Tuần qua nhiều việc mà lại đầy cảm hứng viết văn, mệt, stress, mất ngủ. Viết xong truyện ngắn “Đốm lửa bé bỏng” bỗng thấy đã được giải thoát. Rất thích đoạn cuối truyện, một sự kết hợp triết lý Đông – Tây về linh hồn: “Mẹ không biết ma quỉ, thần tiên. Nhưng mẹ tin có linh hồn, và nó bất tử. Mỗi khi sám hối thành thật, tinh thần con người sẽ được tắm táp và tái sinh trong tươi mới. Thanh tẩy bao giờ cũng nhân ái hơn phủ định, đạp đổ. Tâm hồn phải luôn tự thanh tẩy, bởi ai đó đã ví nó với hơi thở. Linh anh con như ngọn lửa bé bỏng, đang sưởi ấm cha mẹ, tại bến đỗ đoàn viên bất ngờ. Xưa kia, dưới những vòm phượng vĩ cha con thường nói rồi tất cả sẽ già. Hôm nay giữa mùa đông mịt mù. Các dòng xe vẫn ken dày ngược xuôi. Chật chội mê lộ. Mẹ vừa thì thầm với cha con qua thần giao cách cảm, về một ngọn nến thanh xuân siêu nhiên nở ra từ búp nụ trần thế, để chuộc về cái tôi mất mát – cho tất cả chúng ta”.

Nếu tôi không dùng các từ Hán Việt (đôi khi khá cũ và lạ), thì làm sao đoạn văn trên có thể diễn tả được các sắc thái phong phú về cốt túy con người: ma quỉ, thần tiên (hai cực của linh hồn), linh hồn, tinh thần, tâm hồn, hơi thở, linh anh, thần giao…

Trong truyện có một câu giản dị, viết xong rất sướng: “Tôi tự hỏi anh là tình yêu đã mất hay đã chết của mình?”. Đôi khi “mất” và “chết” là tương đương, khác nhau chỉ ở mức độ tế nhị và lịch lãm. Đi vào câu hỏi này, tôi đã khai thác được khía cạnh hoàn toàn trái ngược của chúng.

Đêm qua, tự thưởng bộ phim đình đám “Họa bì”. Không gian cực kỳ tĩnh lặng, phải ngắt âm thanh DTS để khỏi ảnh hưởng mọi người, chỉ dùng loa tích hợp trên TV. Hẹn vài năm nữa sẽ đầu tư một phòng chiếu cách âm ra hồn.

Không hẹn mà gặp, “Họa bì” vẫn tiếp nối câu chuyện đã viết. Chẳng biết nếu đã xem “Họa bì” trước, thì truyện của mình sẽ sâu sắc hơn một chút không? Khi con Hồ ly tinh cầm hai viên đan hồi sinh tích tụ nhờ tu luyện hàng ngàn năm, chắc chắn khán giả sẽ tự hỏi cặp đôi nào trong tam giác tình ái sẽ được chọn?

————————————————-

Bonus: HỌA BÌ (Bồ Tùng Linh, Liêu trai chí dị)

Vương Sinh ở Thái Nguyên, sáng sớm đi đường gặp một người con gái ôm chăn áo đi một mình, có vẻ rất khó nhọc. Sinh vội đuổi theo, thì là một cô gái đẹp, tuổi đôi tám, lấy làm ưa thích lắm, hỏi:

– Tại sao còn đêm tối mà lủi thủi đi một mình?

Nàng nói:

– Người đi đường chẳng giải được nỗi buồn, mất công hỏi làm gì?

Sinh nói:

– Có việc gì lo buồn? Nếu tôi giúp được, không từ chối.

Nàng buồn bã mà rằng:

– Cha mẹ tham của bán tôi cho nhà giàu, bị vợ cả quá ghen, sáng tối chửi đánh không thể chịu nổi nên phải trốn đi.

Sinh nói:

– Nhà tôi cũng không xa, xin mời cô hạ cố.

Nàng mừng rỡ đi theo. Sinh mang hộ khăn gói, dẫn nàng về nhà. Cô gái nhìn quanh không thấy ai, hỏi:

– Chàng không có người nhà hay sao?

Sinh đáp:

– Đây là phòng đọc sách.

Nói:

– Chỗ này tốt lắm. Nếu chàng thương xin giữ kín đừng cho ai biết.

Sinh nhận lời, bèn cùng nàng giao hoan. Rồi vẫn giấu trong phòng kín, qua mấy ngày mà không ai biết. Sinh ngầm nói cho vợ hay. Vợ họ Trần, có ý ngờ nàng là hầu thiếp của nhà quan, khuyên chồng đuổi đi, Sinh không nghe. Một hôm Sinh ra phố, ngẫu nhiên gặp một đạo sĩ. Nhìn thấy Sinh, liền kinh ngạc hỏi:

– Gặp sự gì vậy?

Sinh trả lời là không. Đạo sĩ nói:

– Tà khí quấn quýt khắp người, sao lại bảo là không?

Sinh lại hết sức biện bạch, đạo sĩ bỏ đi mà rằng:

– Mê hoặc thay! Ở đời có người chết đến nơi mà không tỉnh ngộ!

Sinh thấy lời nói quái lạ hơi nghi, nhưng lại nghĩ: “Nàng đẹp đẽ như thế, sao lại có thể là yêu quái được”.

Cho là đạo sĩ mượn chuyện cầu cúng để kiếm ăn. Một lát, đến thư phòng, thấy cổng đóng không vào được. Sinh nghi, bèn trèo tường vào thấy cửa buồng cũng đóng. Nấp ở ngoài cửa sổ mà nhìn, thấy một con quỷ rất nanh ác, mặt xanh, răng chĩa ra như răng cưa, đang trải một tấm da người ở trên giường, cầm bút vẽ và bôi màu lên, xong rồi quăng bút, cầm tấm da như hình xốc áo rồi khoác vào người, hóa ra một mỹ nhân. Thấy tình trạng ấy, sợ quá khẽ bò lom khom mà ra, vội đi tìm đạo sĩ, không biết là ông ta đi đâu. Tìm khắp nơi thì gặp ở ngoài cổng Đông, vội quỳ xuống xin cứu. Đạo sĩ nói:

– Xin ta trừ bỏ nó thì con quỷ ấy cũng khổ, vì kiếm cái để thay thế, ta cũng không nỡ hại kiếp sống của nó.

Bèn trao cho Sinh cái phất trần, bảo treo ở cửa buồng ngủ. Lúc chia tay, đạo sĩ hẹn gặp lại Sinh ở miếu Thanh Đế.

Sinh về, không dám vào thư phòng, bèn ngủ ở buồng trong, treo phất trần ở cửa. Vào khoảng canh một, nghe ngoài có tiếng lục đục, chính mình không dám ngó ra, sai vợ ra xem. Trần thị thấy người con gái đến, từ đằng xa nhìn thấy phất trần không dám tiến bước, đứng lại mà nghiến răng, hồi lâu rồi đi. Một chốc quay trở lại, mắng:

– Đạo sĩ dọa ta, nhất định không phải, chẳng lẽ miếng ăn vào miệng rồi lại nhả ra hay sao?

Đoạn nàng lấy cây phất trần bẻ gãy nát, phá cửa mà vào, trèo lên giường, xé rách bụng Sinh moi lấy quả tim rồi đi. Trần thị kêu cứu, đầy tớ cầm đèn vào soi thì Sinh đã chết, máu ở ngực chảy lênh láng. Trần thị sợ hãi, khóc không thành tiếng.

Sáng hôm sau, sai người đi tìm báo tin cho đạo sĩ, ông nổi giận mắng:

– Ta đã thương nó, mà con quỷ còn dám làm như vậy ư?

Lập tức theo người em về nhà thì cô gái đã đi đâu mất, ngẩng đầu nhìn quanh bốn phía rồi nói:

– May mà nó trốn chưa xa.

Hỏi:

– Nhà phía Nam là nhà ai?

Người em nói:

– Đó là nhà tôi.

Đạo sĩ nói:

– Hiện nay nó ở nhà ông.

Người em ngạc nhiên bảo là không có. Đạo sĩ nói:

– Có người nào lạ đến nhà không?

Đáp:

– Tôi đi ra miếu Thanh Đế nên không biết, để về hỏi đã.

Đi một lát, trở lại thưa:

– Sáng nay có bà già đến xin làm mướn. Vợ tôi giữ lại, hiện vẫn còn ở đó.

Đạo sĩ bảo:

– Nó đấy.

Bèn cùng đi về, cầm thanh kiếm gỗ đứng giữa sân gọi to:

– Nghiệt quỷ đâu? Trả lại phất trần cho ta!

Mụ già ở trong nhà hoảng hốt, thất sắc, chạy ra cửa toan trốn. Đạo sĩ đuổi theo chém, mụ ngã lăn ra. Tấm da người đứt tuột ra ngoài, hiện nguyên hình con quỷ dữ nằm thở như heo. Đạo sĩ cầm kiếm gỗ chặt đứt đầu, thân nó biến thành một đám khói đặc ùn ùn một đống trên mặt đất. Đạo sĩ lấy ra một cái hồ lô mở nắp, đặt vào trong đám khói, lập tức khói cuồn cuộn chui vào hồ lô như miệng người hút hơi, trong nháy mắt là hết. Đạo sĩ đóng nắp lại cất vào bao. Mọi người xúm vào xem tấm da, thấy chân tay mặt mũi đủ cả. Đạo sĩ cuộn lại như cuộn tranh, cũng bỏ vào bao rồi từ biệt đi.

Trần thị đón ở cổng vái lạy, khóc xin phép hồi sinh cho chồng, đại sĩ từ tạ là không làm nổi. Trần thị càng đau đớn, nằm phục xuống đất không dậy. Đạo sĩ ngẫm nghĩ hồi lâu, rồi nói:

– Thuật của tôi cũng cạn, thực không thể làm cho người chết sống lại. Tôi xin mách cho một người, hoặc giả có thể cứu được, đi cầu tất có hiệu quả.

Hỏi:

– Ai?

Nói:

– Ở chợ có người điên thường nằm ở trên đống phân, thử van nài xem, nếu có làm nhục phu nhân cũng chớ có giận.

Người em vẫn biết có một người ăn mày như thế, bèn từ biệt đạo sĩ cùng chị dâu đi ra chợ. Thấy một người ăn xin ngả nghiêng ca hát ở trên đường, nước mũi rỏ dài ba thước, dơ bẩn không thể tả được. Trần thị quỳ xuống mà tiến đến trước mặt. Người ăn mày cười mà nói:

– Người đẹp yêu ta chăng?

Trần thị kể rõ nguyên nhân, lại cười lớn mà rằng:

– Người nào cũng làm chồng được, hà tất phải cứu sống hắn?

Trần thị cố nài nỉ, người ăn mày quát:

– Lạ thay! Người chết mà cứ xin ta cứu làm cho sống lại. Ta là Diêm vương hay sao?

Giận dữ lấy gậy đánh Trần thị, nàng cố nhịn đau, luôn miệng cầu khẩn. Người ở chợ vây kín như bức tường, có vẻ bất bình thay cho nàng. Người ăn mày khạc đờm dãi ra đầy vốc tay để vào miệng Trần thị, bảo:

– Ăn đi.

Trần thị mặt đỏ bừng, có vẻ khó chịu. Lại nhớ đến lời dặn của đạo sĩ, bèn cố nuốt, thấy vào trong cổ, vướng như lọn bông gòn, ừng ực mà xuống, ngừng đọng lại ở trong ngực. Người ăn mày cười lớn mà nói:

– Người đẹp yêu ta thay!

Đoạn đứng dậy đi không ngoảnh lại. Đi theo thấy vào trong miếu, Trần thị khẩn khoản cầu cứu, không thấy đâu nữa, tìm kiếm trước sau tuyệt không có dấu vết. Vừa thẹn vừa oán mà về. Đã thương chồng chết thảm, lại hối phải ăn đờm, vật mình khóc lóc thảm thiết, chỉ muốn chết ngay. Sắp sửa lau máu liệm xác, gia nhân đứng xa mà nhìn, không ai dám lại gần. Trần thị ôm thây chồng, thu vén ruột gan, vừa làm vừa khóc, khóc quá khản cả tiếng, cúi đầu xuống muốn ọe. Bỗng thấy ở trong ngực, cục đờm kết vọt ra, chưa kịp cất đầu lên, nó đã rơi vào trong ngực chồng.

Kinh hãi nhìn xem thì chính là quả tim người, còn phập phồng đập, hơi bốc như khói. Vội vàng lấy hai tay khép kín ngực chồng lại, hết sức ôm và đè lên. Hơi nghỉ một chút là hơi nóng lập tức lại ùn ùn ở vết thương bốc ra. Lấy lụa buộc chặt vết thương lại, tay xoa không ngừng. Xác chết dần dần thấy nóng, lại lấy chăn phủ lên. Đến đêm mở ra coi, bắt đầu có hơi thở. Đến sáng thì Sinh sống lại, nói rằng:

– Bàng hoàng như giấc mộng, chỉ thấy ở tim đau nhói thôi.

Nhìn vào vết thương, thấy vảy đóng như đồng tiền, dần dần khỏi hẳn.