Dân chủ hóa ở các nước diễn ra như thế nào

Samuel P. Huntington

Dịch giả: Vương Thiện

* SAMUEL P. HUNTINGTON là giáo sư Albert J. Weatherhead III của trường Đại học Harvard. Ông qua đời tháng 12/2008. Ông là một nhà khoa học chính trị xuất sắc trong các môn như quan hệ dân sự -quân sự, phát triển chính trị, nhà nước so sánh và đụng độ toàn cầu giữa các nền văn hóa. Giáo sư Huntington còn là một người bạn tốt của tạp chí quý Khoa học Chính trị và Biên tập viên của tạp chí này. Chúng tôi thương tiếc ông một cách sâu sắc. Bài báo này vốn đã được xuất bản trong số mùa Đông năm 1991 của Tạp chí và đã là một trong những bài viết được đọc nhiều nhất trên JSTOR và cả trên trang web của chúng tôi.

——————————————-

Giữa những năm 1974 và 1990 hơn 30 nước Nam Âu, châu Mỹ latinh, Đông Á, và Đông Âu chuyển đổi từ chế độ độc tài sang hệ thống chính thể dân chủ. Cuộc “cách mạng dân chủ toàn cầu” này có lẽ là trào lưu chính trị quan trọng nhất cuối thế kỷ 20. Đây là làn sóng dân chủ hóa lần thứ ba trong kỷ nguyên hiện đại. Làn sóng dân chủ hóa này bao gồm một nhóm các nước chuyển đổi từ chế độ phi dân chủ sang chế độ dân chủ trong một khoảng thời gian nhất định, và số lượng các nước như vậy nhiều hơn nhiều các quá trình chuyển đổi đối nghịch trong cùng khoảng thời gian. Làn sóng thứ nhất diễn ra tại châu Mỹ vào đầu thế kỷ mười chín và lên đến đỉnh điểm vào giai đoạn cuối chiến tranh Thế giới lần thứ nhất, với khoảng 30 nước đạt được chế độ dân chủ. Cuộc đổ bộ của Mussolini vào thành Rome năm 1922 bắt đầu một làn sóng đối nghịch, và vào năm 1942 chỉ còn lại 12 nền dân chủ trên thế giới. Với chiến thắng của quân đội Đồng minh ở chiến tranh Thế giới lần thứ hai và ảnh hưởng từ phong trào phi thực dân hóa, phong trào hướng tới dân chủ lần thứ hai đã được khởi xướng, mặc dù phong trào lần này yếu dần và thoái trào vào đầu thập niên 60, với khoảng 36 nước hưởng các chế độ dân chủ. Tiếp ngay sau đó là phong trào đối nghịch lần thứ hai hướng về chủ nghĩa độc tài, đánh dấu đột ngột nhất là bằng các cuộc tiếp quản quân sự tại châu Mỹ latinh và cướp chính quyền của những kẻ độc tài như Ferdinand Marcos.

Nguyên nhân khởi nguồn của làn sóng thứ ba, cũng như của các làn sóng trước đó, rất phức tạp và mang tính đặc thù riêng. Tuy nhiên, bài viết này không lưu tâm tới việc tại sao có làn sóng thứ ba này, mà hơn hết lưu tâm với câu hỏi là các tiến trình dân chủ hóa của làn sóng này đã diễn ra như thế nào: các cách thức trong đó lãnh đạo chính trị và quần chúng trong thập niên 1970 và 1980 kết thúc các hệ thống độc tài và tạo ra các chế độ dân chủ. Con đường đi đến sự thay đổi rất đa dạng, cũng như thế về những nhân vật chủ chốt đưa đến sự thay đổi. Hơn hết, điểm bắt đầu và kết thúc của các quá trình này không đối xứng. Có những sự khác biệt rõ rệt tồn tại giữa các chế độ dân chủ: một vài dưới hình thức dân chủ tổng thống, số khác theo hình thức nghị viện, số khác nữa theo trường phái của Charles De Gaulle là sự tổng hòa của cả hai hình thức trên; do đó, một số là hai đảng, số khác đa đảng, và những sự khác biệt lớn tồn tại ở bản chất và sức mạnh của các đảng này. Những sự khác biệt này có tầm quan trọng đáng kể đối với tính ổn định của các hệ thống dân chủ đã hình thành, nhưng không quan trọng lắm trong các quá trình dẫn đến việc ra đời những nền dân chủ này[1].  Sự khác biệt quan trọng hơn cả là trong tất cả các nền dân chủ, viên chức chính của chính phủ được lựa chọn thông qua các cuộc bầu cử mang tính cạnh tranh mà trong đó toàn thể dân chúng đều có thể tham gia. Do đó, các hệ thống dân chủ có một điểm hạt nhân chung về thể chế và đây chính là cái tạo nên đặc tính của các hệ thống này. Các hệ thống độc tài – như từ này được dùng trong nghiên cứu này – được xác định đơn giản là tính vắng mặt của hạt nhân thể chế đó. Ngoài việc không phải là các thể chế dân chủ, các thể chế này có thể không có gì nhiều chung. Do đó, sẽ là cần thiết bắt đầu cuộc thảo luận về sự thay đổi trong các chế độ độc tài bằng việc xác định những sự khác biệt giữa các chế độ này và điểm quan trọng trong những điểm khác biệt đó đối với các tiến trình dân chủ hóa.

CÁC CHẾ ĐỘ ĐỘC TÀI

Trong lịch sử, các chế độ phi dân chủ tồn tại dưới rất nhiều hình thức khác nhau. Các chế độ tiến hành dân chủ hóa trong làn sóng lần thứ nhất nói chung là các chế độ quân chủ chuyên chế, chế độ quý tộc phong kiến còn rơi rớt lại, và các quốc gia kế thừa các đế chế lục địa. Các chế độ dân chủ hóa trong làn sóng lần thứ hai trước đó là các quốc gia phát xít, thuộc địa, và độc tài chính trị cá nhân hóa và trước đó thường đã có kinh nghiệm về dân chủ. Các chế độ chuyển động và hướng tới dân chủ trong làn sóng lần thứ ba rơi vào 3 nhóm: chế độ một đảng, chế độ quân sự, và chế độ độc tài mang tính cá nhân.

Hệ thống một đảng hình thành từ cuộc cách mạng hoặc do sự áp đặt của Xô-viết và bao gồm các nước cộng sản cộng thêm Đài Loan và Mê-hi-cô (Thổ Nhĩ Kỳ cũng phù hợp với mô hình này trước khi nước này thực hiện dân chủ hóa trong làn sóng lần thứ hai vào những năm 1940). Trong các hệ thống này, đảng cầm quyền giữ độc quyền về quyền lực, tiếp cận quyền lực thông qua tổ chức đảng, và đảng cầm quyền hợp pháp hóa sự thống trị của mình thông qua ý thức hệ/hệ tư tưởng. Các hệ thống này thường đạt được mức độ thể chế hóa chính trị tương đối cao. Các chế độ quân sự được tạo ra sau các cuộc đảo chính lật đổ chính phủ dân chủ hoặc dân sự. Trong các hệ thống này, quân đội thực thi quyền lực trên cơ sở thể chế, với một đặc tính tiêu biểu là giới lãnh đạo quân đội thường quản lý nhà nước như những kẻ độc tài quân sự hoặc phân phối các vị trí hàng đầu trong chính phủ cho các vị tướng lĩnh đứng đầu quân đội. Các chế độ quân sự tồn tại trong rất nhiều nước ở châu Mỹ latinh (nơi một số người coi gần giống như mô hình quan liêu – độc tài) và ở cả Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ, Pakistan, Nigeria và Hàn Quốc.

Chế độ độc tài mang tính cá nhân là nhóm thứ ba, đa dạng hơn trong hệ thống các nền phi dân chủ. Đặc điểm phân biệt một chế độ độc tài mang tính cá nhân là ở chỗ vị lãnh đạo đó là nguồn của quyền hành và ở chỗ quyền lực phụ thuộc vào việc tiếp cận tới vị lãnh đạo này, sự gần gũi với vị này, sự phụ thuộc vào vị này, và sự ủng hộ của vị lãnh đạo này. Nằm trong phân loại này gồm có Bồ Đào Nha dưới thời António Salazar và Marcello Caetano, Tây Ban Nha dưới thời Francisco Franco, Philipin dưới thời Ferdinand Marcos, Ấn Độ dưới thời Indira Ghandi, và Rô-ma-ni-a dưới thời Nicolae Ceausescu. Độc tài mang tính cá nhân có rất nhiều nguồn gốc khởi nguyên. Những vị độc tài ở Philipin và Ấn Độ là kết quả của đảo chính ở cấp độ hành pháp. Độc tài ở Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha bắt đầu bằng các cuộc đảo chính quân sự (trong đó, ở trường hợp của Tây Ban Nha, sau đó dẫn đến chiến tranh dân sự) với những kẻ độc tài lần lượt thiết lập cơ sở quyền lực độc lập với quân đội. Tại Rô-ma-ni-a, độc tài mang tính cá nhân sinh ra từ chế độ một đảng. Chi-lê dưới thời Augusto Pinochet khởi đầu là một chế độ quân sự nhưng trong thực tế dần trở thành độc tài mang tính cá nhân do sự nắm quyền kéo dài của ông này và những bất đồng cũng như vị thế thống trị của ông với các lãnh đạo của giới quân sự. Một vài độc tài mang tính cá nhân như Marcos và Ceausescu, như Anastasio Somoza, François Duvalier, Sese Seko Mobutu, và vua Iran, là những ví dụ điển hình cho mô hình của Weber về các chế độ sultanic đặc trưng bởi quyền bổ nhiệm, ưu đãi, quan hệ và tham nhũng.

Chế độ một đảng, chế độ quân sự, và độc tài mang tính cá nhân đè nén cả tính cạnh tranh và sự tham gia. Hệ thống của Nam Phi khác những chế độ này ở chỗ hệ thống này về cơ bản là chính thể đầu sỏ theo chủng tộc với hơn 70 phần trăm dân số bị loại khỏi chính trị nhưng với tính cạnh tranh chính trị tương đối căng thẳng xuất hiện trong cộng đồng các quan chức chính phủ người da trắng. Kinh nghiệm từ lịch sử cho thấy dân chủ hóa diễn ra dễ dàng hơn nếu cạnh tranh mở rộng trước khi có sự tham gia.[2] Nếu đây là trường hợp đó, triển vọng cho một kết cục dân chủ hóa thành công ở Nam Phi là cao hơn so với các nước có các dạng thức khác của hệ thống độc tài. Quá trình diễn ra ở Nam Phi, ở một mức độ nào đó, giống với các quá trình dân chủ hóa ở thế kỷ 19 tại châu Âu trong đó đặc điểm trung tâm là sự mở rộng quyền đi bỏ phiếu bầu cử và sự thiết lập một chính thể chính trị mang tính đại diện rộng hơn. Trong những trường hợp này, sự loại trừ dựa trên các cơ sở kinh tế, chứ không phải trên cơ sở chủng tộc. Tuy nhiên, trong lịch sử, các hệ thống công xã theo thứ bậc thường có tính kháng cự rất cao trước thay đổi mang tính hòa bình.[3] Cạnh tranh trong hệ thống chính thể đầu sỏ do đó thuận lợi hơn cho quá trình dân chủ hóa thành công của Nam Phi; khái niệm chủng tộc của chính thể đầu sỏ này đã tạo ra vấn đề cho quá trình dân chủ hóa.

Các chế độ cụ thể không phải luôn luôn hợp sít sao vào một trong những phân loại cụ thể kể trên. Ví dụ vào đầu thập niên 1980, Ba Lan là tổng hợp của các yếu tố của một chế độ một đảng đang bị mọt ruỗng và của một chế độ dựa trên quân đội trong tình trạng thiết quân luật đứng đầu là một sĩ quan quân đội và người này cũng đồng thời là tổng bí thư Đảng Cộng sản. Chế độ cộng sản của Rô-ma-ni-a (cũng giống như ở Hàn Quốc) khởi đầu là chế độ một đảng nhưng đến những năm 1980 đã tiến sang hình thức độc tài mang tính cá nhân sultanic.

BẢNG 1

Chế độ Độc tài và Quá trình Tự do hóa/Dân chủ hóa, 1974–90

Chế độ

Quá trình

Một đảng

Cá nhân

Quân sự

Đầu sỏ dân tộc

Chuyển đổi
(Transformation)
(Đài Loan)a
Hungary (Mê-hi-cô)
(Liên Xô)
Bulgaria
Tây Ban Nha
Ấn Độ
Chi-lê
Thổ Nhỹ Kỳ
Brazil
Pê-ru
Ecuador
Guatemala
Nigeria*
Pakistan Sudan*

16

5

3

8

Chuyển dịch (Transplacement)

Ba Lan
Séc và Slôvakia Nicaragua
Mông Cổ

(Nê-pan)

Uruguay
Bô-li-vi-a
Honduras
El Salvador
Hàn Quốc

(Nam Phi)

11

4

1

5

1

Thay thế
(Replacement)

Đông Đức

Bồ Đào Nha Phi-lip-pin
Rô-ma-ni-a

Hy Lạp Ác-hen-ti-na

6

1

3

2

Can thiệp

Grenada

(Panama)

2

1

1

Tổng số

35

11

7

16

1

Ghi chú: Nguyên tắc cơ bản của dân chủ hóa là việc lựa chọn chính phủ thông qua bầu cử cởi mở, cạnh tranh, mang tính tham gia đầy đủ, và được điều hành nhẹ.
aDấu ngoặc đơn chỉ một đất nước có giải phóng nhưng không dân chủ cho tới năm 1990.
*Chỉ một nước đảo ngược lại trở thành độc tài.


[1]Xem G. Bingham Powell, Jr., Các nền dân chủ đương đại: Tham gia, Ổn định, và Bạo lực (Cambridge, MA: Nhà xuất bản trường Đại học Havard, 1982), chương 5–9; Juan J. Linz, “Hiểm họa của hình thức tổng thống”, Tập san Dân chủ 1 (mùa Đông 1990): 51–69.
[2]Robert A. Dahl, Đa nguyên trị (Polyarchy): Tham gia và Chống đối (New Haven: Nhà xuất bản trường Đại học Yale, 1971), 33–40.
[3]Xem Donald L. Horowitz, “Ba Chiều của Chính trị Dân tộc”, Chính trị Thế giới 23 (tháng Giêng 1971):
232–36; Samuel P. Huntington và Jorge I. Domínguez, “Phát triển Chính trị” trong Fred I. Greenstein
và Nelson W. Polsby biên tập, Sổ tay Khoa học Chính trị, quyển 3 (Sách đọc, MA: Addison-Wesley,
1975), 74–75.

Chế độ tại Chi- lê giữa những năm 1973 và 1989 một phần là chế độ quân sự nhưng trái ngược với các chế độ quân sự khác ở Nam Mỹ, trong suốt thời kỳ tồn tại của nó, cũng chỉ có một lãnh đạo, người đã phát triển các nguồn lực chính trị khác. Do vậy, chế độ này mang khá nhiều các đặc điểm của một chế độ độc tài mang tính cá nhân.

Chế độ độc tài Noriega của Panama, một mặt, cá nhân hóa rất cao nhưng cũng phụ thuộc gần như hoàn toàn vào quyền lực quân sự. Các phân loại trong Bảng 1 do đó phải được xem như những xấp xỉ phác thảo. Khi một chế độ có các yếu tố của cả hai dạng thức, chế độ đó sẽ được phân loại dựa trên những yếu tố nổi trội khi quá trình
chuyển đổi đang bắt đầu.

Trong làn sóng lần thứ hai, dân chủ hóa diễn ra phần lớn thông qua sự áp đặt ngoài nước và phi thực dân hóa. Trong làn sóng thứ ba này, như chúng ta đã thấy, hai quá trình này ít đặc biệt hơn, giới hạn trước năm 1990 ở Grenada, Panama, và một vài nước nhỏ là thuộc địa cũ của Anh mà phần lớn nằm trong khu vực Ca-ri-bê. Trong khi các ảnh hưởng từ bên ngoài thường là những nguyên nhân quan trọng của làn sóng dân chủ hóa lần thứ ba, tự bản thân các quá trình này lại mang tính nội tại một cách áp đảo. Các quá trình này có thể được định vị là nằm trên một trục liên tục về tầm quan trọng tương đối của việc điều hành nhà nước và các nhóm đối lập thì được xem
như nguồn của dân chủ hóa. Cho các mục tiêu phân tích, sẽ giúp ích nếu nhóm các trường hợp này lại thành 3 loại quá trình chính. Biến đổi (hoặc như cụm từ của Juan J. Linz, sửa đổi) xuất hiện khi các tầng lớp chóp bu cầm quyền chủ động tiến hành thực cải tổ tạo ra dân chủ. Thay thế (hay tuyệt giao, từ của Linz) xuất hiện khi các nhóm đối lập nắm vị trí đầu trong quá trình đem lại dân chủ, và chế độ độc tài sụp đổ hoặc bị lật đổ. Cái được gọi là sự tách thoát hay “biến đổi và thay thế” xuất hiện khi dân chủ hóa đạt được chủ yếu từ hành động chung giữa chính phủ và các nhóm đối lập.  Hầu như trong tất cả các trường hợp, các nhóm cả đang nắm giữ quyền lực và bị tước quyền lực đều đóng vai trò nào đó, và các phân loại này chỉ đơn giản để phân biệt vai trò quan trọng tương đối của chính phủ và bên đối lập.

Như với các loại chế độ, các trường hợp về thay đổi chế độ trong lịch sử không nhất thiết phải hợp khít vào các phân loại mang tính lý thuyết ở đây. Hầu như tất cả các chuyển đổi, không chỉ các quá trình tách thoát, đều có ít nhiều thương lượng – rõ ràng hoặc ẩn, công khai hay vụng trộm – giữa chính phủ và các nhóm đối lập. Thỉnh
thoảng chuyển đổi bắt đầu như một dạng thức nhưng sau đó dần trở thành một dạng thức khác. Ví dụ, đầu những năm 1980, P. W. Botha có vẻ như bắt đầu khởi xướng quá trình biến đổi trong hệ thống chính trị Nam Phi, nhưng ông ta đã dừng lại kiểu như không dân chủ hóa hệ thống này. Đối diện với một môi trường chính trị khác biệt,
người kế nhiệm của ông này, F.W. de Klerk, chuyển sang quá trình tách thoát trong đó có thương lượng với nhóm đối lập chính. Tương tự, các học giả đồng ý với nhau là chính phủ Bra-zil đã khởi xướng và kiểm soát quá trình chuyển đổi cho rất nhiều năm. Một số lại cho rằng chính phủ này đã để mất quyền kiểm soát của mình trong quá trình đó và đấy là kết quả của các cuộc huy động dân chúng và biểu tình trong những năm 1979–1980; tuy nhiên, những người khác lại chỉ ra rằng thành công của chính phủ trong việc kháng cự lại những yêu cầu mạnh mẽ của phe đối lập về bầu cử trực tiếp tổng thống giữa thập niên 1980s. Mỗi trường hợp trong lịch sử đều bao gồm cả các yếu tố của hai hoặc nhiều hơn thế các quá trình chuyển đổi. Mặc dù vậy, gần như mỗi trường hợp trong lịch sử  đều rơi vào một loại quá trình rõ hơn vào các quá trình khác.

Bản chất của chế độ độc tài có liên lạc như thế nào với bản chất của quá trình chuyển đổi? Như Bảng 1 cho thấy, không có mối quan hệ một – một. Mặc dù vậy, bản chất của chế độ độc tài có ảnh hưởng lên bản chất của quá trình chuyển đổi. Ngoài 3 ngoại lệ, tất cả các chuyển đổi từ chế độ quân sự đều kéo theo biến đổi hoặc tách thoát.

Trong 3 ngoại lệ – Ác-hen-ti-na, Hy Lạp và Panama – các chế độ quân sự chịu thất bại quân sự và sụp đổ như một hệ quả. Ở đâu đó, những kẻ thống trị trong quân đội cầm đầu, thỉnh thoảng để đáp trả lại áp lực từ phía đối lập và từ phía dân chúng, trong việc đem lại sự thay đổi trong chế độ. Những kẻ thống trị trong quân đội ở vị trí tốt hơn để chấm dứt chế độ của họ so với những kẻ thống trị của các chế độ khác. Hầu như những kẻ thống trị quân sự này không bao giờ xác định họ là những người thống trị vĩnh viễn đất nước của họ. Họ duy trì hy vọng là một khi họ xóa bỏ được các tội ác mà từ đó đã dẫn họ đến quyền lực, họ sẽ từ bỏ quyền lực và trở về các chức năng quân sự bình thường của mình. Quân đội có một vai trò thể chế vĩnh viễn khác với chính trị và quản trị nhà nước. Tại một điểm nào đó, các lãnh đạo quân đội (không phải ở Ác-hen-ti-na, Hy Lạp và Panama), quyết định rằng thời điểm đã đến để khởi xướng việc trao trả lại quyền lực cho trật tự dân chủ dân sự hoặc để thương lượng sự thoái lui của họ về quyền lực với các nhóm đối lập. Hầu như luôn luôn việc này diễn ra sau khi đã có ít nhất một sự thay đổi trong hàng ngũ giới lãnh đạo cấp cao của chế độ quân sự.

Lãnh đạo quân đội hầu như lúc nào cũng vậy đặt ra hai điều kiện hay “đảm bảo cho sự ra đi” cho sự thoái lui khỏi quyền lực của họ. Thứ nhất, sẽ không có truy tố, trừng phạt, hay sự trả đũa khác chống lại các sỹ quan quân đội đối với bất kỳ hành động nào họ đã phạm phải khi họ đang nắm quyền lực. Thứ hai, các vai trò thể chế và quyền tự quản của tổ chức quân đội sẽ được tôn trọng, bao gồm cả trách nhiệm toàn bộ của quân đội đối với an ninh quốc gia, vai trò lãnh đạo của quân đội đối với các bộ của chính phủ khi liên quan đến vấn đề an ninh, và thường bao gồm cả quyền kiểm soát của quân đội đối với các ngành công nghiệp vũ khí và các xí nghiệp kinh tế khác mà theo truyền thống nằm dưới sự bảo hộ của quân đội. Khả năng của giới quân sự đang thoái lui đối với việc đảm bảo thỏa thuận với các lãnh đạo chính trị dân sự cho các điều kiện này phụ thuộc vào quyền lực tương đối của họ. Tại Brazil, Peru, và các ví dụ khác về biến đổi, giới lãnh đạo quân sự của những nước này thống trị quá trình và các lãnh đạo chính trị dân sự có rất ít lựa chọn ngoài việc phải chấp thuận các yêu cầu của quân đội. Khi nào quyền lực tương đối giữa hai bên cân bằng hơn, như ở Uruguay, các cuộc thương lượng dẫn đến một vài sửa đổi trong các yêu cầu của giới quân sự. Lãnh đạo quân sự của Hy Lạp và Ác-hen-ti-na đòi hỏi các đảm bảo tương tự như các lãnh đạo ở nơi khác đã đưa rra. Nhưng các đòi hỏi của họ bị giới lãnh đạo dân sự từ chối thẳng thừng, và họ phải đồng ý đầu hàng quyền lực gần như vô điều kiện.

Do đó, đối với giới lãnh đạo quân đội, khá dễ cho họ thoái lui khỏi quyền lực và quay trở về với vai trò quân sự chuyên nghiệp của mình. Tuy nhiên, mặt sau của đồng xu là ở chỗ cũng tương tự như vậy khá dễ dàng cho họ quay trở về nắm quyền khi có tình trạng khẩn cấp và khi quyền lợi của họ bị đe dọa. Giới lãnh đạo chính trị và quân sự không thể đợi đến cơ hội lần thứ hai mới tổ chức một hành động quân sự thành công. Các nền dân chủ trong làn sóng lần thứ ba tiếp quản từ chế độ quân sự bắt đầu hành trình của mình dưới cái bóng này.

Quá trình chuyển đổi và chuyển dịch cũng tiêu biểu cho sự chuyển tiếp từ hệ thống một đảng sang dân chủ trong suốt năm 1989, trừ ở Đông Âu và Grenada. Chế độ một đảng có khung thể chế và tính hợp pháp về ý thức hệ khác với cả chế độ dân chủ và quân sự. Các chế độ một đảng này cũng có một mặc định về tính vĩnh cửu khiến
chúng được phân biệt với các chế độ quân sự. Đặc điểm đặc trưng của hệ thống một đảng là sự đan xen chặt chẽ giữa đảng và nhà nước. Điều này tạo ra hai nhóm vấn đề, về thể chế tổ chức và về ý thức hệ, khi chuyển tiếp sang dân chủ.

Các vấn đề thuộc về thể chế là nghiêm trọng nhất trong kiểu nhà nước theo đảng Lê-nin-nít. Ở Đài Loan cũng như các nước cộng sản khác, sự “tách biệt đảng ra khỏi nhà nước” là “thách thức lớn nhất của một đảng Lênin-nít” trong quá trình dân chủ hóa.  Ở Hungary, Séc và Slôvakia, Ba Lan, và Đông Âu, các điều khoản trong Hiến pháp quy định về “vai trò lãnh đạo” của đảng cộng sản đã phải bị bãi bỏ. Tại Đài Loan, những “điều khoản tạm thời” tương tự như vậy được thêm vào Hiến pháp năm 1950 cũng bị thách thức như thế. Trong tất cả các hệ thống đảng Lênin-nít, vấn đề chính nổi cộm là những vấn đề liên quan đến quyền sở hữu tài sản và tài chính – chúng thuộc đảng hay thuộc nhà nước? Việc xử lý một cách đúng đắn các tài sản này cũng là một câu hỏi – nên do đảng giữ lại, hay để cho nhà nước quốc hữu hóa, hay cho đảng bán cho người trả thầu cao nhất, hay nên được phân phối một cách công bằng giữa các nhóm xã hội và chính trị? Ví dụ như tại Nicaragua, sau khi thất cử hồi tháng hai năm 1990, chính phủ của Sandinista rõ ràng đã hành động nhanh chóng “chuyển giao khối lượng lớn tài sản của chính phủ sang tay của Sandinista.” “Họ bán nhà lẫn cho nhau, bán xe cho nhau,” một doanh nhân chống Sandinista đã cáo buộc như vậy.  Những cáo buộc tương tự về việc xử lý tài sản của chính phủ cũng được đưa ra cho đảng cộng sản khi Đảng Thống nhất chuẩn bị nắm chính phủ ở Ba Lan. (Trong một động thái tương tự ở Chi-lê, khi chuẩn bị mất quyền, chính phủ Pinochet chuyển giao sang tài sản căn cứ quân sự và hồ sơ thuộc các cơ quan khác của chính phủ.) Ở một số nước, lực lượng dân quân của đảng đã phải bị giải tán hoặc đặt dưới sự kiểm soát của chính phủ, và trong hầu hết các nhà nước một đảng, lực lượng vũ trang đã phải được phi chính trị hóa. Như tại Ba Lan, cũng như ở hầu hết các nước cộng sản khác, tất cả các sỹ quan quân đội phải là thành viên của đảng cộng sản; tuy nhiên, năm 1989, các sỹ quan quân đội Ba Lan đã vận động quốc hội cấm sỹ quan quân đội là thành viên của bất cứ đảng chính trị nào.  Ở Nicaragua, Quân đội nhân dân của chính phủ Sandinista đã từng là quân đội của phong trào, cũng đã trở thành quân đội của nhà nước, và sau đó phải bị chuyển trở lại chỉ thành quân đội của nhà nước mà thôi. Câu hỏi liệu các chi bộ của đảng trong các tổ chức kinh tế có nên tiếp tục tồn tại hay không cũng là một vấn đề rất tranh cãi. Cuối cùng, ở đâu mà chỉ có một đảng duy nhất nắm quyền, ở đó sẽ vẫn có câu hỏi về mối quan hệ của giới lãnh đạo của đảng này trong chính phủ và những cơ quan hàng đầu của đảng như bộ chính trị và ủy ban trung ương. Trong nhà nước Lênin-nít những cơ quan của đảng đưa ra mệnh lệnh về chính sách cho lãnh đạo chính phủ. Tuy thế, mối quan hệ này cũng không thể so sánh được với quyền uy tối cao của các cơ quan được bầu ra của quốc hội và những văn phòng nội các có trách nhiệm trong một nhà nước dân chủ.

Nhóm vấn đề tiêu biểu thứ hai thuộc về ý thức hệ. Trong các hệ thống một đảng, ý thức hệ của đảng tạo ra bản tính của nhà nước. Do đó, chống đối lại đảng nâng lên tương đương với phản bội nhà nước. Để hợp pháp hóa tính đối lập với đảng, cần thiết phải xây dựng được bản tính nào đó khác cho nhà nước. Vấn đề này được thể hiện
trong 3 bối cảnh sau. Đầu tiên, tại Ba Lan, Hungary, Séc và Slôvakia, Romania và Bulgaria, ý thức hệ và quyền lực cộng sản là do Liên bang Sô Viết áp đặt. Ý thức hệ này không phải là thiết yếu để xác định bản tính của đất nước. Trên thực tế, trong ít nhất 3 trong số những nước này, chủ nghĩa dân tộc đã phản đối chủ nghĩa cộng sản. Khi đảng cộng sản của những nước này từ bỏ tuyên bố của họ về quyền lực không thể tranh giành dựa trên ý thức hệ đó, các nước này đã tái xác định lại họ từ “cộng hòa nhân dân” thành “cộng hòa” và tái thiết lập lại chủ nghĩa dân tộc chứ không phải là hệ tư tưởng làm cơ sở cho nhà nước. Những thay đổi này do đó diễn ra tương đối dễ dàng.

Thứ hai, một vài hệ thống một đảng mà dân chủ hóa trở thành một vấn đề đã được thiết lập từ các cuộc cách mạng dân tộc. Trong các trường hợp này – Trung Quốc, Mê-hi-cô, Nicaragua, và Thổ Nhĩ Kỳ – bản chất và mục đích của nhà nước được xác định bằng ý thức hệ của đảng. Ở Trung Quốc, chế độ này đã trung thành tuyệt đối ý thức hệ của nó và coi sự chống đối mang tính dân chủ đối lập với đảng cộng sản là phản bội đất nước. Ở Thổ Nhĩ Kỳ, chính phủ nước này thực hiện một chính sách không dứt khoát và nước đôi đối với các nhóm Hồi giáo thách thức cơ sở thế tục của nhà nước của Kema này. Ở Mê-hi-cô, sự lãnh đạo của Đảng Cách mạng Nhà nước (PRI) cũng có quan điểm tương tự trước thách thức về tự do của đảng đối lập Đảng Hành động Quốc gia (PAN) với đặc tính cách mạng, xã hội và theo chủ nghĩa nghiệp đoàn của nhà nước của Đảng PRI. Ở Nicaragua, ý thức hệ của chính phủ Sandinista là cơ sở của không chỉ chương trình của một đảng mà còn của tính hợp pháp của nhà nước được tạo ra từ cuộc cách mạng Nicaragua.

Thứ ba, trong một vài ví dụ, ý thức hệ của một đảng duy nhất xác định bản chất của nhà nước và phạm vi địa lý của nhà nước đó. Tại Nam Tư và Liên bang Sôviết, ý thức hệ cộng sản đã đưa lại tính hợp pháp về tư tưởng cho nhà nước đa dân tộc. Nếu như ý thức hệ này bị bác bỏ, cơ sở cho nhà nước kiểu đó sẽ biến mất và mỗi dân tộc sẽ có thể tuyên bố nhà nước riêng của mình một cách hợp pháp. Ở Đông Đức, chủ nghĩa cộng sản đưa ra cơ sở ý thức hệ cho một nhà nước riêng rẽ; khi ý thức hệ này bị từ bỏ, cơ sở hợp lý cho một nhà nước Đông Đức biến mất. Hệ tư tưởng của Trung Hoa Quốc dân Đảng (KMT) xác định nhà nước ở Đài Loan là chính phủ của Trung Quốc, và chế độ này đã thấy những nhân tố đối lập ủng hộ một Đài Loan độc lập như những nhân tố có tính chất lật đổ. Vấn đề ở đây ít nghiêm trọng hơn so với 3 trường hợp khác vì hệ tư tưởng được hợp pháp hóa như một khát vọng hơn là một thực tế. Chính phủ của Quốc dân đảng hoạt động trên thực tế như một chính phủ cực kỳ thành công của Đài Loan ngay cả khi trong chính mắt nó tính hợp pháp của nhà nước này phụ thuộc vào chuyện tưởng tượng rằng chính phủ này là chính phủ đúng đắn của toàn nước Trung Hoa.

Khi quân đội từ bỏ kiểm soát chính phủ, họ cũng không từ bỏ kiểm soát các công cụ bạo lực mà với những công cụ này họ có thể phải lấy lại quyền kiểm soát chính phủ.

Dân chủ hóa hệ thống một đảng, tuy nhiên, có nghĩa là đảng chính trị duy nhất tự đặt nó trong nguy cơ kiểm soát của chính phủ và trở thành một đảng thứ hai cạnh tranh trong một hệ thống đa đảng. Trong ý này, sự phân quyền ít hoàn thiện hơn so với cho quân đội khi họ thoái lui. Đảng vẫn ở lại duy trì như một diễn viên chính trị.  Bị thua trong bầu cử năm 1990, Chính phủ của Sandinista có thể hy vọng “chiến đấu một ngày nào đó” và giành lại quyền lực thông qua các phương tiện bầu cử.  Tại Bulgaria và Romania, các đảng cộng sản cũ giành chiến thắng trong bầu cử; ở những nước Đông Âu khác, đảng cộng sản có hy vọng ít lạc quan hơn tham gia trong một chính phủ liên minh một lúc nào đó trong tương lai.

Sau khi thực hiện dân chủ hóa, đảng độc tôn trước đó ở một vị trí không thể tốt hơn so với nhóm chính trị khác tái thiết lập nên một hệ thống độc tài. Đảng từ bỏ độc quyền của nó nhưng không từ bỏ cơ hội cạnh tranh cho quyền lực thông qua các phương pháp dân chủ. Khi trở lại doanh trại, quân đội từ bỏ cả hai, nhưng họ cũng vẫn giữ lại khả năng tái chiếm lại quyền lực bằng các phương pháp phi dân chủ. Chuyển tiếp từ một chế độ một đảng sang dân chủ do đó có vẻ như khó khăn hơn chuyển tiếp từ một chế độ quân sự sang dân chủ, nhưng cũng có vẻ như sẽ lâu dài hơn.  Những khó khăn của chuyển hình từ hệ thống một đảng có lẽ được phản ánh ở sự thật là vào năm 1990 lãnh đạo của các chế độ như ở Đài Loan, Mê-hi-cô và Liên bang Sô Viết đã khởi xướng phong trào tự do giải phóng chế độ của họ nhưng cũng chỉ dịch chuyển chậm chạp đến một nền dân chủ đầy đủ.

Lãnh đạo của các chế độ độc tài mang tính cá nhân có vẻ ít giống như lãnh đạo của giới quân đội và của chế độ một đảng trong việc từ bỏ quyền lực của họ một cách tự

nguyện. Những kẻ độc tài của những đất nước chuyển sang hoặc không chuyển sang dân chủ thường cố giữ cái ghế của mình càng lâu càng tốt khi họ còn có thể. Điều này thường gây ra căng thẳng giữa một hệ thống chính trị có cơ sở hẹp và một nền kinh tế và xã hội ngày càng phức tạp và hiện đại.  Nó cũng dẫn đến cơ hội mà kẻ độc tài bị lật đổ bằng bạo lực, như đã diễn ra ở Cuba, Nicaragua, Haiti, và Iran, và người thay thế kẻ độc tài này lại là một chế độ độc tài khác. Trong làn sóng dân chủ hóa lần thứ ba, các cuộc nổi dậy tương tự đã lật đổ các kẻ độc tài ở Bồ Đào Nha, Phi-lip-pin và Romania. Ở Tây Ban Nha, kẻ độc tài chết và những người kế nhiệm ông ta thực hiện một trường hợp cổ điển chuyển hình dân chủ từ trên xuống. Ở Ấn Độ và Chilê, lãnh đạo nắm quyền ứng cử trong các cuộc bầu cử với một niềm tin rõ ràng nhưng nhầm lẫn là cử tri sẽ xác nhận quyền lực của họ. Khi điều này không xảy ra, họ, không giống như Marcos và Manuel Noriega, chấp nhận kết quả bầu cử.

Trong trường hợp của các chế độ sultanic, chuyển đổi sang dân chủ trở nên phức tạp do tình trạng yếu kém của các đảng phái chính trị và của các tổ chức khác. Chuyển đổi sang dân chủ từ chế độ độc tài do đó diễn ra khi kẻ độc tài qua đời và những người kế nhiệm quyết định thực hiện dân chủ hóa, khi kẻ độc tài bị lật đổ, và khi ông ta hoặc bà ta tính toán sai sự ủng hộ có thể khiến họ giành được chiến thắng trong bầu cử.

QUÁ TRÌNH CHUYỂN TIẾP

Chuyển tiếp trong làn sóng thứ ba là những quá trình chính trị phức tạp liên quan một số các nhóm đấu tranh cho quyền lực và ủng hộ và chống đối dân chủ và các mục tiêu khác. Về thái độ của họ đối với dân chủ hóa, những thành phần tham gia tối quan trọng trong quá trình chuyển tiếp là những nhà chính trị bảo thủ, người cải cách tự do, và những người cải cách dân chủ trong liên minh cầm quyền, và những người có quan điểm ôn hòa dân chủ và những người cực đoan cách mạng trong phe đối lập. Trong hệ thống độc tài không phải cộng sản, những nhà chính trị bảo thủ trong chính phủ thường được coi là những người thuộc phe cánh hữu, phát-xít và những người theo chủ nghĩa dân tộc. Những người chống đối lại dân chủ hóa ở phe đối lập thường là những người thuộc phe cánh tả, cách mạng và Mác-xít – Lênin-nít. Những người ủng hộ dân chủ trong cả chính phủ và phe đối lập có thể được xem như chiếm lĩnh những vị trí ở giữa của trục tả-hữu. Trong hệ thống cộng sản, tả và hữu ít rõ ràng hơn. Những nhà chính trị bảo thủ thường được coi như theo trường phái Stalinít hoặc Brê-dơ-nhép-nít. Trong nội bộ phe đối lập, những thành phần cực đoan chống đối lại dân chủ không phải là những người thuộc phe cánh tả cách mạng nhưng những nhóm theo chủ nghĩa dân tộc thì lại thường được xem như thuộc phe cánh hữu.

Trong liên minh cầm quyền, một số nhóm thường ủng hộ dân chủ hóa, trong khi một số khác lại phản đối, và số khác nữa ủng hộ cải cách hoặc tự do hóa hạn chế (xem hình trên). Các thái độ chống dân chủ cũng thường phân tán tương tự. Những kẻ ủng hộ nền độc tài đang tồn tại luôn luôn phản đối dân chủ, những kẻ chống đối lại chế độ độc tài đó thì lại thường cũng chống đối dân chủ. Tuy vậy, hầu như luôn luôn lúc nào cũng thế, những nhóm người này dùng cái hoa mỹ của dân chủ trong những cố gắng của mình để thay thế chế độ độc tài hiện thời bằng chế độ của riêng họ. Những nhóm tham gia vào những vấn đề chính trị dân chủ hóa do đó có cả những mục tiêu  trái ngược và chung nhau. Những nhà cải cách và những nhà chính trị bảo thủ chia rẽ nhau ở điểm tự do hóa và dân chủ hóa, nhưng có thể có chung một mối quan tâm trong việc hạn chế quyền lực của các nhóm đối lập. Những người mang thái độ ôn hòa và những kẻ cực đoan lại có chung một mối quan tâm trong việc tạo ra dân chủ nhưng cũng thường bị phân rẽ về vấn đề chi phí của hoạt động này nên được phân chia chịu trách nhiệm như thế nào và quyền lực trong khuôn khổ của dân chủ sẽ nên phải được chia nhỏ ra như thế nào. Những nhà bảo thủ chính trị và những kẻ cực đoan hoàn toàn trái ngược nhau trong vấn đề ai nên lãnh đạo nhưng lại có quyền lợi chung trong việc làm suy yếu các nhóm dân chủ tại trung tâm và trong việc làm phân cực chính trị trong xã hội.

Thái độ và mục tiêu của từng cá nhân và nhóm cụ thể đôi khi cũng thay đổi trong quá trình dân chủ hóa. Nếu dân chủ hóa không đem đến bất cứ mối nguy hiểm nào mà họ e sợ, những người trước đó là những nhà cải cách tự do hoặc thậm chí là những nhà chính trị bảo thủ cũng sẽ đi đến việc chấp nhận dân chủ. Tương tự, tham gia vào các quá trình dân chủ hóa cũng có thể đưa thành viên của các nhóm đối lập cực đoan tới chỗ giảm nhẹ các xu hướng mang tính cách mạng và chấp nhận những trở ngại và cơ hội mà dân chủ đem lại.

Quyền lực tương đối của các nhóm định hình bản chất của quá trình dân chủ hóa và thường thay đổi trong quá trình đó. Nếu những nhà chính trị bảo thủ chi phối chính phủ và những người cực đoan ở phía đối lập, thì dân chủ hóa là không thể ở chỗ khi kẻ độc tài cánh hữu quyết tâm bám giữ quyền lực trong khi nhóm đối lập đối đầu lại bị chi phối bởi những nhà chính trị theo chủ nghĩa Mác-xít – Lê-nin-nít. Tất nhiên, chuyển đổi sang dân chủ được tạo thuận lợi nếu các nhóm ủng hộ dân chủ có ưu thế hơn cả trong chính phủ và ở phe đối lập. Sự khác biệt về quyền lực giữa những nhà cải cách và những nhà chính trị ôn hòa, tuy nhiên, lại định hình việc quá trình dân chủ hóa diễn ra như thế nào. Năm 1976 chẳng hạn, phe đối lập ở Tây Ban Nha đã yêu cầu một “sự thay đổi dân chủ” hoàn toàn hay sự tuyệt giao (ruptura) với di sản chính trị từ thời Franco và tạo ra một chính phủ lâm thời và hội đồng lập hiến để đề ra một trật tự hiến pháp mới.Tuy nhiên, Adolfo Suárez khi đó đủ mạnh để đẩy lui điều này và xây dựng cách vận hành dân chủ hóa thông qua cơ cấu hiến pháp hiện có từ thời Franco. Nếu các nhóm dân chủ mạnh ở phía đối lập nhưng không mạnh ở chính phủ, dân chủ hóa phụ thuộc vào các sự kiện làm suy yếu chính phủ hiện thời và đưa phe đối lập lên nắm quyền lực. Nếu các nhóm dân chủ chi phối trong liên minh cầm quyền, nỗ lực dân chủ hóa có thể bị đe dọa bởi bạo lực từ những cuộc nổi dậy và bởi sự gia tăng một cách dữ dội quyền lực của các nhóm chính trị bảo thủ có khả năng dẫn đến đảo chính.

Ba mối tương tác có tính quyết định trong các quá trình dân chủ hóa là giữa chính phủ và phe đối lập, giữa những nhà cải cách và những nhà chính trị bảo thủ trong liên minh cầm quyền, và giữa những kẻ ôn hòa và những kẻ cực đoan trong phe đối lập. Trong tất cả các chuyển đổi, ba mối tương tác trọng yếu này có vai trò nhất định. Tuy nhiên, tầm quan trọng tương đối và đặc tính xung đột hoặc hợp tác của những mối tương tác này lại khác với bản chất tổng thể của quá trình chuyển tiếp. Trong các quá trình chuyển đổi, mối tương tác giữa những nhà cải cách và những nhà chính trị bảo thủ trong nội bộ liên minh cầm quyền đóng tầm quan trọng trung tâm; và quá trình chuyển đổi chỉ xuất hiện nếu những nhà cải cách mạnh hơn những nhà chính trị bảo thủ, nếu chính phủ mạnh hơn phe đối lập, và nếu những người ôn hòa mạnh hơn những người cực đoan. Nếu chuyển đổi tiếp tục, những người ôn hòa thuộc phe đối lập thường được kết nạp vào liên minh cầm quyền trong khi những nhóm của các nhà chính trị bảo thủ phản đối dân chủ hóa lại rời bỏ liên minh này. Thay vào đó, các mối tương tác giữa chính phủ và phe đối lập và giữa những người ôn hòa và những người cực đoan là quan trọng; phe đối lập dần dần phải mạnh hơn chính phủ, và những người ôn hòa phải mạnh hơn những người cực đoan. Sự rời bỏ tiếp theo của các nhóm thường dẫn đến sự suy sụp của chế độ và khởi đầu của chế độ dân chủ. Trong các quá trình chuyển dịch, mối tương tác trung tâm là giữa những nhà cải cách và những nhà ôn hòa thường rất không bình đẳng về quyền lực, với mỗi nhóm đều có khả năng chi phối các nhóm phản đối dân chủ về phía mình trên ranh giới giữa chính phủ và phe đối lập. Trong một vài quá trình chuyển dịch, chính phủ và các nhóm đối lập cũ thống nhất được với nhau ít nhất ở việc phân chia quyền lực tạm thời.

CHUYỂN ĐỔI

Trong chuyển đổi, những kẻ cầm quyền trong chế độ độc tài dẫn đầu và đóng vai trò quyết định trong việc kết thúc chế độ đó và thay đổi nó thành một hệ thống dân chủ. Ranh giới giữa quá trình chuyển đổi và quá trình chuyển dịch thường mờ nhạt và nhiều trường hợp có thể phân loại vào hoặc nhóm này hoặc nhóm kia. Tuy nhiên, tổng thể các chuyển đổi thường chiếm khoảng 16 trong tổng số 35 trường hợp chuyển tiếp thuộc làn sóng thứ ba đã xuất hiện hoặc đang xảy ra vào cuối thập kỷ 1980. Mười sáu trường hợp của tự do hóa hoặc dân chủ hóa này bao gồm những thay đổi từ 5 hệ thống một đảng, ba chế độ độc tài, và tám chế độ quân sự. Chuyển đổi cần chính phủ mạnh hơn phe đối lập. Do đó, chuyển đổi diễn ra ở những chế độ quân sự có tổ chức tốt nơi mà chính phủ rõ ràng kiểm soát những phương tiện áp chế cơ bản đối với phe đối lập và/hoặc đốiv với các hệ thống độc tài đã thành công trước đó về mặt kinh tế, như Tây Ban Nha, Brazil, Mê-hi-cô và so sánh với các nhà nước cộng sản, như Hungary. Lãnh đạo của những nước này có quyền lực để dịch chuyển đất nước của mình đến dân chủ nếu họ muốn vậy. Trong mọi trường hợp phe đối lập thường yếu hơn chính phủ một cách rõ rệt, ít nhất là vào giai đoạn đầu của quá trình. Tại Brazil chẳng hạn, đúng như Alfred Stepan đã chỉ ra, khi “tự do hóa bắt đầu, không có một đối lập chính trị đáng kể nào, không có khủng hoảng kinh tế, và không có sự sụp đổ của cơ cấu bộ máy cai trị cưỡng bức do thất bại trong chiến tranh.” Tại Brazil và ở nơi khác, người ở vị trí tốt nhất để kết thúc chế độ độc tài chính là lãnh đạo của chế độ đó – và quả là họ đã làm đúng như vậy.

Những trường hợp đầu tiên của chuyển đổi bao gồm Tây Ban Nha, Brazil và trong số các chế độ cộng sản, Hungary. Trường hợp quan trọng nhất, nếu cụ thể hóa, sẽ là trường hợp của Liên Bang Sôviết. Chuyển tiếp của Brazil là “tự do từ trên xuống” hay “tự do hóa khởi xướng từ chính chế độ.” Tại Tây Ban Nha, “đã là một câu hỏi về các thành phần mang tính cải cách liên quan đến độc tài đương nhiệm, khởi xướng các quá trình thay đổi chính trị từ ngay bên trong chế độ đã được thiết lập đó.” Tuy thê, hai chuyển tiếp này lại rất khác nhau ở khoảng thời gian mà chúng tồn tại. Ở Tây Ban Nha là ít hơn 3 năm rưỡi kể từ sau cái chết của Franco, một thủ tướng theo đường lối dân chủ hóa đã thay thế một thủ tướng theo đường lối tự do hóa, pháp luật của Franco đã bỏ phiếu kết thúc chính chế độ đó, cải cách chính trị đã được xác nhận và chứng thực thông qua một cuộc trưng cầu dân ý, các đảng phái chính trị (bao gồm cả đảng Cộng sản) được hợp pháp hóa, một hội đồng mới được bầu ra, một hiến pháp dân chủ được soạn thảo và thông qua thông qua trưng cầu dân ý, các diễn viên chính trị chính đạt được thỏa thuận về chính sách kinh tế, và các cuộc bầu cử quốc hội được tiến hành theo hiến pháp mới. Luôn có tin đưa là Adolfo Suárez nói với nội các của ông là “chiến lược của ông sẽ dựa trên tốc độ. Ông ta sẽ giữ vị trí đi đầu trong trò chơi này bằng việc giới thiệu các biện pháp cụ thể nhanh hơn những kẻ cố duy trì thiết lập từ thời kỳ Franco có thể phản ứng lại chúng.” Tuy thế, trong khi các cuộc cải tổ diễn ra dồn dập trong một khoảng thời gian ngắn, chúng cũng diễn ra một cách tuần tự. Do đó, cũng có ý kiến cho rằng “Bằng việc sắp xếp đan xen các cuộc cải cách, Suárez đã tránh được việc gây ra những phản đối từ quá nhiều ngành của chế độ Franco cùng một lúc. Một tập hợp cuối cùng của các cuộc cải tổ dân chủ đã khơi ra sự thù địch công khai từ giới quân đội và những kẻ kiên định khác thuộc chế độ cũ của Franco, nhưng Tổng thống [Suárez] đã đạt được một sức đẩy và ủng hộ rất lớn.” Trên thực tế sau đó, Suárez đã thực hiện một phiên bản có tính nén cao của chủ nghĩa Kemalist “chiến lược Fa-biên (trì hoãn), chiến thuật chớp nhoáng”, làm một đặc điểm của cải cách.

Ngược lại, ở Brazil, Tổng thống Ernesto Geisel tin tưởng rằng thay đổi chính trị sẽ phải “từ từ, chậm và chắc.”Quá trình bắt đầu từ cuối chính quyền của Médici năm 1973, tiếp diễn qua các thời kỳ chính quyền của Geisel và Figueiredo, nhảy thẳng lên việc thiết lập một chính quyền với tổng thống dân sự năm 1985, và lên đến cực điểm bằng việc thông qua hiến pháp mới năm 1988 và cuộc tổng tuyển cử bầu ra tổng thống năm 1989. Những phong trào do chế độ phát động hướng tới dân chủ hóa thường được đặt rải rác với những hành động được tiến hành nhằm trấn an những kẻ kiên định lập trường trong quân đội và ở những nơi khác. Thực tế là Tổng thống Geisel và Figueiredo thực hiện chính sách 2 bước tiến 1 bước lùi. Kết quả là dân chủ hóa dần dần mà trong đó sự kiểm soát của chính phủ đối với quá trình chưa bao giờ thực sự bị thách thức. Năm 1973, Brazil có một độc tài quân sự hà khắc; năm 1989, đất nước này đã là một nền dân chủ đầy đủ. Theo thông lệ cho đến tận bây giờ, dân chủ tại Brazil được coi là bắt đầu vào tháng một năm 1985 khi một tổng thống dân sự được chọn ra trong bầu cử. Nhưng trên thực tế, không có một sự xác định rõ ràng như vậy; sự đặc biệt của chuyển đổi ở Brazil là ở chỗ gần như không thể nói vào thời điểm nào Brazil chấm dứt là một chế độ độc tài và trở thành một nền dân chủ. Tây Ban Nha và Brazil đều là những ví dụ điển hình của thay đổi từ trên xuống, và trường hợp của Tây Ban Nha chẳng hạn đã trở thành mẫu hình cho các quá trình dân chủ hóa sau đó tại Châu Mỹ latinh và Đông Âu. Chẳng hạn như vào năm 1988 và 1989, lãnh đạo Hungary đã tham vấn liên tục với các lãnh đạo Tây Ban Nha về việc làm thế nào để giới thiệu dân chủ vào, và vào tháng Tư năm 1989 một phái đoàn từ Tây Ban Nha đã đến Budapest để cho lời khuyên. Sáu tháng sau đó một bình luận viên đã chỉ ra những điểm tương đồng trong hai quá trình chuyển tiếp này:

Những năm cuối cùng của kỷ nguyên Kadar giống với chủ nghĩa độc đoán thuần túy của chế độ độc tài đang suy tàn của Franco. Imre Pozsgay đóng vai của Hoàng tử Juan Carlos trong sự so sánh này. Ông là biểu tượng đảm bảo sự tiếp tục ở giữa của sự thay đổi triệt để. Giới chuyên gia kinh tế có đầu óc tự do có các mối liên lạc với thiết chế cũ và giới doanh nghiệp mới lên tạo nên giới kỹ trị ưu tú cho quá trình chuyển tiếp, cũng giống như giới quý tộc mới gắn với Opus Dei ở Tây Ban Nha. Các đảng đối lập cũng hiện ra tương tự, nổi lên từ các hoạt động bí mật rất giống như cách giới lưu vong Tây Ban Nha đã làm khi có đủ an toàn để giới này lộ diện. Và cũng giống nhơ ở Tây Ban Nha, ở Hungary những kẻ cơ hội – ôn hòa trong phong cách, dân chủ triệt để trong nội dung – đóng vai trò trọng yếu trong việc tái thiết dân chủ.
Những chuyển đổi của làn sóng lần thứ ba thường nổi lên qua 5 giai đoạn chính, trong đó 4 giai đoạn xuất hiện ngay trong hệ thống độc đoán.

Sự  nổi lên của các nhà cải cách. Bước đầu tiên là sự nổi lên của một nhóm các nhà lãnh đạo hay các nhà lãnh đạo tiềm năng trong nội bộ chế độ độc đoán, những người cho rằng phong trào đi theo hướng dân chủ là đáng mong muốn hoặc cần thiết. Tại sao họ lại kết luận như vậy? Những lý do tại sao con người trở thành những nhà cải cách dân chủ rất đa dạng từ đất nước này sang đất nước khác và hiếm khi rõ ràng. Tuy nhiên, có thể nhóm thành 5 dạng như sau. Thứ nhất, những nhà cải cách thường kết luận là chi phí ở lại nắm giữ quyền lực – ví dụ như chính trị hóa lực lượng vũ trang, phân chia liên minh đã luôn ủng hộ họ, vật lộn với những vấn đề tưởng chừng như không thể giải quyết được (thường là kinh tế), và đàn áp ngày càng tăng – đã đạt tới điểm mà việc rút lui thanh thản khỏi quyền lực là đáng mong muốn. Các nhà lãnh đạo của các chế độ quân sự thường đặc biệt nhạy cảm với những tác động có tính chất ăn mòn của sự can thiệp chính trị đối với vấn đề thống nhất, chuyên nghiệp, tính cố kết, và cấu trúc chỉ huy của quân đội. Dẫn dắt Pê-ru tới nền dân chủ, tướng Morales Bermudez nhận thấy “Tất cả chúng tôi, dù trực tiếp hay gián tiếp, đều đã là những chứng nhân cho những gì diễn ra cho cái thể chế chính yếu này đối với quê hương mình, và cũng với cùng một kiểu như vậy đối với các thể chế khác. Và chúng tôi không muốn điều đó.” Trong cùng một kiểu như thế, tướng Fernando Matthei, chỉ huy trưởng của lực lượng không quân Chi-lê, đã cảnh báo rằng “Nếu quá trình chuyển đổi sang dân chủ không được khởi xướng đúng lúc, chúng ta sẽ hủy hoại các lực lượng vũ trang theo một cách mà không một sự thâm nhập Mác-xít nào có thể làm được.”

Thứ hai, trong một vài trường hợp, những nhà cải cách mong muốn giảm những rủi ro mà họ phải đối mặt nếu họ cố giữ quyền lực và sau đó dần dần để mất nó. Nếu phe đối lập tỏ ra đang giành được thế mạnh, sắp xếp cho một quá trình chuyển sang dân chủ là một cách để đạt được điều này. Rốt cuộc thì rủi ro mất văn phòng vẫn hơn là rủi ro mất tính mạng. Thứ ba, trong một vài trường hợp, trong đó có Ấn Độ, Chi-lê và Thổ Nhĩ Kỳ, những nhà lãnh đạo độc tài lại tin rằng họ hoặc các đồng sự của họ sẽ không để mất văn phòng. Đã cam kết củng cố lại các thể chế dân chủ và phải đối mặt với sự suy giảm về tính hợp pháp và ủng hộ, những kẻ thống trị này có thể có khát khao nỗ lực làm hồi phục tính hợp pháp của họ bằng việc tổ chức các cuộc bầu cử với hy vọng rằng cử tri sẽ tiếp tục duy trì họ ở ghế quyền lực. Hy vọng này thường là sai lầm. Thứ tư, những nhà cải cách thường tin tưởng rằng dân chủ hóa sẽ tạo ra lợi ích cho đất nước của chính họ: làm tăng tính hợp pháp của nó trên trường quốc tế, giảm các lệnh cấm vận của Mỹ hoặc của các nước khác lên chế độ của họ, và mở cửa cho trợ giúp kinh tế và quân sự, các khoản vay của Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (IMF), những lời mời tới Washington, và được tham gia các cuộc gặp gỡ quốc tế mà các nhà lãnh đạo của khối đồng minh phương Tây thống trị.

Cuối cùng, trong nhiều trường hợp như của Tây Ban Nha, Brazil, Hungary và Thổ Nhỹ Kỳ và một vài chế độ quân đội khác, các nhà cải cách tin tưởng rằng dân chủ là hình thức “đúng đắn” của chính phủ và rằng đất nước họ đã tiến triển đến một điểm mà, giống như các nước phát triển và được tôn trọng khác, đất nước họ cũng phải có một chế độ chính trị dân chủ.

Các nhà cải cách tự do có xu hướng nhìn tự do hóa như một cách xoa dịu sự phản đối chế độ của họ mà không thực hiện dân chủ hóa hoàn toàn chế độ đó. Họ sẽ đàn áp ở mức độ phải chăng hơn, thiết lập lại một vài quyền tự do dân sự, giảm kiểm duyệt, cho phép thảo luận rộng rãi hơn các vấn đề công, và cho phép xã hội dân sự – hiệp đoàn, nhà thờ, hội, tổ chức doanh nghiệp – phạm vi lớn hơn để tiến hành các công việc của mình. Tuy vậy, những nhà tự do lại không mong tiến hành những cuộc bầu cử mang tính cạnh tranh mang tính tham gia đầy đủ vì những cuộc bầu cử như vậy có thể sẽ dẫn đến việc các nhà lãnh đạo đương nhiệm phải mất quyền lực. Họ muốn tạo ra một chế độ chuyên chế tử tế hơn, nhẹ nhàng hơn, an toàn và ổn định hơn mà không phải thay đổi về cơ bản bản chất của chế độ của họ. Một vài nhà cải cách bản thân họ rõ ràng cũng không chắc chắn lắm họ muốn đi xa tới đâu trong việc mở toang nền chính trị của đất nước mình. Thỉnh thoảng rõ ràng là họ cũng cảm thấy cần phải che đậy các ý đồ của họ: các nhà dân chủ hóa có xu hướng trấn an những nhà chính trị bảo thủ bằng việc gây ra ấn tượng là họ chỉ đang làm tự do hóa mà thôi; những nhà tự do hóa lại cố giành được sự ủng hộ rộng rãi hơn bằng việc tạo ra ấn tượng là họ đang làm dân chủ hóa. Các cuộc tranh luận do vậy thường sôi sục lên xung quanh việc Geisel, Botha, Gorbachev và những người khác “thực sự” muốn đi xa đến đâu.

Sự nổi lên của các nhà tự do hóa và dân chủ hóa trong một hệ thống độc tài tạo ra một lực bậc một cho thay đổi chính trị. Tuy nhiên nó cũng có thể có một hiệu quả bậc hai. Đặc biệt trong các chế độ quân sự việc chia rẽ nhóm đang nắm quyền, chính trị hóa hơn nữa quân đội, và do đó dẫn tới việc nhiều sỹ quan hơn tin tưởng rằng “quân đội là chính phủ” phải chấm dứt để bảo toàn “quân đội là thể chế/tổ chức”. Cuộc tranh luận xung quanh việc nên hay không rút ra khỏi chính phủ tự bản thân nó đã trở thành một lý lẽ để rút ra khỏi chính quyền.

Giành quyền lực. Những nhà cải cách dân chủ không những phải tồn tại ngay trong chế độ chuyên chế độc tài mà họ còn phải ở trong bộ máy quyền lực của chế độ đó. Làm thế nào mà điều này có thể xảy ra? Trong ba trường hợp, những nhà lãnh đạo, người đã tạo ra chế độ chuyên chế điều khiển quá trình chuyển đổi sang dân chủ. Ở Ấn Độ và Thổ Nhỹ Kỳ, các chế độ chuyên chế được xác định ngay từ ban đầu là những gián đoạn của hình thức dân chủ chính thức. Các chế độ này tồn tại ngắn ngủi, kết thúc bằng các cuộc bầu cử được tổ chức bởi các nhà lãnh đạo độc tài trong một hy vọng lầm lạc là họ hay những ứng cử viên mà họ ủng hộ sẽ thắng trong những cuộc bầu cử này. Ở Chi-lê, tướng Pinochet thành lập ra chế độ của ông, nắm giữ quyền lực trong mười bảy năm, thiết lập một kế hoạch dài cho quá trình chuyển đổi sang dân chủ, thực hiện kế hoạch đó với hy vọng là cử tri sẽ bỏ phiếu cho ông tiếp tục ở cương vị cũ thêm tám năm nữa, và miễn cưỡng từ bỏ quyền lực khi cử tri thực tế không làm như vậy. Nếu không thì những người đã tạo ra các chế độ chuyên chế hoặc những người dẫn dắt những chế độ như vậy trong những khoảng thời gian rất dài không dẫn đầu trong việc chấm dứt những chế độ đó. Trong tất cả các trường hợp này, quá trình chuyển đổi xuất hiện vì những nhà cải cách thay thế những nhà chính trị bảo thủ nắm quyền.

Các nhà cải cách giành được quyền lực trong các chế độ chuyên chế theo ba cách. Thứ nhất, tại Tây Ban Nha và Đài Loan, những nhà lãnh đạo sáng lập và nắm quyền trong thời gian dài, Franco và Tưởng Giới Thạch (Chiang Kai-shek) chết. Những người kế nhiệm của họ, Juan Carlos và Chiang Ching-kuo, kế tục cái vỏ bọc bên ngoài, đáp ứng lại những thay đổi trọng yếu về xã hội và kinh tế đã diễn ra trong đất nước của họ, và bắt đầu quá trình dân chủ hóa. Ở Liên bang Xô Viết, cái chết của Leonid Brezhnev, Yuri Andropov, và Konstantine Chernenko chỉ trong vòng 3 năm đã cho phép Gorbachev lên nắm quyền. Về một nghĩa nào đó, Franco, Chiang, và Brezhnev đều chết đúng lúc; Đặng Tiểu Bình lại không như vậy.

Tại Brazil và Mê-hi-cô, chế độ chuyên chế tự bản thân nó đã đem đến thay đổi thường xuyên trong bộ phận lãnh đạo. Điều này làm cho việc giành lấy quyền lực của những nhà cải cách là có thể nhưng không cần thiết. Tại Brazil, có hai bè phái tồn tại trong giới quân đội. Sự đàn áp đạt tới đỉnh điểm vào giữa năm 1969 và 1972 trong nhiệm kỳ tổng thống của Tướng Emílio Médici, một người kiên định về lập trường. Trong một trận xung đột lớn trong nội bộ giới quân đội vào cuối nhiệm kỳ của ông này, một nhóm Sorbone mềm dẻo hơn về lập trường đã có thể đảm bảo được việc đề cử tướng Ernesto Geisel cho vị trí tổng thống, một phần vì anh trai của ông này là bộ trưởng chiến tranh. Được hướng dẫn bởi cộng sự chính của mình, Tướng Golbery do Couto e Silva, Geisel bắt đầu quá trình dân chủ hóa và hành động dứt khoát nhằm đảm bảo rằng ông sẽ đến lượt được kế tục vào năm 1978 trước một thành viên khác của nhóm Sorbonne, Tướng João Batista Figueiredo. Ở Mê-hi-cô, Tổng thống sắp mãn nhiệm José Lopez Portillo vào năm 1981 đã theo thông lệ chuẩn trong việc lựa chọn bộ trưởng tài chính và ngân sách của mình, Miguel de la Madrid, là người kế nhiệm. De la Madrid là một nhà tự do kinh tế và chính trị và, loại bỏ các ứng cử viên truyền thống và theo lối cũ hơn, đã chọn một nhà kỹ trị cải cách trẻ tuổi, Carlos Salinas, tiếp tục quá trình cởi mở này.

Ở những nơi mà các nhà lãnh đạo độc tài chưa chết và không thường xuyên thay đổi, các nhà cải cách dân chủ phải hất cẳng kẻ thống trị và thiết lập sự lãnh đạo tiền dân chủ. Trong các chính phủ quân đội, ngoại trừ Brazil, điều này đồng nghĩa với một cuộc lật đổ bằng đảo chính của một nhà lãnh đạo quân đội thay thế một nhà lãnh đạo quân đội khác: Morales Bermudez đã thay thế Juan Velasco ở Pêru; Alfredo Poveda thay thế Guillermo Rodríguez Lara ở Ecuador; Oscar Mejía thay thế Jose Rios Montt ở Guatemala; Murtala Muhammed thay thế Yacubu Gowon ở Nigeria. Trong chế độ một đảng như ở Hungary, các nhà cải cách đã huy động sức mạnh của họ và hạ bệ Janos Kadar kẻ thống trị lâu dài trong một hội nghị đặc biệt của đảng vào tháng 5/1988, thay thế ông này trong vị trí tổng bí thư bằng Karoly Grosz. Tuy nhiên, Grosz, lại chỉ là một nhà cải cách nửa vời, và một năm sau đó Ủy ban Trung ương Đảng đã thay thế ông ta bằng một đoàn chủ tịch gồm 4 người do những nhà cải cách chi phối. Vào tháng 10/1989 một trong số họ, Rezso Nyers, trở thành chủ tịch đảng. Ở Bulgaria vào mùa thu năm 1989, những nhà lãnh đạo đảng Cộng sản có tư tưởng cải cách đã hạ bệ Todor Zhivkov khỏi vị trí thống trị mà ông này đã nắm giữ trong suốt 35 năm. Những thay đổi trong sự lãnh đạo liên quan đến một vài các cuộc cải cách tự do hóa và dân chủ hóa được tóm tắt trong bảng dưới.

Sự thất bại của Tự do hóa. Một vấn đề quan trọng trong làn sóng thứ ba liên quan đến vai trò của các nhà cải cách tự do và sự ổn định của một chính thể chuyên chế đã được tự do hóa. Các nhà cải cách tự do những người kế tục những nhà lãnh đạo chính trị bảo thủ hóa ra lại thường là những nhân vật của quá trình chuyển đổi nhưng có quyền lực quá ngắn ngủi. Ở Đài Loan, Hungary, và Mê-hi-cô, những nhà tự do hóa thường nhanh chóng được kế tục bởi các nhà cải cách đi theo hướng dân chủ hóa nhiều hơn. Tại Brazil, mặc dù một vài nhà phân tích vẫn còn hồ nghi, có vẻ như khá có lý để thấy rõ ràng là Geisel và Golbery do Couto e Silva đã cam kết với dân chủ hóa thực chất ngay từ đầu. Thậm chí nếu họ chỉ có ý định tự do hóa hệ thống chuyên chế chứ không phải là thay thế hệ thống đó, João Figueiredo cũng vẫn đã mở rộng quá trình này thành quá trình dân chủ hóa. “Tôi phải làm cho đất nước này trở thành một nước dân chủ,” ông này đã nói như vậy năm 1978 trước khi nhậm chức, và ông quả là đã làm như vậy.

Tại Tây Ban Nha, Thủ tướng cứng rắn, Admiral Luis Carrero Blanco, bị ám sát tháng 12/1973, và Franco đã bổ nhiệm Carlos Arias Navarro kế tục cương vị thủ tướng. Arias là một nhà cải cách tự do kinh điển. Ông mong muốn sửa đổi chế độ của Franco nhằm duy trì chế độ đó. Trong một bài phát biểu nổi tiếng ngày 12 tháng 2 năm 1974, ông này đã đề nghị mở cửa và đề xuất một số các cải cách vừa phải bao gồm ví dụ như cho phép các đoàn thể chính trị hoạt động nhưng không phải là các đảng chính trị. Ông này “là một nhà bảo thủ và một kẻ ủng hộ Franco đến tận tim đến mức không thể thực hiện một quá trình dân chủ hóa chế độ một cách thực chất.” Những đề xuất cải cách của ông này đã bị phá hoại bởi những nhà chính trị bảo thủ của giới “boong-ke” trong đó có cả Franco; cùng lúc đó, những đề xuất này kích thích phe đối lập đưa ra yêu cầu cho một mở cửa rộng rãi hơn. Cuối cùng, Arias “làm mất uy tín về mở cửa chính xác như việc Luis Carrero Blanco đã làm mất uy tín về sự không dịch chuyển (cứng rắn).” Vào tháng 11/1975 Franco chết và Juan Carlos kế nhiệm là người đứng đầu nhà nước. Juan Carlos cam kết biến đổi Tây Ban Nha thành một nền dân chủ nghị viện thực sự theo kiểu Châu Âu, Arias chống cự lại sự thay đổi này, và vào tháng 7/1976 Juan Carlos thay thế ông này bằng Adolfo Suárez, người đã nhanh chóng tiến tới việc giới thiệu dân chủ vào Tây Ban Nha.

Quá trình chuyển đổi từ chế độ chuyên chế đã tự do hóa, tuy nhiên, lại cũng có thể bị tụt lùi cũng như tiến lên phía trước. Một mở cửa hạn chế có thể đem lại những mong chờ về thay đổi hơn nữa, điều có thể dẫn đến sự bất ổn định, chính biến và thậm chí bạo lực; khi đó, những mong muốn này có thể gây ra một phản ứng phản dân chủ và thay thế sự lãnh đạo tự do hóa bằng các lãnh đạo bảo thủ. Tại Hy Lạp, George Papadopoulos đã cố thử chuyển từ một nhà chính trị bảo thủ sang một lập trường tự do hóa; điều này dẫn đến cuộc biểu tình của sinh viên trường bách khoa và sự đàn áp đẫm máu cuộc biểu tình này; một phản ứng tiếp theo và Papadopoulos tự do hóa bị thay thế bởi Dimitrios Ioannidis một nhà chính trị cứng rắn. Tại Ác-hen-ti-na, Tướng Roberto Viola kế nhiệm nhà chính trị cứng rắn, Tướng Jorge Videla trong vai trò tổng thống và bắt đầu tự do hóa. Điều này tạo ra một phản ứng trong giới quân đội. Viola bị lật đổ, và thay thế bởi một nhà chính trị cứng rắn, Tướng Leopoldo Galtieri. Tại Trung Quốc, quyền lực tuyệt đối có lẽ nằm trong tay Đặng Tiểu Bình. Tuy nhiên, năm 1987, Đặng Tiểu Bình trở thành Tổng bí thư Đảng Cộng sản và bắt đầu mở cửa hệ thống chính trị. Điều này dẫn đến những cuộc diễu hành lớn của sinh viên tại Quảng trường Thiên An Môn vào mùa xuân năm 1989, mà từ đó dẫn đến phản ứng cứng rắn, đè nát phong trào sinh viên, hạ bệ Đặng và thay thế ông bằng Li Peng. Ở Miến Điện, Tướng Ne Win, người đã thống trị Miến Điện trong 26 năm, có vẻ bị cho về nghỉ hưu vào tháng 7/1988 và bị thay thế bởi Tướng Sein Lwin, một nhà chính trị cứng rắn khác. Các cuộc biểu tình và bạo lực ngày càng tăng mạnh đã buộc Sein Lwin phải rời bỏ vị trí sau ba tuần. Người kế nhiệm của ông này là nhà chính trị ôn hòa dân sự và liều lĩnh, Maung Maung, người đã đề nghị tổ chức các cuộc bầu cử và cố thử thương lượng với các nhóm đối lập. Tuy nhiên, các cuộc phản đối vẫn tiếp tục. và vào tháng 9 quân đội hạ bệ Maung Maung, chiếm quyền kiểm soát chính phủ và đàn áp đẫm máu các cuộc diễu hành, và chấm dứt phong trào hướng đến tự do hóa.

Những tình thế tiến thoái lưỡng nan của người chủ trương tự do hóa được phản ánh trong kinh nghiệm của P. W. Botha và Mikhail Gorbachev. Cả hai nhà lãnh đạo này đều đã giới thiệu những cải cách tự do hóa vào xã hội của họ. Botha nắm quyền lực năm 1978 với khẩu hiệu “Thích nghi hoặc chết” và hợp pháp hóa các công đoàn thương mại đen, hủy bỏ luật hôn nhân, thiết lập các khu vực thương mại hỗn hợp, trao quyền công dân cho những người da đen thành thị, cho phép người da đen có quyền làm chủ hoàn toàn đối với các khu thái ấp của họ, giảm mạnh mẽ nạn phân biệt chủng tộc đáng ghê tởm, tăng đầu tư đáng kể vào giáo dục cho người da đen, hủy bỏ luật hạn chế quyền đi lại của người da đen, tạo điều kiện cho các hội đồng cấp địa phương là người da đen trúng cử, và thiết lập các nhà quốc hội có đại diện cho cả người da màu và người châu Á, mặc dù họ không phải là người da đen. Gorbachev mở cửa cho tranh luận công khai, giảm đáng kể nạn kiểm duyệt, thách thức gay gắt quyền lực của hệ thống hành chính quan liêu của đảng Cộng sản, và đưa ra ít nhất các hình thức vừa phải của trách nhiệm của chính phủ đối với một cơ quan lập pháp được bầu cử. Cả hai nhà lãnh đạo này đều đưa ra hiến pháp mới trong xã hội của họ trong đó có đưa vào rất nhiều các sáng kiến cải cách và đồng thời cũng tạo ra vị trí mới và rất có quyền lực cho tổng thống, vị trí mà sau này họ sẽ nắm giữ. Tuy nhiên, có vẻ như cả Botha hay Gorbachev, không ai muốn thay đổi cơ bản trong hệ thống chính trị của họ. Các cuộc cải cách của họ được thiết kế nhằm cải thiện và làm hài hòa nhưng cũng để bênh vực cho hệ thống hiện hành khi đó và giúp làm cho hệ thống đó được chấp nhận hơn trong xã hội của họ. Bản thân họ cũng đã lặp đi lặp lại nói như vậy. Botha không có ý định kết thúc quyền lực của người da trắng; Gorbachev không có ý định kết thúc quyền lực của đảng cộng sản. Là những người chủ trương cải cách tự do họ muốn thay đổi nhưng cũng muốn duy trì hệ thống mà họ đang dẫn dắt và trong hệ thống hành chính quan liêu đó họ đã xây dựng toàn bộ sự nghiệp của mình.

Những sáng kiến cải cách về tự do hóa nhưng không phải dân chủ hóa của Botha kích thích những yêu cầu ngày càng tăng của người da đen Nam Phi về việc tham gia đầy đủ của họ trong hệ thống chính trị của nước này. Tháng 9/1984 các khu ngoại ô của người da đen bùng nổ các cuộc phản đối dẫn tới bạo lực, đàn áp, và việc triển khai lực lượng quân sự trong các khu thị tứ này. Các nỗ lực cải cách cũng đồng thời chấm dứt, và đâu đâu cũng xem Botha nhà cải cách như đã trở thành Botha nhà đàn áp. Quá trình cải cách chỉ được tiến hành lại vào năm 1989 khi Botha bị thay thế bằng F. W. de Klerk. Những cuộc cải cách rộng rãi hơn của Klerk đã bị Botha chỉ trích và dẫn đến việc ông này phải từ chức ra khỏi đảng Quốc gia. Năm 1989 và 1990 các cuộc cải cách tự do hóa nhưng không phải dân chủ hóa của Gorbachev cũng có vẻ như đã khuấy động biến động, các cuộc phản đối và bạo lực ở Liên bang Xô Viết. Cũng như ở Nam Phi, các nhóm nông dân thuộc công xã đánh lẫn nhau và đánh các quan chức trung ương. Thế khó xử cho Gorbachev là rõ rệt. Thẳng tiến tới quá trình dân chủ hóa toàn diện sẽ có nghĩa là không những chấm dứt quyền lực của đảng cộng sản ở Liên bang Xô Viết mà còn rất có nhiều khả năng chấm dứt sự tồn tại của chính Liên bang này. Chỉ đạo một phản ứng cứng rắn trước những biến động đồng nghĩa với việc kết thúc những nỗ lực cải cách kinh tế của ông, những mối quan hệ đã được cải thiện đáng kể với phương Tây, và hình ảnh toàn cầu của ông như một nhà lãnh đạo sáng tạo và mang tính nhân văn. Andrei Sakharov trực tiếp đưa ra các lựa chọn cho Gorbachev năm 1989: “Một sự dở dang giữa chừng trong những tình huống như thế này gần như là không thể. Đất nước này và cá nhân anh đang ở ngã ba đường – hoặc là tăng cường quá trình thay đổi đến mức cao nhất hoặc là cố duy trì hệ thống chỉ huy hành chính với tất cả các đặc tính của nó.”

Ở nơi được thử, quá trình tự do hóa gợi lên ham muốn thực hiện dân chủ hóa trong một số nhóm và ham muốn đàn áp trong các nhóm khác. Kinh nghiệm của làn sóng thứ ba rõ ràng cho thấy là chế độ chuyên chế đã được tự do hóa không là trạng thái thăng bằng ổn định; sự thỏa hiệp nửa vời giữa các lập trường đối lập không trụ vững được.

Tính hợp pháp ngược: đánh bại những nhà chính trị bảo thủ. Việc giành được quyền lực cho phép những nhà cải cách bắt đầu dân chủ hóa nhưng không xóa bỏ khả năng thách thức những nhà cải cách của những nhà chính trị bảo thủ. Các yếu tố của kẻ bảo thủ của cái đã từng là liên minh cầm quyền — nhóm “boongke” theo phe của Franco ở Tây Ban Nha, những kẻ cực đoan thuộc quân đội ở Brazil và các nước châu Mỹ latinh khác, những người theo trường phái Stalin ở Hungary, người canh gác già của lục địa ở KMT, các ông chủ của đảng và hệ thống quan liêu của PRI, phe cánh Verkrampte của đảng Quốc gia — không dễ dàng bỏ cuộc. Trong chính phủ, quân đội và cánh quan liêu của đảng, những nhà chính trị bảo thủ làm việc để dừng lại hoặc chậm lại các quá trình thay đổi. Trong các hệ thống không phải một đảng – Brazil, Ecuador, Peru, Guatemala, Nigeria, và Tây Ban Nha — các nhóm bảo thủ trong giới quân sự cố tiến hành các đợt đảo chính và nỗ lực đánh bật các nhà cải cách ra khỏi quyền lực. Tại Nam Phi và Hungary, các phe cánh bảo thủ tách ra khỏi các đảng có ảnh hưởng chi phối, buộc tội các đảng này là phản bội lại các nguyên tắc cơ bản của đảng.

Chính phủ cải cách cố vô hiệu hóa phe đối lập bảo thủ bằng cách làm suy yếu, làm yên lòng, và cải biến những nhà bảo thủ. Lật ngược lại được sự phản kháng của những người bảo thủ thường đòi hỏi phải có sự tập trung quyền lực trong tay cơ quan thực thi cải cách chính. Geisel khẳng định bản thân ông ta là “kẻ chuyên chế của sự xúi giục” nhằm loại bỏ giới quân sự Brazil ra khỏi chính trị. Juan Carlos thực hành tất cả quyền lực và các đặc quyền của mình trong việc đưa Tây Ban Nha đến dân chủ, không kém quan trọng là trong cuộc bầu cử bất ngờ của Suárez lên chức thủ tướng. Botha và Gorbachev, như chúng ta đã thấy, thiết lập nên văn phòng tổng thống mới và đầy uy quyền cho chính bản thân mình. Salinas ấn định mạnh mẽ quyền lực của ông trong suốt những năm đầu tiên ông này là tổng thống Mê-hi-cô.

Yêu cầu đầu tiên cho các nhà lãnh đạo chủ trương cải cách là làm trong sạch hệ thống quan liêu thuộc chính phủ, quân đội, và khi cần thiết, của cả đảng, thay thế những nhà bảo thủ trong các văn phòng trọng yếu bằng những người ủng hộ cải cách. Điều này thông thường được thực hiện theo cách thức có chọn lọc để không gây ra phản ứng quá mạnh và cũng để thúc đẩy sự phân chia trong nội bộ các cấp bậc của những nhà bảo thủ. Thêm vào với việc làm suy yếu những kẻ bảo thủ, các nhà lãnh đạo cải cách cũng phải cố làm yên lòng và cải biến họ. Trong các chế độ quân sự, những người cải cách lập luận rằng đã đến lúc phải quay lại, sau một giai đoạn chuyên chế cần thiết nhưng hạn chế, với các nguyên tắc dân chủ, những điều cơ bản của hệ thống chính trị của đất nước họ. Theo nghĩa đó, họ kêu gọi cho sự “quay trở về với tính hợp pháp”. Trong các hệ thống chuyên chế phi quân sự, các nhà cải cách cầu khẩn “tính hợp pháp ngược” và nhấn mạnh đến các yếu tố của việc tiếp tục với quá khứ. Ở Tây Ban Nha chẳng hạn, chế độ quân chủ được tái thiết lập và Suárez trung thành với những điều khoản của hiến pháp Franco trong việc xóa bỏ chính hiến pháp đó: không một người nào theo trường phái Franco có thể tuyên bố rằng đã có điều gì đó trái luật về mặt hình thức. Tại Mê-hi-cô và Nam Phi, những nhà cải cách trong PRI và đảng Quốc gia ném bỏ bản thân họ trong truyền thống của chính những đảng này. Ở Đài Loan, những nhà cải cách KMT kêu gọi thực hiện ba nguyên tắc của Tôn Trung Sơn (Sun Yat-Sen).

Tính hợp pháp ngược có hai sự hấp dẫn và hai ảnh hưởng: nó hợp pháp hóa trật tự mới bởi vì nó là sản phẩm của trật tự cũ, và nó hợp pháp hóa ngược trở lại trật tự cũ vì trật tự này đã sản sinh ra trật tự mới. Nó khêu ra được sự đồng lòng của tất cả trừ những người có quan điểm cực đoan đối lập, những người không có giá trị cho cả chế độ chuyên chế cũ trước đó và cho cả chế độ dân chủ mới sau này. Những nhà cải cách cũng kêu gọi những người bảo thủ trên cơ sở là họ đã mua tay trên phe đối lập cấp tiến và do đó đã hạn chế tối thiểu sự bất ổn và bạo lực. Suárez chẳng hạn đã yêu cầu quân đội Tây Ban Nha ủng hộ ông này vì chính những lý do này và thành phần có ảnh hưởng trong lực lượng quân đội đã chấp nhận quá trình chuyển đổi này vì “không có sự bất hợp pháp, không có sự vô trật tự trên đường phố, không có mối đe dọa hiển hiện nào cho sự sụp đổ và phá hoại/lật đổ”. Chắc chắn là những nhà cải cách cũng đã nhận thấy là, như Geisel đã nói, họ có thể “không tiến lên mà không có một vài lần rút quân” và rằng do đó khi có dịp, như vào năm 1977 với “gói tháng Tư” ở Brazil, họ phải nhượng bộ những người bảo thủ.

Kết nạp phe đối lập. Khi đã có quyền lực, những nhà cải cách dân chủ thường nhanh chóng bắt đầu quá trình dân chủ hóa. Điều này thường thông qua các lần hội đàm với lãnh đạo phe đối lập, lãnh đạo các đảng phái chính trị, và với các nhóm xã hội chính và tổ chức chính. Trong một vài trường hợp, các cuộc thương lượng tương đối chính thức đã diễn ra và những thỏa thuận hoặc hiệp ước tương đối rõ ràng đã được ký kết. Trong những trường hợp khác, các cuộc hội đàm và thương lượng thường mang tính không chính thức. Ở Ecuador và Nigeria, chính phủ chỉ định các ủy ban xây dựng kế hoạch và chính sách cho hệ thống mới. Ở Tây Ban Nha, Pê-ru, Nigeria và dần dần cả ở Brazil, hội đồng được bầu ra soạn thảo hiến pháp mới. Trong một vài trường hợp, trưng cầu dân ý được tiến hành để thông qua những thay đổi hiến pháp mới.

Khi các nhà cải cách gạt những người bảo thủ sang một bên ngay trong nội bộ liên minh cầm quyền, họ phải củng cố cho chính bản thân họ bằng việc xây dựng ủng hộ trong nội bộ phe đối lập và bằng việc mở rộng vũ đài chính chị và hấp dẫn các nhóm mới đang trở nên tích cực hơn trên trường chính trị như một kết quả của việc mở cửa. Những nhà cải cách tài ba sử dụng áp lực ngày càng tăng từ những nhóm này về dân chủ hóa nhằm làm suy yếu những nhà bảo thủ, và sử dụng mối nguy cơ về một cuộc đảo chính của những người bảo thủ cũng như sự hấp dẫn của một phần trong chiếc bánh quyền lực để làm mạnh thêm các nhóm trung hòa trong phe đối lập.

Để đạt được những mục đích này, những nhà cải cách trong chính phủ phải đàm phán với các nhóm đối lập chính và đi đến được những thỏa thuận rõ ràng hoặc ngầm với họ. Tại Tây Ban Nha chẳng hạn, đảng Cộng sản nhận ra là đảng này đã quá yếu để theo đuổi một “chính sách đứt gãy tiến bộ” và thay vào đó đã thực hiện một “hiệp ước đứt gãy” cho dù hiệp ước đó “hoàn toàn chỉ mang tính ẩn dụ”. Tháng 10/1977 Suárez giành được thỏa thuận với đảng Cộng sản và đảng Xã hội trước Pactos de la Moncloa bao gồm sự pha trộn của các biện pháp khổ hạnh khá gay gắt về kinh tế và một vài cải cách xã hội. Những cuộc đàm phán bí mật giữa Santiago Carrillo, lãnh đạo chính của đảng Cộng sản, “lợi dụng sự lo lắng của lãnh đạo đảng Cộng sản Tây Ban Nha (PCE) ở gần đòn bẩy quyền lực và đảm bảo ủng hộ ông này trong gói chương trình khổ hạnh.” Tại Hungary, các cuộc thương lượng thẳng thắn diễn ra vào mùa thu năm 1989 giữa đảng Cộng sản và nhóm Bàn Tròn Đối Lập đại diện cho các đảng và nhóm chính khác. Tại Brazil, những sự am hiểu không chính thức được xây dựng giữa chính phủ và các đảng đối lập, nhóm Phong trào Dân chủ cho Brazil (MDB) và đảng Phong trào Dân chủ cho Brazil (PMDB). Ở Đài Loan, năm 1986, chính phủ và phe đối lập đạt đến một thỏa thuận về các giới hạn mà trong đó thay đổi chính trị sẽ diễn ra, và trong một hội nghị kéo dài một tuần vào tháng 7/1990, thống nhất về một kế hoạch đầy đủ cho dân chủ hóa.

Trung hòa và hợp tác bởi phe đối lập dân chủ – sự tham gia của họ trong quá trình như những đối tác trẻ hơn – là quan trọng cho quá trình chuyển đổi thành công. Tại hầu hết các nước, các đảng đối lập chính – như MDB-PMDB của Brazil, những người Xã hội và Cộng sản ở Tây Ban Nha, đảng Tiến bộ Dân chủ (DPP) của Đài Loan, Diễn đàn Dân sự tại Hungary, Liên minh Nhân dân Cách mạng châu Mỹ (APRA) tại Peru, những nhà Dân chủ Thiên chúa giáo tại Chi-lê – đều được dẫn dắt bởi những người ôn hòa và theo chính sách ôn hòa, thỉnh thoảng phải đối mặt với sự khiêu khích đáng kể từ các nhóm bảo thủ trong nội bộ chính phủ. Tóm tắt của Thomas E. Skidmore về những gì đã diễn ra ở Brazil đã chính xác mô tả được mối quan hệ trung tâm này trong các quá trình chuyển đổi:

Cuối cùng, tự do hóa là sản phẩm của mối quan hệ biện chứng căng thẳng giữa chính phủ và phe đối lập. Giới quân đội ủng hộ abertura phải tiến hành với sự thận trọng, vì lo sợ sẽ làm khuấy động những người cứng rắn. Những lời đề nghị của họ cho phe đối lập được đưa ra nhằm lọc ra những thành tố “có trách nhiệm”, do đó chỉ ra là có những người ôn hòa sẵn sàng hợp tác với chính phủ. Cùng lúc đó, phe đối lập không ngừng gây áp lực lên chính phủ trong việc chấm dứt những sự vượt quá giới hạn chuyên quyền của nó, do đó nhắc nhở giới quân đội là sự thống trị của họ thiếu tính hợp pháp. Trong khi đó, những người ôn hòa trong phe đối lập phải nhắc nhở những người tiến bộ là họ sẽ làm lợi cho những kẻ cứng rắn nếu họ đi quá xa. Mối quan hệ chính trị phức tạp này vận hành thành công bởi vì giữa giới quân đội và dân sự có một sự nhất trí trong việc ủng hộ cho sự quay trở lại của một hệ thống chính trị (hầu như) mở.

Hướng dẫn cho những Người Chủ trương Dân chủ hóa 1: Cải cách Hệ thống Chuyên chế

Các bài học chính của các cuộc chuyển đổi của Tây Ban Nha, Brazil và ở nơi khác cho các nhà cải cách dân chủ trong các chính phủ chuyên chế gồm:

(1)    Đảm bảo cơ sở chính trị của bạn. Càng nhanh càng tốt sắp đặt những người ủng hộ dân chủ hóa vào các vị trí quyền lực quan trọng trong chính phủ, đảng và quân đội

(2)    Duy trì tính hợp pháp ngược, tức là, tạo ra những thay đổi thông qua các thủ tục đã được thiết lập của chế độ phi dân chủ trước đó và đảm bảo cho các nhóm bảo thủ bằng những nhượng bộ mang tính tượng trưng, tuân theo đường lối hai tiến một lùi.

(3)    Dần dần thay khu vực cử tri của chính bạn, để giảm sự phụ thuộc của bạn vào các nhóm thuộc chính phủ phản đối sự thay đổi và để mở rộng khu vực cử tri của bạn theo hướng thu hút sự ủng hộ của các nhóm đối lập nhưng ủng hộ dân chủ.

(4)    Hãy sẵn sàng là những người bảo thủ sẽ có một vài hành động cực đoan để chấm dứt thay đổi (ví dụ như một cố gắng làm đảo chính) – thậm chí có thể khuyến khích họ làm thế – và sau đó đè bẹp họ một cách không thương xót, cô lập và làm mất uy tín các thành phần cực đoan hơn chống đối lại thay đổi.

(5)    Chớp lấy và giữ quyền kiểm soát sáng kiến này trong toàn bộ quá trình dân chủ hóa. Chỉ nên dẫn dắt bằng sức mạnh và không bao giờ đưa ra các giải pháp dân chủ hóa chỉ để đáp ứng lại áp lực trước đó từ các nhóm đối lập tiến bộ cực đoan hơn.

(6)    Giữ cho các kỳ vọng ở mức độ thấp về việc thay đổi có thể đi xa đến đâu; nói chuyện bằng ngôn ngữ dưới dạng duy trì quá trình đang diễn ra hơn là dưới dạng đạt được một vài điều dân chủ không tưởng hoàn toàn được trau chuốt.

(7)    Khuyến khích phát triển một đảng đối lập có trách nhiệm và ôn hòa, mà các nhóm chính trong xã hội (bao gồm cả giới quân đội) sẽ chấp nhận như một chính phủ thay thế hợp lý và không mang tính đe dọa.

(8)    Tạo ra một không khí chung về tính không thể tránh được của quá trình dân chủ hóa để nó được rộng rãi chấp nhận như một con đường phát triển cần thiết và tự nhiên cho dù cho đối với một vài người điều này vẫn còn là một điều ít được mong đợi.

Phần III: Thay thế

Thay thế liên quan đến một quá trình rất khác biệt so với quá trình chuyển đổi. Các nhà cải cách trong nội bộ chế độ là rất yếu hoặc không tồn tại. Các nhân tố thống trị trong chính phủ là các nhà chính trị bảo thủ khăng khăng phản đối có sự thay đổi chế độ. Dân chủ hóa bởi vậy là kết quả của việc nhóm đối lập giành được sức mạnh và chính phủ mất sức mạnh cho đến khi chính phủ sụp đổ hoặc bị lật đổ. Các nhóm đối lập cũ giành được quyền lực và sau đó xung đột chuyển sang một giai đoạn mới vì các nhóm trong chính phủ mới cũng vật lộn giữa chúng với nhau về bản chất của chế độ mà họ nên xây dựng. Tựu chung lại, thay thế có liên quan đến 3 giai đoạn riêng biệt: đấu tranh để tạo ra sự sụp đổ, sụp đổ, và đấu tranh sau sụp đổ.

Hầu hết các quá trình dân chủ hóa trong làn sóng thứ ba đều đòi hỏi có sự hợp tác ít nhiều từ những người đương nhiệm. Chỉ có sáu thay thế đã diễn ra cho đến năm 1990. Thay thế là khá hiếm trong các chuyển đổi từ hệ thống một đảng (một trong 17 trường hợp) và chế độ quân sự (2 trong 16) và phổ biến hơn trong các chuyển đổi từ chế độ độc tài chuyên chế mang tính cá nhân (3 trong 7). Như chúng ta đã chỉ ra, với một vài ngoại lệ (Gandhi, Kenan Evren, Pinochet), những nhà lãnh đạo đã tạo ra các chế độ độc tài chuyên chế không tự kết thúc các chế độ đó. Sự thay đổi lãnh đạo trong nội bộ các chế độ chuyên chế trong các chế độ quân sự thường có vẻ xảy ra ở “giai đoạn 2” bằng các cuộc đảo chính, trong các hệ thống một đảng là thông qua việc kế nhiệm thông thường hoặc thông qua hành động của các cơ quan thuộc đảng được ủy nhiệm. Các kẻ độc tài, tuy nhiên, lại hiếm khi lui về nghỉ hưu một cách tự nguyện, và bản chất quyền lực của họ – thuộc cá nhân hơn là thuộc quân đội hay thuộc tổ chức – khiến cho các đối thủ phản đối trong nội bộ chế độ khó có thể hất cẳng họ, và thực vậy làm cho những người phản đối như vậy khó mà tồn tại với số lượng đáng kể hay có chút ít sức mạnh nào. Do đó, kẻ chuyên chế này có vẻ như sẽ nắm giữ quyền lực của mình cho tới tận khi ông ta chết hoặc cho tới khi bản thân chế độ sụp đổ. Cuộc đời của chế độ đó trở thành cuộc đời của nhà chuyên chế này. Về mặt chính trị và thỉnh thoảng về mặt văn học nữa (ví dụ như với Franco, Ceausescu), cái chết của những nhà chuyên chế độc tài này và của chế độ của họ thường xảy ra đồng thời.

Các nhà cải cách dân chủ đặc biệt rất yếu hoặc không có mặt trong các chế độ chuyên chế bị thay thế. Ở Ác-hen-ti-na và Hy Lạp, những nhà lãnh đạo tự do như Viola và Papadopoulos bị đẩy ra khỏi quyền lực và bị thay thế bởi những người cứng rắn thuộc giới quân sự. Tại Bồ Đào Nha, Caetano khởi xướng một vài cải cách tự do hóa và sau đó bị lật đổ do chính những cải cách này. Tại Philipines, Romania và Đông Đức, những người tùy tùng của Marcos, Ceausescu, và Erich Honecker có một vài, nếu có, các nhà dân chủ hoặc thậm chí các nhà tự do. Trong tất cả 6 trường hợp, những người bảo thủ giữ độc quyền về quyền lực, và khả năng khởi xướng cải cách từ ngay bên trong là gần như vắng bóng.

Một hệ thống chuyên chế tồn tại bởi vì chính phủ mạnh hơn về mặt chính trị so với phe đối lập. Nó sẽ bị thay thế khi chính phủ trở nên yếu hơn so với phe đối lập. Do đó, thay thế đòi hỏi phe đối lập phải hạ bệ chính phủ và chuyển cân bằng quyền lực nghiêng sang bên phe mình. Khi được khởi xướng, các chế độ chuyên chế trong làn sóng thứ ba luôn gần như rất phổ biến và được ủng hộ rộng rãi. Họ thường có sự hậu thuẫn của một liên minh rộng khắp của các nhóm. Theo thời gian, tuy nhiên, với bất cứ chính phủ nào, sức mạnh của họ bị suy giảm. Chế độ quân sự của Hy Lạp và Ác-hen-ti-na trải qua sự bẽ mặt từ sự bại trận. Các chế độ của Bồ Đào Nha và Philippine không thể thắng trong các cuộc chiến chống lại nổi loạn, và chế độ Philipine đã tạo ra một kẻ chết vì đạo và cướp bầu cử. Chế độ của Romania thực thi các chính sách tạo ra sự đối kháng sâu sắc của nhân dân và cô lập chính chế độ đó khỏi họ; do đó, chế độ đó dễ bị tổn thương trước ảnh hưởng tích lũy lớn của phong trào xóa bỏ chuyên chế trên toàn khu vực Đông Âu. Trường hợp của Đông Đức còn nhập nhằng hơn thế. Mặc dù chế độ đó tương đối thành công trong một vài khía cạnh, sự so sánh không thể tránh khỏi với Tây Đức là một điểm yếu cố hữu, và việc mở cửa hành lang quá cảnh qua Hungary đã làm xói mòn sâu sắc quyền uy của chế độ này. Giới lãnh đạo đảng từ chức vào đầu tháng 12 năm 1989, và một chính phủ tạm thời lên tiếp quản. Quyền lực của chế độ này tuy nhiên đã bốc hơi và với nó cũng như vậy cho những lý do tồn tại của một nhà nước Đông Đức.

Sự xói mòn những ủng hộ cho chế độ đôi khi xảy ra công khai, nhưng do đặc tính đàn áp của các chế độ chuyên chế, điều này thường xảy ra ngấm ngầm hơn. Các nhà lãnh đạo độc tài thường không ý thức được rằng họ đã bị mất uy tín đến như thế nào. Do đó, sự bất mãn ngấm ngầm tự bản thân nó hiện ra khi có một sự kiện khơi ngòi nào đó làm lộ ra điểm yếu của chế độ. Tại Hy Lạp và Ác-hen-ti-na, chính là sự thất bại quân sự. Tại Bồ Đào Nha và Đông Đức là sự chống đối hiển hiện đối với chế độ về nguồn gốc căn nguyên của quyền lực của chế độ đó – quân đội trong trường hợp của Bồ Đào Nha, Liên Bang Xô Viết trong trường hợp của Đông Đức. Các hành động của người Thổ Nhĩ Kỳ, quân đội Anh, quân đội Bồ Đào Nha và Gorbachev đã khích động và đem phơi bày công khai sự bất mãn chế độ từ các nhóm khác trong xã hội. Trong tất cả các trường hợp này, chỉ một vài nhóm yếu tập hợp lại để ủng hộ cho chế độ. Đã có nhiều người bất mãn với chế độ nhưng, bởi vì đây là chế độ chuyên chế, một sự kiện mang tính châm ngòi là cần thiết để kết tinh sự bất mãn như vậy.

Sinh viên nói chung luôn là phe đối lập; họ phản đối bất cứ chế độ nào tồn tại trong xã hội của họ. Tuy nhiên, bằng chính bản thân họ, sinh viên không hạ bệ chế độ. Thiếu sự ủng hộ to lớn từ các nhóm khác trong cộng đồng dân cư, họ bị đe dọa dưới họng súng của lực lượng quân đội và cảnh sát tại Hy Lạp tháng 11/1973, tại Miến Điện tháng 9/1988 và tại Trung Quốc tháng 6/1989. Giới quân sự luôn là sự ủng hộ cơ bản của các chế độ. Nếu họ rút lui sự ủng hộ của mình, nếu họ tiến hành đảo chính lật đổ chế độ, hoặc nếu họ từ chối sử dụng vũ lực chống lại những người đe dọa lật đổ chế độ, chế độ sẽ sụp đổ. Ở giữa sự chống đối không ngừng của sinh viên và sự ủng hộ cần thiết của giới quân sự là các nhóm khác mà sự ủng hộ hay chống đối của họ đối với chế độ sẽ phụ thuộc vào hoàn cảnh. Trong các hệ thống chuyên chế không phải cộng sản như Philipines, các nhóm này có xu hướng ly gián theo trình tự. Sự bất mãn của sinh viên được tiếp nối bằng sự bất mãn của giới trí thức nói chung và sau đó là của cánh lãnh đạo của các đảng chính trị tồn tại trước đó, mà nhiều người trong số họ đã ủng hộ hoặc ngầm đồng ý với sự tiếp quản của kẻ chuyên chế. Thông thường, những phạm vi rộng hơn của tầng lớp trung lưu – giới công nhân áo cổ cồn trắng, giáo sư, những người kinh doanh nhỏ – bị gạt ra ngoài. Trong một đất nước theo đạo Thiên chúa giáo, lãnh đạo nhà thờ cũng thường là những người chống đối đầu tiên và hiệu quả chế độ. Nếu công đoàn tồn tại và không hoàn toàn bị chính phủ kiểm soát, ở vào một thời điểm nào đó họ cũng sẽ gia nhập phe đối lập. Do đó, cũng như vậy và quan trọng nhất, các nhóm kinh doanh lớn hơn và giai cấp tư sản cũng gia nhập phe đối lập. Vào thời điểm thích hợp, nước Mỹ hoặc các nguồn lực ủng hộ của nước ngoài khác sẽ trở nên bất mãn. Cuối cùng và chắc chắn là giới quân sự sẽ quyết định không ủng hộ chính phủ nữa hoặc sẽ tích cực đứng về cùng phía với bên đối lập chống lại chính phủ.

Năm trong số 6 trường hợp thay thế, hệ quả là, với ngoại lệ là Ác-hen-ti-na, sự bất mãn quân sự là quan trọng để hạ bệ chế độ. Trong chế độ chuyên chế độc tài tại Bồ Đào Nha, Philipines và Romania, sự bất mãn này trong giới quân sự đã được đẩy mạnh bởi chính các chính sách của kẻ chuyên chế làm suy yếu tính chuyên nghiệp của quân đội, chính trị hóa và làm tham nhũng hóa giới sỹ quan, và tạo ra các lực lượng bán quân sự và an ninh cạnh tranh với lực lượng quân đội. Chống đối chính phủ thông thường (Bồ Đào Nha là trường hợp ngoại lệ duy nhất) phải rộng khắp trước khi quân đội rời bỏ chính phủ. Nếu sự bất mãn không lan rộng, thì đó là do những nguồn có khả năng sẽ chống đối nhất – tầng lớp trung lưu, giai cấp thượng lưu, các nhóm tôn giáo – quá nhỏ và yếu hoặc là bởi vì chế độ có được sự ủng hộ của các nhóm này, thường là kết quả của các chính sách phát triển kinh tế thành công. Ở Miến Điện và Trung Quốc, các lực lượng vũ trang đàn áp thô bạo các cuộc biểu tình phần lớn do sinh viên dẫn đầu. Trong các xã hội phát triển hơn về mặt kinh tế, đối lập với chế độ chuyên chế đòi hỏi phải có được sự ủng hộ rộng rãi hơn. Khi phe đối lập đổ ra đường ở Philipines, Đông Đức và Romania, các đơn vị quân đội đã không xả súng vào các nhóm có sự đại diện rộng rãi của đồng bào của họ.

Một hình ảnh phổ biến của các quá trình chuyển đổi dân chủ là các chính phủ đàn áp bị lật đổ bởi “quyền lực nhân dân”, sự huy động rộng rãi các công dân phẫn nộ đòi hỏi và dần dần bức ép phải có thay đổi chế độ. Một dạng thức nào đó của các hành động quần chúng đã diễn ra trong hầu hết các thay đổi chế độ trong làn sóng thứ ba. Tuần hành, biểu tình phản đối và đình công quần chúng đóng vai trò trung tâm, tuy nhiên chỉ trong sáu chuyển đổi đã hoàn thành hoặc đang diễn ra vào cuối những năm 1980.  Những trường hợp này bao gồm thay thế chế độ ở Philippines, Đông Đức, và Romania, và các quá trình chuyển dịch ở Hàn Quốc, Ba Lan, và Cộng hòa Séc và Slovakia. Tại Chi-lê, những hành động thường xuyên của quần chúng đã nỗ lực nhưng không thành công ngược kế hoạch chuyển đổi của Pinochet. Tại Đông Đức, duy nhất, cả “thoát ra” và “tiếng nói”, trong từ ngữ của Albert Hirschman, đóng vai trò chính, với biểu tình dưới hình thức đầu tiên là hàng loạt người dân đổ ra đường từ các vùng nông thôn và sau đó là hàng loạt các cuộc biểu tình diễn ra trên đường phố tại Leipzig và Berlin.

Ở Philippines, Bồ Đào Nha, Romania, và Hy Lạp, khi chế độ sụp đổ, nó sụp đổ rất nhanh. Ngày hôm trước chính phủ độc tài còn đang trên bệ quyền lực, ngày hôm sau nó đã không còn nữa. Ở Ác-hen-ti-na và Đông Đức, chế độ chuyên chế nhanh chóng bị tước bỏ tính hợp pháp nhưng vẫn bám lấy quyền lực trong khi nỗ lực đàm phán các điều khoản cho sự thay đổi chế độ. Ở Ác-hen-ti-na, chính phủ quân sự kế nhiệm của Tướng Reynaldo Bignone, lên nắm quyền tháng 7/1982 ngay sau khi chính quyền Falklands thất bại, đã “tương đối thành công” trong việc duy trì sự kiểm soát chế độ trong quá trình chuyển tiếp trong vòng 6 tháng. Tuy nhiên, tháng 12/1982, mức độ phản đối trong công chúng ngày càng tăng và sự phát triển của các tổ chức đối lập đã dẫn đến các cuộc biểu tình quần chúng, một cuộc đình công, thay đổi lại lịch bầu cử của Bignone, và sự từ chối của các đảng đối lập thống nhất về các điều kiện do giới quân sự đưa ra về việc chuyển giao quyền lực. Quyền lực của chế độ quân sự sắp mãn nhiệm tiếp tục trở nên xấu hơn cho đến khi bị thay thế bởi chính phủ Alfonsín đắc cử tháng 10/1983. “Là một chính phủ quân sự sụp đổ,” như một nhà văn đã quan sát được; “nó không có ảnh hưởng lên việc lựa chọn các ứng cử viên hay cho việc bầu cử cho chính bản thân mình, nó không loại trừ bất cứ ai, và cũng không có quyền lực cũng không có đặc quyền phủ quyết cho chính nó trong tương lai. Thêm vào đó, nó không thể đảm bảo quyền tự trị của mình về chính phủ hợp hiến trong tương lai hay hứa hẹn về một chính sách quân sự tương lai, và thậm chí còn kém hơn – tùy ứng cử viên thắng cử là ai – nền tảng cho một thỏa thuận về cuộc đấu tranh còn tiếp diễn chống lại những người hoạt động du kích.” Ở Đông Đức đầu năm 1990 một tình huống tương tự như vậy cũng tồn tại, với một chính phủ cộng sản yếu và bất tín nhiệm bám víu lấy quyền lực, và thủ tướng của chính phủ này, Hans Modrow, với vai trò giống như của Bignone.

Tầm quan trọng trong các quá trình chuyển tiếp về tính tiếp tục hình thức và tính hợp pháp ngược là thiếu vắng trong các quá trình thay thế. Các tổ chức, thủ tục, ý kiến, và các cá nhân nối kết với chế độ trước đó được coi là bại hoại và tầm quan trọng là ở một gián đoạn sắc và sạch khỏi quá khứ. Những ai thắng những kẻ thống trị chuyên chế đặt nền tảng cho sự thống trị của họ trên “tính hợp pháp thuận”, những cái mà họ sẽ mang đến trong tương lai, và sự không liên quan hoặc không có mối liên lạc nào với chế độ trước đó.

Trong các quá trình chuyển tiếp và chuyển dịch, các nhà lãnh đạo của các chế độ chuyên chế thường rời bỏ chính trị và quay về các trại lính hoặc cuộc sống riêng tư một cách thầm lặng và với một ít sự kính trọng và danh dự. Các nhà lãnh đạo chuyên chế bị mất quyền lực qua thay thế, ngược lại, trải qua những số phận không vui vẻ gì. Marcos và Caetano bị buộc phải đi đày. Ceausescu bị xử tử ngay tức khắc. Các sỹ quan quân đội, người đã điều hành Hy Lạp và Ác-hen-ti-na, đã bị đưa ra xét xử và tống giam. Ở Đông Đức, trừng phạt bị đe dọa dành cho Honecker và các nhà lãnh đạo cũ khác, không khi đó hoàn toàn ngược lại, thiếu vắng những hành động như vậy ở Ba Lan, Hungary và Séc và Slôvakia. Những kẻ độc tài bị loại bỏ bởi sự can thiệp của nước ngoài ở Grenada và Panama đều tương tự là đối tượng bị đưa ra truy tố và trừng phạt.

Sự sụp đổ một cách hòa bình của chế độ chuyên chế thường tạo ra một khoảnh khắc huy hoàng nếu không nói là ngắn ngủi của một trạng thái phởn phơ của công chúng, hoặc hoa và rượu sâm-panh, những thứ hoàn toàn không có trong các quá trình chuyển đổi. Sự sụp đổ cũng tạo ra một chân không tiềm năng của quyền lực thiếu vắng trong các quá trình chuyển tiếp. Tại Hy Lạp và Philippines, chân không này nhanh chóng được lấp đầy bằng sự nhậm chức của Constantine Karamanlis và Corazon C. Aquino, những nhà lãnh đạo chính trị nổi tiếng đã hướng dẫn đất nước họ tới dân chủ. Tại Iran, chân không quyền lực này được lấp đầy bằng thủ lĩnh cao tuổi Hồi giáo, người đã đưa Iran đến một chỗ nào đó. Ở Ác-hen-ti-na và Đông Đức, chính phủ của Bignone và Modrow lấp đầy một cách yếu ớt vai trò tạm thời giữa sự sụp đổ của chế độ chuyên chế và bầu cử ra chính phủ dân chủ.

Trước khi sụp đổ, các nhóm đối lập thống nhất lại với nhau do mong muốn chung là muốn sự sụp đổ diễn ra. Sau khi sụp đổ, các chia cắt xuất hiện trong các nhóm này và họ đấu tranh với nhau về việc phân chia quyền lực và bản chất của chế độ mới phải được thiết lập. Số phận của dân chủ được quyết định bởi quyền lực tương đối của các nhà ôn hòa dân chủ và những người cấp tiến phi dân chủ. Tại Ác-hen-ti-na và Hy Lạp, các chế độ chuyên chế ở đây đã không có quyền lực trong thời gian dài, các đảng chính trị nhanh chóng xuất hiện trở lại, và một thỏa hiệp nổi trội tồn tại giữa các nhà lãnh đạo chính trị và các nhóm về nhu cầu phải nhanh chóng tái thiết lập các thể chế dân chủ. Tại Philippines các phản đối dân chủ ngấm ngầm, ngoài nổi dậy của NPA, cũng rất nhỏ.

Ở Nicaragua, Iran, Bồ Đào Nha và Romania, sự sụp đổ đột ngột của các nhà độc tài đã dẫn đến các cuộc đấu tranh giữa các nhóm và đảng đối lập cũ về việc ai sẽ thực thi quyền lực và loại chế độ nào sẽ được thiết lập. Tại Nicaragua và Iran, những người ôn hòa dân chủ bị thua và bị loại. Tại Bồ Đào Nha, một nhà nước của sự náo động cách mạng đã tồn tại giữa tháng 4/1974 và tháng 11/1975. Một sự hợp nhất quyền lực bởi liên minh Marxist-Leninist phi dân chủ của đảng Cộng sản và các sỹ quan quân sự cánh tả là hoàn toàn có thể. Cuối cùng, sau những cuộc đấu tranh căng thẳng giữa các phe phái đối nghịch trong giới quân sự, các cuộc tổng động viên quần chúng, tuần hành, và đình công, hành động quân sự của António Ramalho Eanes đã ấn định Bồ Đào Nha trên con đường dân chủ. “Cái đã bắt đầu là một cuộc đảo chính,” như Robert Harvey nhận xét, “đã trở thành một cuộc cách mạng được ngăn lại bằng chỉ một phản ứng trước khi nó trở thành tình trạng hỗn loạn vô chính phủ. Trong sự hỗn loạn, dân chủ được sinh ra.”

Các lựa chọn ở Bồ Đào Nha là giữa nền dân chủ tư sản và chuyên chế Marxist- Leninist. Lựa chọn ở Romania vào năm 1990 ít rõ ràng hơn, nhưng dân chủ cũng không thể tránh khỏi. Việc thiếu các đảng và nhóm đối lập được tổ chức hiệu quả, việc thiếu vắng các kinh nghiệm trước đó với dân chủ, bạo lực đi cùng với việc hạ bệ Ceausescu, mong muốn sâu thẳm được trả thù những người có liên hệ với nhà độc tài kết hợp cùng với sự liên quan rộng rãi của phần nhiều của dân chúng với nhà độc tài, rất nhiều nhà lãnh đạo của chính phủ mới, những người đã từng là một phần của chế độ cũ – tất cả là điềm tốt cho sự nổi lên của dân chủ. Vào cuối năm 1989 một số người Romania đã nhiệt tình so sánh những gì đang xảy ra trong đất nước họ với những gì đã xảy ra hai trăm năm trước đó tại Pháp. Cũng có thể họ đã ghi nhận là Cách mạng Pháp đã kết thúc bằng một chế độ độc tài quân sự.

Hướng dẫn cho các Nhà Dân chủ lật đổ Chế độ Chuyên chế

Lịch sử của các cuộc thay thế gợi lên những hướng dẫn dưới đây dành cho các nhà ôn hòa dân chủ đối lập cố thử lật đổ một chế độ chuyên chế:

(1)    Tập trung sự chú ý ðến tính bất hợp pháp hoặc hợp pháp mơ hồ của chế độ chuyên chế; đây chính là điểm yếu nhất của chế độ này. Tấn công chế độ này ở những vấn đề chung là những quan tâm rộng rãi, như tham nhũng và tính tàn bạo. Nếu chế độ này hoạt động thành công (nhất là về kinh tế) thì những cuộc tấn công như vậy sẽ không hiệu quả. Khi hoạt động của nó dao động (vì nó phải), nêu bật tính bất hợp pháp của chế độ này trở thành đòn bẩy duy nhất quan trọng nhất cho việc ðánh bật nó ra khỏi vị trí quyền lực.

(2)    Cũng như các nhà lãnh đạo dân chủ, những kẻ thống trị độc tài theo thời gian gạt ra ngoài những người ủng hộ cũ của mình. Khuyến khích các nhóm bất mãn này ủng hộ dân chủ như một thay thế cần thiết cho hệ thống hiện hành. Đặc biệt nỗ lực đưa vào danh sách các nhà lãnh đạo kinh doanh, giáo sư tầng lớp trung lưu, các nhân vật tôn giáo và lãnh đạo các đảng chính trị, phần lớn những người này có lẽ đã ủng hộ việc thiết lập chế độ chuyên chế hiện thời. Phe đối lập hiện ra càng “đáng tôn trọng” và “có trách nhiệm”, càng dễ cho phe này giành được nhiều người ủng hộ hơn.

(3)    Nuôi mầm những vị tướng. Trong phân tích cuối cùng, liệu chế độ có sụp đổ hay không phụ thuộc vào việc liệu các vị tướng lĩnh quân đội có ủng hộ chế độ hay không, liệu họ có ủng hộ bạn tham gia vào phe đối lập chống lại chế độ hay không, hay họ sẽ đứng nhìn từ bên lề. Ủng hộ của giới quân sự có thể có ích khi khủng hoảng xảy ra, nhưng trên tất cả điều bạn thực sự cần là sự không sẵn lòng của giới quân sự trong việc bảo vệ cho chế ðộ hiện thời.

(4)    Thực hành và chủ trương phi bạo lực. Trong nhiều thứ khác, điều này sẽ làm cho bạn dễ dàng hơn thắng lại các lực lượng an ninh: lính thường không có xu hướng cảm thông với ai đã từng uống cốctai Molotov với họ.

(5)    Chớp lấy mọi cơ hội bày tỏ sự đối lập với chế độ, bao gồm cả việc tham gia vào các cuộc bầu cử do chế độ hiện hành tổ chức.

(6)    Xây dựng các mối quan hệ với giới truyền thông quốc tế, các tổ chức nhân quyền nước ngoài, và các tổ chức xuyên quốc gia như nhà thờ. Đặc biệt, huy động những người ủng hộ ở Mỹ. Đại biểu quốc hội Hoa Kỳ luôn tìm kiếm các nguyên cớ đạo đức để làm cho thiên hạ biết đến họ và để sử dụng chống lại hệ thống hành chính Hoa Kỳ. Kịch tính hóa sự nghiệp của bạn cho họ và cung cấp cho họ tài liệu với các cơ hội được chụp ảnh và lên hình trên truyền hình và với các bài phát biểu có thể trở thành các tin bài chính.

(7)    Tăng cường thống nhất trong các nhóm đối lập. Cố tạo ra các tổ chức bảo trợ toàn diện điều phối hợp tác giữa các nhóm như vậy. Điều này sẽ khó và như trong ví dụ của Philippines, Chile, Hàn Quốc, và Nam Phi cho thấy, những kẻ thống trị độc tài thường là chuyên gia trong việc xúc tiến tình trạng chia rẽ trong phe đối lập. Một bài thử về các tố chất của bạn để trở thành một nhà lãnh đạo dân chủ của đất nước mình là khả năng của bạn vượt qua những thách thức này và có biện pháp nào đó đảm bảo sự đoàn kết trong nội bộ phe đối lập. Hãy ghi nhớ sự thật của Gabriel Almond: “Nhà lãnh đạo vĩ đại là người xây dựng liên minh tài ba.”

(8)    Khi chế độ chuyên chế sụp đổ, hãy chuẩn bị sẵn sàng nhanh chóng lấp đầy chân không quyền lực được tạo ra sau đó. Có thể làm điều này bằng cách: đưa ra một vị lãnh đạo nổi tiếng, có uy tín, theo khuynh hướng dân chủ; mau chóng tổ chức bầu cử để đem lại tính hợp pháp rộng rãi cho một chính phủ mới; và xây dựng tính hợp pháp quốc tế bằng cách lấy sự ủng hộ của các nhân vật nước ngoài và xuyên quốc gia (các tổ chức quốc tế, Mỹ, Cộng đồng châu Âu, Nhà thờ Thiên chúa giáo). Hãy nhận thức rằng một số đối tác liên minh cũ của bạn sẽ muốn thiết lập một chế độ chuyên chế mới của riêng họ và thầm lặng tổ chức những người ủng hộ dân chủ lại để chống lại nỗ lực này nếu họ thực hiện được.

Phần kết: CÁC QUÁ TRÌNH CHUYỂN DỊCH

Trong các quá trình chuyển dịch, dân chủ hóa được sinh ra từ các hành động kết hợp của chính phủ và phe đối lập. Trong nội bộ chính phủ cân bằng quyền lực giữa những người bảo thủ và những người chủ trương cải cách là cái mà chính phủ sẵn lòng thương lượng cho một sự thay đổi chế độ – không giống như tình huống khi sự thống trị của các nhà bảo thủ dẫn đến quá trình thay thế – nhưng nó không sẵn lòng khởi xướng một sự thay đổi chế độ. Nó phải bị thúc đẩy và/hoặc lôi kéo vào các cuộc thương lượng chính thức hoặc không chính thức với phe đối lập. Ngay trong nội bộ phía đối lập, các nhà chính trị ôn hòa dân chủ cũng đủ mạnh để chiếm ưu thế các nhà cấp tiến phi dân chủ, nhưng họ không đủ mạnh để lật đổ chính phủ. Do đó, họ cũng thấy tác dụng trong thương lượng.

Gần 11 trong số 35 tự do hóa và dân chủ hóa đã diễn ra hoặc bắt đầu trong thập niên 70 và 80 gần giống mô hình chuyển dịch. Những mô hình điển hình nhất là ở Ba Lan, Séc và Slôvakia, Uruguay và Hàn Quốc; những thay đổi chế độ ở Bolivia, Honduras, El Salvador và Nicaragua cũng có những yếu tố quan trọng của chuyển dịch. Ở El Salvador và Honduras, các cuộc thương lượng một phần là với chính phủ Mỹ, đóng vai trò giống như một người đại diện cho những người ôn hòa dân chủ. Năm 1989 và 1990, Nam Phi bắt đầu quá trình chuyển dịch, và Mông Cổ và Nê-pan cũng có vẻ như đang di chuyển theo cùng hướng đó. Một số đặc điểm của chuyển dịch cũng có mặt ở Chi-lê. Chế độ Pinochet tuy nhiên đã đủ mạnh để kháng cự lại sức ép từ phía đối lập để thương lượng quá trình dân chủ hóa và kiên quyết không nhượng bộ giữ vững kế hoạch thay đổi chế độ mà nó đã đặt ra vào năm 1980.

Trong các quá trình chuyển dịch thành công, các nhóm có ảnh hưởng trong cả chính phủ và phe đối lập nhận ra là họ không có khả năng để đơn phương quyết định bản chất của chế độ chính trị tương lai của xã hội của họ. Các nhà lãnh đạo chính phủ và phe đối lập thường phát triển những quan điểm này sau khi đã thử thách sức mạnh của nhau và giải quyết trong một phép biện chứng chính trị. Ban đầu, phe đối lập thường tin rằng nó có thể sẽ đem đến sự sụp đổ của chính phủ ở vào một thời điểm nào đó trong một tương lai không quá xa. Niềm tin này về mặt cơ hội là quá phi thực tế, nhưng chừng nào các nhà lãnh đạo đối lập giữ vững niềm tin này, các cuộc thương lượng nghiêm túc với chính phủ tỏ ra là không thể. Ngược lại, chính phủ ban đầu thường tin là nó có thể kìm chân và ngăn cản phe đối lập mà không cần phải mất chi phí không thể chấp nhận được. Chuyển dịch diễn ra khi cả hai niềm tin này của hai phía thay đổi.

Những người đối lập nhận ra rằng họ không đủ mạnh để lật đổ chính phủ. Chính phủ nhận ra rằng phe đối lập đủ mạnh để làm tăng chi phí của việc không thương lượng khi làm chính phủ phải tăng đàn áp dẫn đến việc liên kết thêm của các nhóm của chính phủ, tăng chia rẽ trong nội bộ nhóm liên minh cầm quyền, tăng khả năng cướp chính quyền của nhóm những người cứng rắn, và tổn thất đáng kể tính hợp pháp của chính quyền trên trường quốc tế. Việc chuyển dịch mang tính biện chứng (2 chiều) này thường bao gồm một chuỗi đặc trưng các bước. Đầu tiên, chính phủ tham gia vào một quá trình tự do hóa nào đó và bắt đầu mất quyền lực và uy quyền. Thứ hai, phe đối lập tận dụng sự suy yếu và tình trạng lỏng lẻo này của chính phủ để mở rộng sự ủng hộ của mình và tăng cường các hoạt động của phe này với hy vọng là phe này sẽ nhanh chóng hạ bệ được chính phủ. Thứ ba, chính phủ chống trả bằng vũ lực để kiềm chế và trấn áp việc huy động quyền lực chính trị của phe đối lập. Thứ tư, lãnh đạo của chính phủ và của phe đối lập nhận thấy nổi lên một sự cách biệt và bắt đầu tìm kiếm các khả năng cho một quá trình chuyển tiếp được thương lượng. Tuy nhiên, bước thứ tư này lại không phải là không thể tránh khỏi. Thật không thể tin được là chính phủ, có lẽ sau khi có sự thay đổi lãnh đạo, lại có thể thô bạo sử dụng các lực lượng quân đội và cảnh sát để thiết lập lại quyền lực của mình, ít nhất là tạm thời. Hoặc phe đối lập có thể tiếp tục phát triển sức mạnh của mình, làm xói mòn hơn nữa quyền lực của chính phủ và cuối cùng dẫn đến sự sụp đổ của chính phủ. Do đó, các quá trình chuyển dịch đòi hỏi phải có sự cân bằng tương đối nào đó về sức mạnh giữa chính phủ và phe đối lập cũng như là sự không chắc chắn của mỗi bên về việc ai sẽ vượt lên trên trong một cuộc thử sức quan trọng về sức mạnh. Trong bối cảnh đó, những rủi ro của thương lượng và thỏa hiệp có vẻ ít hơn rủi ro trong đối đầu và thảm họa.

Quá trình chính trị dẫn đến chuyển dịch do đó thường một mặt được đánh dấu bằng một tình trạng bập bênh kéo tới kéo lui của các cuộc biểu tình, phản đối và diễu hành, và mặt khác là trấn áp, bỏ tù, bạo lực của cảnh sát, các giai đoạn của thời kỳ o bế, và thiết quân luật. Các giai đoạn phản đối và trấn áp tại Ba Lan, Séc và Slôvakia, Uruguay, Hàn Quốc và Chilê cuối cùng đều dẫn đến các thỏa thuận được thương lượng giữa chính phủ và phe đối lập trong tất cả các trường hợp ngoại trừ Chilê.

Ở Uruguay chẳng hạn, các cuộc biểu tình và diễu hành ngày càng tăng trong mùa thu năm 1983 đã đẩy các cuộc thương lượng lên đến mức quân đội phải rút lui khỏi quyền lực. Ở Bolivia năm 1978 “một loạt các cuộc xung đột và phong trào phản đối” đã là tiền đề cho việc đồng ý của giới quân sự về một thời gian biểu cho các cuộc bầu cử. Ở Hàn Quốc cũng như ở Uruguay, chế độ quân sự trước đó đã dùng vũ lực trấn áp các cuộc biểu tình. Tuy nhiên vào mùa xuân năm 1987, các cuộc tuần hành trở nên đông đảo hơn và với sự tham gia của nhiều tầng lớp hơn, và càng ngày càng lôi cuốn sự tham gia của tầng lớp trung lưu. Đầu tiên chính phủ phản ứng lại theo cách thông thường nhưng sau đó phải thay đổi phương pháp, đồng ý thương lượng và chấp nhận những đòi hỏi chính của phe đối lập. Ở Ba Lan các cuộc biểu tình năm 1988 cũng có tác động tương tự. Đúng như một nhà bình luận giải thích, “các cuộc biểu tình đã làm cho các cuộc hội đàm bàn tròn không những trở nên có thể mà còn trở thành cần thiết – cho cả hai phía. Trớ trêu thay, các cuộc biểu tình đã đủ mạnh để buộc những người cộng sản phải đi đến các cuộc thương lượng bàn tròn, nhưng vẫn còn quá yếu để các nhà lãnh đạo của đảng Đoàn kết có thể từ chối thương lượng. Đó là lý do tại sao các cuộc thương lượng bàn tròn đã diễn ra.”

Trong các quá trình chuyển dịch, cuộc đối đầu trực diện trong khuôn khổ chật hẹp của trung tâm thủ đô giữa những người biểu tình quần chúng và các hàng dài cảnh sát bộc lộ sức mạnh và các điểm yếu của mỗi bên. Phe đối lập có thể huy động sự ủng hộ của quần chúng; chính phủ có thể ngăn chặn và chống lại sức ép từ phía đối lập.

Chính trị ở Nam Phi thập kỷ 80 cũng tiến triển theo mô hình bốn bước. Trong những năm cuối thập kỷ 70, P. W. Botha bắt đầu quá trình cải cách tự do hóa, làm rộ lên những niềm mong đợi của người da đen và sau đó khiến họ tức giận khi mà hiến pháp năm 1983 từ chối người da đen một vai trò chính trị cấp quốc gia. Điều này dẫn đến các cuộc nổi dậy tại các thành phố của người da đen vào các năm 1984 và 1985, khơi dậy niềm hy vọng của người da đen rằng sự sụp đổ của chế độ do người châu Phi gốc Âu (da trắng) sắp xảy ra. Sự đàn áp bằng bạo lực và đầy hiệu quả của chính phủ đối với những người bất đồng quan điểm người da đen và da trắng sau đó buộc phe đối lập phải điều chỉnh đáng kể những niềm hy vọng của họ. Cùng thời gian đó, các cuộc nổi dậy thu hút sự chú ý của quốc tế, làm gợi lên sự chỉ trích cả hệ thống phân biệt chủng tộc ở Nam Phi và các sách lược của chính phủ ở đây, và dẫn đến việc chính phủ Mỹ và chính phủ các nước châu Âu tăng cường các lệnh trừng phạt kinh tế chống lại Nam Phi. Khi các hy vọng cho cuộc cách mạng của các thành viên cực đoan của đảng Nghị hội Quốc gia châu Phi (ANC) suy giảm, những nỗi lo lắng của chính phủ do đảng Quốc gia cầm quyền về tính hợp  pháp quốc tế và thất bại kinh tế tăng. Giữa thập niên 1970, Joe Slovo, chủ tịch của đảng Cộng sản Nam Phi và tổ chức quân sự của ANC, đã biện luận rằng ANC có thể lật đổ chính phủ và giành được quyền lực bằng chiến tranh du kích lâu dài và cách mạng. Cuối những năm 1980, ông này vẫn gắn bó với phương cách sử dụng bạo lực, nhưng nhận thấy các cuộc thương lượng có vẻ như con đường thuận lợi hơn dẫn đến việc đạt được các mục tiêu của ANC. Sau khi trở thành tổng thống của Nam Phi năm 1989, F. W. de Klerk cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của các cuộc thương lượng. Bài học của Rhodesia, ông nói, là “khi cơ hội cho thương lượng thực chất và mang tính xây dựng đến, nó đã không được bắt lấy … Đã có gì đó sai vì trong thực tế của các bối cảnh của mình, họ đã đợi quá lâu trước khi tham gia vào cuộc thương lượng và đối thoại cơ bản. Chúng ta phải không tạo ra sai lầm, và chúng ta quyết tâm không lặp lại sai lầm đó.” Cả hai nhà lãnh đạo chính trị này đều học từ chính kinh nghiệm của họ và từ kinh nghiệm của người khác.

Trái lại, ở Chilê, chính phủ muốn và có thể tránh thương lượng. Các cuộc biểu tình lớn nổ ra vào mùa xuân năm 1983, nhưng một cuộc biểu tình rộng khắp trên cả nước đã bị chính phủ trấn áp. Đầu tháng Năm năm 1983, phe đối lập tổ chức các cuộc diễu hành hàng tháng quy mô lớn vào “Những Ngày Biểu Tình Quốc Gia”. Những cuộc biểu tình này bị tan vỡ do cảnh sát, thường với một vài người bị giết. Các vấn đề kinh tế và các cuộc biểu tình của phe đối lập đã buộc chính phủ của Pinochet phải khởi xướng một cuộc đối thoại với phe đối lập.  Nhưng sau đó nền kinh tế bắt đầu hồi phục, và các tầng lớp trung lưu trở nên lo lắng khi luật pháp và trật tự bị phá vỡ. Một cuộc biểu tình trên toàn quốc vào tháng 10 năm 1984 đã bị đẩy lùi với nhiều đổ máu. Ngay sau đó chính phủ áp đặt trở lại tình trạng bao vây đã được bãi bỏ năm 1979. Các nỗ lực của phe đối lập do đó đã bị thất bại trong việc lật đổ chính phủ hoặc trong việc đưa chính phủ vào các cuộc thương lượng có ý nghĩa. Phe đối lập đã “đánh giá quá cao sức mạnh của mình và đánh giá quá thấp thực lực của chính phủ.” Nó cũng đã đánh giá quá thấp sự ngoan cường và kỹ sảo chính trị của Pinochet và sự sẵn sàng của các lực lượng an ninh Chilê chĩa súng bắn vào những người biểu tình dân thường không có vũ trang.

Chuyển dịch đòi hỏi các nhà lãnh đạo của cả hai phía sẵn sàng rủi ro với các cuộc thương lượng. Sự chia rẽ ý kiến về các cuộc thương lượng thường tồn tại trong nội bộ giới lãnh đạo cầm quyền chóp bu. Có khi những nhà lãnh đạo cấp cao phải bị gây áp lực bởi các cộng sự của họ và bởi hoàn cảnh để có thể đi đến đàm phán với phe đối lập. Ví dụ như vào năm 1989, Adam Michnik đã cho rằng Ba Lan, giống như Hungary, đã đi theo “cách thức thực hiện dân chủ của Tây Ban Nha”. Ở một mức độ, ông này đúng ở chỗ cả hai quá trình chuyển tiếp của Tây Ban Nha và Ba Lan đều về cơ bản khá yên bình. Tuy nhiên ở một mức độ cụ thể hơn, câu chuyện Tây Ban Nha không hoàn toàn đúng cho câu chuyện xảy ra ở Ba Lan vì Wojciech Jaruzelski không phải là một Juan Carlos hay Suárez (trong khi đó Imre Pozsgay của Hungary lại là như vậy trong một chừng mực đáng kể). Jaruzelski là một nhà dân chủ còn lưỡng lự, và trước sự suy sút của đất nước và chế độ của chính ông ta mới bị thúc đẩy tham gia vào các cuộc thương lượng với đảng Đoàn kết. Ở Uruguay, tổng thống Tướng Gregorio Alvarez, muốn kéo dài quyền lực của mình và trì hoãn dân chủ hóa và buộc phải chấp nhận tiếp tục thay đổi chế độ khi có sức ép của các thành viên khác của hội đồng quân sự. Ở Chilê, tướng Pinochet có phần cũng tương tự như vậy dưới sức ép của các thành viên khác của hội đồng, đặc biệt từ người chỉ huy lực lượng không quân, Tướng Fernando Matthei, tỏ ra sẵn sàng giúp đỡ hơn trong khi giải quyết việc với phe đối lập, nhưng Pinochet đã thành công trong việc chống cự lại được trước sức ép này.

Ở các nước khác, những thay đổi diễn ra ngay trong việc lãnh đạo cấp cao trước khi các cuộc thương lượng nghiêm túc với phe đối lập diễn ra. Ở Hàn Quốc, chính phủ của Tướng Chun Doo Hwan thực hiện chính sách bảo thủ cứng rắn trước các yêu sách nhằm mục đích gây bế tắc của phe đối lập và hoạt động trấn áp phe đối lập. Tuy nhiên, vào năm 1987, đảng cầm quyền đã chỉ định Roh Tae Woo là ứng cử viên của đảng này kế tục Chun. Roh lật ngược lại hoàn toàn các chính sách của Chun, tuyên bố cởi mở chính trị và bắt đầu các cuộc thương lượng với nhà lãnh đạo phe đối lập. Ở Séc-Slôvakia, tổng thư ký đảng Cộng sản bảo thủ đã cầm quyền từ lâu, Gustav Husak, đã bị thay thế bằng nhà cải lương ôn hòa Milos Jakes vào tháng 12/1987. Tuy nhiên, khi phe đối lập được vận động vào mùa thu năm 1989, Jakes đã bị thay thế bằng nhà cải cách Karel Urbanek. Urbanek và thủ tướng cải lương, Ladislav Adamec, sau đó đã thương lượng về những sự sắp đặt cho quá trình chuyển tiếp sang dân chủ với Vaclav Havel và các nhà lãnh đạo khác của Diễn đàn Dân sự đối lập. Ở Nam Phi, de Klerk đã tiến xa hơn quá trình chuyển đổi thui chột của người tiền nhiệm của ông này từ các cuộc thương lượng kiểu transplacement với các nhà lãnh đạo đối lập da đen. Không chắc chắn, sự mơ hồ và sự chia rẽ quan điểm về dân chủ hóa do đó có xu hướng nhân cách hóa giới cầm quyền trong các tình huống chuyển dịch. Các chế độ này không hoàn toàn lấn át cả trong việc cố bám giữ lấy quyền lực một cách nhẫn tâm và cả trong việc chuyển hướng mạnh mẽ sang dân chủ.

Bất đồng và tính không chắc chắn tồn tại không chỉ ở phía chính phủ trong các quá trình chuyển dịch. Trên thực tế, một nhóm có vẻ tự bị phân rẽ trong nội bộ nhóm đó nhiều hơn các lãnh đạo của một chính phủ chuyên chế đang mục rữa bất đồng và phân rẽ với các nhà lãnh đạo đối lập, những người có mong muốn thay thế họ. Trong các tình huống thay thế, chính phủ trấn áp phe đối lập và phe đối lập có một mối quan tâm chung bao trùm trong việc hạ bệ chính phủ. Như trong ví dụ của Philipin và Nicaragua cho thấy, ngay trong các tình trạng này, việc đảm bảo thống nhất giữa các lãnh đạo và đảng đối lập có thể cực kỳ khó, và mối đoàn kết đạt được thường mỏng manh và dễ vỡ. Trong các quá trình chuyển dịch, ở đâu có câu hỏi về việc không lật đổ chính phủ nhưng chỉ về thương lượng với nó, đoàn kết trong phe đối lập thậm chí còn khó hơn để đạt được. Điều này không đạt được ở Hàn Quốc, và do đó ứng cử viên của chính phủ, Roh Tae Woo, được trúng cử tổng thống với thiểu số phiếu bầu, vì hai ứng cử viên của phe đối lập đã chia đôi đa số những người chống lại chính phủ do họ đối đầu với nhau. Ở Uruguay, vì lãnh đạo của nước này vẫn đang ở trong tù, một đảng đối lập – đảng Quốc gia – đã bác bỏ thỏa thuận đạt được giữa hai đảng khác và quân đội. Ở Nam Phi, rào cản chính trong cải tổ dân chủ là rất nhiều sự chia rẽ trong nội bộ phe đối lập giữa các nhóm nghị viện và không nghị viện, những người châu Phi da trắng và người Anh, người da đen và người da trắng, và giữa các nhóm da đen có ý thức hệ và bộ lạc. Không có thời điểm nào trước thập kỷ 90 chính phủ Nam Phi đối diện với bất cứ gì ngoài một thực tế đầy bối rối của vô số các nhóm đối lập mà sự khác biệt giữa các nhóm này thường cũng lớn giống như những sự khác biệt giữa họ với chính phủ.

Ở Chilê, phe đối lập bị phân rẽ nghiêm trọng thành rất nhiều các đảng, bè cánh và liên minh. Năm 1983, các đảng đối lập có chủ trương ôn hòa đã có thể thống nhất lại với nhau thành Liên Minh Dân Chủ. Tháng Tám năm 1985, một nhóm rộng rãi hơn bao gồm một tá các đảng đã sát nhập thành đảng Hòa Hợp Dân Chủ kêu gọi chuyển tiếp sang dân chủ. Mặc dù vậy các mối xung đột về quyền lãnh đạo và chiến thuật vẫn tiếp tục. Năm 1986, phe đối lập ở Chilê đã huy động các cuộc biểu tình phản đối rộng lớn, hy vọng sẽ nhân đôi ở Santiago những gì vừa mới diễn ra ở Manila. Tuy nhiên, phe đối lập bị chia rẽ và tính chiến đấu của phe này đe dọa những người bảo thủ. Vấn đề, như một nhà quan sát nhận xét thời kỳ đó, là “công chúng không bị thách thức bở một phong trào đối lập ôn hòa dưới sự lãnh đạo của một nhân vật được kính trọng. Không có Cory của Chilê.” Ở Ba Lan, mặt khác, mọi thứ lại khác. Lech Walesa là một Cory của Ba Lan, và đảng Đoàn Kết có ảnh hưởng trong phe đối lập cho gần một thập kỷ. Ở Séc-Slôvakia, quá trình chuyển dịch diễn ra quá nhanh đến nỗi mà những sự khác biệt giữa các nhóm chính trị đối lập không có thời gian để gây ảnh hưởng.

Trong các chuyển dịch, những người ôn hòa dân chủ phải đủ mạnh trong nội bộ phe đối lập để có thể là những đối tác thương lượng đáng tin cậy với chính phủ. Hầu như luôn có các nhóm trong nội bộ phe đối lập phản đối thương lượng với chính phủ. Họ sợ rằng các cuộc thương lượng sẽ dẫn đến những sự thỏa hiệp không mong muốn và họ hy vọng rằng tiếp tục các áp lực của phe đối lập sẽ tạo ra sự sụp đổ của chính phủ. Tại Ba Lan năm 1988-89, các nhóm đối lập cánh hữu yêu cầu tẩy chay các cuộc hội đàm Bàn Tròn. Ở Chilê, các nhóm đối lập cánh hữu tiến hành các cuộc tấn công khủng bố làm suy yếu các nỗ lực của những người đối lập ôn hòa thương lượng với chính phủ. Tương tự, ở Hàn Quốc, những thành phần cực đoan phản đối thỏa thuận về bầu cử đạt được giữa chính phủ và các nhóm đối lập cầm đầu. Ở Uruguay, phe đối lập do lãnh đạo của các đảng chính trị ôn hòa chi phối và những thành viên cực đoan ít gây ra phiền toái hơn.

Để các cuộc thương lượng được diễn ra, mỗi đảng/bên phải thừa nhận ở một mức độ nào đó tính hợp pháp của bên kia. Phe đối lập phải công nhận chính phủ là một đối tác có giá trị trong thay đổi và nếu không công khai thì cũng phải ngầm định đồng ý quyền điều hành hiện có của chính phủ. Ngược lại, chính phủ phải chấp nhận các nhóm đối lập là các đại diện hợp pháp của các phân tầng quan trọng của xã hội. Chính phủ có thể làm được điều này dễ dàng hơn nếu các nhóm đối lập chưa dính dáng gì với bạo lực. Các cuộc thương lượng cũng dễ dàng hơn nếu các nhóm đối lập, như các đảng chính trị dưới chế độ quân sự, trước đây đã là các thành phần hợp pháp trong quá trình chính trị. Dễ dàng hơn cho phe đối lập trong thương lượng nếu chính phủ chỉ sử dụng vũ lực hạn chế đối với phe này và nếu trong nội bộ chính phủ có một vài nhà cải cách dân chủ mà phe đối lập có lý do để tin vào việc chính phủ cũng chia sẻ cùng mục tiêu với phe đối lập.

Trong các quá trình chuyển dịch, không như các quá trình chuyển đổi và quá trình thay thế, các nhà lãnh đạo chính phủ thường thương lượng các điều khoản cơ bản của thay đổi chế độ với các nhà lãnh đạo đối lập mà họ đã từng bắt giam: Lech Walesa, Vaclav Havel, Jorge Batile Ibanez, Kim Dae Jung và Kim Young Sam, Walter Sisulu và Nelson Mandela. Có lý do cho việc này. Các nhà lãnh đạo đối lập, những người đã từng bị bỏ tù, đã không đấu tranh chống lại chính phủ, dù là bằng bạo lực hay phi bạo lực; họ sống cùng với chính phủ. Họ cũng đã trải qua thực tế của quyền lực của chính phủ. Các nhà lãnh đạo chính phủ, những người thả những người này ra khỏi tù, thường quan tâm đến cải cách, và những người được thả thường đủ ôn hòa để sẵn sàng đàm phán với những người đã giam giữ họ. Sự giam hãm trong tù thường cũng thúc đẩy quyền uy đạo đức của các cựu tù nhân. Điều này giúp họ thống nhất các nhóm đối lập, ít nhất là tạm thời, và không nhượng bộ cho chính phủ cái viễn cảnh là họ có thể đảm bảo sự phục tùng của những kẻ ủng hộ họ dù cho thỏa thuận nào đạt được đi chăng nữa.

Vào một thời điểm trong quá trình chuyển tiếp của Brazil, theo như tin đã đưa Tướng Golbery đã nói với một lãnh đạo đối lập, “Ngài giữ được những người cực đoan của mình dưới tầm kiểm soát thì chúng tôi sẽ kiểm soát người của chúng tôi.” Kiểm soát những người cực đoan trong tầm kiểm soát thường đòi hỏi sự hợp tác của phía bên kia. Trong các cuộc thương lượng trong quá trình chuyển dịch, mỗi bên/đảng đều quan tâm đến việc tăng cường phía bên kia vì như thế anh mới có thể đối phó hiệu quả hơn với những người cực đoan phía bên của mình. Chẳng hạn như vào tháng sáu năm 1990, Nelson Mandela đã có bình luận về các vấn đề mà commented on F. W. de Klerk đang có với những người cứng rắn da trắng và nói rằng đảng ANC đã kêu gọi “những người da trắng trợ giúp cho de Klerk. Chúng tôi cũng đang cố gắng giải quyết các vấn đề của người da trắng chống lại ông ta. Các cuộc thảo luận đã bắt đầu với các thành phần có ảnh hưởng trong nhóm cánh hữu.” Cùng lúc đó, Mandela phát biểu rằng mong muốn của riêng ông được gặp với Thủ lĩnh Mengosuthu Buthelezi đã bị những thành viên của quân đội trong nội bộ ANC bác bỏ và rằng ông phải chấp nhận quyết định đó vì ông là “một thành viên trung thành và có kỷ luật của A.N.C.” De Klerk rõ ràng đã có lợi trong việc làm cho Mandela mạnh hơn và trong việc giúp đỡ ông đối phó được với những thành phần quân đội đối lập cánh hữu.

Các cuộc thương lượng thay đổi chế độ thỉnh thoảng diễn ra sau “các cuộc tiền thương lượng” về các điều kiện bắt đầu tiến hành thương lượng. Ở Nam Phi, điều kiện tiên quyết chính phủ đưa ra là đảng ANC phải từ bỏ bạo lực. Các điều kiện tiên quyết của ANC là chính phủ dỡ bỏ lệnh cấm các nhóm đối lập và thả tù nhân chính trị. Trong một vài trường hợp, các cuộc tiền thương lượng là về việc cá nhân và nhóm đối lập nào sẽ được tham gia vào các cuộc đàm phán sau này. Các cuộc thương lượng thỉnh thoảng kéo dài và thi thoảng lại rất ngắn gọn. Các cuộc thương lượng thường bị gián đoạn khi phía này hoặc phía kia phá vỡ các cuộc nói chuyện. Tuy nhiên, khi các cuộc thương lượng được nối lại, tương lai chính trị của mỗi bên/đảng trở nên gắn chặt hơn với thành công của họ. Nếu các cuộc thương lượng thất bại, những người bảo thủ trong nội bộ liên minh cầm quyền và những người cực đoan trong phe đối lập sẽ đứng lên sẵn sàng lợi dụng thất bại đó và hạ bệ các nhà lãnh đạo đã tham gia vào các cuộc thương lượng. Một lợi ích chung nổi lên và một cảm giác về một số phận chung. “Theo một cách nào đó”, Nelson Mandela đã quan sát được vào tháng tám năm 1990, “hiện có một liên minh” giữa đảng ANC và đảng Quốc gia. “Chúng ta đang trên cùng một con thuyền, một con tàu,” lãnh đạo Đảng Quốc gia P.W. Botha đồng ý, “và những con cá mập bên trái và những con cá mập bên phải sẽ không phân biệt ai với ai giữa chúng ta khi chúng ta ngã xuống biển.” Do đó, khi các cuộc thương lượng tiếp tục, các đảng này trở nên sẵn sàng thỏa hiệp hơn nhằm đạt được một thỏa thuận.

Các thỏa thuận mà họ đạt được thường tạo ra các cuộc tấn công từ những bên khác trong chính phủ và cả trong phe đối lập, những người nghĩ rằng những người tham gia đàm phán đã nhường quá nhiều. Các thỏa thuận cụ thể tất nhiên phản ánh các vấn đề đặc biệt của đất nước. Tuy nhiên, đặc biệt quan trọng trong hầu hết tất cả các cuộc thương lượng là việc trao đổi các đảm bảo. Trong các quá trình chuyển đổi, các cựu quan chức của chế độ chuyên chế hầu như không bao giờ bị trừng phạt; trong các quá trình thay thế hầu hết họ thường sẽ bị trừng phạt. Trong các quá trình chuyển dịch điều này thường là một vấn đề được thương lượng; các vị lãnh đạo quân đội ở Uruguay và Hàn Quốc chẳng hạn yêu cầu có bảo lãnh không truy tố và trừng phạt cho bất cứ những sự vi phạm nhân quyền nào. Trong các trường hợp khác, những sự bảo lãnh được thương lượng liên quan đến những sự sắp xếp cho sự chia sẻ quyền lực hoặc cho những sự thay đổi về quyền lực thông qua các cuộc bầu cử. Ở Ba Lan, mỗi bên được đảm bảo một phần rõ ràng số ghế trong cơ quan lập pháp. Ở Séc và Slôvakia, các vị trí trong bộ máy chính phủ được chia sẻ giữa hai đảng. Ở cả hai nước này, các chính phủ liên minh trấn an các nhà cộng sản và phe đối lập rằng quyền lợi của họ sẽ được bảo vệ trong quá trình chuyển tiếp. Ở Hàn Quốc, đảng cầm quyền đồng ý về một cuộc bầu cử trực tiếp và cởi mở bầu tổng thống trên cơ sở của giả định, và có thể cả sự hiểu biết rằng ít nhất hai ứng cử viên đối lập chính sẽ ra ứng cử, do đó có thể đảm bảo cơ hội cao giành được chiến thắng của ứng cử viên của đảng cầm quyền.

Các rủi ro đối đầu và mất quyền lực do đó thúc đẩy chính phủ và phe đối lập thương lượng với nhau; và các đảm bảo rằng không ai sẽ mất tất cả trở thành cơ sở cho thỏa thuận. Cả hai đều có cơ hội chia sẻ quyền lực hoặc cạnh tranh cho quyền lực. Các nhà lãnh đạo đối lập biết rằng họ sẽ không bị tống giam trở lại vào nhà tù; các nhà lãnh đạo chính phủ biết rằng họ sẽ không phải chạy trốn sống trong cảnh lưu vong. Giảm rủi ro từ cả hai phía và cho cả hai phía thúc giục các nhà cải cách và những nhà ôn hòa hợp tác với nhau trong việc thiết lập một nền dân chủ.

Hướng dẫn cho các nhà Dân chủ hóa 3: Thương lượng Thay đổi Chế độ

Cho các nhà cải cách dân chủ trong chính phủ

(1)    Theo các hướng dẫn dành cho việc chuyển đổi các chế độ chuyên chế, đầu tiên phải cô lập và làm suy yếu lập phe đối lập các nhà chính trị bảo thủ của bạn và củng cố ảnh hưởng của bạn trong chính phủ và bộ máy chính trị.
(2)    Cũng theo các hướng dẫn này, hãy nắm lấy sáng kiến và làm ngạc nhiên cả phe đối lập và những nhà chính trị bảo thủ bằng những nhượng bộ mà bạn sẵn sàng có thể đưa ra, nhưng không bao giờ nhượng bộ dưới sức ép rõ ràng nào của phe ðối lập.
(3)    Hãy đảm bảo có được sự tán thành về khái niệm của các cuộc đàm phán từ các tướng lĩnh nắm quyền hoặc các quan chức đứng đầu chính quyền khác trong tổ chức an ninh.
(4)    Hãy làm bất cứ ðiều gì có thể để tăng cường tầm cỡ, quyền uy, và sự tiết chế của đối thủ đối lập thương lượng chính của bạn.
(5)    Hãy thiết lập các kênh bổ sung mật và đáng tin cậy dành cho việc thương lượng các vấn đề chính yếu với các nhà lãnh ðạo ðối lập.
(6)    Nếu thương lượng thành công, rất có thể bạn sẽ ở phe đối lập. Do đó, mối quan tâm chính của bạn nên là làm thế nào để đảm bảo những sự cam đoan và an toàn cho các quyền của phe đối lập và của các nhóm đã liên hợp với chính phủ của bạn (chẳng hạn như quân đội). Tất cả những cái khác đều có thể thỏa thuận.

Cho những người có quan điểm ôn hòa dân chủ trong phe ðối lập

(1)    Hãy chuẩn bị sẵn sàng huy động những người ủng hộ bạn để đi biểu tình khi những cuộc diễu hành biểu tình như thế này sẽ làm suy yếu những chính trị gia bảo thủ trong chính phủ. Tuy nhiên, quá nhiều các cuộc diễu hành và biểu tình phản đối lại có khả năng làm mạnh thêm những người này, làm suy yếu đối tác đang thương lượng với bạn, và làm nổi lên mối lo ngại của tầng lớp trung lưu về luật và trật tự.
(2)    Hãy ôn hòa; hãy xuất hiện giống người có tài quản lý nhà nước.
(3)    Hãy chuẩn bị để đàm phán và nếu có thể tạo ra nhượng bộ trong tất cả các vấn đề trừ việc tổ chức các cuộc bầu cử tự do và công bằng.
(4)    Hãy ghi nhận khả năng cao là bạn sẽ thắng trong các cuộc bầu cử này và không có hành động nào sẽ làm phức tạp thêm cách bạn đang quản lý ðất nước.

Cho cả chính phủ và những nhà dân chủ đối lập

(1)    Các điều kiện chính trị thuận lợi cho một cuộc chuyển đổi có thương lượng sẽ không kéo dài mãi mãi. Phải chớp ngay lấy cơ hội khi xuất hiện và nhanh chóng tiến đến giải quyết những vấn đề mấu chốt.
(2)    Phải nhận thức được là tương lai chính trị của bạn và tương lai chính trị của đối tác của bạn phụ thuộc vào thành công của bạn trong việc đạt được thỏa thuận về quá trình chuyển ðổi sang dân chủ.
(3)    Phải cưỡng lại được những đòi hỏi của những người lãnh đạo và của các nhóm thuộc phe của bạn mà những đòi hỏi này hoặc là làm chậm lại quá trình thương lượng hoặc là đe dọa lợi ích chính yếu của bên đối tác đang thương lượng với bạn.
(4)    Phải nhận thức được là thỏa thuận mà bạn đạt được sẽ chỉ là một khả năng; những kẻ cực đoan và những nhà chính trị bảo thủ có thể sẽ phản đối kịch liệt thỏa thuận này, nhưng họ sẽ không thể tạo ra một khả năng khác có được sự ủng hộ rộng rãi.
(5)    Khi còn nghi ngờ, hãy thỏa hiệp.


Bài do dịch giả gửi đăng tại danchimviet.com.

Nguổn: Samuel P. Huntington, “How Countries Democratize”, Political Science Quarterly,
Vol. 124, Number 1, 2009, pp.