Mấy chú thích liên quan đến dân chủ

23 Comments

Tháng 2.2008 tôi có bài viết Suy nghĩ bên cạnh một đám tang lặng lẽ. Bà Song Chi được tôi trích như sau: “Trích blog của một đạo diễn có tâm trong nghề và rất năng nổ dân chủ [5] : “Nhà nước buông tay khỏi cái gì là cái đó khá lên thôi”. Đó là câu nói của một trong những người bạn tôi, dịch giả PVP, trong một lần ngồi quanh bàn nhậu và như thường lệ, câu chuyện muôn thuở giữa tất cả bạn bè tôi bao giờ cũng xoay quanh thực trạng chính trị-xã hội-văn hóa văn nghệ ở Việt Nam”. Loại “lý luận bàn nhậu” đó rất có lý và thực tế, chỉ với những bộ óc chuếnh choáng men bia rượu mà thôi.

Mới rồi, thoát khỏi “những bàn nhậu” bà Song Chi có bài đáng đọc nhất, trong số các bài bà đã viết. Trích tiếp: “Dân tộc tôi, dù sống ở trong hay ở ngoài nước đều có những điểm giống nhau làm nên bi kịch của đất nước, đó là trình độ dân trí nói chung chưa cao… (…) Với một dân tộc như dân tộc tôi, thì niềm hy vọng vào một sự thay đổi cho số phận của đất nước quả thật là rất khó!”.

Bà Song Chi đã đi nửa vòng quả đất, để bồi hồi nhận ra mình bất lực. Cho nên việc tôi từng đánh dấu hỏi về động cơ dân chủ của bà có cái lý của nó. Chẳng rõ từ DÂN TRÍ của tôi trong link đầu tiên có ảnh hưởng đến suy nghĩ của bà Song Chi không, nhưng đọc lời bình của Tôn Vân Anh thì tôi thấy cần suy nghĩ thêm. Trích nữa: “Dân chủ hay không không phụ thuộc dân trí bởi dân chủ là hệ thống chính trị do người dân tấu tạo, bất kể quan điểm, học thức và nhận thức. Tức: người bị coi là có dân trí thấp cũng có thể tạo nên dân chủ, và như vậy mới là dân chủ. Trên cả tri thức phải là niềm tin vào con người và những quyền cơ bản của con người. Nếu không có niềm tin vào con người, ắt hẳn sẽ thấy “rất khó”. Nhưng đó là cái khó của người thấy khó, chứ không phải vấn đề của dân chủ, của VN càng không”.

Tôi sẽ nghiêm túc cầu thị và tìm hiểu nội hàm mà Tôn Vân Anh đề cặp.

————-

Cùng chủ đề dân chủ, bà trẻ Nguyễn Trang Nhung và tôi vừa trao đổi đôi câu như thế này:

Tôi viết: “Trích N.T.Nhung: “Tôi nghiêng về phía ý kiến cho rằng VN sẽ được như Đài Loan hay Hàn Quốc (tuy mức độ có thể thấp hơn). Người dân VN không đến nỗi “máu me” như người dân Thái Lan để dẫn đến những cảnh tượng bất ổn như trong nền dân chủ của nước này”. (hết trích)

Quả thật tôi choáng với “mơ ước” quá đẹp cũng như “tưởng tượng” phong phú của bạn về nước Thái “máu me” và sự “bất ổn” của họ. Năm yếu tố giúp người Thái đang ổn định trên con đường tìm đến dân chủ là: Chủng tộc (cơ bản khối dân tộc nắm vận mệnh nước Thái là đồng chủng), Tôn giáo (Đạo Phật gần như quốc giáo), Vương quyền (dân Thái nói chung rất tôn trọng hoàng gia), Vùng miền (ở Thái không tồn tại căn cước vùng miền nặng nề như VN, trừ khu vực phía nam có cả yếu tố tôn giáo chia rẽ), Lịch sử (người Thái có một lịch sử chung, họ không bị chia rẽ vì thời cận đại họ không bị đô hộ và nội chiến).

Chỉ cần dùng năm yếu tố này áp vào hiện tình VN, kết quả cách mạng dân chủ (nếu có lúc này) không xẻ đôi thì cũng xẻ ba nước VN và nội chiến là không thể tránh khỏi.

Thấy mình bị hố, Nhung trả lời: “Khi nói về Thái Lan với “bất ổn”, thì tôi muốn nói tới những cảnh tượng xuất phát từ dân chúng Thái Lan như các cuộc biểu tình của của các phe nhóm. Tức là tôi muốn nhằm vào ý thức của người dân. Về đánh giá chung thì tôi không hẳn cho rằng nền dân chủ Thái Lan là bất ổn đâu. Còn về Việt Nam, tôi vẫn giữ quan điểm như vậy. Tôi không cho rằng sẽ có những xé lẻ hay nội chiến. Dù sao thì mỗi người một quan điểm, một cách nhìn. :) “.

Bình thường, sau những bình luận của tôi, thể nào cũng có tiếng bấc tiếng chì. Nhưng lần này thì im hơi lặng tiếng. Cái nước Thái Lan thống nhất và đoàn kết đến thế, từ khi Thạc Sỉn lưu vong, không ít lần truyền thông thế giới phải cảnh báo NỘI CHIẾN. Cho nên lập luận của tôi khó bị bắt bẻ chăng?

—————-

Nói thật, tôi chưa thấy một cá nhân nào, hội nhóm nào có luận thuyết và động cơ dân chủ trong sáng và khả tín cả. Nếu họ không “nhai lại” lý thuyết Mỹ thì cũng theo con đường dân chủ “xả  stress” cá nhân mà ai đó từng hình tượng hóa là “dân chủ sùi bọt mép”.

Có những người ngây thơ đã đem cả vận mệnh cá nhân của họ đánh cược với loại “dân chủ” ấy. Tôi không quan tâm.

Tuy nhiên, không còn là chuyện đùa nếu họ đem vận mệnh một đất nước vào trò chơi. Tôi đã dùng đến từ “NỘI CHIẾN”. Xin hãy nhớ giùm!

Nơi giữa Đại Hội Việt Kiều: Một nỗi bình an.

5 Comments

Nguyễn Hữu Liêm

(Gửi chủ blog qua email)

The State is the march of God on earth (Hegel)

Hà Nội: Như rứa mà qua ba mươi lăm năm, ngày tôi rời Việt Nam.  Trưa ngày 30 tháng 4, 1975, đeo đu đưa trên chân đáp của chiếc trực thăng cuối cùng rời phi trường Cần Thơ, trên vai vẫn đeo súng, và vai kia mang túi xách, tôi đã thoát đi trong tiếng la hét hoảng sợ và cuồng nộ, bắn giết của đoàn quân đang tan vỡ.  Trong hai mươi năm qua, tôi đã bao nhiêu lần về lại Việt Nam.  Lần nào bước vào phi trường Tân Sơn Nhất, tôi vẫn luôn mang một nỗi sợ hãi thầm kín.  Không biết là lần này mình có bị trục xuất hay không?  Những ngày còn ở trong nước thì vẫn nghĩ đến chuyện công an “mời lên làm việc.”  Tôi đã như là một đứa con ghẻ trên chính quê hương mình. Nhưng lần này, tôi về lại quê nhà với một tâm trạng khác.  Tôi được chính thức mời trở lại Việt Nam.

Tôi vẫn phân vân suốt cả tháng trời là có nên đi dự “Đại hội người Việt ở nước ngoài,” hay “Đại hội Việt Kiều” (Đại hội).  Với tư cách là chủ tịch của Hiệp Hội Doanh Nhân Việt Mỹ, tôi có nhiều lý do để tham dự.  Cùng về với tôi trên các đường bay khác là một phái đoàn bao gồm những thương gia và chuyên gia.  Trên chuyến tàu từ San Francisco về đến phi trường Nội Bài ngày thứ Sáu 20 tháng 11, tôi chỉ đi một mình.  Tôi để ý đến các cô tiếp viên Việt Nam cố gắng cười trên môi trong nỗi bực mình thể hiện qua lông mày vì những yêu cầu của khách hàng đi từ Đài Loan.

Vừa bước tới quầy thủ tục nhập cảnh ở Nội Bài, tôi đã được hướng dẫn vào lối đi dành cho đại biểu kiều bào về tham dự Đại hội.  Một sĩ quan cấp tá đón tiếp tôi thân mật, tươi vui.  Viên sĩ quan đóng dấu ngay lập tức vào tờ khai nhập cảnh và chào tôi nghiêm chỉnh với nụ cười.  Tôi được hướng dẫn bới hai nhân viên khác đến một quầy tiếp đón.  Xong rồi tôi ra xe đang chờ về khách sạn cùng với một số đại biểu từ Âu Châu.  Đến khách sạn chúng tôi cũng được chào đón thân mật.  Ở đâu, ở trên khuôn mặt nào, tôi cũng chỉ thấy những nụ cười, những lời chào hỏi trân trọng.  Phòng trọ của tôi ở khách sạn Thắng Lợi, xây dựng bởi kỹ sư Cuba, nằm ngay trên mặt nước Hồ Tây.  Tôi bước ra balcony, nhìn ra xa bên kia bờ là đường Thanh Niên và phố Thuỵ Khuê.  Tôi chợt nhận ra một Hà Nội mà chưa bao giờ mình biết đến – dù rằng tôi đã đến xứ Thăng Long này biết bao lần.

Sau khi tắm rửa, thay quần áo, tôi đi xuống phòng ăn.  Được gặp nhiều anh chị em, có người tôi từng quen biết, có người không.  Những khuôn mặt tươi vui bắt tay nhau, như cùng hát vang bài của chàng Sơn thưở nọ, “Mặt đất bao la, anh em ta về, gặp nhau, mừng như bão táp quay cuồng. Trời rộng.  Bàn tay ta nắm nối liền một vòng Việt Nam.”  Ở trong khung cảnh này, tôi đọc được những tâm trạng không cô đơn của những con người nặng lòng với đất nước.

Tôi cảm ra rằng mình vui lên như đứa trẻ thơ – dù rằng trong ý thức tôi muốn chăm nhìn chính mình và các đại biểu Việt kiều từ một góc độ khác.  Tôi muốn bắt chước Edmund Husserl đi xoi  tìm một tinh hoa, về cái thực chất của tình yêu nước, trên cơ sở của hiện tượng học, một thể dạng tình cảm quê hương thuần chất trong con người Việt Nam – cái dân tộc tính đặc thù, sau khi đã loại trừ đi những yếu tố kinh nghiệm cá nhân và lịch sử.  Ở trong và kinh qua tất cả những vọng động từ sử tính, trong khổ đau, qua thể chế, với đầy cực đoan và ngu muội, thì cái thực chất tinh thần yêu nước của con người Việt Nam, như là một thực tại thuần trừu tượng của khái niệm, qua biện chứng cuộc đời, có được nâng cao lên tới một thời quán tiến hóa mới?  Hay là những người “phía tả” như chúng tôi vẫn là những đứa con trẻ đang lớn lên của thời tiền cách mạng khao khát một nguyên cớ lịch sử để hy sinh chính mình nhằm tìm ra chính mình?

Chuyến đi Đại hội này – tôi an ủi và tự đánh lừa chính mình – như là một dự án về biện chứng sử tính trong hiện tượng luận của Husserl.  Triết học ở đây như là một chiếc áo còn quá rộng cho một chàng quê vừa lên tỉnh, hăm hở lý thuyết như con trâu đói ngấu nghiến nhai đám cỏ vàng úa giữa đồng hoang.

Tôi tìm đến Hussserl trong đoạn văn này.  “Cuộc đời của con người, trên cơ bản tinh hoa phổ quát của nhân loại và văn hóa bản địa, nhất thiết phải mang yếu tính lịch sử.  Nhưng đối với một con người khoa học, cuộc đời như là cuộc sống của khoa học, trên chân trời của cộng đồng những khoa học gia, thì nó đã đánh dấu một sử tính mới.  Nó đòi hỏi một cuộc cách mạng cơ bản về ý thức sử tính.  Đó là cuộc cách mạng về trái tim lịch sử trong ý thức sử tính của con người.”

Husserl, theo ngôn ngữ phiên giải của Derrida, viết tiếp, “Thứ nhất, đó là một sử tính tổng quan trong sinh mệnh con người khi nhân loại hiện thân và sống trong bối cảnh tinh thần và văn hóa của truyền thống.  Cái tiếp theo và cao hơn là sự thức dậy từ tính kích động của văn hóa Âu châu, để tìm đến một dự án lý thuyết và triết học.  Cuối cùng là sự chuyển hóa từ triết học đến hiện tượng học.  Từ đó, mỗi chặng đường chuyển hóa, được đánh dấu bởi một cuộc cách mạng nhằm phá bỏ dự án cũ, thực ra chỉ là một tổng dự án, qua khả thể vô hạn hóa sử kiện, sử dụng giác quan để điều tra đến tận cùng cái chủ ý ẩn dấu của tập thể dưới tất cả những chuyển động lịch sử.”  À ha!

Đây chính đã là dự án của Lý Đông A cho con người Việt Nam.  Tôi xin vay mượn Đại hội Việt kiều, qua tinh thần Lý Đông A và phương pháp luận của Husserl, để suy tìm cho chính tôi, một nhận thức mới về “trái tim sử tính” của dân tộc Việt từ một trăm năm nay – từ khi truyền thống sử tính dân tộc Việt Nam bị kích động thức dậy bởi văn minh lý thuyết Tây Âu.  Cái tôi muốn bước tới là cái mà Trần Đức Thảo, từ năm 1955, khi tôi vừa mới ra đời, đã về từ Paris đến Hà Nội cố gắng khơi mào một cách tế nhị và gián tiếp: Một cuộc chuyển hóa về sử tính từ ý thức ôm chặt bởi văn hóa truyền thống và bản địa hạn hẹp sang đến cõi sống thuần tinh hoa lý thuyết và triết học phổ quan.   Ảo tưởng trí thức – dĩ nhiên.  Nhưng đây là niềm vui tự tách rời của tôi.  Nhưng tôi phải tự hỏi như Lý Đông A đã từng hỏi cả gần thế kỷ trước:  Tất cả những khổ đau – và nỗi nực cười bi đát –  mà cả dân tộc Việt Nam kinh qua đã phải cho một mục đích – tức là chủ ý tinh thần và tinh hoa cho sử tính Việt.  Nó là gì?

Nó có phải là tinh thần dân tộc độc lập – một tinh thần tự do tập thể cổ điển – đang được chuyển hóa sang ý thức tự do – một tinh thần giảì phóng cá nhân?  Hay rằng: Nó vẫn chỉ là một tinh thần thuần phản ứng, trên cơ sở dân tộc chủ nghĩa, được vẽ vời thêm bằng giáo điều vọng tưởng, cộng thêm một võng lưới vướng mắc từ quyền lực và quyền lợi, mà đảng Cộng Sản là hiện thân, đối với tính hiện đại từ Tây Âu đem đến?

Tôi muốn dựa vào phép biện chứng quốc thể (state), tức là các hình thái tổ chức, mà Đại hội Việt kiều này là một, và chính tôi, cùng các đại biểu Việt kiều, những người mang tinh thần dân tộc trong lưu vong, tương tác – như là một tiến trình đối ứng và thông hiểu, để chuyển hóa lẫn nhau – từ các nội dung đầy kịch tính chính trị đến những nỗi hồn nhiên mang nặng tính bi hài trong những con người đại biểu như chúng tôi.  Tôi biết rằng không một ai đã bước vào lịch sử mà không làm một thánh tử đạo sẽ là – và khi chết không phải làm một tên hài kịch đã là.

Sáng sớm ngày hôm sau, thứ Bảy, 21 tháng 11, phái đoàn chúng tôi lên xe buýt – có xe cảnh sát hú còi mở đường – đi về trung tâm Hội nghị Quốc gia Mỹ Đình.  Hà Nội, khi đi ra khỏi khu Ba Đình, là cả một công trường xây dựng.  Các cao ốc thi nhau vươn lên.  Có một cái gì đó mang ít nhiều tính bất cập, bất tương xứng giữa những con người và chế độ chính trị, và cả con người tôi thấy trên đường phố, đối với các cao ốc hiện đại đang được dựng cao.  Tôi hình dung ra một tập thể nông dân thích ngắm tập tranh vẽ mây nước của Tàu đang tham dự một cuộc triển lãm hội họa đương đại.  Ngôn ngữ khẩu hiệu cũng nhẹ nhàng đi.  “Người Việt ở nước ngoài” thay cho “Việt kiều.”  Chữ “Đảng” cũng thấy và được nghe rất ít.  Những anh công an chính trị cũng luôn nở nụ cười, bắt tay.  Cái biện chứng tương tác của ý chí thể thức đang lôi kéo các tâm hồn thượng cổ, làng mạc ra với không gian mới của thời đại – như các cô chiêu đãi viên Hàng không Việt Nam vẫn cố cười dù rất là không muốn.

Hay quá!  Chủ nghĩa “chủ quan duy ý chí” của một đế chế chính trị khắt khe và nhiều sai lầm – như là ý chí lịch sử Việt Nam – đang đòi hỏi các con người mang sử tính liên hệ phải thay đổi.  Hôm nay, cái bụng dạ thuần phản ứng  phải uốn nắn theo thể thái ngôn ngữ và khuôn mặt chính mình theo “kinh tế thị trường.”  Cái đang là của thực tế cuộc đời đang uốn nắn bởi cái phải là của thời thế.  Tôi nhìn rõ được một dạng thức tương tác giữa ý chí và ý thức đầy mâu thuẫn này vốn đang đưa con người Việt Nam đi đúng đường, đúng hướng.

Qua đến ngày thứ hai của Hội nghị. Trong các khóa hội thảo chuyên ngành, tôi tham dự phiên “Trí thức và chuyên gia.”   Có một giáo sư kiến trúc, về từ Pháp, tôi chỉ nhớ tên là Trường, khoảng 65 – 70 tuổi, đã tâm sự chuyện về Việt Nam giảng dạy suốt nhiều năm qua.  Không lương bổng, và không được trả bất cứ chi phí nào, giáo sư Trường đã kèm dạy nhiều lớp sinh viên trong ngành xây dựng và kiến trúc, cũng như khiêm tốn làm việc với các ban ngành của chính phủ về các vấn đề xây dựng và quy hoạch thành phố.  Tôi tự hỏi mình có làm được như thế không?  Có làm như vậy mới xứng đáng với vai trò trí thức của mình.  Tôi thầm vui mừng – và hãnh diện – vì trong hàng lớp nhà giáo gốc Việt ở hải ngoại đang có nhiều anh chị em về Việt Nam âm thầm làm việc, đóng góp như vậy.  Không có chức năng lịch sử nào trọng yếu và tích cực hơn là vai trò khai sáng và chuyển giao ý thức.  Dĩ nhiên, ý thức – mà tất cả chỉ là ý thức tự do – phải nằm trên cơ sở khoa học thực nghiệm, như Trần Đức Thảo đã dầy công phân tích.

Ngày thứ ba của Hội nghị, ở cuối phần bế mạc, tôi cùng đứng dậy chào cờ.  Bài Tiến Quân Ca được vang cao trong cả hội trường.  Lạ thật. Tôi chưa hề từng nghe Quốc ca Việt Nam (này) trong khung cảnh thể thức như thế.  Từ ấu thơ đến bây giờ, tôi từng hát Quốc ca của miền Nam, trước năm 1963 thì cùng với bài hát buồn cười “Suy tôn Ngô Tổng thống.” Ba mươi bốn năm qua là Quốc ca Hoa kỳ xa lạ, Star Spangled Banner.   Nay thì tôi lại nghe và chào Quốc ca Việt Nam và lá cờ đỏ sao vàng.  Con người là con vật của biểu tượng.  Cờ in máu chiến thắng mang hồn nước.  Tôi cảm nhận được một giòng điện chạy từ đáy lưng theo xương sống lên trên cổ trên đầu như là khoảnh khắc  thức dậy và chuyển mình của năng lực Kundalini.  Tôi nhìn lên phía trước, khi vừa hết bài Quốc ca, mấy chục cô và bà đại biểu từ Pháp đang chạy ùa lên sân khấu, vỗ tay đồng ca bài  Như có bác Hồ trong ngày vui đại thắng. Tôi nhìn qua các thân hữu Việt kiều từ Mỹ, và ngạc nhiên khi thấy hầu hết – kể cả những người mà tôi không ngờ – đang vổ tay hào hứng la to, Việt Nam!  Hồ Chí Minh! Cả hội trường, và tôi, cùng hân hoan trong tất cả (vẫn là) cái hồn nhiên mà dân tộc ta đã bước vào từ hồi thế kỷ trước.

Trong không khí vang ầm của lời ca, tôi lại lắng nghe từ Paul Ricoeur, “Đây là ý chí hồn nhiên thứ hai, khi con người đã bước ra khỏi hồn nhiên thứ nhất, trở về lại để tìm ra nó như là một niềm hạnh phúc nguyên sơ.”  Tôi thầm cảm  thấy mình thật sự bình an khi đất nước này đã mở rộng vòng tay đón tôi trở về – dù tôi đã ý thức rõ ràng về sự khác biệt nhiều tương phản giữa quê hương và thể chế chính trị. Tôi biết và cảm thông được nỗi buồn vô hạn của những người trí thức đã từng bị trục xuất khỏi quê nhà khi về đến sân bay.  Ôi tổ quốc ơi!  Sao mà ngươi khó khăn và khắc nghiệt thế? Cho dù tôi có cố gắng khách quan hóa ý thức đầy sử tính của mình, cái tinh chất thuần ý thức mà hiện tượng luận muốn đi tìm vẫn chỉ còn là một ẩn số lớn.

Ngày hôm sau, thứ Ba, 24 tháng 11, trên suốt chuyến bay để “đi” California – không phải là “về” như bao lần – tôi thấy chính mình đang mang tiếp được một nỗi bình an ngày hôm trước.  Quê nhà đã đón mừng và nhận lại mình.  Tôi không còn sợ tổ quốc, sợ chế độ, sợ công an, sợ cộng sản.  Bạn thấy không?  Con người tôi vẫn là của thời quán thứ nhất – một anh nông dân trong làng chưa bước qua được giai thoại của một thứ dân tộc chủ nghĩa thô sơ và đầy uẩn khúc.  Tôi chưa phải là con người tự do.

Xin chân thành cảm ơn tất cả.  Ôi hỡi quê hương Việt Nam. Lần này, tôi đã thực sự trở về!

Ảnh cụ Võ Nguyên Giáp 98 tuổi

8 Comments

Người Việt và đầu óc mê tín dị đoan

Leave a comment

Mê tín dị đoan thì dân tộc nào cũng có do từ thời xa xưa kiến thức về vũ trụ, về những hiện tượng thiên nhiên như sấm sét, động đất, lũ lụt, bệnh tật  . . .  đem đến gây chết chóc, tàn phá làm người ta hoang mang, sợ sệt đi tìm nguyên nhân ở những thế lực thần bí.  Dịch tễ  giết người là do âm phủ bắt lính;  đắm đò, đắm thuyền là do thần sông (Hà bá)  nổi giận vì không cúng tế…

Người ta tin đủ thứ thần, nào thần sấm, thần sét, thần cây đa, thần hổ, ma xó…tất cả đều có quyền lực và có thể gây cho con người những điều xui xẻo, bất hạnh, chết chóc.

Người Trung Hoa thời cổ và ngay cả bây giờ  vẫn thờ nhiều thần lắm. Các thần thiên, địa, nhật, nguyệt, sơn, xuyên, lâm, trạch (trời, đất, mặt trời, mặt trăng, núi sông, rừng ruộng)  thần hổ, ngũ hành, thần tài…Trong nhà người Trung hoa ít nhất cũng có vài cái bàn thờ thờ thổ công, thần hổ, thần tài, quan công. Trước cửa tiệm buôn của họ luôn luôn có tượng thần tài mập mạp ngồi trên cái khay hay cái bệ nhỏ sáng ra có ném hương bốc khói và miệng “phì phèo” điếu thuốc lá Mỹ với chủ đích ban phước cho  chủ tiệm buôn may bán đắt, tiền bạc đầy nhà.

Người Việt không thờ quá nhiều thần như thế, nhưng mê tín dị đoan không kém người Tàu  bao nhiêu .Sanh ra con người ta đặt tên là Vằn, Vện, Mực, Đốm… theo tên của chó để ma quỉ lánh xa không dám đến bắt. Người ta tin  ma qủi sợ chó nên các thầy cúng lấy máu chó vẽ bùa cho trẻ con đeo ở cổ. Bế đứa bé ra khỏi nhà thì lấy nhọ nồi hay mực đen bôi lên mặt để ma quỉ thấy xấu không bắt đi.

Không biết ma quỉ qúa khờ để người ta đánh lừa hay chúng ta quá khờ nghĩ rằng đánh lừa được ma qủi bằng cách  ấy? Nhiều người ra khỏi nhà phải tính đi phương hướng nào, giờ nào tốt nhất.  Làm nhà cũng vậy,  phải nhờ  thầy địa lý chọn hướng, nhờ thầy cúng xem ngày giờ tốt để khởi công; có người kỹ hơn  làm nhà, tậu ruộng  hay mua trâu, bò đi xem tử vi xem năm nào, tháng nào hợp với tuổi của họ mới làm.  Vợ chồng xung khắc  hay bỏ nhau thay vì sửa đổi tính nết  hay tìm cách hoà giải  lại đi bói toán xem ma quỉ nào quấy nhiễu  và xin bùa ngải về đeo.

Ông cha chúng ta, qua kinh nghiệm của cuộc sống, đã nói “Xem bói ra ma, quét nhà ra rác” nhưng đầu óc mê tín đã tiêm nhiễm quá nặng không dễ gì bỏ được.  Không biết khi người tây phương phóng hoả tiễn lên mặt trăng, lên sao Hoả có bấm giờ, xem ngày  như người Việt chúng ta không, có tránh những ngày  “mồng năm, mười bốn, hăm ba, đi chơi cũng lỗ, nữa là đi buôn” không? Người Tây phương có thờ Thần Tài không mà họ giàu đến thế!

Tôi có anh bạn học trường Pháp  mà tin tướng số một cách lạ lùng.  Ngày tuần nào anh cũng cúng sao , làm việc gì cũng đi xem bói vài ba thầy. Nếu  tất cả các thầy bảo được mới làm, không thì thôi.  Thế mà đi vượt biên năm, bảy lần (tất nhiên mỗi lần các thầy bảo đi được mới đi), bị bắt vào tù ra tội mãi mới thoát vào lần chót.

Về mê tín dị đoan, người Việt bị ảnh hưởng khá nặng người Trung hoa nhất là về khoa tử vi (dựa vào bộ Kinh Dịch do Khổng Tử soạn)  và đồng cốt (dựa vào tư tưởng Lão Trang).

Những người bênh vực cho rằng Kinh Dịch thâu tóm những nguyên tắc huyền vi của vũ trụ do Ngũ Hành (Kim, Mộc, Thổ, Thủy, Hoả) tương tác biến dịch.  Nếu đúng như vậy tại sao  hơn 2.000 năm (từ khi Khổng Tử biên soạn Kinh Dịch ) người Tàu vẫn tin rằng trái đất vuông và nước Tàu là nước văn minh nhất ở giữa (Trung Quốc: nước ở giữa), cho đến khi tiếp xúc với người Tây phương  mới  biết trái đất tròn?

Bằng chứng thứ 2 để nói thuyết Ngũ Hành hoàn toàn sai lầm vì Vũ Trụ đã có khoảng trên 13 tỉ năm, hệ mặt trời (Thái Duơng hệ) trong đó có trái đất mới có khoảng trên một tỉ năm và theo các nhà khảo cổ, cây cối (tức Mộc) mới có vài triệu năm nay.  Vậy bao nhiệu tỉ năm trước vũ trụ biến dịch  ra sao  khi thiếu mất  một “hành ” là Mộc?

Bằng chứng thứ 3 để bác bỏ thuyết Ngũ Hành (căn bản của Kinh Dịch) là người ta nói Kim sinh Thủy tức kim loại khi nấu  ở nhiệt độ cao chảy thành chất lỏng (thủy) . Ngành Vật Lý chứng minh  tất cả đất, đá, cây cối …bị đốt ở nhiệt độ cao đều chảy thành lỏng cả. Trong phún thạch do núi lửa phun ra có cả đất , kim loại  và nhiều thứ khác trộn lẫn với nhau.

Người ta còn lý luận rằng Kim khắc Mộc vì con người dùng dao, búa, cưa để đốn  cây (Mộc).  Nhưng người ta quên rằng loài người mới biết dùng đồ  kim loại như đồng, sắt nhiều nhất là 10 ngàn năm. Khi chưa biết dùng kim loại người ta chế ra những lưỡi búa đá, dìu đá, những nhà khảo cổ gọi đó là thời đại đồ đá. Trước thời đồ đá người ta dùng vỏ sò, hến, ngay cả răng, tray để bẻ cành, cắt lá làm lều ở.  Như vậy trước đây hơn 10 ngàn năm hay xa hơn nữa,  Răng, Sò, Hến rồi  Đá khắc Mộc chưa phải Kim khắc Mộc.  Biết bao nhiêu sai lầm khác trong Kinh Dịch kể ra làm mất thì giờ của độc giả.

Thuyết Ngũ hành sai lầm vì ngày xưa kiến thức về vũ trụ và khoa học chưa có , người ta chỉ có một ít kiến thức về thiên văn nhưng lại chứa đầy  màu sắc dị đoan tin rằng những ngôi sao ấy có ảnh hưởng đến sinh mệnh con người.

Học giả Nguyễn Hiến Lê tự nhận là người trọng đạo Nho vì sinh ra trong một gia đình nho giáo, khi nghiên cứu về Tử vi  ông thấy khi đúng khi sai: ” . . . 10 lá chỉ đúng 6, 7 lá  và những lá đó 10 điều cũng chỉ đúng 6, 7  càng đoán về tiẻu tiết càng sai”. (Hồi ký NHL). Cũng trong cuốn Hồi Ký này ông nhận xét: Kinh dịch chỉ có giá trị  luân lý khuyên răn người ta biết ăn ở phải đạo, biết lui biết tới mà thôi. Về khoa Phong Thủy ông có một nhận xét rất hợp lý:  “Ở những vùng dân cư sinh sống đất đai, đồi gò sau bao nhiêu đời trồng trọt, cày cuốc, lấp ao hồ, san gò thành ruộng, địa hình biến đổi đâu còn nguyên hình rồng phượng, bút, nghiên…mà tìm huyệt phát . (HK NHL trang 264).

Thời ông Nguyễn văn Thiệu làm Tổng Thống, người ta đồn ông ta cho xây cây tháp  sen thật cao ở hồ Con Rùa ngay ngã tư Trần qúy Cáp  và Duy Tân đè lên đuôi con rồng để yểm không cho nó vẫy đuôi đập vào dinh Độc Lập.  Câu chuyện ấy đúng hay sai  không thành vấn đề , vấn đề là nó biểu lộ tính dị đoan trong người Việt chúng ta.

Đấy là khoa tử vi có cơ sở Kinh Dịch của Khổng Tử để dựa vào, còn biết bao những khoa bói toán  khác như bấm độn, chỉ tay, bói bài, bói Kiều…không có cơ sở đáng tin nào .

Thế mà nhiều người vẫn tin, không nhận thấy cái tai hại của mê tín dị đoan .

Biết bao gia đình tán gia bại sản vì đồng bóng, bao nhiêu thanh niên nam cũng như nữ ôm mối hận tình vì  “thầy ” nói không hợp tuổi đành phải chia tay, biết bao người con gái lỡ cả cuộc đời vì sinh nhằm tuổi “Dần” (cọp) không ai dám lấy. Cũng vì cái tuổi Cọp này mà biết bao thai nhi ở bên Tàu và Việt Nam sau khi siêu âm biết là con gái  thì bị phá giết đi  vì để sanh vào tuổi Cọp  sẽ phải ở già (ế chồng).

Ai bảo mê tín dị đoan không độc ác, sát nhân?

Mê tín dị đoan là một mối họa cho dân chúng, nhất là dân nghèo hết bị quan quyền chèn ép, bóc lột lại bị ông thầy, bà cốt lừa gạt  sạch sành sanh.  Chúng tôi xin dẫn chứng qua bài đồng giao (bài hát của con nít) từ xưa để lại:

Con chim chích choè
Nó đậu cành chanh
Tôi ném mảnh sành
Nó rơi xuống đất
Xáo xào một chốc
Được mâm cỗ đầy .
Ông thầy ăn một
Bà cốt ăn hai
Cái thủ cái tai
Tôi đem biếu chúa
Chúa hỏi thịt gì\?
– Thưa thịt chim chích .
Con chim chích choè…

Người dân nghèo không có phương tiện  như cung, nỏ để săn bắn. May mắn ném trúng con chim chích  choè, một loại chim nhỏ,  vặt bỏ lông chắc chưa tới 50 gr thịt  mà phải vội tìm thêm rau cỏ xáo xào, chế biến  thành một mâm cỗ đầy. Anh ta không được miếng nào vì  phải lo dâng lên cho ông thầy bà cốt.   Họ ăn tham quá, nhất là bà cốt.  Còn cái đầu chim bằng ngón tay cái xương xảo người ném chim cũng không được nút, phải đem biếu Chúa.  Chúa nào nhỉ?

Có thể bài hát này xuất hiện vào thời Trịnh – Nguyễn  phân tranh  thế kỷ 17, 18 (1.627 – 1.775). Đọc lại lịch sử chúng ta thấy cuộc chiến tranh kéo dài khoảng 150 năm này gây biết bao nhiêu chết chóc cho con người, tàn phá biết bao nhiêu nhà cửa ruộng vườn . Thanh niên trai tráng phải xung vào lính ở cả Đàng Trong lẫn Đàng Ngoài .  Đất đai không người cày cấy, đã thế còn thêm sưu cao thuế nặng làm nhân dân đói khổ;  từ đói khát, khổ sở sinh ra bệnh tật  phải đi khấn nơi này vái nơi kia. Ông thầy bà cốt  – trong ý nghĩ mê tín của người dân – là những người có thể đem phúc hoạ cho họ nên phải lo lễ lạt trước, sau đó là lo sưu thuế cho bộ máy chiến tranh suốt 150 năm của Chúa Trịnh ngoài Bắc và Chúa Nguyễn ở trong Nam. Bài hát trên  diễn tả hoàn cảnh xã hội Việt Nam thời đó  chăng?

© http://www.danchimviet.com

Ở Trung Hoa không có hai chữ “ĐỒNG BÀO”?

6 Comments

Hôm nay đọc 1 bài viết trên mạng, của một “thầy địa lý”, bà khẳng định “Ở Trung Hoa không có hai chữ “ĐỒNG BÀO”. Ngạc nhiên quá, nhất là với một người từng được học hành ở TQ như bà.

Thực ra ở 4 nước đã từng đồng văn VN, Nhật, Hàn và TQ, từ “Đồng Bào – 同胞” cực kì phổ biến.

Chữ Bào 胞 có trước thời Hán, đã mang nghĩa “Anh em một nhà”. Tài liệu xưa nhất có thể tra chữ Đồng Bào là Hán ngụy Nam Bắc triều mộ chí vị biên, cách nay trên dưới 1600 năm.

Tôi sợ nhất thầy bói, đặc biệt là thầy bói mò!

Tranh vui và ảnh lạ

2 Comments

 

Bài toán mẫu một nghiệm số

15 Comments

13/11/2009 | 8:00 sáng | Chưa có phản hồi.

Chuyên mục: Văn hoá – Giáo dục

Kính thưa giáo sư Hoàng Tụy,

 

Là một sản phẩm của nền giáo dục Việt Nam trong gần 20 năm (từ 1973 dưới mái trường XHCN Bắc Việt), tôi xin được tôn gọi giáo sư là Thầy, dù chưa bao giờ được hân hạnh gặp mặt giáo sư ngoài đời. Nhân Hiến chương nhà giáo 20.11.2009, tôi trân trọng gửi đến Thầy nói riêng, và tất cả các bậc giáo thụ Việt Nam nói chung, lời chúc mừng chân thành nhất. Tôi cầu mong Thầy luôn luôn khỏe mạnh và tiếp tục cống hiến nhiều thành tựu cho nền giáo dục Việt Nam hiện đại.

 

Thưa thầy, là người đã và có con nhỏ đang thụ hưởng nền giáo dục Việt Nam, do các Thầy đặt nền móng tiên phong, tôi không thể không suy nghĩ trước sự kiện bài viết “Giáo dục: Xin cho tôi nói thẳng” của Thầy và những vấn đề liên quan đến việc website Tia sáng bị đóng cửa. Trong gần hai tuần, tôi đã đọc đi đọc lại bài viết gốc của Thầy trên trang mạng của Gs Trần Hữu Dũng hơn mười lần. Được động viên bởi đoạn kết: “Trong giáo dục, khoa học có những vấn đề mà tranh luận cả ngày cũng không kết luận nổi, nếu vốn hiểu biết và vốn văn hóa phổ quát quá khác nhau. Cho nên cần, rất cần chờ đợi và lắng nghe nhau, song trước hết phải được thẳng thắn trao đổi ý kiến”, tôi đã mạnh dạn rút tỉa những ý chính sau đây kính gửi thầy xem qua.

 

1. Hiện trạng giáo dục Thầy nêu ra hoàn toàn trung thực, bất cứ ai thường xuyên theo dõi truyền thông đại chúng đều nhanh chóng thấu hiểu nỗi ưu tư của thầy, thậm chí bản thân họ cũng có thể là dẫn chứng hùng hồn. Xin liệt kê chuỗi từ xuất hiện nhiều nhất trong bài viết của Thầy từ 50 lần đến 7 lần: Giáo dục, thay đổi/đổi mới/cải cách, quản lý, đào tạo, lạc hậu/yếu kém, lãnh đạo, bất cập, học việc, chất lượng/trình độ… Nửa cuối chuỗi thống kê mà tôi chỉ ra, hoàn toàn trùng hợp với một trong hai câu thầy đã hai lần nhấn mạnh trong bài: “Song muốn lay chuyển tình hình phải thừa nhận nguyên nhân chủ yếu, nguyên nhân của mọi nguyên nhân, đó là lãnh đạo, quản lý bất cập, bất cập cả tâm lẫn tầm và từ trên xuống dưới”. Từ khuôn mặt giáo dục ấy, dẫn chiếu qua nhiều khuôn mặt khác của xã hội, tôi thấy nó đều na ná giống nhau, chẳng hạn Giao thông, Y tế, Thương mại, Truyền thông v.v… thậm chí cả Ngoại giao nữa. Thầy thấy đó, chỉ cần thay từ “Giáo dục” ở chuỗi trên bằng một khuôn mặt khác của xã hội, ta sẽ có ngay một bài toán tương đương. Nói cách khác, khó tránh khỏi việc bài viết của Thầy có thể được coi như một bài toán mẫu cho những vấn đề xã hội nổi cộm hiện nay ở Việt Nam.

 

2. Nhà toán học vĩ đại người Pháp René Descartes từng nói “Tôi nghi ngờ, cho nên tôi tư duy, cho nên tôi tồn tại”. Do đó, xin Thầy cho phép tôi được nghi ngờ tính đơn tuyến và cái nghiệm số duy nhất mà thầy tin tưởng trong bài viết của mình. Nói cho cùng những bài toán xã hội phức tạp thường đa nghiệm và tồn tại nhiều cách giải, nó không hề khô khan và rất khó vận hành dưới những công thức, những tiên đề thường được ngợi ca là chân lý. Ít nhất ở thời điểm này, tôi có thể chỉ ra (nhưng sẽ bình luận sau) cách giải khác của nhà sử học Trần Gia Phụng đăng trên talawas blog ngày 7.11.2007, tựa đề “Giáo dục Việt Nam và viện IDS”.

 

3. Trong thâm tâm mình, tôi biết Thầy không có ý định đưa ra một “Bài toán mẫu”. Éo le là “Bài toán mẫu” đó có thể chỉ ra cách giải cho các vấn đề xã hội khác ở Việt Nam, và khi qui nạp lại, nó tự trình bày vấn đề lớn hơn ở thể chế, chứ không còn khu biệt trong “lãnh đạo” tại các bài toán đơn diện. Con đường tư duy này không sai, nhưng nó sẽ trở nên cực đoan nếu dừng lại tại đó. Tôi rất tiếc là với hơn 3000 ngàn chữ trong bài viết của mình, thầy chỉ duy nhất một lần nói đến văn hóa: “Trong giáo dục, khoa học có những vấn đề mà tranh luận cả ngày cũng không kết luận nổi, nếu vốn hiểu biết và vốn văn hóa phổ quát quá khác nhau”. Thể chế có phải là con đẻ của văn hóa hay không, đến nay tôi đã không dám chắc. Song, nền văn minh nông nghiệp Việt Nam đang chuyển mình tiến lên văn minh đô thị trước và sau ngưỡng cửa thế kỷ 21 là không thể phủ nhận. Mối quan hệ biện chứng giữa con người và văn hóa, thiết tưởng, lại quay trở về bài toán giáo dục. Một nhà giáo dục lớn đổ lỗi cho lãnh đạo chính trị, tôi e rằng hơi phiến diện.

 

4. Tôi thông cảm rất nhiều với bài toán một nghiệm số của Thầy, nhưng lý tính cũng bảo tôi hãy thông cảm chút ít cho vị nào đã ra lệnh đóng cửa website Tia sáng. Hơn ai hết, tôi, một người thích phản biện, luôn bị “ném đá” trên thế giới mạng, dễ dàng nhìn ra cái vòng luẩn quẩn của nền văn hóa Việt Nam chưa bao giờ thân thiện với phản biện. Điều tôi ao ước lúc này là người đã ra lệnh đóng cửa website Tia sáng nên cho phép nó hoạt động trở lại, cũng như Giáo sư Hoàng Tụy sẽ bỏ ý định giấu mình trong “sự im lặng đáng sợ”.

 

Thưa Thầy, mở đầu phần kết của lá thư này, tôi xin trích một đoạn góp ý của Gs Neal Koblitz, từ blog DongA của Ts Trần Minh Tiến: “Một vài nhà bình luận Việt Nam mô tả tình trạng hiện nay bằng các ngôn từ của ngày tận thế, và tuyên bố rằng các vấn đề của giáo dục bậc cao đã trở nên trầm trọng đến mức cần phải có sự can thiệp từ phía bên ngoài – bởi những người nước ngoài – mới có thể dẫn đến cải cách. Một số thậm chí còn tin tưởng rằng vấn đề này chỉ có thể được giải quyết nếu như toàn bộ hệ thống kinh tế và chính trị được thay đổi – chắc với ý là bằng một mô hình nào đó theo mô hình tư bản phương tây”. Trong tiếng Anh, có một câu nói là: “Hãy coi chừng những ước muốn của mình.” Lý do (thường không nói đến) là bởi vì “anh sẽ lĩnh đủ nó.” (hết trích).

 

Neal Koblitz chứng tỏ mình tiếp cận vấn đề khá sâu sắc. Ông đã dẫn từ Lương Thế Vinh đến cả Thầy. Chỉ tiếc rằng ông chỉ đề cập đến phân đoạn giáo dục bậc cao. Ông nhìn nhận “Sự kính trọng đối với tri thức như là một phần trong văn hoá Việt Nam từ thời xa xưa”. Tuy ông bỏ sót yếu tố “trưởng lão” nhưng chúng ta không thể mong chờ một nhà toán học thuần túy như ông phải hiểu ngọn ngành rằng nội hàm “trưởng lão” cổ điển ở Việt Nam luôn dung chứa giá trị “trí thức”. Có lẽ Koblitz sẽ ngạc nhiên về điều đó. Năm ngoái, diễn đàn Oscar của xứ sở ông đã vinh danh bộ phim “No country for old man”, như lời tố cáo đanh thép vòng quay của những đồng đô la xanh nhuốm máu, được hoán chuyển trên nhiều bàn tay của các giai tầng trẻ khỏe trong xã hội, giữa cơn lốc vũ điệu bạo lực, chết chóc không ngừng nghỉ. Văn hóa Mỹ đã đang và sẽ cho ra rìa những người già nhưng đầy thành tựu và kinh nghiệm như nhân vật Ed Tom Bell do Tommy Lee Jones thủ diễn. Ngược lại, văn hóa truyền thống Việt Nam luôn đánh giá những người như Thầy là một trí thức bình phương.

 

Đó là nguyên nhân cơ bản và trực tiếp, để tôi ngồi xuống bên máy tính, mong được Thầy cho phép vấn an, nhân dịp ngày Hiến chương các nhà giáo Việt Nam.

 

Kính thư,

Trương Thái Du

Thạch Viên – Nhơn Trạch

11.2009

 

© 2009 Trương Thái Du

© 2009 talawas blog

Older Entries

Nghiên cứu lịch sử

Các bài nghiên cứu, biên khảo và dịch thuật các chủ đề về lịch sử

Le Minh Khai's SEAsian History Blog

Always rethinking the Southeast Asian past

trinhythu

Trịnh Y Thư WordPress.com site

trandangtuan.com

Men lá rượu ngô trong

4th Avenue Café

Free non-fiction translation

WordPress.com

WordPress.com is the best place for your personal blog or business site.

Trương Thái Du's Blog

Văn chương thiên cổ sự - Đắc thất thốn tâm tri...

No More Goat Soup

No goats were harmed in any way while making this blog. (We did kill all the sheep though)