Hận Lãng Bạc – Chương 4

Leave a comment

Chương 4

Trong một bài khảo cứu cô viết: “Tại Âu Lạc cũng như nhiều vùng Bách Việt, người giàu có nhất, mạnh mẽ nhất trong làng được suy tôn là quan Lang. Một cách tương đối, đứng đầu trăm làng là Lạc tướng, ngàn làng là Lạc hầu, vạn làng là Lạc vương. Ngoại trừ quan Lang và Lạc tướng có những ràng buộc xa gần về huyết thống, địa lý và thần quyền; các nấc bậc quyền lực còn lại liên kết khá lỏng lẻo. Nó không có những nguyên tắc chế định thông thường của nhà nước phong kiến quân chủ, bởi chưa từng chia sẻ với nhau một tổ chức xã hội, chính trị hay tôn giáo. Đa thần cũng là lý do phân tán quan trọng, dù họ cùng thờ mặt trời (trong khuôn khổ nguyên sơ nhất). Cái vỏ phong kiến của ngôn ngữ Hán đã đánh lừa người đọc hàng ngàn năm sau, khi tiếp cận với những ghi chép về Âu Lạc trong Hán sử”.

“Điểm sáng đáng để ý nhất của Âu Lạc có lẽ là tinh thần đoàn kết của các Lạc tướng và nhân dân trước họa ngoại xâm. Luôn xuất hiện một thủ lĩnh đứng lên đóng vai trò Lạc vương khi chiến tranh vượt khỏi tính chất cục bộ trong bản thân Âu Lạc. Truyện cổ tích Thánh Gióng chứng tỏ điều đó. Muôn nhà đã góp cơm cho người anh hùng lớn nhanh như thổi. Hình ảnh và hành động của ông vua cho bắc loa cầu hiền chống giặc khá mờ nhạt, e rằng chỉ là biểu tượng được thêu dệt thêm về sau. Giặc tan thì vai trò của Thánh Gióng cũng hết, ông phải bay về trời. Mô típ này vẫn còn bảng lảng trong niêu cơm ăn mãi không hết của chàng Thạch Sanh ở rể. Truyện Thạch Sanh ghi nhận nhiều chi tiết giao thời giữa chế độ phong kiến phụ quyền (ngôi vua truyền cho con trai ruột) và quân trưởng mẫu hệ (ngôi vua truyền cho chồng trưởng nữ). Như vậy, vua Hùng (do viết nhầm từ Lạc vương mà ra) và An Dương Vương rất có thể đã từng thực hữu. Sự biến mất của vua Hùng có thể được giải thích bằng truyện cổ tích Thánh Gióng. Với An Dương Vương thì dễ hiểu hơn, ông phải chạy ra biển (lưu vong?) khi thất bại”.

Có một sử gia nước ngoài đã mạnh dạn khái quát hóa lịch sử trung đại Việt Nam cơ bản là những diễn biến tranh chấp vùng miền. Lập luận của cô có thể được xem là làm rõ nguồn gốc khía cạnh ấy không? Sự việc phức tạp hơn tên gọi của nó. Cô hoàn toàn chọn đúng đối tượng tham khảo khi nghiên cứu các bộ tộc Tây Nguyên. Anh khuyên cô nên đặt câu hỏi nghiêm túc và cầu thị dưới bất cứ khám phá cổ sử nào.

“Thế kỷ hai mươi, Hồ Chí Minh không hề tình cờ nói ra những lời giản dị nhưng có sức mạnh vô lường: “Các vua Hùng đã có công dựng nước, bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”. Anh gợi ý.

“Đúng thế”. Cô hào hứng – “Những lãnh tụ lập quốc thường có đường thông nối ý thức của họ với tiềm thức dân tộc và nhân dân, thậm chí nhân loại. Họ luôn biết phải nói cái gì, lúc nào và nói ra sao để đánh thức thời đại. Truyền thống yêu nước và đoàn kết chống xâm lược của người Việt Nam có nguồn gốc sâu xa như thế. Nó là bản năng, chứ không thể gọi là bản chất đơn thuần”.

***

Để giương cao ngọn cờ kháng Hán, chống thực dân, ngoài việc vận động, giác ngộ nhân dân cũng như quí tộc, Trưng Trắc bắt buộc phải tiến hành đại lễ đúc chiếc trống đồng to nhất trong lịch sử Âu Lạc. Chỉ có sở hữu trống mẹ, Trưng Trắc mới được thần linh ban cho sức mạnh, lòng quả cảm và chính nghĩa. Toàn thể con dân Âu Lạc sẽ hướng về Trưng Trắc khi trống mẹ gióng lên, ngàn trống con sẽ đáp lời đoàn kết.

Nhân lực, vật lực của M’linh tập trung cao độ vào việc đúc trống. Ngoài Chu Diên, người An Biên, Luy Lâu, Cư Phong và nhiều nơi khác, đã hết mình ủng hộ M’linh về tinh thần cũng như vật chất. Lạc tướng An Biên gửi chì và thiếc. Lạc tướng Cư Phong cử mười thợ đúc trống lành nghề góp công. Chu Diên tặng năm trăm cân vụn đồng nguyên chất. Luy Lâu cung cấp đất sét tốt nhất để làm khuôn trống.v.v..

Đầu tiên người ta nhào đi trộn lại, lọc tới lọc lui để đất sét hết tạp chất. Chất lượng của đất sét được đánh giá bằng trực quan của một người thợ đúc trống gần trăm tuổi. Bột sét phơi khô sẽ được hòa trộn với một lượng tro, trấu mật truyền. Hỗn hợp này dùng để tạo hình khuôn trống. Sau khi phơi khô, khuôn trống được nung tạm và đưa vào công đoạn khắc hoa văn chìm. Vì chiếc trống quá to, khuôn trống phải chia ra làm bốn mảnh ghép. Mấy chục nghệ nhân mất gần một con trăng, chi li, tỉ mẩn trên từng đường nét, tiểu tiết, từ sợi lông trĩ đến đôi mắt cặp cóc giao hoan quanh mặt trống. Trống của người M’linh luôn khắc mười tám con chim Lạc (chim kiếm ăn dưới nước, mỏ dài, chân cao) tượng trưng cho cha, và mười tám con hươu sao tượng trưng cho mẹ. Hươu sao là động vật đa phu, nhãn quan phụ hệ đa thê cho rằng hươu cái rất dâm là dễ hiểu.

Cốt trống cũng được đúc và nung như khuôn ngoài, nhưng do mặt trong trống không trang trí nên chỉ cần mài gọt cho phẳng. Ngoài ra độ dày mỏng của trống phụ thuộc rất nhiều ở việc tạo tác cốt trống. Chỉ cần sai lạc một chút, ứng suất co ngót khi đồng nguội sẽ làm vỡ trống.

Với trống nhỏ, khuôn liền hoặc hai mảnh, chỉ cần ốp khuôn vào cốt ngay trên mặt phẳng dương và cố định sơ sài, là có thể rót đồng nóng chảy vào. Ở chiếc trống của Trưng Trắc, các nghệ nhân phải đề ra phương án đào một hố đất thể tích bằng ba khuôn trống. Cốt trống đặt xuống, khuôn trống phủ ngoài, sau đó người ta sẽ đầm chặt đất ngang mặt khuôn để cố định khuôn trống. Giữa cốt trống và khuôn trống, tránh sự xê dịch, phải bố trí một số nêm gỗ mỏng nhẹ. Loại gỗ này đáp ứng yêu cầu sẽ cháy hoàn toàn khi tiếp xúc với đồng nóng chảy, tro than của nó sẽ bị đùn ra ngoài bằng các lỗ thông hơi nằm sâu dưới lòng đất.

Đồng được nấu trong một chảo đất nung cực lớn. Nó có quai buộc dây xích vắt lên dàn giáo, để nghiêng chảo đổ đồng nóng chảy vào khuôn đúc. Tổng cộng một tấn rưỡi đồng vụn nguyên chất, hai tạ thiếc, và già yến chì được sử dụng. Tỉ lệ đồng – thiếc – chì độc đáo của Âu Lạc kết tinh trong trống đồng là một minh chứng cho thấy ngành luyện kim nơi này có những đột phá ở tầm nhân loại. Chì giúp cho trống có độ dẻo dai nhất định, khó vỡ. Thiếc làm các chi tiết trống mịn màng, trơn bóng và tạo nên những hiệu ứng âm thanh vang rền. Ngoài ra một số vàng bạc cũng được thêm vào thành phần kim loại đúc trống Trưng Trắc. Đây là quà tặng của quí tộc Cửu Chân, tỏ lòng tôn kính Lạc tướng M’linh.

Trọng lượng cuối cùng của trống Trưng Trắc chỉ khoảng gần ba tạ, nguyên liệu lớn như vậy là do yêu cầu đặc biệt của nhân dân Âu Lạc. Việc đúc trống không thể thất bại, kim loại phải được nấu đúng lửa và rất lâu, để các tạp chất pha lẫn tách ra, loại bỏ cùng xỉ đồng. Lời mở là vậy, thực chất thì Trưng Trắc muốn kín tiếng, lượng đồng thừa hoặc kém chất lượng bà đúc vũ khí. Mũi giáo, rìu chiến có vai, kiếm, dao găm, mũi tên.v.v… chế tạo từ hơn một tấn đồng đủ trang bị cho cả ngàn tân binh.

Ngoài các loại vũ khí thông thường, Trưng Trắc đã cho đúc và thử nghiệm thành công mũi giáo gắn vào đầu Giao long thuyền. Đây là kết quả làm việc của nhiều bộ óc nông dân Âu Lạc. Mũi giáo nhọn, cạnh sắc, to bằng bàn tay người lớn, dài cỡ chiếc rựa đi rừng, có ngạnh hai bên. Đây sẽ là nông cụ, thay thế được cho chiếc cày truyền thống và ngược lại cày cũng có thể dùng làm mũi giáo nếu mài sắc.

Gắn mũi giáo vào đầu Giao long thuyền, dưới mặt nước khoảng hai tấc, chiến binh Âu Lạc đã có một vũ khí lợi hại tấn công Lâu thuyền Hán. Thật vậy, lực chèo kết hợp với sức nước và quán tính tương hỗ, Giao long thuyền dễ dàng đâm sâu mũi giáo vào thân Lâu thuyền khi cận chiến. Ngạnh của mũi giáo có nhiệm vụ giữ Giao long thuyền dính chặt vào Lâu thuyền. Độ dao động của hai con thuyền trên mặt nước sẽ tự sinh ra hủy lực đủ mạnh, phá rộng lỗ thủng Lâu thuyền và nhấn chìm nó. Nếu Giao long thuyền chất đầy rơm rạ, cỏ khô (những thứ phẩm của ruộng đồng), nó sẽ trở thành một trong những quả thủy lôi nguyên thủy. Âu Lạc đã kết hợp lao động với vệ quốc nhịp nhàng và uyển chuyển như thế. Đuổi được giặc dữ hay không, chính là nhờ những người nông dân chân đất vác cày ra trận. Họ luôn sẵn sàng chấp nhận hy sinh tính mạng của mình và mãi mãi ẩn danh dưới cái tên Âu Lạc anh hùng.

Ngày rót đồng vào khuôn là một đại lễ của Âu Lạc. Chín ông trâu được ngả thịt tế trời. Mười tám cụ cóc vàng hiến tiết đổ vào nồi đồng nóng chảy, để hồn thiêng sông núi tụ về trong trống. Mười tám cặp nữ – nam quì sau lưng Trưng Trắc, A Thi và bảy trưởng lão M’linh, tất cả khấu đầu khi trống đồng khắp các buôn làng tấu lên trời tâm nguyện tự do thiêng liêng của người Âu Lạc.

Hợp kim đồng nóng chảy lóa mắt được rót vào khuôn. Các ống tre thông hơi cắm sâu tận đáy khuôn phả khói trắng như hơi thở dịu dàng của mẹ đất. Không hề có tắc nghẽn xảy ra. Khi nước đồng thừa tràn qua mặt khuôn cũng là lúc từng nét mặt người Âu Lạc dãn ra, hạnh phúc rạng ngời. Họ sẽ tiếp tục lễ hội chín ngày chín đêm để chờ hồn đất nước, anh linh tiên tổ lắng vào thân trống.

***

Việc Trưng Trắc mời A Thi quì cạnh bà trong buổi lễ đúc trống đồng, dân M’linh khá bất ngờ, nhưng nhất thời họ chưa phản ứng vì không khí quá thiêng liêng. Muôn đời nay người đàn ông không có vai trò chính trị trong các gia tộc. Còn trai trẻ họ phải làm những công việc nặng nhọc. Được chọn làm chồng, ban đêm họ đến ở nhà vợ, ban ngày vẫn phải trở về nơi chôn nhau cắt rốn cày ải, trồng tỉa, săn thú, đánh cá… Khi già cả, họ được họ hàng ruột thịt nuôi nấng, nhưng cũng chỉ như cái bóng, ít người tôn trọng. Con của họ coi cha như người dưng vì họ không nuôi nấng, giáo dưỡng chúng. Nếu chết trẻ, em trai của họ phải thay anh làm chồng chị dâu. Thậm chí ở những vùng sâu vùng xa, chẳng may vợ chết, họ được liệt kê trong danh sách tài sản sẽ được phân chia cho các hàng thừa kế.

Tô Định đã tấn công luật tục đặc thù này của Âu Lạc. Đó là lí do nhiều trung niên xung quanh Long Uyên ngả theo y, trở thành ngụy quân trong đội ngũ Hán.

Chẳng phải ai cũng có cái nhìn sáng suốt như Trưng Trắc. Bà nhận ra sự không hợp thời của thói tục trọng nữ khinh nam. Xóa bỏ bất công, sức mạnh nội tại của Âu Lạc mới có cơ hội khởi sắc. Sức mạnh tự thân là yếu tố quan trọng nhất để một cộng đồng, một quốc gia khẳng định tiếng nói của mình.

“Hỡi các chị em” – Trưng Trắc hô hào phụ nữ M’linh – “Hãy trả lại cho đàn ông quyền lực của họ. Họ sẽ cùng chúng ta bảo vệ mảnh đất này khỏi lũ sói hung ác phương Bắc. Hãy tưởng tượng một mai bọn tóc dài mặt trắng kia làm chủ M’linh. Số phận của tất cả chúng ta cũng như nhau mà thôi. Đàn ông trở thành nô bộc, lính đánh thuê. Đàn bà trở thành con hầu, vợ lẽ, suốt đời ẩn mặt trong chái bếp”.

Già Mị, bà thầy mo uy tín nhất M’linh kiên quyết phản đối thủ lĩnh của mình. Gia đình nào nghe lời Trưng Trắc ban ngày giữ con rể ở lại, liền bị thầy mo đến trước cửa hát sử thi đưa tang. Người Âu Lạc tin rằng ma quỉ sẽ nương theo những lời ca huyền bí, gieo rắc bệnh tật, ốm đau, thậm chí bắt cả linh hồn người ta.

Già Mị chỉ tránh xa nhà rông lạc tướng, dù A Thi bắt đầu lưu lại đây thường xuyên hơn. Thầy mo và Lạc tướng là hai khung cốt độc lập, cùng nâng đỡ đời sống cộng đồng của xứ sở này. Nếu Già Mị tự xưng là sứ giả mà thần linh gửi đến nhân gian thì Trưng Trắc được cho là con trực huyết của mẹ trời quyền năng, một hình thức sơ khai của khái niệm “thiên tử”. Lạc tướng sử dụng trống đồng có hình mặt trời tỏa ra các tia sáng trong khi thầy mo luôn đeo túi bùa bí ẩn, tay chuông, tay dao trừ tà.

Ai ai cũng tin túi bùa của Già Mị giam cầm, không chế hồn ma xác quỉ. Cụ thể, nó chứa một tập hợp hỗn độn những đồ vật quí hiếm và cổ xưa như đá cuội nhiều màu bóng lộn, gỗ hóa thạch, rìu đồng rỉ xanh, răng đại dã thú như hổ, lợn. Người ta truyền kể rằng, Già Mị có một cặp nanh nhọn yêu tinh còn nguyên vết máu khô, chữa bệnh rất linh nghiệm. Để sở hữu nó, bà phải liều thân đi vào rừng thẳm dụ con đười ươi chúa ra khỏi hang. Hành vi cố hữu của nó là nắm chặt hai cánh tay kẻ đi lạc, nhắm mắt, ngửa mặt lên trời, nhe răng cười từng tràng mời gọi ma quỉ. Khi trăng lên, chúng sẽ hỉ hả chia nhau thịt người. Già Mị đeo sẵn hai ống tre to. Đợi yêu tinh nhắm mắt, bà nhẹ nhàng rút tay khỏi ống tre và dùng con dao thần trong túi bùa hạ thủ nó. Cặp nanh gớm giếc tươi mới đã đưa Già Mị trở thành thầy mo chúa trùm M’linh. Nhà giàu xa gần, thậm chí các Lạc tướng xung quanh M’linh cũng rất tôn trọng và tín nhiệm bà, thỉnh thoảng vẫn mời bà vượt sông lớn, rừng thẳm sang trừ tà, chữ bệnh. Đến nơi, Già Mị đổ cả túi bùa vào âu nước lấy từ mạch suối tinh khiết nhất vùng. Bà ngậm nước phun khắp nhà có ma, vừa rung chuông vừa đọc đoạn sử thi bắt ma quỉ. Sau đó người ốm uống nước ấy, ma quỉ sẽ bị trục khỏi thân xác và chỗ cư trú của con bệnh.

Trưng Trắc khá đau đầu và nan giải với quyền lực của Già Mị. Vấn kế Lữ lạc tướng, bà liền dựng một ngôi nhà sàn rộng bên suối, cách hành dinh của mình không xa. Bà sai thuộc hạ đón tất cả những người bệnh nặng ở M’linh về đấy chăm sóc, bỏ qua hủ tục của Già Mị. Ngoài việc thực hành vệ sinh và chú trọng dinh dưỡng, lương y dùng hoàng thổ sát trùng, chọn lọc nhiều cây cỏ quí sắc lấy nước thuốc cho bệnh nhân uống. Họ cũng áp dụng dược toa độc đáo của Âu Lạc: đào đất có hóa tính làm thức ăn chữa nội thương. Kết quả, nhiều người bệnh phục hồi hoàn toàn, nhiều căn bệnh bị tiêu diệt tận gốc rễ.

Già Mị cuối cùng đành phải đến gặp Trưng Trắc, mong thỏa hiệp với Lạc tướng:

“Trống mẹ sắp được thượng nghinh, tôi gọi ngài là Lạc vương được không ạ?”.

“Ôi Già Mị đấy hả. Bà đến đây tôi mừng lắm”. Trưng Trắc niềm nở chào đón thầy mo – “Chúng ta phải ở bên nhau trước giặc dữ, bà hiểu tôi chưa?”.

“Tôi sẽ thêm vào sử thi những dòng thơ tôn vinh tân Lạc vương. Tôi sẽ đọc vang trong các lễ cúng từ dựng nhà mới đến khai mạch nước, xuống đồng… Người Âu Lạc sẽ tự hào có bà, sẽ đoàn kết bên sự nghiệp của bà. Nhưng…”. Già Mị cố ý nhấm nhứ thăm dò Trưng Trắc – “Nhưng Lạc vương phải…”.

“Ta không trả treo với bà đâu. Ta chẳng cầu lợi riêng. Vận mệnh xứ sở có thể đem ra thương lượng ư?”. Trưng Trắc chặn ngay thói con buôn tư lợi phổ biến của thầy mo – “Một ngày một buổi, không thể bứng gốc hủ tục lạc hậu mê tín đã ăn vào tận xương tủy dân ta. Từ nay bà không được chống việc làm quang minh chính đại của ta nữa. Bà vẫn có thể thực hành những lễ cúng truyền thống, bà vẫn có thể đến thăm người bệnh. Hãy dùng thần linh động viên họ vượt qua khó khăn. Nhất thiết không được bỏ bê cách chữa trị thực chất của lương y mà ta đã mời về”.

Già Mị không mong gì hơn. Bà khấu đầu tạ ơn Trưng Trắc. Bà thậm chí tự giác thuận theo thay đổi trong niềm kính phục thái quá. Sau này bà quyết giữ vương vị cho Trưng Trắc bằng tuyên truyền thần khải. Bà không ý thức được rằng bà hại chết Âu Lạc bởi lòng trung thành ngờ nghệch, ít nhiều đáng thương hại.

Không ít cam go, cuối cùng Trưng Trắc đã thổi vào cuộc sống M’linh luồng gió đầy sinh khí. Trai tráng lao động hăng say, luyện cung tập kiếm hồ hởi, sẵn sàng sống chết bảo vệ làng mạc, quê hương. Song, M’linh không sống biệt lập. Quan hệ hôn nhân của họ trải khắp Âu Lạc. Trưng Trắc tốn không ít công sức để vượt qua trở ngại này nhưng mọi thứ vẫn dậm chân tại chỗ. Bà chỉ thắng lợi có giới hạn tại Chu Diên. Lạc tướng Chu Diên mở lòng, cho phép A Thi có mặt tại M’linh thường xuyên hơn.

Chín ngày sau khi rót đồng vào khuôn trống, người M’linh tiến hành lễ bái trống và đánh thử. Trai gái nhà giàu khắp nơi lũ lượt kéo đến. Thay vì cầm theo thoa bạc, trâm vàng gõ vào mặt trống rồi tặng lại chủ nhân như lệ cổ, họ đem sang toàn vũ khí mới, nào dao găm, đầu giáo và các mũi tên đồng. Tín hiệu hưng binh diệt thù đã thông suốt từng ngọn cỏ, hốc cây Âu Lạc.

Hố đất đúc trống được dọn sạch. Dỡ khuôn trống ra, một chiếc trống đồng không tì vết, sáng loáng xuất hiện. Những trai tráng khỏe mạnh nhất M’linh kê vai khiêng trống đến cây đa cổ thụ hàng ngàn tuổi rồi trân trọng treo lên. Giờ phút quan trọng đã điểm. Nếu trống đánh không kêu, không vang thì mọi cầu nguyện của người M’linh xem như không được đất trời ủng hộ.

Mẹ Man Thiện trao cho Trưng Trắc chiếc dùi dài, đầu bọc lụa đỏ. Trưng Trắc cúi đầu nhận, cảm ơn mẹ. Và trong sự kinh ngạc của mọi người, bà dùng hai tay dâng cho A Thi. Bà nói:

“Hãy đánh trống đi A Thi. Ta đã nghe tiếng gió đập vào mặt trống, âm u vang lên lời thiêng ngàn năm sông núi. Việc đúc trống đã thành công mĩ mãn. Mẹ đất đã nghe thấu nguyện ước của Âu Lạc. Cha nước đã thổi hùng khí Giao long vào từng thớ đồng. Trời cao đã nén sấm chớp dưới các hoa văn kia”.

Xúc động tột độ, A Thi quì xuống tạ ơn Mẹ Man Thiện, các bô lão và toàn thể người dân M’linh cũng như quan khách. Ông hùng dũng bước lên, giáng những hồi trống linh hoạt và tràn đầy uy lực.

Ai cũng bảo tiếng trống đã vang xa, vượt qua mười tám ngọn núi, chín mươi chín thác nước, đến bên Lạc vương huyền thoại. Người đã truyền cho kẻ đánh trống sức mạnh vô địch, để đạp sóng dữ ngàn khơi, để cưỡi Giao long, cầm gươm thần giết giặc.

***

Ngày lễ trọng đại nhất của Âu Lạc là tiết Đoan Ngọ. Thời điểm này trùng với Hạ chí dương lịch, mặt trời ở gần bán cầu bắc nhất, giữa trưa nó nằm thẳng trên đỉnh đầu mọi người. Xuất phát từ tục thờ Mặt trời tối cổ, người Âu Lạc đồng hóa Mặt trời với nữ tổ của mình, họ gọi là bà Trời. Đoan Ngọ là ngày nóng nhất trong năm, là sinh nhật của bà Trời, các lễ hội ăn mừng trải rộng suốt nửa tháng ròng.

Mùng năm tháng năm âm lịch, năm 40 sau Công nguyên, Âu Lạc tổ chức một lễ hội đua thuyền Giao long lớn chưa từng có trong lịch sử của họ tại thượng lưu biển hồ Lãng Bạc. Ba mươi sáu đội đua nam – nữ của chín Lạc tướng tham dự. Mỗi thuyền đua mười tám tay chèo. Trưởng nhóm cầm nhịp bằng trống đồng ở giữa thuyền. Tất cả các tay chèo đều cắm lông trĩ ngũ sắc trên đầu, buộc băng đỏ ngang trán. Nam mặc khố, cởi trần. Nữ bận áo hai vạt ngắn, váy thổ cẩm.

Chín Lạc tướng ngồi trên chín thuyền lớn, lễ phục gọn gàng, các tùy tướng và hộ quân của họ gồm hai đội đứng hai bên. Ngoài cung tên không thể thiếu, vũ khí họ mang theo đa phần dài và nhẹ như lao, chĩa, giáo. Thuyền của Trưng Trắc to nhất, dài nhất, trên ấy đặt chiếc trống đồng lớn nhất Âu Lạc vừa đúc xong. Đặc biệt, đầu tất cả thuyền đua và thuyền Lạc tướng đều trùm một tấm lụa đỏ, để giấu lưỡi giáo có ngạnh.

Người xem đua thuyền đông như một luồng cá biển. Đứng trên bờ đa phần là trẻ con, người già sức khỏe yếu kém. Cư dân xuống hết các loại phương tiện nổi, từ độc mộc đến thuyền nan. Họ bơi ra giữa hồ, tập hợp xung quanh đoàn thuyền giao long, hò hét ủng hộ.

Vị bô lão Chu Diên hơn trăm tuổi, gương mặt đẹp như một mắt gỗ hóa thạch, tóc trắng lẫn vào mây, được vinh dự bước lên đài khai hội. Bà đã móm, tiếng nói không thể vang xa nên chỉ ra dấu. Đầu tiên bà thẳng người, đưa hai tay về phía trước, song song với mặt đất. Vạn người im lặng tựa một ao bèo. Tiếp theo, bô lão ngửa hẳn mặt lên trời, tay mở một vòng rộng, miệng thì thầm gọi mẹ tổ mẹ tiên. Muôn ngàn giọng nói hòa làm một, cất theo nhịp nhàng: Mẹ ơi, Cha ơi… Âu Lạc trường tồn…

Già Mị đeo mặt nạ thần sấm, đi guốc gỗ, đầu đội mũ vải cong nhọn như sừng trâu, mặc bộ áo dài nhiều thân màu đen, cài khuy ở sườn. Chuông rung, chiêng đổ, bà cầm giọng cho hàng chục thầy mo hát lên những lời mở đầu của thiên sử thi mở đất, mở nước, tôn vinh mẹ tổ.

Một cột khói to trên bờ ùn ùn báo hiệu. Trống cái tại thuyền Trưng Trắc hùng tráng cất giọng. Hàng trăm trống con đánh bồi theo. Mười tám cặp thuyền nữ – nam đâu lưng xuất phát, tiếng trống lấy nhịp đanh chắc, tiếng hô vận thở đều xin xít.

Đua thuyền giao long Âu Lạc tương đối khác so với các nơi, do hình thể sông nước ở đây tác động. Hai đội nữ và nam sẽ chèo ngược chiều nhau. Khi họ khép một vòng tròn ngoài cửa Hát, coi như đã đến đích. Thuyền nữ đầu tiên và thuyền nam đầu tiên gặp nhau sẽ được chọn là cặp thuyền thắng cuộc. Họ ăn mừng bằng cách té nước, chúc tụng những điều tốt đẹp. Sau đó từng cặp trai gái lao xuống mặt hồ, bơi quấn nhau trong điệu múa Giao long hợp hoan, đầy biểu trưng phồn thực của văn minh Đông Sơn.

Đoàn đua gần như vây bọc người xem và chín Giao long thuyền của Lạc tướng trong một quả trứng khổng lồ. Độ bao quát của mỗi cá nhân với sự kiện thật toàn vẹn. Hơn thế nữa, từng người luôn có cảm giác mình là trung tâm của lễ hội. Chỉ cần so sánh cấu trúc đua thuyền này với một trận bóng đá hiện đại, ta thấy trí tưởng tượng và thao tác của người Âu Lạc vượt xa con người hai ngàn năm sau, ở góc độ nhất định nào đó.

***

Mười tám cặp thuyền đua đã gặp nhau, điệu múa giao long hợp hoan đang ở thời điểm tưng bừng nhất, cuối trời bỗng xuất hiện những cánh buồm đen. Bảy Lâu thuyền của Tô Định chém sóng sấn tới lễ hội của người Âu Lạc. Trưng Trắc cho chuyển điệu trống cảnh giác. Người dân hoang mang, thuyền khán giả sôi như ong vỡ tổ. Tuy nhiên trật tự máu chóng được tái lập. Trống lệnh sẵn sàng ứng chiến phát ra. Chín Giao long thuyền của các Lạc tướng tạo nên đôi cánh che chở cho lương dân. Một số thuyền vũ trang trực sẵn trong bờ cũng lao ra, giáo nhọn tua tủa, cung được gắn tên vào và trương cứng.

Ý thức rõ ràng về chủ quyền Âu Lạc, Trưng Trắc chỉ gián tiếp bắn tin cho Long Uyên về lễ hội Đoan Ngọ này. Bà coi đó là việc làm khôn khéo và mềm dẻo, không mất mát oai linh lãnh tụ và chính nghĩa của Âu Lạc. Tô Định xem đây là hành vi coi thường y. Khi Giao long thuyền và Lâu thuyền tiến sát nhau ở khoảng cách có thể khẩu đàm, Tô Định hằn học:

“Khá khen thay cho M’linh Lạc tướng. Lệnh cấm của ta ở vùng nước này đã bị các ngươi xúc phạm. Ta bị xúc phạm nghĩa là Thánh thượng đại Hán đã mang nhục”.

“Tô Định, không được hỗn xược.” – Giọng nam trầm đầy tự tin của A Thi rắn rỏi như thép. Ông chỉ thẳng về phía Hán quân – “M’linh đã có trống cái. Trời đất đã trao cho Trưng Trắc sứ mệnh của Lạc vương huyền thoại. Ngươi phải quì xuống nếu muốn nói chuyện với vua bà Âu Lạc, như từng phải quì trước bệ rồng Lạc Dương”.

Gương mặt mất ngủ của Tô Định dài ra, tái dại. Y đảo mắt xung quanh một lượt, ước lượng đối thủ. Y biết mình không có cơ hội.

“Người Hán cút đi. Người Hán cút đi…” – Không ai bảo ai, biển người Âu Lạc thét vang. Hán quân xanh mặt. Tô Định nổi da gà. Y biết nếu y thốt ra một lời nữa thôi, chín chiếc Giao long thuyền gắn giáo nhọn trên mũi sẽ xông vào xé xác đoàn Lâu thuyền Hán. Hàng ngàn cung thủ sẽ tưới mưa tên vào Hán quân. Lao dài, giáo nhọn sẽ xiên Tô Định như xiên cá.

Tô Định đứng cao hơn A Thi và Trưng trắc vì Lâu thuyền là một phương tiện thực dân đồ sộ để đi biển lớn, đến xâm lăng chiếm đóng những mảnh đất giàu có và hiền lành như Âu Lạc. Nó khác hẳn Giao long thuyền mộc mạc hiền hòa, chỉ dùng đối phó với sông nước bất trắc, chứ không phải đối đầu với con người man rợ.

Song, độ cao vật lý chỉ là tương đối. Tô Định thấy mình nhỏ bé và quá hèn mọn trước Trưng Trắc, A Thi hoặc bất cứ chiến binh Âu Lạc nào. Nếu có phép thuật, có lẽ y đã biến thành một con kiến, nhảy xuống biển hồ Lãng Bạc, bám vào cọng rác nào đó để trốn chạy về Long Uyên.

Trưng Trắc dễ dàng đọc được nét mặt của Tô Định. Tuy vậy, bà không muốn thấy máu chảy trong ngày sinh nhật mẹ tổ cao quí. Bà tin một thủ lãnh khôn ngoan biết tránh xung đột chưa cần thiết. Bà mong mỏi hóa giải sức mạnh của đế quốc Hán, hơn là quan tâm đến chiến thắng nhỏ nhoi trước mắt.

Do đó, cái nhìn của Trưng Trắc hướng về Tô Định vừa mạnh mẽ kiên quyết, vừa dịu dàng hòa hoãn. Tô Định cố bấu víu vị thế vượt trội của Hán tộc trong ý thức chủ quan của y. Vẫn chưa đủ tự tin. Hán quân đang run rẩy sau lưng y. Tô Định đành bất lực khoát tay ra hiệu Lâu thuyền đánh lái rút lui.

Khi đoàn Lâu thuyền chỉ còn là những chấm nhỏ cuối tầm mắt, mặt biển hồ Lãng Bạc vẫn dội lên lời hờn căm: “Người Hán cút đi… Người Hán cút đi…”.

Hận Lãng Bạc – Chương 3

Leave a comment

Chương 3

“Không hề có chút lý luận, đùng cái em bảo Âu Lạc nghĩa là Đất Nước”. Anh trêu cô.

“Mỗi quyển sử Việt em đã đọc đi đọc lại không dưới 10 lần. Em linh cảm thế. Anh không giúp em mà còn giễu cợt ư?”.

“Anh dùng thuật toán nhé. Nếu âm Âu có một vài ngữ nghĩa gần nhau thì khi thay Âu vào các từ đơn, từ kép trong cổ sử, nó sẽ không vô lý. Thậm xưa, đất Việt ở Giang nam thường được viết là Ư Việt, Vu Việt. Ư và Vu đồng nghĩa, theo tự điển Thuyết văn đời Hán. U và Âu là biến âm và tương đương nhau trong nhiều trường hợp như Chu/Châu, Thu/Thâu, U sầu/Âu sầu… Đặc biệt Âu ghép bởi chữ Khu (vùng đất) và chữ Ngõa (ngói)”.

“Vậy nghĩa Đất của Âu có thể chứa trong chữ Khu?”.

“Em để ý nhé, người Việt cổ gọi mẹ là U hoặc Bu, họ cũng gọi Núi/Non là Rú. Trường ca Đẻ đất đẻ nước của người Mường cũng nhắc đến đồi U”.

“Có một mối liên hệ nhất định giữa Âu và các nghĩa Đất, Mẹ, Núi”.

“Tuyệt quá. Âu Cơ là bà mẹ cao quí. Âu Cơ dẫn năm mươi người con lên núi. Lạc, Nác, Nước, Đaạ, Đak, Đác, Đà đều chỉ sông, suối, vùng nước sinh tồn của Lạc Long Quân và năm mươi người con còn lại. Họ có chia ly không? Không, hai chủng người đã hợp huyết và cộng sinh ngôn ngữ, họ gọi xứ xở của họ bằng một từ ghép Non Nước, Đất Nước và cuối cùng nó đã được người Hán ký âm bằng Hán tự thành Âu Lạc”.

Âu Lạc nghĩa là Đất Nước vẫn chỉ là giả thiết. Cô và anh không hề ảo tưởng về một khám phá vĩ đại. Tuy vậy giả thiết này giải quyết được rất nhiều vấn đề cổ sử mù mờ. Ít nhất nó cũng san phẳng dị biệt giữa Sử Ký và Hán Thư ở địa danh Tây Âu Lạc và Tây Âu, nó cho thấy chúng là một, chúng chỉ vùng đất phía tây Phiên Ngung.

Nếu đã là trùng ngữ, Âu hay Lạc đều có thể đứng riêng để chỉ cương vực, lãnh thổ, và cao hơn hết là quốc gia. Đó chính là ý nghĩa như nhất của Âu Việt và Lạc Việt.

***

Một lâu thuyền (thuyền có lầu) của Tô Định cơ cấu quãng năm bảy chục người. Thực ra đây là loại thuyền Hán, phổ biến từ thời Tần trên cơ sở phát triển kỹ thuật hàng hải ven bờ của người Bách Việt ở Giang nam, đặc biệt tại bộ phận bánh lái. Hầm tàu là những khoang chứa hàng, lương thực, nước uống và phòng ở của binh lính. Boong chính thiết kế hai dãy mái chèo đâm ra khỏi thành tàu. Tùy thuộc vào độ lớn của lâu thuyền, một mái chèo sẽ có một, hai hay nhiều người phụ trách. Giữa thuyền dựng vài tầng lầu thấp, gồm buồng lái, buồng chỉ huy và các khu vực sinh hoạt chung. Boong mũi cũng như boong lái bằng phẳng rộng rãi để tướng sĩ và tinh binh tác chiến khi lâm trận. Lâu thuyền thường cắm ba cột buồm lớn, điều chỉnh bằng ròng rọc gỗ, dù sơ khai nhưng rất linh hoạt. Vũ khí trang bị trên lâu thuyền khá đa dạng như pháo xa (súng bắn đá), lôi thạch (máng lăn đá nặng), thiết mâu (giáo sắt dài), qua, kích, gươm, cung tên… Đặc biệt nỏ đại điều khiển bán tự động theo nguyên lý đòn bẩy cơ học, bắn một lần nhiều mũi tên, có thể tẩm dầu thực vật để phóng hỏa khi cần. Súng bắn đá và máng lăn đá cực kỳ lợi hại, lực công phá rất lớn, chuyên dùng để phá vỡ vỏ tàu đối phương từ xa hoặc nhận chìm thuyền nhỏ áp mạn tấn công.

Lực lượng của Tô Định gồm năm trăm lê dương Hoa Bắc và một ít dân phu thu nạp từ Lĩnh Nam. So với quân Mã Viện sau này thì chẳng đáng là bao, nhưng hơn hẳn những gì Nhâm Diên và Tích Quang đã có.

Người ta hay tưởng tượng ở Âu Lạc phải hiện hữu nhiều làng lưu đày tội nhân Hán hoặc người Hán di cư, chạy loạn, làm hậu phương vững chắc tại chỗ cho Tô Định. Thời Vương Mãng, Hán nhân bỏ xuống phương Nam không ít, sách chép Giao Chỉ với ý nghĩa Giao Chỉ bộ, chứ không phải quận Giao Chỉ. Thủy thổ Âu Lạc rất khắc nghiệt, người xứ lạnh Hoa Bắc khó thích nghi. Tỉ lệ dân phi bản xứ ba đời ở Âu Lạc chẳng cao, nếu không rặt Lĩnh Nam tương đồng văn hóa, thì cũng là nhóm Hán có huyết thống Lĩnh Nam. Họ đã xem Âu Lạc là quê hương, bản quốc từ lúc chôn nhau cắt rốn. Dù Tô Định đặc biệt ân cần với họ, xoáy vào nỗi hoài vọng quê cha đất tổ ngàn đời, đề cao và chia sẻ nền tảng phụ hệ, kết quả vẫn chẳng đi đến đâu.

Vẻ ngoài Tô Định không gớm giếc như được mô tả bởi văn chương Việt Nam sau này, nhất là ở những thời điểm tinh thần chống xâm lược lên cao. Dã tâm và lòng tham của y thì khỏi phải nói. Như tất cả lũ thực dân trên thế giới, Tô Định lọc lõi và thừa điêu toa để thu hút cái nhìn vừa ngưỡng mộ vừa sợ sệt từ một số nạn nhân của y. Mùa đông y mặc mấy lớp áo thụng rộng tay, đi ủng gấm. Mùa hè Tô Định gọn gàng và nền nã trong quần áo ngắn kiểu người Hồ, may bằng lụa Giang nam thượng hạng. Thỉnh thoảng y đóng bộ quan phục uy nghiêm gồm áo mũ cân đai thêu thùa tỉ mỉ. Bình thường y đi đứng và ăn nói rất điềm đạm, kẻ cả. Chỉ khi nào nổi giận, tạm thời mất kiểm soát y, mới phùng mang trợn mắt, bừng bừng sát khí.

Sinh ra và lớn lên giữa thời loạn lạc, hành vi của Tô Định đầy ắp chất võ biền và vô học, khác hẳn các Thái thú đi trước. Nếu Nhâm Diên và Tích Quang ít điều tiếng, cố tránh oán hận, khéo lừa được những con người Âu Lạc thật thà, thì Tô Định luôn khiến họ khinh rẻ. Không có Tô Định, biết đâu Âu Lạc đã bị đồng hóa và nuốt trọng một cách êm ái nhất, hoàn toàn phi bạo lực. Chưa biết chừng bị hại còn lầm lẫn, tôn sùng kẻ thù như thánh sống, như người ơn giống trường hợp Nhâm Diên.

Nhâm Diên vốn được Quang Vũ đế sai sang Cửu Chân (nam Âu Lạc) trước Tô Định dăm năm. Người Hán đã có tấu sớ cũ của Tích Quang ghi chép kỹ lưỡng về con người, đất đai, tài nguyên quận Giao Chỉ (bắc Âu Lạc). Nhiệm vụ của Nhâm Diên không khác Tích Quang. Cửu Chân là vùng bán sơn địa, đất cao ruộng cạn, giáp biển thông rừng, dân cư thưa thớt. Nhâm Diên đến, các Lạc tướng bất hợp tác. Y đành dựng trại chiêu phu tại Vô Biên.

Người Cửu Chân đi rừng thuần thục hơn cày cấy, lương thực chính không phải là gạo tẻ. Họ làm đất qua loa như cho trâu quần nát cỏ, rồi dùng dùi trỉa thóc giống. Chính vì vậy Nhâm Diên phải chạy ra Giao Chỉ đong gạo, sau thấy quá nhọc nên đúc cày, khẩn đất, mới nuôi nổi mấy mống lính thú và phu bản xứ. Thái thú chê bai hôn nhân mẫu hệ, dụ dỗ tổ chức được ít đám cưới theo kiểu Hán.

Quí tộc bản xứ ở Cửu Chân rộng rãi, phóng khoáng, có khí tiết. Sinh hoạt như mọi nơi trong Âu Lạc. Họ rất quí trống đồng, lễ hội thường đánh trống, múa hát, uống rượu. Rượu Cửu Chân là hủ cơm ủ men và lá rừng cho ngấu sẵn, lúc uống đổ nước sạch vào, cắm cần trúc hút trực tiếp.

Nhâm Diên không dám chọc giận quí tộc Cửu Chân, cư xử ra mặt biết điều. Các Lạc tướng chẳng mấy bận lòng. Bốn năm sau Nhâm Diên chạy chọt về triều. Trước khi được bổ làm quan nơi khác, y khuyến khích Hán Quang Vũ tiến hành nô thuộc Âu Lạc và quả quyết mảnh đất ấy giàu có không tưởng tượng nổi. Để bịa tạc chính nghĩa cho kẻ cướp, Nhâm Diên kể lể đã dạy người Cửu Chân làm ruộng, giáo hóa Bắc lễ. Y không ngượng miệng xiên xỏ con người ở đấy sống không bằng cầm thú, mặc dù đã tận mắt chứng kiến loài vượn Ca Nhiên lạ lùng. Chúng có khuôn mặt rất giống người, nhân nghĩa hơn cả Hán quan. Nhâm Diên đi săn, bắn được một con thì thể nào cũng bắt gọn hai con. Con chưa bị tên sẽ nhổ mũi tên giết vợ hoặc chồng nó tự đâm để cùng chết.

Công việc đầu tiên của Tô Định tại Long Uyên là hằng ngày sai thuộc hạ dong buồm đi dọc biển hồ Lãng Bạc, lên tận ngã ba Bạch Hạc, nghênh ngang tuần tiễu. Lính tráng của y thường đứng hoặc ngồi trên boong mũi, dưới tán lọng đen, lấy gươm chỉ trỏ, đe nẹt, hoạch họe các thuyền buôn, thuyền chài Âu Lạc. Không thấy những phản ứng có hệ thống từ người bản địa, Tô Định dấn thêm một bước. Y bắt đầu ra lệnh cướp bóc, trấn lột lương dân dưới mỹ từ thu thuế. Người Âu Lạc chưa có nền thương nghiệp, họ chỉ trao đổi hàng hóa trực tiếp. Tô Định liền nghĩ ra cách bắt thuyền và ép họ phải chuộc lại bằng đồ đồng, ngà voi, sừng tê, ngọc trai, hương liệu, gỗ quí.v.v… Lời ai oán dậy lên.

Các Lạc tướng đứng ngồi không yên. Nhiều vạn chài phải bỏ ngư trường gần Long Uyên, lánh lên thượng nguồn hoặc hạ lưu. Phản ứng mạnh mẽ và cương quyết của Lạc tướng M’linh khiến Tô Định bất ngờ. Quá trình vơ vét của cải bị chững lại. Tô Định điên cuồng thúc giục quân lính tuần tra gấp ruổi, cần thì bỏ thuyền lên bờ, sục xạo vào những buôn bản nằm sâu trong đất liền. Giết chóc, hãm hiếp và đốt phá đã xảy ra. Với ai đã mang nỗi sợ Tô Định trong chính bản chất hèn nhát của mình, tô thuế và cống nộp thường kỳ để cầu an là giải pháp mà họ nhanh nhảu chấp nhận. Ách thực dân đã cắm rễ một cách cường bạo như thế xung quanh Long Uyên.

Các tàu buôn Trung Nguyên ghé qua Long Uyên liên tục. Lúc nào chúng cũng rời đi khẳm mạn. Khoang tàu chất đầy của cải, sản vật Âu Lạc, hướng về Hợp Phố hoặc Nam Hải. Những thứ ăn cướp ấy sẽ được chuyển tiếp theo đường bộ, thẳng đến đế đô Lạc Dương.

***

Sự lệch pha giữa nhận thức của Tô Định và Tích Quang là dễ hiểu. Tích Quang, một nhà Nho chính thống, ý thức sâu sắc rằng, con người mới chính là tài sản thực sự trân quí của bất cứ đất nước nào. Mua chuộc được một bộ phận dân cư Âu Lạc, quí tộc là tốt nhất, thì sẽ thuộc địa hóa Âu Lạc thành công. Chẳng có trận chiến nào dễ dàng hơn khi nhà Hán xâm lăng Âu Lạc bằng lính Âu Lạc, Lạc tướng được cấp thao ấn (ấn đeo cổ), trở thành quan chức Hán. Họ sẽ thu thuế cho Thái thú, tổ chức khẩn hoang, khai mỏ, phá rừng, lật biển… đem hết của ngon vật lạ của xứ sở lên bàn tiệc thực dân, chia bôi với Thái thú. Không may, sự nghiệp của Tích Quang bị loạn Vương Mãng hủy phá.

Quang Vũ đế đã tin tưởng giao cho Tô Định sứ mệnh mở rộng biên giới phía nam. Y tự nhận mình là người đi khai hóa, đem ánh sáng văn minh của Hán tộc chiếu rọi đến nơi rừng thiêng nước độc này. Song, Tô Định không sử dụng được nọc độc trong lời dặn dò của vua Hán. Năm trăm quân trên một đội Lâu thuyền Quang Vũ cử đến Âu Lạc đâu phải để đánh nhau và trấn lột trắng trợn. Nó chỉ là chất xúc tác phân hóa người Âu Lạc. Nó chứa những viên đạn bọc đường chỉ nên tặng giới quí tộc ăn trên ngồi trước, không thiết tha với quyền lợi xứ sở. Nó mang hình ảnh bạo lực tượng trưng, chỉ đánh được đòn cân não vào lũ nhút nhát, độc tài nhưng bạc nhược. Thất sách của Tô Định đã tung tóe, ngoài kia, dưới những thôn xóm Âu Lạc hiền hòa, có một người đàn bà dũng cảm đã chỉ mặt gọi tên y là kẻ cướp.

Vì hiểu sai lời Tích Quang, Tô Định đã hứa hưu hứa vượn với Hán đế sẽ làm cỏ Âu Lạc chỉ với năm trăm quân và võ mồm dọa nạt. Tô Định cứ tưởng đem Lâu thuyền án ngữ, tuần tra, cướp bóc dọc sông Hồng thì người Âu Lạc sẽ khiếp vía. Ai ngờ mỗi một me già Lạc tướng ở Khúc Dương rón rén đến Long Uyên quị lụy. Còn lại, nhân dân Âu Lạc nói chung đang biến căm hờn thành sức mạnh. Sức mạnh ấy luôn căng cứng trong tiếng trống đồng uất hận, đêm đêm đang thổi lửa, hun đốt tâm trí người Hán ở Long Uyên.

Nhìn chung Tô Định chỉ lộng hành và thành công ở xung quanh Long Uyên. Cư dân nghèo Việt cổ cởi trần đóng khố, cắt tóc xăm mình, bị hình ảnh tề chỉnh của Thái thú và Hán quân hớp hồn. Họ bắt đầu vọng ngoại. Với đàn ông, họ mơ ước về một xã hội phụ hệ, nơi tiếng nói của họ được xem trọng ngang ngửa với sức khỏe và khả năng đi rừng, đánh cá, trồng trọt cũng như cày cấy. Với phụ nữ, họ bị bả vật chất mua chuộc, chóa mắt. Làm vợ quan quân Hán, họ không cần của hồi môn, không phải đầu tắt mặt tối gánh vác trách nhiệm gia đình, dòng tộc, lại còn được ăn trắng mặc trơn.

Tô Định thừa hiểu chỉ một nhúm quân, y chẳng thể làm được gì, kể cả bảo toàn tính mạng chính mình. Y không rõ Tích Quang dựa vào đâu mà đã trình một bản tấu nhiều sai sót đến vậy. Tích Quang viết ở xứ man di này con người hèn như sên, đụng chút là rụt lưỡi. Họ sống với nhau không có tôn ti trật tự, luân thường đạo lý.

Thì ra người Âu Lạc cũng kiên cường lắm. Mua chuộc mãi Tô Định cũng chỉ thu nạp được vài tên đàn ông hạ đẳng. Văn hóa của họ có thua gì văn hóa Trung Nguyên đâu. Họ đề cao vai trò phụ nữ. Đất nước họ dân cư thưa thớt, giàu có sản vật nên con người nhu mì, ít tranh giành đổ máu. Theo chuẩn mực vô vi, có thể nói Âu Lạc đã rất gần với xã hội lý tưởng của Lão Tử. Thế nào là tôn ti trật tự? Trật tự của Khổng Nho chăng? Hơn ai hết, Tô Định hiểu thuyết chính danh và tôn ti của chế độ Hán là dây thòng lọng vô hình. Nó sẽ tròng xuống cổ bất cứ ai, bất cứ dân tộc nào bị hút vào luận lý của nó. Tôn ti Hoa tâm không cho phép một thế lực nào đứng trên Hán đế. Lẽ chính danh đã từng ép Triệu Đà phải chấp nhận phong vương, bỏ mộng thiên tử một cõi.

Bị bẽ mặt bởi lời lẽ cứng cỏi và đanh thép của Trưng Trắc dạo nọ, Tô Định quyết định vớt vát bằng trò giết gà dọa khỉ. Y tổ chức một xới chọi trâu tại Long Uyên, quảng cáo tuyên truyền trâu Hán là vô địch. Tô Định đánh đố bất cứ con trâu Âu Lạc nào hạ được trâu của y. Phần thưởng cực lớn. Y ép mời các Lạc tướng nhưng Trưng Trắc từ chối nên không ai hưởng ứng.

Tô Định tuyệt đối tin tưởng cặp trâu hoang Cửu Chân y mua của lái buôn. Trâu đã thuần hóa ở đồng bằng sông Hồng nói chung hiền lành, sức vóc cũng hạn chế. Không có địch thủ, Tô Định rêu rao khắp hẻm trên ngõ dưới rằng quí tộc Âu Lạc rụt cổ hết cả rồi.

Ngày kia bỗng có một hàn nhân Âu Lạc mặc khố ở trần, neo thuyền nan bến Long Uyên, tìm Tô Định nhận lời thách thức. Nghe bảo ông này chỉ là người đánh cá dạo ven sông nhỏ, sống cô độc lẻ loi, gương mặt xù xì như Giao long, toàn thân xăm trổ vằn vện. Buồn ngủ gặp chiếu manh, Tô Định hồ hởi phát loa, gấp rút dựng trường chọi trâu chứa được cả chục ngàn người bên mép nước Lãng Bạc.

Sớm tinh mơ ngày đã hẹn, Tô Định chuốc rượu sơ sơ cho đôi trâu của y nóng máu. Cả hai con trâu đều hừng hực sức khỏe, da đồng, lông móc, một khoang bốn khoáy, hàm đen, răng trắng muốt, tóc dày như cỏ gừng, nhọn tựa lông nhím. Chúng mang đầy đủ tố chất cực hiếm của một con trâu chọi thượng hạng Âu Lạc: ức rộng, cổ dài mập tròn, lưng phản dày cui, đùi săn chắc và cuồn cuộn bắp thịt, sừng đen như mun, chếch lên trời như hai cánh cung, mắt đen có ánh láy của than đá, tròng mắt hằn đỏ gân máu.

Mặt trời đứng bóng mới thấy thấp thoáng thuyền nan. Địch thủ của trâu Tô Định hóa ra chỉ là một con nghé lông xám còi cọc, đầu trùm kín vải đen. Hán quân thấy thế cười sằng sặc. Người Âu Lạc thất vọng, hoang mang. Tô Định nghiến răng:

“Khá khen thay tên thảo khấu kia. Mi dám lấy mạng sống bọt bèo của mình giỡn mặt ta ư?”.

“Thái thú quá lời”. Hàn nhân khá điềm tĩnh – “Trâu nhỏ của tôi sẽ đả bại hai con thú Âu Lạc mặc áo Hán vẽ lưỡng nghi của ông chỉ trong tích tắc. Phần thưởng như đã hứa sẵn sàng chưa đấy?”.

“Láo thật! Trâu đại Hán được gọi là bò nước, thánh thượng ta gửi qua đây truyền giống cho nòi Âu Lạc là thiện ý trời biển. Thách đấu chẳng qua để chỉ ra sự ươn hèn và cố chấp của xứ sở này. Sau trận thư hùng ta sẽ thả đôi trâu quí sống tự do trên ruộng đồng quanh Long Uyên cho chúng vung vãi ân sủng phương Bắc”. Cả đấu trường ồ lên kinh ngạc. Tô Định nói tiếp – “Nếu con nghé ốm đói kia chỉ đến đây dạo chơi, ta sẽ phanh thây chủ nhân của nó”.

Đôi trâu “giả Hán” đang lồng lộn trong chuồng. Số là Tô Định bí mật sai lính dùng búi cật nứa sắc nhọn và mỏng xuyên ngang phía trên tinh hoàn trâu. Phần thừa lòi ra ngoài trông như nhúm lông bình thường nhưng nó sẽ cọ quẹt vào bẹn trâu. Lực va chạm ấy cắt dần bó dây thần kinh nhạy cảm nhất ở một con trâu đực. Hậu quả là trâu nổi điên, chỉ chực phá chuồng. Nó sẽ lao đến bất cứ địch thủ nào, mong huyết chiến hòng quên đi cơn đau dã man.

Con nghé ngây thơ vốn đã bị bỏ đói hai hôm. Dưới tấm vải trùm đầu, người ta buộc sẵn một lưỡi liềm cong vút, sắc như nước. Vào xới đấu, nhìn thấy trâu đực trong ánh sáng chói chang, nghé cứ tưởng đó là mẹ mình. Lập tức nó khéo léo tránh đòn rồi đuổi theo trâu của Tô Định, rúc mõm vào giữa hai đùi sau tìm vú. Lưỡi liềm oan nghiệt nhưng cực kỳ biến hóa và thông minh đã lần lượt phơi ruột cả hai con trâu mộng vĩ đại.

Mọi việc diễn ra nhanh như chớp. Tô Định chưa kịp bừng tỉnh để kết tội chủ nghé ăn gian, vi phạm luật rừng của y, đấu trường đã vỡ tung. Muôn người vây lấy con nghé reo hò, hân hoan đón chào chiến thắng. Nghé con bụng vẫn cồn cào, nhìn xác trâu đực biết không phải mẹ, nó họ lên một tiếng rồi ba chân bốn cẳng chạy thẳng ra khỏi trường đấu.

Hán quân không tìm được kẻ xăm mình có khuôn mặt Giao long để phanh thây. Vị hàn sĩ bí ẩn đã biến thành một con Giao long to chưa từng thấy, trườn xuống bến Long Uyên, bơi về bờ bồi phía nam của biển hồ Lãng Bạc. Lính tráng của Tô Định đã thì thầm và quả quyết với nhau sau lưng y như vậy.

Người Âu Lạc như mở cờ trong bụng. Họ bảo con nghé kia là thú hiến tế của Trưng Trắc cho vị thủy thần cai quản biển hồ Lãng Bạc hồi đầu năm. Ngay cả thủy thần cũng đã nổi giận với tội ác của Tô Định. Y không còn chốn dung thân tại xứ sở này.

***

Tô Định mất ngủ triền miên. Thỉnh thoảng y lại giật mình. Tiếng hô quyết chiến bị dồn giấu trong đêm đen Âu Lạc ám ảnh y. Tiếng trống đồng sâu hút dội vọng trên mặt nước bến Lâu thuyền Long Uyên, khiến người Hán nào cũng lo sợ. Hơn một ngàn năm sau sứ giả nhà Nguyên sang Đại Việt cũng vì hoảng hốt như thế mà thốt lên bằng thơ: “Kim qua ảnh lý đan tân khổ / Đồng cổ thanh trung bạch phát sinh”, nghĩa là “Nhìn rừng giáo gươm mà đau khổ / Nghe tiếng trống đồng sợ đến bạc tóc”.

Nhiều khuya, Tô Định xõa tóc, mang hài trắng, vận quần áo lót trắng, từ giường tuột xuống, đi lang thang dọc bến Lâu thuyền như một bóng ma. Y không mộng du. Sự sợ hãi khiến bản năng đã sai bảo đôi chân y đến gần soái hạm. Tuy nhiên trên soái hạm Tô Định còn trằn trọc kinh khủng hơn. Sóng Lãng Bạc ì oạp luôn vần vũ mạn thuyền, nghe như tiếng xua đuổi, nguyền rủa Hán quân. Con thuyền chao động không ngừng nghỉ, các mộng gỗ nghiến vào nhau kèn kẹt căm hờn.

Tô Định cảm thấy cả cái kiến, con muỗi của xứ sở này cũng ghét cay ghét đắng y. Y đến đâu chúng cũng bám theo hành hạ. Đàn vạc trắng xưa hay rảo bước bên bãi bồi Long Uyên kiếm ăn cũng biết tránh xa quân thù tàn bạo. Suốt bến thuyền, cả đêm dài không nghe một tiếng cá quẫy, không thấy một bọt tăm…

Những lúc khủng hoảng nhất, Tô Định thường đánh thức lính tráng dậy hết và ra lệnh đốt lửa xua tà ma. Y hỏi mấy ngụy binh người Âu Lạc về ý nghĩa từng hồi trống. Mặc dù được giải thích cặn kẽ là trống xuất binh sẽ dồn dập, liên hồi, gần như không ngừng nghỉ, không giống như các hồi trống nhắc nhở cảnh giác gần đây, Tô Định vẫn không tin. Y nọc bọn ngụy ấy ra, tra khảo tội nội gián.

Hình ảnh bệ rạc của Tô Định càng làm cho tinh thần quân Hán hoang mang, chí khí hao tổn. Nói cho cùng lính lê dương thực dân cũng chỉ là nạn nhân của chính trị thực dân mà thôi. Quân chính qui của Tô Định toàn nông nô Hoa Bắc, không hợp phong thổ Âu Lạc, sốt rét, ngã nước tuần nào cũng lấy đi vài mạng. Phu chèo thuyền, phục vụ, đa số được Tô Định tuyển chọn tại Nam Hải, chẳng xa lạ với khí hậu ẩm thấp nhưng ít nhiều cùng dòng giống Bách Việt, hiểu tình cảnh của người Nam nên chán nản. Tâm trạng chung của họ là ngán ngẩm biên thú, thương quê, nhớ nhà. Quân doanh Hán râm ran tin đồn chính Tô Định bị ma ám. Đây đó ở bến Long Uyên đã nghe tiếng sáo Cai Hạ oán thán của Trương Lương thuở nào. Ngặt nỗi đường về phương Bắc xa xăm, rừng thiêng nước độc, không thôi Hán quân cũng đã vứt bỏ giáo gươm, rã ngũ, mặc Tô Định một mình xoay sở nơi này.

Thói đời, những kẻ yếm thế, bị dồn vào chân tường lại càng hung hăng, sát máu, thích gây gổ và can qua. Tội ác của Tô Định cứ thế ngày càng dày hơn, nước biển hồ Lãng Bạc cũng khôn rửa sạch.

Hận Lãng Bạc – Chương 2

Leave a comment

Hận Lãng Bạc chương 2
Trương Thái Du ( 7/20/2009 12:24:20 PM )

2.
Rất nhiều người Việt Nam hết mình yêu vẻ đẹp của kiến trúc thực dân tại Đà Lạt. Cô cũng vậy. Mỗi chiều mưa bụi rừng thông, tiếng dương cầm lẫn trong sương bay là là trên mái ngói rêu phong của ngôi biệt thự vườn xây theo kiểu Pyrénées và Basques, cô thường nghẹt thở. Hình như đó là một hội chứng đã được y văn ghi chép kỹ càng, mang tên một văn hào Pháp. Cô gọi đấy là nỗi nghẹn ngào thiên đường.
Cô đoán, anh sẽ nghĩ thầm cô đồng bóng và nông cạn. Anh yêu Di Linh và Bảo Lộc hơn Đà Lạt bởi nó còn đọng nhiều dấu ấn bản xứ nguyên khai. Nói chung, nhìn vào lịch sử Lâm Đồng trăm năm trở lại đây, cô có thể suy đoán những gì đã diễn ra ở đồng bằng sông Hồng đầu Công nguyên. Djirinh và Blao đã được Hán – Việt hóa thành Di Linh và Bảo Lộc. Phải chăng Mi Linh trong Hán Thư, và sau đó là Mê Linh đã được người Hán ký âm từ M’linh? Ngôn ngữ của Hai Bà Trưng và ngôn ngữ người Thượng ở Tây Nguyên hình như cùng một nguồn Nam đảo. Bác sĩ Yersin chuyển ngữ Đaạ Lạch qua Dalat, sau đó tiếng Việt đơn âm tiết tách nó ra thành Đà Lạt như đang thấy. Đaạ cũng như Đak, Nác, Lạc và Đà trong sông Đà, nó chỉ sông, suối, địa bàn sinh tồn cốt tử của người Việt cổ. Người Mường cũng gọi nước là Đác. Từ cụ thể, tư duy phát triển đã trừu tượng hóa Đaạ, Đak, Lạc thành xứ sở, tổ quốc, quốc gia. Đaạ Lạch là xứ sở của người Lạch, cũng như Lạc Việt tương đương với Việt quốc.
Tư duy của nhân loại ở thảo nguyên và đời sống du mục lại hình tượng hóa đất, vùng đất, thành xứ sở, quốc gia. Đó là ý nghĩa của từ land trong quốc danh nhiều nước trên thế giới. Nằm nơi ngã ba của các nền văn hóa và ngôn ngữ, có lẽ trùng ngữ đất – nước là cách dung hòa, là dấu vết hợp chủng bắc – nam trong quá trình hình thành dân tộc Việt Nam. Phản đề của phân ly là tái hợp. Phải chăng truyền thuyết Lạc Long Quân và Âu Cơ chia con là ẩn ý sâu sắc, là nhắn nhủ đoàn kết, là lời răn dạy tương thân tương ái của tiền nhân Việt cổ. Nếu xét trên nhận thức tuyến tính, câu chuyện Âu – Lạc là bề phải của huyền thoại tháp Babel nổi tiếng trong Kinh thánh Thiên chúa giáo. Hay nói cách khác ngạo mạn và chia rẽ là một.
“Tại sao em yêu thích lịch sử?” – Anh hỏi.
“Hình như nó giải đáp được rằng chúng ta từ đâu tới. Còn ý nghĩa của tồn tại nữa chứ. Ở góc độ nào đấy lịch sử sinh động hơn triết học.” – Cô trả lời như một cái máy. Có lẽ anh không nhớ nhiều những kỷ niệm cô từng kể. Câu hỏi cứ lập đi lập lại, tuồng như anh chỉ nói cho riêng mình, để tạo nên một lý do suy tư. Cô cũng như anh, bàng hoàng đứng dưới chân Tháp Chàm ngạo hận. Thời gian im lặng. Vô biên và thoáng chốc. Khi anh định nhặt một viên gạch vụn làm kỷ niệm, cô gạt đi mạnh mẽ nhưng lại run rẩy hoài của. Cô bảo nếu mọi người đều suy nghĩ như anh thì Tháp Chàm đã tiêu vong. Lịch sử sẽ là một tập hợp hỗn độn vô nghĩa nếu ai cũng là sử gia. Với Tháp Chàm, cô chỉ muốn là du khách khát khao chiêm bái giá trị nghệ thuật xưa cũ và sự đánh bóng của năm tháng.
Cô rất tiếc năm nọ, khi thăm bảo tàng lăng mộ Nam Việt Văn vương ở Quảng Châu, cô chưa quen anh. Xúc động lan tỏa đến từng chân tơ kẽ tóc. Cô bỗng tin vào linh hồn và những lời truyền kể thông qua tiềm thức của cả một dân tộc, một cộng đồng. Cô tin vào thứ lịch sử nằm ngoài những thẻ tre, các tờ lụa của sử quan. Và hơn hết, cô thấy tuyệt đối gần gũi với Văn vương Triệu Hồ.
***
Cô một mình đến Quảng Châu với mục đích duy nhất là thăm lăng mộ Triệu Văn Vương. Từ sân bay Bạch Vân cô về thẳng nhà nghỉ trường đại học Kí Nam. Sáng hôm sau, lên xuống mấy lượt xe buýt và tàu điện ngầm, cô đến cổng công viên Việt tú. Đi bộ một thôi dọc phố Giải Phóng Bắc, băng qua đường bằng hầm, cô đứng trước bức tường mặt tiền cao ngất của viện bảo tàng. Thật mĩ mãn. Người Việt Đông chăm sóc di tích lịch sử rất khoa học.
Đêm. Ngồi ghế đá trong khuôn viên rợp cây xanh trước nhà nghỉ, khoan khoái tận hưởng không khí trong lành, cô tự hỏi “Hơn hai ngàn năm trước, đây cũng là lãnh thổ nước Việt ư?” Một ông lão râu tóc bạc phơ đi ngang, vừa cười vừa hỏi:
“Mai mi về nam, sao không tiện thể ghé ta chơi?”
“Thưa… Ông là…”
“Ta là ông nội của Văn Vương.”
“Nhà ngài… À không, lăng mộ của ngài gần đây ư?”
“Trường đại học này xây dựng bên triền địa danh Ngung sơn trong sách xưa.”
Thôi thúc có ma lực, hơn cả sự tò mò khiến cô líu ríu theo bước Triệu Đà.
***
Lối vào mộ dốc và khá hẹp, dài tầm vài chục bước chân, vách đất dựng đứng. Theo lễ nhà Chu, chỉ thiên tử mới được làm đường khiêng quan tài vào mộ. Thời ấy ở Hoa Bắc, người ta đào mộ đạo rất rộng và sâu. Sau khi an táng, hai phần ba chiều cao mộ đạo được lấp cát và chèn đá hộc, một phần ba phía trên là đất nện. Nếu trộm viếng mộ, đào càng sâu thì chúng càng có nguy cơ tự chôn sống vì cát sụt lôi đá xuống. Thấy cô quan sát khá kĩ, Triệu Đà quay lại bảo:
“Ở đây cao và xa sông suối, không tìm được cát. Ta cho đào ngang, hút sâu vào lòng núi. An toàn không kém. Hai thiên niên kỉ có hề hấn gì đâu. Cửa nhà ta suốt bốn mùa và suốt ngày đều có thể nhìn thấy mặt trời”
“Ngài năm nay bao nhiêu tuổi rồi?”
“Ta dọn về đây năm 137 trước công nguyên. Ta sinh năm 234 tại Chân Định, nước Triệu. Nay là huyện Chính Định, tỉnh Hà Bắc, Trung Quốc.”
“Sao Đại Việt sử kí toàn thư ghi nhận ngài thọ hơn trăm tuổi.”
“Mấy chú thư lại hậu sinh ấy nhầm khá nhiều. Sách sử sao đi sao lại, có người vì mục đích này nọ lại bịa thêm. Chỉ Sử kí chuẩn nhất, nhưng quá khúc chiết.”
“Ngài là phó tướng của Đồ Thư?”
“Bậy nào. Ta xuống Lĩnh Nam đợt hai, sau khi dân Tây Âu đã giết Đồ Thư. Tần Thủy Hoàng rất ghét nước Triệu, vì tuổi thơ ông khó nhọc tại Hàm Đan. Nhiều người Triệu bị bức ép đi xây Trường Thành và xung lính thú Lục Lương. Thuở bé ta con nhà tử tế, được học ít nhiều. Sẵn chí tiến thủ, sau vài năm chinh chiến ta thành huyện lệnh Long Xuyên…”
Bước qua hai cánh cửa đá to và nặng, Triệu Đà chỉ cô ngồi xuống chiếc ghế cạnh một thạp đồng có hoa văn người chèo thuyền đặc trưng của đồ đồng Đông sơn.
“Chịu khó nhé. Nhà cửa chật hẹp vì mái lợp đá nguyên tảng, không thể dùng các tấm lớn hơn”. Sau khi đưa cho cô chén trà có ánh bạc, Triệu Đà yên vị vào chiếc yên ngựa bằng da nạm vàng, kê trên bó ngà voi rất to. Ông giới thiệu “nhà” mình:
“Đây là phòng khách. Phòng ngủ sát kề. Sau phòng ngủ là kho. Có hai buồng chái tây và hai buồng chái đông. Ta đem theo hơn chục người tuẫn táng gồm lính gác, phục vụ, nấu bếp, nhạc công và mấy bà phi trẻ tuổi. Hơi dã man”. Triệu Đà lắc đầu – “Truyền thống nó thế…”
Gió nam mát rượi. Bộ quần áo ngọc may bằng chỉ tơ, treo trên móc áo gỗ chân đồng chạm khắc tinh xảo, hơi lao xao. Dàn chuông thở những tiếng âm u.
“Ban sáng, thăm mộ cháu ngài, tôi thấy chiếc ấn vàng “Văn Đế hành tỉ”, lại có ấn “Triệu Mạt” và ấn “Thái tử”. Tư Mã Thiên ghi nhận Văn đế tên Hồ mà?”
“À, thằng này mẹ Việt, bà nội cũng người Việt. Ta đặt tên Hồ, nhưng trong hoàng gia hắn chỉ thích mọi người gọi hắn theo tiếng bản địa. Chữ Mạt dùng để kí âm, nghĩa là gì ngươi đoán ra không?”.
“Người Tráng ở Quảng Tây đọc chữ Mạt này gần như Bột. Thời Trần, văn tự Đại Việt chép Bột Mạt là Trời, Phù Bột Mạt là Mặt Trời. Như vậy có không khả năng Bột Mạt là trùng ngữ do sự cộng sinh giữa hai ngôn ngữ khác nhau? Nghĩa là Bột Mạt = Bột = Mạt = Trời. Nó tương tự như Chia Ly = Chia = Ly. Đặc biệt là trong Nguyên sử, chương Ngoại di, phần An Nam có trích một lá thư của Nhật Huyên mang ngôn ngữ ngoại giao, gửi Trấn Nam vương. Thư ví Thoát Hoan là Mạt quang. Đây là lá thư của người Đại Việt viết bằng chữ Hán, không thể loại trừ khả năng từ Mạt quang được dùng với nghĩa Việt là “ánh mặt trời” trong tương quan ngữ nghĩa Hán và Việt nhất định, nhất là với ghi chú của sứ thần nhà Nguyên đã dẫn. Nếu nghiên cứu sâu sắc theo chiều hướng trên, có rất nhiều khả năng giải nghĩa chữ Mạt trong từ Triệu Mạt ý chỉ trời, ngôi vị thượng tôn của nước Việt cổ, mà biểu trưng rõ ràng nhất là hình ảnh ở giữa trống đồng Đông Sơn”.
Triệu Đà cười vang. Những bức tường đá nặng nề hút âm rất mạnh. Ông khen cô khéo suy luận.
“Thưa ngài, Triệu Hồ có phải là con Trọng Thủy?”
“Ừ, nhưng không phải con Mỵ Châu đâu nhé. Thủy chết sớm. Hồ đĩnh ngộ, ta đúc cho ấn thái tử. Vì ấn thái tử cũ của Thủy là Kim li hổ ấn (ấn vàng núm hình con lân), nên đành cho Hồ dùng Kim qui ấn (ấn vàng núm hình con rùa) theo đúng trật tự long – lân – qui – phượng.”
“Vậy còn chuyện An Dương Vương và nỏ thần?”
“Hình tượng An Dương Vương trong hiến sử Việt Nam là một tổ hợp phức tạp những ghi chú có chủ ý của sách vở Hoa Hạ và lời truyền miệng dân gian. Ngươi không thấy bóng dáng ta trong ấy sao?”
“Thế Tây Âu Lạc ở đâu?”
“Âu Lạc là kí âm Đất nước, Xứ sở của người Việt bằng Hán tự. Người Việt ở Phiên Ngung, người Việt dưới mé sông Hồng, hay người Việt tại đất Mân đều gọi nơi mình sống là Âu Lạc. Cũng có thể xem Âu Lạc là tên bằng tiếng Việt của nước Nam Việt. Khi Tư Mã Thiên viết Tây Âu Lạc, ông ta hàm ý phía tây Phiên Ngung, tức vùng Nam Ninh Quảng Tây gần cửa biển Hợp Phố.”
“Vậy ông chưa từng đặt chân đến sông Hồng?”
Triệu Đà đứng lên lấy chiếc hộp bạc tròn đựng thuốc của người Ả Rập cổ đưa cho cô xem:
“Những thương nhân từ Ba Tư đi thuyền đến đây có kể ít nhiều về mảnh đất hoang vu bên một biển hồ mênh mông, đỏ quạnh phù sa. Nơi ấy nhiều đầm lầy, ẩm thấp, dân thưa thớt, mùa mưa ngập lụt triền miên. Ta từ nước Triệu, chỉ quen cưỡi ngựa nên không có kinh nghiệm xây dựng đội thuyền viễn chinh.”
“Còn thành Cổ Loa nữa chứ.”
“Dịch Hu Tống chết, nhân dân Tây Âu Lạc không chịu làm nô lệ đã quật khởi kháng chiến và giết được Đồ Thư. Dạo Lữ Hậu chuyên quyền, ta bắt đầu dòm ngó sang hướng ấy nhằm mở rộng Nam Việt, sẵn sàng chống giặc. Trước nguy cơ bị thôn tính, phải chăng quân trưởng An Dương Vương đã liên kết các bộ lạc Tây Âu Lạc, xưng vương và thành lập nhà nước sơ khai theo chế độ mẫu hệ. Lợi dụng địa thế núi non, An Dương Vương đắp thành đất, dựng lũy gỗ nhiều vòng men theo vách núi, nhìn xa như một con ốc biển khổng lồ. Đó phải chăng thành Cổ Loa? Quân ta nhiều lần điêu đứng với những mũi tên đồng này”. Triệu Đà chỉ vào bó tên màu vàng, cạnh chiếc nỏ dựng góc phòng – “Ta thu phục mãi không được. Hết nước, phải dùng kế li gián. Tay chân ông ta nhận của cải đút lót, đuổi đánh chủ. Vị thủ lĩnh kiêu hùng thất thế lên thuyền chạy ra biển, đem theo nhóm quí tộc thân cận.”
“Ý ông là, họ đến Đông Anh, Hà Nội ngày nay, đắp đê ngăn nước và sinh sống?”
“Có lẽ thế. Họ đem theo câu chuyện về Cổ Loa và những cuộc đụng độ với ta. Thời gian xóa nhòa tất cả. Sau này con cháu họ lầm tưởng vết tích Kiển Thành mà Mã Viện xây trên thân đê là Cổ Loa bên Quảng Tây”.
“Ông sáng tác kịch bản này nhằm biện minh hành động xâm lược?”
“Ngươi xem, trong nhà ta có chiếc trống đồng chiến lợi phẩm nào đâu. Vị vương mới ở Tây Âu Lạc cũng ít chịu nghe lệnh ta. Năm 111 Phiên Ngung thất thủ, ông ta định chống nhà Hán. Hoàng Đồng là người Phiên Ngung cử qua giám sát Tây Âu Lạc. Sử kí viết “Tả tướng cũ của Âu Lạc chém Tây Vu Vương”. Tây Vu nghĩa là vùng phía tây (Phiên Ngung), chứ không phải địa danh. Tây Vu và Tây Âu Lạc là một. Chữ Tây này vẫn tồn tại đến hôm nay trong tên gọi Quảng Tây, một tỉnh giáp ranh phía bắc Việt Nam”.
Cổ sử liệu cực ít, thế mà người ta cứ lầm lẫn từ Tây Vu này là tên huyện, cô nghĩ. Ngôi chùa nào cũng gọi hai bên là Tả vu và Hữu vu. Tây Vu được nhắc đến hai lần, năm 111 trước Công nguyên ở Nam Việt và 43 sau Công nguyên tại Âu Lạc. Khả năng nó là tên huyện thấp đến hiển nhiên.
***
Một thiếu phụ mặc áo lụa, tay diện vòng bạc, khắp người lấp lánh ngọc trai, ngọc bội, trâm vàng, bước ra từ buồng ngang phòng khách phía đông. Không nhìn cô, bà cúi xuống nói gì đó với Triệu Đà. Cô đọc được dòng chữ “Hữu phu nhân tỉ” trên chiếc ấn vàng bà đeo giữa ngực.
Người nhà đã chuẩn bị xong mọi thứ, đến giờ Triệu Đà ăn tối và xem vũ – nhạc, ông ngỏ ý mời cô cùng thưởng thức. Cẩn thận bước đi giữa rất nhiều đồ tùy táng, cô theo ông vào phòng lớn phía Tây.
Nhóm nhạc công nhỏ bé gần như bị lèn chặt bằng rất nhiều loại nhạc cụ: Khánh đá, chuông đồng đủ kiểu, tù và ngọc thạch, đàn tranh cổ nước Tần…
Cung tơ dìu dặt, bước chân ngựa thong thả trên bình nguyên hoàng thổ. Bất ngờ tiếng tù và xung trận rúc lên. Chuyển động khẩn trương, dồn dập. Binh khí chạm nhau. Ngựa hí… Thanh âm chuông móc câu loang trên mặt cỏ. Mùi máu tanh… Tiết tấu rệu rã, sinh lực dũng sĩ đã hết. Nhạc nhỏ dần, nhỏ dần để chuyển điệu.
Róc rách nước chảy khe suối. Dàn khánh đá lung linh dưới ánh sáng của khay đèn mỡ cá bằng đồng. Chim hót, vượn hú, rừng rậm thâm u. Chiếc lẫy nỏ bật đánh tách một cái. Mũi tên cảnh báo xé không khí mà đi. Thấp thoáng sau lùm cây dại là những chiến binh mặc khố, đầu cắm lông trĩ ngũ sắc… Ngựa sụp hố chông rống thảm thiết.
Âm thanh dạt ra như đồng cỏ lau ngút ngàn có người rón rén băng ngang. Việt điệu rộn rã ngày càng đến gần tai người nghe. Lớp lớp chân trần dậm đất thậm thình quanh đống lửa. Nhiều phụ nữ mặc khố hoa, ngực căng cong vút tựa sừng trâu, chẳng thèm che đậy màu da nhuộm nắng. Ánh mắt trai gái đều hiền hòa bao dung, pha chút say đắm thật thà, thiết tha mời gọi. Chinh nhân ném bỏ gươm sắt, cởi giáp hòa vào đám đông.
Một gia nhân ôm vò rượu gạo có viết bốn chữ “Trường Lạc cung khí” đến rót vào chén ngọc cho cô.
Hương từ đỉnh trầm len qua những khe trang trí hình kỉ hà quyện vào tà lụa hai vũ công. Nhân ảnh nhòe nhoẹt, chỉ còn lại đôi chim quấn quít với nhau trên bãi phù sa lúc thủy triều xuống.
Thỉnh thoảng để thay đổi góc nhìn, cô lại hướng mắt vào hàng chục chiếc gương đồng bóng loáng treo trên vách đá. Một chiếc gương khá lớn nằm che gần hết lưỡi qua đồng bén ngọt. Thấp thoáng dòng chữ “Trương Nghi”. Chiếc qua này chắc hẳn đúc ở công xưởng binh khí nước Tần, thế kỉ thứ tư trước công nguyên.
Con rùa to lật ngửa đã chín trên vỉ nướng. Triệu Đà dùng que xiên tách mai rùa, giơ ra trước đèn. Vết nứt trên mai rùa phảng phất thể hiện một dòng giáp cốt văn “Nam Việt độc lập”.
***
“Ngài tự nhận mình là người Triệu, người Tần, người Hán hay người Việt?”
“Ta với Lưu Bang, chí chẳng khác nhau, địa lợi khập khiễng mới thành kẻ bắc người nam, kẻ mạnh người yếu. Ta xưng vương ngoại giao cho qua chuyện binh đao, sao gọi là người Hán được. Tần cường bạo dùng lửa để dập lửa, giết người cầu hiếu sinh, đốt thi thư nhằm ngu dân an bang, hạ sách lắm. Phần lớn đời ta uống nước Việt, ăn gạo Việt, nói tiếng Việt nhưng vẫn nhớ nơi chôn nhau cắt rốn. Tim, óc ai chẻ ra cân đong đo đếm bao giờ.”
“Còn văn hóa Việt thì sao?”
“Ta chưa bao giờ phủ nhận người Việt, văn hóa Việt. Phải khẳng định văn minh “chính phủ”, tổ chức chính quyền, công thức xã hội phương Bắc nảy nở trên nền tảng phụ quyền có lí do tồn tại và cắm rễ nơi này, xúc tác tăng tốc chu trình tiến hóa. Thực sự có những thứ ta đem đến đây rất hữu dụng, và ít nhiều vẫn chưa biến hình hoàn toàn cho đến thế kỉ 21 sau Công nguyên”.
“Như ngài nói, ngài đâu đã đặt chân đến đồng bằng sông Hồng”.
“Hán Vũ Đế xâm lăng Nam Việt, bọn Việt gian Tô Hoằng cùng quan lang Đô Kê phản phúc vây bắt Kiến Đức, Lữ Gia. Còn bao nhiêu quí tộc, thân vương theo thuyền buôn, thuyền cá dong buồn về biển Nam ngươi không tính ư. Làn sóng tị nạn ấy đã đem tinh hoa nước Nam Việt đến bến bờ tự do bên dòng sông Hồng”.
“Biên giới Nam Việt, tức nước Âu Lạc của người Việt bao gồm Quảng Đông, Quảng Tây và Bắc Việt Nam?”
“Phía nam Ngũ Lĩnh, văn hóa tương giao, chủng tộc gần gũi, các bộ lạc rải rác, quân trưởng độc lập, chế độ mẫu hệ chủ đạo nên không có biên giới. Đừng đem một khái niệm mới đè lên thời trước. Những chuẩn mực chính trị ta xây dựng ở Nam Việt cắm rễ vững chắc vào nền chính trị Việt Nam. Lý Bí xưng Nam Việt Đế. Triệu Quang Phục giương cờ Việt Vương. Sau đó nào là Đại Cồ Việt, Đại Việt, Đại Nam, Việt Nam… Quanh đi quẩn lại cũng từ hai chữ Nam và Việt mà ra. Cách ta hành xử với Bắc phương được thực hành tới lui hàng ngàn năm mà có lỗi thời đâu. Nên lưu ý, nhà Hán hai lần phải qua tận nơi khuyên dụ, phong vương cho ta. Nhóm hậu sinh thì luôn vội vã tuyển sứ, tải đồ quốc bảo cống nộp cầu cạnh. Họ học hành chẳng đến nơi đến chốn”.
“Miếu thờ, tên đường phố dính dáng đến ngài ở Việt Nam giờ này người ta xóa sổ hết rồi. Thậm chí Bình Ngô đại cáo Nguyễn Trãi viết cũng bị biên tập, bỏ nhà Triệu, hoặc giải thích đó là quan điểm thiếu tiến bộ của văn hào, cần xét lại”.
“Khoa học lịch sử là gương mặt, là tư duy, là trình độ phát triển, là thước đo vận động (tiến hoặc lùi) của chính thời đại dung dưỡng nó. Ta mặc nhiên là quá khứ. Văn minh loài người chỉ mới mấy ngàn năm, tuổi ta bằng nửa số ấy. Ngành khảo cổ Trung Quốc gọi mộ Triệu Hồ là Tây Hán Nam Việt vương mộ Bác vật quán. Họ muốn đánh đồng triều đại độc lập ta dựng lên nằm trong kỉ Tây Hán, thời Tây Hán, kiểu Tây Hán và thuộc về nhà Tây Hán. Những chiếc đế tỉ biết nói đấy. Bản thân mi cũng có công nhận thế đâu. Chúng ta chỉ nên quan trọng thực chất mà thôi”.
Cô tròn mắt nuốt những lời tâm sự lạ lùng của Triệu Đà. Nó vượt xa thời đại ông từng sống đến hai ngàn một trăm năm. Cô bỗng nhận ra rằng, nhìn quá khứ khách quan và khoa học như nó vốn có, đòi hỏi nhiều điều kiện, từ dân trí đến độ mở nhất định của xã hội phản biện lành mạnh. Đi từ lịch sử truyền miệng mang bản chất tín điều đến lịch sử tiệm cận sự thật, là cả một quá trình gian khó và dài lâu.
***
Nắng phương nam chói chang. Người tiếp viên hàng không mở màn che cửa sổ và nhắc nhở mọi người kiểm tra dây an toàn trước khi máy bay hạ cánh. Giấc chiêm bao thật ý vị. Tất cả những đồ vật cô đã tận mắt chiêm ngắm nơi lăng mộ Văn Vương đều được tái hiện trong mơ, xung quanh Triệu Đà và những người tuẫn táng. Có thể đây là cách làm việc vô thức của một sinh viên năm cuối khoa sử, nhằm điểm duyệt và ghi nhớ phút giây xúc động khi đi thực tế.

Anle20's Blog

Just another WordPress.com weblog

levinhhuy

Quắc mắt xem khinh nghìn lực sĩ/ Cúi đầu làm ngựa bé nhi đồng

thôn Sấu

Quê hương yêu dấu (Dọc hành chấm đứng). Xin các bạn vui lòng ghi rõ nguồn và dẫn link đến trang này nếu đăng lại bài của tôi

thienthanh2017.wordpress.com/

Thượng thiện nhược thủy, thủy thiện lợi vạn vật nhi bất tranh - Lão Tử

Học Thế Nào

How We Learn

leminhkhaiviet

About Vietnamese Cultural History and Scholarship

Xuân Bình

Nhà báo tự do

Nguyễn Huy Hoàng

the star is fading

Nghiên cứu lịch sử

Các bài nghiên cứu, biên khảo và dịch thuật các chủ đề về lịch sử

Le Minh Khai's SEAsian History Blog

Always rethinking the Southeast Asian past

trinhythu

Trịnh Y Thư WordPress.com site

trandangtuan.com

Men lá rượu ngô trong

4th Avenue Café

Free non-fiction translation

WordPress.com

WordPress.com is the best place for your personal blog or business site.

Trương Thái Du's Blog

Văn chương thiên cổ sự - Đắc thất thốn tâm tri...

No More Goat Soup

No goats were harmed in any way while making this blog. (We did kill all the sheep though)