Không hiểu gì về điện…

9 Comments

magnify
Thời sinh viên, chúng tôi có câu nói hài hước: “Không hiểu gì về điện, sờ vào đèn dầu lại sợ nó giật”. Câu này ám chỉ những người “tinh vi”, không có nền tảng kiến thức cơ bản về vấn đề nào đó mà lại võ đoán, vỗ ngực.

Sau bài “Có không kẻ sĩ Trịnh Công Sơn” của tôi, hàng loạt ý kiến cho rằng tác giả chẳng hiểu gì về nhạc mà dám mạo phạm họ Trịnh. Đó là bức xúc nhỏ. Bức xúc lớn hơn thì họ viết hẳn một bài để dạy dỗ như Đào Hiếu, Vy Huyền.

“Mỗi văn bản, bản thân nó là 1 sản phẩm hoàn chỉnh của tư duy ở thời điểm văn bản được viết. Người viết chỉ có thể làm chủ ý thức của mình, còn những gì vượt khỏi ý thức thì cũng chịu. Cho nên bàn luận nhảm nhí của tác giả sau khi văn bản ra đời dễ bị bắt bẻ từ chính nội hàm văn bản. Ở những bài viết “nhạy cảm”, nhiều lần thiên hạ đã nhảy vào chửi tác giả không phải vì bài viết mà chính vì những bàn luận mở rộng đã phá vỡ mạch bài viết. Người đọc, khi đọc đã tự đặt mình là đồng tác giả của bài viết. Tác giả chỉ mong có phản hồi để hiểu rõ văn bản hơn là đủ”.

Đoạn trên là những gì tôi rút ra sau khi viết bài về TCS. Do đó tôi không có lý do để viết thêm bất cứ thứ gì trên talawas. Tuy vậy, trong giới hạn bạn bè – những người hay vào đọc blog này, tôi muốn trưng ra một bằng chứng là tôi có căn bản nhạc lý nhất định khi tìm hiểu nhạc TCS.

Ảnh: Giấy khen và quyết định thưởng tiền của hiệu trưởng ĐH HH năm 1991 cho tác giả:

Trở lại quận Cam: Nơi cánh cửa thứ nhất

2 Comments

Nguyễn Hữu Liêm

Người Việt ta có câu, “Sông có khúc, người có lúc.” Cả hai năm nay, tôi chưa trở lại xứ quận Cam của miền nam California. Mỗi lần lái xe xuống vùng ấy, tôi lại cảm nhận được ít điều mới lạ – về một nơi mà tôi tưởng đã rất quen thuộc. Ở cái xứ đông đúc, quá tải với người và xe cộ, tôi đến nơi khi buổi chiều vừa tắt nắng trong ngày thứ sáu cuối tuần vừa qua. Vừa đổ xe xuống đèo của dãy núi Angeles là chiếc xe của tôi đã bị giam hãm và cuốn hút vào trong hàng ngàn chiếc xe hơi khác trên các xa lộ kẹt cứng với những dòng lưu thông bất tận. Bao khúc sông xa lộ của thế giới nam California tràn ngập âm thanh – nhưng cái nhịp thời gian của con người ở đó hình như vẫn chưa ra khỏi cái lúc trong bao nhiêu hiện tượng nheo nhóc ngàn trùng.

Tôi gặp lại một số đông thân hữu xưa nay. Khánh Trường vẫn năng nổ phát biểu quan điểm – dù rằng anh đang ngồi trên xe lăn với giọng nói ngọng đi vì những cơn tai biến mạch máu não. Phùng Nguyễn và Đặng Thơ Thơ hăng say trong công việc của trang mạng Da Màu. Hoàng Chính Nghĩa vẫn khoẻ mạnh, vui tươi, thân ái. Đỗ Kh. và Nguyễn Thị Ngọc Nhung cũng bận rộn lo bàn chuyện tạp chí Thơ. Nguyễn Văn Hoá, Đỗ Thuận Khiêm tóc càng thêm bạc. Tôi cũng gặp lại Thân Trọng Mẫn, lúc nầy thấy khoẻ mạnh, trẻ trung hơn và vẫn liên tục hút thuốc lá. Mỗi lần gặp anh là vợ chồng chúng tôi chọc ghẹo anh về cái tật hút thuốc lá liên tục. Cái cách anh cầm thuốc lá trên tay, đưa hờ hững vào môi như là một “thương hiệu” rất là cá tánh. Nhớ đến những ngày tham gia làm báo với các anh bạn này hơn hai mươi năm trước – mà cứ ngỡ như hôm qua.

Đang ngồi uống cà phê đùm đám ở quán Gypsie trên phố Bolsa, tôi trông thấy anh Ngô Văn Quy, người bạn huynh trưởng Gia đình Phật tử ở Chùa Việt Nam, Los Angeles từ gần ba mươi năm trước. Anh Quy luôn luôn bận rộn. Tôi kêu tên anh to lên. Chúng tôi mừng rỡ gặp nhau. Anh tặng vợ chồng tôi một số mới nhất của tạp chí Hồn Việt – tờ báo đầu tiên của người Việt ở Mỹ từ 1975. Anh còn kèm thêm một tập thơ tình của anh vừa được xuất bản. Tập thơ mang tên “Vạt Áo Chưa Cài.” Trong đó có bài thơ ngắn, “Hái trái mù u”: “Khổ đau tôi đã tuyệt vời. Khổ đau xin gởi lại đời hôm nao. Hạt gieo trái đắng nhận vào. Hạt cay đắng có, ngọt ngào đã xa.” Tôi hỏi về chuyện Gia đình Phật tử và chuyện tình duyên. Anh băn khoăn chuyện đạo, chuyện đời. Anh nhìn ra chân trời, “Gia đình Phật tử thì chia ba phe. Còn tui thì đã sang đò bảy chuyến.” Anh đưa hai bàn tay lên ngang mặt mới có đủ hết ngón đếm cho bảy lần hôn nhân liên tục đến và gãy đổ chỉ trong vòng hai mươi năm qua. Anh vẫn đẹp trai, da mặt hơi nhăn đi chút ít – và vẫn ăn nói dịu dàng trong nỗi bận rộn liên tục của một người thanh niên đa tình xứ Huế như thuở nào.

Thời gian như “bóng câu qua cửa sổ” – và đi nhanh hơn ký ức của mình có thể gợi lại. Hầu hết các bạn mà tôi nay gặp lại đã ly dị vợ. Người thì năm bảy lứa, người thì mới ly dị năm rồi. Bên bàn tròn cà phê gần đó, có năm sáu anh em cựu quân nhân miền Nam liên tục kể chuyện đời lính, chuyện quân trường ba bốn mươi năm trước. Tôi nhìn sơ qua tạp chí Thơ mà Đỗ Kh. vừa mới trao cho, có bài thơ của Ý Yên viết về quân trường Thủ Đức trong những năm trước 1975: “Với nỗi niềm riêng cho Thủ Đức. Cùng lời cảm tạ nghĩa ân dài. Đã nuôi ta sống, dù nôi hẹp. Khi bước tìm về những nẻo mai.” Chiếc nôi thời gian trong khối ký ức quá hẹp đó hình như đang giam hãm cả một thế hệ thanh niên miền Nam lớn lên trong chiến tranh trước 1975. Đó là những chuyến tàu tình cảm không bao giờ rời bến quá khứ. Chỉ một hai năm lính trận mà đã cấu tạo toàn diện cá tánh và nhân cách của những đời người – dù họ đã di cư sang Mỹ hơn ba mươi năm rồi. Các anh em chỉ có những đề tài của quá khứ. Nguyễn Cao Kỳ, Trịnh Công Sơn, hay Bình Long, Hạ Lào, Đồng Đế. Những linh hồn quá khứ bốn thập kỷ đã qua ngày nay đã trở thành hiện tại và tương lai cho chính họ.

Chiều đến tôi hẹn gặp Cao Ngọc Quỳnh, tức Quỳnh Cao, một người trong nhóm sáng lập tạp chí Đàn Chim Việt thời ở Ba Lan từ khoảng mười năm trước. Tôi nhớ khi Quỳnh Cao đề nghị tôi viết cho Đàn Chim Việt trong những số đầu tiên, tôi đã gởi đến bài “Cái âm điệu tủi thân, bi đát.” Trong ban biên tập, chỉ có Quỳnh Cao là chịu đăng – mà không kiểm duyệt chữ nào. Đó là bài viết gây tranh cãi nhiều nhất trong khoảng thời gian đó. Anh là một mẫu người miền Bắc, sinh ra và lớn lên trong xã hội thời cộng sản, sang Liên Sô, rồi Ba Lan, trở thành một trong những trí thức đi từ miền Bắc bất đồng chính kiến với chính quyền Việt Nam. Anh đã từng bị cấm về Việt Nam, sau lại cho về, nay lại bị cấm. Có lần đi chơi Lake Tahoe với anh cách đây năm năm cùng nhóm Đàn Chim Việt, Quỳnh Cao kể lại những chuyện mùa đông ở Moscow. “Cái lạnh ở đó kinh hoàng lắm ông Liêm ạ! Mỗi khi ông đi tiểu là vòi nước tiểu nó đông lại ngay như là nhánh cây nối dài con cu với mặt tuyết. Ông phải đưa tay ra bẻ nó vất đi mới kéo zip quần lại được!” Tôi tưởng tượng đến cơn lạnh kinh người như thế mà Quỳnh Cao và các bạn vẫn đã từng thức dậy ba bốn giờ sáng ra đứng giữa chợ trời để buôn bán, kinh doanh.

Nay thì Quỳnh Cao đang là lãnh đạo của một công ty đầu tư bất động sản ở quận Cam. Anh cho biết là kinh doanh của anh đang phát đạt, thương vụ đang cao. Công ty này chuyên môn mua lại các nhà bị ngân hàng tịch thu, cho sửa chữa lại và đưa ra thị trường bán. Nhà bán chạy như tôm tươi, anh nói. Những ai muốn mua, phải đặt cọc 50 phần trăm thì bọn tôi mới cứu xét. Tôi đến văn phòng của anh, Dragon Real Estate Investment Group, nằm trong một cao ốc trên đại lộ Beach ở Huntington Beach. Anh mở chai rượu vang Pháp mời tôi. Qua vài ly rượu, anh bắt đầu tâm sự.

Chuyện hôn nhân, chuyện Đàn Chim Việt, chuyện Việt Nam? Quỳnh Cao cho rằng tất cả đều đã là quá khứ. Anh nói, “Tôi thấy ai đến xứ Mỹ nầy, như là đi vào một lâu đài lớn, nhưng trước hết phải đi qua hai cánh cửa. Khi bạn bước qua cánh cửa thứ nhất, bạn phải chờ cánh cửa thứ hai mở. Nhưng trước khi cửa thứ nhì mở ra đón bạn, thì bạn phải ra tay đóng chặt cửa thứ nhất trước.” Quỳnh Cao cho rằng cộng đồng người Việt ở Mỹ, nhất là ở quận Cam, vẫn còn đang ở tình trạng chân trong chân ngoài nơi cánh cửa thứ nhất. Thành ra phần lớn họ đang bị kẹt ở khoảng không gian “trong cũng không ra trong, ngoài cũng không ra ngoài.” Anh tiếp, “Đối với tôi, chuyện Đàn Chim Việt, chuyện Việt Nam, chuyện hôn nhân cũ, nay đã nằm bên ngoài cánh cửa thứ nhất mà tôi đã đưa tay đóng chặt. Tôi nay đã bước qua cánh cửa thứ hai. Tôi không nằm ở không gian lưng chừng nữa. Tôi dứt khoát. Và tôi đang rất là hạnh phúc và thưởng thức tối đa cuộc đời hiện nay sau khi đã vượt qua hai cánh cửa quá khứ của bản thân và đất nước.”

Quỳnh Cao đi xuống sân, mở cửa xe Benz mui trần, chở tôi đến một khu phố Việt Nam để massage và uống rượu. Anh cho biết rằng, mỗi cuối tuần anh đều tham gia vào một tổ chức lái xe mô tô loại lớn đi chơi các vùng đây đó. Trên các xe hiệu như Harley Davidson, Quỳnh Cao cho biết là anh cảm nhận được quyền lực và tự do trong hơi gió, tình thân hữu, tiếng xe máy cuồng nộ và các địa danh khác lạ, nhiều thích thú. Anh hỏi, “Tại sao lại cứ bị dính chặt lấy Việt Nam? Có cả triệu thằng nó đang lo chuyện đất nước đó. Ở xứ Mỹ nầy, có quá nhiều cơ hội để làm giàu, để thưởng thức cuộc đời. Hãy tận hưởng những gì xứ Mỹ này đang đem cho bạn. Hãy thoát ra khỏi nỗi ám ảnh Việt Nam.” Anh chỉ tay lên căn nhà chọc trời 15 tầng duy nhất ở đại lộ Beach và nói, “Tôi đang dự định sẽ mua cái building này!” Tôi nhìn theo ngón tay của Quỳnh Cao và thấy rằng ở hết cả quận Cam thì đây là một trong những buildings cao nhất.

Sáng hôm sau, tôi đi ngang lại phố Bolsa, ghé vào đường Moran, trước tòa soạn của các báo Việt Báo, Việt Tide, và Người Việt. Đây là “hành lang kỷ niệm” của Việt Nam Cộng Hòa. Bên đường, Ngô Kỷ vẫn đứng đó, biếu tình, theo anh ta, cho đến khi nào mà báo Người Việt “treo cờ đỏ sao vàng” thì anh ta và các chiến hữu mới bỏ cuộc. Tôi nhìn Ngô Kỷ và những anh quân nhân Việt Nam Cộng Hoà mặc đồ rằn ri thưở nào mà thông cảm cho những linh hồn đang vất vưởng ở trong giai đoạn “purgatory” – giữa thiên đàng và địa ngục, giữa đời sống và cái chết, giữa kiếp này và kiếp sau, giữa quá khứ và tương lai.

Quận Cam có hai loại người. Những người đi từ miền Nam, như Ngô Kỷ, và các chiến hữu của anh. Họ là những kẻ không hề bước qua được cánh cửa thứ nhất. Họ sẽ mãi ở đó và sẽ không có một tương lai nào. Với các anh, chỉ có quá khứ thua trận đã tan mất bên ngoài cánh cửa thứ nhất mà họ không bao giờ có thể đóng lại được. Còn cánh cửa thứ hai thì vẫn và sẽ không mở ra chào đón vì các anh không đóng lại được cánh cửa thứ nhất.

loại người thứ hai, đi từ miền Bắc, như là Quỳnh Cao. Đây là loại người dù là đang phản đối lại chế độ chính trị cộng sản hiện nay, họ vẫn là linh hồn của những người đã và đang chiến thắng, từ lịch sử đến cuộc đời. Họ không ủy mị, không bi đát, không ám ảnh, không hoài vọng quá khứ. Họ là của ý chí hiếu sống và chiến thắng. Họ chỉ biết chinh phục cuộc đời trong hiện tại – bằng mọi cách và mọi giá. Tương lai người Việt ở Hoa Kỳ, và cả ở Việt Nam, chắc là sẽ vào tay lớp người thứ hai này.

(Bài tác giả gửi tặng)

Một ngàn năm cởi ách giặc Tàu

3 Comments

Tôi mới trả lời câu hỏi của 1 bạn đọc trong talawas. Xin copy về đây:

Trích: “Chơi Xong Dong nói: Bây giờ xin trở lại thực tế, nước Việt Nam hiện giờ đang ở trong thảm cảnh, Trường Sa và Hoàng Sa mất, Tây Nguyên sắp bị tiêu hủy, hàng vạn người Trung Quốc tràn sang trong khi nông dân mất đất, công nhân mất việc…

Vậy theo Trương Thái Du, chúng ta nên hát nhạc gì? Để khỏi mất nước”.

Trả lời:

Thưa bạn, người TQ có câu tuyết rơi một ngày thì mặt sông chưa đóng băng. Mất nước không diễn ra trong tíc tắc. Nó khởi đi từ rất lâu rồi. Nó diễn biến trong cả nội dung của nhạc Trịnh nữa.

Bạn hãy so sánh hai câu sau:

Một ngàn năm nô lệ giặc tàu
Một trăm năm đô hộ giặc tây

Một ngàn năm cởi ách giặc tàu
Một trăm năm phá cũi giặc tây

Cùng một vấn đề nhưng mỗi cách nhìn, mỗi góc nhìn người ta sẽ cảm nhận và hành động khác nhau. Tôi không phải nhạc sĩ nên không thể khuyên bạn nên hát nhạc gì. Tôi chỉ có thể khơi gợi một vấn đề nào đó mà bản thân tôi day dứt, để mọi người cùng suy tư, thảo luận.

Có không kẻ sĩ Trịnh Công Sơn?

20 Comments

Theo Khâm Định Việt Sử, tháng Tám, mùa thu, năm Nhâm Tuất 1202 vua Lý Cao Tông “Sai nhạc công đặt ra nhạc khúc gọi là “Chiêm Thành âm”. Nhạc khúc này giọng sầu oán não nùng, ai nghe cũng rỏ nước mắt. Nhà sư Nguyễn Thường nói rằng: “Tôi nghe nói: thanh âm của nước loạn thì ai oán giận hờn. Nay chúa thượng rong chơi vô độ, kỷ cương triều đình rối ren, lòng dân ngày một ly tán. Tiếng nhạc ai oán làm não lòng người! Đó là triệu chứng bại vong”. Chỉ hơn hai mươi năm sau, nhà Trần đoạt ngôi của họ Lý.

Ở phiên bản talawas cũ, tác giả Nguyễn Hữu Liêm có bài viết “Cái âm điệu tủi thân bi đát”. Ông dẫn: “Cách đây khoảng hai ngàn năm trăm năm, hai nhà hiền triết Ðông Tây, Khổng Tử và Socrates, đã đồng lúc khuyến cáo đến cái tầm quan trọng của âm nhạc. Âm nhạc là sinh khí của tinh thần. Hễ nhạc xuống là nước nhà xuống; hễ nhạc uỷ mị là con người tha hóa. Cái thối nát của con người khởi đi từ sự thối nát của âm nhạc”. Và “Nietzsche trong cuốn The Will to Power có nói tới cái tâm thức amor fati – cái bệnh tủi thân, cái lòng yêu số phận bi đát của mình. Cái bệnh amor fati của dân Việt khởi đi từ Truyện Kiều và kéo dài cho đến ngày nay. Từ Kiều qua nhạc Chàm, qua nhạc Huế, qua vọng cổ, qua nhạc bolero đã làm cho miến Nam ngồi xuống vỉa hè, che mặt và lau nuớc mắt. Cái quần chúng lau nước mắt này bị lưu đày qua đất mới và tiếp tục uống nước dừa tang thương bằng âm nhạc”.

Gần đây, khởi đi từ một bài viết của Trịnh Cung về Trịnh Công Sơn, dư luận xã hội Việt Nam bỗng xôn xao khác thường. Nó có phần lấn át, dù chỉ là tức thời, sự chú ý của mọi người về vận nước trong các vấn đề Biên giới – Biển – Đảo và khai thác quặng nhôm ở Tây Nguyên.

Trong đám đông dư luận “phù Trịnh”, có ai đó đã nói tham vọng chính trị của họ Trịnh chính là phản chiến, là hòa bình. Hãy lắng nghe ý kiến của một người dân thường cùng thời với Trịnh Công Sơn: “Hồi đang học những năm đầu của bậc trung học, khoảng những năm 65,66… tôi bắt đầu nghe nói về một thứ nhạc của ai đó, khi nghe có cảm giác rã rời như hút ma túy, lính chiến nghe nó không còn muốn chiến đấu nữa. Một hôm đứng trong một hiệu sách, tôi nghe tiếng hát lê thê như lời cầu kinh vọng ra từ máy thu băng. Người bán sách nói với mấy người đang trả tiền đó là nhạc của Trịnh Công Sơn. Nhạc phản chiến đấy”[1].

Không phải ai cũng xem Trịnh Công Sơn là một nhạc sĩ tài ba, vĩ đại. Ông không sáng tác nhạc. Ông chỉ hát thơ như Văn Cao nhận xét: “Với những lời, ý đẹp và độc đáo đến bất ngờ hôn phối cùng một kết cấu đặc biệt như một hình thức của dân ca hầu như không thay đổi, Trịnh Công Sơn đã chinh phục hàng triệu con tim…”[2]. Số đông ít khi nghi ngờ họ Trịnh là nhạc sĩ, là cây cao bóng cả trong nền âm nhạc Việt Nam hôm qua, hôm nay và mãi mãi về sau. Bởi lịch sử ngắn ngủi của tân nhạc Việt Nam gần như không có chuẩn nhạc sĩ rõ ràng, và lại càng không có “nhạc sĩ vĩ đại” để mà so sánh sự nghiệp cũng như thành tựu nhạc thức.

Thi thoảng từng có không ít công dân trung niên của nước Nhật bẽ bàng, nước Nhật thua trận, nước Nhật nhục nhã sau thế chiến thứ hai, đồng cảm một cách lạ lùng với “nhạc” Trịnh. Đồng khí tương cầu chăng? Ca khúc “Diễm xưa” của họ Trịnh được đại học Kansai Gakuin đưa vào giảng dạy trong bộ môn văn hóa Việt Nam, hình như dưới chiêu PR của công ty kinh doanh âm nhạc Myrica. Sau đợt Khánh Ly đem chuông Trịnh đến “đánh” ở Osaka năm 1970, ca sĩ dòng nhạc “sến” enka Yoshimi Tendo cũng từng nhiều lần hát nhạc Trịnh[3].

Cuối những năm 80 của thế kỷ trước, nhiều văn nghệ sĩ xuất thân từ phong trào sinh viên tranh đấu của mặt trận giải phóng đã rỉ tai nhau câu vè “Sơn vàng, ôm guitar đỏ hát nhạc màu da cam”. Nếu ca khúc “Cát bụi” rất hợp với vỉa hè bolero của Sài Gòn, chính thức đóng dấu xác nhận tác phẩm của TCS trước 1975 có một phần quan trọng là nhạc vàng ru ngủ, bạc nhược và ủy mị; thì dòng nhạc “Da cam” của ông bên cây “guitar đỏ” không thể không nhắc tới những “Em ở nông trường em ra biên giới”, “Huyền thoại mẹ”… sống sượng, yếm thế và a dua dựa dẫm.

Người ta sẽ còn ca ngợi và nói nhiều về Trịnh Công Sơn, trong đó chắc chắn có tiếng góp đầy trọng lượng của những ai vẫn hưởng lợi trên di sản của ông. Kể ra, phải nói Trịnh Công Sơn thật may mắn. Chẳng bì với Dương Hùng thời Tây Hán, làm sách Thôi Huyền, Pháp Ngôn nhưng bị đời khinh bỉ quên lãng vì thất thân với Vương Mãng. Chẳng hổ như Thái Mão đời Đông Hán soạn hết cả Cửu Kinh, làm văn bia ở trước nhà Thái Học nhưng trót lụy Đổng Trác nên danh nhơ tiết nhục, chẳng ai thèm đọc sách[4].

Mai này, ở tương lai nào đó, may phúc dân tộc Việt Nam không còn “lòng yêu số phận bi đát của mình”, không còn mặc cảm nhược tiểu và yếm thế thì cái hồn của ca từ Trịnh Công Sơn sẽ mai một. Người ta sẽ ném những mớ nốt nhạc dễ dãi tuyền giọng mi thứ nhàm chán của ông vào sọt rác ký ức. Lúc ấy, nếu tình cờ con cháu chúng ta tiếp xúc với “nhạc” Trịnh, có lẽ chúng sẽ lấy làm ngạc nhiên mà ướm hỏi: “Trình độ âm nhạc của tổ tiên mình tệ đến thế ư?”. Đừng mơ chúng sẽ nghi hoặc: “Có không kẻ sĩ Trịnh Công Sơn?”.

Thảo Điền tháng 4.2009


[2] TCS – Tuyển tập những bài ca không năm tháng, NXB âm nhạc 1997, trang 278.

[3] Tham khảo Nguyễn Đình Đăng, tienve.org

[4] Theo thơ văn Phan Bội Châu, thời kỳ ở Huế. NXB Thuận Hóa 1987, trang 315.

Chopin và Dạ Khúc…

Leave a comment

Chopin viết tổng cộng 21 bản Dạ Khúc (Nocturne), trong đó hai bản cung Đô thăng thứ (20) và Đô thứ (21) chỉ xuất bản sau khi ông qua đời nên được gọi là Dạ Khúc vĩnh biệt.

Nghe Chopin trong đêm lúc nào cũng mê lịm, chỉ muốn được chết nhẹ nhàng trong tiếng nhạc của ông.

Truyện ngắn của Trịnh Công Sơn.

5 Comments

Báo Tuổi Trẻ Chủ Nhật, số 13-2001, ngày 8-4-2001

Chú Lộ

LTS: ”Chú Lộ” (1) có lẽ là truyện ngắn duy nhất của Trịnh Công Sơn nhưng còn dở dang và cũng chưa bao giờ được biết đến. Bản thảo truyện ngắn này được một thân hữu gần gũi với Trịnh Công Sơn và với TTCN lưu giữ.

1.

Năm 13 tuổi chú Lộ đã có mặt ở dưới hầm rượu cũ câu lạc bộ thể thao trong thành phố Huế. Dạo ấy, bọn Tây còn làm chủ nhân ông trong ”thành phố thuộc địa” này và dĩ nhiên, chủ tịch của câu lạc bộ thởi bấy giờ cũng phải là một thằng mắt xanh mũi lõ.

Vào đời với cái tuổi 13, chỉ mới biết viết và biết đọc đôi chút, và đối với bất kì ai,là cả một sự phiêu lưu thất thế không lường được. Chú Lộ ra khỏi nhà và đi thẳng đến sân tennis không do dự, không lựa chọn. Chú rời khỏi nhà như một con chim lìa tổ quá sớm hoặc như một chiếc lá lìa cành và phó mặc cho ngọn gió định mệnh thổi đến đâu hay đến đó. Và không cần phải có thì giờ làm quen hay giới thiệu nào, chỉ một tuần sau chú Lộ nghiễm nhiên trở thành đứa bé lượm banh tình nguyện không công. Tên chú dần quen thuộc ở đầu môi những thằng Tây và những người Việt đánh banh mỗi buổi sáng, trưa, chiều. Tây thì gọi chú; ”Ê, nhỏ Lộ”, người Việt NAm thì gọi ngắn hơn:”Lộ” và đưa vợt lên đón trái banh được quăng theo hình cầu vồng từ bàn tay nhỏ và đen đủi. Mấy ngày đầu, có khi còn trở về nhà nhưng sau đó thì chú cùng một vài đứa nhỏ lượm banh khác lân la kiếm cơm ở nhà bếp và ngủ hẳn dưới hầm câu lạc bộ dùng làm kho cất rượu và chất những đò phế thải . Ăn thịt và bánh mì thừa cảu khách đồi với chú bé Lộ cũng là những bữa tiệc thịnh soạn mởi mẻ. TRong cái đầu đơn giản và thiếu học của đứa bé 13 tuổi, thật sự chú cũng không hề có ý niệm gì về cái thân phận hèn mọn của mình.

Chú Lộ đã sống và lớn lên như thế từ hầm rượu. Nhờ ở năng khiếu và chút ít thông minh bẩm sinh chú đã nương và hoàn cảnh thuận tiện để học hỏi, quan sát và tự biến mình thành một thanh niên thành thạo đủ mọi môn thể thao mà câu lạc bộ sẵn có. Không bao lâu chú đã trở thành người hướng dẫn khéo léo và chịu khó cho những người mới tập đánh tennis, mới tập chèo périssoire (2), chơi bóng bàn, billard, bơi lội và cả môn trượt nước. Từ một đứa bé lượm banh, cuối buổi nhận được những đồng tiền lẻ từ bàn tay những ông bự, bảy tám năm sau chú đã ngang nhiên bước vào ô vuông của sân banh để đánh trả lại những đường banh thật bay bướm hoặc rướn mình lên từ phía góc sân gửi đi những cú giao banh khá ngoạn mục. Đối với các hội viên của câu lạc bộ, phần đông là những công chức cao cấp trong tỉnh hoặc các bậc tri thức thượng lưu, chú Lộ là người dễ bảo( serviable). Bất cứ họ cần điều gì là chú xoay sở có ngay. Con cái của tầng lớp thượng lưu này dành cho chú một tình cảm khá đặc biệt bởi chúng tìm được ở chú tất cả sự nhẫn nại, sự chiều chuộng mà khó một huấn luyện viên nào có được. Với thời gian, chú cũng bỏm bẻm được dăm tiếng Tây đủ dùng cho công việc hàng ngày. Dĩ nhiên chú nói tiếng Tây theo kiểu của chú và chú cũng chẳng quan tâm gì lăm về cách nói bóng bẩy mà chú thường nghe những ông Tây lẫn người Việt trao đổi với nhau ở bàn ăn. Vấn đề là chú cần bọn Tây hiểu được chú muốn nói gì và ngược lại chú cũng hiểu được chúng muốn, cần gì ở chú. Ban đầu nghe chú nói, bọn Tây, đầm và con csi chúng ôm bụng cười ngắt như bị ai cù vào nách. Chú thản nhiên cười theo và cứ như thế mọi người quen dần đến độ người ta có cảm tưởng cách nói tiếng Tây cảu chú cũng là một loại mẫu mực giản dị trong kiểu ăn nói thường ngày. Tuy thế không phải chú không hãnh diện về cái vốn tiếng Tây hẩm hiu ấy bởi những lần có người thợ nào nhờ chú hỏi ý kiến cảu ông Tây chủ tịch về việc cần quét vôi lại câu lạc bộ hoặc sửa sang cây cảnh quanh khu vực này thì chú sẵn sàng biểu diễn rất hùng hồn cái mớ chữ nghĩa hỗn độn mà chú đã nhặt được một cách rất vô tổ chức ấy. Mấy đứa con nít Việt Nam thì phục chú quá sức rồi.

Chú Lộ uống rượu mạnh rất sớm. Không phải kiểu uống rượu để tiêu sầu hoặc kiểu bằng hữu tâm đắc mà bởi rượu thừa ở những bàn ăn bao giờ cũng đủ để chú có thế độc ầm dài dài ở dưới hầm rượu sau bữa cơm. Dưới hầm có hai cái phòng nhỏ dành cho bếp và người gác cổng.Bây giờ chú đã có đủ uy tín để giành lấy riêng cho mình một phòng. Hầm quá rộng, mấy ngừơi kia có thể thu xếp ở một góc nào đó cũng được. Trên tường chú treo cái vợt cũ của ông chánh án vừa cho. Mỗi lần ra sân banh, trông chú cũng đủ bộ sậu như mọi người. Cũng pan-túp trắng rất dày, tất dày có ba sọc màu cờ Tây ở cổ chân, bộ quần áo trắng và cả cát- két cũng trắng nữa. Trên sân tennis, cách ăn mặc sạch sẽ giống nhau như thế, người xem dễ tửơng rằng không còn cái biên giới giai cấp con người bên này và con ngừoi bên kia mà chỉ có nghệ thuật giao banh thôi. Thật ra, chú Lộ biết rõ không phải vậy. Những cú banh, chú giao qua bao giờ cũng vừa tầm tay của ông chánh án, ông thẩm phán, hoặc một ông trưởng ty nào đó. Những cú xi-mách trong tay chú bao giờ cung chưa hết đà. Và những cú bỏ nhỏ cũng đừng nghịch quá khiến các ông lớn phía bên kia phải trậ xương hông hoặc sai khớp chân thì bỏ mẹ. Chú hiểu thế nhưng chú cũng hiểu mình bị thuyết phục bởi một lẽ đương nhiên nào đó gần như định mệnh. Sự hiếu thắng của tuổi trẻ trong chú đã bỏ đi từ bao giờ không ai biết và chú cũng không băn khoăn gì về điều đó cả. Tóm lại, chú như một kẻ sống an phận từ những máu huyết còn đương độ trong trái tim trên cánh tay và cặp giò thanh xuân của chứ.

Năm 23 tuổi chú Lộ có người yêu. Trước đó thì chú cũng chưa cũng cưa kéo, chọc ghẹo mấy cô bán quán trong vốn quá thừa tính nhẫn nại, chú là một người đàn ông lí tưởng cho cuộc tình. Nguời yêu chú là một cô gái 18 tuổi, con ông bếp của câu lạc bộ. Cũng là cây nhà lá vườn cả chứ không đâu xa. Cô ở dưới làng thính thoảng mới lên thăm cha và mỗi lần đều mang theo một ít trái cây ở vườn nhà như mít, thơm , ổi…Từ khi hai ngừơi yêu nhau, cô gái lên đều hơn và trong rổ trái cây của vườn nhà, bên cạnh phần dành cho cha, cô gái có phần dành cho chú. Trong đầu chú cũng đang h
iện dần hình ảnh một bếp lửa nhỏ cho hai người – chú dự định một hai năm gì đó dành dụm được một số tiền nhỏ sẽ đề nghị thẳng với ông bếp về chuyện cưới hỏi

Một hôm, chú được chú đựơc chủ tịch câu lạc bộ giao nhiệm vụ đi Sài Gòn mua những dụng cụ thể thao và một số vật dụng thay thế cần thiết. Chú cảm động đến run cả tay chân. Đây là cái dịp để chú ‘’du lich’’ ra khỏi bờ rào chật hẹp của thành phố này. Việc đầu tiên là chú báo ngay cho ông bếp biết tin và nhờ nhắn với con gái ông. Ngay buổi chiều hôm đó mọi người lân cận với chú đều biết tin này. Đi Sài Gòn, dạo ấy, cũng như đi đến một xứ khác mà chú nghe nói là văn minh và vui sướng như ở thiên đường vậy( mặc dù thiên đường như thế nào thì không ai biết cả ).

Hôm sau chú lên đường và chỉ ba tiếng đồng hồ là chú đã có mặt ở phi truờng Tân Sơn Nhất. Lần đầu tiên ngồi trên máy bay và được những cô gái đẹp, lịch sự dọn bữa ăn cho mình, chú Lộ gần như rơi trong một trạng thái mơ mơ màng màng không thật. Chú không bao giờ ngờ được loại ngừơi như chú lại có một ngày được ngồi đàng hoàng để những con ngừơi sang trọng như thế mang cơm mang nước đến cho mình. Chú chỉ quen phục vụ người khác hoặc thỉnh thoảng được phục vụ trong những quán hàng ở Huế thì những ngừơi phục vụ ấy cũng giống như chú mà thôi. Ở đây mấy cô nói tiếng Pháp, tiếng Anh như đầm, mặt mày đẹp đẽ như mấy tiểu thư con quan, hai bàn tay mang khay thức ăn đến cho chú thì trắng muốt ngà ngọc làm sao chú không ngạc nhiên đuợc. Và nỗi ngạc nhiên đó kéo dài suốt khoảng thời gian chú ở lại Sài Gòn.

Theo địa chỉ dặn trước, chú đến một tiệm bán dụng cụ thể thao ở đuờng Bonnard. Chú nhìn lên bảng hiệu Sports to tướng. Đọc không được nhưng số nhà thì đúng. Tiệm có tất cả những gì chú cần và có cả những gì chú chưa hề tưởng tượng đến. Phải mất cả ngay chú mới mua xong vật dụng kê khai trong tờ giấy. Những ngày sau thì chú dành tât cả thời gian để thảo mãn sự hiếu kì của mình bằng cách dán mũi bên ngoài những tủ kính ở các đường phố lớn. Cuối cùng chú quyết định là phải mua một món quà cho người yêu của chú trước khi về. Giữa cái rừng đồ đạc đủ màu sắc đó chú bối rối không hiểu phải chọn cái gì. Thử nhớ lại xem nào. Đúng rồi , chú nhớ ngừơi ta thường hay tặng nước hoa cho người yêu. Thế là khoẻ trí. Thấy cai chai hình thù đẹp đẹp là chú chọn và vài phút sau trong tay chú đã có một gói quà xinh xắn buộc dây màu quanh lớp giấy hoa rực rỡ. Gói quà như muôn bay khỏi bàn tay vụng về cảu chú. Lòng chú nhẹ như một tờ giấy mỏng. Máy bay lại trả chú về với thanh phố cũ . Chú mới từ đầu đến chân. Bộ quần áo và đôi giầy kiểu này chú tin là dân chơi trong thành gi fnghĩ thầm: mình cũng có quyền kiêu hãnh về mình lắm chứ. Chú mỉm cười và thuê xe về thằng câu lạc bộ.

Mọi người trong câu lạc bộ nghe chú về gần như ùa hết cả ra thềm, cả ông sếp Tây của chú nữa. Nó vỗ vai chú và nói bằng tiếng Pháp:’T ốt lắm! Tốt lắm!’’. Trong đám nhân công đứng ở thềm chú không thấy ông bếp đâu cả. Có lẽ ông bận nấu ăn cũng nên. Bắt tay mọi người xong chú đi thẳng vào bếp. Không thấy cha vợ tương lai của mình đâu cả, chú đi xuống hầm rượu không kịp hỏi mọi người – ông đang nằm nhắm mắt, trên ghế bố, một tay gác trên trán như ngủ. Chú lên tiếng và ông mở mắt chào chú, giọng không nồng nhiệt. Chú Lộ cụt hứng và linh cảm có điều gì không hay đã xảy ra. Đứng sững một lúc, nhìn cặp mắt ông bếp đã nhắm lại, chú bực bội quay về phòng để cất cái xách roitay. Sau lưng chú bỗng có tiếng nói mệt mỏi: ‘’ Con Khế chết rồi’’. Cái xách trên tay chú Lộ rớt xuống đất. ‘’ Con Khế chết rồi’’. Người yêu chú chết rồi. Giỡn sao cha nội?

Ngồi ở mép ghế bố chú Lộ nghe hết câu chuyện ông bếp kể. Trứơc mặt chú những
bậc thềm dẫn xuống bãi đậu pérsisoire. Qua những cột bê tông, như những cột rễ thẳng đứng của bao lơn câu lạc bộ cắm sâu dưới nước, chú nhìn thấy nắng trên mặt sông Hương lao xao theo sóng nhô. Cái lao xao đó cũng có trong lòng chú nhưng không âm thanh. Cơn rầu rĩ cứ dập dềnh lên xuống, đập vào cái lớp vỏ nguội lạnh bên trong của suốt thân thể chú. Chú thấy dợn dợn muốn ói, nhưng không mửa được. Tròng mắt chú ướt đi. Chú nghĩ đến chai nước hoa mà chú chưa ngửi được mùi thơm của nó trên tóc của Khế. Khế chết tình cờ quá. Trong một cuộc lục soát làng, commandos(3) chạm nhau với vài cán bộ hoạt động của Việt Minh, Khế bị lạc đạn. Ông bếp giấu bặt chuyện này nên mọi người trong câu lạc bộ không ai biết. Ông sợ Tây nó biết thì ông hết chỗ làm ăn. Chú Lộ đứng dậy về phòng nằm, miệng lầm rầm một câu chửi tục.

2.

Sau cái chết của Khế, thế gíơi sống của chú Lộ được nới rộng ra hơn một chút. Con mắt và lỗ tai chú mở ra xa hơn cái xã hội nhỏ hẹp thu gọn trong câu lạc bộ thể thao này. Tai chú bắt đầu nghe thấy tiếng bom, đạn vọng từ xa về.Chú nghe tiếng xe jeep đi tuần tra ban đêm hoặc giữa khuya, tiếng quilát kêu lắc rắc trong những cuộc bố ráp. Chú bắt đầu để mắt đến xác chết của bọn ác ôn, bọn tề điệp bị thanh toán ở những góc đường vắng, thường xuyên nhất là dốc Nam Giao cách đồn Tây không xa lắm. Trên mỗi xác chết thường có lá cờ đỏ sao vàng nhỏ bằng bàn bay và một bản cáo trạng tội ác. Chú cũng bắt đầu lấm lét nhìn về phía nhà lao Thiên Phủ, không xa câu lạc bộ lắm, mà suốt bao nhiêu năm trời, đối với chú, dường như không hề có mặt. Thỉnh thoảng chú bắt gặp những nhóm người bị còng tay và dẫn đi về phía nhà lao và thật tâm, chú không hiểu hết ý nghĩa của hình ảnh đó. Có một điều chắc chắn là trong đám người đứng nhìn đoàn tù lặng lẽ đi qua, chú thường bắt gặp những cái nhìn đầy yêu thương lẫn kính phục và trong những lời thì thầm của họ chú loáng thoáng nghe thấy hai tiếng: yêu nước. Những người tù kia cũng trẻ như chú nhưng sao họ được đồng bào cảm phục đến như vâỵ? Trong đầu óc thô thiển của chú những câu chữ Việt Minh, yêu nước và lá cờ đỏ sao vàng nhỏ bằng bàn tay cứ quay cuồng như một cơn lốc. Chú không tài nào cắt nghĩa được cho mình và cũng không ai ở câu lạc bộ đó có thể giúp chú tìm ý nghĩa của nó. Và tự nhiên chú mơ hồ mình vừa đựơc truyền sang một điều gì gần như lòng kiêu hãnh. Từ đó, trong việc phục dịch
hàng ngày ở câu lạc bộ, chú đã bẳt đầu có một thái độ bớt qui luỵ hơn, bớt phục tùng hơn đốì với ông quan toà, ông thẩm phán, ông trưởng ty, và cả những thằng Tây chủ của chú. Trong đám Tây đến ăn và uống rượu ở câu lạc bộ, có cả thằng sếp phòng nhì Pháp mà chú nghe nói là dưới bàn tay đẫm máu của nó bao nhiêu con người trai trẻ như chú đã hi sinh. Chú tự dặn lòng mình từ nay không bao giờ nhận một đồng xu ‘’ buộc boa’’ nào từ bàn tay của nó nữa.

Bản chất của chú Lộ là một con người an phận. An phận từ tơ răng kẽ tóc đến đầu những ngón chân. Ý thức của chú về quê hương dân tộc bị hạn chế vì sự ngu dôt và dừng lại ở thái độ thụ động như thế. Và nỗi băn khoăn trong lòng chú chợt nhóm lên như một ngọn lửa yếu ớt, sau cái chết của Khế đã tắt dần cùng với thời gian. Dù sao , chú đã tiến lên được một bước ngắn: cái lưng của thằng nô lệ đã thẳng hơn trước một chút.

(1) Căn cứ vào bản thảo, có thể truyện ‘’Chú Lộ’’ đã được viết năm
1967 khi Trịnh Công Sơn 28 tuổi.
(2) Thuyền thể thao.
(3) Lính biệt kích Pháp, nôir tiếng hung ác.

Nghiên cứu lịch sử

Các bài nghiên cứu, biên khảo và dịch thuật các chủ đề về lịch sử

Le Minh Khai's SEAsian History Blog

Always rethinking the Southeast Asian past

trinhythu

Trịnh Y Thư WordPress.com site

trandangtuan.com

Men lá rượu ngô trong

4th Avenue Café

Free non-fiction translation

WordPress.com

WordPress.com is the best place for your personal blog or business site.

Trương Thái Du's Blog

Văn chương thiên cổ sự - Đắc thất thốn tâm tri...

No More Goat Soup

No goats were harmed in any way while making this blog. (We did kill all the sheep though)