Cuộc chiến không người chiến thắng

Tiến sĩ Hàn Hiếu Vinh

Viết riêng cho BBCVietnamese.com từ ĐH Butler

Cuộc chiến Việt – Trung 1979 xuất phát từ nhiều yếu tố

Năm 1979, Lê Duẩn đã là người đứng đầu Đảng Cộng sản Việt Nam hơn hai thập niên, và Đặng Tiểu Bình chỉ vừa trở thành người quyền lực nhất ở Trung Quốc.

Hai lãnh đạo này có nhiều điểm chung. Họ đều là dân cách mạng Cộng sản trung kiên. Cả hai có kinh nghiệm chính trị và quân sự phức tạp mặc dù Lê Duẩn thích ở tiền tuyến trong khi họ Đặng lại chuộng thuật cai trị đằng sau cánh gà. Cả hai đều có ý chí mạnh và vừa trải qua những biến động lớn – cuộc chiến Việt Nam, và với Đặng là Cách mạng Văn hóa. Cả hai cũng được ghi công cho những đột phá mới đây: với Lê Duẩn là sự thất bại của miền Nam Việt Nam và một Việt Nam thống nhất; với Đặng, khai triển cải cách và đưa Trung Quốc ra với thế giới. Cả hai lãnh đạo cũng đối diện vấn đề tương tự, đặc biệt là phát triển kinh tế và hòa nhập chính trị sau thời gian dài xung đột.

Sự tương đồng của hai lãnh đạo và hai đất nước đặt ra khả năng lẽ ra họ có thể là đồng minh gần gũi trong năm 1979. Nhưng sau những thập niên làm “đồng chí, anh em”, thì đến năm 1979, mối quan hệ gặp rắc rối nghiêm trọng.

Suy sụp trong quan hệ

Nhiều yếu tố đã dẫn đến sự suy sụp trong quan hệ song phương: tranh chấp lãnh thổ ở đất liền và Biển Đông, sự đối xử với người Hoa ở Việt Nam, Việt Nam xâm lấn Campuchia và làm đồng minh với Liên Xô, Trung Quốc từ chối cấp thêm viện trợ, và “ba lần phản bội” của Trung Quốc.

Các yếu tố này không phải là quan trọng như nhau. Tranh chấp lãnh thổ và sự đối xử với Hoa kiều là vấn đề lịch sử, còn các vấn đề khác mang tính chất gần đây và thúc bách hơn.

Các vấn đề lịch sử, mang tầm quan trọng thứ yếu trong trường hợp này, đã ngủ yên khi hai nước thân thiện với nhau, và được làm sống dậy khi các vấn đề gần đây khiến hai chính phủ xoay sang đối địch. Khi đã được dựng dậy, chúng làm các vấn đề gần trở nên căng thẳng hơn, khiến hai bên khó đạt được thỏa hiệp.

Sự tồn tại của các vấn đề này không có nghĩa chiến tranh là tất yếu. Quyết định gây chiến là do Đặng Tiểu Bình và các đồng minh gần gũi trong chính phủ Trung Quốc đưa ra. Mặc dù toàn bộ các tranh chấp giữa hai chính phủ cũng đóng vai trò khiến Đặng khai chiến, nhưng việc Việt Nam xâm lấn Campuchia có vẻ là chấc xúc tác cuối cùng. Trong các cuộc gặp lãnh đạo nước ngoài như Lý Quang Diệu và Jimmy Carter cuối 1978 và đầu 1979, Đặng lập lờ nhưng liên tục trình bày ý tưởng rằng Trung Quốc sẽ có cuộc chiến trừng phạt vì Việt Nam đánh Campuchia.

Cuộc chiến 1979 hoàn tất vòng luân hồi yêu – ghét trong lịch sử quan hệ Việt – Trung: tình yêu giữa hai dân tộc trong thời đại Hồ Chí Minh và Mao Trạch Đông bỗng chốc chuyển thành sự thù ghét trong thời Lê Duẩn – Đặng

Cuộc chiến 1979 hoàn tất vòng luân hồi yêu – ghét trong lịch sử quan hệ Việt – Trung: tình yêu giữa hai dân tộc trong thời đại Hồ Chí Minh và Mao Trạch Đông bỗng chốc chuyển thành sự thù ghét trong thời Lê Duẩn – Đặng.

Thật thú vị khi suy tư và tự hỏi liệu lịch sử có diễn ra khác đi nếu Hồ và Mao vẫn nắm quyền trong năm 1979. Liệu ông Hồ có đồng ý cho Lê Duẩn từ bỏ chính sách trung lập trong tranh chấp Xô – Trung? Liệu ông Hồ có đồng ý với chính sách mới với người Hoa ở Việt Nam và quyết định xâm lấn Campuchia? Liệu Mao có đồng ý chính sách ngừng viện trợ cho Việt Nam, sẽ dùng cuộc chiến trừng phạt như cách phản ứng Việt Nam xâm lấn Campuchia?

Cần thấy rằng trong trận chiến chửi mắng nhau hồi cuối thập niên 1970 và 1980, Việt Nam không chỉ công kích họ Đặng và thế hệ lãnh đạo thứ hai của Trung Quốc mà tấn công cả thế hệ đầu tiên như Mao và Chu Ân Lai, trong khi Trung Quốc chỉ công kích Lê Duẩn và thế hệ lãnh đạo thứ hai của Việt Nam.

Trung Quốc không bao giờ chỉ trích Hồ Chí Minh; ngược lại, tiếp tục ca ngợi ông Hồ đã thúc đẩy tình hữu nghị, và chê trách Lê Duẩn vì phản bộ chính sách và lời dạy của ông Hồ. Nó cho ta cảm tưởng rằng Trung Quốc tin nếu Hồ Chí Minh còn sống năm 1979, mọi chuyện sẽ khác, nhưng Việt Nam cho rằng sẽ chẳng khác gì nếu Mao cầm quyền năm 1979.

Không ai thắng

Mặc dù cả hai phía đều tự nhận thắng lợi, nhưng cuộc chiến không có người chiến thắng. Việt Nam không bảo vệ được đường biên giới phía bắc và chịu thiệt hại kinh tế cũng như nhân mạng. Với Trung Quốc, cuộc xâm lăng ngắn ngủi gây ra thương vong nặng nề, và bộc lộ những khiếm khuyết của quân đội. Quan trọng hơn, cuộc chiến không giải quyết được tranh chấp giữa hai nước. Trung Quốc chống đối Việt Nam tiến vào Campuchia, nhưng chiến tranh vẫn không ngăn Việt Nam rút khỏi Campuchia. Trung Quốc chống Việt Nam liên minh với Liên Xô, nhưng chiến tranh lại làm quan hệ thêm khăng khít.

Mậu dịch biên giới phát triển rầm rộ từ thập niên 1990

Những yếu tố quan trọng nhất dẫn đến việc giải quyết vấn đề Campuchia và bình thường hóa Việt – Trung trong thập niên 1990 là thay đổi lãnh đạo ở cả Liên Xô và Việt Nam, sự tan rã của Liên Xô và kéo theo là chấm dứt liên minh Việt – Xô, chứ không liên quan mấy tới cuộc chiến năm 1979.

30 năm sau, chúng ta đã chứng kiến sự chu
yển hóa của hai nước, sự cải thiện quan hệ cũng như tiến trình hòa nhập của châu Á Thái Bình Dương. Trong số các tranh chấp dẫn tới cuộc chiến 1979, chỉ còn một phần của tranh chấp lãnh thổ là đang tiếp tục.

Tranh chấp quanh Hoàng Sa và Trường Sa sẽ không thể giải quyết trọn vẹn trong tương lai gần. Mặc dù những tranh chấp tồn đọng có thể thỉnh thoảng gây ra mâu thuẫn như các vụ biểu tình của sinh viên Việt Nam, hay các tuyên bố chỉ trích nhau của hai chính phủ, nhưng chúng không thể tạo ra xung đột quân sự hay đổ vỡ trong quan hệ song phương.

Tình trạng hiện nay của quan hệ Việt – Trung là nằm ở giữa tình yêu thời đại Hồ – Mao và sự căm thù của giai đoạn Duẩn – Đặng – một sự trộn lẫn giữa yêu và ghét

Nhiều diễn biến gần đây có tác dụng trung hòa mâu thuẫn. Mậu dịch biên giới đã tạo ra tình thân kinh tế giữa hai nước; du lịch, trao đổi văn hóa giáo dục đang làm tăng hiểu biết giữa hai dân tộc. Chỉ riêng ở Quảng Tây đã có hơn 20 chương trình cấp đại học và cao học về Việt Nam. Ngay cả khi còn là đồng minh thập niên 1950 và 1960, cũng không có nhiều như thế số sinh viên Trung Quốc học tiếng và văn hóa Việt Nam.

Lãnh đạo hai nước nhận thức tầm quan trọng của duy trì hòa bình trong khu vực; họ đã liên tục gặp nhau và đồng ý giải quyết tranh chấp qua đàm phán. Sự hòa nhập khu vực theo hình thức ASEAN + 1, ASEAN + 3, Thỏa thuận Thương mại Tự do ASEAN – Trung Quốc, Apec và các tổ chức khác cũng sẽ giúp cải thiện quan hệ.

Rõ ràng sự thù ghét chi phối quan hệ Việt – Trung cuối thập niên 1970 sang đầu 1990 đã giảm bớt, nhưng tình yêu cuối thập niên 1940 kéo dài đến 1970 vẫn chưa phục hồi hoàn toàn.

Tình trạng hiện nay của quan hệ Việt – Trung là nằm ở giữa tình yêu thời đại Hồ – Mao và sự căm thù của giai đoạn Duẩn – Đặng – một sự trộn lẫn giữa yêu và ghét.

Liều lượng thích hợp của hai thái cực này có thể giúp tạo ra sự tỉnh táo, ổn định và hòa bình.

Nếu có thể tạo dựng cơ chế phù hợp để duy trì và thắt chặt mối cân bằng quyền lợi, khát vọng, và tình cảm của hai bên, Việt Nam và Trung Quốc sẽ có nhiều cơ hội để cuối cùng có thể loại bỏ chiến tranh, đối địch ra khỏi mối quan hệ.

Về tác giả: Ông Hàn Hiếu Vinh (Han Xiaorong) nhận bằng tiến sĩ ở Đại học Hawaii và hiện dạy ở Khoa Lịch sử – Nhân học của Đại học Butler, Hoa Kỳ. Ông từng là nghiên cứu gia ở Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc trong 5 năm. Quan tâm nghiên cứu hiện nay của ông là về người Hoa ở Việt Nam.

——–

BBC phải cảm ơn tui nha. Tui giới thiệu bác Hàn trang này. Bác Hàn là SV Thiên An Môn đấy. Bác từng bảo với tôi bác chú tâm nghiên cứu lịch sử, văn hóa và mối liên hệ Hoa-Việt nhằm làm cho con người hiểu nhau hơn, bác phục vụ con người nói chung, không phụng sự chính trị.