Hận Lãng Bạc – Chương cuối

1 phản hồi

9.

Lòng biển hồ Lãng Bạc, nơi Hai Bà tử tiết, hơn một ngàn năm sau được phù sa bồi đắp thành xã Đồng Nhân, Thanh Trì. Người ta truyền tụng rằng có hai bức tượng đá ngoài bãi Nhĩ Hà ban đêm thường cháy lên những ánh lửa rạng ngời. Lý Anh Tông nghe đồn, liền xa giá đến làm lễ cầu mưa, khấn niệm quốc thái dân an, lập tức được như ý. Vua vội vàng cung nghinh hai tượng đá vào bờ, dựng đền Trưng vương, bốn mùa hương khói.

***

Rạng sáng một ngày mùa xuân năm 43, đoàn Giao long thuyền của vua bà Âu Lạc lặng lẽ nép vào bờ nam sông Hồng, xuôi nước triều, dự định chia hai nhánh ra biển. Nhánh một rẽ xuống sông Đáy, đa số là thuyền nan nhẹ vì nước rất cạn. Nhánh hai liều lĩnh lướt nhanh qua Long Uyên.

Trưng Trắc và Trưng Nhị câm lặng ngồi bên nhau. Thuyền đã sắp đến cửa Hát giang. Mỗi người sẽ một ngã để tăng độ an toàn. Không phải sự bất trắc của chuyến đi làm họ kín tiếng. Rời xa nơi chôn nhau cắt rốn bao giờ cũng làm con người nôn nao khó tả. Khó tả hơn nữa là họ phải ra đi trong tình huống mất nước, sinh mạng ngàn cân treo sợi tóc. Ý chí quật khởi và niềm tin phục quốc chưa bao giờ cùn cỗi trong tâm tưởng Trưng Trắc và em gái bà, phó vương Trưng Nhị, song tình cảm đoạn ly không khỏi ai oán, trầm lắng.

Khi gió Lãng Bạc đã mơn man đoàn Giao long thuyền, Trưng vương nắm chặt tay em gái bịn rịn. Bà khóc. Trưng Nhị vốc một nắm nước Lãng Bạc để rửa lệ của chị mình. Không ai biết bà định so sánh lệ hận của quốc gia Âu Lạc với nước mắt Trưng vương, hay muốn những giọt nước mắt ấy tìm gặp linh hồn A Thi và hàng ngàn chiến sĩ đã bỏ mình vì đất mẹ.

Có tiếng gà gáy khuya, lạc lõng xa xăm đâu đó dưới một mái nhà sàn M’linh. Trưng Nhị héo hon. Loài gia cầm kia hình như cũng hiểu nỗi niềm tự do của mảnh đất này. Tự do, với Trưng Nhị chỉ đơn giản là được sống và lao động dưới bầu trời thanh bình. Tự do để được là chính mình không bao giờ có được nếu còn người Hán. Giấc mơ đôi lứa đã xa rời Trưng Nhị mãi mãi, kể từ ngày những chiếc Lâu thuyền căng buồm đen làm chủ biển hồ Lãng Bạc.

Những mái chèo cắm vào nước không phát ra tiếng động. Trăm con thuyền bồng bềnh lướt giữa mây và sương. Đoàn quân lưu vong hàng ngàn người im lặng như ngậm tăm. Không hẳn họ sợ mai phục, sợ lộ. Có lẽ trước khi mất nước, họ muốn lắng nghe hơi thở của từng ngọn cỏ, nhánh rong rêu quê hương. Ngày mai, ở chân trời xa tít nào đó, hay bị cố định bởi gông cùm đế quốc, họ vẫn còn nói được, song thật khó nghe lại lời thầm thì của đất mẹ tự do. Ra đi là để trở về, Trưng vương an ủi họ như thế khi xuống thuyền.

Đã không ai trở về vẹn nguyên hình hài. Nhưng họ vẫn trở về ở một ý nghĩa nào đấy, nhiều thế kỷ sau, trong tầng tầng lớp lớp các thế hệ Âu Lạc xả thân ra trận vì độc lập và tự do cho đất mẹ.

Chưa tròn cuộc chia phôi, ba quân Âu lạc còn đưa mắt tìm nhau trong bóng tối, bỗng bốn phía xung quanh họ, lửa đuốc, tiếng trống, tiếng chiêng của Hán quân áp đến. Đường cùng, người Âu Lạc bật lên dũng mãnh gấp mấy lần bình thường. Tên bay, lao phóng, đạn đá giáng xuống, gươm khua vun vút… những tiếng thét vỡ tan lồng ngực… Có tên lê dương phải tên trúng giáo vẫn tròn mắt ngạc nhiên. Chúng không hiểu đoàn quân đói dài nhiều tháng nay lấy đâu ra sức chống cự kinh hãi đến thế.

Thêm một lần nữa mặt trời chói lọi lại mọc lên từ phía đông biển hồ Lãng Bạc. Đó là một ngày buồn nhất trong lịch sử Âu Lạc. Thêm rất nhiều máu của người Âu Lạc hòa vào màu nước Lãng Bạc. Vua bà Trưng Trắc và phó vương Trưng Nhị bị bắt sống.

Hán quân buộc họ với nhau rồi giải cả hai lên boong soái thuyền. Mã Viện giả vờ đạo đức, cuống quít la mắng tả hữu rồi sấn đến, tự tay mở trói cho hai Bà.

“Lạc vương ơi, sao bà nỡ để xảy ra nông nỗi này”. Mã Viện bắt đầu thuyết hàng tù binh – “Hãy về với văn minh Hoa Hạ, bà sẽ tiếp tục làm vua nhỏ xứ này. Dân Âu Lạc vẫn là dân của Bà…”.

“Nhưng đất nước Âu Lạc sẽ là quận huyện của Đông Hán phải không?”. Trưng vương nhếch mép cười khinh bỉ – “Một năm Âu Lạc chỉ hai lần triều cống thôi nhỉ. Giết hết tê ngưu, lật đáy biển Đông cũng chưa vừa lòng tham Hán đế. Lâu lâu người Hán viễn nam chinh, chặt trụi cây rừng để đóng thuyền nhé, già trẻ lớn bé xung quân hết nhé…”.

“Nhưng gia tộc Bà sẽ đời đời no ấm, con cháu trực huyết của Bà mãi mãi ăn trắng mặc trơn, ngồi mát bát vàng”. Mã Viện cười khả ố.

“Như Lưu Bang ấy nhỉ? Ngươi lầm ta với Hạng Vũ chăng?” Trưng vương trợn mắt nhìn Mã Viện. Trưng Nhị bước lên dõng dạc:

“Không! Chúng ta không hèn như Hạng Vũ, trần tục tựa Lưu Bang. Kẻ thua thì tự cao trách ngựa, mắng trời. Người thắng lại hả hê tính kế hưởng lạc. Ngươi biết huyền thoại An Dương Vương chứ? Người Âu Lạc không quen quyền biến và biện hộ cho sự thất bại. Kẻ thù nguy hiểm nhất của An Dương Vương ngồi sau lưng ông. Hại Âu Lạc, thắng Âu Lạc chính là sự lạc hậu, thiếu thức thời và đầu óc tư lợi của chính người Âu Lạc. Chúng ta phải chỉ rõ cho con cháu muôn đời, biết để mà lường. Chúng ta làm mất nước vì hạnh mỏng tài thấp. Muốn chém đầu, treo cổ hay nhận chìm thì làm mau đi, đừng phí lời”.

“Khá khen thay cho nữ tặc”. Mã Viện dè bỉu – “Biết cái chết mà không tránh, hỏi có thuận lẽ trời không?”.

“Trong cuộc đấu tranh sinh tử giữa chúng ta, những người mất nước và các ngươi, lũ cướp nước, sự hy sinh là lẽ đương nhiên. Chỉ biết rằng cuối cùng xứ sở này sẽ chiến thắng”. Trưng vương đối đáp mạch lạc. Thế kỷ hai mươi, chiến sĩ phục quốc Hoàng Văn Thụ ung dung ra pháp trường Tương Mai, ông nói lời cuối cùng với quan tòa của thực dân Pháp gần giống như những gì Trưng Vương đã thốt ra với Mã Viện. Dòng máu quí báu của liệt nữ đã không thất lạc trong suốt quá trình di truyền đằng đẵng, tròn một ngàn chín trăm năm.

Mã Viện thất vọng. Hai người đàn bà này giá trị hơn mười vạn quân. Nếu họ đầu hàng, khắp hang cùng, hẻm núi Âu Lạc sẽ nhanh chóng qui thuận Hán triều. Ngàn năm sau cũng chẳng mống nào làm phản, vì họ lấy đâu ra chính nghĩa và can đảm, mua ở đâu được tấm gương lịch sử chói ngời. Nghĩ đến đấy, Mã Viện biết rằng kèo nài thêm chỉ tốn thời gian. Chứng kiến khí tiết của hai Bà, y bỗng thấy mình nhỏ bé và hèn mọn xiết bao. Ở dốc bên kia tuổi tri thiên mệnh, Mã Viện đã sớm “nhi nhĩ thuận”, nghe là hiểu.

Trước sự ngạc nhiên đến cùng cực của Hán quân, Mã Viện cho dắt hai Bà trở lại chiếc Giao long thuyền vương gia Âu Lạc. Mặt nước Lãng Bạc đứng yên. Lồng lộng bóng trời xanh mây trắng. Trưng vương trỏ tay dõng dạc nói to: “Này Mã tặc. Ngươi tưởng ngươi thắng ư? Ta và ngươi còn gặp lại nhau trong những lời truyền kể muôn năm sau. Nếu không tự biết tĩnh trí tu thân, cùng lắm ngươi chỉ ăn theo bất tử dưới bóng râm của vua bà Âu Lạc này thôi”.

“Ta căm thù nước Hán và người Hán”. Trưng Nhị chen lời. Trưng Trắc âu yếm nhìn em gái, bà khe khẽ lắc đầu:

“Người yêu nước có bản lĩnh không bao giờ ghét tổ quốc của tha nhân, tránh kích động thù hận giữa người và người em ạ. Dân Trung Nguyên cũng là nạn nhân của nền chính trị Lạc Dương. Chủ nghĩa Hoa tâm độc địa ấy không có tiền đồ, trước sau nó cũng vùi dân tộc Hán vào ly loạn và giết chóc mà thôi. Hãy phỉ nhổ Hán đế và những tên tay sai như Mã Viện là đủ rồi”.

Mã Viện xót xa nhìn hai nữ tướng. Y chợt hiểu hình thái xã hội Âu Lạc là thế giới lý tưởng của Lão Tử, của Thế Du em trai y. Mã Viện đã đang tâm hủy hoại thiên đường của những con người chất phác nơi đây. Lòng tham vô đáy của Hán đế đã biến giấc mơ khanh tướng, trị loạn của họ Mã thành ác mộng. Vĩnh viễn từ đó trở đi, với dân tộc Âu Lạc, với nhân loại tiến bộ, Mã Viện là kẻ tội đồ không bao giờ được tha thứ.

***

Trên bệ cao của Giao long thuyền, hai chị em Trưng Trắc ưỡn ngực, ngẩng đầu đứng sát bên nhau. Trưng Trắc phóng tầm mắt một lượt xung quanh rồi ngước mặt lên hét to: “Đất này của mẹ tổ, trời này của mẹ tiên. Mười năm người Âu Lạc chưa giành lại được thì họ sẽ chiến đấu trăm năm, ngàn năm nhằm khẳng định lẽ phải. Làm sao đao kiếm của bọn xâm lăng có thể lấy đi được lòng can đảm và khí tiết của chúng ta”.

Giọng Trưng Trắc vang động khắp non sông. Thời gian ngừng lại khi Hai Bà Trưng buông mình xuống đáy Lãng Bạc, gần ngã ba cửa Hát.

Mã Viện thở dài. Y sai người để ý vớt xác Hai Bà chôn cất cẩn thận, song vô ích. Có lẽ thể phách Trưng Trắc và Trưng Nhị đã tan lẫn vào hồn thiêng sông núi Âu Lạc.

Hán quân đành thỉnh hai thủ cấp nữ chiến binh bất kỳ, gói gém gửi đến Lạc Dương, nói dối là của Hai Bà Trưng.

Ngày nô lệ đầu tiên của Âu Lạc đã trôi qua như thế. Mặt trời sẽ lặn nhiều trăm năm…

Khởi thảo 9.6.2009

Hoàn thành 9.7.2009

Tại Thảo Điền, Q2, TP. HCM

———————–

Lời cảm ơn: Truyện dài này được hoàn thành với sự giúp đỡ  tư liệu đáng quí của rất nhiều người suốt một thời gian gần 10 năm, chủ yếu là các thành viên của trang web Viện Việt Học như  Phạm Chánh Trung, Tích Dã, Lê Bắc.v.v.. Blog cũng có những hưởng và đóng góp nhất định trong mạch tư tưởng của truyện, đặc biệt là những entry sâu sắc của các blogger tôi hay đọc như Dong A, Trục Nhật Phi, Huybom…

Hận Lãng Bạc – Chương 8

2 phản hồi

8.

“Tại sao kim đồng hồ quay từ trái sang phải? Tại sao kim đồng hồ luôn quay từ trái sang phải”. Cô đi tới đi lui, thì thầm tự hỏi không dứt. Anh cười ngất như đang xem một màn tấu hài ngộ nghĩnh. Thực ra chưa bao giờ anh đặt câu hỏi như vậy. Chắc chắn cô sẽ là con người của sử học, vì cô biết nghi vấn từ cái gần gũi, quen thuộc và na ná giống chân lý trở đi.

“Anh nhìn này” Cô chỉ ra sân, nơi một cây cau ta vươn thẳng lên trời. Bóng cau đổ xuống hướng tây bắc vì đang là buổi sáng. “Em giỏi chưa?” Cô hét lên. Anh ngớ người. Hóa ra bóng cau sẽ như chiếc kim đồng hồ, dịch dần từ trái sang phải nếu cô quay lưng về hướng nam. Chiều muộn bóng cau sẽ chỉ về hướng đông bắc. Nó du hành trên một cung tròn gần 180 độ góc.

Đúng rồi, xưa thật xưa con người dùng bóng nắng để đo thời gian. Với những vùng đất nằm cao hơn chí tuyền bắc, vĩ độ 23 độ rưỡi trở lên, bóng nắng luôn luôn nằm ở phía bắc các cây cột chỉ thị. Mặt trời di chuyển từ đông sang tây, bóng nắng thì ngược lại. Chiếc kim đồng hồ hiện đại có nguồn gốc như thế.

Anh bỗng nhớ lại những bài học thiên văn của một người đi biển. Bóng nắng kia nói lên rất nhiều thứ. Này nhé, giữa trưa bóng nắng luôn chỉ hướng chính bắc. Bóng nắng giữa trưa ngày Hạ chí ngắn nhất, ngày Đông chí dài nhất. Ở những vĩ độ khác nhau, độ dài ngắn của bóng nắng giữa trưa cũng khác nhau. Nếu dùng các cây cột chỉ thị cùng độ cao, người ta có thể tính ra khoảng cách hai nơi, sau khi ghi chép và so sánh bóng nắng trong một quãng thời gian đủ dài.

“Vậy… vậy thì…” Cô lắp bắp – “Phải chăng chiếc cột đồng của Mã Viện là cột chỉ thị đo bóng nắng để tính khoảng cách giữa kinh đô Hán và Âu Lạc? Nó được người Hoa Hạ chế tạo từ thời Chu, có tên là Thổ khuê”. Sự nghiêm túc của cô mới đáng quí làm sao. Hai ngàn năm rồi, sách vở thất lạc, khoa học thiên văn bí truyền nhưng có nhiều thành tựu của người Trung Hoa đã mai một. Khám phá của cô rất khó được khẳng định chắc chắn nhưng nó sẽ là một giả thuyết mới mẻ đáng nêu ra mỗi khi nhắc tới cột đồng Mã Viện. Nghiên cứu kỹ các thiên Địa lý chí của Sử ký, Hán thưHậu Hán thư, so sánh chúng với bản đồ thực địa hôm nay, ta sẽ thấy độ chính xác của các khoảng cách Nam – Bắc bao giờ cũng ấn tượng hơn Đông – Tây. Đo khoảng cách Nam – Bắc dễ hơn vì chỉ cần mặt trời giữa trưa. Đo khoảng cách Đông – Tây phức tạp lắm, phải chọn mặt trời bình minh và hoàng hôn hoặc quan sát các chòm sao ban đêm.

***

Bẽ gãy được quân chủ lực Âu Lạc, phá hủy rất nhiều Giao long thuyền, tuy tổn thất không nhỏ nhưng Mã Viện tự xem đã thắng lợi bước đầu. Lợi dụng thời cơ Trưng vương rút ra xa, Hán quân bắt đầu bình định các vùng xung quanh Long Uyên như Khúc Dương, An Định, Luy Lâu, Chu Diên và M’linh. Từng thôn xóm Âu Lạc chống cự quyết liệt. Quan Lang và các chiến sĩ gan dạ bị bắt làm tù binh rất nhiều. Không dụ hàng được thì Mã Viện giam lại, chờ ngày giải về bắc báo công. Rừng núi Âu Lạc mênh mông, gỗ quí bạt ngàn, Mã Viện nhanh chóng đóng bù hoặc đại tu tất cả những Lâu thuyền đã cháy và hư hỏng. Với sự bổ xung của lính ngụy, lực lượng Hán gần như phục hồi hoàn toàn.

Mã Viện áp dụng chính sách lấy người Âu Lạc trị người Âu Lạc. Một số quí tộc cũ của triều đình M’linh đầu Hán được bổ nhiệm làm tân Lạc tướng, được cấp ấn đồng đeo cổ. Đây mới chính là hơn nửa sức mạnh của Mã quân. Hàng vạn người phương bắc sẽ chỉ còn lại một núi xương vô hại, sau vài tháng ở Âu Lạc, vì lương thảo trữ dưới Lâu thuyền rất hạn chế. Cướp bóc trắng trợn chẳng thể bền, dân Âu Lạc sẽ bỏ hết lên rừng, để vườn không nhà trống cho Mã Viện. Mã Viện luôn khắc ghi lời dạy của vua Hán: chính thể nô lệ là đại kế, quí tộc nô lệ là trung kế, dân thường nô lệ là hạ sách, chẳng chóng thì chầy chúng sẽ nổi loạn. Trung kế của Mã Viện là mũi tên xuyên đến nhiều đích ngắm. Ngụy quan bức ép dân lành, cung phụng đầy đủ lương nhu cho Hán quân suốt hơn một năm, đến tận ngày Mã Viện hồi kinh.

Cấm Khê là vùng bờ nam sông Hồng, đoạn gần thượng lưu, tiếp giáp với cánh đồng dưới chân núi Ba Vì. Trưng vương đã chọn hành đô cho mình ở đây từ khi Mã Viện mới đến Long Uyên. Do địa thế đầm lầy, rạch hẹp chằng chịt, Lâu thuyền của Mã Viện rất khó tấn công. Nếu nguy biến, người Âu Lạc dễ dàng rút lui vào rừng sâu, vận động chiến tranh du kích.

Vấn đề nảy sinh là, cơ cấu quân sự Âu Lạc khá lỏng lẻo dưới ngôi vị Lạc vương. Trừ người M’linh trước sau vẫn theo Trưng vương, nhiều Lạc tướng đối mặt với cuộc sống chiến khu kham khổ đã nhụt chí và dẫn người của mình rút đi. Binh lực Cấm Khê hao hụt từng ngày.

Mã Viện một mặt tiến hành công cuộc thực dân dưới xuôi, mặt khác duy trì bao vây Cấm Khê. Không có trận chiến lớn nào xảy ra mà chỉ là những cuộc càn quét rất giới hạn, hư trương thanh thế tối đa, tàn phá có tính toán các cơ sở kinh tế, hậu cần của chiến khu. Sách này Viện đã từng áp dụng cực kỳ thành công trước đó mười năm, tại vùng núi Bắc Sơn, Lũng Tây, đất nước của người Khương.

Sức cùng lực kiệt. Đầu năm 43 Trưng vương đành lên kế hoạch phá vây sau khi cố gắng liên lạc với Lữ Lạc tướng và Đô Dương.

Bà dự định đi xuống Cửu Chân, gầy dựng lại lực lượng cứu nước. Lữ Lạc tướng từ Phong Châu sẽ dùng bộ binh quấy nhiễu Luy Lâu, M’linh, Chu Diên nhằm hút sự chú ý của Mã Viện khỏi sông Hồng và biển hồ Lãng Bạc. Đô Dương cùng Lê Chân từ biển vào, vờ tấn công Long Uyên nhưng mục đích là nhập được đoàn Giao long thuyền của Trưng vương với mình.

Lữ Lạc tướng dẫn ba ngàn quân bộ xuyên rừng từ Phong Châu xuống đồng bằng. Ông áp dụng cách đánh du kích của Tây Âu, đã từng làm quân Tần thất điên bát đảo, lấy đầu chủ tướng Đồ Thư tại Hợp Phố trả thù cho quân trưởng Dịch Hu Tống. Quân Phong Châu được chia nhỏ thành những phân đội độc lập do các cừ súy dẫn dắt. Ban ngày họ hòa mình vào làng mạc Âu Lạc, đêm đến mới vận động đốt phá trại lính và cứ điểm của người Hán. Mã Viện rất đau đầu. Y điều chuyển một số ngụy Lạc tướng và ngụy binh tín cẩn đến các điểm nóng. Lũ bán nước thể hiện ngay lòng trung thành với chủ bằng cách tích cực làm chó săn, chỉ điểm. Du kích quân hoạt động bớt hiệu quả thấy rõ, họ còn bị ngụy quân phục kích ngược, tổn thất khá nghiêm trọng.

Trước hôm Trưng vương rời Cấm Khê ra biển, Lữ Lạc tướng gom tàn quân gần ngàn người, đánh một trận cảm tử vào Luy Lâu. Ông giết ngụy Lạc tướng, đốt sạch hành dinh sở trị của người Hán. Mã Viện nắm sát tình hình, chỉ cử ba ngàn Hán quân từ Long Uyên đến phản công. Lữ Lạc tướng tử vong tại trận tiền, quân Phong Châu tan rã. Những người bị bắt, không một ai đầu hàng, họ chấp nhận bị đày đến Linh Lăng.

Hạ lưu Lãng Bạc, Đô Dương và Lê Chân khiêu chiến. Họ dùng thuyền nhỏ cơ động dụ Lâu thuyền đuổi theo đến những bãi cát ngầm. Lâu thuyền nào mắc cạn đều bị nướng thành tro. Nhìn cách đánh của Đô Dương và tình hình du kích trên bờ, Mã Viện đoán Trưng vương sắp mở cửa máu ra biển. Một mặt y vờ trúng kế Đô Dương, giả như tập trung hết lực lượng đối phó, mặt khác chuyển hết quân bao vây Cấm Khê về khu vực cửa Hát đón lõng Hai Bà Trưng.

Trưng vương lạc trong vòng vây của đoàn Lâu thuyền hùng hậu do chính Mã Viện chỉ huy tại cửa Hát, nơi sông Đáy thông vào biển hồ Lãng Bạc.

***

Hai Bà Trưng bỏ mình. Nhân dân Âu Lạc mất đi ngọn cờ chống ngoại xâm bất khuất. Các ổ kháng chiến lẻ tẻ khắp nơi nhanh chóng tan rã. Tháng Chín năm 43, Mã Viện tập trung hai ngàn Lâu thuyền, gần ba vạn quân đánh An Biên, giết Lê Chân. Sau đó y thẳng tiến vào Cửu Chân. Các cứ điểm của Lạc hầu Đô Dương như Vô Thiết, Dư Phát, Cư Phong lần lượt bị phá vỡ. Những người con ưu tú nhất, kiên cường nhất của Âu Lạc hết đường chống đỡ bạo quân. Họ đành thuận gió Đông bắc đã nổi, gương buồm lưu vong mãi về phương nam.

Nhằm tiêu diệt tận gốc rễ văn hóa bản địa và mầm mống phản kháng, đúng chính sách xuyên suốt của Hán triều, Mã Viện đã tịch thu hàng ngàn trống đồng trong các bản làng Âu Lạc. Y đập nát trống, nấu chảy đồng rồi đúc ngựa vừa để chơi, vừa gửi về Lạc Dương nịnh hót Thiên tử. Y dựng trụ đồng làm Thổ khuê đo bóng nắng, xác định chiều rộng, chiều dài mảnh đất vừa chiếm được và vẽ nó vào địa đồ Đại Hán. Cực nam Cửu Chân, Mã Viện cắm mốc đồng làm dấu biên giới mới, ngông nghênh khoác lác một ngày đế quốc Hoa Hạ sẽ làm chủ cả miền đất viễn nam, nơi nhà cửa phải quay mặt về hướng bắc để đón ánh mặt trời.

Mã Viện đã đốt phá không biết bao nhiêu ngôi nhà rông cao vút, có mái hình thuyền, là trung tâm sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng và chính trị của xã hội bản địa đặc thù. Y cấm mọi cuộc hôn nhân mẫu quyền, mẫu hệ. Y chuẩn bị lưu đày đến Linh Lăng hơn ba trăm thủ lĩnh, quí tộc đã nhất quyết không hàng Hán quân.

Ngày tiếp chỉ vua Hán phong tước Hầu, thực ấp ba ngàn hộ, Mã Viện ngả trâu mổ bò khao thưởng quân sĩ. Ngà ngà say Mã Viện bắt đầu khóc. Y nức nở: “Thế Du, em trai ta từng khuyên rằng kẻ sĩ ở đời, áo cơm vừa đủ là tốt. Xe chỉ cần loại nhỏ, ngựa nên chọn con gầy, làm một công chức tàng, giữ ấm hương khói mộ phần tổ tiên, hòa hợp với xóm làng, thế là mãn nguyện. Muốn hơn chỉ tự làm khổ tấm thân thôi”.

Trong cơn say, Mã Viện bỗng thấy cuộc đời y chẳng qua là một giấc mộng bẽ bàng. Còn trẻ, chăn dê nuôi ngựa ở thảo nguyên Bắc Địa, Viện từng tự đắc mình mang chí lớn, phóng khoáng. Gầy được gia sản hàng ngàn thú nuôi, y nghĩ đeo chúng hoài thành ra nô lệ vật chất, bèn chia hết cho anh em, họ hàng, rồi về Trung Nguyên theo binh nghiệp. Đến khi chua chát nhận rõ chân tướng tư tưởng “thay trời hành đạo” của Thiên tử nhà Hán, Viện hiểu mọi sự đã lỡ làng. Là tay chân của vua, đại tướng của triều đình, y lại âm thầm tiếc nuối cuộc sống vô lo và thanh của một gã chăn dê. Mâu thuẫn quá sức và trái khoáy ấy, đã chụp xuống con người Mã Viện sự mệt mỏi, chán chường không lối thoát.

Chiến công lớn nhất của Mã Viện không phải là dẹp loạn, bình thiên hạ mà là xâm lăng, cưỡng chiếm, nô lệ và đồng hóa các dân tộc nhỏ xung quanh Trung Nguyên. Nếu ở Tây Khương y chưa nhận ra sự vô lý của chiến tranh thực dân, thì tại Âu Lạc, đứng trước gương tiết liệt của hai dũng nữ Trưng Trắc, Trưng Nhị; Mã Viện phản tỉnh và hiểu rõ sự vô nghĩa của sự nghiệp mình hằng theo đuổi. Một nửa quân số Hán đã bỏ mình nơi rừng thiêng nước độc vì bị người bản xứ giết hoặc dịch bệnh. Bao nhiêu gia đình ở hai phía tan nát, vợ mất chồng, con lìa cha. Một nấm mồ vĩ đại bị giấu dưới mặt nước Lãng Bạc âu sầu và lạnh lẽo, muôn năm không một nén hương sưởi ấm.

Chuyển biến lạ lùng của Mã Viện đã làm hết thảy Hán quân ngạc nhiên. Chủ tướng của họ ra lệnh chấm dứt giết chóc. Không những thế y còn cho lính tiến hành những công trình thủy lợi dân sinh lớn, như đào kênh dẫn nước, khơi thông rạch lầy, tháo úng đồng ruộng. Phải nói trước đây Mã Viện cũng từng sửa chữa thành quách, dẫn thủy nhập điền nhưng chủ yếu cho di dân Trung Nguyên tại Kim Thành, đất cũ của người Khương. Ở Âu Lạc, qui mô Mã Viện làm rất lớn, phục vụ luôn người bản địa. Quan quân Hán lao khổ, ca thán mãi không thôi.

Năm 44 Mã Viện trở về kinh sư. Ngoài chiến lợi phẩm và đặc sản Âu Lạc bắt buộc phải có để dâng vua Hán, y chất thêm mấy âu thuyền đầy hạt giống, cây trái, hoa quả quí hiếm phương nam. Từ Hợp Phố đến Ngũ Lĩnh chuyển qua đường bộ, Mã Viện bí mật thả bớt tù nhân. Y cấp lương thực, nông cụ và giống tốt để họ tùy cơ tìm về cố quốc, hoặc tái định cư trong cương vực văn hóa Lĩnh Nam không mấy xa lạ với người Âu Lạc. Đây là lí do một vài nơi tại Lĩnh Nam hiện nay vẫn còn di tích đền thờ Mã Viện.

Cuộc chinh phục Âu Lạc là chiến dịch lớn nhất trong sự nghiệp của Mã Viện, xét theo qui mô động binh, thành quả đạt được. Có lẽ vì thẹn với liệt nữ, họ Mã đã không thổi phồng chiến tích và kể tỉ mỉ chi tiết như thói thường nơi quan trường Hoa Hạ. Hệ quả là truyện Mã Viện ở Hậu Hán thư đề cặp rất tiết lược các diễn biến Nam chinh, nó trở nên nhỏ bé khác thường với các ghi chép về chiến công trước và sau đó của Viện. Khi bạn cũ Mạnh Kí chúc mừng Mã Viện trở về từ Âu Lạc, y cúi đầu, nói cho qua: “Xưa Lộ Bác Đức đặt bảy quận, xét công chỉ phong mấy trăm hộ; nay ta thấp kém, công ít thưởng nhiều, sao có thể lâu dài đây?”.

Chăn êm nệm ấm Lạc Dương không làm Mã Viện nguôi ngoai, ác mộng Âu Lạc thường xuyên ám ảnh. Nghỉ chưa đầy tháng, nghe nói rợ Hồ cướp phá Phù Phong, Viện quyết xin vua ra trận nhằm khuây khỏa. Năm sau hồi gia, tâm bệnh cũ lại hoành hành, ai hỏi Viện cũng giấu. Phò mã Lương Tùng đến tận giường Viện thăm nom, y cũng chẳng thèm mở miệng, lại luận rằng Lương Tùng là bậc con cháu, phải giữ đúng tôn ti. Do đó họ Lương trở nên ghét cay ghét đắng Mã Viện.

Tận cùng nỗi đau cá nhân trước tên tuổi hai liệt nữ Trưng Trắc và Trưng Nhị, Mã Viện bỗng nhiên bị giáng một đòn chí tử từ nhận thức bản thân về nền chính trị bành trướng Hoa Hạ. Khởi đi từ lời dạy bảo “Tôn Chu nhượng Di” của Khổng tử, khởi đi từ trung tâm vũ lực Tần – Hán, vua chúa và quan lại Hoa Hạ mặc nhiên gán nhận mình là trung tâm đa giá trị của thế giới. Chủ nghĩa Hoa tâm khẳng định văn hóa Trung Nguyên là đỉnh tối cao giữa thiên hạ. Nó tự định biên một cách gượng ép và vô lý bởi lễ giáo phong kiến phụ hệ. Bằng cách phủ nhận sự tồn tại của các trung tâm văn minh khác, chủ nghĩa Hoa tâm khoác cho mình chiếc áo chính danh để hành ác, để nô dịch cả nhân dân Hoa Hạ trong những cuộc động binh xâm lăng không ngừng nghỉ.

Tần Thủy Hoàng xúc tiến và Hán Vũ đế đã hoàn thành cơ bản cuộc cưỡng chiếm văn minh Bách Việt. Ta là ai, nếu không phải tên đồ tể xấu xa được giao trọng trách đóng chiếc đinh sắt cuối cùng vào chiếc quan tài Bách Việt – Mã Viện trầm tưởng như vậy. Chủ nghĩa Hoa tâm chưa là mồ chôn văn minh Hoa Hạ, chỉ vì nó vẫn bí mật làm mạnh mình lên bằng huyết thống từ bọn “di mọi”, bằng biết bao cái hay cái đẹp mà nó vừa phỉ báng vừa thu lượm trên con đường đế quốc thiên lý của mình.

Khách quan mà nói, phải là một con người cao cả, có thiên tư và đạo đức mới đạt đến giác ngộ ấy. Chưa đủ hạo khí và đầu óc quang minh chính đại nhằm biến giác ngộ thành lẽ sống, Mã Viện chìm đắm trong bể khổ, chẳng khác gì một đứa con vừa hờn căm cha mình đã giết mẹ, vừa tìm cách chạy tội cho ông.

Với nhiều bộ não thực dân bẩm sinh của người Hán trong hàng ngũ Mã quân, hành động của Mã Viện là không thể hiểu được, nếu không muốn nói là phản bội lợi ích Hán tộc. Nhất thời, Mã Viện còn oai lực, uy tín, chưa ai dám đả động đến.

Năm 49, Mã Viện hơn sáu mươi tuổi lại đi về phương Nam. Phó tướng Cảnh Thư muốn theo đường sông đánh nhanh, giết nhanh, diệt chủng. Viện chần chừ rồi chọn thế núi đồn trú hy vọng kháng chiến quân tự tan rã, y sẽ bớt tội ác. Đêm nghe trống của người Lĩnh Nam, Viện dựng tóc gáy, mộng thấy Trưng Trắc rủa xả, ngã lăn khỏi chiếu. Giật mình tỉnh dậy, Viện nhớ tới những ngày khốn quẫn, lam sơn chướng khí tại Âu Lạc, đi mười trở về năm, sáu, thê lương chẳng bút nào tả hết. Lại thêm lo sợ nguy cơ thất bại, vua Hán trừng trị, công lao cả đời hoang phí một khắc, Mã Viện chẳng thiết ăn uống, người ủ rũ rồi nhiễm gió độc. Cảnh Thư nhờ tâm phúc đưa vua tấu thư tố cáo Viện dẫn Hán quân vào con đường chết, dịch bệnh hoành hành, tổn hao không biết bao nhiêu lê dương. Lương Tùng được lệnh đến trách mắng, phế chức thống lĩnh của Viện. Có người nhìn thấy đang đêm Mã Viện rủ tóc, đi chân đất, khổ sở đứng phân bua phải trái trước rừng trúc uyển chuyển lướt gió như một đoàn nữ quân. Mấy hôm sau Viện chết.

Đến lúc ấy Cảnh Thư mới cấu kết với phò mã Lương Tùng tố cáo Mã Viện phản quốc, tư lợi, giấu giếm chiến lợi phẩm chinh nam làm của riêng. Có thêm tướng cũ của Viện dẫn bằng chứng tha tù, đọa đày quân sĩ, Hán Quang vũ nổi giận thu lại ấn Tân Tức Hầu, tuyệt đường con cháu thừa tự. Gia đình họ Mã sợ quá, chỉ dám làm ma sơ sài, chôn tạm xác khô Mã Viện ở một chỗ hoang vu phía tây Lạc Dương, người quen kẻ sơ lo vạ chẳng ai dám viếng. Mãi đến năm 78, nhờ con gái họ Mã lên ngôi hoàng hậu, dăm lần bảy lượt khấu đầu xin xỏ, vua Hán bèn gửi cờ tiết phục chức Mã Viện, cho thụy Trung Thành Hầu.

Hận Lãng Bạc – Chương 7

Để lại phản hồi

7.

Phải chăng quan sát qui luật chuyển động từ Đông sang Tây hằng ngày của mặt trời, người Hoa Hạ đã đặt ra mốc Cửu Châu? Nếu ta áp nghĩa Cửu là mặt trời ở đây thì sẽ bật ra sự thống nhất xuyên suốt trong nội hàm tên gọi nước Nhật: Cửu Châu (Xứ sở của mặt trời), Nhật Bản (Gốc của mặt trời), Phù Tang (Theo truyền thuyết cổ phương Đông có cây dâu rỗng lòng gọi là Phù Tang hay Khổng Tang, là nơi thần Mặt Trời nghỉ ngơi trước khi cưỡi xe lửa du hành ngang qua bầu trời từ Đông sang Tây, do đó Phù Tang hàm nghĩa văn chương chỉ nơi Mặt trời mọc).

Cô bảo Thiên văn học là một ngành quá hẹp, cô tin anh chứ chưa thể hiểu anh. Anh cảm ơn rồi nói lòng tin cũng tốt thôi. Sử quan Á Đông xưa đều là những nhà thiên văn thực hành, cho nên tìm hiểu cổ sử mà mù tịt thiên văn thì đáng tiếc lắm.

Anh luận ra từ qui luật chuyển động hằng năm của mặt trời, trên hướng nam tính từ các kinh đô cổ Trung Quốc, sẽ xuất hiện ít nhất hai mốc mang nghĩa “gốc của mặt trời” áng chừng. Ít nhất hai mốc là vì, khác với hướng đông (đi qua Cửu Châu) văn minh Hoa Hạ luôn tiến về phía nam, càng ngày càng hiểu hơn vùng đất phương nam. Các “gốc của mặt trời” có thể cũng dịch chuyển và thay đổi để chính xác hơn.

Hai mốc ấy đã nằm yên trong Hán sử nhiều ngàn năm, đó là Cửu Nghi và Cửu Chân. Chân nghĩa là gốc như “qui chân” là trở về gốc. Một cách đại khái, Cửu Chân ra đời như khái niệm vùng xích đạo ngày nay. Nó nằm trong một hệ thống có tính thuyết phục cao. Sử quan Hoa Hạ đã quan sát bầu trời, quan sát qui luật chuyển động tương đối của mặt trời và trái đất để đặt ra những khái niệm xuyên suốt và tiếp nối: Giao Chỉ (vùng đất tiếp giáp phía nam Hoa Hạ), Cửu Nghi/Cửu Chân (gốc của mặt trời, xích đạo), Nhật Nam (bán cầu nam).

Người Hán mường tượng khái niệm Nhật Nam trên logic nếu đi về phương nam, qua gốc mặt trời (Cửu chân/Xích đạo), đến một nơi nào đó, bóng mặt trời sẽ nằm ở phía nam của mọi vật. Khi ấy khi xây nhà cửa, để đón ánh nắng ấm áp, người ta phải quay cửa chính về phía bắc.

Quá trình chuyển hóa khái niệm thành địa danh cố định cũng là quá trình nam tiến, bành trướng của văn minh Hoa Hạ về phương nam.

***

Tô Định đến Hợp Phố, thần hồn nát thần tín, đổ bệnh liệt giường. Quân Hán vỡ mật chết không ít. Bọn Thái thú phương nam nghe tin rụng rời, lệnh đóng cửa biên giới, cắm trại chỉnh đốn sĩ khí. Ngựa trạm báo gấp về triều, Quang Vũ điên tiết đập vỡ mất một cặp lục bình men quí cạnh thư án.

Mãi đến mùa hạ năm 41 Tô Định mới rón rén vào thành Lạc Dương. Y tự trói và nộp mình dưới bệ rồng. Hôm ấy trời nóng bức, đêm trước Quang Vũ lại quá chén và bày trò ca múa khuya khoắt với mỹ nữ nên thần thái rất kém. Trong người uể oải, vua bèn phất tay đuổi Tô Định ra. Số là Tô Định từng thông đồng với Thái thú Hợp Phố và Nam Hải, bớt xén của ăn cướp từ Âu Lạc, chia chác với nhau. Khi bại trận, y phải trút hết hầu bao đút lót những người xung quanh Hán Quang Vũ, mong tránh họa tru di. Vương thái giám bị mua chuộc, đã cắt cử một vũ đoàn toàn gái đẹp bắt từ Lĩnh Nam, rút hết sinh lực hoàng đế trước khi cho Tô Định vào.

Cuối cùng, nhờ Vương khéo che chắn, tâng công Tô Định đã dâng nhiều của ngon vật lạ từ Âu Lạc suốt mấy năm, Hán Quang vũ không giết, chỉ phế y làm thứ dân, đuổi ra khỏi kinh thành.

Thoát chết, Tô Định vội dọn nhà về quê cũ, tay lam tay làm việc đồng áng. Càng đổ mồ hôi nhiều thì giấc ngủ của y càng dễ đến. Mỗi lần nghe tiếng đồng va chạm Tô Định thường giật nẩy mình, đến bữa nuốt không trôi. Vì vậy trong nhà y, mọi đồ vật gia dụng bằng đồng như mâm, chậu, âu, xô đều bị giấu tiệt. Ác mộng Âu Lạc dần dần cũng thuyên giảm.

Cuối đông, chợt nhớ đến lạc thú Lĩnh Nam và da cá sấu, ngọc trai, sừng tê Âu Lạc, vua Hán lại sai tả hữu cho tìm Tô Định hỏi han. Nghe tin, Tô Định sợ quá, tự bẻ gãy một chân, rồi nói thác với Quang vũ rằng đi cày bị bò xéo.

Y tấu: “Người Âu Lạc rất ngoan cường, luật tục khác nhiều với Trung Quốc. Nghe đồn Trưng Trắc đã tự lập làm vua, oai hèn trải đến Cửu Chân và cả những vùng man mọi của Hợp Phố. Thời bình, dân tình lam khổ vì quí tộc lười nhát, biến thái, nhũng lạm sa đọa. Nhưng lạ là, nếu bị ngoại bang bức ép, lập tức đất nước ấy sẽ kết ngay thành một khối như nhất. Lần này xuất quân phải lựa lão tướng nhiều thủ đoạn, đã trải trăm trận thắng, mới mong chế được hùng tâm nơi địa linh nhân kiệt”. Nghe xong, vua Hán nghĩ ngay đến Mã Viện.

Lịch sử có những điều lập lại hết sức trùng hợp. Mã Viện vốn họ Triệu, cùng thượng tổ như Triệu Đà. Y vốn là con cháu của Triệu Xa, tướng nước Triệu thời Chiến quốc. Triệu Xa mang hiệu mã phục quân, tiện lấy luôn họ Mã để tách chi tộc.

Cầm binh từ thời ngụy Vương Mãng, hoạn lộ của Mã Viện gập ghềnh trên chiến trường, nhưng cả hai triều đại đều nể vì tài năng của y. Đầu Đông Hán, Viện phò vua bày bao trận hiểm, tước đến Thái trung đại phu. Sau đó nhiều lần y lại lập công lớn khi chinh Tây, đánh Khương, lãnh ấn Thái thú Lũng Tây. Sự nghiệp lớn của Mã Viện là cướp nước người, thủ đoạn khó ai bì.

Được triệu vời nam tiến, Mã Viện tuy đã già nhưng vẫn không từ nan. Máu tham lập công nổi lên bừng bừng. Vua Hán cả mừng trao ấn, phong Viện làm Phục Ba tướng quân, cử Lưu Long phó phụ, ra lệnh cả hai tuyển binh mãi mã xuống Nam Hải hội quân cùng Lâu thuyền tướng Đoàn Chí. Đoàn Chí trước đó đã tuân chỉ đóng thuyền, bắt lính hơn vạn người ở Trường Sa, Quế Dương, Linh Lăng, Thương Ngô chờ Mã Viện. Gần hai vạn quân vừa đến Hợp Phố, bỗng Chí ngã nước chết. Viện được giao toàn quyền. Y cho thuyền chạy ven biển, phá núi mở đường, vẽ địa đồ, ghi chú tài nguyên Âu Lạc. Vì lương thảo hạn chế, đi đến đâu có làng có bản Mã Viện đều tấn công, cướp bóc và bắt thêm dân phu.

Đến Long Uyên, quân số của Mã Viện đã vọt lên hai vạn rưỡi, hơn một ngàn Lâu thuyền lớn nhỏ đủ loại.

***

Mùa xuân năm 42, những ngày lễ mừng năm mới của Âu Lạc dài như vô tận. Không biết bao nhiêu tre vầu đã bị chặt để làm nêu. Quan lại M’linh tranh nhau xem ai dựng nêu cao nhất, ai chôn nhiều nêu nhất. Hai năm liền mất mùa, dân thường đói kém, vậy mà trâu bò bị giết thịt hành lễ không biết bao nhiêu mà kể. Trưng vương nghiêm cấm mọi hoạt động quá trớn có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh lương thực. Lệnh ấy chỉ có tác dụng không quá tầm mắt, tầm tai của chính bà.

Những gốc tre già cao vút, gióng đều và thẳng tắp thường được chọn làm nêu. Người ta đập dập ngọn tre thành xơ, rũ dài như bông. Cạnh đó treo móc một túi vải đựng bầu rượu, vôi, trầu cau để mời tổ tiên về với con cháu. Bông tre lao xao trong gió là dấu hiệu các linh hồn đang có mặt. Mỗi gốc nêu sẽ hiến tế một con trâu. Nó bị buộc sẵn vào rào nọc ngắn trồng xung quanh chân nêu. Nọc gỗ khắc hoặc vẽ hoa văn và những hình chim thú rất vui mắt, linh hoạt.

Cây nêu tượng trưng cho chiếc cầu nối trời và đất, nó cũng là mốc dấu ghi nhận cương vực của một cộng đồng nhỏ. Khi nêu đã dựng, mọi công việc trong làng xã phải dừng hết lại. Tập trung dưới cây nêu, người ta không cảm thấy đơn độc, dễ dàng trút bỏ phiền muộn cũ, cùng nhau hướng đến tương lai, cầu mong vạn sự hanh thông, tốt đẹp.

Mở lễ, mọi người vây tròn gốc nêu, chiêng trống gõ nhịp xung trận. Một trai đinh khỏe mạnh cầm con dao to và sắc vừa múa may vừa đuổi con trâu chạy quanh gốc nêu. Lần lượt bốn chân con trâu bị chém đứt gân khuỷu. Khi nó gục xuống, nữ chiến binh tài ba nhất được chủ nhà trao cho ngọn giáo thiêng của dòng tộc để đâm một phát dứt khoát vào tim con vật.

Thịt trâu tươi đặt lên lá chuối đem đến bàn hành lễ có chín ché rượu vây quanh. Thầy mo bôi một ít máu trâu lên chân gia chủ rồi khấn niệm, đọc sử thi ca ngợi công đức gia tiên và cầu mong sức khỏe, thịnh vượng cho gia chủ.

Toàn bộ khách mời được thưởng thức thịt nướng và uống rượu trong tiếng chiêng trống dập dìu. Khách càng nhiều, trâu thay nhau bị giết. Ché hết nước lại được đổ đầy. Rượu nhạt thì người ta thay ché hoặc dùng rượu khách khứa đem đến. Cảnh tượng tưng bừng náo nhiệt. Tối mịt, cuộc chơi lại được dọn vào nhà sàn. Người say kẻ tỉnh nằm chồng ngồi chất ca hát, đùa nghịch thâu đêm.

Trưng vương không vui suốt tuần trăng mới. Bà luôn luôn bồn chồn và bị ám ảnh bởi một tai họa kinh hoàng đang đến gần. Tất nhiên bà không biết Mã Viện đã hội quân tại Hợp Phố. Chỉ cần một chút tấm lòng với nước non, ai cũng thấy những gì diễn ra một năm rưỡi qua tại Âu Lạc chẳng hứa hẹn điều gì tốt đẹp.

Lữ lạc tướng từ lâu đã bỏ về Phong Châu ẩn dật. A Thi, Trưng Trắc và Trưng Nhị rất buồn. Nỗi buồn chung vì nước của họ càng cô độc thì càng thăng hoa, trở thành niềm bi thiết, đại diện cho lương tri những người Âu Lạc yêu quí xứ sở của mình, đau đớn trong dự cảm thê lương.

“Nàng không có lỗi“. A Thi an ủi Trưng vương – “Tiền lệ của tổ tiên là Thánh Gióng phải về trời. Lạc vương dẹp xong giặc, ngoài lòng kính trọng đời đời truyền kể, các ngài vẫn dần tan lẫn vào lối sống cũ”.

“Giặc Ân khác giặc Hán nhiều lắm. Nhâm Diên, Tích Quang, Tô Định nối nhau liên tục quấy nhiễu chúng ta hai đời. Kẻ sau gươm giáo luôn nhiều hơn kẻ trước. Sao không ai chịu hiểu như ta?”. Trưng vương thở dài.

“Tôi hiểu. Trưng Nhị hiểu. Đô Dương, Lê Chân và Lữ lạc tướng cũng thế”. A Thi nói – “Nhưng chúng ta bất lực. Ý trời chăng?”.

Trưng vương kể cho A Thi nghe giấc mơ kỳ lạ của bà những ngày gần đây. Nó cứ lập đi lập lại, rỗng toang, không có mở đầu và kết thúc nhưng cố kết chặt chẽ như một đoạn sử thi:

Trong ngôi nhà rông mái hình thuyền của Lạc vương

Không có cửa, không có cả cầu thang

Tiếng chiêng tiếng trống quay tròn

Bà thầy mo đang hát sử thi

Kể về một thầy mo khác, đang hát sử thi

Trong ngôi nhà rông mái hình thuyền của Lạc vương khác

Không cửa, không cầu thang

Tiếng chiêng tiếng trống quay tròn

Tiếng chiêng tiếng trống quay tròn

Không ai biết thầy mo hát gì

Bà kể về một thầy mo khác nữa?

Chẳng rõ A Thi hiểu giấc mơ ấy như thế nào. Ông hỏi Trưng vương: “Chúng ta có kịp tát ao tù không?”.

“Hết mùa gió này, nếu may phúc quân Hán chưa kéo sang, A Thi hãy ra biển đón gió Nam nhé”. Trưng vương có vẻ không tin sự sắp xếp của mình sẽ suôn sẻ. Hè năm ngoái bà cứ hoài ngóng những thuyền buôn Ả Rập. Họ đã không ghé M’linh. Kho lẫm chưa đầy, Trưng vương vẫn có ý bớt ăn giảm mặc, dành dụm đổi sắt. Giờ đây bà không muốn đợi nữa. A Thi phải đi tìm họ vậy.

Trưng vương tiết kiệm cả trong đám tang và lễ bỏ mả mẹ mình cuối năm ngoái. Sau lễ cúng trăng năm 40, bà Man Thiện trút hơi thở cuối cùng. Tiếng cối xuyên qua các bản làng báo tin người tủ lĩnh già nua vĩ đại, mẹ của Lạc vương Trưng Trắc không còn nữa.

Một cây gỗ không to lắm được khoét làm quan tài hình thuyền. “Trẻ làm ma, già làm hội” nhưng chỉ ba con trâu bị giết. Người Âu Lạc nhìn thấy sự sống nơi cái chết nên tang ma có than khóc, cũng có nhảy múa ca hát, rượu chè say sưa.

Đúng theo di nguyện của mẹ, Trưng vương không tổ chức đại tang tốn kém. Ngày đưa bà Man Thiện về phía tây, đoàn Giao long thuyền khép một vòng trước cửa Hát. Đồ tùy táng đủ dùng, nhà mồ vừa phải. Già Mị bảo: “Đường đường Lạc vương giàu nhất Âu Lạc, bà nên thưa với mẹ sẽ trông nom cơm nước mồ mả chín năm”. Trưng vương nhất quyết gạt đi: “Nước chưa hẳn đã yên, nhà chắc là không ổn. Mẹ ta muốn sớm lên trời chừng nào hay chừng ấy, để cùng tiên tổ độ trì cho vận mệnh Âu Lạc”.

Lễ bỏ mả, một hàng rào quét vôi trắng đơn sơ được dựng lên quanh mộ. Nhà cúng phên tre, vách nứa giản dị. Gia tài bà Man Thiện mang đi ít hơn hẳn một quan Lang nghèo nhất. Không có vò đồng, vại thiếc. Không có kiếm cung. Chỉ duy nhất một chiếc trống đồng nhỏ tượng trưng. Trưng vương thịt một con trâu què, bày vài ché rượu nhỏ. Tiếng trống mẹ khóc. Người dự đông như kiến, Lạc hầu, Lạc tướng đủ mặt cả. Lạ là họ không xấu hổ trước gương sáng Trưng vương mà còn thầm dè bỉu sự nghèo nàn của lễ dứt tang. Trưng Nhị không nhận hàng thuyền đầy cống vật, cô bảo họ hãy mang về lo cho quân sĩ và dân nghèo.

Trưng vương định dùng lễ tang này cảnh tỉnh, khuyên nhủ người Âu Lạc về họa bắc phương. Trước khi thả một con gà vào rừng bà vừa khấn vừa khóc:

“Hỡi thần chết. Tôi không có nhiều của cải cho người. Trống đồng để đánh giặc. Lao tên dùng giết thù. Hãy đón mẹ ta đi. Vì mất mẹ, em ta chưa kịp lấy chồng. Ta chưa sinh được con. Ai sẽ nối dòng chống giặc dữ giúp ta? Các Lạc hầu ư? Các Lạc tướng ư? Khi nào họ mới dứt cơn say? Khi nào họ bớt hè bớt hội? Từ hôm nay cơm cúng ta sẽ dùng nuôi dũng sĩ, rượu ngon ta sẽ thưởng quan hiền. Thần chết hãy thông cảm với ta. Nhà dột sợ mưa, nước nghèo tất họa”.

“Mẹ ơi. Người hãy lên trời, hãy đi gặp linh hồn những Lạc vương muôn năm cũ. Mẹ hỏi giúp con Lạc vương hôm nay phải làm gì? Hãy đánh thức giùm con khí thiêng sông núi. Hãy báo cho con khi nào giặc tới…”.

***

Giặc lại đến rồi. Tiếng trống mẹ của Trưng vương tại M’linh cất lên những nhịp báo động u sầu. Quan Lang, Lạc tướng, Lạc hầu cứ như đang say ngủ, rời rạc và bải hoải sai nô thuộc đánh trống trả lời. Các tiếng trống không còn rền vang và nhất thể như hai năm trước. Có lẽ hoan điệu hưởng lạc, tụng ca chiến thắng từ mùa thu năm 40 đã ngấm vào hồn trống, đã lên rỉ xanh trong lòng trống. Những tia mặt trời giữa mặt trống mòn hằn, sâu hoắm, ngao ngán như một cái miệng bô lão Âu Lạc đã rụng hết răng, vừa nhai trầu giã nát vừa ngáp. Chen trong âm thanh lộn xộn ấy, đặc biệt không thể chấp nhận là những tiếng rè nặng nhẹ khác nhau, tùy thuộc vào chiếc trống bị nứt ở mặt hay ở vai, ở eo hoặc ở chân.

Cái hồn nhiên của một dân tộc hiền hòa lộ ra rất nhanh. Chiến binh Âu Lạc cuối cùng cũng lên thuyền, tập trung đông đảo tại cửa sông Hát. Người người chen vai, tâm tình trẩy hội, nam nữ hớn hở đưa duyên cứ như chợ tình đang mở trên biển hồ Lãng Bạc. Họ tưởng Mã Viện cũng xoàng như Tô Định nên rất coi thường. Trưng vương phải chạy như con thoi khắp nơi để chấn chỉnh, xốc lại hàng ngũ, từ Lạc tướng đến các tay chèo bắp tay nhão nhẹt vì nát rượu. Mặt khác bà cử người cấp đến Cửu Chân, Phong Châu, An Biên kêu gọi Lạc tướng, Lạc hầu điều quân hỗ trợ.

Từ sông Mã, Đô Dương vượt biển đến An Biên hội quân với Lạc tướng Lê Chân và năm ngàn nữ binh kiêu dũng của bà. Tổng cộng cánh quân ngoài biển có bảy tám trăm Giao long thuyền và gần vạn rưỡi chiến binh.

Thật ra Mã Viện có thể tấn công Trưng vương khi đội ngũ của họ chưa tề chỉnh, song y sợ những gì mình thấy chỉ là hư trương. Mã Viện gấp rút khôi phục bến Long Uyên, xây dựng hành dinh, trại lính lớn gấp năm mười lần những gì Tô Định đã làm. Y bố phòng nghiêm nhặt một vùng đệm an toàn, cấm tiệt mọi xung đột dù nhỏ nhất với chiến thuyền Âu Lạc. Bất kể sáng tối, đi tuần gặp thuyền binh Âu Lạc, quân Mã Viện luôn bỏ chạy. Thường thường thuyền Âu Lạc đuổi theo gần đến Long Uyên, thấy cờ xí rợp trời, lâu thuyền trùng trùng điệp điệp thì rờn rợn rút lui. Không bao lâu sau, lính tráng của Trưng vương mất hết cảnh giác, nhiều khi thấy Mã quân mon men đến gần nghiêng ngó cũng chẳng thèm đuổi.

Tính toán kỹ lưỡng mọi đường nước, Mã Viện đặt mục tiêu tiêu diệt chủ lực của Trưng vương trước Đoan Ngọ năm 42. Y tránh dớp xấu của Tô Định. Ngày sinh mẹ tổ, dân Âu Lạc sẽ tụ hội cả về Lãng Bạc, chẳng thể coi thường. Mã Viện đếm ngày, chờ Trưng vương nôn nóng, bất cẩn.

Năm ấy mùa hè đến sớm, mưa đến sớm. Thời tiết khắc nghiệt, nước ngập mênh mông. Nắng nóng thiêu da cháy thịt. Chướng khí ngùn ngụt bốc lên, tạo thành một chiếc lồng kính chụp xuống biển hồ Lãng Bạc và các vùng xung quanh. Đây là hiện tượng trầm áp nhiệt đới, bầu trời mờ đục như khói giăng, đất nứt, nước bốc hơi nhưng nhiệt lượng bị phong tỏa không thoát được, bức bối chẳng bút nào tả xiết. Quân lính hai bên ngã nước, dịch bệnh, chết chóc tràn lan. Chim trời nhiều khi đang bay đột nhiên xoãi cánh, rơi chết lộp bộp xuống đầm lầy.

Trưng vương bất lực nhìn quân sĩ mất dần nhuệ khí, hàng ngũ xộc xệch. Bà biết rất khó chờ thêm một buổi nào nữa. Bà đâu phải tướng tài được rèn luyện qua trải nghiệm thực tế. Chồng bà, A Thi cũng vậy. Họ không lượng được sức mạnh thật sự của Mã Viện. Sông Hồng bị cứ điểm Long Uyên chia cắt, liên lạc với An Biên khó khăn. Mấy chiếc thuyền giả trang đánh cá đem tin tức từ An Biên đến cho Trưng vương đã bị Mã Viện cầm bắt. Thủy lộ sông Đáy an toàn hơn nhưng nước rất cạn, đầm lầy vòng vèo, lam sơn chướng khí hừng hực, do đó quân lệnh thưa thớt và không kịp thời.

“Vậy là nàng vẫn quyết tấn công Mã Viện?” A Thi hỏi Trưng Trắc.

“Chàng nhìn thấy thất bại của ta?”

“Tôi lo sợ”.

“Ta không sợ. Ta không lo sợ”. Trưng Trắc đi một vòng quanh đống lửa lớn bên mép nước. “Nếu ta không phát lệnh xung phong thì hàng vạn quân này cũng sẽ tan rã. Trò nhấm nhứ của họ Mã thật lợi hại”.

Khi nghe An Biên đã sẵn sàng, Giao long thuyền của Đô Dương và Lê Chân đang tiến về Long Uyên, Trưng vương mừng rỡ:

“Tướng sĩ ơi, ta phải đánh thôi. Đánh để con cháu đời đời lấy đó làm gương, lấy dũng khí và lòng kiêu hãnh của vua bà này làm bửu bối giữ nước. Mai này có thể dân ta sẽ nai lưng làm nô lệ. Mai này có thể chúng sẽ phá nát giang sơn của tiên tổ, sẽ đốt ra tro hàng ngàn thôn làng xóm bản. Nhưng ta biết khí chất anh hùng sẽ chảy trong huyết quản con dân Âu Lạc muôn năm. Sẽ có lúc nó sống lại mãnh liệt, biến thành mưa gió, sấm chớp, bão giông quật xuống đầu lũ cường bạo, để giành lại phẩm giá của con người tự do”.

“Ngài sai lầm rồi, thưa Trưng vương”. Lữ Lạc tướng lắc đầu – “Khi chưa có kế hoạch cụ thể chúng ta đã vội triệu vời Đô Dương ra An Biên. Theo mật ước, họ sẽ tấn công Long Uyên rạng sáng mai. Nếu ta án binh bất động lúc này, khác nào mời họ vào cho hổ xé xác. Ta đánh lại càng thất sách, quan quân mệt mỏi vì thời tiết, sĩ khí hao tổn, cầm chắc bại vong”.

“Hay tạm chờ Đô Dương và Lê Chân mở màn trước. Ta vẫn nghĩ bao vây Long Uyên từ hai phía sẽ tốt hơn”. A Thi góp lời.

“Đũa cả lại đẩy tiên phong cho đũa con, đấy không phải cách của bậc vương hầu”. Trưng Nhị thẳng thắn, hoàn toàn không có ý coi thường A Thi – “Chúng ta sai lầm từ buổi đầu, quyết định dàn trường trận bảo vệ từng thước đất kinh đô M’linh không thực tế. Mã Viện phải bám vào cái phao Long Uyên vì y là kẻ lạ. Với chúng ta, khắp Âu Lạc này, chỗ nào cũng có thể trở thành hành đô kháng Hán, bờ bụi nào cũng có thể xem như chiến lũy, người dân nào cũng là một chiến sĩ từ trong bản năng”.

Mọi người lặng im. Trưng Nhị nói quá đúng. Khi những cánh buồm đen của Mã Viện vừa chấp chới quần tụ gần Long Uyên như một bầy diều hâu đói xác chết, ai ai cũng quẫn cuống, mất hết bình tĩnh. Những kẻ ích kỷ nhất quan trường M’linh đã can dự quá sâu vào lệnh hội quân của Trưng vương. Chúng không có mặt tại cửa Hát đêm nay. Chúng rời khỏi hàng ngũ và kinh đô rất nhanh, ngay khi nhận thức được thất bại không thể tránh khỏi.

Trống điểm canh não nề buông những tiếng động khô khốc vào thinh không. Đêm oi nồng. Chẳng sợi gió hiếm hoi nào lạc đến cuộc hội đàm của tướng sĩ Âu Lạc. Nước triều đang lên, rất mạnh, nhắc nhở Trưng vương rằng, bà không còn thời gian đắn đo.

Trống lệnh sẽ cất nhịp dồn, người Âu Lạc định hút thuyền Hán về hết thượng lưu biển hồ Lãng Bạc, trong khi Đô Dương đánh úp Long Uyên.

Lịch sử có thể thay đổi hoàn toàn chỉ với một chữ nếu. Nếu người Âu Lạc mở lòng với thương nhân Ả Rập, nếu họ đã thay đồng bằng sắt để đúc gươm, rèn giáo, nếu họ khiêm tốn một tí sau mùa thu năm 40, nếu quan trường M’linh loại bỏ được lũ hèn mạt… Âu Lạc có thể đã không phải trải qua tám trăm năm tăm tối dưới ách thống trị bắc phương. Gần với Trưng vương lúc ấy hơn cả, nếu bà biết Đô Dương và Lê Chân vẫn còn cách biển hồ Lãng Bạc nửa ngày đường, biết đâu Mã Viện sẽ ôm hận dưới đáy nước.

***

Rạng sáng một ngày cuối xuân năm 42, hơn ba vạn chiến sĩ nam nữ Âu Lạc ngồi trên gần hai ngàn Giao long thuyền được lệnh tiến vào biển hồ Lãng Bạc. Vì do thám tốt, khi tiếng trống cái của Trưng vương phát tín hiệu xung trận thì Mã Viện đã sẵn sàng.

Lâu thuyền dàn đội hình thành chữ V xuôi, lợi dụng mạn thuyền cao định áp chế Giao long thuyền thấp hơn, hầu mong bao vây và nghiền nát quân Âu Lạc. Không có cảm tử thì sẽ không thể phá vỡ đội hình Lâu thuyền, A Thi cho vài mươi chiếc Giao long thuyền đã ngụy trang kỹ rơm rạ và chất dễ cháy, tự nguyện xông vào giữa hàng ngũ Hán. Khi chữ V khép lại, cảm tử quân châm lửa rồi bỏ thuyền lặn ra ngoài. Theo chiều nước và gió, hỏa Giao long thuyền trôi về cánh trái chữ V, đe dọa nghiêm trọng hàng trăm Lâu thuyền. Mã Viện hoảng hốt phất cờ hiệu và nện trống dưới ánh đuốc, cho phép Lâu thuyền tản ra nhưng hàng chục chiếc đã kịp bắt lửa.

Bị vỗ mặt, Mã lão tướng giận run người. Y chuyển qua tấn công theo một cung tròn. Ở thế gần như mặt đối mặt này, máy bắn đá kém tác dụng, máng đá hai bên mạn vô dụng. Các Giao long thuyền tiên phong cắt ra năm ba chiếc một đội, tấn công một Lâu thuyền. Giao long thuyền gắn mũi giáo ngầm dưới nước lãnh nhiệm vụ đâm thủng mạn thuyền Hán và đốt thuyền mình làm mồi lửa. Các thuyền còn lại áp mũi và lái, vừa bắn tên lửa lên buồm và boong giữa Hán thuyền, vừa quăng móc câu, thang dây tràn lên cận chiến. Nỏ liên châu của Hán quân tuy sức công phá lớn nhưng thao tác chậm, bị cung Âu Lạc khống chế tốt. Ngược lại, kiếm sắt Hán khá lợi hại, nhiều móc câu, thang dây bị vô hiệu hóa chỉ bằng một nhát chém.

Thuyền Hán cháy đỏ góc trời tây Lãng Bạc, át cả ánh dương đang lên ở phía đông. Tuy vậy vì phải dùng nhiều Giao long thuyền mới hạ được một Lâu thuyền, thế trường trận đã thấy Âu Lạc sẽ đuối. Mã Viện phất cờ, đánh trống xếp lại đội hình chữ V, quyết bao vây toàn bộ Giao long thuyền Âu Lạc.

Đánh rắn phải đánh dập đầu. A Thi xếp đặt một đội thuyền cừ khôi do chính ông chỉ huy, chờ cơ hội tấn công soái thuyền của Mã Viện. Mười thợ lặn mạnh mẽ nhất Âu Lạc xăm khắp mình vẩy Giao long, bí mật xuống nước đục đáy thuyền. Rất tiếc vỏ thuyền làm bằng gỗ tứ thiết (cứng như sắt) tốt nhất Lĩnh Nam, các thợ lặn thất bại. Năm Giao long thuyền đầu gắn lưỡi giáo có ngạnh vận hết lực chèo lao vào, chúng đều bị máy bắn đá đập vỡ. Tên và lao vù vù xé gió, cắm lởm chởm trong ngoài soái thuyền, Mã Viện phải ra lệnh hạ hết buồm tránh bùi nhùi lửa.

Thấy chủ tướng bị áp chế, một số Lâu thuyền xung quanh ra sức ứng cứu. Chúng loại khỏi vòng chiến đấu hầu hết Giao long thuyền nhăm nhe áp sát mạn thuyền Mã Viện. Chỉ mỗi thuyền của A Thi tiếp cận được soái thuyền, nếu không kể hai thợ lặn quyết tử bám vào bánh lái, dùng rìu tước bỏ khả năng quay trở của nó. A Thi và ba võ sĩ giỏi nhất M’linh cuối cùng cũng trèo được lên boong soái thuyền. Nỏ liên châu đã đợi sẵn họ. Những mũi tên bọc sắt xuyên vào lồng ngực phu quân của Trưng vương. Mặt trời đã chói chang trên biển hồ Lãng Bạc tự lúc nào.

Trống đồng Âu Lạc vẫn dồn dập dùi xung trận nhưng một trong những vị dũng tướng kỳ tài nhất của họ đã tắt thở. Mã Viện hậm hực chặt đầu A Thi treo trên cột buồm cao nhất của soái thuyền. Đôi mắt ông trừng trừng như muốn thu hết cảnh non nước đang lâm nguy. Hán quân không dám nhìn ông. Người Âu Lạc lại thấy ở đó tia sáng động viên, khích lệ và lời nhắn nhủ phải chiến đấu đến giọt máu cuối cùng. Ánh dương đỏ rực cũng phải nấp sau đôi mắt A Thi.

Tin dữ vọng về. Trưng Trắc nuốt nước mắt. Nếu đang ở trên bờ, gia tộc bà phải gõ cối, nổi chiêng báo tang A Thi. Giữa biển nước, Trưng vương đành mượn dùi trống từ tay một người lính. Bà muốn tự khiển binh, tự gióng lên những tiếng căm hờn tận đáy lòng. Tiếng trống của bà vẫn đầy dũng khí, vẫn quyết liệt, vẫn mang mệnh lệnh tấn công không ngừng nghỉ. Chiến binh Âu Lạc cắn môi, trợn mắt, chắc tay chèo, vững tay lao, hết lớp này đến lớp khác xông ra tử chiến với Hán quân.

Chiến trận giằng co và dàn trải. Dân chài Âu Lạc khắp nơi nghe trống giục vội kéo đến tiếp sức. Bất kể già trẻ lớn bé, họ xung phong bằng tất cả những gì có thể nổi trên mặt nước trong đời sống sông rạch thường nhật của mình. Thuyền nan, thúng mủng, bè nứa tràn ngập một góc mặt biển hồ Lãng Bạc, tiếng hô giết giặc xao động Hán quân.

Khi Trưng Nhị nắm lấy cánh tay rã rời của Trưng vương, khuyên bà nhìn nhận rõ tình hình, nên tính kế bảo toàn lực lượng, trời đã ngọ. Các Giao long thuyền vẫn quây lấy Lâu thuyền, những cột khói từ thuyền giặc vẫn không ngừng mọc ra, tua tủa chĩa lên từ mặt biển hồ Lãng Bạc. Bỗng nhiên, từ phía đông, tiếng trống đồng của Lạc hầu và Lạc tướng vọng đến. Đô Dương và Lê Chân bị lạc vào bãi cạn trên đường hành quân, họ chậm hơn nửa ngày so với kế hoạch. Đến nơi, lập tức hơn một vạn quân đánh dốc vào Long Uyên.

Mã Viện quá lọc lõi. Y đã phòng bị kỹ lưỡng, năm ngàn quân tinh nhuệ tại Long Uyên không bị bất ngờ. Khói đen ngùn ngụt, khói trắng báo nguy trên hỏa đài giục Mã Viện thu quân.

Hán quân chết vô số kể. Chiến sĩ Âu Lạc bỏ mình cũng không kém.

Nước biển hồ Lãng Bạc đã chuyển hẳn sang màu máu. Máu tử sĩ, bất kể chiến tuyến, đều đỏ như nhau, hòa chung nỗi niềm chiến chinh ai oán. Máu Âu Lạc khắc khoải quê hương bị ngoại xâm dày xéo, bầm tím căm thù giặc dã. Máu Hán nhân hồng màu nhớ quê hương bản quán, đen nỗi uất hận bị đế quốc Hán ném vào vòng sinh tử vì lòng tham và dã tâm nô thuộc xứ người.

***

Được khích lệ bởi tiếp viện, quân Âu Lạc đuổi riết theo Mã Viện. Long Uyên dẫu bị kẹp bởi hai gọng kềm rắn rỏi nhưng vẫn cầm cự được. Thế trận giằng co đến tối mịt.

Đô Dương và Lê Chân đến vương thuyền bái kiến Trưng Trắc.

“Nước bắt đầu xuống. Nên chăng chúng ta kết tất cả Giao long thuyền lại về phía thượng lưu, quyết tung ra trận hỏa công cuối cùng”. Lê Chân hỏi Trưng vương.

“Không ổn. Long Uyên nằm bên bờ lở. Cách bến vài tầm lao có xoáy nước đẩy ra giữa dòng rất mạnh. Hỏa lực sẽ bị cuốn cả vào đấy rồi tản mát hết”. Trưng Nhị nói – “Tôi e rằng chúng ta phải kết thúc cuộc tấn công giữa đêm nay, sức người sắp cạn”.

“Lạc hầu, ngài có ý gì không?”. Trưng vương hỏi Đô Dương.

Óc phân tích và tổng hợp nhạy bén của một nam thủ lĩnh đã cho Đô Dương kết luận rằng quân Âu Lạc càng rút lui sớm thì càng đỡ tổn thất. Người Âu Lạc phải tính đến một cuộc kháng chiến dài lâu. Nhìn gương mặt mệt mỏi, hết sức u buồn và tang tóc của Trưng vương, Đô Dương ngập ngừng, không đang tâm nói ra.

Trưng vương hiểu hết. Dù phải gồng mình với nỗi đau xé ngực, bà vẫn đủ tỉnh táo hoạch định chiến lược. Quyết định bỏ M’linh được ban ra. Toàn bộ quân chủ lực di chuyển lên căn cứ Cấm Khê. Trưng vương khuyên Lê Chân và Đô Dương lui ra biển. Tại An Biên họ phải chấn chỉnh binh lực, đóng thêm thuyền chiến, chiêu nạp lính mới chờ phản công. Trưng vương dặn dò họ rất kỹ, trong trường hợp bà tử trận, Đô Dương được nắm toàn bộ vương quyền Âu Lạc. Ông nhất thiết lui ngay về Cư Phong dựng cờ độc lập, tập hợp quí tộc Âu Lạc, giành lại tự do cho xứ sở.

Trưng Trắc giao trống mẹ thiêng liêng cho Đô Dương rồi lợi dụng bóng đêm di chuyển lên thượng lưu sông Hồng.

Thời đại không anh hùng

9 phản hồi

Bài viết này vừa đăng tại BBC. Do tính chất truyền thông phổ quát, nó được rút gọn đôi chỗ và đáng tiếc nhất là thiếu chú thích ( tôi cũng thuận với việc làm nguyên tắc ấy của BBC) . Xin gửi bạn bè nguyên bản.

—————————-

Thời đại không anh hùng

Trương Thái Du

Biểu tượng anh hùng cổ xưa nhất của người Việt Nam chắc chắn là hình ảnh Thánh Gióng. Kể từ Phù Đổng Thiên vương nửa huyền thoại, hầu như tất cả các anh hùng dân tộc trong lịch sử Việt Nam đều phải là những lãnh tụ lập quốc, hoặc là danh tướng chiến thắng ngoại xâm. Sự thiên lệch rất dễ hiểu. Sinh tồn bên cạnh các triều đại thực dân phong kiến Trung Hoa, ác mộng mất nước đã được hóa giải và động viên bằng hàng chục cái tên lẫy lừng: Lý Bôn, Ngô Quyền, Lê Hoàn, Lý Công Uẩn, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Nguyễn Huệ… Chiến thắng ngoại xâm, cởi bỏ ách nô lệ cho quốc gia cũng là lẽ chính thống đầu tiên của bất cứ ngai vàng nào. Thậm chí thống nhất đất nước, mở mang bờ cõi gấp đôi như nhà Nguyễn và tổ tiên họ đã làm, chỉ là điều kiện cần nhưng chưa đủ, để hoàng đế khai quốc Nguyễn Ánh đường hoàng bước vào ngôi đền thiêng cùng với tiền nhân.

Tham khảo nhiều mô hình xã hội có cùng nguồn gốc, gần gũi về lãnh thổ tại Tây Nguyên Việt Nam và Hoa Nam Trung Quốc, chúng tôi thấy tại mảnh đất tiền Việt Nam cũng như vùng Bách Việt, người giàu có nhất, mạnh mẽ nhất trong một làng được suy tôn là quan Lang. Một cách tương đối, đứng đầu trăm làng là Lạc tướng, ngàn làng là Lạc hầu, vạn làng là Lạc vương. Ngoại trừ quan Lang và Lạc tướng có những hệ lụy xa gần về huyết thống, địa lý và thần quyền; các nấc bậc quyền lực còn lại liên kết khá lỏng lẻo. Nó không có những nguyên tắc chế định thông thường của nhà nước phong kiến quân chủ, bởi không hề chia sẻ với nhau một tổ chức xã hội, chính trị hay tôn giáo. Đa thần cũng là lý do phân ly quan trọng, dù họ cùng thờ mặt trời (trong khuôn khổ nguyên sơ nhất). Cái vỏ phong kiến của ngôn ngữ Hán đã đánh lừa người đọc hàng ngàn năm sau, khi tiếp cận với những ghi chép về mảnh đất tiền Việt Nam trong Hán sử.

Điểm sáng đáng để ý nhất của Âu Lạc có lẽ là tinh thần đoàn kết của các Lạc tướng và nhân dân trước họa ngoại xâm. Luôn xuất hiện một thủ lĩnh đứng lên đóng vai trò Lạc vương khi chiến tranh vượt khỏi tính chất cục bộ trong bản thân Âu Lạc. Truyện cổ tích Thánh Gióng chứng tỏ điều đó. Muôn nhà đã góp cơm cho người anh hùng lớn nhanh như thổi. Hình ảnh và hành động của ông vua cho bắc loa cầu hiền chống giặc khá mờ nhạt, e rằng chỉ là biểu tượng được thêu dệt thêm về sau. Giặc tan thì vai trò của Thánh Gióng cũng hết, ông phải bay về trời. Mô típ này vẫn còn bảng lảng trong niêu cơm ăn mãi không hết của chàng Thạch Sanh ở rể. Truyện Thạch Sanh ghi nhận nhiều chi tiết giao thời giữa chế độ phong kiến phụ quyền (ngôi vua truyền cho con trai ruột) và quân trưởng mẫu hệ (ngôi vua truyền cho chồng trưởng nữ). Như vậy, vua Hùng (do viết nhầm từ Lạc vương mà ra) và An Dương Vương rất có thể đã từng thực hữu. Sự biến mất của vua Hùng có thể được giải thích bằng truyện cổ tích Thánh Gióng. Với An Dương Vương thì dễ hiểu hơn, ông phải chạy ra biển (lưu vong?) khi thất bại”.

Cụ Hồ đã hoàn toàn làm chủ tư chất lãnh tụ của mình, bằng một câu nói giản dị nhưng có sự liên thông và thấu hiểu cao độ: “Các vua Hùng đã có công dựng nước, bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”. Những lãnh tụ lập quốc thường có đường thông nối ý thức của họ với tiềm thức dân tộc và nhân dân, thậm chí nhân loại. Họ luôn biết phải nói cái gì, lúc nào và nói ra sao để đánh thức thời đại. Truyền thống yêu nước và đoàn kết chống xâm lược của người Việt Nam có nguồn gốc sâu xa như thế. Nó là bản năng, chứ không thể gọi là bản chất đơn thuần.

Bản năng dân tộc được đánh thức, cộng hưởng với âm ba thời đại và khao khát độc lập để làm nên chiến thắng đắt giá cho dân tộc Việt Nam trước người Pháp và người Mỹ. Đúng qui luật, ngôi đền anh hùng của người Việt đã kết nạp hai cái tên đương thời: Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp. Võ Nguyên Giáp nhận được sự đồng thuận xã hội cao hơn hẳn Hồ Chí Minh cũng dễ hiểu. Ông là nhân vật quân sự thuần túy, ít gây ra tranh cãi và bị phủ định bởi ẩn ức cá nhân giữa dòng chính trị chìm nổi. Điều thú vị khi so sánh hai vị anh hùng này là, xét về công trạng, Hồ Chí Minh mang danh quốc phụ (người cha của một chính thể, người lập quốc[1]) trong khi họ Võ chỉ là đại công thần khai quốc. Chúng ta có thể chiêm nghiệm tư duy “đắp tượng đài” đặc thù của người Việt Nam khi đặt hai anh hùng này cạnh nhau.

***

Mở rộng chủ đề “Về tên gọi cuộc chiến Việt – Trung 1979[2]” trên diễn đàn BBC, tôi ngạc nhiên nhận ra xung đột Việt – Hoa 1979 nếu gọi là chiến tranh vệ quốc thì tại sao trong tâm thức người Việt Nam không hiện lên một cái tên anh hùng? Sẽ có người bảo rằng độ thấm của thời gian chưa dài? Đâu hẳn, không cần ba mươi năm sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Võ Nguyên Giáp đã đường hoàng bất tử trong lòng dân tộc, chẳng thể lung lay trước mọi chèn ép của cả một thể chế dưới ngọn cờ Lê Duẩn. Những người Việt Nam hừng hực yêu nước có thể dễ dàng chỉ ra một hiện thân của Thoát Hoan như Hứa Thế Hữu[3], nhưng lại bất lực nếu bị truy hỏi phiên bản Trần Hưng Đạo của thế kỷ 20.

Thời đại “không anh hùng” dưới sự lãnh đạo của tổng bí thư Lê Duẩn, “đêm trước đổi mới” 1975 – 1986 với nút thắt 1979 và chiến cuộc Khơ Me dai dẳng, có lẽ đã tạo nên một khoảng trống không thể khỏa lấp trong hành trang tư tưởng dân tộc Việt Nam khi bước vào thế kỷ 21.

1979 là một cơ hội lớn tương đương 1789 mà người Việt Nam đã bỏ lỡ. Nếu đừng bài Hoa, nếu đừng sa lầy ở xứ sở chùa tháp, nếu tung toàn lực đánh một trận quyết tử với Trung Quốc như Quang Trung, rồi ngay lập tức hòa hoãn và quan hệ đa phương, vị thế Việt Nam và Trung Quốc có thể đã cân bằng hàng trăm năm, như đã từng. Chẳng có bằng hữu muôn đời và hận thù thì không thể mãi mãi. Chắc chắn tâm thức dân tộc Việt Nam hiểu rõ điều này, cho nên họ không thể tìm ra một vị anh hùng cho mình, trong những người đã đưa lòng căm thù vào… hiến pháp năm 1980.

Những lãnh tụ Việt Nam hôm nay là ai, nếu không phải lớp “tam thập nhi lập” vào năm 1979. Họ là nhóm người hiểu sâu sắc, hiểu kỹ lưỡng nhất cuộc khủng hoảng trầm trọng của xã hội Việt Nam sau xung đột 1979. Trong sâu thẳm kinh nghiệm của họ, đối đầu cương quyết với Trung Quốc chỉ toàn là bất lợi. Phải chăng đó là lí do khiến người dân Việt Nam đang bất an, mỗi khi nhắc đến cái tên Trung Quốc?

Tư tưởng Hồ Chí Minh lên ngôi vào đầu thập niên 90 thế kỷ trước, cho đến nay, chưa có kết quả sáng sủa. Trong vết xe cũ mòn ấy, nhóm trí thức phản đối Bauxite hiện nay cũng đang gắng gượng dùng hình tượng anh hùng Võ Nguyên Giáp để chống lưng cho mặt trận của mình. Sự bế tắc nên được gọi đúng tên: Thời đại không có anh hùng.

Sự bế tắc ấy bàng bạc trong tất cả suy tư của xã hội hiện đại. Giả như vừa rồi, trí thức Việt Nam ồ lên đồng tình với bài “Việt Nam – Chặt cầu để tiến lên” của tác giả Vũ Minh Khương[4]. Từ một tiền đề “chuyện xưa” mơ hồ (thực ra là món cocktail giữa Sạn đạo của Lưu Bang, lập trận quay lưng ra sông của Hàn Tín và chi tiết cắt cầu phao của Tôn Sĩ Nghị), cộng với những phân tích và con số có vẻ rất có lý, tác giả hồ hởi với tín điều “tiến lên ngày mai tươi sáng” bằng cách đoạn tuyệt với cái cũ cụ thể. Tư tưởng của bài viết kia, ngoa ngôn một chút, cũng tương đương với thơ Bút Tre, kể cả vần điệu “hàng đầu” và “chặt cầu” có thể hoán vị cho nhau:

Tiến lên, ta quyết tiến lên

Tiến lên, ta quyết tiến lên hàng đầu

Hàng đầu không biết đi đâu

Đi đâu không biết hàng đầu cứ đi

Với những người tự nhận là hoạt động dân chủ, sự bế tắc chung đã nêu được họ thu nhỏ ở mức độ thể chế – chế độ, qua đó người ta mơ mộng và bay bổng trong những mỹ từ dân chủ, tự do, nhưng hoàn toàn bất lực khi chỉ ra dân chủ là hành trình hay đích đến của một xã hội văn minh. Hệ quả tất yếu, một cá nhân rõ nét trong phong trào dân chủ vừa tự đánh giá trên trang web BBC: “Theo ý kiến của tôi, phong trào dân chủ Việt Nam sẽ không đảm đương nổi công việc lãnh đạo nhân dân đứng lên làm cách mạng Màu để chuyển đổi chế độ này sang đa nguyên đa đảng. Việt Nam khác hẳn Đông Âu. Công việc đấu tranh dân chủ ở Việt Nam sẽ chuyển biến theo tình hình bên ngoài, đặc biệt là Trung Quốc, và theo sự phân hóa nội bộ đảng cộng sản, buộc họ phải chuyển đổi để bảo vệ chủ quyền đất nước[5]”.

Sự bế tắc tư tưởng của xã hội Việt Nam hiện nay, cũng là môi trường thuận lợi để các mâu thuẫn nhà nước và nhà thờ liên tục bùng phát.

***

Có một sử gia nước ngoài đã mạnh dạn khái quát hóa lịch sử trung đại Việt Nam cơ bản là những diễn biến tranh chấp vùng miền. Tất nhiên, nó khởi đi từ chế độ quân trưởng độc lập của xã hội tiền Đại Việt, tiền Việt Nam. Sự việc phức tạp hơn tên gọi của vấn đề. Song, điều này ít nhiều chỉ ra rằng trong cơ thể xã hội Việt Nam luôn có những vết nứt nội tại truyền kiếp, chia rẽ tầm nhìn chung của cộng đồng. Đây hẳn là một nguyên nhân lớn lao, khiến dân tộc Việt Nam chưa bao giờ vượt lên khỏi khu vực, tiến đến tầm nhân loại, ngoại trừ khoảng thời gian giữa các cuộc chiến tranh vệ quốc hay giành độc lập ở thời đại thông tin.

Mệnh đề “chia rẽ dẫn đến bế tắc, hay bế tắc sinh ra chia rẽ” mang nội hàm của bài toán con vịt và quả trứng vịt. Sự chia rẽ khiến hầu hết người dân Việt Nam hôm nay bàng quan với vận mệnh dân tộc, nhất là trong bối cảnh sức ép kinh tế, chính trị và lãnh thổ/biển đảo ngày càng tăng từ phương Bắc?

Dân tộc Việt Nam từng được gắn kết chặt chẽ bằng những cái tên anh hùng, bằng chất keo chiến thắng và căn cước sinh tồn bên cạnh người Trung Hoa, văn hóa Trung Hoa hàng ngàn năm nay. Hình ảnh người anh hùng chẳng qua là biểu trưng của tư tưởng thời đại mà thôi.

Giữa vận hội mới, người Việt Nam đã để các tiền nhân đi lạc, trong khi vẫn thiếu vắng những nhân tố mới. Do đó, nguy cơ thuận theo quĩ đạo Trung Hoa trước mắt là vô cùng lớn. Ở trong “thế giới Trung Hoa[6]”, cảm giác “ổn định” hay “hài hòa” là một, chúng sinh ra từ cung điện Thái hòa của nhiều vương triều Việt – Trung với tâm tư nguyên thủy của vua Tần, truyền ngôi cho con cháu đến vạn thế. Ở góc độ nào đấy, nếu “ổn định” không đồng hành cùng “tiến bộ”, nó sẽ trở thành chướng ngại cản đường, sẽ làm trì độn cả một cộng đồng.

Một dân tộc phi nhược tiểu luôn là một dân tộc có tư tưởng riêng và liên tục tìm kiếm tiến bộ trong sự ổn định chấp nhận được. Vấn nạn “không anh hùng” hiện nay của sinh thể Việt Nam được một số trưởng lão qui chiếu trên tâm thế cá nhân là “hèn[7]”. Âu cũng là nỗi đau không hề kín đáo, của những người luôn suy tư cho tiền đồ đất mẹ.

Thảo Điền

7.2009


[1] Khi dịch từ “Quốc phụ” của Tôn Trung Sơn qua Việt ngữ, người ta không có từ tương đương nên đã diễn nôm thành “Cha già dân tộc”. Đây là một nhầm lẫn tai hại, Hồ Chí Minh là cha đẻ một chính thể chứ không phải một dân tộc. Nếu máy móc đi theo ý thứ hai, chẳng lẽ cụ Hồ lại là cha của những tiền nhân như Nguyễn Trãi, Lê Lợi, Quang Trung? Bởi dễ hiểu, các anh hùng ấy là một phần không thể thiếu trong nội hàm “dân tộc Việt Nam”.

[2] Cùng một tác giả: http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/story/2009/02/090211_truongthaidu_vnchinawar.shtml

[3] http://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%A9a_Th%E1%BA%BF_H%E1%BB%AFu

[4] http://www.talawas.org/?p=7554

[5] http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2009/08/090801_nguyenkhactoan_iv.shtml

[6] http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/story/2008/12/081231_china_truongthaidu.shtml

[7] Xem Nguyễn Khải, Lê Đạt, Tô Hải…

Hận Lãng Bạc – Chương 6

1 phản hồi

6.

Tất nhiên chồng Trưng Trắc không phải tên Thi Sách, mà là Thi. Các sử gia thế kỷ 20 đã giải quyết vụ nhầm lẫn này. Người Âu Lạc hình như không có họ, cho nên Trưng Trắc nhiều khả năng là chức danh, chứ không phải tục danh của Lạc tướng M’linh. Cô và anh đã đi đến thống nhất tại chỗ ấy.

Họ có tham khảo kỹ nhưng không bị thuyết phục bởi giải thích tên gọi Trưng Trắc và Trưng Nhị xuất phát từ nghề dệt lụa truyền thống Việt Nam. Nó khó được xem là cách gọi trại đi của trứng chắc, trứng nhì là hai loại tổ kén sâu tằm. Trong các mộ táng, mộ thuyền thời Hai Bà Trưng, người ta chỉ thấy các loại vải bông, gai, đay. Dấu vết của lụa chưa hiện hữu như một sản phẩm phổ thông bản địa.

Truy lục tài liệu dân tộc học của người Minangkabau ở Indonesia và Malaysia, cô phát hiện một điều rất lý thú. Nền văn hóa của tộc người này mang bản sắc độc đáo và riêng biệt. Họ vẫn theo chế độ thị tộc mẫu hệ. Quyền thừa kế nằm hết ở giới nữ. Tuy nhiên trưởng tộc lại là nam giới. Lãnh thổ chung của họ chia thành những vùng tự trị có tên là Luak (Lạc?). Người đứng đầu vùng tự trị cũng là nam giới, do các trưởng thị tộc bầu lên gọi là Luak Undang (Lạc tướng?). Người nữ giữ quyền thừa kế trong thị tộc gọi là Turun Cicik (Trưng Trắc?), tất cả các em gái bà này nằm trong hàng thừa kế thứ hai gọi là Turun Nyi (Trưng Nhị? Tiếng Bahasa Indonesia lần lượt đọc là t’run ch’chik và t’run nhi).

“Sự lý thú của lịch sử là ở những chi tiết chông chênh thế này. Nó chẳng khẳng định và cũng chớ phản bác. Nó treo lửng lơ. Nó chỉ dành cho những người thực sự yêu thích và khát khao khám phá quá khứ”. Anh động viên cô. Thời Hai Bà Trưng, hiến sử gốc còn lưu lại không đầy một ngàn chữ, chia cắt rải rác ở hàng chục quyển sách Hán văn. Không thể không tìm hiểu Hai Bà Trưng trong tâm thức dân gian, giữa những truyền kể đời này qua đời khác, song phải luôn cảnh giác với lệch pha nhận thức giữa các thời đại và cái bẫy của ngôn ngữ phụ hệ.

“Khảo cổ Việt Nam đã phát lộ không ít mộ nam thủ lĩnh ngoài khu vực Mê Linh, nó có mâu thuẫn với giả thiết về chế độ mẫu quyền không nhỉ?”. Anh hỏi cô.

“Trong xã hội mẫu quyền, quyền lực chính trị và ưu tiên thừa kế đều được nắm bởi nữ giới, ngoại tộc. Phát triển tiếp lên, nội dung mẫu hệ không mâu thuẫn với sự có mặt của nam thủ lĩnh, nữ giới chỉ còn duy trì lợi thế thừa kế. Sau rốt là phụ hệ, sự chuyển giao toàn bộ hai nội dung đặc thù trên, có lẽ không thể diễn ra ngày một ngày hai. Tình trạng xôi đậu, cài răng lược trong cơ cấu xã hội giữa các vùng miền Âu Lạc là khó loại trừ. Do đó giả thiết chế độ xã hội mẫu quyền ở M’linh sẽ chưa thể bị các phát hiện khảo cổ Việt Nam cho đến nay đánh đổ”. Anh hoàn toàn nhất trí với lập luận mạch lạc của cô.

***

Chiến thắng nhanh như chẻ tre, dễ dàng như trở bàn tay, với Trưng Trắc nói riêng và người Âu Lạc nói chung, là lòng trời chứng giám cho khát vọng tự do và chính nghĩa của họ. Trên tột đỉnh vinh quang, Trưng Trắc bỗng phân vân ngẫm nghĩ đến nhiệm vụ cấp bách đã trù dự. Thương nhân Âu Lạc từ phương bắc trở về vui mừng bảo rằng chưa đợi vua ra lệnh, Hán quan đã vội đóng chặt cửa biên giới. Ở nhiều vùng xung quanh sở trị Hợp Phố, tiếng vang trống đồng Âu Lạc đã khích lệ họ nổi dậy, đánh đuổi kẻ cai trị tàn bạo.

Lúc đang bị Tô Định đe dọa, ai cũng chia sẻ với Trưng Trắc quyết tâm bằng mọi giá cải tổ cơ cấu xã hội Âu Lạc. Người người tuyệt đối tin tưởng khi thực thi cải cách, đổi mới, sức lực và trí tuệ nam giới Âu Lạc sẽ có cơ hội được giải phóng, sẽ thành hạt nhân kháng thể thực dân, vun đắp sự trường tồn và thịnh vượng của đất nước. Đáng tiếc là, chiến thắng Long Uyên cuối mùa hè năm 40 làm cho quí tộc Âu Lạc tự mãn. Những người từng ủng hộ A Thi chấp chính có lý do trù trừ. Những người phản đối A Thi thì hả hê. Một đế quốc lớn vào bậc nhất gầm trời nhân loại đã bại vong dưới tay họ, cho nên họ bỗng trở nên thủ cựu một cách chính đáng. Các thầy cúng dưới sự chỉ đạo của Già Mị, mật truyền với từng người dân về sứ mệnh mà mẹ tổ đã trao cho Trưng Trắc, và chỉ Trưng Trắc mà thôi. Họ giản hóa chiến thắng trước Tô Định là của riêng cá nhân Trưng Trắc, là cơ sở chính thống vĩnh viễn của bà.

Con người tiến bộ phải thần tượng chân lý, xem chiến thắng là chân lý để gìn giữ. Ngược lại, ở đâu có thần thánh hóa một cá nhân, ở đó sự bảo thủ sẽ lấy thân mình chặn bánh lái con thuyền lịch sử. A Thi ước ao chế độ vương pháp mẫu hệ. Phái nam trong gia tộc nên điều hành nền chính trị của vương quốc. Có thêm phụ hệ thì tốt, giải phóng sức lao động và phân chia hợp lý tài sản xã hội khiến nhà nhà giàu có hơn, đất nước hưng vượng hơn. Triều đình Âu Lạc phải là nơi tập hợp sức mạnh muôn dân, là biểu trưng cho ý nguyện độc lập của cả một dân tộc. Nếu A Thi không phải chồng Trưng Trắc, có thể ông đã làm binh biến. Nói cho cùng, mỗi nền văn minh thoát thai, quốc gia nào chẳng phải đổ máu! Tiếc là Trưng Trắc không có em trai và chưa có con trai để A Thi ủng hộ. Ông yêu bà hơn hết thảy nên đành bó tay. Ngày ngày ông cay đắng nhận chìm bi kịch của mình trong đời sống chớm xa hoa của tân đô M’linh, trong rượu chè và những trò chơi vương giả.

Sau rốt, chiến thắng Long Uyên đã trở thành gánh nặng cho người Âu Lạc. Càng ảo tưởng về sức mạnh của mình, càng kiêu ngạo quá lố, người Âu Lạc càng sa mãi vào chiếc bẫy của chính họ.

Mùa thu năm 40, Trưng Trắc tự xưng là Lạc vương. Lạc tướng khắp Âu Lạc quay đầu về M’linh bái vọng vua bà. Hợp Phố và An Biên cung tiến lãnh tụ mới của họ vàng bạc châu báu không biết bao nhiêu mà kể.

Trước đây người Âu Lạc nói chung không phải đóng thuế. Dân làng chỉ góp công sức và sản vật cho những hội hè lễ tiết do quan Lang tổ chức. Họ hoàn toàn được tự quyết định có làm thuê cho quan Lang hay không. Ắt phải có chèn ép, áp bức trong quan hệ giàu nghèo này, nhưng mức độ không đến nỗi trầm trọng để tạo thành một hệ thống ăn thịt người. Quan Lang tự nguyện nộp một phần rất nhỏ thu nhập của mình cho Lạc tướng. Bộ máy hành chính của Lạc tướng gọn nhẹ, gia tộc Lạc tướng cũng phải lao động như mọi công dân khác. Các Lạc tướng quan hệ bình đẳng, giao lưu, trao đổi mang tính chất hữu nghị.

Vương quốc Âu Lạc thành hình, Trưng Trắc phải duy trì lực lượng vũ trang nhất định đề phòng người Hán. Các chi họ trong gia tộc của bà chiếm nắm nhiều vị trí quan trọng trong triều đình sơ khai. Họ gây sức ép bắt Trưng vương đánh thuế thu tô, từ sông hồ biển cả đến rừng sâu. Người ta đánh đồng quốc khố với kho lẫm của một gia tộc, một phe phái, thậm chí một cá nhân. Dinh thự, công quán xa hoa, to lớn không cần thiết, được dựng lên vội vàng. Nhân dân Âu Lạc bất ngờ và chán nản, nhiều Lạc tướng lợi dụng danh nghĩa Trưng vương tận thu, tận gom của cải vật chất. Họ nộp lên thì ít, giữ lại cho bản thân thì nhiều. Tô Định bị đánh đuổi, nhưng nọc độc của y rơi rớt lại đã thấm vào tim gan không ít quí tộc Âu Lạc. Họ chuộng lụa, thích ngọc trai, rượu Hán nên đã đè đầu cưỡi cổ dân thường, dùng sản vật đổi hàng xa xỉ với thuyền buôn.

Trưng vương gần như bơi trong vai trò mới, bà không đủ sức cai quản bộ máy cồng kềnh và đầy tư lợi do chính mình đứng đầu. Bà dễ dàng không đội trời chung với giặc ngoài nhưng khi nội thù mang khuôn mặt ruột thịt thì bà nan giải.

***

Trận mưa quét sạch Hán quân đã tưới đồng rửa ruộng cho Âu Lạc, song mùa màng năm ấy trễ nãi vì người người còn mải tung hô Trưng vương. Lễ hội, tiệc tùng thâu đêm suốt sáng xao động rừng núi, biển cả. Trống đồng nóng hổi vì dùi nện liên tu bất tận hoan điệu. Có lẽ âm ba ấy đã kéo ba chiếc thuyền buôn Ả Rập buông neo tại cửa Hát giang. Chủ thuyền, một Hồ nhân cao to vạn vỡ, râu quai nón, nước da bánh mật đến M’linh ra mắt Trưng vương.

Tuy thất vọng vì kho lẫm Âu Lạc trống hoác, lúa gạo không đủ để mua bán đổi chác, chủ thuyền vẫn gợi ý:

“Thưa nữ hoàng. Âu Lạc hiện nay dân số đã đông đúc, đồng ruộng nương rẫy màu mỡ, trên rừng dưới biển sản vật dồi dào. Chúng tôi từ Ả Rập tới đây theo gió mậu dịch. Cứ cuối hè, đầu thu thì nương buồm ghé Âu Lạc rồi Nam Hải. Đầu đông chúng tôi sẽ quay về nhà. Dám mong nữ hoàng cho phép hằng năm chúng tôi ghé bến Hát giang, trao đổi hàng hóa”.

“Nghe bảo rợ Hồ có bệnh truyền nhiễm, ta rất lo lắng cho muôn dân”.

“Thưa nữ hoàng, ấy chỉ là xàm ngôn. Thủy thủ chúng tôi đều dầu dãi phong ba, sức khỏe dẻo dai. Xin nữ hoàng đừng nghe kế hiểm bế quan tỏa cảng, tự trói mình để nộp mạng cho giặc đói, giặc dốt và cuối cùng là giặc ngoại xâm”.

“Vậy ngươi hãy phân tích thử lợi hại của việc giao thương này xem”.

“Thưa nữ hoàng tôn kính. Trước mắt, chúng tôi sẽ lấy đồng vụn, sắt thỏi đổi gạo, cá muối, gỗ quí, da cá sấu.v.v.. của quí quốc. Nhà buôn nào cũng phải biết nơi cung cấp bất cứ thứ hàng hóa gì Âu Lạc thiếu như hương liệu, thuốc chữa bệnh. Chúng tôi cũng có thể chuyển giao các bí quyết canh nông tân tiến, giống tốt đây đó hoặc mật truyền công nghệ chế tạo vũ khí đa dụng cho quốc phòng”.

Một quan Lang già cả bước lên, vặn hỏi thương nhân: “Sắt thì tốt đấy, Âu Lạc thiếu sắt để rèn giáo đúc gươm. Còn đồng thì mạn thượng du chúng tôi đã có mỏ. Các thứ khác của ngươi không thiết thực với đời sống Âu Lạc thanh bình”.

Chủ thuyền nhỏ nhẹ: “Thưa nữ hoàng, thưa bá quan. Sắt đâu phải chỉ để sản xuất vũ khí. Người Âu Lạc hãy thay thử cày đồng bằng cày sắt xem, chỉ sợ các bồ thóc vốn có không chứa đủ lúa mới gạo thơm. Không có cách nào tự bảo vệ và duy trì hòa bình tốt hơn việc đẩy mạnh buôn bán, xây dựng quân đội vững vàng. Lò đúc vũ khí sắc bén bằng sắt của nước Tần hôm nào, không những đã đưa quân đội của Doanh Chính trở nên bách chiến bách thắng, mà còn đẩy nền nông nghiệp và giao thương của họ lên hàng đầu Trung Nguyên. Công nghệ quân sự ở trình độ cao sẽ kéo theo con thuyền quốc gia hưng vượng, điều đó khó phủ nhận”.

“Hoang tưởng! Từ mẹ tổ chúng tôi đã dùng cày đồng, trừ những năm hạn hán, có khi nào Âu Lạc bị đói đâu. Cơ mà, sắt hay bị rỉ, một chiếc cày sắt trụ được mấy mùa gặt? Lại phải thay. Tốn kém lắm”. Quan Lang vặc.

“Nữ hoàng có biết những gì đang diễn ra tại Hợp Phố, Nam Hải không?”. Người Ả Rập rất kiên trì đối thoại.

“Ta đã dặn thuyền buôn nhỏ của Lữ lạc tướng để ý, đến nay họ chưa về”. Trưng Nhị nói.

“Người Âu Lạc có thể gặp Thái thú Hán không? Chúng tôi làm được điều đó. Thậm chí, chỉ cần một món quà lạ, tôi đã từng diện kiến vua Hán và thù tạc cùng hết thảy quan chức cao cấp nhất của Hán triều. Được buôn bán nơi đây, chính chúng tôi sẽ góp phần giữ gìn bình yên cho quí quốc. Nắm được động thái quân Hán, Âu Lạc luôn chủ động trong mọi tình huống”.

Tiếp theo một nhà buôn kể tỉ mỉ chuyện Châu Nhai, Đạm Nhĩ:

“Ngoài biển Đông, năm Nguyên Phong cách đây hơn một trăm năm mươi năm, sau khi diệt Nam Việt, Hán Vũ đế đặt hai quận Châu Nhai, Đạm Nhĩ. Đất này vốn là nơi ông tổ tôi thường xuyên qua lại mua ngọc trai. Thái thú Hán vơ vét tàn bạo còn hơn cả Tô Định. Bị mất thị trường, ông tổ tôi bí mật ủng hộ người bản thổ. Chừng ba mươi năm họ nổi dậy giết Hán quan sáu lần. Năm Thủy Nguyên thứ năm, Chiêu Đế phải thu nhỏ qui mô thực dân, bãi quận Đạm Nhĩ gộp vào Châu Nhai. Lại thêm ba mươi năm nữa trôi qua, cụ tôi tiếp tục quan hệ chặt chẽ với các thủ lĩnh kiên cường. Có lần họ đuổi sạch Hán quan bảy năm, có khi đoàn kết chín huyện giết không còn một mống lê dương”.

“Ông nội tôi kế sách hay hơn. Một mặt ông hết lòng giúp đỡ người Lê, Lạc; một mặt vào tận triều đình Trường An vận động nhiều kẻ tai to mặt lớn. Trăm năm trước, Hán Nguyên Đế muốn phát đại binh thực dân triệt để. Ông nội tôi đem vàng bạc châu báu mua đứt đại thần Giả Quyên Chi. Y khuyên vua Hán hãy bỏ Châu Nhai vì đâu phải chỉ nơi đó có ngọc, xuất quân tốn kém vô lường, chẳng lợi lộc gì. Phò Mã Đô úy ở phe diều hâu chủ chiến chống đối quyết liệt. Hắn nói Châu Nhai, Đạm Nhĩ đặt quận lâu rồi, không đánh khác gì chứa chấp Man Di, tạo tiền lệ cho cả phương Nam làm phản. Hắn lôi sự nghiệp nam chinh vĩ đại của Vũ Đế áp lực, đòi xử họ Giả. Ông nội tôi tiếp tục cạy cục vài nơi, kết quả Chiêu Đế bãi binh, bỏ Châu Nhai”.

“Người Lê, Lạc có mấy chục năm thanh bình tự do, buôn bán phát đạt. Chỉ tiếc vua đời sau tha hóa, quan lại hư đốn bỏ bê vận nước. Bọn tham lam nhũng lạm, lũ khư khư lòng riêng nắm hết thực quyền. Đến nay xứ xấy đã vĩnh viễn là quận huyện của nhà Hán. Muôn dân sống đời nô lệ lầm than”.

Trưng vương cả mừng, sai mở tiệc đãi đằng trọng hậu các thương gia, hỏi han kỹ càng nhiều thứ. Một số Lạc hầu già không vừa ý. Họ bảo người Hán đã tỡn đến trăm năm, bọn rậm râu cũng chẳng tốt đẹp gì, ai dám chắc chúng sẽ không bán đứng Âu Lạc cho người Hán khi cần, hoặc giấu một âm mưu thống thuộc khác. Thái thú mắt lươn hay mũi lõ đều là kẻ thù của người Âu Lạc.

“Tất nhiên chúng ta đừng nên đuổi hổ cửa trước, đón báo ngõ sau”. Lữ lạc tướng phân trần – “Phó mặc nước nhà cho ngoại bang thao túng là không nên. Người Âu Lạc phải luôn tỉnh táo, làm chủ chính mình, trui rèn bản lĩnh trong quan hệ đa diện”.

Có A Thi và Trưng Nhị ủng hộ nhưng ý kiến của Lữ lạc tướng vẫn bị dè bỉu. Cuối cùng phe thủ cựu thắng thế. Trưng vương hẹn người Ả Rập mùa hè sau nhớ ghé lại kinh đô M’linh. Bà tin tưởng thời gian sẽ giúp bà thu xếp lòng người. A Thi mời đoàn thương thuyền lưu lại nghỉ ngơi, tiếp lương thực, nước uống. Các thương nhân được tự do thăm thú mọi nơi. Họ khôn khéo vận động thêm một số quan Lang, Lạc hầu cấp tiến và vài bô lão nhân hậu.

Dẫu kỳ công nhưng kết quả chẳng như ý muốn, người Ả Rập không nhìn thấy chút hứa hẹn nào với bộ máy hành chính xung quanh Trưng vương. Đôi khi đàm phán chưa thông, Lạc hầu tên Bầm phụ trách quốc khố đã yêu cầu những khoản đút túi riêng thậm vô lý và trơ trẽn. Bế tắc chồng lên bế tắc.

Lữ lạc tướng cám cảnh, trong một lúc cao hứng đã đặt bài vè chế nhạo bọn quan lại sâu bọ và tối tăm thiển cận của Âu Lạc như sau:

Mụ Bầm có cái quạt mo

Phú ông xin đổi ba bò chín trâu

Bầm rằng Bầm chẳng lấy trâu

Phú ông xin đổi ao sâu cá mè

Bầm rằng Bầm chẳng lấy mè

Phú ông xin đổi ba bè gỗ lim

Bầm rằng Bầm chẳng lấy lim

Phú ông xin đổi đôi chim đồi mồi

Bầm rằng Bầm chẳng lấy mồi

Phú ông xin đổi nắm xôi, Bầm cười.

***

Gặt hái duy nhất mà đoàn thương thuyền Ả Rập cảm thấy thỏa mãn trong dịp này là đã được tắm mình trong lễ hội trăng thu nguyên khai. Nó chưa bị khoác lên những cái áo khác, sau quá trình thực dân. Người Âu Lạc xem trăng biểu trưng cho đêm tối, nước, lụt lội và hơn hết là người cha. Ở đối tính khác đấy là mặt trời, nóng nực, lửa, đất, hạn hán và là người mẹ.

Hình ảnh đua thuyền và giã gạo trên mặt trống đồng đã tái hiện hai lễ hội quan trọng nhất trong năm của người Âu Lạc.

Đoan Ngọ trong thời điểm đầu mùa mưa, họ đua thuyền, té nước, cầu mưa. Họ mong cha mẹ gặp nhau, thổi làn gió phồn thực lên mùa màng. Ở góc độ nào đó nó là lễ thượng điền cổ điển, nhân dân ra ruộng, xuống vườn, cầu mong ấm no.

Khoảng giữa thu, cha nước mẹ đất sẽ chia tay. Cuối mùa mưa, cũng là thời điểm thu hoạch, hạ điền. Lúa nếp mới vừa chín tới được gặt về rang sơ, sau đó họ dùng chày cối giã dẹp thành cốm. Khi lúa Ba trăng cấy tháng năm, gặt tháng tám đã vào bồ, nhân dân Âu Lạc tổ chức lễ mừng cơm mới. Họ luôn khấn nguyện cảm ơn trời đất, tổ tiên đã ban cho phúc lộc và an bình. Lần lượt trong làng, sau nhà này đến nhà kia làm lễ. Trai gái túm năm tụm ba dắt nhau thăm hỏi các gia chủ, khi đi môi đỏ trầu không, khi về má hồng men rượu. Họ cười nói, đùa giỡn râm ran đường ngang, ngõ dọc. Mọi người uống rượu thật nhiều, chia thịt xẻ cá rồi ăn bằng hết niêu cơm lớn. Vừa ăn vừa chúc tụng nhau rất thân tình.

Giữa kỳ lễ cơm mới, ngày trăng tròn nhất sẽ được chọn làm đại lễ cúng trăng. Người ta ra bãi đất bằng phẳng, quây quần cả làng xóm dưới ánh trăng. Trống đồng khi ấy trở thành một nhạc cụ giữ nhịp. Các đội nhạc công khèn và sáo xếp một vòng tròn, vừa tấu những giai điệu vui tươi, vừa nhảy nhót hân hoan.

Mâm cúng trăng, cúng cha, ngoài món cốm không thể thiếu còn có thêm hoa quả, cơm mới, xôi… Trai gái nắm tay múa hát, cặp nào luyến nhau sẽ tự biết hẹn hò tình tự ngoài bãi hoặc trên đồi. Trẻ con chia quà giành bánh rộn rã và nghêu ngao hát:

Thằng Cuội ngồi gốc cây đa,

Để trâu ăn lúa, gọi cha ời ời.

Cha còn cắt cỏ trên trời,

Mẹ còn cưỡi ngựa đi mời quan viên.

Các bô lão ngắm trăng tiên đoán mùa tới. Nếu trăng sáng vằng vặc, trời mát dịu ắt sẽ may mắn bội phần. Trăng có vết thì phải cảnh giác sâu bệnh.

Người dân lao động chơi trăng lành mạnh và trong sáng bao nhiêu, thì ngược lại quí tộc cầu kỳ, kiểu cách bấy nhiêu. Đồng bóng và mê tín vốn nhanh chóng lên ngôi tại M’linh từ khi nó trở thành vương đô Âu Lạc. Càng tha hóa người ta càng muốn bám vịn vào thứ gì đó có vẻ cao siêu, nhằm hợp thức địa vị và thủ đoạn làm giàu. Âu Lạc đa thần cho nên quí tộc tổ chức cúng tế triền miên. Giới thầy cúng, thầy mo ra sức lũng đoạn tâm linh, bày hết trò này đến trò nọ, ngày càng phức tạp và đa sự. Đồng cốt đua nhau luyện ca tập vũ, sáng tác thi từ, thêm da đắp thịt cho các thần tích. Họ phát triển trí tuệ và mỹ cảm, đáng tiếc là chúng chỉ phụng sự những hoạt động á văn hóa hạn hẹp, không đóng góp được gì nhiều cho nền văn hóa và chính trị non trẻ Âu Lạc.

Sinh hoạt của quí tộc Âu Lạc cũng là bình thường, nếu họ biết tiết chế và chọn thời điểm thích hợp. Nghệ thuật cung đình bác học tại nhiều quốc gia đã thăng hoa rồi trở thành giá trị xã hội đại chúng. Ở kinh đô M’linh, sự phát triển lệch lạc nhưng gấp ruổi của văn hóa tín ngưỡng, để làm đẹp lòng giới quí tộc mới nông cạn và thiếu hiểu biết, đã phá hủy nét đẹp truyền thống. Những lời ca điệu múa phồn thực đẹp đẽ thể hiện khát khao hạnh phúc chân thành, thịnh vượng chính đáng bị quên lãng. Những giai điệu bi tráng ca ngợi đức hy sinh và công lao tiên tổ bị biến thái, bóp méo. Nhiều khi chúng trở nên hoang đàn, dâm dật và ô uế.

Lạc hầu Bà Nường tổ chức cúng trăng trên nhà sàn chứ không phải ngoài sân rộng. Tư dinh của Bà Nường rộng mênh mông, tiếng trống đầu này và tiếng chiêng đầu kia gặp nhau giữa nhà, nơi có bảy bếp lửa nối liền nhau sáng rực. Các vị khách ngoại quốc được ân cần mời mọc. Trai đinh trẻ khỏe bưng rượu, bê thức ăn, dâng cơm… kể ra hàng mấy chục. Già Mị đứng chủ đồng, tám người giúp việc, họ được trả công hai con trâu, sáu vò rượu và mười gùi nếp.

Chuông rung, khèn sáo hòa âm. Già Mị mặc áo dài xanh đỏ, đầu chít khăn cắm lông trĩ, một tay chuông, một tay quạt mo phe phẩy, miệng hát:

Bà trời đi ngủ rồi a

Cha trăng chưa qua

Trai nào còn thức

Nhớ ta nhớ ta nhớ ta

Mương dài tăm cá

Mộng lúa cựa mình

Nhà ta đầy rượu

Chỉ không có tình ư hư

Trâm vàng khánh bạc

Lung la lung leng

Lửa ấm sưởi khèn

Góc nhà cối úp

Công đã rỉa lông

Tóc đâu tổ quạ

Đêm vẫn còn xa còn xa

Tay ai làm gối…

Già Mị cứ hát một khổ lĩnh xướng, đám giúp việc phụ họa theo mấy câu, vừa nhảy vừa rên rỉ. Khách khứa cũng góp tiếng. Rượu hết vơi lại đầy, tiếng người ngày càng khàn đục, mất âm thiếu chữ. Người người rũ rượi lả lơi. Gia nhân co chân, dựa tường ngáp vặt. Đại gia súc bên ngoài giậm vó thình thịch vì mất ngủ.

Cuộc tắm rượu kéo dài đến khi gà gáy.

Cuối thu năm 40, vừa đuổi xong giặc, ruộng nương bê trễ mà lễ cúng trăng lại xa xỉ. Trăng quầng rất xui xẻo, không mưa to cũng bão lớn, đáng lý mọi người phải dặn nhau tích cốc phòng cơ, nhưng nỗi niềm chiến thắng át đi tất cả. Vui thì rất vui nhưng khách Ả Rập vẫn phải lén giấu ngao ngán. Họ hết hy vọng mở ra cánh cửa thương mại phồn thịnh trên mảnh đất anh hùng này.

***

Gió nam cứ yếu dần, mùa đông đã thở hơi lạnh trong tâm tưởng những thiếu phụ ngồi bên song cửi. Đoàn thương thuyền Ả Rập đành tiếc rẻ trương buồm ra khơi. Nếu không đủ sức đến Nam Hải, họ sẽ ghé Hợp Phố thu mua trân châu, sừng tê… trước khi gió đông bắc giục họ trở về xứ sở ngàn lẻ một đêm của Sheherazade.

Người Âu Lạc vừa lỡ một chuyến tàu hưng vượng mà Triệu Đà từng tận dụng được một thời gian, nhưng con cháu ông đã phí bỏ. Lữ Lạc tướng đã nói như thế với Trưng vương. Ông và A Thi trao đổi rất nhiều với nhau trên chủ đề này. Họ đều nhận thấy Âu Lạc là trái độn giữa hai nền văn minh Đông và Tây, vị thế của nó hơn hẳn Phiên Ngung. Do đó cơ hội là vô cùng nhưng thử thách cũng không nhỏ. Nếu vượt lên được, Âu Lạc sẽ mạnh mẽ vô cùng. Họ có quyền chọn lựa những ưu việt của Hán hoặc Hồ để ươm trồng trên mảnh đất của riêng mình.

“Tinh cốt của Nho giáo không xa lạ mấy với xã hội Âu Lạc đâu A Thi”. Lữ Lạc tướng giảng giải – “Vua của Khổng tử được gọi là con trời. Ông đề cao nhân. Người không có nhân là cái cây thối rễ, bô lão ta vẫn dạy thế, đúng chưa nào?”.

“Mẹ ta, Lạc tướng Chu Diên cũng thường nói câu ấy”.

“Một việc làm cực kỳ quan trọng của Khổng tử là xây dựng đội ngũ biết đọc chữ phi quí tộc cho vương quốc. Ông mở trường lớp, chiêu nạp học trò bình dân. Ông là người đầu tiên ở phương Đông xóa bỏ đẳng cấp trên phương diện chữ nghĩa. Tức là mọi người được bình đẳng tiếp cận sách vở”. Lữ Lạc tướng mở lòng.

“Ồ. Nước ta chỉ có thầy mo thầy cúng, không có người đọc sách nhỉ?”. A Thi hồ hởi.

“Khi kẻ đọc sách độc quyền kiểu như thầy cúng, hoặc quan lại, sẽ dẫn đến tình trạng lưu manh hóa. Lúc ấy họ không dẫn dắt con người đến chân lý, mà nô lệ họ giữa những tín điều giả trá”. Lữ Lạc tướng dẫn vấn đề đi hơi xa. A Thi tỏ vẻ khó nắm bắt. Ông gật gù:

“Khổng tử có định ra cách chọn vua không?”

“Ông ấy chỉ lập ra một chuẩn đạo đức chi tiết cho Thiên tử. Giết vua là tội lớn nhất, nhưng vua bất nhân thì phải phế. Khổng tử ủng hộ bạo lực cải cách rất kín”.

“Còn người Hồ, nghe bảo vua của họ cũng là thầy cúng?”.

“Không phải, thầy cúng số một của vương quốc là giáo chủ, gần như ngang hàng với vua”. Lữ Lạc tướng nói – Ở ta có quá nhiều thần, thần sông, thần biển, thần rừng, thần cây, thần bếp, thần núi… Vua của các thần ta lại gọi là mẹ trời. Nếu học theo người Hồ thì mẹ trời sẽ bị thay bằng một đấng tối cao, chí tôn. Đấng ấy được nhân cách hóa chi tiết, y gần gũi với người hèn, kẻ dại, thông tri và giác ngộ nhân sĩ, quí tộc. Vẫn phải làm cách mạng”.

“Ta hiểu rồi”. Mắt A Thi sáng lên – Người Âu Lạc nên tôn thờ một người vừa là lãnh tụ, vừa là giáo chủ.

A Thi đã đề ra một ý tưởng táo bạo trong thời đại của ông. Tiếc rằng ý tưởng đó chỉ trở thành hiện thực mãi hai trăm năm sau, trên chính mảnh đất Âu Lạc ở trường hợp Sĩ Nhiếp. Sau Sĩ Nhiếp, văn minh Hoa Hạ đã thắng thế, Âu Lạc phát triển lệch hẳn theo đối cực phương Bắc. Người Âu Lạc đã phung phí cơ hội và đầu hàng thách thức. Đó chính là lý do khiến họ không thể vươn lên thành một dân tộc lớn mạnh ở tầm thế giới.

Lòng Trưng vương ngổn ngang. Bà không đủ sức mạnh nội tại như một trang nam nhi để lãnh đạo vương quốc trẻ tuổi này. Bà bất giác muốn được như Lucius của La Mã. Theo trần thuật của các thương nhân Ả Rập, cách thời đại Trưng Vương gần năm trăm năm, La Mã cộng hòa đứng trước nguy cơ diệt vong. Các bô lão đã yêu cầu trại chủ Lucius cầm quân vệ quốc. Lucius phải bỏ lại quê nhà chiếc cày đã lên nước bởi mồ hôi của ông để ra trận. Sau nửa tuần trăng, quân thù sạch bóng, ông thanh thản trở về công việc đồng áng.

Lucius là biểu tượng cho sự chính trực và đức hạnh của chính trị gia. Trưng vương đồng cảm với nhân vật này, bản thân bà cũng không thèm khát quyền lực. Tô Định chạy rồi, bà chỉ muốn trở lại M’linh, làm một người mẹ, người vợ truyền thống. A Thi nhận ngôi vương, hay bất kỳ Lạc tướng nam giới nào khác, bà cũng thuận theo. Sự mê tín vào hào quang chiến thắng dưới tên tuổi Trưng Trắc của đông đảo quần chúng, đã không cho phép bà thoái lui. Trưng Trắc mắc kẹt ở đấy như một con Giao long bị ném vào rừng thẳm, thả trên núi cao.

Quả thật A Thi thông tuệ, mạnh mẽ và sắc sảo hơn bà. Ông không cần dẫn chứng gã Lucius xa xôi đó. Ông bảo vợ rằng, tổ tiên của họ đã có Lucius trước cả người La mã nhiều thế kỷ. Đó là Thánh Gióng, là Phù Đổng Thiên Vương của Âu Lạc. Câu chuyện đa tầng, đa nghĩa đâu kém những gì những thương nhân đã kể. Trước giặc Ân tham tàn, cậu bé Gióng ba tuổi của làng Phù Đổng đã vụt lớn lên, nhận trách nhiệm xông pha nơi đầu tên ngọn lao. Giặc tan, ngài không đánh bóng mình và thực thi tư tưởng công thần. Ngài cưỡi ngựa, bay thẳng lên trời. Thiên anh hùng ca ấy đẹp hơn bất cứ một tuyệt tác La Mã nào.

Đáng tiếc là đa số quí tộc và bô lão Âu Lạc không nhìn thiên anh hùng ca Thánh Gióng như cách của Trưng vương và A Thi. Giáp mặt quân thù ai cũng cần chính nghĩa, quyết tâm, ý chí và dũng cảm, còn với quê hương hòa bình, phải thêm đức hy sinh lợi quyền bản thân và dòng tộc.

Âu Lạc với đỉnh cao Đông Sơn, nằm trong văn minh Bách Việt, cũng có thể là nơi phát tích của văn minh Bách Việt. Khi Bách Việt bị Hoa Hạ thôn tính, Âu Lạc biên viễn thụ động nằm ngoài lề của mọi biến chuyển tích cực. Nó khép mình hờ hững với an nguy và ắt phải trả giá.

***

Ở Cửu Chân xa xôi cách trở, Đô Dương về kinh hơi muộn. Đoàn thuyền Lạc hầu của ông đến chúc mừng vua bà khi người Ả Rập vừa đi. Đô Dương hết sức lạc lõng giữa ngày vui bất tận của quan quân Trưng vương. Những kẻ ác mồm bảo ông ghen tị với chiến thắng mang tên Trưng Trắc.

Lữ Lạc tướng khuyên Đô Dương trở về nam, lấy danh nghĩa Lạc hầu hiệu triệu quần chúng, rút kinh nghiệm M’linh, xây dựng quân đội và thành quách, vỗ về sức dân, tính kế lâu dài cho cả Âu Lạc. Ông khẳng khái nhận định, nếu Hán quân không sang thì triều đình M’linh sớm muộn cũng sụp đổ. Cả Đô Dương và Lữ Lạc tướng đều biết trước ngôi vương ngắn ngủi của Trưng Trắc chỉ có hư danh và những lễ hội say sưa. Đại bộ phận người Âu Lạc tiếp tục thống khổ bên bờ ruộng của mình. Quan lại và một số chiến binh có công trạng lên ngôi, mong ước đời nối đời được cung phụng, hầu hạ. Họ tha hóa từng ngày, trong sự xa hoa đẫm máu và nước mắt lương dân.

Trước khi xuống thuyền, Lữ Lạc tướng tấu với Trưng vương rằng: “Tính chuyện một đời chỉ cần tiền tài, lo trước mười đời phải tích lũy quyền lực, còn nếu lo cho trăm đời đã là lo chung cho thiên hạ, nên mở cửa cầu học, tế thế kinh bang, đãi ngộ hiền sĩ và loại bỏ sâu mọt…”.

Từ Cư Phong, Đô Dương tập hợp tất cả Lạc tướng của Cửu Chân, định thống nhất phương hướng. Ông lại chạm trán với chia rẽ và hời hợt. Số biết những gì xảy ra tại M’linh tỏ vẻ nghi ngờ tấm lòng Đô Dương. Kẻ ở non cao thì mơ hồ, chống đối cái mới quyết liệt. Cuối cùng chỉ có Lạc tướng Vô Thiết, Dư Phát và Vô Biên đoàn kết xung quanh Đô Dương.

Lực mỏng, người thưa, Đô Dương vẫn cố gắng qui tụ được gần một vạn chiến sĩ và năm trăm Giao long thuyền. Ông chỉ có hơn một năm chuẩn bị nhưng dựng được hai chiến lũy tại Dư Phát và Cư Phong, cùng một căn cứ sâu trong rú ngàn. Chu Bá là dũng tướng mà Đô Dương hết lòng dạy dỗ, nâng đỡ. Năm 42 Đô Dương đem quân ra bắc theo lệnh Trưng vương, Chu Bá ở lại giữ Cửu Chân.

Tháng mười năm 43 Mã Viện tiến vào Cửu Chân, Chu Bá ngoan cường chống cự, quyết không hàng. Hán quân tổn thất nặng nề. Chiến lũy Dư Phát vỡ, Chu Bá bỏ vào rừng sâu trường kì kháng chiến đến cuối đời và lạc mất giữa dòng lịch sử Việt Nam. Tên tuổi ông hiện vẫn khiêm nhường và ít được người Việt Nam biết đến, vì nó nằm cô đơn giữa quyển sách dầy Thủy Kinh Chú, phần nói về sông Diệp Du.

Đô Dương bám trụ ở Cư Phong không được lâu. Mùa đông năm 43, gia tộc cùng tay chân thân tín của ông buộc phải lên thuyền, nương theo gió mùa đông bắc ly hương xuống phía nam. Có thể Đô Dương chính là Thái tổ của người Minangkabau hiện cư trú tại Indonesia và Malaysia. Cộng đồng thị tộc mẫu hệ ấy vẫn nhắc nhở nhau rằng, tổ tiên họ từng căng buồm tìm kiếm tự do từ một vùng biển Việt Nam. Lối sống và sinh hoạt của họ dù trải qua gần hai ngàn năm, vẫn có gì đó tương đồng đến kinh ngạc với thời đại Hai Bà Trưng. Các ngôi nhà sàn có mái hình Giao long thuyền Đông Sơn vẫn ngạo nghễ trước mưa gió nam đảo. Một trong những câu chuyện dân gian nổi tiếng nhất của người Minangkabau là sự tích nghé giết trâu.

Hận Lãng Bạc – Chương 5

1 phản hồi

5.

Với cô thuật ngữ “người Giao Chỉ” là sự xỉ nhục. Lúc nào nó cũng gợi lên những ác mộng truyền kiếp, di căn, trong đêm đen Bắc thuộc. Anh tuyệt đối thông cảm và thấu hiểu nỗi lòng cô. Từ Hàn Phi Tử, Hoài Nam Vương đến Tư Mã Thiên, họ đều ghi nhận thời tối cổ (Thần Nông, Nghiêu Thuấn, Thương Ân); đến cận cổ (Thương Chu, Tần Hán), lãnh thổ Hoa Hạ phía nam giáp Giao Chỉ, chứ không phải bao gồm Giao Chỉ. Trên bản đồ khảo cổ học Trung Hoa, đất đai tiên Tần chỉ là khu vực nhỏ hẹp hai bên trung lưu Hoàng Hà. Do đó Giao Chỉ rất dễ hiểu, chính là khái niệm nói về vùng đất phía nam của Hoa Hạ và không thuộc Hoa Hạ. Giao Chỉ sẽ dịch chuyển dần xuống phương nam, dưới gót sắt các đoàn quân đế quốc, thực dân. Không khó nhận ra Giao Chỉ thời Tây Chu là vùng Đan Dương nước Sở; Giao Chỉ Đông Chu tuột xuống bờ nam Trường Giang; Giao Chỉ thời Tần là Lĩnh Nam.

Lịch Đạo Nguyên ghi lại lời Hán Vũ đế muốn mở mang Giao Chỉ làm Cơ Chỉ (cơ sở, nền móng) cho con cháu, là căn cứ xác đáng để kết luận tên của nước Sở gần như đồng nghĩa với Giao Chỉ, vì Cơ Chỉ có thể gọi là Cơ Sở. Chữ Sở trong Cơ Sở đồng âm và chỉ khác chữ Sở tên nước một bộ Thạch. Hán Vũ đế gộp chín quận phía nam nước Hán (có quận Giao Chỉ trong đó) thành Giao Chỉ bộ, quận Giao Chỉ nhiều khả năng mang tính khái niệm và đại diện, hơn là địa danh đã chiếm đoạt. Khi tiêu diệt Nam Việt, các đoàn quân Hán đã dừng lại ở Phiên Ngung, và sau đó hàng trăm năm, không có bất cứ một Thái thú nào được bổ nhiệm tại quận Giao Chỉ.

Anh bị thuyết phục bởi lý lẽ cô đưa ra nhưng anh không phải sử gia có quyền năng và tiếng nói. Anh tin xứ sở của Hai Bà Trưng độc lập hoàn toàn trước khi Mã Viện nam chinh. Nhâm Diên, Tích Quang và Tô Định chỉ cầm đầu những nhóm sứ đoàn nhỏ lẻ, không đánh giá hết sức mạnh của Âu Lạc, muốn cưỡng chiếm nó bằng cái giá rẻ mạt nhất. Họ thất bại là tất yếu.

***

Sau cuộc chạm trán ngày Đoan Ngọ với Trưng Trắc, Tô Định vừa đau, vừa nhục và bế tắc hơn bao giờ hết. Dã tâm của y đã lộ rõ, chẳng ai còn nghi ngờ nữa. Tô Định tiếc nuối vì không tham khảo sách lược thâm hiểm mang gương mặt khai hóa của Nhâm Diên và Tích Quang.

Giờ đây, chỉ có bạo lực mới duy trì được bạo lực và tội ác Tô Định đã thực hành. Y chợt sáng ra một quỷ chước mà nền chính trị Hán thường áp dụng thành công trong nhiều tình huống là tách bó đũa ra để bẻ gãy từng chiếc một. Cũng bởi Tô Định từng tưởng bở Âu Lạc chỉ là một chiếc đũa yếu ớt. Y hy vọng kế này vẫn còn kịp. Chế độ mẫu quyền chậm tiến Âu Lạc không thể ngày một ngày hai chuyển đổi lập tức dưới tiếng trống đồng Trưng Trắc. Sức ỳ và tâm lý bảo thủ là rất hiển nhiên, Tô Định sẽ khoét sâu thêm thói ích kỷ và tư lợi cố hữu của một bộ phận quí tộc Âu Lạc.

Cận công viễn giao là con bài tẩy Tô Định bắt đầu sử dụng.

Với những vùng đất xung quanh Long Uyên, y hành quân, càn quét, cướp phá, giết chóc liên tục. Thậm chí có làng, Hán quân hầu như diệt chủng tất cả trẻ em, ông già bà cả, phụ nữ đã có chồng con, chỉ chừa đàn ông trung niên, nam thanh nữ tú vừa chớm trưởng thành. Bằng cách vạch ra những tử huyệt trong chế độ mẫu quyền, Tô Định không ngừng tuyên truyền, lôi kéo người Âu Lạc đến với văn minh phụ hệ Hán tộc. Chẳng hạn cha con người Âu Lạc không có tình thân vì từ bé đứa con không được cha nuôi nấng dạy dỗ, nó chỉ thuộc về họ ngoại. Lớn lên, đứa bé nhiều khi rất vô tư thuê chính cha mình làm kẻ hầu hạ, nếu chẳng may người ấy nghèo khổ, không chốn nương thân. Không ít đàn ông Âu Lạc thật thà, cứ tưởng Tô Định hết lòng bênh vực, đứng về tầng lớp bần cùng nhất trong xã hội. Họ rủ nhau đầu quân cho Tô Định ngày càng nhiều.

Với những vùng xa xôi hẻo lánh, chưa nghe tiếng ác của Tô Định, y dùng chiến lợi phẩm mua chuộc, kết giao và hứa hẹn quyền lợi kinh tế và thương mại. Y đề cao văn hóa bản địa, những ưu việt của chế độ mẫu quyền, nhằm khai thác mâu thuẫn giữa Trưng Trắc mang tinh thần cách mạng, đổi mới, và những người bị trói buộc, giam cầm trong luật tục xưa cũ của Âu Lạc.

Bất kể gần xa, Tô Định vỗ về yêu quí những Lạc tướng, quan Lang tham lam, thích ăn chơi sa đọa và đối xử với người dân khắc nghiệt. Y chuốc bọn ấy rượu mạnh của người Hán, lụa trơn từ Giang nam, ngọc quí Hợp Phố, sơn hào hải vị Nam Hải. Đặc biệt Tô Định sẽ trang bị vũ khí sắc bén bằng sắt thép, trui rèn tận phương bắc cho bất cứ quí tộc Âu Lạc nào xem nhân dân là kẻ thù của họ.

Chế độ mẫu quyền đã bị Tô Định điên cuồng tiêu diệt như thế. Thôn tính đất đai và con người chưa đủ, có một cuộc cưỡng chiếm khó nhận ra tức khắc và hình dung được tác hại to lớn của nó, trong bất cứ chiến dịch thực dân nào, đó là xâm lăng văn hóa. Sử học ghi nhận rằng, chỉ sau vài thế hệ sống dưới ách nô lệ người Hán, nhân dân Âu Lạc nói chung đã không còn biết Đoan Ngọ là sinh nhật mẹ tổ của họ, là ngày cực dương, nực nội nhất trong năm. Các lễ hội đua thuyền vẫn diễn ra, sông nước vẫn là nơi người ta tụ họp để mong nóng bức dịu đi phần nào. Các loại bánh nếp nguội buộc chỉ ngũ sắc vẫn được gói, dâng lên bàn thờ hoặc làm quà cho nhau; mô hình Giao long thuyền vẫn được chế tác, đem cung nghinh thần thánh và linh hồn tiên tổ, hoa trái vẫn được đặt lên bè lá và thả xuống sông, hồ, để cầu an, khấn nguyện. Nhưng… một chữ nhưng rất lớn, đầy ẩn nghĩa. Nhưng nguồn gốc Đoan Ngọ đã bị khoác lên những cái tên xa lạ với xứ sở này. Nào là viếng Khuất Nguyên nước Sở trầm mình ở Mịch La, ghi nhận Ngũ Tử Tư chết thảm tại Ngô, hay tưởng nhớ Câu Tiễn luyện binh… Nền văn hóa Hoa Hạ đã thống trị văn hóa các nước giáp biên Trung Hoa tinh vi như vậy, nó làm cho cơ hội độc lập thực sự của họ rất mong manh.

Mùa hạ sau tiết Đoan Ngọ năm 40, trời đất có lẽ cũng nổi giận với Tô Định tham tàn. Âu Lạc hạn hán nặng. Ruộng đồng khô cằn. Mặt đất nứt ra từng mảng. Dịch bệnh tràn lan. Nước biển đông xâm nhập đến tận hạ lưu biển hồ Lãng Bạc, tôm cá chết trương nổi lềnh bềnh quanh Long Uyên.

Phải chăng lòng người oán thán vì Âu Lạc chưa có ai nổi dậy đuổi giặc, quét sạch bất công? Phải chăng chí liệt nữ đã bị lung lạc? Sự thật là Trưng Trắc ốm nặng. Lao tâm, lao lực suốt tháng ngày, Trưng Trắc đổ bệnh trong khi mọi người đang chờ bà phát lệnh cho ba quân thẳng tiến đến Long Uyên. A Thi thay vợ gánh vác rất nhiều việc, nhưng lòng người Âu Lạc không thông. Có Lạc tướng còn khẳng định chỉ hội quân khi Trưng Trắc dẫn đầu.

Cuối cùng Trưng Trắc cũng phải gượng dậy, cùng Trưng Nhị tuyên cáo sẽ lập đàn cầu mưa, hỏi mẹ trời căn cớ. Bà ước sẵn, bất kể mưa hay không, đại quân của bà cũng tiến về Long Uyên hỏi tội Tô Định. Bà cần lý do tập hợp binh lực khắp nơi, mà không gây kinh động, làm giật mình con cọp dữ Tô Định đang nghiến ngấu xé xác người Âu Lạc làm gỏi.

Đàn cầu mưa cao chín trượng, dựng ở cù lao nhìn ra cửa Hát. Bốn đội trai tân, mỗi đội mười tám người thay nhau khấu đầu quì lạy liên tục mỗi ngày. Ba mươi sáu ngọn đuốc cắm trên đàn, cháy suốt nhờ mỡ rái cá. Bảy mươi hai con thuyền Giao long của các dũng binh nối đuôi nhau kết thành một vòng tròn giữa sông. Mỗi canh giờ, sau điểm khắc của trống đồng, lính tráng bịt miệng, giả làm tiếng cóc kêu chín mươi chín tiếng. Bình minh và hoàng hôn hằng ngày, Trưng Trắc bước tám mươi mốt bậc thang lên đàn, hướng mắt về mặt trời van nài: “Mẹ tổ ơi, chúng con cần mưa!”.

Chỉ đến ngày thứ ba, xế chiều, gió đông mát rượi thổi tới. Cóc trong mọi hóc ngách, bờ bụi Âu Lạc bắt đầu nghiến răng kèn kẹt. Tối muộn, mây đen ùn ùn kéo về. Sấm nổ liên hồi. Chớp giật nhoáng nhoàng, sét đánh vỡ và cháy bùng một chiếc Lâu thuyền tại bến Long Uyên. Đang hò hét quân lính dập lửa, Tô Định bỗng nghe lồng lộng trong gió, trong mưa, tiếng trống mẹ Âu Lạc gấp ruổi, dồn dập phát lệnh xung trận. Cuối trời tây, ánh đuốc đỏ thẫm một vùng.

Tô Định chợt hiểu sự nghiệp của y đã tiêu vong, chỉ còn mỗi mạng sống để níu giữ. Y líu ríu khép đùi giấu vết nước đang loang ướt đáy quần, rồi sai tên lính hầu ném lọng che mưa đi. Tô Định mong càng ít quan binh nhìn thấy cảnh tượng hèn mạt ấy càng tốt.

Tô Định quẫn cuống, không thể kêu gào lính tráng lên thuyền bỏ chạy, nhưng không ai bảo ai, Hán quân hiểu chúng phải làm gì. Chạy, chạy thục mạng, chéo lái, chéo sóng, chéo buồm để Lâu thuyền đi xiên gió. Ba, bốn, năm… càng nhiều người càng tốt vận một tay chèo, cật lực đua ra biển.

Khi đại quân của Trưng Trắc đến Long Uyên thì lửa đã trùm kín doanh trại Tô Định. Dân thường Âu Lạc xung quanh Long Uyên đã nổi dậy, tràn vào bắt ngụy quân và châm lửa thiêu cháy tất cả. Nghe tiếng trống mẹ bên tai, người người chạy đến bến nước hô vang “Lạc vương vạn tuế. Trưng Trắc vạn tuế”.

Không dừng lại, Trưng Trắc chỉ hướng cho đoàn Giao long thuyền tiếp tục đuổi theo quân Hán. Mưa ngày càng nặng hạt. Sấm một lúc một to. Các thủy binh vẫn không ngừng tay trống. Thuyền của họ nhỏ, tốc độ không cao bằng Lâu Thuyền nhưng âm thanh có đường đi rất ngắn. Cuối cùng Tô Định cũng chạy thoát, nhưng tiếng trống đồng Âu Lạc đã làm y mất ngủ cả đời, bạc hết râu tóc trong chốc lát. Hán quân về đến Hợp Phố, điểm danh thì thấy một phần ba đã chết vì vỡ mật.