04/09/2009 | 10:04 sáng | Chưa có phản hồi.

Tác giả: Trương Thái Du

Chuyên mục: Chính trị – Xã hội, Thế giới
Thẻ: >

Bàng bạc trong bài viết “Bức tường Berlin” là nỗi niềm độc lập tự do. Nó không khác mấy nội hàm ở khẩu hiệu “Không có gì quí hơn độc lập tự do” của Hồ Chí Minh. Song, nếu Hồ Chí Minh đào sâu nỗi niềm độc lập – tự do trong Tuyên ngôn Độc lập của mình thì rất tiếc, nhà báo Huy Đức lại sử dụng “độc lập, tự do” như một cái cớ khập khiễng để nhẩy múa trên những sử liệu một chiều.

Lịch sử nào? Lịch sử của “Bức tường Berlin” mà Huy Đức trưng ra là thứ lịch sử theo nhãn quan phương Tây. Để hiểu “nhãn quan phương Tây” khách quan thế nào, chúng ta đã có 80 năm nô lệ được khoác vào mỹ từ “khai hóa”. Hoặc gần đây hơn, vào ngày 25.1.2006, Nghị viện châu Âu đã thông qua Nghị quyết 1481 kết án mấy chục năm chủ nghĩa cộng sản kinh viện và giáo điều, toàn trị. Khoan hãy nói đến nội dung Nghị quyết 1481, về mặt hình thức, phương Tây chưa có thứ gì tương tự cho hàng ngàn năm Trung cổ man rợ dưới ách nhà thờ La Mã, cả trăm năm diệt chủng ở châu Mỹ, châu Phi và một phần châu Á. Chỉ điều đó thôi, đã thấy “nhãn quan phương Tây” chưa chắc không mang tính thù hằn và phục vụ mục đích chính trị trước mắt.

Có một câu nói cũng của Tagore, ít lòe loẹt hơn slogan tôi thấy trong blog Osin[1], đại ý là phải dung nạp được những giá trị vĩ đại của nền văn minh phương Tây, mới có thể đứng vững trước sự đê hèn cùng cực luôn mặc định trong nó. Dân tộc Việt Nam là dân tộc đầu tiên của nhân loại đã đoạt được giải “Nobel vệ quốc” vào năm 1972, nhưng phương Tây lại đặt tên phần thưởng cao quí ấy một cách hài hước là “Hòa bình”, nên người đại diện của họ là Lê Đức Thọ đã phải ngẩng cao đầu bên những hố bom còn nóng hổi để từ chối. Đây là cạm bẫy của ngôn ngữ, sự lệch pha giữa hai nền văn minh hay là thủ đoạn chính trị? Thật khó lý giải.

Vì khoác lên “bức tường ô nhục” nỗi niềm tự do và độc lập dưới nhãn quan của kẻ chiến thắng cuối cùng, tác giả Huy Đức đã vô tình bỏ sót một lý do sụp đổ lớn lao của nó là ý chí thống nhất của người Đức, dân tộc Đức. Khát khao tự do? Đúng nhưng chưa đủ. Người Đức còn có khát khao thống nhất. Khi một nền văn hóa này muốn thôn tính nền văn hóa kia người ta gọi là xâm lăng, song, khi hai nửa của một nền văn hóa bị ngoại bang chia rẽ muốn tái hợp thì phải gọi nó bằng một từ kép đầy nước mắt và quá đỗi gần gũi với người Việt Nam, đó là thống nhất. Nỗi niềm thống nhất vẫn luôn là vấn đề thời sự của truyền thông toàn cầu dưới tên Hàn Quốc – Triều Tiên. Nó bị bỏ sót trong trường hợp nhà báo kỳ cựu Huy Đức là một ngạc nhiên lớn của tác giả bài này.

Thống nhất là đoàn kết, là tập hợp sức mạnh nội tại, là mục đích tối thượng của đa nguyên tư tưởng. Khi một tư tưởng “lạ” và đầy phiến diện được quần chúng tung hô, tôi thấy đáng lo ngại hơn là vui mừng. Bản thân “xét lại” luôn có hai mặt trái phải điều hòa, chỉ sử dụng mặt trái của “xét lại” (ở đây là quan điểm một phía về bức tường Berlin), e rằng tác giả bài báo “Bức tường Berlin” thích đánh đổ hơn là xây dựng, thích a dua nhai lại với thiện chí (nhưng áp đặt, cực đoan) của Tây phương[2] hơn là cân nhắc, suy xét và áp dụng chúng đúng nơi, đúng chỗ.

Cái nồng nhiệt thiếu lý tính với những giá trị bề nổi của phương Tây trong bài “Bức tường Berlin” của Huy Đức, thật ra không mới. Xưa kia, Việt Phương đã từng cay đắng chỉ ra sự ngây thơ chết người của tư duy xã hội bắc Việt một thời: “Đồng hồ Liên Xô tốt hơn đồng hồ Thụy Sĩ / Trăng Trung Quốc tròn hơn trăng nước Mỹ”.

Hình ảnh những bó hoa tươi trong các “nghĩa trang dân lập” mà Huy Đức sử dụng rất xúc động, nhưng quả tình nó không thể phản ánh đầy đủ sự phức tạp của Thế chiến thứ Hai, nguyên nhân trực tiếp dẫn đến việc hình thành Bức tường Berlin. Quân Đồng minh với vai trò cốt cán của Mỹ đã tính toán “xương máu” rất kỹ trước khi quyết định “nhường bước” cho Hồng quân thọc sâu vào hang ổ cuối cùng của chủ nghĩa phát xít. Tư duy “con buôn” trên sinh mệnh những người cùng chiến hào nhưng khác ý thức hệ chưa được xem xét cẩn trọng. Có những viên gạch trong Bức tường Berlin hằn sâu dấu ấn nghi kỵ, thiếu tin tưởng với một đối tác “láu cá” giảm thiểu “dây máu” nhưng tích cực “chia phần”.

Không có gì ấu trĩ hơn khi đơn giản hóa, lành mạnh hóa và có phần thánh hóa con người chính trị của văn minh Tây phương. “Bức tường Berlin” của Huy Đức đã tuột sâu vào vũng lầy nhị nguyên tốt – xấu phân minh tách bạch, thiếu biện chứng và hời hợt. Là một người đọc lý tính, tôi mong chờ ở Huy Đức những bài báo sâu sắc, hơn là chuỗi cảm nghĩ nông cạn của một du khách cưỡi ngựa xem hoa trong viện bảo tàng. “Bức tường Berlin” và những nhược điểm của nó rất dễ trở thành “ổ gà” cho những cái đầu nóng hổi cảm tính và dễ bị thiên kiến lôi kéo.

Cuối cùng, tôi thấy mình hoàn toàn đồng cảm với câu kết của Huy Đức: “Một cuộc chiến không còn được coi là “giải phóng” nếu những gì mà nhân dân cuối cùng được hưởng không phải là độc lập tự do”. Tuy nhiên độc lập tự do, hay nói rộng hơn nữa là dân chủ và nhân quyền, suy cho cùng, luôn là một hành trình gian khó và dài lâu. Nó luôn bắt đầu bằng văn hóa và kết thúc trên mặt trận văn hóa, chứ không thể lập tức nảy mầm sau khi khói súng vừa tan (hãy xem trường hợp Iraq chẳng hạn). Và hơn hết, nó là một quá trình tự thân đắt giá, những yếu tố và bài học ngoại lai nếu có, chỉ nên coi là tham khảo có giới hạn và chọn lọc. Thật nguy hiểm khi xem đấy là hình mẫu để học đòi, rồi cố sức “trèo tường” và “đập tường”. Bức tường Berlin xây bằng gạch đá và dây thép gai đã biến mất chỉ sau một đêm, nhưng những gì ngăn cách và hủy hoại mối quan hệ giữa người và người cùng một chủng tộc, mười lăm năm sau vẫn chưa dễ vượt qua. Washington Post gọi đấy là “the wall in the mind”, bức tường trong não bộ[3].

Ảo tín vào những điều không tưởng của một người lính xuất thân từ nông dân luôn dễ hiểu hơn ảo tín của một nhà báo chính trị xã hội già dặn nơi phồn hoa. Tôi rất hy vọng sẽ được trao đổi thêm với tác giả Huy Đức dưới hình thức blog, để nhận ra những thiên kiến đáng trách và sự hãn hữu của đầu óc mình.

Sài Gòn 2

31.8.2009

© 2009 Trương Thái Du

© 2009 talawas blog


[1] Slogan trên blog Osin: Cái cây tìm sự cô đơn ở trên cao / Ngọn cỏ tìm sự đông đảo ở dưới đất. (Tagore)

[2] Ý của nhân vật Ka, trong tiểu thuyết Tuyết của nhà văn Thổ Nhĩ Kỳ Orhan Pamuk, Nobel 2006.

[3] http://www.washingtonpost.com/ac2/wp-dyn/A18734-2004Apr16?language=printer