Nhiều lần tôi tự hỏi mặc cảm nước nhỏ / nhược tiểu của người Việt Nam không rõ manh nha từ thời điểm nào trong lịch sử. Thiên “Lịch sinh, Lục Giả” trong Sử ký thuật lại câu chuyện giữa Triệu Đà và Lục Giả: “Triệu Đà lại hỏi: “Ta với Hán đế nhà Hán ai giỏi hơn?”. Lục Giả nói: “Hoàng đế nhà Hán nối nghiệp Ngũ Đế, Tam Vương, thống trị cả Trung Quốc, đất hàng muôn dặm, chính quyền ở tay một nhà, nhà vua ở góc bể, sao dám ví với nhà Hán?”. Triệu Đà nói rằng: “Ta giận rằng không khởi binh ở Trung Quốc, nên phải làm vua ở đất này. Sao lại vội bảo ta không bằng nhà Hán?”.

Qua đến thời Lý, theo Việt sử tiêu án, Thái Tông hỏi quần thần: “Tiên đế thăng hà đã 16 năm nay, nước Chiêm Thành chưa có cho một sứ thần nào sang nước ta, có phải là oai đức của Trẫm chưa đến nước ấy, hay là chúng cậy có núi sông hiểm trở đó chăng? Quần thần thưa: “Đức tuy đã có đến chúng mà oai chưa được rộng”. Năm Giáp Thân 1044, để ra oai, Thái Tông thân chinh đánh Chiêm Thành và thu được thắng lợi vang dội.

Tự Triệu, Đinh, Lý, Trần (theo niên biểu của Nguyễn Trãi trong Bình Ngô đại cáo), đến Lê, Tây Sơn, Nguyễn, nước Việt nhiều lần dùng từ Đại cho quốc danh của mình, tuy mạnh yếu mỗi thời một khác nhưng chưa bao giờ nao núng nếu phải đương đầu với Hán, Tống, Nguyên, Minh, Thanh. Họ từng bá chủ khu vực Đông Dương.

Phải chăng chỉ đến khi tiếp xúc với văn minh phương Tây, bị người Pháp nô thuộc, mặc cảm thua thiệt và hèn kém đã khiến tâm hồn dân tộc Việt xuất hiện tư tưởng nhược tiểu?

Năm 1975, Mỹ rút khỏi chiến trường Đông Dương. Được hà hơi tiếp sức bởi chiến thắng 30.4, người Việt Nam đột ngột dứt bỏ mặc cảm nhược tiểu và toan đi tìm những vinh quang cũ trong lịch sử. Tuy nhiên thời đã khác, trật tự thế giới cũng đã khác. Hàng thập kỷ đói nghèo và bị cô lập sau đó lại kéo người Việt Nam trở về nỗi niềm nước nhỏ.

*

Đọc đến đây, không ít độc giả cũng như tôi đã thấy dần hiện lên một từ cũ mà nhà cầm quyền Bắc Kinh từng gán gọi Việt Nam cách nay ba mươi năm: “Tiểu bá”. Phản đề của “Tiểu bá” chính là “Đại bá”, là tham vọng muôn đời nay của các tập đoàn chính trị phương Bắc. Có lẽ tôi lại phải chấp nhận bị “ném đá” ở đâu đó, trước sự xét nét tiêu cực của ai đấy sau khi bài viết này được công bố. Riêng với lý tính mà nói, đây là một từ ngữ không thích hợp để dùng song song với nhược tiểu, nhằm phân tích thấu đáo những uẩn khúc trong tâm hồn dân tộc Việt Nam, thử xem nó tác động như thế nào đến vận mệnh đất nước hôm qua, hôm nay và mai sau, trong bối cảnh khu vực phức tạp hiện thời. Tôi không đủ lãng mạn và thỏa hiệp để tìm kiếm và chấp nhận những thi tứ đại loại như “Từ thuở mang gươm đi mở cõi…”. Theo Sử ký, Triệu Đà làm vua Nam Việt ngoài mặt xưng vương với nhà Hán nhưng trong nước vẫn dùng đế hiệu. Minh chứng rõ ràng nhất là chiếc ấn “Văn đế hành tỉ” của cháu nội Triệu Đà xuất lộ từ năm 1983 tại Quảng Châu. Hơn nữa, suốt chiều dài lịch sử, các triều đại Đại Việt đã liên tục thực thi chính sách kia của Triệu Đà. Cho nên trong khuôn khổ ở đây, xin được dùng từ “Đế đạo” bên cạnh “Nhược tiểu” như hai mặt của một vấn đề, hai thái cực đã cộng sinh trong thực thể chính trị – văn hóa Việt Nam hàng thế kỷ nay.

Thực sự chủ đề này bản thân tôi đã nghiền ngẫm khá lâu, hôm 17.3.2009, lại nghe một ý kiến phát biểu trong hội thảo về Trường Sa và Hoàng Sa tại Hà Nội, đại ý: “Trung Quốc sẽ gây hấn, xâm chiếm Trường Sa khi họ đã ‘nắm’ được Lào”. Tôi nhìn nhận tính thực tế của nhận định ấy nhưng vẫn áy náy bởi nền tảng tư duy của nó. Gốc rễ của lập luận trên phải chăng xuất phát từ quan điểm phải gây dựng ảnh hưởng khu vực mạnh mẽ nhằm bảo vệ chủ quyền cũng như biển đảo của dân tộc Việt Nam? Nếu vậy nó sẽ trượt trở về vòng xoáy luẩn quẩn, nơi các giá trị đế đạo/nhược tiểu nhiều lần đổi chỗ cho nhau, trong các quyết sách chính trị Việt Nam suốt thế kỷ hai mươi.

Xin nêu ví dụ về chính thể Sài Gòn trước 1975: Từ chính sách đế đạo bắc phạt của Ngô Đình Diệm không được Mỹ ủng hộ, lập tức phương kế nhược tiểu được thực thi bằng việc giao khoán chiến tranh cho Hoa Kỳ. Kết quả là chế độ ấy đã sụp đổ nhanh chóng, ngoài sức tưởng tượng của nhiều người. Lạ là, hơn ba mươi năm đất nước Việt Nam bị chia cắt, chưa bao giờ hòa bình có đủ cơ hội để gây ảnh hưởng.

*

Việc cắm mốc giới đất liền Việt – Trung trùng kỷ niệm 30 năm chiến tranh biên giới Việt – Trung, tiếp theo là những diễn biến phức tạp trên Biển Đông với các yếu tố bổ trợ như tàu quân sự Mỹ thám sát biển, Philippine vẽ đường cơ sở, khiến cho dư luận xã hội Việt Nam hừng hực suy tư vận mệnh tổ quốc. Người Việt đang chứng minh họ có lòng yêu nước hiếm gặp trên thế giới. Song le, tôi vẫn thấy rõ rệt hai khuynh hướng đế đạo và nhược tiểu trong các luồng dư luận.

Đế đạo: Không ngừng tô vẽ hận thù. Cổ xúy đối kháng, kích động đám đông từ một quyển tiểu thuyết đậm chất nhân văn như Ma chiến hữu trở đi.

Nhược tiểu: Tự ý thức thất thế, ra điều tìm kiếm chỗ dựa dẫm. Hồ hởi với sự xuất hiện của tàu Mỹ. Phóng đại thua thiệt của nhà nước Việt Nam trên bàn đàm phán biên giới đất liền[1].

Là một người dân sống trên mảnh đất Việt Nam tôi luôn tự hỏi tại sao hoàn toàn vắng bóng những ý tưởng thiên về đối thoại và những giải pháp hòa bình? Tôi vẫn biết nếu không có các vấn đề Biển Đông giữa Việt Nam và Trung Quốc thì hòa bình thật dễ dàng. Hòa bình chưa bao giờ mang nghĩa nhu nhược. Hòa bình là giá trị tối cao của những quốc gia vừa mạnh mẽ, vừa văn minh. Biết sức mạnh thực sự của mình đến đâu không phải là cái biết dễ dàng. Cho nên mới có câu “Biết người biết ta, trăm trận trăm thắng”. Hòa bình luôn là một chiến thắng vinh quang nhất cho nhân dân bất cứ một quốc gia nào. Xin hãy tham khảo cách mà những nước nhỏ ở Âu châu đã tránh chiến tranh thế giới thứ I và thứ II. Xin hãy tham khảo cách mà người Canada và người Mexico sống cạnh Mỹ. Và cũng xin tham khảo luôn hòn đảo Cuba XHCN nghèo nàn, lạc hậu và độc tài ngoài khơi Hoa Kỳ.

Tôi rất buồn khi thấy nhiều cựu chiến binh chưa nghiệm hết cay đắng trong đáp từ của một lãn
h tụ Thái Lan, khi nghe tả niềm tự hào chiến thắng các đế quốc lớn của người Việt Nam: “Người Thái tự hào vì chưa phải đánh nhau với cường quốc nào”!

Con đường đi đến hòa bình bằng đối kháng luôn là con đường dài nhất, hao tổn nguyên khí quốc gia vào bậc nhất. Hòa bình không phải hành động phi tự vệ. Người Việt Nam hoàn toàn có thể vừa suy tư về hòa bình, vừa kiên quyết bảo vệ những vùng biển cha ông mình đã khám phá và khai thác bằng công lý, lẽ phải, bằng nỗ lực tự cường nội tại. Tôi không hiểu bằng cách nào mà lãnh tụ Hồ Chí Minh đã khiến Mao Trạch Đông dặn dò đoàn cố vấn kháng Pháp trước khi sang Việt Nam: “Sau khi đến Việt Nam, các đồng chí phải nói với họ, tổ tông xưa chúng tôi ức hiếp các đồng chí, chúng tôi tạ tội xin lỗi các đồng chí và một lòng một dạ giúp đỡ các đồng chí đánh bại bọn thực dân Pháp[2].

Kích động hận thù giữa những dân tộc, giữa những nền văn hóa lúc nào cũng là tội ác đáng khinh bỉ. Với hận thù, người ta chỉ còn lại sự mù quáng, chỉ còn mỗi con đường tự đưa mình vào tròng tai họa, để tự sướng về tiên liệu thần thánh. Sự mù quáng không bao giờ khải giác được rằng chính hận thù đã là tai họa.

Thảo Điền

Tháng 3.2009

© 2009 talawas


[1] Khi viết câu này, tôi đã dè dặt tham khảo rất kỹ tài liệu “Tranh chấp biên giới Việt – Hoa” của CIA Mỹ năm 1979, được bạch hóa một phần năm 2002, do nhà báo Vũ Quý Hạo Nhiên dịch và giới thiệu trên báo Viet Tide ở Hoa Kỳ và trên blog của ông vừa rồi. Ít nhất chúng ta cũng có thể rút ra kết luận rằng, việc đơn phương xác định chủ quyền của Việt Nam năm 1979 tại nhiều khu vực không được Pháp – Thanh dựng cột mốc là thiếu khôn ngoan. Do đó rất khó tìm ra căn cứ để khẳng định chắc chắn sự mất đất của Việt Nam sau hiệp ước biên giới 1999. Tâm trạng chung của dư luận là dường như Việt Nam không thể kém cạnh Campuchia và Lào khi cắm mốc, nhưng chắc chắn sẽ bị thiệt với Tàu, vì chính cảm giác nhược tiểu.

[2] [http://www.diendan.org/the-gioi/hoi-ki-co-van-trung-quoc-2/] Hồi ký cố vấn Trung Quốc, Dương Danh Dy dịch.