Truyện ngắn: Cặp truyện ngắn sinh đôi

1 Comment

1. Hắn và anh

“Anh từ đâu đến…” Tôi hỏi hắn. Có vẻ ban đầu tôi định nói “Anh từ đâu đến, hay chỉ tình cờ đi qua đời em”. Do ngôn từ xắp xếp vừa xong, tôi đã nhận ra độ “sến” hơi nặng nên bỏ lửng. Phần ngập ngừng nén lại ong ong trong đầu, như thể tôi đang tự hỏi mình.

“Anh từ biển” – Hắn nói với một chút trầm ngâm.

Biển chiều nhiều mây. Sóng bạc đầu đuổi nhau. Một chiếc thuyền đánh cá nhỏ cắm sào nghỉ ngơi cuối tầm mắt. Nó không quá bé để ta ví von như xác lá dật dờ trên mặt nước, không quá lớn để thành chiếc võng thư nhàn đang đong đưa giữa bầu trời.

“Em không tin?” – Hắn cười vang rồi giơ một bàn tay ra hiệu hãy chờ. Hắn đi về phía biển, đi sâu vào biển. Hắn biến mất khỏi ánh mắt tôi chừng bốn mươi lăm giây, bằng chiều dài hơi lặn của một người bình thường. Vọt khỏi mặt nước, hắn ào chạy đến tôi. Tôi bật ngửa ra cát vì bị hắn dụi cái đầu ướt mèm vào ngực, vào bụng. Tôi nhột nên kéo khuôn mặt hắn lên. Nụ hôn mằn mặn. Hắn thì thào “Anh yêu em biết chừng nào!”. Thế rồi hắn động cỡn, bế xốc tôi, vừa chạy dọc bãi biển vắng vừa gào thét “Anh yêu em… Anh yêu em…”.

Lúc ấy tôi tin đúng là hắn đến từ biển. Biển xa mà núi thì gần. Nghịch lý thị giác ấy tôi cũng biết. Tầm nhìn xa trên biển chỉ hơn mười cây số nhưng cách Vũng Tàu năm mươi kilomet bạn đã thấy núi ở bên cạnh.

***

Đêm xuống rất nhanh. Hàng dương sâm sẫm. Những chớp đèn ngoài khơi, xa hút như sao trời. Lâu lâu mới có một con tàu lớn băng ngang. Hắn chỉ cho tôi đèn mạn màu xanh và đỏ, đèn cột, đèn mũi… Hắn dẫn giải tỉ mỉ cách nhìn đèn để biết hướng tàu chạy.

Sương bắt đầu xuống, tôi ớn lạnh khi thì thầm với hắn rằng hắn sẽ bỏ chạy một mình nếu cướp xuất hiện chứ. Hắn cười toáng lên. Hắn bảo tôi đừng bao giờ đặt những câu hỏi đã có sẵn trả lời. Hắn kể đêm Noel nọ, đứa em út hắn bị dí dao trên cầu Sài Gòn. Chú chàng nhanh tay rút chìa khóa xe máy và ù té ngay, mặc cô bồ lóng ngóng chưa biết xử trí thế nào. Hiện nay cô gái kia đã là em dâu hắn. Hắn bồi thêm chuyện thứ hai: Bạn trai hắn dẫn người yêu vào rừng thông Đồ Sơn mùa đông. Chưa bi bô xong tình huống giả định múa võ cứu người đẹp thì ma cô đến. Cặp tình nhân đành líu ríu lộn hết túi áo túi quần mời chúng lấy tiền và năn nỉ xin lại giấy tờ tùy thân. Đôi ấy cuối cùng cũng hạnh phúc và thành đạt.

Mặc hắn tránh né, tôi vẫn muốn truy bằng được cách hắn định xử trí. Hắn bảo trong tình huống ấy tôi phải bình tĩnh, hắn sẽ lôi kéo sự chú ý của bọn lưu manh để tôi bỏ chạy trước. Nhất thiết mỗi người một phía, la hét cầu cứu liên tục…

Hắn tỉnh táo quá. Tỉnh táo như một triết gia. Tôi biết đêm nay nàng trinh nữ tôi không có gì để lo, dẫu phải dùng tay hắn làm gối trong ngôi nhà rông chúng tôi thuê cạnh biển.

Tôi rúc vào lòng hắn. Sóng ngoài kia rì rào mãi bản tình ca dang dở. Hắn cũng không ngủ. Gần sáng hắn đoán gió chắc đang đổi hướng. Biển êm. Hắn bảo hắn nghe được hạ âm tưng tức của sóng lừng sắp hình thành.

Tôi bất ngờ có cảm giác an toàn như từng ở bên anh. Tôi biết hắn hơn anh ở chỗ đã làm tôi rung động. Tôi trèo lên người hắn, hôn từ mắt xuống môi, xuống cổ. Hắn luồn tay qua áo ngủ xoa lưng tôi, thì thào những lời yêu lịm ngọt.

“Anh sẽ suốt đời cho em cảm giác an toàn như thế này nhé” – Tôi gần như van xin hắn.

“Anh không phải một vị thánh. Anh từng trải và kiềm chế được tính dục vì như em biết anh đã một lần đổ vỡ” – Giọng hắn đều đều – “Cái gì của anh sẽ là của anh. Khi đến với em, anh cũng đâu mong gặp được một người con gái hoàn hảo”.

***

Về nhà sau chuyến đi chơi biển xa ấy, tôi bắt đầu mơ về một đêm tân hôn huyền diệu. Tôi viết tay tặng hắn một đoạn Truyện Kiều của Nguyễn Du:

Đã cho vào bậc bố kinh

Đạo tòng phu lấy chữ trinh làm đầu

Ra tuồng trên bộc trong dâu

Những con người ấy ai cầu làm chi

Phải điều ăn xổi ở thì

Tiết trăm năm nỡ bỏ đi một ngày

Gẫm duyên kỳ ngộ xưa nay

Lứa đôi ai dễ đẹp tày Thôi – Trương.

Mây mưa đánh đổ đá vàng,

Quá chiều trước đã chán chường yến anh.

Trong khi tựa cánh liền cành,

Mà lòng rẻ rúng đã trình một bên.

Mái tây để lạnh hương nguyền,

Cho duyên đằm thắm ra duyên bẽ bàng.

Hắn cẩn thận kẹp tờ giấy học trò có kẻ ô ly nhạt vào giữa một quyển sách dầy chưng trong tủ. “Chính em sẽ làm khổ em thôi” – Tôi không hiểu hắn muốn nói gì.

Bên hắn tôi lại bất an. Càng bất an tôi càng muốn gần hắn. Tôi ngửi được và thích ngửi cái mùi đàn ông đặc trưng trên da thịt hắn. Nó chứa nam tính một cách rõ ràng, (lại) hơn anh. Nếu định nghĩa tình yêu là giá trị gì đó ngoài xác thịt thì tôi yêu anh chứ không hề yêu hắn. Anh đến với tôi khi tôi bắt đầu trở thành thiếu nữ. Bao nhiêu mùa xuân cứ trôi, anh vẫn chẳng vượt qua những nụ hôn thiếu lửa. Thiếu lửa, nhưng tôi chết cháy trong niềm khát khao trở thành đàn bà.

Rồi hắn xộc đến. Hắn là một con công trống lão luyện. Hắn biết tôi thích vũ điệu nào. Tôi kể về hắn cho anh nghe. Anh không chúc tôi hạnh phúc và cũng không muốn giật tôi trở lại vòng tay anh. Tôi cay đắng nhận ra anh là đàn ông nhưng không phải giống đực, ít nhất là ở ham muốn. Trong nền văn hóa của đất nước tôi, khi nói về giới tính, người ta nói về “giới tính xã hội” hơn là “giới tính sinh học”. Ngôn ngữ của chúng tôi rành mạch đến độ thiếu hụt, không có giống trung, không có giới tính thứ ba.

***

Một hôm tôi bảo với hắn từ nay thi thoảng tôi sẽ ngủ lại căn hộ độc thân một giường của hắn. Hắn mở tủ đưa tôi quyển sách dầy cộp kẹp giữ đoạn thơ Kiều. Hóa ra đây là tuyển tập các gương phụ nữ tiết liệt, nghĩa tháo, trung trinh, lay động muôn đời. Hơn nửa số truyện dịch từ sách Tàu. Có cả ảnh không ít miếu thờ, sắc phong triều đình nêu gương “trinh liệt nữ thần”. Hàng ngàn năm, biết bao nhiêu câu chuyện người ta cho là cảm động.

“Bây giờ em mới hiểu, không ít quyển sách nên bị đốt. Đốt sách chưa chắc là tội ác.” – Tôi cực đoan một cách độc địa.

Hắn bật nhạc. Dàn máy nhiều đèn chỉ thị, nút điều chỉnh nào cũng có đèn, bộ lọc tần số nhấp nháy hàng chục cột từ thấp đến cao. Căn phòng tối bỗng biến thành một góc trời đầy sao. Nhạc Văn Cao và Phạm Duy, những nét Đường thi đẹp mê hồn lấp lánh trong ca từ. Tôi không thích Trịnh Công Sơn của Sài Gòn ba trăm năm, dù hát thơ cũng là một nghệ thuật đáng trân trọng.

Tôi thực sự chưa hiểu tại sao mình chẳng chút e thẹn khi khỏa thân lần đầu tiên bên một người đàn ông. Vì màn đêm đồng lõa chăng? Tôi ôm hắn thật chặt. Chiếc linga căng đầy tự tôn, nóng rẫy áp vào đùi tôi. Ông Tứ Tượng từng lấy dương vật làm cầu tạm. Bà Nữ Oa đã sưởi ấm đoàn nhà trai rước dâu ướt lạnh bằng âm hộ của mình. Người Chăm xem sự hòa nhập giữa Yoni và Linga làm nên biểu tượng sáng tạo và sinh sôi của thần Siva, làm nên vẻ đẹp tôn giáo.

Hắn trốn chạy tôi và trốn chạy chính hắn. Hắn nghĩ chưa chắc chúng tôi sẽ gắn bó với nhau trọn đời. Hắn là người đốt lửa nhưng không muốn tôi biến thành thiêu thân? Hắn dùng một phạm trù đạo đức để chế ngự tự nhiên, trong khi tôi tự nhủ nếu hôm nay tôi không thành đàn bà thì hắn không phải người tôi tìm kiếm.

Đêm hẵng còn dài. Hơi thở của hắn không thể liền lạc. Nó ứa ra từ những kẽ nứt của thời gian và sự thinh lặng. Cẳng chân hắn giống cẳng chân tôi một cách kỳ lạ, như tôi và hắn là anh em ruột, như hắn chính là tôi và ngược lại.

Bỗng nhiên anh từ đâu nhảy xổ vào óc tôi. Anh nói hắn không phải là anh. Hắn chỉ là một phần mà tôi mong đợi ở anh. Muộn quá rồi. Hắn đã trườn lên người tôi. Vết đâm buốt óc. Bên dưới của kìm nén là cuồng nộ và mạnh bạo. Tôi cắn môi để khỏi bật khóc. Nước mắt rát đắng.

***

Và tất nhiên, cuối cùng tôi phải chia tay hắn. Tôi không thể lên giường với hắn và tưởng nhớ đến anh, mường tượng sự êm ái và nhẹ nhàng nếu anh là hắn.

Từ đó tôi thường tự giới thiệu với xã hội là tôi đã có một đời chồng. Tôi nhắc đến hắn làm gì. Tôi muốn nói về tôi. Tôi phát tín hiệu rõ ràng cho tất cả những quí ông mon men xung quanh mình. Có như vậy họ mới thôi suy già đoán non, ao ước, mong đợi nơi tôi một cô gái không khiếm khuyết, tối thiểu là ở khía cạnh bóng bẩy truyền thống.

Tôi không có lý do trách cứ hắn. Trong truyện ngắn này tôi bắt buộc phải gọi một trong hai nhân vật nam là hắn. Để tránh nhầm lẫn, đơn giản chỉ thế thôi. Bạn đọc đừng lần theo lối mòn, hãy thoát ra khỏi nhà tù khái niệm, hãy xem “hắn” là một danh từ chỉ ngôi thứ ba bình thường. Hoặc nếu không thích, bạn có thể thay “anh” bằng “hắn” và “hắn” bằng “anh” tại các ngữ cảnh gián tiếp, với vài thủ thuật vi tính văn bản. Tôi đã thử và thấy mạch truyện dịu đi rất nhiều. Ngôn ngữ đánh lừa chúng ta thâm sâu và hiểm độc như thế đấy.

2. Anh và hắn

“Anh từ đâu đến…” Tôi hỏi anh. Có vẻ ban đầu tôi định nói “Anh từ đâu đến, hay chỉ tình cờ đi qua đời em”. Do ngôn từ xắp xếp vừa xong, tôi đã nhận ra độ “sến” hơi nặng nên bỏ lửng. Phần ngập ngừng nén lại ong ong trong đầu, như thể tôi đang tự hỏi mình.

“Anh từ biển” – Anh nói với một chút trầm ngâm.

Biển chiều nhiều mây. Sóng bạc đầu đuổi nhau. Một chiếc thuyền đánh cá nhỏ cắm sào nghỉ ngơi cuối tầm mắt. Nó không quá bé để ta ví von như xác lá dật dờ trên mặt nước, không quá lớn để thành chiếc võng thư nhàn đang đong đưa giữa bầu trời.

“Em không tin?” – Anh cười vang rồi giơ một bàn tay ra hiệu hãy chờ. Anh đi về phía biển, đi sâu vào biển. Anh biến mất khỏi ánh mắt tôi chừng bốn mươi lăm giây, bằng chiều dài hơi lặn của một người bình thường. Vọt khỏi mặt nước, anh ào chạy đến tôi. Tôi bật ngửa ra cát vì bị anh dụi cái đầu ướt mèm vào ngực, vào bụng. Tôi nhột nên kéo khuôn mặt anh lên. Nụ hôn mằn mặn. Anh thì thào “Anh yêu em biết chừng nào!”. Thế rồi anh động cỡn, bế xốc tôi, vừa chạy dọc bãi biển vắng vừa gào thét “Anh yêu em… Anh yêu em…”.

Lúc ấy tôi tin đúng là anh đến từ biển. Biển xa mà núi thì gần. Nghịch lý thị giác ấy tôi cũng biết. Tầm nhìn xa trên biển chỉ hơn mười cây số nhưng cách Vũng Tàu năm mươi kilomet bạn đã thấy núi ở bên cạnh.

***

Đêm xuống rất nhanh. Hàng dương sâm sẫm. Những chớp đèn ngoài khơi, xa hút như sao trời. Lâu lâu mới có một con tàu lớn băng ngang. Anh chỉ cho tôi đèn mạn màu xanh và đỏ, đèn cột, đèn mũi… Anh dẫn giải tỉ mỉ cách nhìn đèn để biết hướng tàu chạy.

Sương bắt đầu xuống, tôi ớn lạnh khi thì thầm với anh rằng anh sẽ bỏ chạy một mình nếu cướp xuất hiện chứ. Anh cười toáng lên. Anh bảo tôi đừng bao giờ đặt những câu hỏi đã có sẵn trả lời. Anh kể đêm Noel nọ, đứa em út anh bị dí dao trên cầu Sài Gòn. Chú chàng nhanh tay rút chìa khóa xe máy và ù té ngay, mặc cô bồ lóng ngóng chưa biết xử trí thế nào. Hiện nay cô gái kia đã là em dâu anh. Anh bồi thêm chuyện thứ hai: Bạn trai anh dẫn người yêu vào rừng thông Đồ Sơn mùa đông. Chưa bi bô xong tình huống giả định múa võ cứu người đẹp thì ma cô đến. Cặp tình nhân đành líu ríu lộn hết túi áo túi quần mời chúng lấy tiền và năn nỉ xin lại giấy tờ tùy thân. Đôi ấy cuối cùng cũng hạnh phúc và thành đạt.

Mặc anh tránh né, tôi vẫn muốn truy bằng được cách anh định xử trí. Anh bảo trong tình huống ấy tôi phải bình tĩnh, anh sẽ lôi kéo sự chú ý của bọn lưu manh để tôi bỏ chạy trước. Nhất thiết mỗi người một phía, la hét cầu cứu liên tục…

Anh tỉnh táo quá. Tỉnh táo như một triết gia. Tôi biết đêm nay nàng trinh nữ tôi không có gì để lo, dẫu phải dùng tay anh làm gối trong ngôi nhà rông chúng tôi thuê cạnh biển.

Tôi rúc vào lòng anh. Sóng ngoài kia rì rào mãi bản tình ca dang dở. Anh cũng không ngủ. Gần sáng anh đoán gió chắc đang đổi hướng. Biển êm. Anh bảo anh nghe được hạ âm tưng tức của sóng lừng sắp hình thành.

Tôi bất ngờ có cảm giác an toàn như từng ở bên hắn. Tôi biết anh hơn hắn ở chỗ đã làm tôi rung động. Tôi trèo lên người anh, hôn từ mắt xuống môi, xuống cổ. Anh luồn tay qua áo ngủ xoa lưng tôi, thì thào những lời yêu lịm ngọt.

“Anh sẽ suốt đời cho em cảm giác an toàn như thế này nhé” – Tôi gần như van xin anh.

“Anh không phải một vị thánh. Anh từng trải và kiềm chế được tính dục vì như em biết anh đã một lần đổ vỡ” – Giọng anh đều đều – “Cái gì của anh sẽ là của anh. Khi đến với em, anh cũng đâu mong gặp được một người con gái hoàn hảo”.

***

Về nhà sau chuyến đi chơi biển xa ấy, tôi bắt đầu mơ về một đêm tân hôn huyền diệu. Tôi viết tay tặng anh một đoạn Truyện Kiều của Nguyễn Du:

Đã cho vào bậc bố kinh

Đạo tòng phu lấy chữ trinh làm đầu

Ra tuồng trên bộc trong dâu

Những con người ấy ai cầu làm chi

Phải điều ăn xổi ở thì

Tiết trăm năm nỡ bỏ đi một ngày

Gẫm duyên kỳ ngộ xưa nay

Lứa đôi ai dễ đẹp tày Thôi – Trương.

Mây mưa đánh đổ đá vàng,

Quá chiều trước đã chán chường yến anh.

Trong khi tựa cánh liền cành,

Mà lòng rẻ rúng đã trình một bên.

Mái tây để lạnh hương nguyền,

Cho duyên đằm thắm ra duyên bẽ bàng.

Anh cẩn thận kẹp tờ giấy học trò có kẻ ô ly nhạt vào giữa một quyển sách dầy chưng trong tủ. “Chính em sẽ làm khổ em thôi” – Tôi không hiểu anh muốn nói gì.

Bên anh tôi lại bất an. Càng bất an tôi càng muốn gần anh. Tôi ngửi được và thích ngửi cái mùi đàn ông đặc trưng trên da thịt anh. Nó chứa nam tính một cách rõ ràng, (lại) hơn hắn. Nếu định nghĩa tình yêu là giá trị gì đó ngoài xác thịt thì tôi yêu hắn chứ không hề yêu anh. Hắn đến với tôi khi tôi bắt đầu trở thành thiếu nữ. Bao nhiêu mùa xuân cứ trôi, hắn vẫn chẳng vượt qua những nụ hôn thiếu lửa. Thiếu lửa, nhưng tôi chết cháy trong niềm khát khao trở thành đàn bà.

Rồi anh xộc đến. Anh là một con công trống lão luyện. Anh biết tôi thích vũ điệu nào. Tôi kể về anh cho hắn nghe. Hắn không chúc tôi hạnh phúc và cũng không muốn giật tôi trở lại vòng tay hắn. Tôi cay đắng nhận ra hắn là đàn ông nhưng không phải giống đực, ít nhất là ở ham muốn. Trong nền văn hóa của đất nước tôi, khi nói về giới tính, người ta nói về “giới tính xã hội” hơn là “giới tính sinh học”. Ngôn ngữ của chúng tôi rành mạch đến độ thiếu hụt, không có giống trung, không có giới tính thứ ba.

***

Một hôm tôi bảo với anh từ nay thi thoảng tôi sẽ ngủ lại căn hộ độc thân một giường của anh. Anh mở tủ đưa tôi quyển sách dầy cộp kẹp giữ đoạn thơ Kiều. Hóa ra đây là tuyển tập các gương phụ nữ tiết liệt, nghĩa tháo, trung trinh, lay động muôn đời. Hơn nửa số truyện dịch từ sách Tàu. Có cả ảnh không ít miếu thờ, sắc phong triều đình nêu gương “trinh liệt nữ thần”. Hàng ngàn năm, biết bao nhiêu câu chuyện người ta cho là cảm động.

“Bây giờ em mới hiểu, không ít quyển sách nên bị đốt. Đốt sách chưa chắc là tội ác.” – Tôi cực đoan một cách độc địa.

Anh bật nhạc. Dàn máy nhiều đèn chỉ thị, nút điều chỉnh nào cũng có đèn, bộ lọc tần số nhấp nháy hàng chục cột từ thấp đến cao. Căn phòng tối bỗng biến thành một góc trời đầy sao. Nhạc Văn Cao và Phạm Duy, những nét Đường thi đẹp mê hồn lấp lánh trong ca từ. Tôi không thích Trịnh Công Sơn của Sài Gòn ba trăm năm, dù hát thơ cũng là một nghệ thuật đáng trân trọng.

Tôi thực sự chưa hiểu tại sao mình chẳng chút e thẹn khi khỏa thân lần đầu tiên bên một người đàn ông. Vì màn đêm đồng lõa chăng? Tôi ôm anh thật chặt. Chiếc linga căng đầy tự tôn, nóng rẫy áp vào đùi tôi. Ông Tứ Tượng từng lấy dương vật làm cầu tạm. Bà Nữ Oa đã sưởi ấm đoàn nhà trai rước dâu ướt lạnh bằng âm hộ của mình. Người Chăm xem sự hòa nhập giữa Yoni và Linga làm nên biểu tượng sáng tạo và sinh sôi của thần Siva, làm nên vẻ đẹp tôn giáo.

Anh trốn chạy tôi và trốn chạy chính anh. Anh nghĩ chưa chắc chúng tôi sẽ gắn bó với nhau trọn đời. Anh là người đốt lửa nhưng không muốn tôi biến thành thiêu thân? Anh dùng một phạm trù đạo đức để chế ngự tự nhiên, trong khi tôi tự nhủ nếu hôm nay tôi không thành đàn bà thì anh không phải người tôi tìm kiếm.

Đêm hẵng còn dài. Hơi thở của anh không thể liền lạc. Nó ứa ra từ những kẽ nứt của thời gian và sự thinh lặng. Cẳng chân anh giống cẳng chân tôi một cách kỳ lạ, như tôi và anh là anh em ruột, như anh chính là tôi và ngược lại.

Bỗng nhiên hắn từ đâu nhảy xổ vào óc tôi. Hắn nói anh không phải là hắn. Anh chỉ là một phần mà tôi mong đợi ở hắn. Muộn quá rồi. Anh đã trườn lên người tôi. Vết đâm buốt óc. Bên dưới của kìm nén là cuồng nộ và mạnh bạo. Tôi cắn môi để khỏi bật khóc. Nước mắt rát đắng.

***

Và tất nhiên, cuối cùng tôi phải chia tay anh. Tôi không thể lên giường với anh và tưởng nhớ đến hắn, mường tượng sự êm ái và nhẹ nhàng nếu hắn là anh.

Từ đó tôi thường tự giới thiệu với xã hội là tôi đã có một đời chồng. Tôi nhắc đến anh làm gì. Tôi muốn nói về tôi. Tôi phát tín hiệu rõ ràng cho tất cả những quí ông mon men xung quanh mình. Có như vậy họ mới thôi suy già đoán non, ao ước, mong đợi nơi tôi một cô gái không khiếm khuyết, tối thiểu là ở khía cạnh bóng bẩy truyền thống.

Tôi không có lý do trách cứ anh. Trong truyện ngắn này tôi bắt buộc phải gọi một trong hai nhân vật nam là hắn. Để tránh nhầm lẫn, đơn giản chỉ thế thôi. Bạn đọc đừng lần theo lối mòn, hãy thoát ra khỏi nhà tù khái niệm, hãy xem “hắn” là một danh từ chỉ ngôi thứ ba bình thường. Hoặc nếu không thích, bạn có thể thay “anh” bằng “hắn” và “hắn” bằng “anh” tại các ngữ cảnh gián tiếp, với vài thủ thuật vi tính văn bản. Bạn thấy không, mạch truyện đã dịu đi rất nhiều. Ngôn ngữ đánh lừa chúng ta thâm sâu và hiểm độc như thế đấy.

Thảo Điền

24.2.2008

Truyện ngắn: Á đại gia

Leave a comment

Không thể tin tôi đã đánh mất những giấc mơ ở một thời điểm chưa xa hiện tại lắm. Đến giờ này tôi vẫn còn nhớ như in giấc mơ khá kinh dị năm lên ba tuổi: Quả bóng đen nặng chịch treo lơ lửng nơi góc màn xám tăm tối. Nó cùng đỉnh màn cứ chực rơi đè xuống tôi rồi lại nảy về vị trí cũ. Như định mệnh, vui buồn trong thế giới chiêm bao cũng là đời sống của tôi. Khởi đầu bằng nỗi ám ảnh rất giống tai họa, song nói chung các giấc mơ đẹp vẫn nhiều. Nhộn nhất là lần tôi thấy mình bay lên tầng bốn tòa chung cư rệu rã và cố tỏ tình với người yêu qua song sắt chuồng cu cơi nới diện tích.

Tôi quyết phải tìm lại bằng được giấc mơ sau quãng thời gian trống trải dằng dặc. Cảm giác bất lực vì mình không còn biết mơ nữa luôn hành hạ tôi. Bước khỏi giường mỗi sáng tôi châm vội điếu thuốc, đoạn ngồi chồm hổm trên bàn xí bệt vừa rít khói vừa cố lục lọi trí nhớ tìm dấu vết ảo ảnh đêm. (Thật thiếu khiếm nhã, nhưng cái thế ngồi quê kệch kia đã trở thành thói quen không thể bỏ của tôi). Sau đó tôi ăn bận chỉnh tề và một mình ra khỏi nhà khá sớm. Nói không ngoa, tôi gần như đã thuê tháng chiếc bàn dưới tán tre ngà trong một trà quán sang trọng giữa trung tâm Sài Gòn. Từ bảy giờ đến bảy giờ bốn lăm, tôi vừa ăn sáng, vừa uống cà phê và tiếp tục truy bức não bộ.

Vẫn bặt tăm tín hiệu nhận diện, dù chỉ là nửa mảnh giấc mơ rơi rớt đâu đó.

Người ta cần gì trong cuộc đời này? Giấc mơ hẳn phải có mối liên hệ nào đó với thực tế. Chỉ cần mở máy tính xách tay và thiết lập kết nối internet không dây, hằng hà sa số trang tử vi điện tử sẽ cho biết những điều tôi đang quan tâm?

Sinh nhật của tôi nằm trong cung con cua, khái quát năm nay là: Các quan hệ phát triển tích cực. Sự nghiệp viên mãn, ban phát nhiều cơ hội sự nghiệp cho người khác là sự nghiệp của bạn. Tình yêu luôn được ru ngủ trong sự sung túc giữa một môi trường xa xỉ. Vấn đề tiền bạc của bạn nằm ở chỗ tiêu xài ra sao, chứ không phải kiếm nó bằng cách nào. Lo lắng duy nhất là sức khỏe, bạn rất cần một chế độ dinh dưỡng và nghỉ ngơi hợp lý…

Tổng quan tròn trịa gớm! Tôi ghét trò bập bênh nước đôi tàng ẩn trong ấy. Sự nghiệp của tôi chưa phải đã lên tột đỉnh. Năm ngoái tôi đi du lịch nước Nga, quà khuyến mãi là tấm bằng thạc sĩ có nghĩa lý gì đâu. So đọ, giá cả chẳng hề mềm. Tôi đã tìm đủ số người đồng thuyền, góp tiền ở mức độ chấp nhận được. Hội đồng học thuật đào tạo từ xa của trường đại học kia sẽ sang đây thăm thú. Khoảng giải lao giữa các hành trình di sản, họ bảo chẳng thành vấn đề nếu chúng tôi muốn trình luận án tiến sĩ tại một góc nhà hàng của khách sạn bốn sao nào đó. Dĩ nhiên bình phong ngăn tạm nên tách bạch bao tử và cái đầu, ẩm thực và tri thức. Khi giấy bút, bảng biểu xếp vào một góc, bữa đánh chén vinh qui hiện ra trong chớp mắt. Càng tiện! Bằng cấp sau đó chuyển về qua đường bưu điện. Sự sáng tạo lúc nào chả giản dị một cách hài hước.

Hạnh phúc ư? Ai đấy từng bảo hạnh phúc không phải là điểm đến cụ thể. Nó là một tiến trình. Chớ nói hiện tại tôi không hạnh phúc. Biết đâu ở thì tương lai, tôi bất chợt hình dung lại những buổi sáng một mình chờ cà phê nhỏ giọt trong không gian rất thanh cảnh này và thốt lên “nó mới đẹp làm sao!”. Rõ ràng đấy sẽ là hạnh phúc.

Tình yêu tôi đã từng có. Nghiên cứu của các nhà khoa học gần đây cho thấy tình yêu chỉ gói gọn trong một khoảnh khắc ngắn ngủi. Chất hóa học xúc tác sẽ thổi bùng lưỡi lửa trên vỏ não bạn. Dù không phải ngọn đuốc vĩnh cửu, với tôi, nó sẽ chẳng bao giờ tắt. Nó mãi mãi lơ lửng và tiệm cận với trục trách nhiệm của đồ thị đời sống.

Tiền bạc thì rất nhàn nhã, không phải trách nhiệm của tôi! Vợ tôi là cổ đông sáng lập một tập đoàn lớn đã niêm yết trên thị trường chứng khoán.

***

Ngày làm việc của tôi rất bận rộn. Tôi gánh vác hẳn một ngân hàng thương mại cổ phần, trên danh phận, cho gia đình vợ và những chú ba chú bảy nào đó chỉ nghe tên mà chưa được diện kiến. Trước mặt tôi là ba chiếc điện thoại bàn cài ba kiểu chuông khác nhau nhưng cùng một tiết tấu khó chịu luôn giục giã. Hai con di động có thể hát vài bài ca thời thượng bị lấn át, đành để ở chế độ rung. Chúng lúc nào cũng chực nhảy xuống sàn nhà. Giờ nghỉ trưa tôi cấm tiếp tân nối dây nói, tắt máy cầm tay song đâu được rảnh rang. Hàng đống văn bản, báo cáo, biểu đồ, dự án, kế hoạch… chen nhau xếp hàng dưới thanh taskbar cuối màn hình máy tính, đợi đôi mắt có thị lực rất kém của tôi lướt qua.

Tối thiểu tôi phải gia sức gấp đôi người khác ở vị thế tương đương, vì trong mọi trường hợp, tôi không có quyền ra quyết định. Nhiệm vụ của tôi là ghi nhận mọi thứ, chuyển chúng vào kênh thông tin nội bộ của những người chủ thực sự và chờ. Chu trình “lãnh đạo” của tôi chỉ kết thúc khi nắm được phản hồi và xử lý thông tin đầu vào theo đường hướng đã được thẩm duyệt.

Các đối tác không hiểu vai trò yếm thế của tôi trong hệ thống thường gọi tôi là “Ông rùa” và chê tôi quá cẩn trọng. Về nguyên tắc, ngân hàng là nơi đồng tiền chảy từ gò đến trũng. Hơn nữa, với một nền kinh tế thiếu vốn tư bản bẩm sinh, tốc độ chảy không thể chặn đứng dòng chảy. Thế nên tôi cũng khá “được việc”.

Tôi thường vươn vai giải lao mỗi khi bước lên xe đến các cuộc hẹn, các bàn tiệc bán chữ ký hoặc công vụ điếu đóm. Khốn thay trần xe du lịch nào chẳng thấp. Ườn lưng chồm lên ghế trước, nhìn người tái xế toát mồ hôi trong dòng xe cộ nhung nhúc trên đường tôi vẫn tự vấn: Xã hội đang đi tìm cuộc sống tốt đẹp hơn hay đầy đủ vật chất hơn nhưng lắm phiền toái? Có thể tôi may mắn hơn nhiều người. Tôi không phải giang nắng, hít khói bụi, nhưng chẳng vì thế mà kém bất mãn. Tokyo giờ tan tầm, Bắc Kinh bước vào ngày mới hay London một chiều cuối tuần nắng đẹp chắc chắn đông đúc hơn thành phố này nhiều. Phải chăng họ không hề vô tổ chức nên tôi vẫn thấy dễ thở.

Trăm lần như một, giữa chiến trường giao thông nội thị tôi lại muốn mình biết bay, lại nhớ đến những giấc mơ bay bổng xa ngái. Bay là vượt. Vượt sức ỳ. Vượt quán tính. Vượt qua lực hút quả đất… Loài người vượt lên mặt bằng muông thú, nhờ những giấc mơ vượt thực tại? Tôi bỗng bật cười nhớ đến nhà giáo dục nọ. Ông từng lý luận không nên cho học sinh dùng máy tính bỏ túi. Ông sợ các thế hệ tiếp nối luôn đau đầu với một bài toán cộng trừ giản đơn nhất. Tôi võ đoán: con người tinh khôn đầu tiên từ chối hang đá, nhánh cây, hốc đất để dùng cành lá ghép thành mái nhà ấm áp chắc phải là một tiền bối cách mạng vĩ đại. Cộng đồng ở trần đóng khố của cụ có lẽ chưa thể phản bác bằng khoa học: rời bỏ tự nhiên là đối mặt với nguy cơ mất đề kháng với môi trường khắc nghiệt. Song mười mươi số đông sẽ dè bỉu bằng lối hoài cổ, bằng gương cố nhân, bằng sức mạnh bầy đàn. Tuồng như họ rất có lý: kẻ sinh ra và lớn lên dưới vỏ bọc an lành, chắc chắn không chết thì cũng ốm thập tử nhất sinh nếu trở lại hang đá, nhánh cây, hốc đất.

Xã hội loài người tinh khôn tột đỉnh, hôm nay, thế kỷ hai mốt vẫn lẫm lũi dùng con dao nhiều lưỡi phát quang trí tuệ. Thuốc nổ phá đá, thuốc nổ giết người, thuốc nổ làm pháo hoa… Chiếc máy lạnh trong ôtô của tôi đang góp phần gia tăng nhiệt độ không khí bên ngoài, đang làm da tôi khô ráp, nhốt hết bã thải trong mồ hôi vào gan vào thận, và cũng khiến tôi xem thường khói bụi, nắng gió.

Thế mới biết giấc mơ của tha nhân, của bạn và của tôi luôn bình đẳng trong trắc trở. Giấc mơ là dự cảm của khối óc để con người mở trói chính mình.

***

Tôi thường về nhà rất khuya. Rượu bia càng nhiều thì tôi càng tỉnh táo. Sự tỉnh táo giống như một cái máy vừa bảo dưỡng định kỳ đã nạp đầy nhiên liệu. Vợ tôi không biết điều đó. Nàng thường pha cho tôi một ly cà phê rất đậm trước khi muốn trao đổi gì đấy. Nói chung toàn chuyện tiền nong. Thật ra mọi thứ nàng hay ai đó quyết hết rồi. Từ trao đổi có thể hiểu là thông báo. Tôi cũng chẳng rõ từ khi nào, thông báo xong vợ tôi luôn dành cho tôi câu cảm ơn rất khách sáo, như thể lời kết sau mỗi cuộc họp với đối tác kinh doanh. Thậm chí có lần ăn nằm thỏa mãn, nàng trót mồm ghi phiếu ân huệ cho tôi với khẩu khí mậu dịch toàn cầu. Tôi ngạc nhiên nhưng nàng im lặng tỉnh bơ, chẳng thèm biện hộ.

Con tôi, trai gái đủ đôi. Tôi rất yêu chúng và cũng khá nghiêm khắc. Chỉ tiếc thời gian tôi ở bên chúng chẳng được nhiều. Từ ngày có con tôi nghiệm ra khối điều rất riêng. Thực tình chữ hiếu xưa nay chỉ hiểu theo một chiều: công ơn sinh thành dưỡng dục của cha mẹ. Giọt máu của tôi, tôi phải yêu thương là đương nhiên. Tôi yêu con chính là tôi yêu bản thân mình lần thứ hai. Sự hiện diện của con cái trên đời luôn là thứ hạnh phúc tuyệt đỉnh của bất cứ bậc cha mẹ nào. Khó nhọc rèn giũa hoặc nai lưng vì sinh kế là nghĩa vụ và quyền lợi của kẻ làm cha làm mẹ. Nền văn minh nông nghiệp xa xưa nén trong hiếu đễ trách nhiệm của kẻ làm con khá nặng nề. Họ phủ nhận chiều tương tác con cái – cha mẹ. Suy nghĩ cập thời khiến tôi dò xét lại quan hệ của tôi với cha mẹ mình. Tôi nhận ra ông bà đã đánh mất quá nhiều cơ hội tốt để trở nên giàu có, cho bản thân họ và chúng tôi. Nếu sau tấm bằng đại học, mỗi anh em tôi được thêm mảnh đất lận lưng làm vốn ra đời thì chắc chắn giờ đây tôi không ở trong cái thế “của vợ – công chồng” trái ngang này. Dù gì tôi nghĩ chỉ để nghĩ mà thôi. Kinh tế gia đình tôi thư thả, bà xã vẫn đều đều báo hiếu bên nội, thảo thơm cùng anh chị em. Tôi chẳng màng nhắc đến sai lầm của ông bà với ai.

Ngày xưa, một trong những giấc mơ lớn lao nhất của tôi là tiền, thật nhiều tiền. Nghèo luôn song hành với hèn, với nhục. Tôi đã trải qua quá nhiều bài học.

Tôi không phủ nhận vợ mình hơi xấu, tôi đến với nàng cũng có vật chất đưa đẩy. Tuy nhiên khách quan mà nói, nhan sắc kia hoàn toàn hợp với tôi khi nớ: mặt mày bình thường, không cao không thấp, cưỡi xe đạp, lơ ngơ vác tấm bằng đại học đậu vớt còn thơm mùi mực đi xin việc. Tôi đoán tôi hơn người ở chỗ thật thà. Không thật thà chắc tôi sẽ uất lên mà chết, khi mẹ hai đứa nhỏ yêu cầu cha chúng xác nhận trên tờ giấy vô cảm rằng tôi đứng tên chủ công ty giúp vợ, vốn liếng là tài sản riêng của ngoại tộc!

Vì thật thà, tôi cứ tin có điều huyền diệu nào đó giữa những giấc mơ bình dị hằng đêm của loài người. Dần dần tôi bị mất ngủ. Có những đêm tôi thức trắng, kê cao gối. Ánh mắt len qua khe rèm, vượt qua cửa sổ kiếng, tôi bất động hàng giờ nhìn trân trối bóng cây cột đèn đổ lên bức tường rào rất cao chôn đầy chông sắt và miểng chai.

Thấy biểu hiện bất thường, vợ tôi bắt đầu theo dõi. Nàng thay anh trợ lý mẫn cán và đổi luôn lái xe mới cho tôi. Mạng nhện điệp viên bất lực. Nàng lên tiếng:

“Anh giải thích cho em được không?”

“Mười mấy năm anh làm việc hết mình cho gia đình em đáng giá bao nhiêu?”

“Với mức lương tuyệt hậu mươi triệu một tháng, trừ ăn tiêu anh còn tổng cộng năm sáu trăm triệu” Vợ tôi tính rất nhanh.

“May mắn, so với vài ngàn tỷ của nổi ở gia đình em thì nó không đáng kể. Nhưng cả đời chưa bao giờ anh được cầm số tiền lớn như vậy. Mai em thu xếp cho anh”.

“Kế hoạch của anh là…”

“Một mảnh đất hẻo lánh không quá hẹp cho cỏ cây hoa lá tại Bình Dương chẳng hạn. Một căn nhà nhỏ. Một công việc văn phòng ở nhà máy nào đó quanh đấy”.

Vợ tôi cười sằng sặc. Nàng bật ngửa với ý định của tôi. Nàng bảo hóa ra tôi đi tìm một giấc mơ tiểu thuyết ba xu sáo mòn và rỗng tuếch.

“Anh nghĩ kỹ đi. Hoa với chẳng lá. Tay nhà văn Giả Bình Ao của Trung Quốc nói rằng hoa chẳng qua cũng chỉ là cơ quan sinh dục của thực vật mà thôi”.

“Xúi quẩy cho loài người nếu cây cối mặc quần áo”.

“Em sẽ đưa tiền cho anh. Cũng xin cảnh báo trước, đợi anh ngoài kia chỉ có ác mộng”.

Vợ tôi tung chăn rồi xách gối qua phòng con gái. Nằm một mình tôi bỗng có cảm giác chống chếnh. “Sẽ sớm ngủ thôi” tôi tự an ủi sau một hồi lăn qua lộn lại. Tôi biết trong giấc ngủ đang đến tôi sẽ mơ. Tôi cũng biết giấc mơ ấy sẽ thức cùng tôi trước ban mai. Từ nay tôi không nghĩ giấc mơ đầu tiên năm ba tuổi là ghớm ghiếc nữa. Chẳng lẽ nào người ta có thể dự cảm cả cuộc đời mình từ thuở còn đái dầm? Ngày mai tôi vẫn sẽ dậy sớm, vẫn ngồi xổm vệ sinh, vẫn đến dưới gốc tre ngà, nhưng khác mọi ngày tôi sẽ có giấc mơ còn trong trí nhớ bầu bạn. Tôi chấp hết, chấp cả cơn ác mộng mà vợ tôi đã cảnh báo. Nhưng… cũng… có… thể… tôi không thắng nổi thói quen: Uống xong cà phê tôi lại rúc vào tòa cao ốc ngân hàng, tót lên chiếc ghế da bệ vệ và sang trọng, mắng người này, nhắc nhở người kia đôi ba câu chiếu lệ…

Thảo điền

23.10.2007

Truyện ngắn: Hồn phố

8 Comments

– Em quê ở đâu?

– Em không có quê. Từ thời ông bà nội ngoại, gia đình em đã định cư tại Sài Gòn.

Anh không biết nói tiếp điều gì nữa. Chẳng lẽ lại yêu cầu “Em kể về Sài Gòn cho anh nghe nha”. May quá, cô nở nụ cười hồn nhiên giữa khoảng lặng.

Trong ngôn ngữ của nhiều người như anh, quê là nơi chốn thân thương không có nhà lầu. Bao lần anh từng hứng thú với những câu chuyện xã giao về một dòng sông, mái rạ, tán dừa… Bây giờ, để thích nghi, anh cố nhớ đến các hình ảnh mờ nhạt nhất về phố thị trong mình.

– Năm đó anh sáu tuổi thì phải. Đúng rồi, cảnh phim tài liệu: Xe tăng giải phóng nghiến xích xuống mặt nhựa. Nam thanh nữ tú quần tây, áo dài đứng chật hai bên đường vẫy chào bộ đội. Nhà cao ngước nhìn chắc rơi cả mũ.

– Ngày ấy em còn ẵm ngửa. Mọi nguời chen chân ngoài ban công lầu một. Nghe kể vui ơi là vui – Hai lúm đồng tiền của cô khá đều – Căn chung cư xập xệ bên cầu Thị Nghè đã bị đập bỏ. Nếu hướng vào trung tâm, vừa qua cầu, bên tay phải, góc công viên có mấy gốc bằng lăng non là nền nhà cũ của em đấy.

Khởi sự bằng câu hỏi “Em quê ở đâu?” ấy, cô và anh chóng vánh trở thành bè bạn thâm tình. Tiếng cười của cô lúc nào cũng dài hơn mươi phút giải lao dọc hành lang lớp đêm đại học ngoại ngữ tại chức.

***

Anh chưa bao giờ xấu hổ vì mình là một gã “quê quê”. Anh học trễ, nhà lại nghèo. Lên trung học phổ thông, anh bắt đầu nghe ngóng đám thanh niên li nông thỉnh thoảng lễ tết về làng kể chuyện thiên đường phố xá. Anh cũng mê điện ảnh “mì ăn liền” đang nở rộ, không phải vì hay ho gì, nó chuyển tải nhiều đại cảnh thị thành. Truyền hình chiếu mấy phóng sự báo động nỗi khổ người lao động nhập cư. Chẳng nao núng, anh còn láu cá vun vén được ít kinh nghiệm. Lớp 11, anh bỏ học theo gót một người cùng xóm vào Sài Gòn kiếm tiền bằng nghề phụ hồ.

Ngày anh đi, cha yếu lắm rồi. Ông căn dặn: “Chưa có bằng tú tài cũng kể như thất học. Chúc con chân cứng đá mềm, nghĩ đến cha thì gắng vừa làm vừa học con nhé”.

Mất chín năm anh mới thực hiện xong di huấn của cha. Hiện anh đủ sống với công việc của một nhà thầu xây dựng nhỏ lẻ.

– Em nằm trong nhóm thiểu số người Sài Gòn không giữ hồn quê.

– Càng ngày phố thị càng đậm đà màu “thương nhớ nhà quê”.

– Suốt dòng lịch sử, Việt Nam chưa có thành phố nào ra đời bởi nhu cầu kinh – thương thuần túy hoặc thể hiện đầy đủ chức năng đô thị. Phố Hiến và Hội An là hai trường hợp chết yểu cá biệt, dù nó mang nặng yếu tố ngoại lai.

– Vì lẽ đó, người nhập cư luôn mơ ước sở hữu một quyển sổ hộ khẩu?

– Con đường đi đến công bằng quá gian nan. Trong khi mỏi mòn chờ đợi hồng ân của nhận thức, nên dốc sức thu lượm tinh hoa khoa học kỹ thuật và nhân văn, hoặc nói cách khác là phải tiêu hóa gấp những điều mới mẻ. Dĩ nhiên làng quê cũng có sự học của nó. Chẳng hạn thứ vần điệu dễ nhớ, dễ thuộc như “Mùng một lưỡi trai – Mùng hai lá lúa..”.

– Thiên hẳn về quan sát, tích lũy chứ ít sáng tạo, đào sâu nghiên cứu ở tầm lí luận. Tiến trình dung nạp quê – phố, tình – lí rất cần thời gian. Đó chính là căn nguyên những bất cập đô thị hiện nay.

– Em hay cằn nhằn về tinh thần thượng tôn pháp luật kém cõi, ví như trong giao thông. Đúng nhưng chưa đủ. Các cách đoạn thời gian bị nô lệ nghiệt ngã trong quá khứ, cũng khiến việc coi thường pháp luật nhà nước trở thành một phần tâm thức Việt.

– Xưa tiền nhân bảo tồn giá trị Việt trong làng xã. Nay không khéo ta lại chết chìm nơi ao tù bảo thủ nông choèn của làng xã không chừng! Sự thật là văn minh nông nghiệp đang chi phối hành xử phố phường. Thật trái khoáy!

***

Cô là một tiểu thư đô thành điển hình. Xong tấm bằng cử nhân kế toán, cô chọn một công việc mưu sinh nhàn nhã tạm thời. Rảnh cô đi học nấu ăn, cắm hoa. Sáng cô tập thể dục, chơi vũ cầu trong công viên, và dĩ nhiên tối cô đến lớp ngoại ngữ.

Khác hẳn anh, tuổi thơ cô không có cỏ cây, bờ bụi hoặc những góc sân đất nện bắn bi, đánh khăng, nhảy dây, chơi chuyền… Người lớn hay khóa trái cửa khi bắt buộc phải để cô ở nhà một mình. Thậm chí họ còn dập tắt mọi phản ứng yếu ớt của cô, bằng vô số lời hù dọa thường xuyên về trộm, cướp hay những ông kẹ, mẹ mìn gớm giếc.

Thỉnh thoảng gia đình hay kể lại câu chuyện mộng du bàng bạc của cô năm nớ: Nàng tiên nhỏ mặc chiếc đầm xanh nhạt in hoa trắng. Trong giấc ngủ đầy ảo mị, nàng bước qua tám bậc thang gác chông chênh và đến bên vòi nước máy. Nàng cố hứng nước vào hai chai rượu mẫu nhỏ bằng ngón tay cái người lớn, thứ đồ chơi nàng đang ưa thích. Nàng đã dùng dăm giọt nước hiếm hoi lọt được vào chai để… rửa chân.

– Cỗ máy khoan khổng lồ kia đang khoét bể xử lí nước thải phải không? – Cô hỏi anh.

Họ đang ngồi trong quán cà phê Nhiêu Lộc. Anh dùng một ly đen nguyên chất sóng sánh váng bơ, còn cô luôn chọn cam vắt thật ít đá và đường. Dòng kênh đã được kè chắc chắn, uốn lượn như một con rồng.

– Đây là dự án viện trợ phát triển thì phải. Dăm mùa mưa nữa ta sẽ thoải mái câu cá thư giãn. Còn bây giờ có lẽ bèo, máy lọc sinh học tí hon của tự nhiên cũng chẳng sống nổi.

– Anh sai rồi. Xưa, khi dòng kênh chưa được nạo vét sâu rộng, có hẳn một đoàn quân lao động nhem nhuốc, hằng ngày mưu sinh bằng cách dầm mình trong dòng nước đen ngòm. Họ đãi trùn chỉ, giúp duy trì những bể cá cảnh rực rỡ ánh đèn nê ông màu, giữa rất nhiều phòng khách sang trọng trên phố.

– Anh không ngờ em rành rẽ Sài Gòn đến vậy!

– Ôi, còn rau muống nữa chứ. Trước, nơi đây bạt ngàn rau muống thủy sinh. Không có chỗ cho hoa lục bình đâu. Dạo nọ đi chợ phải tránh những bó rau mơn mởn lạ thường. Rau muống kênh Nhiêu Lộc tốt lắm nhưng chỉ dành cho chăn nuôi, hiếm ai dám ăn.

***

Mùa gặt cuối thu, anh mời cô về quê chơi. Cánh đồng chiều chỏng chơ gốc rạ. Mấy đống rơm ung tỏa khói lam là đà mặt đất. Như thuở thơ bé, anh dang tay làm cánh đè gió, mắt đắm vào mây trời và chạy thật nhanh, như muốn hóa thân thành một con diều. Anh thuộc nằm lòng những mô đất, bụi cỏ trên bờ ruộng mỏng tang này, nên không hề vấp ngã.

Anh chỉ dừng lại khi biết bóng cô sắp lẫn vào hàng cây cuối thôn. Chụm tay anh gọi tên cô. Thanh âm loang vào không gian, nhưng hình như không cộng hưởng được với tần số thính giác của cô. Vẫy mũ thật nhiều cũng vô ích. Cô đứng như được trồng tạm đầu bờ ruộng, và vẫn phải cố gắng giữ thăng bằng.

– Em không nghe anh gọi sao?

– Em sợ ngã – Cô gượng cười.

– Thằng bé này xưa nghịch lắm – Anh chỉ vào ngực mình – Nhất là mùa gặt, trước mỗi bữa cơm tối mẹ hắn đều phải ra đây ời ợi réo gọi.

– Cảnh vật nào làm chứng cho mối tình đầu của anh?

– Chắc em nghĩ là đống rơm? Gần như đơn phương thôi. Nàng hoa khôi ấy đã xuất giá theo gã đại gia phố biển. Chiếc xe hơi đời mới chở nàng thảng hoặc về làng, luôn là chủ đề có sức khơi gợi và tưởng tượng lớn lao.

– Người ta chẳng thèm nhớ ai là bệnh nhân bị hội chứng suy giảm miễn dịch đầu tiên?

– Em thấy quê anh ra sao?

– Du lịch có hướng dẫn viên bản xứ, tất nhiên quá thú vị rồi.

Đêm. Đường làng tranh tối tranh sáng. Bản hòa ca nỉ non của côn trùng làm cô não nuột thốt lên: “Buồn chết được!”. Như thể lấy tiếng hát át nỗi niềm, cô nghêu ngao: “Em còn nhớ hay em đã quên. Nhớ Sài Gòn mưa rồi chợt nắng… Phố bỗng là dòng sông uốn quanh…”.

– Em nhớ phố nhanh thế? “Triết học” Trịnh Công Sơn phải chăng là đặc sản phố?

– Chưa hề nhé – Cô lắc đầu – Tiệc đứng “Khẩn hoang nam bộ” hoặc các “Làng nướng, làng luộc” chén chú li anh bù khú, may ra có thể xem xét.

– Em sẽ trở lại nơi này?

– Làm kinh tế trang trại ư?

***

– Người nhà quê chân chất, họ tỏ tình bằng lời cầu hôn.

– Họ không dám sống thử? – Nét mặt cô đầy vẻ nghịch ngợm – Anh và em là một đôi đẹp đấy nhưng bình lặng lắm. Từng tuổi này em vẫn chưa biết rung động là thế nào. Hơn nữa, không chung miền ký ức sẽ rất nhàm chán, hay mâu thuẫn lẻ tẻ và thường vô tình xúc phạm nhau. Chúng ta đã, đang và mãi chỉ là hai người bạn kể chuyện lạ cho nhau nghe.

– Thành đô hôm nay chẳng mang ký ức phố ra hồn, vì những xáo trộn bể dâu, vì nó nhỏ nhoi giữa một nền văn minh nông nghiệp lâu đời. Nhưng ai dám nói nó không năng nỗ đi tắt, đón đầu?

– Truyện của Vũ Trọng Phụng so sánh với phở dễ hơn so sánh với bún.

– Tồn tại cái gọi là “mẫu số thị dân”?

– Một lần em nghe lỏm các quí ông bình phẩm vợ thành, vợ tỉnh, vợ phố, vợ quê… Kết luận của họ cực kì võ đoán bởi sự đồng hóa nền tảng.

Anh không đánh đu sự vô vọng đã lường trước. Nửa mái nhà là món quà giá trị nhất, anh sẵn sàng trao tặng cho người bạn khác giới tuyệt vời này. Tấm chân tình đồng vọng mãi những hôm mai, dù từ nay họ chỉ chung một mảnh trời thành phố.

– Thi thoảng đi khỏi Sài Gòn đôi ba bữa, anh rất nhớ, nhưng thú thực nỗi nhớ quá mơ hồ.

– Anh biết mỗi lần qua cầu Thị Nghè em thấy gì không?

– Con sông nhỏ trong xanh trước khi có nhà ổ chuột?

– Nhà ổ chuột nhiều tuổi hơn em.

– Chịu thôi!

– Em không thể quên mùi bùn thối hắt lên buổi trưa nắng to, nước ròng… Rác rến của chợ Thị Nghè cả trăm năm, chắc dồn lắng hết xuống đó. Sợ nhỉ? Làm sao thi vị như hương cốm được?

– Em sắp làm thơ rác?

– Em có thể yêu rác nhưng luôn xem thường kẻ tự cho mình là rác, hãnh diện khoác khuôn mặt rác.

– Họ chỉ là những nạn nhân đáng thương. Họ mong không quá khó để nhận ra chính mình, giữa hàng triệu người ngược xuôi trên các con đường chật hẹp mỗi ngày.

– Hãy tỏ ra văn hóa hơn mấy tấc, bằng cách cố nuốt những ngẫu hứng rối rắm, nghe tên đã ù tai: “Nghệ thuật xắp đặt ngôn ngữ” hay “Siêu ngữ cảnh – siêu văn bản”…

Tuần sau cô và anh nhận bằng tốt nghiệp. Anh dự định nâng cấp cơ sở làm ăn của mình thành công ty trách nhiệm hữu hạn, hòng tiếp cận các nhà thầu chính người nước ngoài. Cô đã làm đơn xin việc gửi đến vài văn phòng tráng lệ, chót vót trên những cao ốc. Đương nhiên con cháu họ sẽ sẻ chia cùng một hồn phố. Chỉ có điều, chẳng ai dám bảo đảm chúng lại tâm sự với nhau bằng tiếng mẹ đẻ rặt ròng, và không mượn thơ rác gạ gẫm chăn gối hoặc tỏ tình.

Thung lũng Đa Thiện,

Đà Lạt 4.2006

(Đã đăng báo Văn Nghệ TP HCM – 2007)

Truyện ngắn: Khúc hời ru

Leave a comment

Thằng Triều Châu lại ru con. Giọng nó vốn khàn khàn như mèo hen nhưng mỗi lần lời ru cất lên, y như rằng đứa bé sáu tháng tuổi hết khóc ngay. Tất nhiên nó hát bằng tiếng Tiều, quay đi quay lại chủ yếu là bài Kinh Thi số một: Đôi chim thư cưu gọi nhau “quan quan” trên bãi bồi ngoài sông. Người con gái nết na hiền lành, kẻ quân tử hằng cầu mong sánh duyên.

Mươi phút… đã thấy Triệu vừa lui cui sau quầy cà phê, vừa ngó nghiêng xem có ai gọi gì không. Quán nhỏ, hẻm vắng và thưa khách nhưng thái độ phục vụ của chủ rất chu toàn, thân thiện.

– Sao mày không để vợ ở nhà hẳn, có phải hay hơn không? Tôi hỏi.

– Cháu nhiều phước mới được chăm sóc con đó bác – Nó phân trần – Cho vợ ra chợ buổi sáng cho mau khôn. Quá trưa, tắm thằng nhỏ xong, cháu ngồi tiệm tới đêm. Hơi mệt, song xoay vòng vậy nhà cửa gọn gàng, khỏi phải nuôi vú.

– Tao hay nghe vợ mày ru tiếng Việt, mày dùng tiếng Tiều. Sợ tẩu hỏa nhập ma không mậy?

– Lão bá hàng xóm ơi, tiếng gì đi nữa cũng là chắt gạn thanh âm, làn điệu. Ngay cả người lớn, đọc thơ mới đi vô hình thức và nội dung; nghe thơ thì chỉ cảm bằng nhạc tính thôi… Thơ ra đời trước khi có chữ viết rất lâu. Thơ hoàn toàn sống khỏe ngoài văn bản.

“Bố khỉ” – tôi rủa thầm – Thằng bán chữ thâm Nho này lại bắt đầu đây. “Thơ ra đời trước khi có chữ viết rất lâu…” – Ý hắn nói gì nhỉ? Phải chăng mảnh đất mà thơ tươi tốt là mảnh đất ít chữ, không có chữ hay mù chữ? Rộng ra nữa thơ là “tình”, văn là “lý”? Có “lý” thì mới thành chương hồi, tư tưởng mới ở tầm “luận lý”?

***

Tôi cảnh giác với thằng Triệu lâu rồi. Trước kia, xóm giềng nhưng chúng tôi ít khi giao tiếp. Mấy năm gần đây, qua mai mối hắn lấy một cô thôn nữ xinh đẹp, trẻ hơn hắn nhiều. Của đáng tội, gái quê tận Bạc Liêu, hơi khờ và chậm chạp. Triệu mở quán cà phê cho vợ coi sóc, tôi thành khách ruột của quán. Hắn thuộc loại không bằng cấp nhưng đọc nhiều. Ngoài hai mươi Triệu đã trở thành cây bút chính trong một tiệm khắc chữ, thảo đơn, viết phướn liễn Việt – Hoa ở Chợ lớn.

Có lần tôi hỏi Triệu nguồn gốc của họ Nguyễn. Hắn bảo không biết gốc tích họ Nguyễn Việt Nam, nhưng Theo sách Thông Chí, thiên Thị tộc lược, Nguyễn là một nước chư hầu ở khu vực Kỳ sơn, sông Vị, sông Kính của nhà Thương (nay thuộc về tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc). Con cháu vua nước ấy sau lấy tên nước làm họ. Hắn nói về họ của mình: Theo Đường Thư, họ Triệu vốn trước là họ Doanh. Chu Mục Vương từng phân phong cho (Doanh) Tạo Phủ thành Triệu (nay nằm trong tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc). Từ đó con cháu nhà Doanh lấy chữ Triệu làm họ. Mẹ Tần Thủy Hoàng tên là Triệu Cơ, Tần Thủy Hoàng mang họ mẹ nên đôi khi người ta gọi ông là Triệu Chính.

Sẵn dịp Triệu giải thích họ của tôi: Cũng theo sách Thông Chí, thiên Thị tộc lược, họ Trương vốn là một nhánh của họ Cơ (thuộc dòng tôn thất nhà Chu). Ở nước Tấn (thời Xuân thu – Chiến quốc) Trương là họ lớn. Khi Tấn bị chia làm ba nước Triệu – Ngụy – Hàn, Trương thành dòng họ lớn của nước Hàn.

Nói chung, mấy cái họ chính mà người Việt đang dùng, trên phương diện chữ nghĩa, đều có xuất xứ từ trung lưu Hoàng Hà cả. Tất nhiên tôi phật ý nhưng không bác lại được. Một bữa hắn kể tôi nghe truyện Khổng Minh Gia Cát Lượng từng đem họ Trương tặng một tù trưởng nam man khi ông ta tiến hành chiến tranh nô thuộc, mở rộng đất Thục.

Mãi lâu sau, đọc ở đâu đó việc nhà Nguyễn lấy các họ Thạch, Sơn… dùng cho người Khơ me miền tây nam bộ, tôi mới hiểu ý ngầm thằng Triệu. Tôi định chửi nó một trận, nhưng nghĩ đi nghĩ lại chẳng có cớ gì chính đáng, nên đành biến tức khí thành nghi kị trong từng lời nó phát ra.

Phải nói thằng Triệu ăn ở với xung quanh không có lời qua tiếng lại. Hắn ít thổ lộ đời tư. Xóm hẻm mới, dân cũng hiền. Chơi với hắn, trừ việc bàn đến chữ nghĩa là bực mình, còn lại cũng khuây khỏa tuổi hưu của tôi nhiều lắm. Tết, Triệu hay tặng tôi đôi ba Hán tự dán ngược như Xuân, Phúc hay Tài, Lộc. Thì ra người Hoa dán ngược chữ để chơi, “đảo” đồng âm với “đáo”, tức là đến, tới.

– Mày nghĩ sao về thư pháp Việt hả Triệu?

– Cũng khá hay, rồng bay phượng múa – Hắn trả lời mà cặp mắt cứ trơ ra.

– Chắc mày đang so sánh với chữ của mày?

– Cháu nói thực, phải là họa sĩ ưu hạng mới nên viết thư pháp Việt. Chữ Hán thì khác, ngoài giá trị tượng hình, tượng ý, nó mang trong mình cả một nền văn hóa. Nếu chữ xấu thì còn nhiều cái gỡ gạc. Ví như chữ “tính” tức là “họ” cháu để trên bàn thờ gồm chữ Nữ bên cạnh chữ Sinh: xưa Hoa Hạ theo chế độ mẫu hệ, con theo họ mẹ. Ước là thời Nghiêu – Thuấn, ở Trung Quốc vẫn tồn tại mẫu hệ. Bằng chứng: người ta chưa quan trọng hóa họ nên hay gọi thẳng tên tù trưởng, chứ hai ông ấy họ Đường và họ Ngu; hơn nữa Nghiêu truyền ngôi cho Thuấn là con rể của mình.

– Vậy, cái đuôi mẫu hệ bảo thủ của người Việt là cách gọi tên nhau thân mật ư?

– Thôi mà, có sao cháu nói vậy bác đừng suy diễn.

***

Triệu bắt đầu dạy chữ Tàu cho con. Hắn mua bộ bàn ghế mẫu giáo xinh xắn đặt cạnh cửa sổ, hướng vào tấm bảng trắng nhơ nhỡ. Thằng bé An chớm bốn tuổi, đôi ngày ê a một từ cụt lủn bố nó vẽ sẵn bằng bút lông dầu. Tiếng trẻ thơ sóng sánh quyện vào nắng. Mảnh sân nhỏ lác đác hai ba bộ bàn ghế mây thô. Vài chậu hoa Đỗ quyên đủ màu rung rinh khoe sương. Uống cà phê trong khung cảnh ấy, quả thật rất thi vị.

– Chừng nào mày sẽ dạy tiếng Anh cho nó?

– Lớp sáu, học theo chương trình phổ thông đại chúng là vừa bác à. Như vậy các ngôn ngữ không xung đột trong não trẻ ở quá trình định hình.

– Chẳng lẽ tiếng Việt và tiếng Tàu lại hòa hợp được sao?

– Bác để ý nghen, cháu dạy con nhận mặt chữ tượng hình là chính. Chữ nào có âm quan thoại và âm Hán Việt gần nhau con mới dùng. Ví như “Pỉng an” là “Bình an” vậy. Học mà chơi, chơi mà học chứ chẳng nên gò ép, đó mới là bí quyết.

– Thằng nhỏ sẽ trở thành người Việt hay Tàu?

– Việt chớ bác! Triệu cười rất tươi – Nó phải hòa hợp với chốn dung thân của mình. Khai sanh nó con có ghi dân tộc Hoa đâu, theo mẹ cũng tốt thôi. Văn hóa là của con người nói chung. Trói buộc văn hóa trong phạm vi một dân tộc, một chủng tộc là thiển cận!

Úi trời! Tôi xuýt thốt lên lời cảm thán. Thằng này coi bộ bài bản ra phết. Tôi bỗng muốn tìm hiểu cái chất “Tàu” trong nó.

Triệu kể: “Ông nội con từ vùng quê Triều Châu nghèo xơ xác ở Quảng Đông, qua Bạc Liêu khai hoang đầu thế kỷ 20. Người Triều Châu vốn là cư dân nước Triệu thời chiến quốc. Họ theo đoàn quân viễn chinh của Tần Thủy Hoàng do Đồ Thư cầm đầu nam tiến cách đây hơn 2200 năm. “Châu”, thời Chu vốn mang nghĩa một đơn vị hành chính khoảng 2500 nóc nhà. Triều có thể là biến âm, biến tự của Triệu vì buổi tiên Tần chữ Hoa chưa thống nhất. Thậm chí Triều đã hóa thành Thiều trong từ vải thiều. Giống quả ngon tuyệt này đã đến Việt Nam trên con tàu buôn nào đó của người Triều Châu, hàng trăm năm nay… Một trong những người Triều Châu đầu tiên chính là Triệu Đà. Ông từng quản chức huyện lệnh Long Xuyên. Địa danh Long Xuyên ắt hẳn phải có sông, nó chính là vùng Triều Châu duyên hải Quảng Đông tiếp giáp Mân Việt (Phúc Kiến), từ Sán Vĩ đến Sán Đầu với cửa Hà Giang chảy ra biển”.

– Hóa ra mày là con cháu Triệu Đà – Tôi ngắt lời Triệu.

– Chắc vậy, nếu không có những đứt đoạn hoặc cải họ trong gia tộc từ xưa mà con không rõ.

– Vấn đề Triệu Đà trong nhận thức lịch sử Việt Nam còn phức tạp lắm, cho dù Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi và một số quyển sử xưa đã xem nhà Triệu là triều đại chính thống.

– Con biết chứ, nhưng con nhất nhất theo phương châm “Dân vi bản”, mặc dù tố chất chính trị trong máu thịt dân tộc Triều Châu không ít chút nào. Ngoài Triệu Đà còn có Trịnh Quốc Anh từng tiếm đoạt ngai vàng nước Thái lập ra triều đại Thonbury ngắn ngủi ở thế kỷ thứ 18.

– Cháu về quê ở bển chưa?

– Dạ rồi. Làng cũ ông nội con, họ tộc còn nhiều. Cũng vấn vương chút nghĩa tình ruột rà. Đến khi đi xe lửa qua thành phố Trịnh Châu và vượt dòng Hoàng Hà, nhìn nước mênh mông màu hoàng thổ con đã khóc. Nhưng mọi nơi con qua, từ miền bắc Hà Nam, tỉnh Hà Bắc, Sơn Tây, đất đai nước Tấn tam phân xưa xa lạ lắm. Giọt máu lưu lạc mấy ngàn năm vẫn còn nóng, nhưng ánh mắt biết đâu mà hồi cố. Tự nhiên lúc ấy nhớ nhà da diết. Câu thơ Nguyễn Bính trong “Hành phương nam” dội ra nhói lòng:

Quê nhà xa lắc xa lơ đó

Ngoảnh lại tha hồ mây trắng bay

***

Bé An sáu tuổi thì mẹ nó bỏ nhà ra đi. Tóc Triệu bạc nhiều. Mảnh sân nhỏ hoang tàn. Mấy chậu Đỗ quyên bị dẹp vào một góc thiếu sáng, lá loang lỗ, gốc đầy cứt sâu, thân toàn rệp trắng.

Một chiều muộn, đưa con đi khám bệnh về, thấy tôi Triệu hỏi:

– Theo bác “Ầu ơi” là gì?

– À ừ… chắc tiếng đệm lấy đà, lấy hơi, lấy nhịp hát ru vậy mà.

– Chán thiệt – Triệu lắc đầu – Vậy mà bác cứ nghĩ mình là người Việt ròng. Theo giả thuyết của cháu “Ầu ơi” là mẹ ơi. Nó xuất phát từ âm Âu. Âu nghĩa là U, Bu, Rú (núi, tiếng Việt cổ), Núi, Non, Đất, Mẹ. Khái niệm Đất nước, Nước non (xứ sở) của người Việt cổ được người Hán ký âm là Âu Lạc. Trong danh xưng Âu cơ, cơ là Hán Việt chỉ người phụ nữ quyền quí sang trọng, Âu là mẹ. Người Việt hay nói “đất mẹ” chứ gần như không tồn tại từ “đất cha”…

Triệu chưa diễn hết ý, thằng An đã la toáng lên đòi vào nhà uống nước.

Cả đêm thằng bé chắc sốt cao, nó khóc ngằn ngặt gọi mẹ trong mê sảng. Tôi lại nghe tiếng Triệu ru con. Lần này Kinh thi chẳng còn tác dụng. Sau đó hắn chuyển điệu:

Ầu ơ…

Bầu ơi tin lấy bí cùng

Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn

Không gian trở về thanh tịnh. Sâu thẳm đâu đó tiếng mèo hoang gọi bầy. Trăng cuối tháng theo gió gõ nhè nhẹ vào bức màn trúc trước hiên. Tiếng ru của Triệu cứ nhỏ dần, nhỏ dần nhưng không mất hẳn. Phải chăng hắn vẫn ru con khi ngủ, ru bằng câu hát dân dã Việt Nam đã thấm vào tim óc, đã trở thành máu thịt hắn, từ cánh nôi của những người phụ nữ phương nam mà hắn gọi là bà nội, là mẹ…

Ầu ơ…

Bầu ơi thương lấy bí cùng

Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn

Thung lũng Đa Thiện,

Đà Lạt tháng 3.2006

(Đã đăng báo Văn Nghệ – 2007)

Truyện ngắn: Cuộc cờ

Leave a comment

Ở Lạt ai chẳng biết ông Tư cờ. Tài danh trùm xứ sở đã đành, ông còn nổi tiếng bởi dăm món chơi ngông không giống ai.

Nói nào ngay, ông Tư trong mắt đa phần thiên hạ là kẻ bất bại. Nghe bảo đận trung niên, ông Tư gặp một tay iêng hùng lục lâm non choẹt nhưng có chiêu tốc chiến tốc thắng, đè xe, ém mã rất kinh hồn. Biết mình vào thế kẹt và sẽ mất tước bách thắng, lựa lúc đi giải ông Tư tạt vô chái bếp cơi lửa ủ mạt cưa vào vách gỗ. Khách chưa kịp giở phục chiêu giăng sẵn thì đã nghe làng xóm í ới cháy nhà. Xúm xít kẻ tát người bê tình giềng nghĩa láng, ông Tư không mất chốn dung thân. Hôm sau mặc vợ con lui cui dọn dẹp, phên nẹp nửa căn nhà bị cháy xém; ông Tư thản nhiên trốn ngoài bờ trúc góc vườn kẻ kẻ, vạch vạch các ô vuông giải bàn cờ xuýt thua.

Năm hai mươi tuổi, trên đường câu cá kiếm cơm, ông Tư nhặt được quyển “Kỳ thư” bên suối Khu Bê. Duyên trời cộng với đĩnh ngộ, ông mau chóng nổi lên như một hảo thủ vùng Lạt. Thật sự các nước cờ của ông Tư cũng thường thôi, nghiệt là chúng lại kết hợp với nhau trong trật tự hết sức cao cường, thông cổ, tường kim, mạch lạc mà lại có vẻ bí hiểm. Có lần ông dụ địch thủ chén ngấu cả hai con xe, trong khi chàng chốt quèn lặng lẽ áp thành cản tượng cho pháo giác kết liễu tướng giặc. Ông thành danh cũng có chữ liều và không màng trả giá.

Cao nhân cũng lắm kiểu ngạnh. Trò ông chơi ai cũng gọi là cờ tướng hay văn vẻ nho nhe “tượng kỳ”, còn ông thì cụt lủn: “cờ voi”. Bọn sính chữ một phép thường xướng đường biên giữa hai phía là “Hán giới – Sở hà”, riêng ông xem đó như ranh mép ngày – đêm. Ta là ngày, nó là đêm. Ta sáng nó tối. Ta dương nó âm. Ta hiền nó dữ. Ta khôn nó ngu. Ta chính nghĩa nó ngụy thù…

Ông Tư chơi cờ cả đời và chiến thắng cả đời, nên chẳng có lý do gì trận đấu từ giã xới cờ ông không thắng nốt. Lúc ấy ông cũng đã gần đất xa trời. Ông đem bàn cờ hằn dấu những cái nện ăn quân chan chát mấy mươi năm đặt trên tủ thờ, như báo cáo chiến công với tiên tổ.

Tình thực, đó cũng là ý nghĩa duy nhất của đời ông, bởi bao năm ông chỉ biết ăn uống, chơi cờ và… “yêu vợ”. “Vợ làm vợ ăn, vợ làm chồng ăn, con bú sữa mẹ” là phương châm sống kiên định của ông Tư. Bầy con nheo nhóc lớn lên rồi trưởng thành ở tứ xứ vẫn luôn răm rắp, khúm núm trước mặt ơn sinh thành.

Nhưng ai biết dâu bể khôn lường, ông Tư có một lũ cháu A Khùng hay cãi chày cãi cối. Giỗ tết cả nhà xum vầy, nếu ông mở lời kể lể ngợi ca chiến công một đời đánh cờ, y rằng bọn A Khùng ấy xổ toẹt hết. Mà tuồng như chúng lại có lý mới chết chứ!

– Ông dịch chữ Nho sai rồi ông ơi – Thằng cháu nội đích tôn là hay gây hấn với ông nhất, vì cậy sở học hồ hải vinh qui bái tổ – Chữ Tượng trong Tượng kỳ đâu phải là con voi! Nó biểu trưng cho những yếu tố trừu tượng của trận đánh.

– Khéo vẽ, sao không nói nốt chữ nhân chớ phải là người đi.

– So với cờ quốc tế, cờ của ông rất thiếu công bằng. Con chốt mãi mãi là con chốt.

– Chứng chóa mắt ngoài bờ tre đây. Vậy cái thằng Quốc tế liên hiệp nó công bằng giữa nhược tiểu và cường thịnh, giữa nhiều tiền và ít tiền, giữa nước lớn và nước bé như thế nào?

– Ông à, ông chơi cờ cả đời không chán ư? Đến lượt thằng cháu mua bán ngoài chợ thắc mắc.

– Đời chẳng qua cũng là một cuộc chơi.

– Nhưng cháu thấy vinh quang tinh thần của ông nó yếm thế như thế nào ấy. Buổi xôi thịt này có no được đâu.

– Ta già rồi, lũ cháu không hiểu cũng là dễ hiểu!

Từ đó ông Tư sinh ra lẩm cẩm, suốt ngày thì thầm: “không hiểu cũng là dễ hiểu”. Ông đem bàn cờ cũ để hẳn xuống trường kỷ, rồi lấy giấy nhám xóa dần những đường chéo làm sông ở giữa.

Cái tin ông Tư đột nhiên chơi cờ trở lại ngỡ sẽ làm con cháu phiền lòng. Nhưng không, ông chơi rất lạ và chỉ chơi với chính ông: bộ cờ mới ông giữ mỗi bốn con Tượng. Ông quân xanh, đối thủ vô hình quân đỏ (không như ngày xưa lúc nào ông cũng đỏ để nhường xanh đi trước, hậu thắng tiên mới oai!).

Ngày ngày ngồi lì bên bàn cờ trống hoác, tay phải ông chống Tượng thì tay trái với qua phía đối diện đẩy Tượng lên biên. Hai cặp Tượng căng lắm là gườm nhau qua dòng sông. Nước chéo vuông của Tượng hình như thay thế tạm các kẻ chéo chữ nhật ông đã bôi xóa. Lòng ông sôi sục năm tháng cũ, các nước cờ cũ, các con cờ cũ vô hình.

E hèm, Tượng không phải là voi? Ông nhớ lại lời thằng cháu. Xưa ông ít dùng Tượng. Cờ ông là cờ toàn công, Pháo đầu thượng sách nên ông xem thường quân Tượng. Nếu là voi sao Tượng không vượt sông lâm trận? Người Trung Hoa sáng tạo ra Tượng Kỳ khi chiến xa (được hình tượng hóa vào con xe) còn chiếm ưu thế tuyệt đối trên chiến trường. Kỵ binh (con Mã) bắt đầu được biết đến ở đời Triệu Linh Vương (nước Triệu), năm 307 trước Công nguyên, khi họ Triệu cải trang phục giống người Hồ để dễ dàng cưỡi ngựa. Thời chiến quốc ấy, làm gì có voi trên mặt trận nào. Qua Đông Hán người Tàu mới gặp voi ở Trung Bộ Việt Nam hôm nay nên bày ra huyện Tượng Lâm. Nếu Tượng Lâm là vùng rừng có voi thì Tượng Quận thời Tần chẳng lẽ lại mang nghĩa một quận tượng trưng trên bàn tiệc thực dân? Khéo bọn thực dân đại quốc chỉ xem khu vực có tổ quốc ông là một cuộc cờ tượng trưng không chừng!

Cũng là Tượng, nhưng sao rắc rối thế. Ông Tư quyết đánh cờ với bốn quân Tượng đến khi nào ông không còn mắc mớ trong lòng nữa mới thôi.

Chỉ tội bà Tư hồn hậu, nhân từ. Nhìn ông chơi cờ một mình mà ruột gan bà xát muối ớt. Xưa bà chẳng quản “Quanh năm buôn bán ở mom sông” để ông “vĩ mô” với thiên hạ, oai hùng riêng trấn muôn trượng một góc trời. Khốn khó hy sinh, cuối cùng đàn con của bà cũng se lông, khỏe cánh tung bay khắp nơi. Ông nghỉ chơi cờ dăm năm, bà hân hoan mấy mùa? Hủ hỉ vào ra, bà chẳng hiểu cờ nhưng ngồi nghe không sót các cuộc luận những ván cờ oanh liệt năm xưa của ông. Hai người, ông cứ nói, bà chỉ ừ. Ấm lòng đến lạ.

Ấy thế mà bây giờ, cứ hoảnh mắt là ông ngồi xuống trường kỷ đẩy tới đẩy lui bốn con Tượng. Bà Tư hốt hoảng: “Hay là có ma cờ? Một đời ông dày vò nó, nay ông đầu bạc răng long, nó quay lại hành ông, biến ông thành một quân cờ”.

***

Xế nay nhà ông Tư có khách xa. Bà Tư dọ hỏi sự tình, trong khi ông chẳng màng, đầu óc tập trung chuyển cờ, miệng nín khe.

– Thưa ông, con là kẻ bại trận cái hôm nhà ông bị cháy…

– Thật may phúc – Bà Tư đỡ lời, nhìn dáng người, xe cộ, bà đoán khách giàu phải biết.

– Con nghiệm ra trong đám cháy và cuộc cờ tiềm năng tố chất của đất đai, con người vùng mình, xứ mình. Khi tích cóp đủ vốn liếng, con về huyện bên mở lối làm ăn dành dụm. Công nhân của con, hơn nửa là người Lạt. Con cháu ông bà cũng tròn chục gắn bó với con đã khá lâu.

– Vậy ra anh là ân nhân nhà tôi.

– Bà nói quá. Không có ông chỉ bảo con đâu thể nên người.

Tình thế vừa đủ lọt lý, ông Tư mới ngước mắt lên gằn giọng:

– Anh lại muốn kiếm chác trong ngôi nhà cổ đã một lần cháy dở này?

– Con tính, khí không phải. Khách thập phương đến Lạt ai cũng háo hức về chuyện đời cờ của ông. Con sẽ sang sửa ngôi nhà, lập một mái đình lợp ngói âm dương nóc tròn ngoài sân, dựng tượng ông ngồi bên bàn cờ đá như trên tiên giới. Đây sẽ là điểm nhấn của toàn bộ khu du lịch mà con đã được cấp phép, bắt đầu thương lượng bồi hoàn, giải tỏa.

– Hai khọm già này sẽ bị tống cổ đi chứ?

– Ấy… ông bà là nhân chứng sống một thời, con đâu dám. Đất xung quanh vẫn của ông. Chẳng việc gì ông bà phải dọn đi đâu. Con sẽ gửi thêm lương thưởng hậu hĩ…

Ông Tư mệt rồi. Ông không buồn nghĩ nữa. Ông đứng dậy nhặt bốn con Tượng và nách cái bàn gỗ sắp mục ra sân. Vòm mai anh đào ưng ửng dưới nắng chiều xuân. Trời đất đẹp lạ lùng mà lòng ông cứ nhói lên nỗi buồn không thể đặt tên là chiến thắng.

Ông Tư ngồi xếp bằng, bệt xuống đất. Bàn cờ nằm hơi nghiêng xuống thung lũng, trên chiếc đôn đá cạnh gốc thông xù xì. Ông dựng bốn con Tượng thẳng lên như bánh xe rồi lơ đãng nới tay. Chiếc ô tô tàng hình vụt lao xuống vực. Ông Tư không cần quân cờ nữa. Đã đến lúc ông có thể chơi trên một bàn cờ chay, hay nói đúng hơn ông lẫn lộn chẳng biết mình là quân cờ hay quân cờ là mình.

Đêm tới. Đám lá thông lập cập trong gió, âm u hát như mong xua đi hơi lạnh cao nguyên bốc lên từ lòng đất. Khách đã ra về từ lâu. Chẳng thấy ông đâu, bà Tư nháo nhác đi tìm khắp nơi. Rồi bất lực, bà hoảng loạn nhắn gọi con cháu kíp tới giúp. Ánh đèn pin loang loáng khắp vườn, tiếng réo kêu nối nhau mất hút. Tinh mơ, hàng chục người suốt đêm quần thảo bở hơi tai hết ba quả đồi và năm cái hụt, đành ngược dốc về nhà.

Ban mai. Gió tung những cánh anh đào rụng đêm qua vào nắng, chấp chới như một đàn bướm hồng. Ông Tư đã hóa đá bên cội thông trăm tuổi. Đúng là tiên ông sống động, hơn cả óc tưởng tượng thương mại sặc mùi tiền của gã đại gia nọ. Bà Tư và đám con cháu sững sờ, không thể tin vào mắt mình.

Ông Tư về với tiên tổ, nhẹ nhàng thanh thoát làm sao. Những cuộc cờ, những quân tướng tượng trưng, đơn giản chỉ là một trò chơi cõi tạm. Được mất có lẽ nằm ở cách chơi, chứ phải đâu là kết cục thắng hay bại rỗng tuếch và gần như vô nghĩa!

Thung lũng Đa Thiện,

Đà Lạt 1.2006

(Đã đăng báo Tuổi Trẻ 2006)

Truyện ngắn: Con rồng chữ

Leave a comment

Xe đò khởi hành. Ăn xong cặp bánh dày dai nhách nhưng chắc chắn sẽ no lâu, tôi loay hoay tìm chỗ vứt hai vuông lá chuối nhầy mỡ và miếng báo cũ gói bánh. Ba mảnh rác ấy sẽ trốn kĩ ở nách ghế hoặc du du đâu đó bên vệ đường, nếu mấy dòng chữ không mời gọi:

Tìm thân nhân: …tại km 2.013 đã xảy ra một cái chết thương tâm. Nạn nhân là nữ không rõ tuổi nhưng mắt nhiều chân chim, điều khiển xe hơi Nuli – Sixiang 2.0, còn mới chưa gắn bảng số. Ngực trái nạn nhân có một hình xăm rồng lớn khá đẹp, tạo hình bởi vô số chữ Hán – Việt lớn nhỏ cân xứng. Các móng vuốt rồng trông như đang cấu giết dòng chữ tinhthanhaibatrung.net/votim.rar. Theo pháp y, nạn nhân chết vì vỡ tim trước khi lao xe vào cột cây số. Nhiều khả năng nguyên cớ nằm ở tay lái xe bị kẹt cứng…

Nhờ vệt mỡ, tôi đọc được chữ “Trung Quốc” ngược nên lật mảnh báo lại. Đó là một bài về khảo cổ:

Vật tổ hình rồng cổ nhất Trung Quốc

Một món đồ cổ hình rồng 3.700 tuổi, được làm từ hơn 2.000 mảnh ngọc lam, đã được xác định là vật tổ hình rồng cổ nhất Trung Quốc.

Món đồ cổ được phát hiện ở khu di tích Erlitou ở thành phố Yanshi, tỉnh Hà Nam. Rất nhiều học giả Trung Quốc tin rằng Erlitou là thủ phủ của triều đại nhà Hạ (2.100 – 1.600 trước Công nguyên) – triều đại đầu tiên của Trung Quốc.

“Một số hiện vật hình rồng cổ hơn món đồ ở Erlitou đã được phát hiện ở các nơi khác, như bức tượng bằng ngọc bích 7.000 tuổi có hình con rồng mang đầu lợn và cái mõm dữ tợn, được tìm thấy ở thành phố Chifeng, Nội Mông, nhưng chúng không có mối quan hệ trực tiếp nào với nền văn minh cổ đại bắt nguồn từ trung nguyên”, nhà khảo cổ Du Jinpeng nói.

“Chỉ có con rồng phát hiện ở Erlitou là có mối liên hệ trực tiếp với triều đại nhà Hạ, Thương, Chu và nối liền thành một mạch”, Du, nhà nghiên cứu tại Viện khảo cổ, nói. “Vì vậy, bức tượng hình rồng ở Erlitou là nguồn gốc trực hệ của vật tổ hình rồng của dân tộc Trung Quốc”.

Vật tổ hình rồng, dài 70,2 cm, trông giống như một con trăn. Nó được làm từ hơn 2.000 mảnh ngọc lam, mỗi mảnh chỉ dày 0,1 cm và dài 0,2-0,9 cm.

“Rất hiếm để tìm thấy một tạo vật hình rồng tinh xảo như vậy vào giai đoạn đó. Và nó mang giá trị lịch sử, nghệ thuật và khoa học sâu sắc”, Du nhận định.

Xu Hong, người phát hiện ra vật tổ hình rồng, cho biết món đồ được khai quật từ ngôi mộ của một vị quan trong cung điện ở Erlitou. Bức tượng làm từ ngọc lam được tìm thấy nằm giữa vai và xương chậu của chủ nhân ngôi mộ.

Du Jinpeng cho rằng vật tổ có thể được gắn vào một trượng quyền sử dụng trong các nghi lễ hiến tế. Xác trong ngôi mộ có thể thuộc về một vị quan chủ trì nghi lễ.

Hình ảnh rồng cũng được tìm thấy ở các khu vực khác, như trên đồ gốm và một phiến đồng tại Erlitou. Một số con rồng trông giống rắn, nhưng một số khác lại giống hình ảnh rồng ngày nay với móng vuốt của chim và vây cá.

Các chuyên gia cho rằng dân tộc Trung Quốc cổ đại bắt đầu hình thành vào giai đoạn đó với Erlitou là trung tâm. Tất cả những di vật mang hình rồng đều được tìm thấy ở khu vực hoàng cung.

“Nó cho thấy con rồng đã trở thành biểu tượng của quyền lực và vị thế hoàng gia vào thời đó và quan niệm này đã được truyền lại từ thế hệ này qua thế hệ khác trong lịch sử hàng nghìn năm của Trung Quốc”, Du nhận định.

Theo Tân Hoa xã

….

Có lẽ sự liên quan kì lạ của hai tin trên hai mặt báo làm tôi quên bẵng cái hệ thống tiền đình yếu ớt của của mình. Ngồi trên xe đò mà đọc sách hay báo là tôi chóng mặt và buồn nôn ngay. Tôi vuốt lại mảnh giấy rồi cất vào túi áo, một phần vì đường dẫn internet bí hiểm thôi thúc.

Cỡ hai tuần sau, tôi mới gặp lại mảnh báo cũ nhăn nhúm trong xó túi. Tuồng như xà phòng “trắng gì mà sáng thế” của tiệm giặt ngã năm đại học đã tẩy hết thông tin của mảnh báo và cả vết mỡ khó chịu nọ. Lạ là đường dẫn internet vẫn còn nguyên. Tôi hồi hộp như một chàng trai hẹn hò lần đầu, ngồi xuống máy tính và gõ vào thanh địa chỉ dòng “tinhthanhaibatrung.net/votim.rar”

Hộp thông báo tải dữ liệu hiện lên. Tôi nghi ngờ “khéo lại sâu!” nhưng rồi cũng nhấn nút OK. Một phút. Hai phút. Tiêu rồi! Sâu thật rồi, tôi thầm kêu lên. Máy tính tắt ngóm và ngay lập tức tự khởi động lại. Trước khi vào hệ điều hành, màn biểu diễn của con sâu bắt đầu: một giọt máu đỏ tươi từ từ rơi xuống. Quá trình rơi cũng là quá trình biến thể, giọt máu dần trở thành trái tim to căng. Khi chạm đáy màn hình trái tim vỡ tung thành những mảnh chữ vung vẩy khắp nơi. Đám chữ màu đỏ tiếp tục trêu ngươi, rồng rắn nối đuôi quay ngang quay dọc rồi theo trật tự đầu – đuôi, thu nhỏ và biến mất. Máy tính trở về trạng thái bình thường. Tôi dùng vài thủ thuật khám bệnh và bắt sâu nhưng không thành, chẳng thấy con sâu nào đang ngốn tài nguyên CPU hay bộ nhớ cả.

Thế rồi tôi lại quên sự việc ấy. Đơn giản thôi, suốt một thời gian dài con sâu quái dị kia chẳng phá tôi nữa. Tôi vẫn chat chít, vượt tường lửa và viết lách vớ vẩn bình thường.

Hôm nay hơi khác, khi tôi mở kho sách điện tử lưu trữ và đọc bằng Acrobat. Tất cả các lập tin lịch sử đều bất thường. Biểu tượng mặc định của Adobe Acrobat 7.0 đã bị thay thế bằng hình ảnh trái tim vỡ. Lạ ghê! Tôi mở thử “Khâm định Việt sử thông giám cương mục”. Con rồng chữ chợt xuất hiện và múa may ở đoạn viết ngay đầu sách:

Thời bấy giờ, cư dân khi xuống nước, hay bị loài giao long làm hại, Hùng Vương dạy dân lấy mực vẽ hình loài thủy quái xăm vào mình. Từ đó mới tránh khỏi nạn. Nước ta cái tục xăm mình có lẽ bắt đầu từ đấy.

Tôi nhắp bên phải con chuột vào đầu rồng. Dải chú thích xổ xuống: “Giao long tức là loài rồng Giao Chỉ. Đó chính là cá sấu. Hình ảnh biểu trưng chân xác nhất có thể tìm được trên mặt trống đồng.”

Ôi con sâu thông thái! Tôi nhảy bổ lên và bắt đầu tìm kiếm những chỗ con rồng chữ thích lui tới.

Mậu tuất 1118, Lí Nhân Tông, Tháng 3. Tuyển lính cấm quân: Trước đó, tuyển những hoàng nam khỏe mạnh làm binh lính, đến đây quy định hiệu quân cấm vệ, bèn tuyển 350 người đại hoàng nam sung vào các quân Ngọc Giai, Hưng Thánh, Vũ Đô và Ngự Long. Lại cấm những nô bộc tư gia không được xăm mực vào ngực, vào chân làm mạo theo hình dạng của cấm quân.

Kỉ hợi 1299, Tháng 7, mùa thu. Thượng hoàng (Trần Nhân Tông) lên núi Yên Tử, xả thân ở am Ngọa Vân: Lúc nhà vua đến chầu, Thượng hoàng bảo: “Nhà ta khởi nghiệp từ bãi biển, cho nên thích hình con rồng vào vế đùi, là có ý tỏ ra rằng không bao giờ vong bản”. Lúc ấy người thợ thích hình rồng đã chực ở ngoài cửa cung, nhà vua rình khi Thượng hoàng quay mặt đi chỗ khác, liền lánh sang cung Trùng Hoa. Thượng hoàng biết ý, không bắt ép nữa. Cái tục thích hình dáng loài vật vào vế đùi của nhà Trần từ đây mới bỏ đi được.

Quí hợi 1329, Trần Minh Tông, Kén quân ngũ: Theo tục trước, quân sĩ đều xăm hình rồng ở lưng và hai vế đùi; nhưng kỳ tuyển duyệt này lấy người nào béo trắng là hơn, nên từ đây quân sĩ không xăm hình rồng như trước nữa.

Cả tiếng đồng hồ chúi mũi vào con rồng chữ trên màn hình vi tính nhập nhòe (rác thải đại hạ giá từ nước ngoài), mắt tôi bắt đầu mờ. Tôi đi rửa mặt rồi nằm nghỉ một lúc.

Tiếng gõ cửa. Hoàng đến thăm tôi. Tôi mào chuyện rồng phượng:

– Họa sĩ giải thích hộ các hình tượng rồng nhé.

– Mỗi triều đại mỗi khác nhưng đặc biệt ngày càng “Tàu” hơn. Này nhé rồng thời Lí dài giống rắn, chân nhỏ có 3 ngón. Rồng triều Trần tròn mập, có tay và mọc thêm sừng. Rồng nhà Lê oai vệ và dữ tợn, mũi to, năm móng vuốt sắc nhọn. Rồng của họ Nguyễn uy nghi, thỉnh thoảng lại ngậm một Hán tự như chữ Thọ, để lòi cả răng nanh, hoặc cặp đôi chầu mặt trời, chầu hoa cúc… Cũng cần để ý từ đầu đời Hán, người Tàu đã chọn rồng năm móng vuốt làm biểu tượng vương quyền.

– Hóa ra chẳng con nào giống về cá sấu ư? Rồng của Hai Bà Trưng hẳn là cá sấu thuần chủng!

– Thì đấy, Mã Viện thu gom hết trống đồng cũng nhằm diệt rồng Việt. Hy vọng sẽ tìm được chứng tích rồng Tiền Lí thì may ra.

– Lạ lùng nhỉ, cá sấu làm người ta sợ nên người ta xăm hình cá sấu lên thân thể và thờ cá sấu. Đến khi đuổi được cá sấu chỉ bằng một bài văn Nôm của Hàn Thuyên, người Việt đã khá văn minh rồi. Họ không xăm mình nữa. Cái truyền thống ấy lặn qua chính trường với việc thực thi toàn trị Nho giáo Trung Hoa bắt đầu từ Hồ Quí Li…

– Nếu tôi là cá sấu, một con cá sấu say rượu đi nữa, cũng không thể nhầm đồng loại với lũ người “xăm mình”. Khó bỏ qua mẻ mồi ngon ấy. Thật là bữa tiệc trong mơ!

– Có ai đào sâu khái niệm “tự giác đồng hóa” chưa vậy?

Gió mùa đông bắc hút xuống thung lũng, cọ vào vách gỗ thông xin xít như khéo trả lời tôi, thay Hoàng. Com ma rượu lẻn vô góc bếp lấy mấy viên cồn để hâm bầu rượu dâu ta ứa đỏ. Bộ chén trà tôi được tặng khi mua một gói Ô Long ở Bắc Kinh hôm nào đã chờ sẵn. Rượu bốc hơi rót xuống, con rồng xanh cảm ứng nhiệt in trên thân chén dần chuyển sang đỏ. Đôi mắt nó long lên sòng sọc sẽ khiến không ít kẻ non gan nổi gai ốc. Nhưng Hoàng và tôi thì không. Bằng chứng là chúng tôi cứ tỉnh bơ và làm thinh nốc rượu đến chuếnh choáng.

– À này bạn – giọng tôi đã có nhựa – Họ Trịnh và họ Hồ xen kẽ trong lịch sử cũng có rồng riêng chứ?

– Có thể nói gọn là rồng Lê – Mạc xong đến Trịnh – Nguyễn cũng được. Rồng của Hồ Quí Li khá khoáng đạt và cân đối.

– Khoáng đạt cỡ rồng của Trạng Quỳnh mà hiện nay người ta treo nhan nhản trong các phòng khách mới xây, để rồi mị nhau là thư pháp chữ Việt chăng?

Hoàng cười khanh khách, rất chói tai song cũng rờn rợn. Lại một chuỗi xít kéo dài. Người tôi bị hất về đằng trước, trán nện vào thành ghế trên ê ẩm…

Hóa ra tôi ngủ mơ từ đầu truyện đến giờ. Chiếc xe đò dừng bánh giữa đường. Một “thương gia” chanh chua đang xỉa xói, tay chống nạnh, tay cầm chiếc đòn tre chỉ vào gánh hàng ăn di động bây giờ chỉ còn là một đống chén bát vỡ nát. Mất cũng mươi phút, xe lại lăn bánh. Lúc ấy rọ tàu hủ trắng nhợt nằm nghiêng bên miệng cống lề đường mới chậm rãi chiếu qua khung kính bên hông.

Xe đã vào thị trấn Bảo Lộc. Chắc ba tiếng nữa tôi sẽ về đến am “ẩn sinh”. Tôi làm một ngụm nước khoáng trị chứng ợ hơi toàn mùi bột nếp sống và mỡ sa lợn sề. Vị khách mang kính cận bên cạnh lại giở báo xoàn soạt. Tôi thèm đọc lắm, nhưng phải đề phòng khối tiền đình bất ổn của mình. Gắng mơ tiếp thôi. Có lẽ tôi vừa thoáng thấy cột xã luận nổi bật trên trang nhất tờ báo kia: Xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Thung lũng Đa Thiện,

Đà Lạt xuân 2006

(Đã đăng báo Văn Nghệ – 2007)

Bên cạnh tòa đại hình

15 Comments

Dạo này talawas mất tích, blog và các trang mạng khác chập chờn, tôi chủ yếu quay về viết truyện dài. Tôi đã lấy một đoạn trong truyện dài đang viết, chỉnh sửa đôi chút và gửi BBC. BTV BBC trích chú bài này như sau:

Vâng, trước sau như một tôi vẫn nghĩ đó là con đường chấn hưng dân trí, cải tạo văn hóa. Hai trong số những người nằm trong đại danh từ CHÚNG TÔI (thời sinh viên) ở bài viết là blogger Anhbasaigon và Lê Trần Luật. Một số người khác thì hiện nay chỉ lo làm kinh tế, có người đang đứng ở top 50 những đại gia giàu nhất Việt Nam.

*
**
Tác giả nhắc lại lịch sử nhân việc bốn nhà hoạt động chính trị bị đem ra xử ngày 20/1

Rất nhiều người trưởng thành dưới giảng đường Xã hội chủ nghĩa tại Sài Gòn không hề xa lạ với Thư viện Khoa học tổng hợp TP HCM. Một tòa cao ốc hiện đại, kiến trúc tân kỳ điểm xuyến nhiều nét mỹ thuật biểu trưng rất ấn tượng. Phòng đọc yên tĩnh, thoáng mát. Khuôn viên giải lao rộng rãi, cây cảnh hài hòa. Hai hàng ghế đá sạch sẽ rất lãng mạn dưới những cội sứ già. Mặt tiền thư viện nhìn ra đường Lý Tự Trọng. Bên kia phố, thấp thoáng sau vòm lá cổ thụ là mái ngói đỏ của Tòa đại hình thực dân ngày nào.

Không ít những trang sách chúng tôi phải đọc, phải tìm hiểu, nói về bao lớp người đã dấn thân để cởi bỏ xiềng xích nô lệ cho dân tộc. Mỗi tấm gương hy sinh cao cả của họ là một viên gạch tẩm máu, góp phần xây dựng bệ phóng cho đất nước này vươn tới độc lập và tự do. Những cái chết thật đẹp. Đẹp nhất vẫn là bài ca cuối cùng của họ, hiên ngang bất khuất trước vành móng ngựa và máy chém thực dân, đế quốc.

Những trang sách trong tòa thư viện ấy đã kể cho chúng tôi nghe lịch sử của chính mảnh đất dưới phòng đọc, của con đường trước mặt và cả cái kiến trúc thực dân đồ sộ bên kia đường. Thì ra thư viện nằm trên nền cũ của Khám lớn Sài Gòn khét tiếng, hình thành không lâu ngay sau khi người Pháp vừa chiếm được Nam Kỳ. Chỉ riêng danh sách những người cộng sản “kinh qua” khám lớn đã dài dằng dặc với những cái tên rất nổi tiếng: Trần Phú, Lê Hồng Phong, Ngô Gia Tự, Hà Huy Tập, Nguyễn Văn Cừ, Nguyễn Thị Minh Khai, Võ Văn Tần, Phan Đăng Lưu, Phạm Văn Đồng, Phạm Hùng, Lê Văn Lương, Tống Văn Trân, Mai Chí Thọ…

Nhân vật đặc biệt nhất, ấn tượng nhất với tuổi trẻ chúng tôi không ai khác, chính là Lý Tự Trọng. Theo các tài liệu chính thống, giữa tòa đại hình, Lý Tự Trọng đã bác bỏ luận điểm bào chữa của luật sư (cho rằng anh chưa đến tuổi thành niên, đã hành động không suy nghĩ): “Tôi hành động không phải là không suy nghĩ. Tôi hiểu việc tôi làm. Tôi làm vì mục đích cách mạng. Tôi chưa đến tuổi thành niên thật, nhưng tôi đủ trí khôn để hiểu rằng con đường của thanh niên chỉ có thể là con đường cách mạng và không thể là con đường nào khác”. Khi chánh án hỏi có ăn năn gì không, Lý Tự Trọng đã thẳng thắn: “Không ăn năn gì cả!”.

Mười bảy tuổi, “Ông nhỏ” Lý Tự Trọng (như cách gọi tôn kính của cai ngục) hiên ngang bước lên chiếc máy chém đặt trong khuôn viên khám lớn Sài Gòn.

***

Những lúc rảnh rỗi, chúng tôi thường lân la gạ hỏi những thủ thư dễ tính trong thư viện về một lượng sách cấm đọc đồ sộ. Có người nửa đùa nửa thật: “Chỉ cần đọc dăm quyển sách ấy là đủ điều kiện bước sang đường, đứng trước vành móng ngựa của Tòa án nhân dân TP. HCM”. Chúng tôi không hiểu câu nói ấy, hay sự lãng mạn mang tên Lý Tự Trọng, đã kích thích không ít người tìm đọc bản lưu chiểu hai năm 1975 – 1976 của báo Sài Gòn Giải Phóng.

Lọc được danh mục sách cấm, chúng tôi đến thư viện Khoa học xã hội cách đó không xa, cũng trên đường Lý Tự Trọng. Ở đây người quản lý đỡ nguyên tắc hơn, chúng tôi có thể nhờ vả một số học giả có đặc quyền tiếp cận kho sách cấm. Họ sẽ đứng tên trên phiếu mượn sách giùm chúng tôi. Chúng tôi thật ngỡ ngàng trước chân trời kiến thức rộng mở, trong những tập giấy sờn cũ dầy mỏng khác nhau, ngoài bìa có các tên tuổi đã được nền báo chí chính thống liệt vào loại “phản động”: Aristote, Bergson, Nietzche, Jung Carl Gustave, Francoise Sagan, Boris Pasternak, Witold Gombrowicz, Jean Paul Sarte…

Cuộc cách mạng của chúng tôi không phải để cứu chuộc một dân tộc nô lệ ngoại bang, nên nó không dễ hiểu chút nào với đại bộ phận quần chúng, thậm chí với cả những quan tòa và thẩm phán.

Từ đó về sau, mỗi lần đi ngang qua Tòa đại hình cũ để đến thư viện, chúng tôi hay im lặng, bâng khuâng ngắm nhìn nét uy nghi của kiến trúc thực dân. Chúng tôi vẫn đọc sách cấm, những hôm bài vở chính khóa thư thả. Đôi lúc trí tưởng tượng bay bổng, chúng tôi còn hình dung ra cảnh ai đó thuộc thế hệ chúng tôi sẽ biến một phiên tòa kết tội đọc sách cấm thành diễn đàn đòi hỏi tự do, ít nhất là tự do tiếp cận tri thức nền của nhân loại.

Lý Tự Trọng thật hạnh phúc. Một nhà báo phương Tây đã mô tả ngày cuối cùng của anh như sau: “Ngày 21/11/1931 thì Huy (tức là Trọng) bị đem xử tử. Sài Gòn hết sức xúc động. Hôm ấy phải ra lệnh thiết quân luật. Từ khám lớn vang ra ngoài đuờng phố, tiếng la hét của tù chính trị. Tiếng thét từ lồng ngực và từ trái tim của họ đã đi theo Huy ra trường chém. Phải điều quân đội và lính cứu hỏa để phun nước đàn áp họ. Trong những tường giam của khám lớn đã xảy ra những chuyện như thế. Trước máy chém, Huy định diễn thuyết, song hai tên sen đầm nhảy xô đến không cho anh nói. Người ta chỉ nghe thấy tiếng anh kêu “Việt Nam! Việt Nam!”.

Chúng tôi biết, thế hệ của mình sẽ là một thế hệ cô độc và mất mát, ít nhất là trong phiên tòa tưởng tượng kia (nếu có). Cuộc cách mạng của chúng tôi không phải để cứu chuộc một dân tộc nô lệ ngoại bang, nên nó không dễ hiểu chút nào với đại bộ phận quần chúng, thậm chí với cả những quan tòa và thẩm phán. Chúng tôi chỉ có tri thức và khát vọng thời đại là lý tưởng duy nhất, để phấn đấu, hy sinh. Chỉ mong rằng trước quyền lực bảo thủ luôn kề cận nguy cơ tha hóa, chúng tôi sẽ không hổ danh là thế hệ nối tiếp của những con người hiên ngang, bất khuất như Lý Tự Trọng.

May mắn là, cho đến bây giờ, phiên tòa ấy vẫn chưa diễn ra. Có lẽ bởi vì chúng tôi không cực đoan tin rằng việc thay thế một thể chế là điều kiện cần và đủ cho một cuộc cách mạng văn hóa tận gốc rễ, như phong trào Duy Tân của Minh Trị chẳng hạn.

***

Hôm nay, dưới mái ngói đỏ của Tòa đại hình thực dân cũ, một phiên tòa khác đang diễn ra. Ba trong bốn người đứng trước vành móng ngựa thuộc về thế hệ chúng tôi. Hình như chúng tôi chưa bao giờ gặp họ tại hai kho sách khổng lồ của thư viện Tổng hợp và Xã hội trên đường Lý Tự Trọng. Dù đáng tiếc, chúng tôi vẫn thành tâm cầu chúc họ may mắn, sớm thoát khỏi vòng lao lý để đoàn tụ với gia đình và xã hội.

Older Entries

leminhkhaiviet

About Vietnamese Cultural History and Scholarship

Xuân Bình

Nhà báo tự do

Nguyễn Huy Hoàng

the star is fading

Nghiên cứu lịch sử

Các bài nghiên cứu, biên khảo và dịch thuật các chủ đề về lịch sử

Le Minh Khai's SEAsian History Blog

Always rethinking the Southeast Asian past

trinhythu

Trịnh Y Thư WordPress.com site

trandangtuan.com

Men lá rượu ngô trong

4th Avenue Café

Free non-fiction translation

WordPress.com

WordPress.com is the best place for your personal blog or business site.

Trương Thái Du's Blog

Văn chương thiên cổ sự - Đắc thất thốn tâm tri...

No More Goat Soup

No goats were harmed in any way while making this blog. (We did kill all the sheep though)