Đó là một mùa khô kiệt kỷ lục, các đế móng xù xì và thô kệch của cầu Long Biên phơi hết ra gió bấc. Nước Hồng hà sánh đặc cặn phù sa, ra vẻ nông choèn như vũng trâu đầm. Những con tàu xuôi ngược ngày nào mắc cạn bãi bồi, nằm ngả nghiêng say rượu. Nghe bảo ở thượng nguồn, bờ sông có chỗ dựng cao như vách núi. Râm ran báo động những vụ sụt lở gây chết người.

“Anh vẫn yêu Hà Nội chứ?” – Ngân trêu chọc bằng cách nhắc lại những ngôn từ hoa mỹ của Quỳnh ngày hai mươi tuổi – “Anh yêu em như yêu một vết thương hóa thân. Anh yêu em như yêu Hà Nội”.

Quỳnh cười nhưng không thấy ngượng. Chỉ nghĩ đến cái thuở bồng bột, lắm khi anh đã đỏ mặt. Hài nhất là vụ nhầm ruột thư. Những lời rất đỗi nồng nàn Quỳnh gửi Hà Nội đã đến một địa chỉ ở Hải Phòng và ngược lại. Dẫu gì anh cũng tin phố biển hoa phượng thời sinh viên chả đời nào ghen tị. Tình cảm dành cho những vùng đất cùng cội rễ văn hóa là thứ có thể đắp bồi, tôn cao nhau lên, chứ chẳng bao giờ chia vụn hoặc đối kháng.

***

“Cứ tưởng em sẽ dẫn anh đi xem cầu mới Vĩnh Tuy – Thanh Trì?” – Quỳnh khéo nhắc Ngân và cũng nhắc chính mình kỷ niệm một mùa thu.

Hôm ấy Quỳnh nhận được thư Ngân bảo Hà Nội thu rồi, hoa sữa chẳng đợi ai đâu. Tốn hai cuộc điện tín qua lại. Bức điện cụt ngủn từ bưu điện bờ Hồ là của Ngân: “Cụ bà mất, về gấp”. Ông giáo già nghiêm khắc, thuyền trưởng Việt Nam đầu tiên đi vòng quanh thế giới, chẳng đặng thì đừng phẩy tay cho Quỳnh hoãn thi. Cụ ngoại Quỳnh người Hà Nội, góa phụ Án sát sứ Sơn Tây nếu còn sống sẽ thượng thọ một trăm hai mươi tuổi. Đáng ghi vào kỷ lục Guiness lắm chứ.

“Anh càng bớt cái vẻ hăng say đến với hoa sữa thì sẽ càng gắn bó với Hà Nội hơn. Hoa sữa chỉ lãng mạn với khách lạ thôi” – Ngân tạt cho Quỳnh một gáo nước lạnh khi vừa bước xuống ga Hàng Cỏ. Mấy ngày trời se mát, họ sóng đôi xe đạp đi tìm hiểu ba chiếc cầu bắc qua sông Hồng.

Đầu tiên là kết cấu sắt thép xám xịt kềnh càng mang tên Long Biên, cắm sâu vào lòng Hà Nội cổ bằng cung đường hỏa xa. Các mã nối cong vênh, đám đinh tán trốc lở ám muội lãng quên. Có cảm giác chiếc cầu cứ oằn xuống, mỗi khi chuỗi bánh xe lửa bất tận rên rít những vòng lăn. Ngân hơi thất vọng nhưng không phản bác vì Quỳnh cho đây là vết sẹo nô lệ của mảnh đất này, từ công nghệ thực dân cùng thời với tháp Eiffel đến cái tên khéo chọn khi độc lập. Theo sách Thủy Kinh chú, năm Kiến An thứ mười ba (208), Tôn Quyền chia Giao Chỉ bộ làm Quảng Châu và Giao Châu. Sở trị Giao Châu đặt tại Long Biên. Khi xây thành có giao long đến khoanh mình bên mé nước ở bến phía bắc và phía nam, nhân đấy cải ra Long Uyên nghĩa là rồng cuộn.

Cầu Long Biên và địa danh Long Biên thời Tây Hán có thể không nằm cùng một chỗ. Cũng như Lãng Bạc, nơi Hai Bà Trưng thất bại ít khả năng là Hồ Tây. Gần hai ngàn năm trước mực nước biển rất cao, Hà Nội phải chăng là đáy của một cái hồ cực lớn. Nên nghĩ Long Biên, trị sở Giao Châu ở đâu đó gần sông Đuống. Quá trình biển lùi xảy ra đồng thời với bồi đắp thiên nhiên và nhân tạo. Do đó, không khập khiễng và quá bóng bẩy nếu cho rằng Hà Nội là người con vạm vỡ của sông Hồng. Những chiếc cầu, bằng tên gọi rất riêng của mình, ít nhiều ẩn dụ dòng lịch sử dâu bể.

Sau Long Biên cả hai tranh nhau chọn Chương Dương hay Thăng Long trước. Chương Dương xuất hiện từ năm 950. Ngô Quyền mất, Dương Tam Kha mắc tội thoán nghịch nhưng Ngô Xương Văn không giết mà chỉ giáng xuống làm Trương Dương công và ban thực ấp. Sau này chữ Trương viết trại ra Chương để thành Chương Dương. Đến đời Trần, trận Chương Dương lừng lẫy đã mở cửa phản công thắng lợi cho cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông của Đại Việt. Trần Quang Khải từng đọc vang bốn câu thơ hào sảng ngày khải hoàn: “Đoạt sáo Chương Dương độ – Cầm Hồ Hàm tử quan – Thái bình tu trí lực – Vạn cổ thử giang san”.

***

Trên đường công tác, Quỳnh quá cảnh Hà Nội để đợi con chim sắt của một hãng hàng không giá rẻ. Anh ở trọ tại khu Tây ba lô phố Bảo Khánh, quận Hoàn Kiếm. Lưỡng lự mãi rồi Ngân cũng đến gặp Quỳnh bằng ô tô riêng tự lái. Cô đã chuẩn bị sẵn câu đối thoại biện hộ trong đầu: “Anh đừng trồ lên như thế. Em chưa giàu đâu, chung cư mới, không nhà cho thuê, không trang trại cuối tuần. Chiếc xe này tồn tại bởi tính chất công việc, nơi làm và phụ trợ tiền xăng của liên doanh. Hẳn nhiên là có phần sĩ diện truyền thống Tràng An nữa”.

Ngân chưa kịp xa lạ với chính cô ngày nào, Quỳnh bảo thế, ai biết có thể còn mặn mà hơn. Anh tìm lại được cô qua blog, qua tấm ảnh thiếu nữ áo dài phố cổ xưa cũ và những dòng tâm sự riêng tư, vô tình để ở chế độ public, một đêm Ngân mất ngủ.

Chẳng rõ khi xưa họ có từng hẹn nhau đến với ngàn năm Thăng Long không nữa. Kẻ nam người bắc, tình yêu đôi lứa đã trở thành hoài niệm nhưng tình yêu Hà Nội trong họ chợt tươi mới dâng trào.

Thăng Long cách Quỳnh hàng ngàn cây số và cách Ngân một cuộc sống bề bộn cơm áo, với khói bụi, tắc đường và cả nước lụt. Bước chân mưu sinh thường nhật của Ngân khuất tù trong con đê lừng lững. Nền Hà Nội đã ngang bằng đáy sông. Hồng hà bao năm rồi không còn chăm bẵm Hà Nội bằng nguồn sữa phù sa mênh mang của mình? Dòng Tô Lịch nên thơ lạc mẹ, ngày càng co hẹp, ngày một nặng mùi.

Ngân chẳng nhớ thời gian qua cô đã tới lui cầu Thăng Long mấy lần, trong chức năng giao thông của nó. Hôm nay hơi khác, bên người bạn thích khám phá chiều sâu văn hóa, cầu Thăng Long hiển hiện hình ảnh rồng bay của hoàng đế khai quốc Lý Công Uẩn. Ngân không tin ý nghĩa biểu trưng của bay là không thể bay. Bay bổng chất chứa khát vọng hướng thượng trên mọi bình diện, đặc biệt hơn ở tư duy. Quan trọng là sự cân bằng giữa nhu cầu và khía cạnh thực tế, nếu không giấc mơ bay lượn chỉ đơn giản là vượt thoát, trốn chạy. Những giá trị phi vật thể của Hà Nội ngàn năm, đây đó vẫn được thể hiện với bề ngoài rất thiếu tương xứng, nếu không muốn nói là đối lập. Bàng quan với lịch sử là vô ơn, là mất gốc, là tự tha hóa. Ở thái cực khác, hiện tượng khoác áo thánh cho quá khứ lại biến nhiều bài học máu xương trở thành tuồng tích lãng mạn, chỉ mang tính giải trí hoặc tuyên truyền nhất thời.

Họ đi bộ dọc triền đê từ chỗ gửi xe, rồi len lỏi theo một mương thoát nước của chợ Long Biên để ra bãi giữa. Mây trắng cứ bay. Hà Nội như vừa hết thu. Một tên đường, một con phố, một kiến trúc không đơn giản là thực hữu. Trong nó vẫn âm thầm tuần hoàn những giá trị đã được chắt lọc/đào thải, bảo vệ/hủy phá, kế thừa/giũ bỏ. Trầm tích dưới dòng thời gian là ngọc là vàng của mảnh đất thần kinh đô hội này.

Chiếc xe bốn chỗ háo hức bon về phía nam Hà Nội với hai cung cầu đang xây là Vĩnh Tuy và Thanh Trì. Nghe nói chúng rất cao và rất dài. Sản phẩm thế kỷ hai mốt cơ mà. Nhưng đáng tiếc đường vào Thanh Trì chưa thông. Vĩnh Tuy còn tệ hơn thế, chưa hợp long. Họ sa lầy giữa một mặt bằng toàn bùn đỏ nhớp nháp và cơ man những ổ voi.

***

Trong khi chờ xe cứu hộ, Ngân và Quỳnh bước tới những bờ ruộng bỏ hoang. Hương đồng chiều chợt gần chợt xa. Hào phóng gió.

Quỳnh ít ảo tưởng. Nếu Ngân là vợ anh, nàng khó mặc nhiên miễn nhiễm với buồn khổ, thậm chí đứt đoạn. Anh chưa kịp già để tin hẳn vào số phận, nhưng cứ lờ mờ một căn nguyên đổ vỡ mang dấu ấn mùa thu. Anh từng bứt mình khỏi nàng như xẻo bỏ một vết thương đầy mê mị và nông nổi chủ quan. Anh đã hòa nỗi đau ấy vào biển cả suốt những năm tháng trẻ trai. Không suy suyển! Càng bế tỏa mảnh pha lê ký ức, những góc cạnh tinh khôi nhất càng sắc nhọn hơn. Thay một lời xin lỗi, anh đã hẹn gặp Ngân. Còn hơn là tha thứ, Ngân lại bên anh. Và Quỳnh biết anh vẫn yêu nàng, như yêu Hà Nội.

“Em có hạnh phúc không?” – Hình như Quỳnh lỡ lời. Câu hỏi rỗng rễnh. Sáo. Kịch. Hỏi để mà hỏi, cho bớt chống chếnh chăng?

“Nói chung là ổn định. Vẫn chưa đủ phải không anh?” – Ngân thì thầm như tâm sự với chính mình – “Đôi khi em thèm quay quắt một chút tự do, một tí phá cách, một lần vượt rào. Phụ nữ mà. Trong khuôn khổ thôi”.

“Đàn ông cũng thế Ngân à. Nhưng bọn anh không hy vọng kẻ khác sẽ ra ân mà luôn kiên nhẫn tranh giành. Tự do trước hết là trách nhiệm cho nên từ chối tự do đồng nghĩa với ao hóa, đầm lầy hóa sinh mệnh”.

Khi nào Hà Nội của họ không còn bị vây bọc bởi những bờ đê, những con rồng giả uốn lượn theo oai linh rồng thật mang tên sông Hồng? Khi nào vô số mặt hồ tự nhiên lẫn nhân tạo của Hà Nội thông nối với nhau và với nguồn phù sa tươi màu thịnh vượng ngoài bãi giữa? Họ không phủ nhận công lao của lớp lớp tiền nhân đã đắp đê, hộ đê dọc dài lịch sử. Họ tin phá đê và nạo vét sông Hồng cũng là xây dựng. Họ luôn luôn sở hữu niềm tin tích cực ấy bởi họ biết tin tưởng là ngưỡng bậc bước lên hành động, bước đến thành công.

Niềm tin ấy không cô độc. Hà Nội đang mở rộng, nó đứng cao hơn về phía tây, tựa lưng vào núi Tản, chạm tay tiếp nhận sức sống Đà giang. Dưới hạ lưu hai chiếc cầu nữa đang mọc lên, đang khó nhọc mở ra những con đường thông suốt. Những cái tên thật ý nghĩa, cứ như vô tình nhưng hết sức hứa hẹn: Vĩnh Tuy – Mãi mãi yên ổn, hòa bình; Thanh Trì – Mặt nước trong lành, không tù đọng.

Thảo Điền

24.11.2008

Ghi chú: Truyện ngắn này còn dang dở. Năm 2009 tôi không “phát” đường truyện ngắn vì chẳng còn hứng thú đăng báo nữa. Truyện ngắn cuối cùng tôi viết là Tự kỷ ám thị, từ tháng 4.2009.