyễn Huy Hoàng

the star is fading

Nghiên cứu lịch sử

Các bài nghiên cứu, biên khảo và dịch thuật các chủ đề về lịch sử

Le Minh Khai's SEAsian History Blog

Always rethinking the Southeast Asian past

trinhythu

Trịnh Y Thư WordPress.com site

trandangtuan.com

Men lá rượu ngô trong

4th Avenue Café

Free non-fiction translation

WordPress.com

WordPress.com is the best place for your personal blog or business site.

Trương Thái Du's Blog

Văn chương thiên cổ sự - Đắc thất thốn tâm tri...

No More Goat Soup

No goats were harmed in any way while making this blog. (We did kill all the sheep though)