1. KHE SANH

Xin mời độc giả xem một góc độ của trận Khe Sanh qua bài “Under Siege – The Battle of Khe Sanh” của đại Úy William Dabney do Trà Bồng viết lại. Bài được trích từ cuốn The U.S. Marines in Action của Villard Books New York phát hành năm 1986.

Người bắn tỉa núp rất kỹ trên sườn đồi um tùm bên kia, khoảng 200 mét về phía bắc nơi chúng tôi đóng quân, là đồi Nam 881 (881S). Anh ta đã nằm ở vị trí thuận lợi đó suốt một tuần qua. Thỉnh thoảng anh ta mới bắn, thường là khi trời nhiều mây và sườn núi không có sương mù bao phủ. Khi anh ta bắn thì chúng tôi chỉ có từ chết tới bị thương. Chỉ cần khoảng 20 phát anh ta đã gây tử thương cho 2 binh sĩ thủy quân lục chiến (TQLC) và làm bị thương năm sáu mạng.

Anh ta tỏ ra vô cùng kiên nhẫn, luôn luôn đợi lúc các pháo thủ phải ra khỏi giao thông hào để bắn đại bác yểm trợ quân bạn, hoặc khiêng băng ca ra các trực thăng tải thương. Lúc ấy chúng tôi là những mục tiêu rất ngon lành của anh ta. Một đặc tính nữa của anh ta là rất thận trọng. Một ngày quang đãng chúng tôi đã gọi phi cơ dội bom xăng xuống toàn bộ khu vực anh ta đang núp. Nhưng hôm sau, khi trời có mây bao phủ anh ta lại “cắc bùm”, và vẫn cực kỳ chính xác. Anh ta biết rõ khi có mây mù phi cơ không dám oanh tạc một mục tiêu gần chúng tôi như vậy.

Nhưng rồi cũng có lúc anh sơ xuất. Toán quan sát vẫn luôn dí mắt vào các ống viễn vọng kính cực mạnh hướng về phía anh ta, một hôm chợt thấy một lùm cây lay động. Hôm đó lại là một buổi chiều đứng gió! Biết chắc súng nhỏ không làm gì được vì anh ta núp trong hầm đào sâu vào núi, nên phải dùng súng lớn. Chúng tôi bắn cầm chừng để xác định vị trí, và để anh rút vào hầm, đồng thời cho khiêng khẩu đại bác không giật chống xe tăng qua. Vì cả đồi chỉ có hai khẩu nên phải đặt ở vị trí mà xe tăng của địch có thể tiến vào phía bên kia. Một quả đạn có sức công phá mạnh đã biến căn hầm của anh thành một hố sâu trong đó có đất đá lẫn với xác của anh ta.

Ðồi đối diện khá xa, rừng lại rậm. Quân Bắc Việt di chuyển thoải mái vào ban đêm và trong sương mù, mà chúng tôi thì lại không đủ quân để kiểm soát bên đó. Cho nên chẳng bao lâu đã có một người bắn tỉa khác thay thế. Trong suốt 10 ngày sau đó anh chàng thứ hai này đã gây cho chúng tôi một tử thương và nhiều người khác bị thương. Nhưng rồi chúng tôi cũng xác định được vị trí của anh ta. Thế là lại phải khiêng khẩu không giật 106 ly qua, lại một quả đạn lọt vào hầm để biến nó thành mồ chôn xác người bắn tỉa.

Chỉ hai ngày sau chuyện bắn tỉa lại tái diễn. Mấy tay pháo binh và cứu thương là những người căng thẳng nhất. Chỉ cần xớ rớ vài giây đồng hồ bên ngoài hầm trú ẩn là lại nghe tiếng cắc bùm khô khan của anh ta. Tệ nhất là những chuyến bay tải thương. Khiêng băng ca đã nặng nhưng nghe tiếng súng là phe ta phải quẳng các thương binh xuống để tìm chổ núp. May thay mấy ngày sau chúng tôi cũng xác định được vị trí của anh ta. Thế là phải vật vã vác khẩu 106 không giật qua phía bên này. Ðang khi điều chỉnh để xác định mục tiêu thì một anh binh nhì nêu lên một nhận xét không giống ai. Anh ta cho rằng suốt một tuần nay tay xạ thủ mới này vẫn bắn đều như tay trước, nhưng chưa hề trúng một ai nên cứ để yên cho hắn sống. Nếu chúng ta loại tay này quân Bắc Việt sẽ có ngay một người khác vào thay, gặp tay bắn giỏi thì khốn cả lũ. Thật có lý! Thế là khẩu 106 không giật được đưa về vị trí cũ.

Thỉnh thoảng có quân nhân còn phá phách bằng cách vẫy lá cờ đỏ khi nghe tiếng cắc bùm của anh ta. Đó là hiệu kỳ khai hoả trong xạ trường. Nhưng rồi chúng tôi nhận thấy hình như tay này cố ý bắn trật, chứ không phải hắn bắn dở. Không chừng anh ta biết số phận của các tay xạ thủ trước nên cố ý không gây thương vong cho chúng tôi. Ðàng nào thì cấp chỉ huy của anh ta cũng không có cách nào kiểm chứng được kết quả.

Chẳng biết thực hư thế nào, nhưng đó là cách suy diễn của chúng tôi. Vì thế, để hỗ trợ cho anh ta chúng tôi ngưng trêu chọc và có khi còn giả bộ trúng đạn. Anh ta tiếp tục ở đó, vẫn bắn đều đặn và vẫn không gây thương vong nào trong suốt thời gian hai tháng còn lại của cuộc vây hãm.

——————

2. BIÊN GIỚI

Buổi chiều hôm nọ, vợ tôi đi dạy về đến nhà là mở cặp xách ra và bảo: “Em vừa vòng qua Đinh Lễ mua cho anh cuốn này. Của Mạc Ngôn đấy nhé, nói về thời của bọn anh, anh xem xem viết có chân thật không”. Tôi cầm cuốn sách lên ngắm nghía, giá bìa có hơn hai mươi ngàn, lại được mua ở Đinh Lễ nên trừ chiết khấu mấy chục phần trăm còn có mười mấy ngàn, như thế kể ra cũng rẻ cho một tác phẩm của đại danh hào.

Vaò đầu cuốn sách có nhiều bất ngờ khi cho nhân vật chính nói chuyện ngay với con ma vốn là đồng đội trước kia của mình. Trong truyện có nhiều chỗ không thống nhất lúc gọi là “địch”, lúc gọi là “phía bên kia”. Những đoạn mô tả về kỹ thuật tác chiến là gần sát với thực tế. Ngày đó, để chống biển người, bộ đội Vietnam thường cho sơn pháo bắn trực xạ và thường nhắm vào bộ phận chỉ huy của nhóm xung kích. Đây là nỗi kinh hoàng cho địch. Ngoài ra, những chi tiết như bò mông cao thì dễ làm bia cho bắn tỉa, thậm chí làm lộ đội hình nữa. Chứng tỏ tác giả cũng tham khảo rất nhiều thực tế chiến đấu khi viết, tôi thích cách viết như vậy.

Lúc đầu tôi cũng băn khoăn, không hiểu vì sao bọn văn hóa lại cho lọt lưới cuốn như vậy được. Nhưng càng đọc càng thấy bọn văn hóa cũng có cái ý riêng của nó. Khi đọc gần cuối truyện, đến đoạn vị chính ủy sư đoàn quán triệt tư tưởng cho các cán bộ, chiến sĩ cấp dưới về ý nghĩa của cuộc chiến tranh đó (trang 171), mới thấy được điều này. Phần lớn cuốn sách chỉ nói v
tâm tư tình cảm của bọn lính tàu mà ít đá động tới những vấn đề nhạy cảm khác. Tôi tự nghĩ rằng hay vì chính lẽ đó là nó được phép xuất bản chăng tuy không tán thành lắm nhưng cũng phải tìm lý do gì đó để tự an ủi mình, chứ không thì ấm ức lắm.

Những chuyện này cũng giống như chuyện tôi được ông anh ở Lạng Sơn kể.

Chuyện về thời kỳ cuối của cuộc chiến. Chiến sĩ hai bên đều chán ngán và mệt mỏi. Mặc dù chưa chính thức, nhưng nhân dân hai bên biên giới đã có những trao đổi mua bán nhỏ lẻ với nhau. Còn các đơn vị chiến đấu giáp biên thì nằm lỳ ở các cao điểm, rất ít nổ súng, chỉ còn pháo rót theo giờ nhất định của cả hai bên, mà toàn rót vào những chỗ vu vơ, chả ai buồn tránh pháo. Các đơn vị trực chiến vẫn nổ súng lẹt đẹt khi thấy bóng dáng đối phương, nhưng chủ yếu dọa dẫm nhau là chính. Ông anh tôi kể một chuyện nghe cũng buồn cười.

Ngày đó, có hai đơn vị đối đầu nhau trên một cao điểm, có mấy cái hang nên cứ đặt tên là H1, H2 … cho tiện. Hai bên cứ dền dứ nhau không bên nào chịu vượt quá bên nào. Cả hai bên đều mệt mỏi và thuộc nhẵn mặt nhau, thậm chí buồn buồn còn chào nhau vài câu. Vì đóng ở nơi hiểm trở heo hút nên việc tiếp tế rất gian khổ và khó khăn. Nhiều khi bọn lính tàu chưa kịp tiếp tế cho nhau khiến bọn chúng đói quá nên gọi 2w sang bên Vietnam xin đồ ăn. Bên Vietnam gói gạo với cá mối khô vào rồi ném sang cho chúng nó, cá mối ngày đó rất hay có giòi ở trong, muốn ăn phải rửa sạch và ném kèm cho chúng nó cả cục mỡ bò cho chúng nó rán. Và ngược lại, khi chúng nó có thức ăn, chúng nó cũng ném trở lại cho Vietnam. Thức ăn của chúng nó ngon hơn bên Vietnam. Của nó là bơ xịn, chứ không phải mỡ bò như mình, cá hộp của nó cũng vậy. Và có một quy định bất thành văn là hai bên không được bắn dọa mấy tay lính tiếp tế gánh thực phẩm lên cao điểm, vì để cho mấy tay quân nhu chạy mất là không có cái gì mà ăn. Có lần, pháo binh của bên nó rót trúng vào nhà bếp của bên Vietnam, bên Vietnam tức giận quá mang hỏa lực ra bắn đáp trả vào khu nhà bếp của chúng nó, vì nghĩ rằng chúng nó báo tọa độ cho pháo binh. Bọn kia lật đật lên 2w để giải thích rằng bọn pháo binh bắn theo chia ô, chứ không liên quan gì đến chúng nó. Nhưng hôm đó bên Vietnam cũng bắn thúng hết nồi niêu xoong chảo của chúng, báo hại mấy ngày sau thấy bọn quân nhu của chúng nó gánh nồi niêu mới lên để thay.

Nghe ông ấy kể chuyện đánh với tàu mà cứ như đùa vậy.

————-

Nguồn X-cafe và Đàn chim Việt.