Quá trình hình thành quốc hiệu Việt Nam

11 phản hồi

Trước và trong thời Hai Bà Trưng, tiên tổ của người Việt Nam hôm nay gọi đất nước mình là gì? Đó là một câu hỏi khó. Tuy vậy, tôi cũng tạm nêu ra từ “Âu Lạc”, trong đó Âu là Đất, Lạc là Nước. Từ ghép “Âu Lạc” mang nghĩa là đất nước hay xứ sở[1]. So sánh hơi khập khiễng thì tổ chức xã hội Âu Lạc khi ấy không khác mấy vùng đồng bào thiểu số Tây Nguyên cách đây trên dưới 100 năm. Nếu người Pháp từng kí âm “Đạ Lạch” thành Đà Lạt (nghĩa gốc là nước của người Lạch, xứ sở của người Lạch) thì người Hán cũng đã kí âm “Đất nước” thành “Âu Lạc”. Chúng ta chỉ hình dung được: dường như Âu Lạc – Đất Nước có qui mô lớn hơn Đà Lạt – Nước Lạch.

Từ Âu Lạc xuất hiện lần đầu tiên trong Sử kí của Tư Mã Thiên. Song nó hàm nghĩa rất rộng, đó là một khu vực bao la gồm Quảng Tây, Quảng Đông và miền bắc Việt Nam ngày nay. Vương quốc Âu Lạc nửa hư nửa thực gắn với An Dương Vương hầu như chỉ là sự ghép nối vụng về các mảnh sử liệu rời rạc có sau Sử kí.

Trên một góc nhìn nào đấy thì nước Nam Việt của Triệu Đà cũng có thể mang tên bản địa là Âu Lạc. Sử kí viết về nước Nam Việt, nhưng luôn nêu rõ dân là dân Việt, tuồng như trong thông nghĩa Bách Việt (hàng trăm / nhiều tộc Việt khác nhau phía nam Trường Giang).

Vậy chủ nhân của mảnh đất Việt Nam hôm nay có phải người Việt không, hay Việt chỉ là một từ ngoại lai mà lịch sử trót dùng.

1. Nước Việt thời Xuân Thu – Chiến quốc.

Theo Việt vương Câu Tiễn thế gia (Sử kí thiên 41[2]): Việt vương Câu Tiễn là hậu duệ vua Hạ Vũ. Con thứ vua Thiếu Khang đời Hạ được phong đất Cối Kê để thờ cúng vua Hạ Vũ. Họ khai hoang lập ấp, cắt tóc xâm mình, trải qua hai mươi đời thì đến Doãn Thường. Doãn Thường đánh nhau với vua ngô là Hạp Lư. Doãn Thường chết, Câu Tiễn được lập làm Việt vương.

Các chú giải của đoạn Sử kí trên:

  1. Sách Chính Nghĩa, trích lại từ Ngô Việt xuân thu (viết vào năm 232 đến 300): Vua Hạ Vũ đi khắp thiên hạ, đến Đại Việt, lên Mao Sơn họp quần thần bốn phương phong thưởng, rồi mất và được an táng tại đó. Đến thời Thiếu Khang, vua sợ không ai tế tự tôn miếu, bèn phong con thứ là Ư Việt hiệu Vô Dư đất ấy.
  2. Sách Cối Kê kí viết rằng: Con thứ của vua Thiếu Khang hiệu là Ư Việt, do đó tên nước Ư Việt xuất phát từ tên hiệu ấy.
  3. Sách Chính Nghĩa viết: Sách Xuân Thu Công Dương truyện gọi Ư Việt là do vùng đất ấy chưa thông với Trung Quốc. Thông rồi thì gọi là Việt.
  4. Sách Xuân Thu Tả truyện cho rằng Việt là tiếng nói của người bản địa (Cối Kê) có âm như thế, dùng từ Việt để ghi lại.
  5. Sách Thích Danh của Lưu Hi (219 SCN): Việt mang nghĩa vượt, vì là nước man di khác vòng lễ nghĩa Hoa Hạ.

Sau khi Câu Tiễn diệt Ngô, quân Việt vượt sông Hoài cùng các nước Tề và Tấn hội ở Từ Châu, cung tiến vật phẩm cho triều Chu. Chu Nguyên Vương phong Câu Tiễn là Bá, trông coi các chư hầu vùng Giang Nam.

Đến đời Việt vương Vô Cương, Sở Uy Vương diệt nước Việt. Con cháu Câu Tiễn cũng như giới quí tộc Việt lưu lạc khắp miền Giang Nam, xưng tiểu vương hoặc quân trưởng và thần phục vua Sở.

Đến Tần mạt, hai quân trưởng vùng đất Mân là Dao và Vô Chư giúp Hán cao tổ đánh quân Tần. Năm 202 TCN Vô Chư được phong Mân Việt Vương cai quản vùng phía nam đất Mân (Quận Mân Trung thời Tần). Năm 192 TCN Dao lại được nhà Hán phong làm Đông Âu vương, cai quản vùng phía bắc đất Mân, ở lưu vực sông Âu.

Trong Sử Kí của Tư Mã Thiên, Ư Việt (於越) còn được viết là Vu Việt (于越 – Hóa thực liệt truyện SK 129). Sách Thuyết văn giải tự : Vu = Ư dã (là Ư vậy).

2. Dân Âu Việt là ai?

Cũng Sử Kí (Triệu Thế gia SK 43[3]) ghi nhận: 夫翦发文身,错臂左衽, 瓯越之民也 / Phu tiễn phát văn thân, thác tí tả nhẫm, Âu Việt chi dân dã / Như người Âu Việt, đàn ông cắt tóc, vẽ mình, đặt vạt áo về bên tay trái.

Sách đời sau chú đoạn Sử Kí trên khá nhiều, với mục đích trả lời câu hỏi “Âu Việt chi dân” là ai:

–          Sách Ẩn nói theo Lưu Thị thì người Châu Nhai, Đạm Nhĩ (Đảo Hải Nam ngày nay) là người Âu nên có từ Âu Việt.

–          Sách Chính Nghĩa cho rằng họ là người Nam Việt của Triệu Đà.

Xét trên đặc trưng văn hóa được Sử Kí ghi nhận thì người Âu Việt, người Ư Việt hay Vu Việt gần như là một. Để chứng minh Ư = Vu = Âu, cần phải có một công trình ngôn ngữ học truy nguyên các ngữ âm Hán cổ, cũng như cách kí âm phương ngữ bằng Hán tự của người Trung Quốc xưa.

Chữ Âu ở đây rất quan trọng, nó có liên quan mật thiết với cổ sử Việt Nam, vì một trong những thuật ngữ mù mờ nhất trong cổ sử Việt Nam là từ Âu Lạc. Sử Kí đã dùng những chữ Âu sau:

  1. Đông Âu: Xứ sở của Đông Âu vương tên Dao. Từ này xuất hiện trong các thiên: Hiếu Vũ Bản Kỉ SK 12, SK 114, SK 22, SK 30.
  2. Âu Lạc : Nói chung toàn khu vực Nam Việt, kể cả Mân Việt / SK 20, SK 113.
  3. Người Đông Âu ở bên bờ sông Âu / SK 114, SK 22.
  4. Âu Việt : Người Âu Việt / SK 43.
  5. Âu nhân : người Đông Âu / SK 130.
  6. Âu Thoát : Tên một vùng đất của Hung Nô phía bắc / SK 114.

Theo Thuyết Văn giải tự, Âu = 甌:小盆也從瓦區聲 / Tiểu bồn dã tòng Ngõa Khu thanh (Cái bồn nhỏ, bộ Ngõa, âm như chữ Khu). Chữ Âu 甌 ghép bởi chữ Khu 區 (Khang Hi: vực dã) là vùng đất và chữ Ngõa 瓦 là ngói, đồ gốm.

Xin đề nghị một liên tưởng dân dã:

U = nhô lên = đồi, núi ~ vú (nguồn sống nhô lên từ ngực phụ nữ) = rú (âm Việt cổ chỉ núi, trong từ rừng rú).

Vú em = dưỡng mẫu

U = mẹ

Bu = mẹ già

Khu (đất) ~ u = mẹ.

Khu = vực = đất

Ý Đất trong chữ Âu có thể xuất phát từ âm Khu. Ta có thể có mối tương quan giữa các âm như sau: Ư = Vu = Khu = Âu = U = Bu = Mẹ = Đất = Rú (Núi = Non).

Biến âm giữa U sang Âu được ghi nhận khá nhiều: Chu / Châu , Thu / Thâu, U / Âu ( u sầu = âu sầu) …

Như vậy, hoàn toàn tồn tại khả năng người Trung Quốc đã dùng Hán tự để kí âm phương ngữ vùng Giang Nam để nói về nước Ư Việt thời Xuân Thu – Chiến quốc. Từ nước Việt bên giòng Trường Giang ấy mà liên hệ ngôn ngữ với nước Việt Nam hôm nay là rất khó thuyết phục, tuy nhiên đặc trưng văn hóa cắt tóc xâm mình tương đồng là không thể phủ nhận. Có chăng một cuộc di cư lớn, kéo dài hàng trăm năm của cư dân và quí tộc Ư Việt sau khi nước Việt bị nước Sở sáp nhập? Nếu hậu duệ Câu Tiễn từng được ghi nhận chạy loạn xuống Mân Việt (địa bàn tỉnh Phúc Kiến ngày nay), thì không có lí do gì không có những nhánh khác đi xa hơn như đến Quảng Đông, đảo Hải Nam, bờ biển Hợp Phố (Quảng Tây) và đồng bằng sông Hồng.

3. Âu Lạc – Lạc Việt

Khi hai dân tộc, hai nền văn hóa vì những biến động lịch sử vô tình hòa vào nhau, kết hợp làm một, nó sẽ để lại dấu tích trong ngôn ngữ. Đó sẽ là những tổ hợp từ sinh ra trên cơ sở phối hợp hai từ đồng nghĩa của hai nền văn hóa riêng biệt. Từ mới nọ tất nhiên phải đồng nghĩa với hai từ cũ. Ví dụ:

Chó = Má = Chó má (Thái + Việt)

Chia = Ly = Chia ly (Việt + Hán)

Vậy phải chăng Âu Lạc chính là hợp từ sinh ra bởi Âu và Lạc. Nếu câu chuyện này thuyết phục, thì ta có thể truy ngược được nghĩa Âu.

Tại hội nghị nghiên cứu thời kì Hùng Vương năm 1971, trong tham luận “Thử tìm nguồn gốc ngữ nghĩa của từ tố Lạc”, Nguyễn Kim Thản và Vương Lộc đã giải thích Lạc nghĩa là nước. Hai ông cũng liên hệ được Lạc với Nác (tức nước) theo phương ngữ miền trung Việt Nam. Bằng các phương pháp truy nguyên ngữ âm học, các chuyên gia ngôn ngữ học Việt Nam hiện nay đã đi đến kết luận chữ Giang trong Trường Giang là Hán tự kí âm phương ngữ. Thật vậy, chữ Giang ghép bởi chữ Thủy (mang nghĩa nước, sông) và chữ Công (kí âm). Công có họ hàng với Krông, tức là dòng sông, dòng suối trong ngôn ngữ của cộng đồng người Đông Nam Á cổ và hiện vẫn tồn tại trong ngôn ngữ Tây Nguyên. Trường hợp tên gọi Mêkông[4] (tiếng Thái, tức là mẹ của các dòng sông, dòng suối) cũng vậy. Ngày nay ở Tây Nguyên nhóm từ Đạ / Đak / Krông đều chỉ nước, sông, suối.

Theo tôi từ Lạc không đơn thuần chỉ là nước mà nó đôi khi còn được sử dụng với nghĩa Xứ Sở với các dẫn chứng liên hệ như Negeri (tiếng của người Mianagkabau ở Malaysia), Nưgar (tiếng của người Chiêm Thành).

Như vậy, khi xâu chuỗi các nghiên cứu trên lại với nhau ta có một nhóm từ tố mang nghĩa rất giống nhau là : Đạ / Đak / Krông / Lạc / Nác / Nước / Nưgar / Negeri.

Giả định Âu Lạc = Đất nước đến đây đã trở nên không hề hoang tưởng. Thậm chí nó có thể mở ra cách giải nghĩa một từ có liên đới là Lạc Việt: tên gọi này thể hiện sự kết hợp hai chủng tộc là bản địa (Lạc) với con dân cũ của nước Việt di cư xuống. Ở góc độ nào đó, nó là sự rút gọn của Lạc – Âu Việt.

4. Nam Việt

Mở đầu thiên Nam Việt liệt truyện (Sử kí 113[5]) đã thấy Tư Mã Thiên dùng từ Việt với hàm í dân Việt: 秦时已并天下,略定杨越 置桂林,  南海、象郡, 以谪 徙民,与越杂处十三岁 / Tần thời dĩ tính thiên hạ, lược định Dương Việt trí Quế Lâm, Nam Hải, Tượng quận, dĩ trích tỉ dân, dữ Việt tạp xứ thập tam tuế. Nghĩa là: Nhà Tần, sau khi chiếm cả thiên hạ bèn lấy đất Dương Việt chia thành quận Quế Lâm, quận Nam Hải và quận Tượng, bắt những người bị tội đày xuống sống chung với người Việt, việc diễn ra đã được 13 năm. Về tổng thể, thời Tây Hán sách sử Trung Quốc đều thống nhất cho rằng chủ nhân nước Nam Việt là người Việt.

Chữ Việt trong tiếng Hán: 越. Thuyết Văn tự giải của Hứa Thận thời Đông Hán định nghĩa: 度也從走戉聲 / Độ dã tòng tẩu việt thanh (Nghĩa là vượt qua, bộ tẩu, âm như chữ Việt là chiếc rìu đá). Một chữ Việt khác đồng âm, đồng nghĩa nhưng dị tự vẫn hay được các bản in xưa nay dùng là 粵.

Trong ghi chép của Tư Mã Thiên, con người bản địa nước Nam Việt do Triệu Đà dựng lên là người Việt. Tuy vậy, dường như chữ Việt này được rút từ từ ghép Bách Việt, chứ không dính dáng gì đến nước Việt thời Chiến Quốc trước đó. Bách Việt không phiếm chỉ một dân tộc, một đất nước. Nó gần như là một khái niệm và mang nặng hàm nghĩa văn hóa. Phổ quát nhất và thường được lập đi lập lại là đặc trưng “văn thân, đoạn phát / xăm mình, cắt tóc”. Theo Đông Việt liệt truyện (SK 114)[6] và Việt vương Câu Tiễn thế gia(SK 41)[7], vùng Mân Việt (Phúc Kiến) phía đông bắc Nam Việt là đất nước dưới quyền cai trị của hậu duệ Việt vương Câu Tiễn. Năn 202 TCN nhà Hán phong Vô Chư làm Mân Việt Vương, năm 192 TCN nhà Hán lại cắt một phần phía bắc Mân Việt phong cho quân trưởng Dao làm Việt vương (theo SK 41) hoặc Đông Âu vương (theo SK 114).

Thật khó khăn nếu muốn giải nghĩa Triệu Đà lấy tên Nam Việt với hàm í gì. Xét theo ngữ pháp tiếng Hán ta có Nam Việt = Đất nước phía nam nước Việt. Do đó người Việt ở nước Nam Việt có lẽ là người Bách Việt hơn là người Việt đồng chủng với cư dân Mân Việt? Điều này sẽ bị mấy câu văn vần của Thái sử công ở cuối thiên SK 113 phủ nhận, khi mô tả sự kiện Mân Việt đánh nhau với Nam Việt : Âu Lạc tương công, Nam Việt động dao / (Người, xứ) Âu Lạc đánh nhau, (Nước) Nam Việt xáo động. Hơn nữa, tục cắt tóc xăm mình cũng rất thịnh hành ở nước Việt của Câu Tiễn. Có không khả năng giai cấp lãnh đạo Mân Việt là người Việt (con cháu Câu Tiễn), trong khi đại bộ phận nhân dân là người Lạc?

5. Việt nam

Sau khi diệt Nam Việt, có một cách đoạn nhiều trăm năm cái tên Nam Việt không được cả người Hán lẫn người Âu Lạc cũ dùng tới. Sau đây là biên niên và tên gọi Việt Nam[8] ngày nay theo dòng lịch sử:

Hán: quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam

Tam quốc (thuộc Ngô) trở đi : Giao Châu

Đường : An Nam

Tống : An Nam, như việc phong Đinh Bộ Lĩnh làm An Nam quận vương. Năm 1017 nhà Tống phong Lý Công Uẩn Nam Bình Vương. Năm 1164 nhà Tống lại dùng danh xưng An Nam Quốc Vương cho vua Lý.

Minh: An Nam, năm 1428 Lê Lợi thay Trần Cao và được nhà Minh phong làm An Nam quốc vương, sau đến nhà Mạc được phong An Nam đô thống sứ.

Thanh: An Nam, như đã phong cho vua Quang Trung là An Nam Quốc vương.

Đến năm 1802, lần đầu tiên bắc triều mới chấp nhận để chữ Việt vào quốc danh để thành Việt Nam. Tai sao bắc triều tránh dùng chữ Việt, có những lí do sau:

–          Sợ nhầm lẫn với nước Nam Việt thời Tây Hán hoặc nước Việt thời chiến quốc.

–          Chữ Việt nhắc đến một quốc gia độc lập và tự chủ, trong khi bắc triều luôn muốn áp đặt đô hộ trực tiếp hoặc thống thuộc gián tiếp mảnh đất phương nam này như một thuộc quốc.

–          Chia để trị là một đối sách mà các nước đế quốc ưa dùng. Quá trình Hán hóa các dân tộc thiểu số ở Hoa Nam bắt buộc phải thủ tiêu thuật ngữ Bách Việt. Hán hóa chính là xâm lăng văn hóa, thôn tính văn hóa, bước tiếp theo của vũ lực quân sự.

–          Sau khi nước Việt thời chiến quốc và nước Nam Việt của Triệu Đà đã bị gộp vào Hán tộc, bắc triều gọi các nước phương nam là Nam cũng có thể xác nhận cách nhìn nhận phi Hán trong văn hóa, con người cũng như cương vực của khu vực này.

Ngược lại với bắc triều, các phong trào giành độc lập cũng như các vương triều của cư dân Việt Nam xưa có xu hướng chuộng chữ Việt:

Năm 544 Lý Bí tự xưng Nam Việt đế, đặt tên nước là Vạn Xuân.

Năm 549 Triệu Quang Phục xưng là Việt Vương.

Năm 939 Ngô Quyền mở nước Đại Việt.

Năm 968 Đinh Bộ Lĩnh đặt tên nước là Đại Cồ Việt.

Năm 1054 Lý Thánh Tông đổi quốc hiệu là Đại Việt.

Năm 1400 Hồ Quí Ly lấy tên Đại Ngu.

Năm 1427 Lê Lợi dùng lại tên Đại Việt.

Năm 1802 Nguyễn Ánh lấy tên nước là Nam Việt nhưng Thanh triều đổi thành Việt Nam.

Năm 1838 vua Minh Mạng dùng lại tên Đại Nam.

Năm 1945 chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định tên nước là Việt Nam.

Trường hợp dân tộc Tráng (Choang): Không riêng gì người Việt Nam, người Tráng ở Quảng Tây cũng có một lịch sử chống bắc thuộc dai dẳng và bền bỉ. Từ thời Đường, các lãnh tụ khởi nghĩa của họ đã xưng vương và lấy những danh xưng có liên quan đến từ Việt và từ Nam như: Trung Việt Vương, Nam Hải Vương, Nam Việt Vương. Ngang thời Lý ở Việt Nam, ‎Nùng Trí Cao xuất thân từ tỉnh Cao Bằng đã xây dựng nước Đại Lịch Quốc, sau lại đổi thành Nam Thiên Quốc với cương giới gần phủ kín hai tỉnh Quảng Tây và Quảng Đông [9].

Có hai khuynh hướng chủ đạo thiết lập nền độc lập ở các dân tộc phía nam Hoa Hạ:

  1. Lãnh đạo từ phương bắc xuống (hoặc hậu duệ nhiều đời của họ), hòa đồng với người phương nam, phát triển văn minh nhà nước tập quyền trên cơ sở thống nhất các bộ lạc tự trị, các vùng quyền lực bản xứ: Tổ tiên Câu Tiễn, Triệu Đà, Hậu duệ Câu Tiễn, Sĩ Nhiếp, Lý Bí, Trần Thủ Độ, Hồ Quí Ly…
  2. Người bản xứ đứng lên tự cởi ách đô hộ, xưng vương: Hai Bà Trưng, các tù trưởng người Tráng ở thời Đường, Nùng Trí Cao, Lê Lợi…

Không kể Lê Lợi xây dựng vương triều từ nền móng chính trị sẵn có, ta thấy rõ khuynh hướng thứ nhất phổ biến hơn, thành công hơn. Trừ Hồ Quí Ly muốn ngang hàng bắc triều bằng cách đổi tên nước thành Đại Ngu (với giải thích ông là hậu duệ vua Nghiêu khai quốc Hoa Hạ), Sĩ Nhiếp tìm sự độc lập trong khuôn khổ hẹp, đa phần các lãnh tụ chọn từ Việt cho vương quốc mình. Các lí do hữu quan:

–          Phần nào đó tầng lớp lãnh đạo chính trị phương nam có huyết thống phương bắc, tác động của yếu tố này sẽ khiến họ chủ động thực nghiệm văn hóa chính trị tiến bộ trong khu vực vào quốc gia họ xây dựng trên mảnh đất phương nam.

–          Dư âm nước Việt tiểu bá phương nam của Câu Tiễn thời chiến quốc có thể là biểu trưng tinh thần, khích lệ các lãnh tụ tự tin và nỗ lực bồi đắp độc lập, tự chủ, thâu tóm quyền lực. Trong í nghĩa ấy, nước Việt mới, dân tộc Việt mới vẫn chứa nội dung phi Hán.

–          Một cách tự nhiên, từ Việt dần dần hóa thạch vào văn hóa chính trị phương nam với í nghĩa li khai, bất khuất. Nó mang tính chính thống hiển nhiên trong đối nội và đối ngoại của bất cứ chế độ nào.

6. Kết luận

Tóm lại, Việt越 là một từ cổ, một từ bình thường trong bể từ vựng giữa đời sống văn minh Hoa Hạ. Nó được áp vào tên nước thời chiến quốc với í nghĩa[10]:

  1. Sách Cối Kê kí cho rằng Ư Việt là tên của một hậu duệ vua Hạ Vũ, đến Cối kê lập nên nước Việt để tiện việc thờ tự Hạ Vũ (vốn mất và được chôn cất tại Đại Việt).
  2. Sách Chính Nghĩa viết: Sách Xuân Thu Công Dương truyện gọi Ư Việt là do vùng đất ấy chưa thông với Trung Quốc. Thông rồi thì gọi là Việt.
  3. Sách Xuân Thu Tả truyện cho rằng Việt là tiếng nói của người bản địa (Cối Kê) có âm như thế, dùng từ Việt để ghi lại.
  4. Sách Thích Danh của Lưu Hi (219 SCN): Việt mang nghĩa vượt, vì là nước man di khác vòng lễ nghĩa Hoa Hạ.

Vì nhiều lí do (một số đã dẫn ở trên) ngày nay Việt Nam đã trở thành tên gọi chính thống của dải đất hình chữ S bên bờ Tây Thái Bình dương. Để được như thế, hai từ Việt và Nam đã trải qua một quá trình vận động bổ xung ngữ nghĩa hàng ngàn năm, với biết bao thăng trầm của lịch sử. Một lần nữa ta thấy dấu ấn của Triệu Đà ở đây, như một người gieo mầm văn minh chính trị tiến bộ phương bắc vào khu vực có đất nước Việt Nam hôm nay. Nếu có thể phân biệt được con người huyết thống (sinh học) và con người văn hóa trong tổng thể con người nói chung của nhân vật lịch sử Triệu Đà, thì rõ ràng không thể gọi ông là con người văn hóa Hán tộc. Đánh đồng con người huyết thống Hán của ông với con người văn hóa, một thứ văn hóa khởi sinh bởi sự tương tác văn hóa Tiền Hán – Tiền Việt mà ông là nhạc trưởng, là việc làm đành tình đoạn lí.

Tôi tin rằng, gần như đã đến lúc người Việt Nam đặt câu hỏi họ là người Việt, người Nam, người Việt Nam hay người Âu Lạc? Văn minh Việt Nam hôm nay đang có những bước chuyển mình mạnh mẽ về nhận thức quá khứ, với chiều hướng dân trí và kinh tế đi lên, sáng sủa hơn bao giờ hết trong cuộc đời văn hiến đã khá dài của mình. Nó cần định hình và đồng thuận những giá trị mới của lịch sử, trên căn bản hài hòa xưa – nay, trước – sau và thấm đẫm tinh thần khoa học, trung trực. Chắc chắn quá trình vượt thoát, thực thi tinh hoa tự chủ, độc lập truyền thống trong bối cảnh chuyển biến thời cuộc khác trước rất nhiều, sẽ tiềm ẩn nhiều giải pháp hứa hẹn thú vị và lớn lao.

Thảo Điền 3.2007


[1] Xin xem thêm cùng một tác giả: Cổ sử Việt Nam, một cách tiếp cận vấn đề – NXB Lao Động 2007.

[2] http://www.guoxue.com/shibu/24shi/shiji/sj_041.htm

[3] http://www.guoxue.com/shibu/24shi/shiji/sj_043.htm

[4] Nếu Âu là Mẹ, thì sông Âu nơi người Âu Việt sống có thể hiểu là Sông mẹ, sông lớn, tương tự Mêkong.

[5] http://www.guoxue.com/shibu/24shi/shiji/sj_113.htm

[6] http://www.guoxue.com/shibu/24shi/shiji/sj_114.htm

[7] http://www.guoxue.com/shibu/24shi/shiji/sj_041.htm

[8] Theo Việt Nam niên biểu, Việt Nam sử lược, Trần Trọng Kim. Bản điện tử của viethoc.com.

[9] Đoạn này tham khảo Journal of Southeast Asian Studies, Vol. XVIII, No. 2, September 1987. Người Choang các dân tộc ít người, vùng biên giới Việt – Hoa trong triều đại nhà Tống. JEFFREY G.BARLOW. Bản dịch của Ngô Bắc.

[10] Có tham khảo Văn Minh Lạc Việt – Nguyễn Duy Hinh – NXB VHTT 2004.

Tôi vừa cài lại máy tính

18 phản hồi

Đêm qua blog của tôi đã bị ai đó sử dụng, viết 1 entry xin lỗi ông P.T.

Tôi đã cài lại window cho máy tính, reset toàn bộ mật khẩu.

Kính cáo.

——————-

CẬP NHẬT 1.1.2010

Tôi rất ghét dùng các phần mềm diệt virus vì nó vướng víu. Tôi có thể cài lại window trong 30 phút nên mỗi khi máy trục trặc tôi cài lại ngay. Trước giờ trung bình 3 tháng tôi cài máy một lần cho sạch sẽ và máy vận hành tốt.

Hôm talawas bị đánh, hacker đã đẩy xuống máy truy cập con virus đánh cắp mật khẩu. Tôi đã cài lại máy và sử dụng phần mềm phòng hờ 1 tuần.

Vừa rồi lại bị như đã nói ở trên, tôi cài lại máy và chủ quan không dùng anti virus. Ngay lập tức hacker đã cho virus ăn cắp mật khẩu hoàng hành. Đó là con này.

NẾU KHÔNG MAY CÁC BẠN TRÊN BLOG NHẬN COMMENT HOẶC ĐỌC NHỮNG ENTRY KHÔNG BÌNH THƯỜNG TRÊN BLOG TÔI, XIN HÃY NGHĨ NGAY ĐẾN HACKER.

Xin cảm ơn!

Tính tất yếu của dân chủ

9 phản hồi

Xin giới thiệu bạn đọc bài viết thứ ba, trong loạt bài tìm hiểu về dân chủ của tôi. Tôi đã từng khảo cứu cổ sử để viết một quyển sách nhỏ về Hai Bà Trưng, loạt bài dân chủ này không nằm ngoài lý do văn học từ đầu của sự viết nơi tôi. Bài thứ nhất ở đây (đăng talawas nhưng hiện nay không truy cập được, xin tham khảo tại blog của nhà báo Trương Duy Nhất), bài thứ hai vừa đăng ở BBC.

Bài dưới đây x-café đăng nhưng không có chú thích. Bạn đọc có thể hiểu đây là bản gốc.

———————–

Tính tất yếu của dân chủ

Trương Thái Du

Theo Sử Ký, năm ba mươi lăm tuổi, Khổng Tử nói với Tề Cảnh Công khi được hỏi làm chính trị phải như thế nào: “Vua phải theo đúng đạo làm vua, tôi phải theo đúng đạo làm tôi, cha phải theo đúng đạo làm cha, con phải theo đúng đạo làm con”. Đây chính là nền tảng của Thuyết chính danh, xương sống của Nho Giáo nguyên thủy: “Dùng một điều để quán triệt tất cả” , “Cái danh mà không chính thì lời nói không đúng với sự thực, lời nói không đúng với sự thực thì việc không thành”. Cuối đời, Khổng Tử đúc kết bốn điều nên: “Văn học, đức hạnh, trung thành, tín nghĩa” và bốn điều tránh: “định kiến/thành kiến, phiến diện/một mặt, cố chấp, thiên vị/vị ngã”.

Ngay từ đầu TK 20, luận văn tiến sĩ của Hồ Thích “The development of the logical method in Ancient China” đã chỉ rõ mối tương đồng đáng ngạc nhiên về thời đại và nội hàm giữa Thuyết chính danh của Khổng Tử (551 – 479 TCN) và Thuyết khái niệm của Socrates (470 – 399 TCN).

Lý thuyết của Khổng Tử nảy nở trên nền tảng văn hóa đa trung tâm, quyền lực phi tập trung, lối sống quần cư đô thị đề cao thương mại. Đó là thời đại Chiến quốc đa nguyên, trăm hoa đua nở, nhà nhà tranh tiếng. Áp dụng thành quả rực rỡ của triết học Tiên Tần, Tần Thủy Hoàng nhanh chóng thống nhất Trung Nguyên. Khi quyền lực đã được tập trung vào một mối, sự phản động bèn ra tay: Các dinh thự vương tướng, quyền quí tại sáu nước bị đốt phá hoặc tháo gỡ đem về nước Tần. Tầng lớp trung lưu, thượng lưu thành thị bị bứng khỏi gốc, di dân hàng loạt hoặc bắt lính, biến họ trở thành nông dân tại những vùng hoang địa hay chiến binh trong các đoàn quân đế quốc. Sách vở bị đốt, tư tưởng phi chính thống bị tiêu diệt, sự bình đẳng trước tri thức của nhân dân bị xóa bỏ, từ đó trở đi họ được gọi một cách khinh bỉ là “đầu đen”. Những ông thầy uyên bác bị chôn sống, quan cai trị từng khu vực kiêm quản luôn nghĩa vụ giáo thụ. “Bọn” thương gia nhiều công trạng bị loại thải dưới đao kiếm, điển hình là Lã Bất Vi.

Đến thời Hán, Nho Giáo được kẻ cầm quyền hà hơi tiếp sức. Nó sống lại trong một hình hài méo mó, trở thành tên lính xung kích khư khư bảo vệ lợi ích bá vương. Ngoài xã hội, nó đánh mất ý nghĩa triết học để trở thành hệ nhân sinh thuần túy đạo đức. Thế giới Á Đông tiêu phí hơn hai ngàn năm trong bóng tối bất công, cường quyền nô dịch, nhân phẩm bị chà đạp.

Phương Tây hậu Socrates thậm chí còn tệ hại hơn: Những cuộc chiến liên miên giữa các thành – bang khiến cho đô thị cổ đại cứ mãi luân hồi xây – phá trên biển máu. Nhiều bạo chúa chuyên quyền nhìn thấy sức mạnh của họ bị uy hiếp trong các con phố thương mại sầm uất. Đó phải chăng là lí do Nero đốt cháy La Mã để lấy thi hứng trong tiếng đàn Lyre? Khi La Mã suy tàn, nhà thờ Thiên chúa giáo đã dẫn nền văn minh Hy – La rực rỡ đi vào địa ngục trung cổ. Con người phương Tây cũng bị đày đọa trong chiến tranh, giáo điều và cuồng tín tròm trèm hai ngàn năm.

Dân chủ với ý nghĩa “quyền lực của nhân dân” ở thành Athena hay “dân vi quí” thời Chiến quốc nói chung là một. Nó là sản phẩm của văn minh đô thị, kinh tế thương nghiệp. Người phương Tây không giữ bản quyền dân chủ, sự rao giảng đây đó chẳng qua chỉ là thói huênh hoang ngã tâm, tự cao tự đại hoặc chứa đựng một âm mưu mà thôi. Nước Mỹ đã không thành công ở Iraq hay Afghanistan là điều dễ hiểu.

***

Ở Việt Nam, tranh cãi về dân chủ hay không dân chủ nhiều khi bỏ qua yếu tố văn minh đô thị. Nó thu nhỏ trong sự xung đột giữa ý chí thị dân và sức ỳ của nền văn hóa nông nghiệp thượng phong. Ý chí thị dân của những Phan Khôi, Nguyễn Mạnh Tường… đã va chạm quyết liệt với lực lượng bảo thủ và hàng loạt cây bút “xả thân cứu mình[1]” như Nguyễn Đổng Chi, “bồi bút” như Nguyễn Công Hoan, hoặc những “con chó Nhật” sủa theo lệnh chủ[2].

Phan Khôi và Nguyễn Mạnh Tường là điển hình cho hai chi phái thị dân Việt Nam sau 1945. Bằng vốn Hán học truyền thống trong một gia đình quan chức phong kiến cao cấp, Phan Khôi tiếp cận và “học mót[3]” Lương Khải Siêu, Hồ Thích từ sách báo Trung văn. Trong khi đó Nguyễn Mạnh Tường tiếp thu tư tưởng trực tiếp từ phương Tây khi còn rất trẻ.

Không khí hoang mang trong truyện ngắn “Ông Năm Chuột” của Phan Khôi thể hiện sự hoang mang nhưng vẫn cố dè bỉu của nền văn minh lúa nước trọng nông ức thương đối với những thị dân. Nhân vật Năm Chuột ra đời giữa làng xóm, trưởng thành nơi đô hội, là một thị dân thông minh, khéo tay nhưng lươn lẹo và láu cá. Những tưởng Năm Chuột vô học, Phan Khôi bóc mở dần nhân vật và cho thấy y có sự tinh lọc tri thức thực dụng, không câu thúc và nô lệ sách vở. Tác giả bắt người đọc phải chọn lựa giữa “ông” và “thằng” khi nhắc đến Năm Chuột. Trí thức nông dân Việt Nam luôn đồng hóa nghèo khó với đức hạnh, cho nên xã hội dẫm chân tại chỗ là hiển nhiên. Thói đập bàn quát tháo của những kẻ như ông Tú già (chắc chắn không giàu) đã bị Phan Khôi ngầm lên án là gàn dở và lỗi thời.

Nói vụ án Nhân văn là một phong trào dân chủ không sai, song thiếu đầy đủ. Phe dân chủ dường như đã tự bịt mắt để vào trận quyết đấu sống còn cho một cái bánh dân chủ mà 90% người dân bắc Việt đói rách khi ấy chưa thể tiêu hóa nó. Thiếu thực nghiệm là căn nguyên mù lòa. Chủ nghĩa thực nghiệm mà Hồ Thích cổ súy, vận dụng linh hoạt vào khoa học nhân văn Trung Quốc, sau này đã đẻ ra chính sách mở cửa mang tên “mèo trắng mèo đen” của Đặng Tiểu Bình. Phải chăng đó là lý do cuối cùng Nguyễn Mạnh Tường cũng phải đối diện sự thật, thốt lên những dòng ai oán khi quyển hồi ký đi vào phần kết: “Cái bí mật của dân chủ là nằm ở sự vận hành của nó, trong việc phán đoán những quyền tự nhiên và những tự do của con người, vì thế nó đòi hỏi phải có một sự hiểu biết tối thiểu về quyền công cộng và luật pháp quốc tế. Những điều kiện của dân chủ là có quan hệ đến kinh tế của nước liên hệ mà sự thịnh vượng, dù đã bị giới hạn, là rất cần thiết cho sự thành công của nó, cho niềm vui hưởng những quyền tự do và những quyền của con người”.

Mâu thuẫn của khát khao dân chủ và hiện trạng nửa nông thôn của xã hội Việt Nam hiện nay có thể hình dung như mâu thuẫn giữa Lão Tử và Khổng Tử xưa kia vậy. Dù các thầy rất tôn trọng nhau, tuy nhiên Sử Ký ghi nhận: “Người theo thuyết của Lão Tử thì bài bác Nho học, theo Nho học lại bài bác thuyết của Lão Tử”. May mà thời ấy đa nguyên, không có học phiệt hay những trí thức lưu manh, tự do vô chính phủ. Vô vi mà dân tự cảm hóa được không? Thanh tĩnh mà quan tự quay về đường phải được không?

Khổng Tử là vĩ nhân tiên phong của Á Đông mở đường cho bình đẳng tri thức, khuyến khích mọi người chủ động tiếp cận với tri thức. Cuộc cách mạng internet hôm nay đang nở hoa, nhưng thử hỏi bao nhiêu phần trăm dân chúng Việt Nam đã sẵn sàng ngồi xuống một chiếc máy vi tính nối mạng để tìm hiểu dân chủ là gì?

Những thị dân đang tiếp cận dân chủ cho chính mình đã đủ chưa? Hãy tiếp cận giúp những người khác và tránh xa phương pháp báng bổ mở màn, đổ lỗi cho thể chế. Trên một nền móng yếu như bãi bồi, ruộng dâu, ngôi nhà bê tông liệu có hợp thời, liệu có chắc chắn không ngả ngiêng, thậm chí sập đổ, chôn vùi những con người hãnh tiến hơn thời đại ngụ cư trong ấy. Đó có lẽ là lý do những người đã và đang tự xưng hoạt động dân chủ chưa tìm được tiếng nói ủng hộ lớn lao từ xã hội, nhất là lớp bình dân.

Nhại một kiểu nói văn hoa của quan chức, tôi tự hỏi có thể đi tắt, đón đầu dân chủ hay không? Chả có gì là không thể! Nhưng nó đòi hỏi phải thoát ly dân tộc tính. Khi nào? Khi trên những diễn đàn hướng đến tri thức của những trí thức và cả trên truyền thông chính thống, không còn những cây bút tự khoe sự yếu đuối của mình bằng võ chửi, bằng con bài tẩy chụp mũ đầy cảm tính, ngụy biện, mị dân và lôi kéo bầy đàn.

Khi chưa có một xã hội với những đầu não đô thị trưởng thành, thì con đường dân chủ Việt Nam sẽ còn vấp phải nhiều phiên tòa như Lê Công Định, Nguyễn Tiến Trung đang chờ. Anh chơi trò kết án rồi toan thay thế một thể chế, thì chính nó sẽ lập tức kết án anh một cách tàn nhẫn nhất, sau song sắt. Đó là qui luật. Nên chăng hãy đặt trước thể chế những tiên đề chính danh, để thảo luận một cách thành thật và cầu thị, giả như: Tính tất yếu của dân chủ ở Việt Nam là do tính tất yếu của văn minh đô thị sẽ thay thế văn minh nông nghiệp.

Thạch Viên, Nhơn Trạch

12.2009


[1] Nhằm “treo cổ” sự nghiệp của Ngự sử văn đàn Phan Khôi, Nguyễn Đổng Chi được giao nhiệm vụ đấu tố các trước tác của họ Phan. Ông viết bài: “Quan điểm phản động, phản khoa học của Phan Khôi phải chăng là học mót của Hồ Thích?”, In trong Tập san Nghiên cứu văn sử địa, Hà Nội, số 41 (tháng 6/1958), tr. 7-24, Bản điện tử do talawas thực hiện (http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=13227&rb=0301). Như lời trần thuật của chính con trai ông (Nguyễn Huệ Chi), bài viết gây “choáng”, “vì những lời lẽ ông ấy viết rất nặng” [http://thuykhue.free.fr/tk05/trochuyen.html]. Tài liệu này cũng gián tiếp ghi nhận nỗi ân hận muộn mằn của Nguyễn Đổng Chi. Bài viết trở thành một vết nhơ khó gột trong cuộc đời học thuật của Nguyễn Đổng Chi. Tôi không thể bao biện cho tác giả, ngoài việc tạm xem ông đã viết nó để tự bảo vệ mình, trước “bề trên”. Cũng nên để ý đến trường hợp Hồ Tư Đỗ (con trai thứ của Hồ Thích kẹt ở Đại lục), cũng từng kết án cha mình là “kẻ thù của nhân dân” với cùng luận điệu như Nguyễn Đổng Chi dành cho Phan Khôi.

[2] Trong hồi ký “Kẻ bị mất phép thông công”, Nguyễn Mạnh Tường gọi một sinh viên đấu tố ông như vậy.

[3] Từ Nguyễn Đổng Chi đã dùng.

Đừng nên dính đến tiền và danh…

26 phản hồi

Lời dẫn: Phàm những việc nhân văn, cách tốt nhất là tránh xa tiền bạc và danh vọng. Có thế mới vô nhiễm trước lời ong tiếng ve. Khi tôi thấy trang bauxite quyên tiền cứu trợ bão lụt tôi đã cười mỉm, rồi có ngày các ông cũng vạch áo cho người xem lưng thôi. Không tin bạn cứ tìm lại bài kia trong blog này hay danluan.org, hoặc x-café.

Tôi xin miễn bình luận về nội dung những thư qua lại dưới đây. Chỉ “nháy nháy” một cái: không phải tay trong thì chả ai biết những chuyện thâm cung bí sử ấy cả. Nếu các ông không đấu nhau thì cũng có  nội gián.

———————-

Hôm nay, 14h ngày 27/12/2009, tôi nhận được email từ địa chỉ email anh Phạm Toàn, một trong ba thành viên sáng lập và quản trị Bauxite Việt nam, email có đính kèm 2 file: 1 file có tên ” thư rút tên“, 1 file có tên ” Nguyễn Huệ Chi con người hai mặt” Đây là hai file PDF nên không cách sao copy đưa lên mạng được, đành lược kể như sau:

File “thư rút tên”:có hai thư, một thư thông báo xin rút tên của anh Phạm Toàn vì lý do sức khoẻ ( anh vửa mổ tim) và bận rộn công việc ( do phải nhận công trình soạn sách giáo khoa bậc tiểu học); một thư khác nói chuyện quan hệ của anh với nhóm biên tập với lẽ khó chịu và bực dọc, người ngoài ít ai hiểu thực chất là vấn đề gì, chỉ toát lên ý tứ anh phạm Toàn coi thường nhóm Biên tập mà anh Huệ Chi đứng đầu-” Tôi giống ông Pavlov, chỉ làm việc được với chó không làm việc được với người“.

File thứ 2: liệt kê một số email trao đổi giữa Nguyễn Huệ Chi và các cộng tác viên nói chuyện tiền nong để chứng tỏ Nguyễn Huệ Chi mở trang Bauxite chỉ vì tiền, khác với những tuyên bố của ông trong các cuộc phỏng vấn.

Tôi lập tức gọi điện cho anh Nguyễn Huệ Chi, anh rất ngạc nhiên, nói chỉ duy nhất cái thông báo xin rút tên của anh Phạm Toàn là có thật. Nhưng anh Phạm Toàn chỉ gửi cho một số anh em thân thiết, điều này anh Phạm toàn cũng đã tâm sự với anh Huệ Chi và anh Huệ Chi hết sức thông cảm. Không hiểu tại sao cái thư này được tung lên mạng dưới dạng email của Phạm Toàn gửi cho rất nhiều người. Còn lại tất cả các thư email khác đều bịa đặt. Nguyễn Huệ Chi còn nói thêm: anh tin anh Phạm Toàn không bao giờ có những lời lẽ như thế đối với anh cũng như nhóm biên tập.

Chiều nay đi dự đám cưới con trai nhà văn Bảo Ninh, tôi gặp anh Phạm Toàn. Tôi có kể về nội dung hai bức thư email đó. Anh Phạm Toàn hết sức sửng sốt, anh bỏ cả đám cưới chạy về nhà ngay.

Một giờ sau anh gọi điện cho tôi nhiều lần, nói bọn chúng đã giả mạo email của anh, chỉ thay mỗi chữ i và chữ j. Đến 22h3o tôi nhận đựơc cái thư của Phạm Toàn nhờ công bố cho mọi người.

Đọc cái thư của Phạm Toàn bà con sẽ hiểu phần nào sự bỉ ổi có phương pháp của bọn người có tên là tin tặc

———————————–

Lời kính báo của Phạm Toàn nhờ  đăng trên một số trang mạng bạn bè

Kính thưa bạn đọc trang mạng Bauxite Việt Nam ở trong và ngoài nước,

Trang mạng Bauxite Việt Nam hiện đang bị bọn lưu manh Tin học phá hoại bằng hai hình thức:

+ hình thức thứ nhất là dùng kỹ thuật để đánh sập trang thông tin dân sự này, và + hình thức thứ hai là mạo danh một người của trang này (cụ thể là mạo danh ông Phạm Toàn) để chia rẽ nội bộ (cụ thể là viết bài ký tên Phạm Toàn có nội dung bịa đặt, nói xấu, bôi nhọ giáo sư Nguyễn Huệ Chi).

Về vụ việc này, tôi Phạm Toàn, xin trân trọng kính báo cùng bạn đọc trong và ngoài nước như sau:

Bài viết “Nguyễn Huệ Chi – con người hai mặt” ký  tên Phạm Toàn và một số tư liệu đính kèm được gửi tới mọi người là hoàn toàn giả mạo.

Cách thức kẻ  xấu tạo địa chỉ điện tử viết sai một chữ i thành chữ j là một âm mưu vô cùng nham hiểm: những thư từ của bạn đọc gửi cho ông Phạm Toàn để hỏi thực hư hoặc để phản đối đã không tới được người nhận, dẫn đến những giận dữ và hiểu lầm chết người.

Tài liệu giả mạo đặc biệt xúc phạm tiến sĩ Phùng Liên Đoàn, mà chỉ nhờ sự điềm đạm của ông nên mới giúp tìm ra điều thật giả.

Tài liệu giả  mạo cũng gây nghi ngờ về  chuyện tiền nong là điều ngay từ  đầu những người chủ  trương trang mạng đã vô  cùng cảnh giác để không bao giờ có thể xảy ra bất kỳ sự lạm dụng nào.

Tài liệu giả  mạo cho thấy kẻ xấu  đã chiếm dụng một số  thư từ trao đổi nội bộ  và dùng cách cắt xén  để tạo ra tác dụng xấu, có  khả năng tạo ra những hệ  quả khó lường.

Trang mạng dân sự  Bauxite Việt Nam ra đời từ giữa tháng 4-2009 nhưng được rất đông đảo bạn đọc quan tâm.


Những kẻ nào thấy sợ hãi trước ảnh hưởng của trang mạng phải tìm mọi cách để triệt phá nó, đó là lẽ thường tình.

Chúng tôi cũng nhận  được nhiều thư của bạn đọc, căn cứ vào  địa chỉ viết sai một ký tự, đã kịp thông báo cho mọi người biết đó là tài liệu giả mạo; chúng tôi vô cùng cảm ơn.

Thông báo này xin được gửi đăng trên nhiều diễn đàn mạng của bè  bạn. Xin kính báo để bạn đọc trong và ngoài nước được rõ.

Hà Nội, ngày 27 tháng 12 năm 2009, hồi 9 giờ tối

Xin cám ơn

Phạm Toàn

—————————–

Dựa vào một cái thật để tải nhiều cái giả là cách làm của tin tặc, đây là thông báo thật của Phạm Toàn đã được tin tặc lồng vào trong các email giả mạo.

kính báo:

Tôi tên là Phạm Toàn, người được ghi dưới trang chủ mạng Bauxite Việt Nam là nhà văn Phạm Toàn, và cũng ghi thêm là đã cùng hai người cùng sáng lập trang mạng này.

Năm nay tôi 78 tuổi, năm ngoái lại mổ tim, nên sức khoẻ không còn bao nhiêu. Trong hoàn cảnh đó, lại là người tham việc, nên từ ít lâu nay vẫn cùng vài người bạn lập ra một đề án soạn sách giáo khoa cho trẻ em tiểu học.

Nhóm biên soạn tư nhân làm việc ngoài biên chế lấy mất rât nhiều thời giờ hàng ngày của tôi.Vì nhóm tôi dự định vào năm 2012 sẽ trình ra trước xã hội một bộ sách 36 cuốn soạn cho 6 lớp của bậc Giáo dục Phổ thông cơ sở (cái tên chúng đề nghị sẽ thay thế tên bậc tiểu học) theo một dự án cải cách giáo dục phổ thông rút xuống còn 10 năm học, do chúng tôi hình dung và bàn bạc rồi cùng nhau soạn thảo.

Quĩ thời gian eo hẹp khiến tôi ba bốn tháng nay trên thực tế đã hoàn toàn không tham gia gì hết vào công việc biên tập bài vở của trang Bauxite Việt Nam.

Việc tôi xin rút tên là để công khai về trách nhiệm, hoàn toàn không vì bất cứ áp lực nào của bất cứ ai.

Xin tạm biệt bạn đọc trang Bauxite Việt Nam

Nay kính báo

Phạm Toàn

Nhà nghiên cứu tâm lý- giáo dục độc lập

—————————————–

Dưới đây là các thư giả mạo, nhờ một blogger tôi đã copy ra được.

A. Bức thư giả mạo thứ nhất

Kính gửi các anh,

Tối thứ bẩy 12-12-2009

Tôi đã gửi các anh một lá thư, thư đó đâu có phải để kết án một người?

Thư đó của tôi cốt đề nghị các anh tham gia vào BBT của BVN đồng thời với việc tôi rút tên.

Như vậy, một công mà hai việc: 1./ tôi rút ra được êm thấm, không ồn ào, và 2./ có giải pháp kiềm chế cách làm việc háo danh, chuyên quyền, mà tôi nghi là có sự manipulation rất rõ của những ai đó: cái phía đó họ cần chỉ một đầu mối thôi cho họ dễ nắm.

Sau khi tôi gửi thư đi, chắc chắn các anh đã đọc cả, nhưng chỉ có anh TVC và HH trả lời. Các anh TVC và HH thì mơ hồ không biết được những gì tôi trải nghiệm tại chỗ mấy tháng qua nên vẫn có những ý kiến rất “xây dựng”.

Còn các anh ĐL đều im lặng. Tôi đoán được nguyên nhân vì sao các anh im lặng; nhưng thôi, tôi hết kiên nhẫn rồi. Tôi cần tập trung vào công việc riêng phải hoàn thành, không rỗi hơi mà chạy theo những cái ngoài tầm mình nữa. Bây giờ thì xảy ra scandale cũng mặc. Tôi đã hết việc tại khu vực đó.

Tôi có forward tới các anh 2 lá thư anh HC gửi tôi.

Nếu các anh đọc các lá thư đó, các anh sẽ thấy ít nhất hai điều:

1./ Hoàn toàn gạt bỏ đề nghị đưa anh MTL, TVC và HH vào BBT.

2./ Ngây ngô nghĩ rằng tôi cũng háo danh nên đồng ý để tên mình lại đó cho anh ấy tiếp tục mặc sức tung hoành.

Có một chi tiết tôi cần nói rõ: anh ấy nói có “mời” tôi tham gia đi cứu trợ nạn nhân bão lụt. Việc “mời” đó diễn ra:

– sau khi hai bên đã không có liên hệ chừng một tháng và

– mời trước hôm lên đường 2 ngày và

– mời thông qua một người khác và chỉ khi nhận được lời từ chối thì mới gọi điện cho tôi – và dĩ nhiên là tôi từ chối, vì có nhận lời thì cũng chẳng kịp đặt vé!

Tôi là người ngay thật, do rất khó chịu với những lời giải thích gượng gạo trên e-mail của người thay mặt mời hộ, nên tôi đã trả lời rằng (nguyên văn) “Tôi không đi vì bận, vả lại tôi giống ông Pavlov, chỉ làm việc được với chó thôi, không làm việc được với người, nhất là người XHCN”.

Chi tiết bổ sung này cũng gợi ý là các anh TVC và HH cũng không nên khuyên can gì tôi thêm nữa.

Tôi là người ít kinh nghiệm giao du; người tốt đọng lại trong đời tôi thì tôi được nhờ, trong trường hợp này, vì tôi đã thiếu suy xét ngay từ đầu, nên phải gánh hậu quả.

Có điều là lại đem cái gánh nặng đó đặt lên vai các anh, thật rất không nên, tôi rất xin lỗi. Thư này là thư cuối cùng.

Dưới đây là dự thảo thông báo gửi đăng trên BVN và hai trang mạng khác; các anh thích góp ý thì góp, không góp hoặc không muốn góp thì cũng chẳng sao.

Vì tôi làm thì tôi chịu trách nhiệm – quỹ thời gian của tôi eo hẹp lắm rồi – được các anh thông cảm thì quý, nhược bằng không thì cũng chẳng biết nói sao.

——————————————-

B.Bức thư giả mạo thứ hai

Nguyễn Huệ Chi – Con người hai mặt?

Phạm Toàn

Hà Nội, 27/12/2009

Tiêu chí khi thành lập Bauxite Việt Nam là tiếng nói của trí thức Việt Nam, không phải là một trang tin về chính trị hoặc liên quan đến bất kỳ một tổ chức chính trị nào. Ông Huệ Chi đã trả lời BBC theo đúng tiêu chí đó của chúng tôi khi thành lập Bauxite Việt Nam trong buổi phóng vấn vừa qua trên BBC:

Để Bauxite hoạt động, các nhân sự trong ban biên tập và quản trị đều phải hi sinh, không

đòi hỏi bất cứ một khoản thù lao nào như một trong các email tuyển nhân sự dưới đây:

Nhưng tôi thực sự thật thật ngỡ ngàng, tôi vô tình nhận được 1 email của ông Huệ Chi từ

một trong các thành viên quản trị của Bauxite Việt Nam:

Ông Doan Phung (Đoàn Liên Phùng – Giám đốc Trung Tâm Khuyến Khích Tự Lập – Center of the Encouragement of Self-Defence – CESR). Theo tôi được biết thì đây là tổ chức tách ra từ Hội Chuyên Gia Việt Nam, liên quan mật thiết đến Đảng Việt Tân (?). Trong email trên đã gửi về cho Bauxite Việt Nam nói chung, ông Huệ Chi nói riêng một số tiền khá lớn ngoài số tiền đã gửi về phục vụ dự án cứu trợ lũ lụt đồng bào. Như trong nội dung lá thư trên, ông Huệ Chi đã nhận tiền, và dặn cô thư ký giữ lại phần của ông Đàm nào đó cùng 4000 USD để dùng việc riêng? Các bạn cũng nên biết là toàn bộ hạ tầng cơ sở mạng, các chi phí kỹ thuật của Bauxite Việt Nam đều đã được tài trợ từ các tổ chức tại Mỹ, Pháp và Úc chứ chúng tôi làm gì có tiền? Và đây mới chỉ là một trường hợp mà tôi được biết, ngoài trường hợp này ra còn biết bao trường hợp khác mà chỉ ông Huệ Chi và trợ lý thân cận của ông mới biết?

Tiêu chí khi thành lập các quỹ của Bauxite từ khi thành lập đến nay hoặc tất cả các quỹ từ thiện, cứu trợ nào khác là tài chính phải minh bạch. Thế mà ông Huệ Chi lại xử sự như thế đấy?

Từ đó có thể thấy, giữa nói và làm của ông Huệ Chi hoàn toàn khác hẳn nhau, trên “mặt trận” truyền thông, ông là một tấm gương hi sinh vĩ đại, mọi người đều nể phục, kể cả tôi khi cùng ông khởi xướng Bauxite Việt Nam. Thật đáng thất vọng và chua chát.

Hôm nay, tôi tuyên bố rút lui khỏi Bauxite Việt Nam, thực sự trong nội bộ ban biên tập, tôi đã tự rút khỏi từ ngày 11/12/2009 khi phát hiện thấy nhiều chuyện bất thường trong việc quản lý tài chính cũng như các mục tiêu của Bauxite Việt Nam ngày càng đi xa tiêu chí của nó khi thành lập.

Hà Nội, 27/12/2009

Phạm Toàn

(Nguồn dẫn Danluan.org)

Thơ: NẮNG

Để lại phản hồi

Nắng

Sinh nhật em, anh tặng em một bộ CD của Đặng Thái Sơn.

Anh bảo nghe Dạ khúc của Chopin trong đêm thanh tĩnh, bao giờ anh cũng muốn tự tử.

“Eo ôi, em sợ lắm – Nàng lè lưỡi – Trong nhạc Chopin có thần chết chăng”?

“Không, chỉ thấy những vị thánh của thiên đường.

Anh cười: Em hãy cố hiểu tích cực một chút xíu. Ở tột đỉnh của cảm giác, sự kết thúc luôn cần kíp”.

“Cũng như em từng yêu anh nhiều biết bao, để rồi chẳng thể yêu ai nữa, ngoài anh?”.

Em quay mặt đi. Ngoài kia, nắng mùa đông đẹp quá.

“Em phải làm gì?”

“Hãy để tình yêu mách bảo”.

“Nếu nó nhất định đòi chiếm đoạt hạnh phúc của người khác?”

“Đức hy sinh luôn có mặt trong tình yêu đích thực?”

Em khóc và nắng thì chẳng biết.

Nó vẫn đẹp và tươi mới

Như thể mùa đông đã xa…

Truyện ngắn ĐÔNG CHÍ

2 phản hồi

Truyện ngắn này không mới, đã đăng báo Văn Nghệ số Tết Tây 2009. Khi chuyển blog, các entry cũng mất nhiều. Nhân Đông Chí / Noel, tôi đăng lại, xếp vào thẻ Văn chương.

Mến chúc tất cả các bạn bè, người đọc một mùa Đông Chí ấm cúng và hạnh phúc.

—————————————————–

Trước Đông chí mấy ngày tàu tôi cặp cảng Cổ Bình (Furubira), vùng Hokkaido (Bắc Hải đạo). Trời lạnh khủng khiếp, mưa tuyết liên tục thành ra thủy thủ đoàn được nghỉ ngơi vài hôm chờ dỡ hàng. Phố thị ướt át và vắng lặng như đang ngủ đông nên chẳng ai có hứng đi bờ dạo chơi hay mua bán, xin xỏ, đổi chác.

Khi nghe nói tôi định lên núi, nữ nhân viên Đại lý hàng hải cứ trợn tròn mắt. Cô bảo trên ấy còn mấy con sói xám không nguy hiểm lắm vì đã rã bầy, chúng sợ tiếng va đập kim loại và luôn tránh xa lửa. Yukiko tặng tôi đôi giày đi tuyết cũ, chỉ dẫn đường hướng rõ ràng và dặn dò đừng qua đêm một mình ngoài trời.

Đông chí hay Noel, bản chất chỉ là tên gọi một thời điểm của chu trình thiên nhiên. Khoảng năm 2100 trước Công nguyên, nền văn minh cổ đại Hoa Hạ đã xác định mặt trời bình minh ngày Đông chí nằm chính giữa đỉnh núi Sùng. Các tia nắng đến tâm đồng hồ bán nguyệt bằng đá sẽ chui qua múi rãnh số hai. Khảo cổ học cơ bản thống nhất quan điểm thiên văn của di tích đàn Nam giao sơ khai này, tại di chỉ Đào Tự huyện Tương Phần, tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc.

Theo sách Lễ ký của Nho giáo, Tế giao được tiến hành vào ngày Đông chí. Khi ấy mặt trời dịch xuống vĩ độ 23 độ 27 phút nam (đi qua thành phố Rockhamton bang Queensland Australia). Đây là ngày lạnh nhất trong năm ở bắc bán cầu, đêm rất dài. Hơn ngàn năm trước phương Tây dùng lịch Julian, Đông chí nhằm 25 tháng 12. Thiên chúa giáo khi định vị giáng sinh tượng trưng cho chúa Jesu đã chọn Đông chí. Như vậy Đông chí năm thứ nhất từng được cho là khởi điểm của Công lịch. Khi lịch Gregorio thay thế lịch Julian thiếu chính xác, Đông chí bị điều chỉnh về ngày 22 tháng 12 hằng năm, giáng sinh đã không thay đổi theo vì thói quen.

Qui luật chuyển động tương đối giữa mặt trời và trái đất là: khi chạm Đông chí, mặt trời mỗi ngày lại mọc cao hơn một chút, tạo nên chu kỳ quay lại bán cầu bắc đến điểm mút Hạ chí (đi qua thành phố Quảng Châu, Trung Quốc). Văn minh nhân loại phát triển mạnh mẽ hơn ở bắc bán cầu. Lễ tế Nam giao hay giáng sinh có lẽ phát triển từ tục thờ mặt trời rất phổ biến. Chắc chắn khi chưa có tên Tế giao hoặc Giáng sinh thì Đông chí là một ngày khá trọng đại. Việc cầu khẩn mặt trời ở xa trở về, đem nắm ấm cho mùa màng và nhân sinh là điều dễ hiểu. Chìa khóa thiên văn này thậm chí có thể đã từng là bí quyết mị dân của những vị chủ tế/lãnh tụ đầy quyền lực.

***

Buổi trưa trước Đông chí tôi rời tàu, băng qua con đường ven biển và hướng về ngọn núi Omori. Tuyết ngập đất. Màu trắng nhức mắt. Mặt trời chói lọi nhưng cô quạnh giữa một nền xanh nhàn nhạt, nhàm chán và vô vị.

Tôi men theo đường mòn có phương vị tây bắc cho nên khi nghe tiếng gọi giật sau lưng, ở một ngã rẽ bên phải, thì gần như khuôn mặt Yukiko sáng rực lên như trăng rằm. Cô đối diện với mặt trời chính nam. Sau lớp kính râm tôi đoán Yukiko đang nheo mắt.

“Tôi cũng lên núi” – Yukiko cười rất tươi – “ Anh sẽ giúp tôi cưa một cành thông Noel thật đẹp nhé. Chúng ta cùng đường, chẳng biết có duyên ngộ gì hay không?”. Người tôi nóng bừng. Yukiko từng bảo nhà cô trên sườn núi. Cô hay ngắm vịnh Furubira và đỉnh Omori bằng ống nhòm chuyên dụng hàng hải.

“Cô phải quay về lúc ba giờ chiều. Nên kể bản thân tôi cũng là một mối nguy hiểm giữa rừng. Nếu không tìm được chòi gác nào đó, tôi cũng có sẵn chiếc lều cá nhân dã chiến tự may trong ba lô, để đêm nay nghe nhất dương sinh của Đông chí”.

“Tôi chỉ cần nhấn phím S.O.S trên điện thoại di động, năm phút sau sẽ có trực thăng cứu hộ đón” – Tiếng Yukiko giòn tan – “Anh không cần cả nghĩ thế. Anh làm tôi tò mò rồi đấy. Nhất dương sinh là gì?”.

“Theo Sử ký Tư Mã Thiên, ngày Đông chí là cực âm. Âm toàn trị thì nhất dương sinh, khởi đầu nảy nở tăng trưởng của vạn vật, mặt trời thoát khỏi tấm lưới tù nhốt (Thiên la). Đông chí là ngày đầu năm thiên văn, gần trùng với mùa xuân dương lịch. Tôi đi tìm và thuận dưỡng niềm lạc quan cá nhân giữa trời đất, thiên nhiên”.

“Có không sự bế tắc hiện tại khiến ta quay về quá khứ, vinh danh quá khứ? Một trí thức hữu dụng điển hình phương Tây không cần biết nhiều đến phương Đông. Họ ít khi thấu triệt quan niệm Nhân sinh bản ác của Tuân Tử là cách đề cao giáo dục, là sự tương hỗ đáng giá cho Nhân sinh bản thiện của Mạnh Tử chủ trì lòng nhân. Người Nhật chúng tôi thành công bởi không tự ti trong hào quang trung cổ, không sợ sệt tương lai, luôn dấn thân tiếp thu cái mới, cầu thị điều hay với ý thức trách nhiệm. Chúng tôi giàu có tri thức hơn bất cứ một người phương Tây hay phương Đông thuần chất nào”.

“Tôi e rằng bạn quên. Mâu thuẫn của nền văn minh vật chất phương Tây với thiên nhiên là mâu thuẫn hủy diệt lẫn nhau. Để có gỗ chất đầy vào hầm tàu của tôi đem đến cảng này, hàng chục hecta rừng đã bị tàn sát. Đất trống, đồi trọc sẽ dẫn đến lũ lụt chết người, an ninh lương thực của biết bao cộng đồng cư dân bị đe dọa. Hài hòa với tự nhiên, nương dựa vào thiên nhiên, cải tạo mặt đất để phục vụ đời sống, không “đấu tranh” một mất một còn với ông trời mà tạo nên chỉnh thể đối lập trong thống nhất là tư duy, tư tưởng đã có từ rất xưa của người Á Đông”.

Nhìn vào mắt Yukiko tôi biết cô không nắm bắt được nội dung tôi muốn chuyển tải. Không phải cô kém cỏi mà chính vì giới hạn tiếng Anh của tôi và của cô. Nhưng có hề gì. Tôi bỗng nhớ đến truyền thuyết Sơn Tinh và Thủy Tinh của dân tộc mình. Rõ ràng đây là cuộc đấu tranh triệt tiêu đối thủ. Nó hoàn toàn sơ khai và sơ sinh so với chuyện Hạ Vũ trị thủy.

***

Càng lên cao sườn núi càng dốc. Tuyết thưa và mỏng dần. Cây cối nhiều hơn, ít rụng lá hẳn đi. Yukiko vẫn chưa chọn được cành thông như ý. Cô nhấn mạnh chỉ cắt tỉa nhánh chứ không cưa ngọn. Cô chấp nhận sự cân đối kém hoàn hảo, nhằm nuôi dưỡng mảng rừng che bão cho vịnh Furubira.

Xê xế, gió bắc chuyển mình. Tuyết rơi trắng trời. Yukiko và tôi đã thấm mệt dù không lạnh lắm, vì cường độ vận động cơ thể luôn duy trì rất cao. Đến lúc này cô mới hỏi có phải thật sự tôi muốn vào núi, ở qua đêm. Thế rồi cô tìm đủ cách thuyết phục tôi cho cô chia sẻ cuộc du ngoạn đáng nhớ. Cô đã chuẩn bị mọi thứ cần thiết trong ba lô, kể cả cà phê phin Việt Nam pha rượu sakê ủ nóng, từ lúc thấy tôi rời tàu qua ống nhòm. Yukiko rất thất vọng vì bè bạn, người thân chưa bao giờ chia sẻ với cô niềm ao ước phiêu lưu. Ngọn Omori thân thương luôn ở trong tầm mắt cô từ thơ bé, càng ngày càng xa vời bên cuộc sống phố thị tốc độ chóng mặt.

Yukiko tin loài người không bị thoái hóa, thui chột mà ngày càng mạnh mẽ hơn khi bỏ vùng xích đạo ấm áp để tiến lên phương bắc băng giá cách nay hằng chục ngàn năm. Những lý do như nhân mãn, thiếu hụt lương thực hoàn toàn thuyết phục. Yukiko thấy giá trị của thử thách là ổn hơn hết nhưng quá mơ hồ với những cái đầu trực quan dễ dãi. Vượt qua chướng ngại, vượt qua bản thân, vượt qua đối kháng ngoại vi, con người đã hòa với thiên nhiên trở thành một thể thống nhất, để trở thành loài động vật thống trị quả đất. Sự thống trị ấy đang cực đoan hóa, nó hiển hiện nguy cơ tự hủy cục bộ, đầu tiên là ở những nước nghèo, phải bán tài nguyên cứu đói, đấu giá môi trường với tăng trưởng.

Chúng tôi không có tham vọng lên đến đỉnh Omori chỉ trong một buổi chiều. Nỗ lực càng cao càng xa càng tốt, thế thôi. Tối mịt chúng tôi đành dừng lại giữa một thảm rừng thông thưa nhưng bằng phẳng. Chẳng thể tìm được vọng gác lửa mùa hè theo tấm bản đồ tỉ lệ xích khá nhỏ Yukiko mang theo.

Như hai nhà thám hiểm chuyên nghiệp, chúng tôi dựng lều, gom củi khô mục đốt lửa. Gã thủy thủ còn lấy lòng người đẹp bằng cách hướng dẫn cho Yukiko mấy nút dây hàng hải cơ bản, dễ thao tác, dễ mở, song cực kỳ chắc chắn. Sau bữa ăn nhẹ tiết kiệm, Yukiko khuyên tôi nên đi nghỉ nếu muốn cảm nhận thời khắc giao mùa. Một mầm dương đầy sức sống sẽ khởi sinh vào lúc không giờ ngày Đông chí, dù tiếng gió hú hiện hữu và tuyết rơi khá dày chẳng hứa hẹn điều gì.

***

Yukiko bảo trăng đã đánh thức cô. Lúc ấy mười một giờ tối, giờ Tokyo đi trước Bắc Kinh một tiếng và Hà Nội hai tiếng. Đống lửa sắp tắt. Gió lặng. Trời trong. Trăng vàng. Tuyết trắng. Sâu thẳm đâu đó tiếng sói tru. Cô độc nhưng hân hoan. Như gọi bầy. Như hứng tình.

Yukiko nhờ tôi chặt tỉa ít cành thông già trong tầm với để nhen lại hơi ấm. Lạ lùng thay, tạo hóa đã ban tặng con người xứ lạnh loài thông đầy nhựa sống. Dù còn tươi rói và xanh rượi, chúng vẫn sẵn sàng nuôi lửa giúp họ băng qua bóng đêm từ thuở hồng hoang.

Vị cà phê chắt chiu tinh hoa đất trời trên cao nguyên trung phần Việt Nam hòa điệu đẹp một cách đáng ngạc nhiên cùng rượu Sakê Phù Tang. Có phải kể thêm chiếc bình tráng thủy bảo ôn sản xuất tại Trung Hoa không nhỉ? Chúng tôi tự nhiên tựa vai vào nhau, không bởi tâm hướng dục tính. Chúng tôi cần san sẻ hơi người, cần có đồng loại đồng hành trong giây phút giao hòa đáng ghi nhớ.

“Yukiko nghĩa là Tuyết tử anh ạ. Hiểu sao cũng được. Con gái của tuyết. Cô gái tuyết” – Giọng Yukiko đầy xúc động và hoài tưởng – “Ba mẹ em gặp nhau trong tuyết, yêu nhau dưới trăng ở sườn núi này. Đáng lẽ họ đặt tên em là Tuyết Nguyệt nhưng ở Nhật chẳng ai dùng cái âm ít nhạc tính và rắc rối ấy. Trong lựa chọn của ông bà còn có cả Miyuki (Mỹ Tuyết) và Mitsuki (Mỹ Nguyệt). Cuối cùng sự giản dị truyền thống thắng thế”.

“Anh sợ bị người tuyết bắt cóc lắm” – Tôi pha trò – “Ở sườn núi bên kia họ đang dắt chó sói đi săn những con mồi lạc loài đấy”.

Yukiko dụi đầu vào lưng tôi như bắt đền rồi vụt bỏ chạy. Chúng tôi vờ đuổi nhau để làm nóng. Tiếng tuyết nén rào rạo dưới chân. Tưởng có thể tan vào ánh trăng huyễn hoặc. Bắt được nàng trong vòng tay, không hiểu sao tôi lại nhớ đến một câu thơ triết lý “ngoài luồng”, chứ không phải đôi dòng lục bát tình tự thấm đẫm hồn Việt lãng mạn nào đó.

“Trăng Trung Quốc tròn hơn trăng nước Mỹ

Đồng hồ Liên Xô tốt hơn đồng hồ Thụy Sỹ”.

Tôi giải nghĩa tên tác giả Việt Phương là vẻ đẹp Việt. Yukiko ngạc nhiên với biểu hiện duy ý chí đến siêu thực. “Anh chỉ là một lão già bảo hoàng hơn vua, gửi hồn trong cái xác trai trẻ này thôi” – Nàng nói sau thoáng suy nghĩ khá lung – “Nếu làm quân vương thì anh luôn xem mỹ nhân là trang sức nhỉ?”.

Giúp em hiểu thấu đáo ngữ cảnh trên là một điều khó khăn. Nó tương tự việc trả lời tại sao người Việt đã phức tạp hóa Hán tự để có chữ Nôm, trong khi Nhật Bản chọn việc giảm nét tượng hình nhằm sáng tạo hệ thống ký âm Kana. Lý do nằm ở nhiều thế kỷ bắc thuộc và lệ thuộc chăng?

Ở xứ sở của tôi, bây giờ đã tháng Một âm lịch, tháng khởi đầu đúng như hàm nghĩa từ Một, tháng Tý dẫn dắt mười hai con giáp. Điều trái khoáy là chúng tôi lại ăn tết ở tháng Giêng, theo ý chỉ của Hán Vũ Đế trước công nguyên cả thế kỷ. Giêng Hai miền nam hết sức khô nóng, miền bắc mưa phùn ướt áo. Những ngày nghỉ dông dài, chộn rộn nỗi lo ăn mặc không còn phù hợp với nhịp điệu công nghiệp, văn minh đô thị. Tôi trộm nghĩ sao người Việt chưa lấy dương lịch làm chuẩn. Tết nguyên đán phải trở về đúng chất lễ hội nhàn kỳ thư thả của văn minh lúa nước đặc thù ngàn năm.

Trong cảm thức phố xá, thế hệ chúng tôi lạc lõng bên kiểu ước lệ khiên cưỡng và mang tính thời cuộc về quê hương như cau khế. Gắn bó cùng tuổi thơ leo trèo nghịch ngợm của tôi có chăng là me sấu. Tôi không hề gần gũi với chùm quả chua thật ngọt giả của thi ca bàn giấy, nặng mùi điệu bôlêrô than thân quân dịch, bên vỉa hè Sài Gòn ngày ngoại bang chiếm đóng. Tuy nhiên tôi biết những đồng bào đầy tự tôn và tự ti của tôi sẽ thẳng thừng bác bỏ bất cứ cái nhìn nào khác đi. Tỷ dụ sự so sánh bản chất giữa truyền thuyết Sơn tinh – Thủy tinh và chuyện Hạ Vũ trị thủy, rất dễ bị kết tội phỉ báng tiền nhân, bôi nhọ văn hóa.

Yukiko tin phản dân tộc tính trong mỗi cá nhân kểt tủa bởi sự lưu cữu những giá trị cần thay thế. Các bộ óc cuồng vĩ ít nhiều luôn có hành động phản văn hóa như Tần Thủy Hoàng đốt sách, Hitler diệt chủng. Vẫn biết khái niệm tích cực bao giờ cũng kèm theo phủ định, giả như anh hùng/hèn nhát, đoàn kết/chia rẽ, chiến thắng/chiến bại, thông minh/ngu đần, vinh quang/nhục nhã, sáng tạo/sao chép, vị tha/nhỏ nhen, thơm thảo/tham lam, giàu có/nghèo nàn… Phải chăng qui trình đánh tráo mệnh đề gốc cho những nhu cầu thiển cận, đã dẫn đến nô lệ ảo vọng trong tinh thần đám đông, biến di sản thành gánh nặng. Đó cũng là một nguyên nhân dẫn người Nhật vào vũng lầy gây hấn khu vực đầu thế kỷ hai mươi, vào mấy hố bom nguyên tử ở Nagazaki và Hiroshima chỉ sau đó bốn chục năm.

***

Chúng tôi im lặng nhìn lửa nuốt dần những mắt thông sần sùi. Sự im lặng cần thiết để con người lắng nghe đất trời chuyển mình qua ngày mới.

Yukiko hát một bài haiku súc tích của Kobayashi Issa. Điệu luân vũ loang thấm vào từng đơn vị tế bào trong tôi: “Chùa treo vách núi. Dưới đáy tuyết. Chuông ngân”. Cảm ơn em, trái tim hồng ngày băng giá. Cảm ơn trăng nhắc tôi về tổ quốc đằng xa.

Trong nắng ban mai, chúng tôi trở lại phố biển với một cành thông không đến nỗi xấu xí. Những mỏm đá trọc nối dài, những con đê bê tông chắn sóng vươn ra vịnh Cổ Bình vẫn khoác trên mình lớp áo tuyết mùa cũ, lấp lóa trắng. Một đoàn công nhân bốc xếp đội mũ cứng, mang giày đinh, mặc áo da cam dầy cộp, khệnh khạng và sạch sẽ như phi công vũ trụ đang nhận ca. Đợt mưa tuyết đã chấm dứt. Những lô gỗ sẽ nhanh chóng được giải phóng. Với tốc độ làm hàng nhanh gọn của các hải cảng Nhật, có lẽ tàu tôi phải nhổ neo trước Noel.

Chuyến tới chúng tôi sẽ vào biển Hoàng hải, chở sắt cuộn từ Đại Liên Trung Quốc hay Incheon Nam Hàn gì đó đến Đài Loan. Mùa xuân còn xa. Quê nhà cũng còn xa. Nhưng cơn bão sót số mười ba, đang hình thành từ một áp thấp ở vùng biển Trường Sa rất gần với lo lắng của tôi khi đọc bản tin thời tiết. Chiếc đòn gánh của bà mẹ Việt Nam lại oằn xuống, sắt se ngày Đông chí.

Thảo Điền

11.2008

Nguyễn Đổng Chi

9 phản hồi

Đang tìm tài liệu viết bài tính tất yếu của dân chủ, xem qua Lương Khải Siêu, Hồ Thích. Phan Khôi dính với Hồ Thích, thế là …o..á..i… đọc trúng bài Nguyễn Đổng Chi đánh Phan Khôi. Phải nói là khủng khiếp.

Trường văn trận chữ ở cái xứ sở này, chẳng hiểu sao mà nên nỗi. Sự việc anh  Nguyễn Hữu Liêm đang bị “lên thớt” chả là cái “đinh” gì so với Phan Khôi. Hữu Cộng hay Phi Cộng, bản chất chụp mũ, cảm tính và trơ tráo cũng chẳng thay đổi.

————————————————-

Nguyễn Đổng Chi
Quan điểm phản động, phản khoa học của Phan Khôi phải chăng là học mót của Hồ Thích?
Phan Khôi ngày trước chỉ là một nhà viết báo chứ không phải viết sử. Thế nhưng, rải rác trong một số bài báo của Phan Khôi, có ít nhiều đề cập đến lịch sử và dùng sử quan để nhận xét sự việc. Hơn nữa, Phan Khôi đã từng chủ trương tờ Sông Hương ở Huế là một cơ quan bình luận về văn học và lịch sử. Qua luận điệu của những bài ấy, chúng ta thấy khá rõ tư tưởng, quan điểm và cái vốn hiểu biết của “nhà học giả” Phan Khôi. Và cũng qua đó, chúng ta cũng lại thấy chân tướng của con người “lập dị, khí khái” Phan Khôi. Bài này chỉ nói đến một khía cạnh khác trong tập hồ sơ của Phan Khôi để chúng ta thấy con người đó ngày xưa như thế nào mà ngày nay lại cố tình phản bội nhân dân, chống lại cách mạng.

Khi viết bài này, bạn Hồng Quảng ở tạp chí Văn nghệ (số 11) đã vạch cho ta thấy Phan Khôi “không phải độc lập sáng tạo” mà chỉ học mót lại những cái Hồ Thích đã nói từ lâu. Đúng thế. Phan Khôi là một tên học trò vụng về của Hồ Thích, mà Hồ Thích thì là một tên lính xung phong của thực nghiệm chủ nghĩa hay thực dụng chủ nghĩa của giai cấp tư sản phản động của đế quốc Mỹ do bọn Đi-uy (Dewey), Ram (James) và Mát (Mach) v.v… sáng tạo.

“Voi thuộc voi, ngựa thuộc ngựa” quả đúng như câu Phan Khôi nói [1] , Phan Khôi mang tư tưởng phản động, phản khoa học vốn có cỗi nguồn của nó. Con người ngày nay lớn tiếng bênh vực cho “cái tôi”, cho “tự do” với con người ngày trước đã vênh váo “có cần duy gì mà làm gì” [2] chỉ là một. Mà luận điệu đó nói chung là luận điệu của một kẻ sặc sụa hơi men của thực nghiệm chủ nghĩa. Y như những con yêu tinh trong truyện kiếm hiệp, con người đó nán hơi im tiếng trong thời kỳ kháng chiến của Tổ quốc mà chúng ta tưởng đã được “bầu hồ lô” cách mạng làm cho lột xác rồi, ngờ đâu bây giờ đây lại lộ nguyên hình để tác yêu tác quái trong Nhân văn – Giai phẩm.

A. Quan điểm duy tâm chủ quan

Thực nghiệm chủ nghĩa là gì? Đại khái nó có ba mặt liên quan với nhau: luận về thực tại, về chân lý và về phương pháp. Theo bọn thực nghiệm chủ nghĩa thì thực tại là do ba bộ phận làm thành: một là cảm giác, hai là các thứ quan hệ giữa cảm giác với cảm giác, giữa ý tượng với ý tượng, ba là chân lý sẵn có. Công thức đó chứng tỏ bọn chúng không thừa nhận thực tại là cái gì tồn tại, là thực tại khách quan của vật chất. Theo Lê-nin thì “vật chất là cái có tác dụng đến khí quan cảm giác của chúng ta mà làm gợi cảm giác; vật chất là trong cái cảm giác nó cho ta một thực tại khách quan” [3] . Trái lại, bọn chúng bảo “vật chất là yếu tố của các thứ cảm giác phức tạp hợp lại”. Cái mà bọn chúng gọi là “ý tượng” không ra ngoài chủ quan. “Chân lý sẵn có” mà bọn chúng giải thích là “nhân tạo” là “khái niệm trước còn lại” cũng đều là chủ quan. Do đó ta thấy thực tại của bọn thực nghiệm chủ nghĩa là một cái gì chủ quan, cái chủ quan đó bọn họ gọi là kinh nghiệm.

Chân lý theo bọn chúng là “nhân tạo”, là “giả định”, là một cái gì phù hợp với thực tại (tức là kinh nghiệm) nghĩa là đem tư tưởng quan niệm thí nghiệm đối với việc làm của con người xem có hiệu quả hay không. Có hiệu quả là chân lý, không hiệu quả là sai lầm. Theo các nhà duy vật biện chứng giải thích thì chân lý là nhận thức chính xác của con người phản ánh đúng quy luật của thế giới khách quan, tức là chủ quan phù hợp với khách quan. Đàng này đã cho thực tại là kinh nghiệm của chủ quan mà chân lý lại của mình tạo ra thì thực là chủ quan phù hợp với chủ quan. Vậy thì nói chung lại cả hai đều là chủ quan cả.

Về phương pháp theo như nhà duy vật chủ trương thì phải quy định ý nghĩa của đối tượng, vậy tất phải từ trong quá trình thực tiễn, nhận thức qui luật tính của đối tượng ấy rồi căn cứ vào nhận thức đó mà kiểm tra lại thực tiễn, như nếu duyệt đến kết quả của điều dự tưởng trong nhận thức, nhận thức đó phù hợp với đối tượng khách quan, ấy là chân lý.

Còn kiến giải của bọn chúng thì lại cốt dựa vào ảnh hưởng và hiệu quả của đối tượng mà qui định. Phương pháp của chúng đại khái dùng để qui định ý nghĩa của sự vật, của quan niệm và của tín ngưỡng. Ý nghĩa của sự vật là sự vật ấy đối với cảm tưởng của người ta có ảnh hưởng thực tế gì. Ý nghĩa của quan niệm là quan niệm ấy trong kinh nghiệm của con người có tác dụng gì. Ý nghĩa của tín ngưỡng là ảnh hưởng hoặc hiệu quả của tín ngưỡng đó. [4]

Nói chung, phương pháp của thực nghiệm chủ nghĩa đi vào con đường duy tâm: từ tâm lý đến vật lý, từ cái ta đến hoàn cảnh, từ tư duy đến tồn tại, từ cảm giác đến vật chất. Trái lại, con đường của các nhà duy vật là lật ngược trở lại từ tồn tại đến tư duy, từ vật chất đến cảm giác, v.v…

Thực nghiệm chủ nghĩa là một dòng của duy tâm chủ quan. Đó là học thuyết mưu lợi nhãn tiền của giai cấp tư sản, đặc biệt là giai cấp tư sản rất phản động của đế quốc Mỹ; đó là thứ triết học rất thấp kém của bọn con buôn.

Hồ Thích dựa theo Đi-uy, nhận kinh nghiệm là sinh hoạt, sinh hoạt là để ứng phó với hoàn cảnh của con người, mà công cụ để ứng phó với hoàn cảnh là tư tưởng. Tư tưởng và phương pháp của bọn chúng là xoay vấn đề căn bản của triết học (tức là vấn đề quan hệ vật chất với ý thức) biến thành cái giải quyết “vấn đề con người”. Cho nên bọn chúng không bàn đến vấn đề duy tâm hay duy vật. Ý thức tư tưởng của giai cấp tư sản thường thường che giấu sự liên hệ trực tiếp giữa triết học và chính trị là như vậy.

Cần phải nói sơ lược tư tưởng và phương pháp của bọn thực nghiệm chủ nghĩa để sau này ta thấy tư tưởng và phương pháp của Phan Khôi cũng đều là một duộc. Có điều khác nhau là Hồ Thích thì vỗ ngực tự giới thiệu là mình thụ giáo của Đi-uy, v.v…, còn Phan Khôi học mót của Hồ Thích thì lại làm chước lập lờ.

Phan Khôi học mót của Hồ Thích như thế nào?

Còn nhớ ngày trước, vào hồi năm 1933, Phan Khôi từng có luận chiến với đồng chí Hải Triều về duy tâm hay duy vật. Nói cho đúng, đây không phải là một cuộc luận chiến mà Phan Khôi đứng vào thế tấn công. Số là vào khoảng đó, Phan Khôi đang cầm cây gậy của Hồ Thích múa mênh trên một số báo từ Phụ nữ tân văn đến Phụ nữ thời đàm rồi đến Sông Hương, v.v… Khi một bài “Bác cái thuyết văn minh vật chất và văn minh tinh thần” của Phan Khôi đăng trên Phụ nữ thời đàm số 4 trong đó nồng nặc chủ nghĩa thực nghiệm thì đồng chí Hải Triều đã lên tiếng phản đối, vạch cho đối phương thấy tinh thần không phải có trước vật chất như “chân lý” của Phan Khôi. Chẳng hạn như Phan Khôi nói: “Hễ tinh thần đã đến một cái trình độ kia thì vật chất cũng đến một cái trình độ kia, tinh thần còn ở một cái trình độ này thì vật chất cũng còn ở một cái trình độ này. Theo lẽ ấy thì vật chất Đông phương sở dĩ kém Tây phương là tại tinh thần cũng kém Tây phương.” và: “Hết thảy các thứ mà ta gọi là vật chất của Tây phương, tức là những đồ cơ khí lợi dụng cho sự sống loài người, đều sinh ra từ khoa học. Cái khoa học ấy có phải chợt một cái mà có ngay được đâu? Đã vắt ra bao nhiêu cái óc thông minh, trải mấy trăm năm mới tìm ra được đó chứ. Thế thì cái khoa học đó, cái mà phí bao nhiêu óc thông minh mới tìm ra được đó, còn là cái gì mà chẳng phải là tinh thần.” [5]

Ta thấy rõ: không những Phan Khôi cho vật chất là tuỳ thuộc vào tinh thần mà còn cho cái “mà trải mấy trăm năm tìm ra được đó” tức là kinh nghiệm, không phải là thế giới khách quan là tri thức của nhân loại về tự nhiên và về xã hội do đấu tranh trong sản xuất và đấu tranh giai cấp mà có, mà là cái cố hữu ở trong ý thức của con người, “phí bao nhiêu óc thông minh mới tìm ra được”.

Phan Khôi cho “vật chất của Đông phương sở dĩ kém Tây phương là tại tinh thần cũng kém Tây phương” có ý nghĩa gì? Phan Khôi muốn nói tinh thần của Tây phương đã hơn hẳn Đông phương và do đó vật chất cũng hơn hẳn, như thế Đông phương suốt đời mạt kiếp chỉ đáng làm đầy tớ cho Tây phương mà thôi. Cái thâm ý của Phan Khôi là ở chỗ đó. Cái óc “đầy tớ Tây phương” (dương nô) của tên học trò Hồ Thích cũng biểu lộ ở chỗ đó.

Bài bút chiến của đồng chí Hải Triều tuy chỉ mới đứng trên lập trường vật chất có trước, tinh thần có sau của triết học duy vật mà biện luận, nhưng cũng khá rạch ròi. Vậy mà Phan Khôi đã không có cái can đảm tự mình đứng hẳn về phía duy tâm để chống chọi với đối phương mà chỉ chối cãi quanh co, phân bua rằng chỉ nói về mặt hiện tượng mà không đả động đến nguyên lý. Hãy nghe lời của Phan Khôi: “Tôi chịu tôi chủ trương rằng tinh thần sinh ra vật chất nhưng tôi không chịu tôi đã theo duy tâm” và “Hay! duy tâm hay duy vật thì mặc người ta, miễn khi giải thích nguyên lý nói chảy thì thôi, chứ “duy” gì mà làm gì”, hay là “Thế thì tinh thần sanh ra vật chất đó chứ! Có điều nó là hiện tượng chứ không phải nguyên lý.” [6] Mấy câu đó chứng tỏ: một mặt cái duy tâm chủ quan của Phan Khôi không thể nào biện giải được nguyên lý của sự vật, một mặt khác Phan Khôi quay trở về cái chỗ đứng “không duy tâm không duy vật” mà bọn thực nghiệm chủ nghĩa vẫn thường ẩn nấp để lập lờ với thiên hạ. Câu “miễn khi giải thích nguyên lý nói chảy thì thôi” quả đúng với luận điệu không trung thực của bọn thực nghiệm chủ nghĩa. Đem quan niệm của mình giải thích sự vật, nghĩa là lấy chủ quan ứng phó với hoàn cảnh khi cần dùng đến, có hiệu quả tức là chân lý mà không hiệu quả tức là sai lầm; chân lý đó giải thích đúng hiện tượng là đủ rồi chứ cần gì xét đến nguyên lý. Chân lý của Phan Khôi là như thế đó. Và sau này Phan Khôi bảo “chính trị vỗ vai văn nghệ” hay “mày lợi dụng tao, tao lợi dụng mày” cũng đại khái một thứ chân lý con buôn đó.

Thật là y như lối nguỵ biện của Hồ Thích. Hồ Thích suy diễn ý tứ của bọn Đi-uy, nói: “Nguyên lai chân lý là nhân tạo, là hẳn nhân tạo đi rồi, là do người tạo ra để cung cấp cho người dùng, là bởi chúng nó rất hữu dụng nên mới cho cái tên đẹp là chân lý. Chúng tôi gọi chân lý vốn chẳng qua là một thứ đồ dùng của người ta. Chân lý cũng như giấy, bút, mực, bình trà trong tay chúng ta đều không khác gì nhau, đều là đồ dùng cho chúng ta cả.” [7]

Lập trường quan điểm của Phan Khôi đúng là đi ngược với chủ nghĩa duy vật, ở đây không cần phải nói nhiều. Tóm lại từ lúc triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Mác đang có cơ truyền mạnh vào Việt Nam, cung cấp vũ khí đấu tranh cho giai cấp vô sản, soi đường cho những người công tác sử học văn học thì Phan Khôi tự võ trang bằng ngòi bút đã cùn của Hồ Thích tung khói độc duy tâm chủ quan giảo hoạt của bọn thực nghiệm chủ nghĩa trên văn đàn. Cái đó làm lợi cho Phan Khôi hay cho ai? Sau này chúng ta sẽ nói đến.

B. Quan điểm hình thức chủ nghĩa

Cũng giống như bọn thực nghiệm chủ nghĩa thường mê hoặc người ta về tác dụng đặc biệt của phương pháp có vẻ khoa học của mình, Phan Khôi một điều hai điều thường xun xoe rằng mình đã dựa vào một cô bạn rất vững, rất đắc lực là “cô Logique” hay tức là “luận lý học” đã loè độc giả. Nhưng luận lý học của Phan Khôi là gì?

Thực chất nó là một thứ lý luận dung tục, lạc hậu, nói trắng ra là hình thức chủ nghĩa.

Thứ lý luận của Phan Khôi rải ra trên các bài báo có tính chất nghị luận thì nhiều lắm không kể xiết. Ở đây chúng ta chỉ nói đến một số bài báo có tính chất lịch sử. Do lập trường duy tâm chủ quan nên Phan Khôi đã sa vào hình thức chủ nghĩa. Mà đã như thế thì phương pháp của Phan Khôi không phải là phương pháp khoa học chân chính; nó không giúp ích gì cho ta để phát hiện sự vật phát triển theo qui luật khách quan. Nó là một thứ quan điểm phi lịch sử, phản khoa học.

Đã có lần Phan Khôi lớn tiếng suy luận rằng: “Nước ta không có chế độ phong kiến”. Trong một số báo Phụ nữ tân văn, Phan Khôi viết: “Ở trước mặt một người thuộc quốc sử mà bảo rằng nước ta từ xưa có chế độ phong kiến, người mình từng bị áp bức bởi nó, ngày nay mới bắt đầu thoát ly thì phải cho phép người ấy trợn mắt rún vai, lấy làm lạ một chút, mới là đạo công bình”. Bởi vì Phan Khôi cho rằng: “có phong tước, có thái địa nhưng người được phong không hưởng các quyền cai trị dân chúng ở trong thái địa của mình thì không phải là phong kiến”. [8]

Bài ấy một khi đăng ra, đã có nhiều người không đồng ý và viết nhiều bài biện luận, bây giờ nhắc đến có lẽ là thừa. Nhưng cũng do đây, ta thấy thứ luận lý của Phan Khôi chỉ là nhận xét đơn thuần trên hình thức mà không nhìn vào nội dung của sự việc. Bọn phong kiến nước ta ngày xưa tuy trên danh nghĩa là “không hưởng các quyền cai trị dân”, nhưng thực tế “có phong tước” tức là chúng đã có một uy quyền lớn về chính trị; “có thái địa” tức là có uy quyền lớn về kinh tế. Nói một cách khác, khi đã có hai cái đó, thì về mặt luật pháp rõ ràng bọn chúng đã đầy đủ võ khí để đàn áp bóc lột nông dân rồi. Cố nhiên lúc đó Phan Khôi không thấy được từ một tên địa chủ hạng bét cho đến một thân vương đầu triều tuy chúng không trực tiếp xử kiện, trực tiếp cai trị nông dân, nhưng trên thực tế chỉ với quyền thu tô và cho vay nợ lãi, chúng đã làm mưa làm gió trong một địa phương rồi. Nhưng dầu sao một người thuộc quốc sử như Phan Khôi lẽ đâu lại không biết bọn vương công, huân thần đời Trần có đại điền trang, có nô tỳ nông nô, có quyền sinh sát trên trang trại mình, v.v…

Ở đây không phải Phan Khôi dốt quốc sử, cũng không phải “trợn mắt rún vai” tỏ ra ta vừa phát hiện một điều mới mẻ, mà than ôi! chính là Phan Khôi lặp lại lối học mót của Hồ Thích, vì Hồ Thích cũng từng chủ trương Trung Quốc không có chế độ phong kiến.

Cùng một lúc với bài “Nước ta không có chế độ phong kiến”, Phan Khôi còn có bài “Thánh hiền ta đời xưa chưa hề có tư tưởng dân chủ”, [9] vì Phan Khôi cho dân chủ nghĩa là “chủ quyền của một nước nắm trong tay toàn dân nước ấy” hay là “dân đã không có quyền thì còn làm chủ trong nước được ư?” Hiểu như vậy thì thực là hiểu một cách sơ lược tức là hiểu theo từ lý chứ không nhìn vào sự việc, chưa nói nhìn vào bản chất của sự việc. Hiểu như thế có hai điểm sai lầm:

Một là đã lớn tiếng kết luận: “Dân chủ là chủ quyền của một nước nắm trong tay toàn dân nước ấy” mà Phan Khôi lại mang chế độ dân chủ tư sản ra biện hộ cho mình thì cũng thật là chuyện đến khôi hài. Nếu không bênh vực cho “chân lý sẵn có” thì hẳn Phan Khôi là kẻ dốt nát không biết rằng dân chủ tư sản chỉ là dân chủ của thiểu số người mà thôi. Hai là nếu tạm cho đi rằng nhận lầm về dân chủ tư sản như Phan Khôi là “thực sự” dân chủ đi nữa, thì lẽ nào Phan Khôi lại quên rằng những cuộc đấu tranh của quần chúng với vua chúa hay nói một cách khác đấu tranh của một số đông người với một số rất ít người để yêu cầu thay đổi chính sách hay cải cách chính trị, v.v… còn biểu hiện yêu cầu dân chủ rõ rệt gấp mấy cái thứ “dân chủ” của Phan Khôi. Mạnh Tử là người chủ trương “dân là quý, xã tắc thứ hai, vua là khinh”, đã bảo: “Khi vua làm hại dân, thì dân có thể không nhìn là vua mình nữa mà được phép phản đối vua…”. Mặc Tử cũng có nói: “Người trên có lỗi thì can ngăn, người dưới có điều hay thì dò hỏi mà dâng lên”, v.v… Tư tưởng dân chủ ở Trung Quốc đã manh nha từ đấy rồi, sao bảo là “chưa hề có” được.

Quả nhiên luận lý của Phan Khôi là luận lý trên danh từ, trên một “chân lý sẵn có”. Chỗ này phương pháp của Phan Khôi còn kém xa phương pháp của thầy học. Bởi vì Hồ Thích còn bảo “để ý sưu tìm sự thực, có gan đề xuất giả thiết, lại để ý tìm chứng thực”. [10] Phan Khôi chỉ to gan đề xuất giả thiết mà nhắm mắt trước sự thực.

C. Quan điểm vong bản, phản dân tộc

Trước cách mạng, khi đọc một số bài báo của Phan Khôi, không ít người bực mình vì cặp mắt quái gở hay cặp kính quá đen tối của tác giả. Phan Khôi nhìn về quá khứ và hiện tại của dân tộc rất ảm đạm, nào “nước ta không có quốc học”, [11] nào “cái cười của con Rồng cháu Tiên”, [12] nào “tất cả cái tội về kinh tế đến cái tội về đạo đức cũng đều là tội của mấy nước ươn hèn”, [13] nào “cái bệnh ăn cắp của Tàu”, [14] v.v…; mà nhìn về tương lai thì rất mờ mịt, ví dụ “Theo tôi tưởng “tịnh canh” hay “các tận sở năng”, cái tư tưởng ngộ nghĩnh ấy phải đến lúc vô chính phủ mới thực hiện được. Loài người hãy đợi 6000 năm nữa. Còn bây giờ chỉ nói mà chơi v.v…” [15]

Giữa lúc nằm trong ách thống trị của thực dân, khi nghe những nhận xét như thế của một “nhà học giả”, những người hữu tâm với tổ quốc ai chẳng não nùng chua xót. Có phải Phan Khôi đứng ở lập trường của dân tộc muốn thành thật nhận người mình mọi bề thua kém để kích thích đồng bào mạnh dạn tiến lên nữa không? Có phải Phan Khôi tự ti tự hạ, cái tự ti tự hạ của một dân tộc lâu đời bị áp bức bóc lột không? Không. Không phải. Ở đây, ngoài cái “duy tâm chủ quan” đã nói ở trên, còn có một cái gì gần như là xuyên tạc, xảo quyệt, bôi đen lịch sử, mỉa mai nhân dân, chà đạp tổ quốc. Đương nhiên ở đây, ta lại đã thấy Phan Khôi để lòi cái đuôi Hồ Thích vì trước đó Hồ Thích cũng khuyên nhân dân Trung Quốc phải có can đảm nhận mình trăm cái đều kém như y đã viết: “tâm lý lười biếng, tư tưởng nông cạn, mê tín đến nhờ trời mới có ăn, thái độ thì như đứng bên kia sông xem nhà cháy.” [16]

Bởi vì những lời phát biểu có tính chất nhục mạ dân tộc của Phan Khôi không phải vô tình mà có ý thức, không phải linh tinh lẻ loi mà là có nhất trí, có hệ thống.

Qua sự thử thách rèn luyện của cuộc Cách mạng vĩ đại tháng Tám, Phan Khôi còn xưng xưng, nào là “nước Việt Nam ngày xưa triều đại là triều đại Thiệu Trị, Tự Đức, cái nguồn văn chương là Tứ thư Ngũ kinh, còn nước Việt Nam ngày nay cũng là triều đại gì đó, chỉ khác cái nguồn văn chương là mác-xít, chứ cái thói kỵ huý của quan trường thì không khác”, [17] hay là “Tôi còn là tôi đâu được nữa”, [18] thì chúng ta thấy rõ ràng chính Phan Khôi là một người trước sau không thừa nhận truyền thống anh dũng tốt đẹp của nhân dân, bước tiến bộ của hiện tại và triển vọng tràn trề về tương lai của tổ quốc. Quan điểm như thế, đúng là quan điểm vong bản, phản dân tộc!

Phải nói cho đúng một chút. Thảng hoặc cũng có khi Phan Khôi có bàn đến “Hãy gạt Triệu Đà và dòng dõi y ra ngoài Việt sử” [19] hay là “Cảnh cáo các nhà học phiệt” [20] v.v… có tính chất vì lịch sử vì dân tộc mà biện luận, nhưng bài trên tôi nhớ đâu trước Phan Khôi 200 năm đã có ý kiến của Ngô Thì Sĩ tương tự như thế, [21] còn bài dưới chỉ là lời châm chọc của một thái độ “đánh trống bỏ dùi”.

Phan Khôi không dừng ở lập trường nhân dân, lập trường tổ quốc khi viết bài “Một trang lịch sử – Mấy cuộc quần chúng vận động ở xứ ta” đăng trên mấy số Sông Hương. [22] Trong bài đó, khi bàn về vụ chiếm tỉnh thành Quảng Nam năm 1885 sau khi Kinh đô thất thủ một thời gian, Phan Khôi viết: “Nhiều người thuật lại chuyện này mà lấy làm lạ không hiểu hôm ấy người ta đến đó làm chi mà đông như thế. Nếu nói đi lấy tỉnh thì những người đó có quân lính khí giới đã đành; còn phần rất đông đến tay không đó là đến có việc chi. Có lẽ bởi mỗi người đều có bị tâm lý của mình kích thích giục cho phải đi mà mình không tự biết…”. Nguyên do việc chiếm tỉnh thành hồi đó do văn thân lãnh đạo có đông đảo quần chúng tham dự. Họ vây kín bốn xung quanh thành đòi bọn quan tỉnh giao lại cho nghĩa quân. Bọn chúng sợ hoảng, đứng trên thành nói vọng xuống, xin mời đại biểu của dân vào tình nguyện giao lại thành, v.v…

Ở đây ta thấy Phan Khôi coi nhẹ phong trào quần chúng. Phong trào đó từng bành trướng từ hồi Tây Sơn khởi nghĩa cho đến Nam Kỳ kháng Pháp. Phan Khôi lại đánh giá quá thấp lòng yêu nước của người Việt Nam trước sự xâm lăng của quân đội thực dân. Phan Khôi đã khéo mượn cái lối trực giác lý luận để xuyên tạc sự thật, diễu cợt quần chúng, giảm nhẹ tinh thần dân tộc của nhân dân lúc bấy giờ.

Cũng bài trên, đoạn nói về vụ xin xâu Trung Kỳ năm 1908 ở Quảng Nam, Phan Khôi viết: “Giá cứ như vậy [biểu tình ôn hoà] thì thật khó mà giải tán vì không có một cớ gì nhỏ mọn cho Chính phủ có thể viện lấy mà dùng đến võ lực. Nhưng ở Toà sứ thì quần chúng giữ được trật tự mà còn ở nhà quê thì họ đã bắt đầu làm những việc phi pháp. Nhờ đó quan Công sứ bèn hạ lệnh cho lính tập dùng roi và báng súng mà giải tán quần chúng cho đến không còn một người nào”, và “Cứ theo lẽ phải mà nói, cuộc vận động năm 1908 nếu không có những vụ sát nhân này [bách tử Đề Sự, ngược sát Chánh Quát] thì nó sẽ quang minh chính đại đến đâu. Hoặc giả cái kế của nó cũng sẽ khác đi kia, chứ không phải nhân đó kéo dăm bảy trăm cả thân hào và sĩ dân vào ngục, lại đưa 12 tỉnh đến trong một thời kỳ khủng bố, có tỉnh như Bình Định còn khủng bố gấp mấy Quảng Nam nữa”.

Thái độ của Phan Khôi qua những đoạn nghiên cứu lịch sử này thật là rõ ràng như ban ngày. Theo Phan Khôi, giá nhân dân hồi đó cứ biểu tình một cách ôn hoà, nghĩa là xin xâu không được thì về, thì “quan Công sứ” đâu có dùng đến võ lực để đàn áp khủng bố; giá cứ đừng đụng đến mấy tên cường hào ác bá thì cuộc biểu tình sẽ “quang minh chính đại” đến đâu. Thật là lời lẽ của bọn cầm quyền, của bọn thực dân phong kiến. Đọc đoạn lịch sử mà Phan Khôi viết đây, ta thấy quần chúng nhân dân là những lũ phi pháp sát nhân, còn những tên râu xồm bụng phệ thực dân phong kiến thì trái lại, quả là những ông quân tử. Ngòi bút sử của Phan Khôi ở đây không phải trình bày bình luận sự việc một cách khách quan nữa, mà là đứng ở hàng ngũ địch để bôi nhọ ta, bôi nhọ sự thực. Nếu tôi dùng tiếng “bồi bút cho thực dân phong kiến” để chỉ Phan Khôi có lẽ hãy còn quá nhẹ.

Cũng vì thế mà cũng trong bài trên, đoạn nói về Xô viết Nghệ Tĩnh, Phan Khôi bảo: “Thóc và ruộng biết không thể chia được mà họ cứ đòi chia. Lính biết là không nên đánh mà họ cứ đánh. Đốt nhà biết là có tội mà họ cứ đốt. Giết người biết là sẽ bị giết mà họ cứ giết. Chưa đủ sức chống lại chính phủ mà họ cứ chống. Hết thảy những điều ấy người ngoài trông vào có thể bảo họ là dại, không thì là điên”. Không cần phải nói, chúng ta cũng thấy Phan Khôi không những nhắm mắt trước tinh thần đấu tranh sôi nổi và quyết liệt của nhân dân Nghệ Tĩnh mà còn cho tinh thần đấu tranh đó không phải phát xuất từ căm hờn cao độ của đám người bị áp bức bóc lột đến điêu đứng thảm hại, mà chỉ là vì loạn thần kinh. Dễ dàng thay và cũng xảo quyệt thay!

Trắng trợn hơn nữa, trong bài nói về “Khoa học không có tội”, [23] Phan Khôi viết: “Hãy ghi lấy cái sử tích ấy [Minh Mạng giết ba ngàn dư đảng của Nguyễn Hựu Khôi] [24] rồi hỏi từ lúc nước Pháp là nước thịnh khoa học, chuông cơ khí, sang đây đến giờ hơn 70 năm, coi có lần nào giết người bằng lần ấy không?” Ở một bài khác đăng báo Tràng an [25] nói về vụ thất thủ kinh thành Huế năm 1885, Phan Khôi có bài đầu đề là “Chết ngần ấy ít quá!”; nội dung bài đó, Phan Khôi bảo là mấy nghìn người Việt Nam chết trong vụ thất thủ kinh đô hồi ấy thật là ít ỏi.

Đây cũng là một phát hiện quan trọng của Phan Khôi, có điều phát hiện này không cốt để giúp ích cho việc nghiên cứu sử học mà cốt để biện hộ cho thực dân. Chắc bây giờ thì Phan Khôi không dám nhắc đến phát hiện này nữa vì những vụ tàn sát dã man, như xâu tay giết người hàng loạt trong Nam Kỳ khởi nghĩa hay là việc hãm đói chết hơn hai triệu người Việt hồi 1945 do bàn tay đẫm máu của thực dân Pháp đã hùng hồn biện hộ với Phan Khôi rồi. Chính lúc Phan Khôi cho đăng mấy bài đầy luận điệu phản quốc, phản dân tộc đó, trong độc giả có nhiều người tức tối nhưng không có ai nắm được một vài con số để trả lời cho tác giả vì những bản thống kê giết dân thuộc địa đời nào bọn thực dân đế quốc lại công bố cho ai xem đâu. Nhưng chắc Phan Khôi cũng không ngờ rằng tiếp theo số báo đăng bài nói trên của Phan Khôi, báo Phụ nữ thời đàm trong mục “Số tù ở Côn Lôn” có chép là tháng 5/1933 số tù có 2.584 người, tăng thêm năm trước là 298 người. Chỉ một con số ấy đủ cho ta thấy đại khái riêng những người yêu nước bị thực dân Pháp tù đầy, giam giữ trong các trại giam Sơn La, Lao Bảo, Công Tum, Ban Mê Thuột, v.v… và trong các nhà ngục huyện, tỉnh, thành phố, v.v… trong những năm 1930-31 cho đến năm 1933 đó biết đến bao nhiêu mà kể. Tất nhiên con số những người bị thực dân Pháp giết hại không phải là ít ỏi như Phan Khôi đã bào chữa.

Tóm lại, trong khi nghiên cứu bình luận về sử, Phan Khôi đã tự lột mặt nạ cho mọi người thấy là mình đứng trong hàng ngũ của bọn thống trị, bọn Pháp thực dân giễu cợt nhân dân, xuyên tạc lịch sử. Con người đó quả là không có Tổ quốc.

D. Quan điểm phản cách mạng, chống Đảng

Thực nghiệm chủ nghĩa mà hồi đó Hồ Thích nhập cảng của đế quốc Mỹ vào để làm gì? Không có gì khác là để truyền bá tư tưởng quan điểm chống đối với chủ nghĩa Mác ở Trung Quốc, chống đối với làn sóng cách mạng ngày càng bành trướng, càng sôi nổi của nhân dân Trung Quốc để hòng cứu vãn nền thống trị phản động của đế quốc phong kiến và tư bản quan liêu đang rẫy chết. Hồ Thích cho đế quốc chủ nghĩa đối với Trung Quốc không phải là kẻ xâm lược mà là “hương hạ nhân đích hải ngoại kỳ đàm”, [1] cho căn bệnh lớn của Trung Quốc không phải là tại bọn thống trị phản động, bọn phong kiến quân phiệt và bọn quan liêu tàn ác mà là tại nhân dân “ngu muội vô tri”; cho Đài Loan không phải là lãnh thổ của Trung Quốc, v.v… [2] Thực nghiệm chủ nghĩa của Hồ Thích, chân lý của Hồ Thích nói chung là thứ “đồ dùng” để hoạt động “có lợi” cho đế quốc chủ nghĩa và giai cấp tư sản Trung Quốc.

Còn Phan Khôi thì thế nào?

Phan Khôi chủ trương “nước ta không có chế độ phong kiến” để làm gì? “Vì theo lịch sử nước ta, từ xưa đến nay chưa hề có chế độ phong kiến thì người mình bởi đâu chịu nó áp bức, chúng ta ngày nay việc gì phải thoát ly.” [3] Nghĩa là chúng ta cần gì phải xoá bỏ chế độ phong kiến vì có chế độ ấy trên lịch sử đâu. Nói như thế không những Phan Khôi không tán thành việc xoá bỏ chế độ phong kiến địa chủ mà hơn nữa, còn cho chế độ tư hữu theo kiểu tư bản chủ nghĩa hiện hành là một chế độ vĩnh viễn tồn tại, một cái gì tốt đẹp cần phải duy trì, không cần phải làm cách mạng.

Tại sao vào khoảng năm 1936, Phan Khôi đăng luôn mấy bài mạt sát Tôn Thất Thuyết trên báo Tràng an giữa lúc các báo chí quốc văn hồi ấy hô hào lấy ngày thất thủ kinh đô 23 tháng 5 năm Ất Dậu làm một ngày quốc sỉ, có ý khơi lòng căm thù với thực dân Pháp. Cố nhiên Tôn Thất Thuyết không phải là một vị anh hùng, một người hết lòng hy sinh vì nước vì dân gì, nhưng kể về tinh thần của bọn triều đình phong kiến thì Tôn Thất Thuyết cũng như Hàm Nghi là đứng về hàng ngũ kháng Pháp, là linh hồn của quân Cần Vương, trái lại bọn Nguyễn Văn Tường, Đồng Khánh là đại biểu cho bọn đầu hàng, bọn bán nước. Mạt sát Tôn Thất Thuyết hồi đó, dụng ý của Phan Khôi rất dễ hiểu, Phan Khôi muốn vì chế độ thực dân, giập tắt lòng yêu nước thù giặc của mọi người.

Phan Khôi từng nói: “Làm cho kinh tế bị khủng hoảng và cả thế giới mấy năm nay, cái tội ở những nước nào chưa có khoa học như nước Việt Nam này là một.” [4] Nói như thế để làm gì? Tất nhiên không phải Phan Khôi muốn khuyến khích cho người Việt Nam cũng như những nước ươn hèn chưa có khoa học khác xây dựng nhà máy sản xuất hàng hoá để cạnh tranh với hàng đế quốc và do đó để tiêu trừ nạn kinh tế khủng hoảng, vì trong hoàn cảnh bị áp bức về kinh tế, giai cấp tư sản Việt Nam cũng như giai cấp tư sản ở các nước ươn hèn khác làm gì mà cất đầu lên được. Đây là một bài cãi hộ vừa trắng trợn vừa liều lĩnh cho mấy tên tư bản cạnh tranh nhau, sản xuất hàng hoá một cách vô tổ chức. “Đồ dùng” của Phan Khôi “có lợi” cho thực dân đế quốc là như vậy.

Nói đến cộng sản, nói đến Đảng thì thái độ của Phan Khôi không úp mở gì nữa. Thái độ đó là thái độ chống đối hoàn toàn.

Sau khi thất trận trên chiến trường duy tâm duy vật, “viên tướng” ấy dùng lối “chiến tranh lạnh” nghĩa là đem những cái tủn mủn vụn vặt để mỉa mai đồng chí Hải Triều và nhân thể đả kích vào chủ nghĩa cộng sản. Ở đây ta không nhắc đến ác ý đó.

Trong một bài đăng ở báo Sông Hương, chủ bút Phan Khôi viết: “Có điều ở xứ ta đây thật quả có phe phú hào với phe bình dân mà cái tình trạng sinh hoạt huyền cách nhau và cái quyền lợi phản đối nhau như ở các nước tư bản chủ nghĩa bên Tây không? Ở xứ ta đây trong những cuộc vận động chính trị hiện thời quả có phe phú hào nào âm mưu cùng nhau xui chính phủ Pháp những cái quyền lợi riêng cho mình mà làm hại bình dân không?” [5]

Trước vấn đề tỷ lệ huyền cách nhau về sinh hoạt và phản đối nhau về quyền lợi, Phan Khôi chỉ biết cãi hộ cho phe phú hào, cho rằng phe phú hào ở ta không bằng phe phú hào ở các nước tư bản, nhưng Phan Khôi lại không biết phe bình dân ở ta lại càng kém xa phe bình dân ở các nước tư bản, Phan Khôi cũng lại không biết phe bình dân ở ta chịu biết bao tầng áp bức bóc lột như thế nào. Còn như phe phú hào có âm mưu gì với chính phủ Pháp không, thì một vài tài liệu vặt như “Bức thư ngỏ cùng quan Tổng trưởng thuộc địa” của tên bợ đít thực dân Dương Bá Trạc, [6] một vài hành động phản động của đảng bán nước bán dân là đảng Lập hiến của bọn Bùi Quang Chiêu, Nguyễn Phan Long, v.v… cũng đủ để trả lời cho Phan Khôi rồi. Chưa nói đến những âm mưu của bọn chúng từ Nam chí Bắc tuy lẻ tẻ mà thống nhất trong những việc bắt bớ chém giết nhân dân, tranh đoạt ruộng đất làm đồn điền, ăn bám công quỹ mà nhiều sách báo đương thời có nhắc đến.

Thâm độc và xảo quyệt nhất là Phan Khôi vu cáo lãnh tụ của vô sản thế giới nói riêng và vu cáo chủ nghĩa cộng sản nói chung. Phan Khôi so sánh: “Tôi thấy ông Lénine hay ông Staline thì cũng chẳng khác nào ông Mussolini hay ông Hitler. Cái tướng tinh ho ra khói, khạc ra lửa ấy dễ dàng gì bảo họ cầm cái liềm hay cái búa để mà diễu cợt: “Người như thế mà Hứa Hành bảo họ tịnh canh tôi cho là khờ rồi. Đến bảo theo cái tín điều “các tận sở năng” tôi cũng còn lấy làm ngại nữa.” [7]

Đem một vài câu nói sơ lược của thuyết Hứa Hành ở thời đại cổ Trung Quốc để mà gán ghép vào cho chủ nghĩa xã hội khoa học ngày nay thì thật là không đâu vào đâu cả. Bởi vì theo kiểu “cùng cày” của Hứa Hành tức là chủ nghĩa bình quân lao động chỉ có thể áp dụng ở thời kỳ cộng sản nguyên thuỷ, chứ ở thời kỳ xã hội xã hội chủ nghĩa hay cộng sản chủ nghĩa không thể không phân công trong lao động sản xuất. Ở đây ta thấy Phan Khôi vứt cả luận lý học để cốt nói cho sướng miệng, để vu khống, chứ không phải để bình luận sử. Con người đó quả là con người nhan hiểm.

Bất tất phải nói nhiều nữa, Phan Khôi ngày trước quả là coi cách mạng, coi Đảng của giai cấp vô sản như thù nghịch. Cố nhiên người như thế đi theo cách mạng, đi theo kháng chiến mười mấy năm nếu không tự mình hết sức cải tạo thì dù có đi theo cho đến mãn đời cũng không thể nào tìm được chân lý, biết được sự thực. Cho nên chúng ta không lấy làm lạ cho lắm khi thấy Phan Khôi gần đây chủ trương tờ Nhân văn để nói xấu cách mạng, vu cáo Đảng. Cái “tôi” của Phan Khôi quả vẫn là cái “tôi” của những phần tử trong hàng ngũ đối lập với cách mạng, với Đảng, không thể nào hoà nhịp được với cái “tôi” mới của nhân dân quần chúng đang tiến bước trên con đường xã hội chủ nghĩa, thì làm gì mà Phan Khôi chả than rằng “tôi đâu còn là tôi được nữa”. Cặp kính của Phan Khôi đeo ngày nay quả vẫn là cặp kính quá đen tối của bọn thống trị, bọn phản động nhìn lịch sử, nhìn nhân dân ngày xưa thì làm gì thấy được cái đẹp, cái tốt, cái đang lên của xã hội mới, thì làm gì mà Phan Khôi chả trách “triều đại là triều đại gì đó, cái thói kỵ huý của quan trường thì không khác”. Cái mà người ta gọi là “lập dị, khí khái” của Phan Khôi ngày trước cũng như ngày nay quả đúng là quan điểm chống nhân dân, chống cách mạng, và chống Đảng.

Ở đây chúng tôi không nói đến một đời hoạt động về chính trị và tư cách cá nhân của Phan Khôi vì các báo chí đã kể ra nhiều lắm đi rồi. Qua giấy trắng mực đen, qua một số bài báo mà chúng tôi phân tích về từng quan điểm một ở trên, hẳn độc giả cũng thấy rõ tư tưởng lập trường của Phan Khôi như thế nào. Chân tướng con người đó đã khá rạch ròi.

Tại sao Phan Khôi lại học mót của Hồ Thích? Tại sao lại học mót một cách vụng về?

Không nghi ngờ gì nữa, Phan Khôi học mót của Hồ Thích vì tư tưởng căn bản của Phan Khôi ngày trước là tư tưởng nô dịch, y như tư tưởng “dương nô” mà đại biểu có tên tuổi ở Trung Quốc chính là Hồ Thích. Chúng ta cũng nên biết trong thời đại bọn thực dân đế quốc làm mưa làm gió ở thuộc địa thì ở thuộc địa nói chung thường có một số người trong đó có cả phần tử trí thức, hay bị loá mắt về cái văn minh vật chất của Tây phương. Trong đó có hai hạng: một hạng tuy phục văn minh Tây phương là mạnh là giỏi nhưng họ vốn giàu lòng yêu nước nên mong muốn mọi người cố gắng học lấy cái văn minh đó để hòng giành lại chủ quyền của tổ quốc và kiến thiết đất nước. Cần phải thấy rõ: họ tuy phục văn minh Tây phương nhưng phục với tinh thần tự cường, với tinh thần tự hào dân tộc, tin tưởng giang sơn tổ quốc rồi sẽ có ngày tiến bước được như các nước Tây phương. Đó là một hạng.

Một hạng khác nhắm mắt sùng bái văn minh Tây phương qua những ông chủ mới, đến nỗi thấy cái gì của người cũng cho là đẹp là khôn, thấy cái gì của mình cũng cho là xấu là ngu đi cả. Từ chỗ tâng bốc sùng bái người, tiến đến nô dịch cho người cách nhau không đầy một bước. Và khi họ ra mặt mạt sát nhân dân, mạt sát tổ quốc là lúc họ đã vững chân trên con đường phản động. Hạng này so với hạng trên thực chất khác nhau như trời với vực. Phan Khôi cũng như Hồ Thích đều là điển hình cho hạng này. Nhưng Phan Khôi chỉ có thể sánh được với Hồ Thích một phần nào về hình thức nô dịch, còn như nội dung nô dịch thì lại khác xa. Nói như thế không phải bảo là bên này ít tính chất phản động, phản khoa học hơn bên kia. Việc đó nói lên sự cách biệt về bản lĩnh học vấn, chính trị và về môi trường hoạt động giữa hai bên. Ta thấy rõ:

a. Do tư tưởng nô dịch nên lúc bước vào nghề cầm bút, tự nhiên Phan Khôi đã thấy con đường mà Hồ Thích đang đi rất phù hợp với con đường mà mình đang chọn. Tự nhiên đang khát gặp nước, quan điểm và phương pháp mà Hồ Thích đang truyền bá ở Trung Quốc được Phan Khôi mượn lấy tự võ trang cho mình. Nhưng Hồ Thích tốn bao nhiêu công phu đi đây đi đó; đế quốc tốn cho hắn bao nhiêu cơm áo bơ sữa để cho hắn đầu độc có kết quả hơn 600 triệu nhân dân, để cho hắn vẽ vời đẹp mặt hơn giai cấp tư sản mại bản bấy giờ đang cầm quyền thống trị Trung Quốc. Còn ở đây, đế quốc thực dân có tốn kém gì cho Phan Khôi không thì không biết; chỉ biết rằng Phan Khôi chả cần phải đi đâu xa cả, chỉ nằm khểnh bên “bàn tĩnh” lặp lại ý kiến của Hồ Thích, cường điệu vào hoàn cảnh của Việt Nam để ký tên của mình ở dưới là được rồi. Cái học của Phan Khôi không có một hệ thống độc lập, không đủ để làm to chuyện như Hồ Thích. Còn như giai cấp tư sản Việt Nam tuy đã thành hình nhưng rất yếu ớt, lại bị chèn ép dữ dội, còn ai nghĩ tới chuyện vẽ mày vẽ mặt cho nữa. Vậy thì chỉ còn có một giải đáp là Phan Khôi làm như thế vì mục đích làm lợi cho thực dân đế quốc là chủ yếu.

b. Do tư tưởng nô dịch cho nên Phan Khôi thấy rất phù hợp khi bắt chước Hồ Thích phủ định giá trị lịch sử, phủ định truyền thống ưu tú của dân tộc. Từ đây lại tiến lên một bước là phủ định lực lượng quần chúng, phủ định tính chất tất yếu của cách mạng. Ngược lại, Phan Khôi đề cao thực dân đế quốc thống trị rồi từ chỗ đó, công nhận Tây phương nô dịch Đông phương là hợp lý; công nhận “tội ở về phía mấy nước nhỏ yếu” là dĩ nhiên. Từ đây, Phan Khôi đã đứng bên kia hàng ngũ của chúng ta rồi. Từ đây chính Hồ Thích cũng không ngờ hắn đã có một đồ đệ khá trung thành ở Việt Nam rồi. Cho nên không phải ngẫu nhiên mà gần đây Phan Khôi mới giở trò ở Nhân văn – Giai phẩm.

Tất nhiên kẻ đã mang nặng đầu óc nô dịch chỉ thấy cái lợi nhãn tiền chứ không có lý tưởng gì cao xa, không có kiến thức gì sâu rộng, Phan Khôi, qua những bài báo vừa vạch trên kia, quả là một người dốt nát. Cho nên cái danh từ “học giả” quá to tát mà một số người hay gán cho Phan Khôi, không đúng.

Một tờ báo phát ngôn cho bọn Mỹ-Diệm miền Nam còn nói: “Phan Khôi đáng làm thầy cho cộng sản.” [8] Câu nói đó thực là một câu khôi hài đến chua chát. Phan Khôi chỉ làm đầy tớ cho đế quốc phong kiến suy tàn rẫy chết, làm thầy cho giai cấp tư sản đầu cơ trục lợi trong nước thì được, chứ nếu Phan Khôi muốn học theo chủ nghĩa Mác-Lênin thì với quan điểm phản nhân dân, phản cách mạng nặng nề trong đầu óc như thế không biết bao giờ mới thành công mà bảo làm thầy cho cộng sản sao được! Chủ nghĩa cộng sản có triết học duy nhất khoa học làm cơ sở cho lý luận, đó là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử chứ có phải xa rời chân lý khách quan như mớ học thuyết học lỏm được của Phan Khôi đâu! Chủ nghĩa cộng sản trọng tổ quốc, tin tưởng ở truyền thống anh dũng tốt đẹp của dân tộc chứ có phải vong bản, phản dân tộc như Phan Khôi đâu! Chủ nghĩa cộng sản là đưa nhân loại tiến lên hạnh phúc, chinh phục tự nhiên, không có cảnh tượng người bóc lột người chứ có phải muốn cho dân tộc ở trong vòng gông trói của thực dân phong kiến, ca ngợi tự do cá nhân tư sản như lời của Phan Khôi đâu?

Ở nước ta trong giai đoạn miền Bắc tiến mạnh lên xã hội chủ nghĩa, chúng ta cần phải quét cho kỳ sạch những cái gì là phi lịch sử, là phản khoa học, là phản nhân dân, là chống Đảng, nói tóm lại là bóc trần những ý thức tư tưởng và chính trị nô dịch và phản bội, cũ cũng như mới, để đẩy mạnh việc học tập và xây dựng nền văn hoá mới của chúng ta. Chúng tôi viết bài này là cũng một mục đích đó.

4/1958


[1]Trong Giai phẩm mùa Thu (nguyên chú)
[2]Duy tâm hay là duy vật (nguyên chú)
[3] Lê-nin: Duy vật luận và kinh nghiệm phê phán luận (nguyên chú)
[4]Bọn thực nghiệm chủ nghĩa cho quan niệm về thượng đế “có thể khiến cho nhân loại chúng ta an tâm, mãn ý, có thể làm cho chúng ta phát sinh lạc quan, tức có thể cho là “chân” (Hồ Thích, Thực nghiệm chủ nghĩa). (nguyên chú)
[5]Phụ nữ thời đàm số 4 (nguyên chú)
[6]Phụ nữ thời đàm số 9 (nguyên chú)
[7]Hồ Thích: Thực nghiệm chủ nghĩa (nguyên chú)
[8]Phụ nữ tân văn 1934 (nguyên chú)
[9]Phụ nữ tân văn 1934 (nguyên chú)
[10]Hồ Thích: Đường rẽ của tôi (Ngã đích kỳ lộ) (nguyên chú)
[11]Phụ nữ tân văn 1931 (nguyên chú)
[12]Phụ nữ tân văn 1931, trong đó Phan Khôi dựa vào tiểu thuyết Cay đắng mùi đời của Hồ Biểu Chánh để đi đến kết luận rằng người Việt Nam “có những cái cười vô nghĩa lý, vô ý thức, cái cười vừa ngu dại vừa độc ác”, và “trình độ người mình đừng đem so sánh với ai làm chi, so sánh với người Pháp ở đây cũng đã thấy thua xa họ lắm”. (nguyên chú)
[13]Phụ nữ thời đàm 1933 trong bài “Khoa học không có tội” (nguyên chú)
[14]Phụ nữ thời đàm 1933, trong đó Phan Khôi dẫn một bài thơ mà người đời sau thường gán cho Mạc Đĩnh Chi là nguyên có ở Trung Quốc (nguyên chú)
[15]Sông Hương 1936, trong bài “Thuyết tịnh canh của Hứa Hành và chủ nghĩa cộng sản” (nguyên chú)
[16]Trong bài “Phê bình đối với bản báo” trong Nỗ lực chu báo số 4 do Hồ Thích chủ trương (nguyên chú)
[17]Trong Giai phẩm mùa Thu (nguyên chú)
[18]Trong Giai phẩm mùa Thu (nguyên chú)
[19]Sông Hương 1936 (nguyên chú)
[20]Phụ nữ tân văn 1930, trong đó Phan Khôi công kích Phạm Quỳnh tự cao tự đại trên đàn văn như kiểu các nhà quân phiệt (nguyên chú)
[21]Theo Đại Việt sử ký toàn thư (nguyên chú)
[22]Năm 1936 (nguyên chú)
[23]Phụ nữ thời đàm 1933 (nguyên chú)
[24]Tức Lê Văn Khôi (nguyên chú)
[25]Số 39 (nguyên chú)

[1]Tạm dịch là “câu chuyện ly kỳ của dân chúng đối với người ngoại quốc” (nguyên chú)
[2]Theo bài “Thực chất tư tưởng phản động của Hồ Thích” trong sách Phê phán tư tưởng Hồ Thích tập II (nguyên chú)
[3]Phụ nữ tân văn 1934 (nguyên chú)
[4]Trong bài “Khoa học không có tội” (nguyên chú)
[5]Sông Hương 1936 trong bài “Vạn bạn đồng nghiệp Nhành lúa” (nguyên chú)
[6]Đã có in thành sách do nhà Đông Tây xuất bản (nguyên chú)
[7]Trong bài “Thuyết tịnh canh của Hứa Hành và chủ nghĩa cộng sản” (nguyên chú)
[8]Theo một tờ báo ở Sài Gòn. Phan Khôi đã chụp đăng đoạn này lên tờ Nhân văn số 2 với mục đích gì chắc độc giả cũng thừa hiểu.

Nguồn: Tập san Nghiên cứu văn sử địa, Hà Nội, số 41 (tháng 6/1958), tr. 7-24. Bản điện tử do talawas thực hiện.

Older Entries