Gerardo M. C. Valero

TRANH CHẤP TRƯỜNG SA: LIỆU CÓ CÒN THÍCH HỢP KHI TRANH CÃI VỀ VẤN ĐỀ CHỦ QUYỀN?

Bài viết của GS. Gerardo M. C. Valero,  Giám đốc Khoa sau đại học, Trường Luật,  Đại học Connecticut, Mỹ, nhận định các quy định của luật pháp quốc tế  truyền thống về thụ đắc lãnh thổ không giúp cho việc giải quyết vấn đề tranh chấp Trường Sa và tạo lập khuôn khổ cho việc hợp tác tại đây. Ngược lại, các quy định này thúc đẩy các quốc gia liên quan đến tranh chấp tăng cường các bước đi đơn phương về pháp lý, qua đó đẩy tình hình thêm căng thẳng về chính trị và quân sự.

————————————

Giới thiệu

Trước đây, trong quá khứ chưa bao giờ mối quan tâm về vấn đề chồng lấn lãnh thổ và quyền tài phán ở vùng Biển Đông  lại trở nên căng thẳng như trong ba thập kỷ vừa qua của thế kỷ hai mươi này. Do đó từ lâu được công nhận là một vùng đánh cá giàu có và là con đường hàng hải quan trọng nối liền Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, Biển Đông lại trở thành trọng tâm chú ý của quốc tế vào những năm 1970, khi các công trình nghiên cứu địa chất và khảo sát địa vật lý nêu những giả thuyết chắc chắn về sự tồn tại của các mỏ dầu và khí tự nhiên lớn ở đáy biển. Kể từ đó, các nước ở vùng Biển Đông ngày càng vướng thêm vào rắc rối của những tuyên bố đơn phương mâu thuẫn với nhau, ở những mức độ cạnh tranh khác nhau về việc kiểm soát vùng nước của khu vực và việc sử dụng các nguồn tài nguyên sinh vật và không sinh vật.

Những yêu sách mâu thuẫn này trước tiên do những mối quan tâm kinh tế chi phối bao gồm cả sự phát triển của các nguồn hydrocarbon tiềm năng[1] Tuy nhiên, những sự kiện sau năm 1990, đặc biệt là sự sụp đổ của Liên Xô cũ và việc Hoa Kỳ rút khỏi những căn cứ quân sự và hải quân ở Philippin trên bờ phía Đông của Biển Đông, đã khiến cho những nhà hoạch định chính sách của các quốc gia yêu sách phải xem xét lại tác động liên quan đến an ninh quốc gia và sự ổn định chính trị đối với các yêu sách về chủ quyền lãnh thổ và mở rộng quyền tài phán trên biển ở khu vực Biển Đông.

Các biến chuyển trên đây đã khiến cho những chính phủ có quan tâm phải tổ chức một cách có hệ thống và liên tục củng cố địa vị pháp lý của họ hỗ trợ cho tính chất hợp lệ của những yêu sách này. Trong nỗ lực đưa ra những lý lẽ để đạt được sự công nhận của quốc tế về những yêu sách tài phán và lãnh thổ tương ứng của họ, các quốc gia yêu sách đã dựa vào rất nhiều công thức pháp lý rút ra từ những bằng chứng về thực tiễn của các quốc gia hiện nay, sự phân xử quốc tế và tài phán trọng tài cũng như từ những khái niệm được phát triển trong quá trình Hội nghị luật biển do Liên hợp quốc tổ chức. Cũng vì vậy, hành động của các quốc gia trong việc thực thi những luận điểm pháp lý mà họ tuyên bố đã tạo ra một bức tranh chi tiết để quan sát xem một phạm vi rộng lớn những vấn đề bàn cãi liên quan đến việc sử dụng nguồn tài nguyên đại dương được giải quyết theo tập quán như thế nào. Đây là những vấn đề trong những khúc mắc liên quan đến việc vạch đường cơ sở quần đảo, xác định giới hạn thực hiện quyền đi qua eo biển, đến việc phân định biên giới giữa hai hay nhiều quốc gia có yêu sách chồng lấn về quyền tài phán đối với không gian biển và thẩm quyền đối với các nguồn tài nguyên biển[2].

Trong số các vấn đề khu vực được quan tâm có lẽ vấn đề phân định ranh giới biển là vấn đề gay cấn nhất, bởi vì hiện nay vấn đề này đang được xem xét dưới góc độ xác định giới hạn những yêu sách đơn phương chồng lấn về chủ quyền đối với một loạt các đảo, hòn, cồn và đá nằm rải rác suốt chiều rộng của Biển Đông.

Singapore và Malaysia đang tranh chấp về quyền sở hữu đối với đảo Pisang và Pulau Batu Putih (“Đá Trắng”) ở vĩ tuyến 1019,8’ Bắc và kinh tuyến 104024,4’ Đông làm nền đỡ cho ngọn hải đăng Horsburgh ở vùng nước đông đúc và có tầm quan trọng chiến lược của các eo biển Malacca và Singapore. Indonesia và Việt Nam thì đang tranh cãi về quyền sở hữu đối với đảo Natuna nằm ngoài khơi bờ biển phía Tây Bắc đảo Kalimantan của Indonesia ở khoảng 40kể từ đường xích đạo[3]. Trung Quốc, Đài Loan và Việt Nam,  mỗi bên đang ra sức chống lại yêu sách của các bên còn lại về chủ quyền đối với nhóm đảo Hoàng Sa nằm giữa vĩ tuyến 160 và 170, cách đảo Hải Nam của Trung Quốc khoảng 150 hải lý về phía Đông Nam. Đài Loan cũng đang tranh chấp với Trung Quốc về yêu sách với đảo Pratas, nằm cách Đài Loan 240 hải lý về phía Tây Nam từ vĩ tuyến 200 30” đến 210 31” B. và từ kinh tuyến 1160 đến 1170 Đ. và bãi ngầm Trung Sa, nằm cách quần đảo Hoàng Sa 100 km về phía Đông từ vĩ tuyến 150 20’ đến 160 20 B. và từ kinh tuyến 1130 40” đến 1150 Đ. Cuối cùng, 5 bên – Trung Quốc , Malaysia, Philippin, Đài Loan và Việt Nam – hiện đang yêu sách ít nhất là một số đảo thuộc một quần đảo được đề cập đến với cái tên là Spratlys[4] (Trường Sa) là một phần lãnh thổ của họ.

Việc thực sự chiếm hữu lãnh thổ yêu sách được coi là có tầm quan trọng đặc biệt và hiện nay, mỗi bên yêu sách đều duy trì sự hiển diện quân sự của họ trên ít nhất là một đảo thuộc quần đảo này[5]. Việc quân sự hoá khu vực này đã được đẩy mạnh kể từ đầu những năm 1970, khi Philippin cử hải quân lên chiếm giữ đảo Thị Tứ[6]. Nước Cộng hoà miền Nam Việt Nam sau này, với tư cách là người kế thừa chính phủ thực dân Pháp đã bắt đầu thiết lập sự có mặt về quân sự của họ trong khu vực vào năm 1974, khi lực lượng của họ đã chiếm giữ năm đảo trong quần đảo Trường Sa, sau khi bị mất quyền chiếm hữu nhóm đảo Lưỡi Liềm nằm ở phía tây của quần đảo Hoàng Sa kéo về phía Bắc của quần đảo Trường Sa[7] về tay Trung Quốc. Trung Quốc đã thiết lập sự có mặt của mình ở quần đảo Trường Sa bằng cách chiếm tám đảo trước đó Việt Nam đang chiếm giữ bằng một cuộc đụng độ hải quân kéo dài hai ngày vào tháng 3/1988, đó là cuộc đụng độ hải quân trầm trọng nhất ở khu vực Trường Sa kể từ khi kết thúc Chiến tranh thế giới II[8].

Một phần lớn tài liệu có được về tình hình quần đảo Trường Sa xem xét tới căn cứ lịch sử của những yêu sách đối kháng về chủ quyền lãnh thổ mà các quốc gia có lợi ích này khẳng định và sau đó, phân tích tính vững vàng của những luận điểm pháp lý được đề xuất để bảo vệ quan điểm của họ. Tuy nhiên, có một cuộc bàn cãi thứ hai do những yêu sách này tạo ra chưa được đưa ra phân tích ở một mức độ tương xứng.

Những đảo tạo thành quần đảo Trường Sa, về bản chất, một mặt quá nhỏ và quá cằn cỗi để có thể duy trì một cuộc sống ổn định và lâu dài và mặt khác, không có dấu hiệu phân biệt đáng kể nào về nguồn tài nguyên thiên nhiên trên bờ[9].Tuy nhiên, chúng lại được coi là có tầm quan trọng chiến lược về quyền lợi kinh tế và chính trị của các quốc gia ven Biển Đông, trước hết theo nguyên tắc được thừa nhận rộng rãi của tập quán và luật biển quốc tế, các đảo này có thể được dùng làm điểm cơ sở để từ đó các quốc gia có thể mở rộng yêu sách của họ về thẩm quyền tài phán, đặc biệt đối với vùng nước và các nguồn tài nguyên của Biển Đông. Tầm quan trọng của hướng thứ hai này có thể được đánh giá một cách cụ thể hơn thông qua việc cân nhắc, nếu mỗi bên yêu sách đối với quần đảo Trường Sa đều tuyên bố một vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa tính từ đường cơ sở được vạch từ những điểm xác định bởi các đảo mà họ hiện đang chiếm giữ, thì toàn bộ các vùng nước của Biển Đông và vùng đáy biển ở phía dưới sẽ nằm dưới rất nhiều các chế độ của quyền tài phán quốc gia khác nhau[10] và chuyển vùng vốn trước đó là biển cả và đáy đại dương quốc tế thành một vùng biển “nửa kín”[11].

Cho đến nay các quốc gia ven biển có lợi ích đã thực hiện những bước tiến cụ thể nhằm mở rộng thẩm quyền trên biển của họ. Ngay từ đầu năm 1977, Việt Nam đã tuyên bố quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa là lãnh thổ của họ có các vùng biển riêng của chúng[12]. Sau đó đến Philippin vào năm 1978 tuyên bố chính thức sáp nhập lãnh thổ đối với vùng phía Tây quần đảo Trường Sa và đang xem xét pháp chế từ năm 1987 để mở rộng đường cơ sở quốc gia quần đảo năm 1968 của mình, nhằm gộp phần lãnh thổ yêu sách vào thành một phần của quốc gia quần đảo Philippin[13]. Cùng lúc với việc tuyên bố sáp nhập quần đảo Trường Sa, Philippin cũng tuyên bố một vùng đặc quyền kinh tế có chiều rộng 200 hải lý tính từ đường cơ sở dùng để xác định chiều rộng lãnh hải của họ[14]. Mặt khác, Malaysia khẳng định sự chiếm giữ hiện tại của họ trên ba đảo của quần đảo Trường Sa bằng một tuyên bố mới lạ rằng, chúng tạo thành một phần của rìa lục địa của Malaysia[15]. Ngày 25/2/1992, Quốc hội nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa đã phê chuẩn một đạo luật mới về các vùng nước lãnh thổ, yêu sách chủ quyền đối với cột nước, đáy biển và khoảng không gian trong giới hạn 12 hải lý kể từ bờ biển. Đạo luật này được tuyên bố là áp dụng đối với quần đảo Trường Sa, quần đảo Hoàng Sa cũng như các nhóm đảo khác là đối tượng tranh chấp với các quốc gia khác[16]. Đáp lại hành động này các nguồn tin cho biết, Đài Loan đã chuẩn bị một đạo luật về các vùng nước lãnh thổ của riêng mình nhằm tái khẳng định các yêu sách của họ không chỉ đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, mà còn cả với đảo Đông Sa và Trung Sa nữa[17].

Với nỗ lực nhằm mở ra một cuộc thảo luận để đạt được một giải pháp cho tất cả những yêu sách cạnh tranh đối với quần đảo Trường Sa, các quan chức cao cấp và viện sĩ hàn lâm từ năm quốc gia yêu sách cùng với đại diện từ các nước Brunei, Indonesia, Lào, Singapore và Thái Lan đã nhóm họp ở Băng Đung, Indonesia tháng 7/1991 để tham gia một hội nghị, thảo luận tìm giải pháp thay thế nhằm kiểm soát những tranh chấp tiềm tàng ở khu vực Biển Đông. Hội nghị Băng Đung kết thúc với việc các bên tham gia đưa ra một thông cáo chung, tuyên bố cam kết của họ về việc sử dụng các biện pháp hoà bình để giải quyết các yêu sách tài phán và lãnh thổ chồng lấn ở Biển Đông [18]. Họ cũng thoả thuận rằng, sẽ tiếp tục những nỗ lực trong việc hợp tác trong những lĩnh vực như quy định về vận tải biển, thông tin liên lạc, khảo sát khoa học, trấn áp cướp biển và vận chuyển ma tuý trong khu vực[19].

Hội nghị Băng Đung được coi là một bước đột phá, xoá đi mối cản trở lâu dài giữa các quốc gia tranh chấp về quyền kiểm soát trên Biển Đông, nguyên nhân chính là vì Trung Quốc không những đã tham gia hội nghị mà còn tỏ rõ thiện chí cân nhắc về giải pháp hợp tác nhằm giải quyết tranh chấp. Điều này cho thấy sự ôn hoà hơn trong chính sách đã có từ rất lâu của Trung Quốc, vì trong quá khứ, nước này kiên quyết không tham gia vào bất kỳ một cuộc thảo luận nào có dính líu đến vấn đề chủ quyền đối với những lãnh thổ đất liền tranh chấp, đặc biệt nếu có Đài Loan tham dự những cuộc thảo luận ấy với tư cách là chủ thể riêng biệt[20]. Bất chấp những vấn đề kể trên phải thừa nhận rằng, tiến triển mà Hội nghị Băng Đung có được về việc giải quyết các yêu sách chồng lấn về biển và lãnh thổ đối với Biển Đông chỉ ở mức tối thiểu. Bản thân hội nghị này ở cấp độ không chính thức, cho nên các thành viên tham gia không thể buộc quốc gia của họ phải đi theo một giải pháp toàn diện và ổn định hơn đối với tranh chấp này[21]. Và dù các đại biểu của Trung Quốc tham gia hội nghị đồng ý, việc xúc tiến hợp tác trong khu vực về các vấn đề gìn giữ môi trường và phát triển nguồn tài nguyên là có thể đạt được, song họ vẫn duy trì khẳng định sắt đá của mình về yêu sách chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Trường Sa, cũng như các nhóm đảo khác ở Biển Đông là không thể đàm phán[22].

Có thể thấy rõ, các tuyên bố của các quốc gia tại Hội nghị Băng Đung chẳng có ý nghĩa gì, các bên trong khu vực có liên quan đến tranh chấp quần đảo Trường Sa vẫn coi việc thực hiện những hành vi quốc gia đơn phương là biện pháp hiệu quả và vững chắc hơn để giải quyết những vẫn đề còn chưa rõ ràng xung quanh hiệu lực các yêu sách của họ về chủ quyền đối với quần đảo. Đây là lý do gây mối quan tâm sống còn, vì quan điểm mang tính phổ biến này không báo trước điềm lành cho việc đạt được sự ổn định về kinh tế và chính trị trong khu vực trong giai đoạn hậu chiến tranh lạnh.

Sự bất ổn của tình trạng này trong khu vực thể hiện rõ qua các bản tin nhiều lần đưa tin về các sự kiện liên quan đến việc bắt giữ thuyền bè và bắt giữ để trả đũa bởi các cơ quan của các chính phủ cạnh tranh và việc tăng cường quân sự hoá khu vực[23]. Kể từ năm 1974, Trung Quốc và Việt Nam đã có hai cuộc hải chiến nhằm chiếm giữ quần đảo Hoàng Sa và một số đảo nhất định trong quần đảo Trường Sa. Đạo luật mới về các vùng nước lãnh thổ của Trung Quốc yêu cầu các tầu quân sự nước ngoài phải được sự phê chuẩn trước của Bắc Kinh trước khi đi vào các “vùng nước lãnh thổ” của Trung Quốc, bao gồm cả các vùng nước quanh quần đảo Trường Sa. Các tầu mang các chất hạt nhân và chất độc hại cũng yêu cầu phải có giấy xác nhận của chính phủ trước khi đi qua những vùng nước này[24]. Nhằm thực thi những yêu cầu này, đạo luật mới cho phép hải quân Trung Quốc được dùng vũ lực để đẩy lùi các tàu ngoại quốc bị phát hiện ở những vùng nước xung quanh các đảo yêu sách[25].

Một khi các quốc gia cạnh tranh bắt đầu thực hiện những bước đi chắc chắn hơn nhằm thực hiện việc đơn phương mở rộng quyền lực trên biển và lãnh thổ của họ trên Biển Đông thông qua việc định rõ giới hạn quốc gia trên biển của họ và sau đó, cấp nhượng quyền và cấp phép cho các dự án nằm trong những vùng yêu sách, một điều không tránh khỏi là, vũng lầy của sự chồng lấn quyền tài phán sẽ khiến cho những đường ranh giới được khẳng định không còn chức năng phục vụ cho mục đích lập bản đồ những vùng thẩm quyền để phát triển nguồn tài nguyên biển. Tuy nhiên, một điều còn đáng ngại hơn là có nhiều khả năng các yêu sách đối kháng này sẽ làm tăng thêm những mối quan tâm của quốc gia về việc bảo vệ an ninh quốc gia chống lại những đe dọa từ bên ngoài, và do đó, làm gia tăng sự căng thẳng trong khu vực, có lẽ sẽ đạt tới điểm, khi việc sử dụng những biện pháp quân sự chủ động trở nên thiết thực đối với một số chính phủ[26].

Do vậy mà cho tới nay, việc các nước cạnh tranh dựa vào những quy tắc chung của luật quốc tế để củng cố cho những yêu sách tài phán của họ trên Biển Đông đã không dẫn đến việc thiết lập và duy trì trật tự trong khu vực. Ngược lại, có một điều hiển nhiên là, những quy tắc này chủ yếu được sử dụng để hỗ trợ và củng cố cho chủ nghĩa đơn phương hành động, coi đó là một phương thức hành động tốt hơn trong bối cảnh mâu thuẫn gia tăng về phạm vi quyền lực lãnh thổ và biển của các quốc gia tranh chấp[27]. Do đó, những người ra quyết định của các nước này sẽ phải gánh vác thêm một nguy cơ, khi việc sử dụng quyền lực bị lạm dụng, trở thành phương tiện để chống đỡ cho những lời khẳng định đơn phương về thẩm quyền tài phán, thì các chuẩn mực pháp lý quốc tế sẽ mất đi sự tin cậy và những viện dẫn tài liệu, chứng cứ của họ sẽ trở nên hoàn toàn vô nghĩa.

Bất chấp bối cảnh khó khăn này, vẫn có lý do để phản đối suy nghĩ bi quan rằng, chiến tranh trong khu vực là không thể tránh khỏi. Hội nghị Băng Đung đã chỉ ra, việc  các quốc gia quan tâm vẫn sẵn lòng tìm kiếm những giải pháp thay thế để dàn xếp những yêu sách đối kháng của họ. Trong khi có thể là quá sớm khi thấy ở Hội nghị Băng Đung những biểu hiện rõ ràng về một giải pháp mới để giải quyết những yêu sách mâu thuẫn và chồng lấn ở Biển Đông, thì có gợi ý về thiện chí giữa những người ra quyết định, có tính đến khả năng có sự hưởng ứng toàn diện của khu vực về các vấn đề biển và các vấn đề liên quan đến biển, ví dụ như việc xác định quy chế của quần đảo Trường Sa, có thể được thay vì việc trước đây vẫn dựa vào những công thức rút ra từ các nguyên tắc chung của luật quốc tế.

Do vậy, công trình nghiên cứu này sẽ triển khai từ việc thừa nhận rằng, một định nghĩa và việc vận dụng thực tế của một giải pháp mang tính khu vực để giải quyết việc phân bổ và sử dụng nguồn tài nguyên đại dương ở Biển Đông là mục tiêu có thể đạt được. Như một bước đi đầu tiên trong nỗ lực này, việc xem xét các yêu sách tạo nên tranh chấp Trường Sa trở nên cần thiết gấp đôi. Trước tiên, phải làm rõ lý do tại sao việc ngoan cố tiếp tục quyết định xem quốc gia tranh chấp nào có yêu sách hiệu lực nhất về quyền sở hữu đối với các đảo của quần đảo Trường Sa, trên cơ sở những quy tắc chung của luật quốc tế được xây dựng với mục đích xác định các yêu sách về chủ quyền lãnh thổ, sẽ chỉ đào sâu thêm sự sụp đổ trong khu vực và do đó, đẩy nhanh thêm việc các bên yêu sách đối kháng tái sử dụng các biện pháp quân sự để tăng cường các vị trí của họ trong khu vực. Thứ hai, việc nghiên cứu các yêu sách đối với quần đảo Trường Sa sẽ chứng minh, tại sao các quốc gia ven Biển Đông lại nên chuyển việc tập trung ưu tiên của họ từ việc cân nhắc sức nặng của những luận điểm mang tính pháp lý nhằm bảo vệ cho những khẳng định không chắc chắn lắm về quyền sở hữu lãnh thổ các đảo sang phân tích những quyền lợi cụ thể của họ trong việc sử dụng chính nguồn tài nguyên biển và xác định rõ chức năng của những quyền lợi như vậy sao cho phù hợp với khoảng không gian biển trong khu vực. Sau cùng, nghiên cứu tranh chấp quần đảo Trường Sa mong muốn đưa ra được một khung hữu dụng, cho phép các thực thể hữu quan tạo nên được những dàn xếp mới có hiệu quả để giải quyết các vấn đề cụ thể, trong trường hợp của họ với tư cách là những thành viên trong một khu vực địa lý có chung các lợi ích kinh tế và chính trị trong việc sử dụng một nguồn tài nguyên chung.

Vấn đề chủ quyền lãnh thổ

Ngay từ khi mới phôi thai, và trong suốt quá trình lịch sử được ghi nhận, tranh chấp quần đảo Trường Sa đã nảy sinh như một cuộc cạnh tranh giữa các quốc gia xung quanh về chủ quyền đối với vùng lãnh thổ được coi là có vị trí chiến lược để kiểm soát những con đường hàng hải và thương mại ở Biển Đông. Chỉ cho tới sau Chiến tranh thế giới II, quy mô của tranh chấp về hàng hải mới trở nên ngày càng nổi bật do kết quả sự vận động của luật quốc tế theo hướng pháp điển hoá các nguyên tắc tập quán và sự xuất hiện của xu hướng sử dụng các đại dương được đúc kết lại qua quá trình soạn thảo Luật Biển của Liên hợp quốc (UNCLOS). Cùng với việc quy chế hoá các nguyên tắc được xây dựng qua UNCLOS, giữa những người ra quyết định trong khu vực đã nảy sinh sự thừa nhận hai yếu tố cơ bản của vấn đề Biển Đông – (1) việc định rõ chủ quyền đối với các nhóm đảo tranh chấp và (2) việc phân định quyền tài phán đối với không gian biển – có mối quan hệ nội tại chặt chẽ[28]. Chỉ cho tới sau Hội nghị Băng Đung thì tính logic của một giải pháp thuần tuý về biển để giải quyết tranh chấp mới được xem xét một cách nghiêm túc[29].

Quan điểm “trước-Băng Đung” được thiết lập chủ yếu trên cơ sở thừa nhận rằng, theo các quy tắc phổ biến về việc phân định ranh giới biển, việc thiết lập quyền sở hữu đối với các đảo là điều kiện tiền đề để sử dụng chúng làm điểm cơ sở, từ đó các quốc gia ven biển xác định được phạm vi thẩm quyền trên biển tương ứng của họ. Việc nhấn mạnh, vấn đề ai có quyền sở hữu hiệu lực đối với các đảo cần phải được giải quyết trước tiên, trước khi vấn đề phân định ranh giới biển được đề cập trở thành một chính sách giữa các quốc gia cạnh tranh đối với quần đảo Trường Sa[30]. Đáng chú ý là, những nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến các tranh chấp đảo ở Biển Đông phản ánh giả thuyết này; các nghiên cứu khai thác vấn đề chủ quyền đối với các đảo không thể đưa ra được gì khác hơn là những giới hạn chung cho việc giải quyết các vấn đề liên quan đến việc phân định quyền tài phán trên biển, sau khi thừa nhận rằng, vấn đề chủ quyền vẫn chưa được giải quyết và có vẻ trở nên ngày càng khó hơn[31].

Việc xem xét những chính sách đang tồn tại về những yêu sách quyền sở hữu hay chủ quyền chồng lấn đối với quần đảo Trường Sa cho thấy, những cơ sở pháp lý của họ chủ yếu xoay quanh ba căn cứ đã được thừa nhận và phát triển trong pháp luật quốc tế, như “các cơ sở của danh nghĩa” cho việc thụ đắc lãnh thổ. Trước tiên, bài viết này sẽ cố gắng giải thích tại sao, việc áp dụng chi tiết các cơ sở này của các bên yêu sách nhằm tạo nên các luận điểm pháp lý, ủng hộ cho những vị thế tương ứng của họ đã không dẫn đến việc giải quyết một cách triệt để yếu tố lãnh thổ của tranh chấp Trường Sa. Thứ hai, cũng trình bày tại sao việc tìm kiếm một giải pháp như vậy, thông qua sử dụng cuộc cạnh tranh về chứng cứ, khi mỗi quốc gia quan tâm cố gắng kiến lập sự tuân thủ các tiêu chuẩn pháp lý để chứng minh chủ quyền lãnh thổ, sẽ không chỉ là vô nghĩa, mà thậm chí còn làm kéo dài tranh chấp, như nguồn mâu thuẫn không ngừng giữa những bên hoạt động trong khu vực.

1. Các yêu sách dựa trên danh nghĩa lịch sử

Trong số các bên tranh chấp quần đảo Trường Sa, chỉ có Trung Quốc và Việt Nam là đưa ra được yêu sách có thể tin cậy về chủ quyền trên cơ sở danh nghĩa lịch sử[32]. Cơ bản, điều này có nghĩa, mỗi quốc gia này đều duy trì ý kiến của họ cho rằng, người của họ là những người đầu tiên phát hiện, xây dựng, và quản lý quần đảo, do vậy, kết quả nó đã trở thành một phần lãnh thổ của họ.

Tuyên bố công khai đầu tiên của Trung Quốc về yêu sách đối với các đảo ở Biển Đông nằm trong tuyên bố của Bộ trưởng Ngoại giao lúc đó là Chu Ân Lai ngày 15/8/1951, ba tuần trước khi kết thúc Hội nghị Hoà bình San Francisco và ký kết Hoà ước với Nhật Bản, theo đó Nhật Bản từ bỏ mọi yêu sách chủ quyền của họ đối với quần đảo Trường Sa cũng như với Đài Loan, Đông Sa, Bãi Trung Sa, quần đảo Pescadores và quần đảo Hoàng Sa. Trung Quốc và Đài Loan đã bị loại khỏi hội nghị theo thoả hiệp giữa một bên là Mỹ và Vương quốc Anh và một bên là Liên Xô khi các nước này không thể thoả thuận được với nhau theo uỷ nhiệm thư nào của Trung Quốc, Bắc Kinh hay Nangking/Đài Bắc được chấp nhận tham gia hội nghị. Tuyên bố của Chu Ân Lai có nội dung sau:

Dự thảo (Hoà ước) quy định rằng, Nhật Bản sẽ từ bỏ mọi yêu sách đối với đảo Nam Uy (Trường Sa) và quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa), nhưng không đề cập đến vấn đề phục hồi chủ quyền. Trên thực tế, quần đảo Hoàng Sa và đảo Trường Sa, cũng như toàn bộ quần đảo Trường Sa, và các quần đảo Chung-sha (bãi Macclesfield), và Tung-sha (Pratas, Đông Sa) luôn luôn là lãnh thổ của Trung Quốc. Mặc dù chúng bị đế quốc Nhật Bản chiếm đóng một thời gian trong chiến tranh nhưng đã được chính phủ Trung Quốc tiếp quản sau khi Nhật Bản đầu hàng. Chính quyền Nhân dân Trung ương của Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa tuyên bố như sau: chủ quyền không thể xâm phạm của Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa đối với đảo Trường Sa và quần đảo Hoàng Sa sẽ không bị suy giảm, dù cho Anh và Mỹ soạn thảo hoà ước với Nhật Bản có bất cứ sự điều chỉnh nào khác hay có tính chất tương tự như vậy[33].

Phân tích tuyên bố của ông Chu, báo Nhân Dân Trung Hoa đăng tải một bài viết trích dẫn các tài liệu làm bằng chứng cho yêu sách lịch sử của Trung Quốc đối với các đảo ở Biển Đông như “Wujing Zongyao” có từ thế kỷ 11 thời nhà Tống, việc phát hiện trên các đảo những đồng tiền xu và các đồ tạo tác khác từ thế kỷ 14 thời nhà Minh và những tài liệu ghi nhận về các cuộc tuần tiễu hải quân trong khu vực của những nhà hàng hải Trung Hoa như Phó Thống đốc Wushing trong thế kỷ 18 dưới triều nhà Thanh[34]. Trong một tài liệu sau này của Bộ Ngoại giao có tên “Chủ quyền không thể tranh cãi của Trung Quốc đối với các quần đảo Tây Sa (Xisha) và Nam Sa (Nansha)” ban hành ngày 30/1/1980, Trung Quốc tìm cách thiết lập yêu sách của mình trên cơ sở những bằng chứng cổ xưa hơn qua việc trích dẫn hai quyển sách mang tên “Nanzhou Yiwuzhi” và “Funanzhuan” có từ thế kỷ 3 thời kỳ Tam Quốc để chứng minh rằng, người Trung Quốc là những người đầu tiên khám phá ra quần đảo Trường Sa và quần đảo Hoàng Sa và khai thác các nguồn lợi của chúng[35].

Về phía mình, Việt Nam đã tuyên bố và mở rộng yêu sách lịch sử của họ đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa trong hai quyển “Sách Trắng” do Bộ Ngoại giao Việt Nam Dân chủ Cộng hoà xuất bản lần lượt vào các năm 1979 và 1982, mỗi quyền sách đều khẳng định “Chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”[36]. Cả hai tài liệu đều trích dẫn năm bằng chứng nhằm thiết lập các yêu sách lịch sử của Việt Nam, tất cả đều gắn với các hoạt động dưới triều nhà Nguyễn, trước tiên với tư cách là người thống trị phía Nam Việt Nam, sau đó được gọi là Cochinchina (Đàng Trong) trong thế kỷ 17, và sau này với tư cách là hoàng đế An Nam, được thiết lập bằng sự thống nhất Đàng Trong và Đàng Ngoài ở phía Bắc trong thế kỷ 19. Bằng chứng cổ nhất là một bản đồ của vùng Quảng Ngãi, miền Nam Việt Nam, xác nhận một bãi cát ngầm được gọi là “Bai Cat Vang” ở “Biển Đông”, nơi hoạt động cứu hộ đã được thực hiện nhân danh các hoàng tử nhà Nguyễn. Bản đồ này được lưu trong tập bản đồ “Hồng Đức”, một tập hợp bản đồ của Việt Nam được soạn vào khoảng giữa năm 1460 và 1497, nhưng chỉ đến thế kỷ 17 mới được biên soạn[37]. Các mục khác trong các quyển “Sách Trắng” được trích dẫn làm bằng chứng cho mối liên hệ của Việt Nam với các đảo ở Biển Đông, đã ghi nhận sự phát triển quyền lợi của người Việt Nam trong hoạt động kinh doanh cứu hộ có lợi ở các đảo[38] và những nỗ lực của các ông vua triều Nguyễn trong việc thăm dò các đảo, nhằm mục đích đánh giá các nguồn tài nguyên của chúng[39].

Trong khi nhìn chung có thể thừa nhận rằng, về mật độ và tính lâu đời, thì những tài liệu lịch sử mà Trung Quốc dựa vào để tạo nên cơ sở có vẻ hợp lý nhất hỗ trợ cho cái gọi là phát hiện và khai thác các quần đảo ở Biển Đông sớm nhất, những tài liệu lịch sử này lại không ủng hộ một cách vững chắc cho vị trí của Trung Quốc vì nó còn nhiều vấn đề về bằng chứng và ngữ văn[40].

a. Vấn đề bằng chứng

Trước tiên, Trung Quốc cần phải giải quyết vấn đề xác định một cách rõ ràng những đảo mà họ yêu sách là do mình phát hiện và khai thác. Những tài liệu sớm nhất của Trung Quốc không đề cập trực tiếp đến quần đảo Trường Sa, mà chỉ xác định một cách chung chung các điểm với những cái tên như “Ch’ien-li changsa” và “Wan-li Shih T’ang” ở “các biển phía Nam”, quanh khu vực mà bây giờ được biết đến là quần đảo Hoàng Sa và gần với đảo Hải Nam của Trung Quốc hơn bất kỳ đảo nào thuộc Trường Sa, quần đảo nằm xa hơn ngoài biển[41]. Xu hướng này phù hợp với quan niệm rằng, hầu hết các tài liệu lịch sử ban đầu mô tả về khu vực Biển Đông ghi nhận các điểm trên bờ biển nhiều hơn là trên đại dương hay các con đường biển[42]. Hơn nữa, những nỗ lực nhằm lập bản đồ chính xác của khu vực bên ngoài các con đường ven biển sau thế kỷ 15 đã mất đi động lực của nó, khi nhà Minh của Trung Quốc từ bỏ việc bảo trợ các cuộc thám hiểm biển như những cuộc thám hiểm do đô đốc Cheng Ho thực hiện trước đó, và thay vào đó, bắt đầu có xu hướng hướng nội và mất đi vị trí thống lĩnh của họ trên những con đường vận tải biển ở Biển Đông[43]. Đề cập cụ thể lần đầu tiên trong tài liệu của Trung Quốc về một nhóm đảo ở phía Nam và cách xa quần đảo Hoàng Sa nay được xác định với một tên ghép là “Wan-li ch’ang- sha” chỉ xuất hiện năm 1730, trong một cuốn sách do Ch’en Lun-chiung xuất bản với tựa đề “Hai-kuo wen-chien lu” hay “Thắng cảnh và âm thanh của các nước ven biển”, theo đó chúng được gọi, vẫn chỉ với cụm từ chung là “Ch’ien-li shih-t’ang” hay “Bãi ngầm vạn lý”[44]. Điều này rõ ràng không đủ để xác định quần đảo Trường Sa nếu như ta xem xét số lượng các đảo và không gian biển được yêu sách là thuộc về chúng. Sự thiếu cụ thể trong việc xác định quần đảo Trường Sa vẫn tiếp diễn cho mãi tới năm 1820, khi Yang Ping-nan xuất bản cuốn “Ha-lu” hay “Các nguồn tài nguyên biển”, theo đó quần đảo Hoàng Sa hay “Wan-li ch’ang-sha” được xác định là điểm phân luồng giao thông, hay ranh giới giữa những con đường “bên trong” và “bên ngoài” ở Biển Đông, nối liền Canton và Batavia và cũng là vành đai bảo vệ phía ngoài của Việt Nam[45]. Trái với mô tả chi tiết này về vị trí của quần đảo Hoàng Sa, cuốn Hai lu hạn chế miêu tả về quần đảo Trường Sa hay “Ch’ien-li shih-t’ang”, chỉ đơn giản là ở “phía Nam của biển Ch’i-chou” và “ phía Tây của Lu-sung” – đảo Luzon của Philippin[46]- và do vậy gây nên sự hiểu biết không rõ ràng trong giới các học giả và các nhà hàng hải đương thời về kích thước cụ thể của quần đảo Trường Sa[47].

Việt Nam cũng vấp phải vấn đề về bằng chứng như vậy. Nguồn tài liệu sớm nhất được trích dẫn trong Sách Trắng của Việt Nam gộp cả quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa dưới cái tên chung là “Hoàng Sa”, “Đại Trường Sa” và “Vạn lý Trường Sa”, dù rằng “Hoàng Sa” hiện nay được sử dụng để chỉ quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam nhiều nhất. Sự lẫn lộn về thuật ngữ này đã giúp cho Việt Nam khẳng định rằng, tất cả các tài liệu ban đầu đề cập đến hoạt động cứu hộ và đánh cá ở trong và xung quanh quần đảo Hoàng Sa cũng đề cập đến những hoạt động tại quần đảo Trường Sa, vì sự xác định của địa phương về quần đảo Hoàng Sa ghi nhận trong các tài liệu này có bao gồm cả quần đảo Trường Sa. Tuy nhiên, lập luận này không thuyết phục, vì thực tế vị trí địa lý cụ thể của quần đảo Trường Sa và quần đảo Hoàng Sa tạo nên cơ sở vững vàng để lập luận rằng, mỗi quần đảo đều khác biệt hẳn với quần đảo kia về mặt địa lý[48]. Thay vào đó, lập luận rằng, việc đề cập đến các hoạt động ở quần đảo Hoàng Sa cũng đề cập chung đến các hoạt động trên toàn bộ khu vực Biển Đông có vẻ như là một cố gắng yếu ớt nhằm che khuất các tài liệu lịch sử chỉ ra rằng, các hoạt động này diễn ra là chỉ ở quần đảo Hoàng Sa. Tính không xác thực của lập luận như vậy trên cơ sở vận dụng những cái tên được chứng tỏ trong thực tế là nó có thể dễ dàng quay trở lại chống lại chính những người sử dụng nó. Ngay từ cuối những năm 1950, Trung Quốc và Philippin đã cố đưa ra lập luận rằng, những yêu sách của họ đối với nhóm đảo “Nam Sa” và “Kalayaan” không hề ảnh hưởng gì đến “Trường Sa” của Việt Nam vì những cái tên này đề cập đến một nhóm đảo khác với nhóm đảo mà Việt Nam yêu sách.[49]

Sự thiếu tính cụ thể và phân biệt giữa các quần đảo tranh chấp ở Biển Đông thể hiện trong các tài liệu lịch sử mà Trung Quốc và Việt Nam dựa vào đã đưa đến kết luận, dù rằng bản đồ thực tế của khu vực tới giữa thế kỷ 19 đã trở nên rõ ràng hơn, thì những số liệu có được vẫn chỉ đề cập đến những nhóm đảo ở ngoài khơi xa.[50]

Sự mơ hồ của các tài liệu lịch sử còn kèm theo những nghi ngờ về tính xác thực của bản thân các tài liệu đó. Chú ý rằng, những yêu sách hiện đại về danh nghĩa lịch sử chưa bao giờ được chính thức hoá bằng những công cụ pháp lý không thể bác bỏ được và có hiệu lực ràng buộc không bị tranh cãi[51]. Kết quả là có nhiều cơ hội và động cơ mạnh mẽ, thúc đẩy các bên yêu sách tiếp tục tìm kiếm các chứng cứ có thể chứng minh cho sự tồn tại một mối liên hệ lịch sử lâu dài với quần đảo Trường Sa, bất chấp có thể xác minh được hay không. Việc so sánh xem Trung Quốc đã làm như thế nào để “cụ thể hoá” yêu sách lịch sử của họ đối với các quần đảo ở Biển Đông, trong khoảng thời gian giữa tuyên bố năm 1951 của ông Chu và thông cáo của Bộ Ngoại giao năm 1980 về quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho thấy sự linh hoạt, theo đó những tài liệu như vậy có thể mở rộng ra, bao gộp chứng cứ về mối liên hệ mà họ yêu sách, biện luận là mang tính cổ xưa nhưng lại chỉ mới “phát hiện gần đây”[52]

b. Xét về luật đương thời

Ngoài những mối quan tâm về sự xác thực và tính chính xác của các tài liệu lịch sử tương ứng, cả Trung Quốc và Việt Nam buộc phải giải quyết một vấn đề mang tính nền tảng, hơn là liệu những bằng chứng danh nghĩa lịch sử có còn có sức nặng nào trong việc coi đó là một hình thức thụ đắc lãnh thổ. Một điều theo các nguyên tắc của luật quốc tế hiện đại đã được xác định rõ, là việc phát hiện lãnh thổ mới không mang lại cho người phát hiện ra nó danh nghĩa quyền sở hữu không thể bác bỏ, mà nó chỉ tạo nên danh nghĩa ban đầu và danh nghĩa này cần phải được củng cố thêm bằng việc chiếm hữu liên tục, hiệu lực sau đó[53]

Việc áp dụng nguyên tắc hiện đại này, dựa trên tiêu chuẩn “chiếm hữu” để đánh giá liệu yêu sách và những hành động tiền hiện đại của Trung Quốc và Việt Nam có đủ để thiết lập một danh nghĩa hoàn hảo đối với các quần đảo bị tranh chấp, hiện đang bị coi là không công bằng do có giả thuyết cho rằng, thay vào đó các tiêu chuẩn hiện đại cho việc hình thành hay thiết lập các yêu sách cần phải được áp dụng[54]. Việc áp dụng nguyên tắc “luật đương thời” này đã được xét tới trong phán quyết trọng tài vụ đảo Palmas ngày 4/4/1928. Sau khi nhượng bộ rằng, một thực tiễn pháp lý cần phải được đánh giá dưới ánh sáng của luật đương thời với nó và không phải là luật có hiệu lực vào thời điểm tranh chấp có liên quan, khi xuất hiện hay được đưa ra giải quyết, trọng tài duy nhất, Max Huber, đã đưa ra tiêu chuẩn sau đây:

“Về vấn đề hệ thống luật nào thịnh hành tại các thời kỳ kế tiếp nhau được áp dụng trong một vụ việc cụ thể (luật đương thời), cần phải phân biệt rõ giữa việc tạo lập các quyền và sự tồn tại của các quyền. Nguyên tắc giống như vậy đối với hành vi tạo lập quyền theo luật có hiệu lực tại thời điểm mà quyền đó phát sinh, đòi hỏi sự tồn tại của quyền và sự biểu hiện liên tục của nó sẽ phải tuân theo các điều kiện mà sự phát triển của luật đòi hỏi.”[55]

Bằng việc đưa ra sự phân biệt này, Huber đã có thể kết luận rằng, vào thế kỷ 19, khi tranh chấp Palmas phát sinh, nguyên tắc chiếm hữu hiệu lực là nguyên tắc bao trùm của luật quốc tế, khẳng định việc thiết lập chủ quyền lãnh thổ. Do vậy, ông cũng kết luận, hành vi phát hiện không đủ để thiết lập chủ quyền đối với lãnh thổ tranh chấp, nếu như nó không được công nhận giá trị thông qua các hành vi chiếm hữu tiếp sau, thậm chí có sự nhượng bộ là một hành vi phát hiện hệt như vậy có thể tạo nên chủ quyền lãnh thổ cho người phát hiện với tư cách là danh nghĩa thụ đắc vào thế kỷ 16. [56].

Một thách thức ẩn chứa trong việc thực hiện nguyên tắc luật đương thời trên danh nghĩa lịch sử mà Trung Quốc và Việt Nam yêu sách là nguyên lý rằng, các yêu sách lịch sử của họ nếu được chứng minh đầy đủ bằng bằng chứng thì bản thân chúng đều đủ sức hỗ trợ cho khẳng định về chủ quyền lãnh thổ. Sự vững chắc của lập luận này trở nên rõ ràng, khi xét thấy các yêu sách muốn được đánh giá theo nguyên tắc này đã phát triển độc lập với truyền thống luật quốc tế phương Tây trên cơ sở của nó nguyên tắc luật đương thời được xây dựng nên. Vấn đề này sẽ được chứng minh rõ hơn khi xem xét dưới góc độ các hậu quả của những yêu sách lịch sử khi áp dụng luật đương thời. Bằng việc tách giá trị của chiếm hữu hiệu lực, với tư cách là một phương thức thụ đắc lãnh thổ ra khỏi việc cần có danh nghĩa lịch sử tồn tại từ trước, vụ Palmas đã đưa ra một cơ sở pháp lý, theo đó các bên thứ ba có thể xen ngang vào các yêu sách của Trung Quốc hay Việt Nam đối với quần đảo Trường Sa.

Nhưng nguyên tắc mà vụ Palmas đặt ra đối với luật đương thời chẳng có nghĩa lý gì, việc chú trọng vào các tiêu chuẩn tiền hiện đại sẽ chẳng giúp gì nhiều cho các yêu sách của Trung Quốc hay của Việt Nam về chủ quyền lãnh thổ đối với các quần đảo ở Biển Đông. Tư tưởng chính trị và pháp lý của Trung Quốc, phản ánh ảnh hưởng của luân lý Khổng giáo, quan niệm một vùng trên đó một quốc gia, hay “quốc”, có chủ quyền, không phải với chức năng của những giới hạn pháp lý, mà của tổ chức xã hội, lịch sử và sự trung thành của các thần dân[57]. Hoàng đế cai trị những thần dân chứ không phải là không gian; vùng đất cai trị được xác định như những điểm cư dân sinh sống và sử dụng. Do vậy, ranh giới phạm vi chủ quyền lãnh thổ được thể hiện ở những vùng ảnh hưởng chứ không phải ở những đường ranh giới xác định[58]. Nguyên tắc này sẽ giải thích tại sao mãi tới thế kỷ 19, vẫn không có bằng chứng nào về việc chính thức sáp nhập quần đảo Trường Sa hay Hoàng Sa vào lãnh địa do nhà Thanh, Trung Quốc cai trị[59]. Hơn nữa, ý tưởng về chủ quyền đại dương như sự mở rộng thẩm quyền chính đáng của quốc gia đối với cột nước ở biển, nếu có thì cũng chỉ đóng một phần rất nhỏ trong học thuyết chính trị và pháp lý truyền thống của Trung Quốc[60]. Chủ quyền chấm dứt trùng với sự kết thúc của bờ biển và sự vươn ra biển được giới hạn ban đầu nhằm kiểm soát việc ra vào các cảng và những con đường thủy nội địa để chống lại nạn buôn lậu và cướp biển[61]. Vùng biển không mang một giá trị chiến lược thực chất, ngoài tư cách là một vùng tiền tuyến quốc phòng và do vậy, những vùng nước khu vực, như Biển Đông, đã được coi là một phần cấu thành của vành đai bảo vệ bên ngoài[62]. Phù hợp với triển vọng hướng về đất liền đó, những tài liệu ghi chép trong giai đoạn này khẳng định, không nhiều hơn là sự công nhận về mặt địa lý các đảo ở Biển Đông là những điểm phân luồng giao thông quan trọng, là những mối nguy hiểm cho hàng hải và là những phần của một vành đai bảo vệ có thể mở rộng được cho sự bành trướng của đế chế[63]

Việt Nam cũng phải đối mặt với một vấn đề riêng biệt, nếu như yêu sách lịch sử của họ đối với các quần đảo ở Biển Đông được đánh giá bằng các tiêu chuẩn tiền hiện đại. Trong lịch sử, Trung Quốc coi Việt Nam là một nước chư hầu và do vậy, coi tất cả các lãnh thổ mà Việt Nam chiếm hữu hay thuộc quyền tài phán của Việt Nam đều nằm dưới sự thống trị của Trung Quốc. Trong khi Đàng Ngoài của Việt Nam có thể yêu sách là “độc lập” với triều đình Trung Quốc ngay từ thế kỷ thứ mười, thì họ vẫn duy trì quan hệ nghi thức triều cống ba năm một lần với hai mục đích, đảm bảo việc Trung Quốc không can thiệp vào công việc nội bộ của Đàng Ngoài và tạo nên sự hỗ trợ về mặt quân sự hay bảo vệ chống xâm lược từ bên ngoài[64]. Thậm chí vua Gia Long, vị vua đầu tiên của triều Nguyễn, An Nam vẫn tiếp tục triều cống Trung Quốc trong thế kỷ 19, một hành động có thể giải thích lý do tại sao nhà Thanh của Trung Quốc đã lờ đi những tấu chương nói rằng nhà vua đã chính thức chiếm hữu quần đảo Hoàng Sa với danh nghĩa đất nước mình năm 1816.[65]

Đến cuối thế kỷ 19, Việt Nam đã độc lập tách biệt khỏi quỹ đạo thống trị chính trị của Trung Quốc. Năm 1862, hoàng đế Tự Đức của An Nam đã ký kết một hiệp ước với Pháp, trao cho Pháp những quyền rất lớn trong vương quốc của ông ta, bao gồm cả việc nhượng ba tỉnh Nam bộ, mở cửa ba cảng của An Nam cho Pháp buôn bán, trao cho Pháp quyền đi lại trên sông Mê Kông và cam kết không chuyển nhượng bất cứ một phần lãnh thổ An Nam nào cho bất cứ một quốc gia nào khác, ngoài Pháp[66]. Năm 1874, An Nam ký một hiệp ước Hoà bình và Liên minh với Pháp, trong đó, để đổi lại sự thừa nhận của Pháp đối với độc lập và chủ quyền của họ trước bất kỳ thế lực thứ ba nào cũng như đảm bảo sự hỗ trợ về quân sự của Pháp trong trường hợp có ngoại xâm, An Nam nhường cho Pháp quyền quản lý hoạt động đối ngoại của mình[67].

Bất chấp những hành động đó, vào thời điểm này, An Nam đã không cắt đứt hoàn toàn mối quan hệ truyền thống với Trung Quốc. Nhiều khi họ yêu cầu Trung Quốc can thiệp để duy trì trật tự ở các tỉnh Bắc bộ “giáp giới” với biên giới phía Nam của Trung Quốc, làm nản lòng Pháp, kẻ đang cố gắng củng cố sự kiểm soát của họ ở Đông Dương và cũng là kẻ coi những hành vi này của An Nam là sự vi phạm nghĩa vụ của An Nam theo hiệp ước. Nhằm kiểm soát sự can thiệp liên tục của Trung Quốc vào Đông Dương, Trung Quốc và Pháp đã ký kết Hiệp định Ly – Fournier năm 1884, theo đó Trung Quốc thoả thuận tôn trọng mọi thoả thuận trong quá khứ cũng như trong tương lai giữa Pháp và An Nam và mở cửa biên giới Trung Quốc – Bắc Kỳ cho Pháp buôn bán[68]. Mặt khác, Pháp tuyên bố, khi ký kết bất ký hiệp ước nào giữa họ và An Nam, họ sẽ cố gắng tránh dùng bất cứ sự biểu đạt nào có thể gây nguy hại hay làm tổn thương đến uy tín của đế chế Trung Hoa[69]. Tuyên bố này được giải thích là tạo nên một sự công nhận gián tiếp quyền bá chủ của Trung Quốc đối với An Nam và, hệ quả là, đối với tất cả những gì mà An Nam chiếm hữu[70].

Dù không bao lâu sau đó, Hiệp định Ly – Fournier được nối tiếp bằng việc thiết lập sự bảo hộ của Pháp đối với An Nam và tất cả những gì An Nam sở hữu[71], trong thời kỳ này, An Nam tiếp tục sử dụng Trung Quốc để chống lại Pháp. Theo yêu cầu của An Nam, Trung Quốc đã cử quân đội giao chiến với Pháp năm 1885. Sau một số thắng lợi ban đầu, lực lượng của Trung Quốc đã bị đánh bại và Trung Quốc buộc phải ký một hiệp định mới với Pháp, theo đó họ thoả thuận không can thiệp vào việc Pháp quản lý hoạt động đối nội của An Nam[72]. Tuy nhiên, khác với Hiệp định Ly – Fournier được ký một năm trước, trong đó có những tham chiếu cụ thể đến việc bảo vệ uy tín của Trung Quốc, hiệp định mới đã bổ sung thêm một điều kiện với một tuyên bố tương tự của Pháp. Điều 2, đoạn 2 của Hiệp ước Thiên Tân ký ngày 9/6/1885 quy định, về những vấn đề liên quan đến mối quan hệ giữa Trung Quốc và An Nam, việc Pháp công nhận uy tín của Trung Quốc không được hiểu theo hướng trái ngược với các điều khoản của hiệp ước mới[73]. Vì vậy chỉ đến năm 1885, việc huỷ bỏ chính thức mối quan hệ triều cống truyền thống giữa Trung Quốc và Việt Nam mới chính thức có hiệu lực.

Toà án Pháp lý quốc tế đã có cơ hội xem xét tác động của các mối quan hệ chính trị phong kiến với việc đánh giá các yêu sách cạnh tranh về danh nghĩa lịch sử đối với lãnh thổ tranh chấp của các quốc gia thống trị và nước chư hầu trong quyết định ngày 7/11/1953, trong vụ Minquiers và Ecrehos. Vụ này nảy sinh từ một tranh chấp giữa Pháp và Vương quốc Anh về chủ quyền đối với một số đảo trong eo biển Măng Sơ. Trước năm 1204 sau CN, các vua của nước Anh đã được trao quyền sở hữu các đảo tranh chấp với tư cách là các công tước xứ Normandy và là chư hầu của vua Pháp. Năm 1204, một toà án của Pháp tuyên bố thu hồi những lãnh địa thuộc quyền sở hữu của triều đình Pháp mà vua nước Anh nắm giữ. Sau đó, triều đình Pháp cũng đã thu hồi việc trao đất của Pháp cho Anh. Dù cuối cùng người Pháp giành lại quyền chiếm hữu lục địa Normandy từ tay người Anh, nhưng họ không thể giành lại được quyền chiếm hữu các đảo ở eo biển Măng Sơ vẫn thuộc về người Anh, trừ trong một thời gian ngắn khi tranh chấp xảy ra. Toà án Pháp lý quốc tế quy định, dù rằng nhà vua Pháp đã có danh nghĩa phong kiến ban đầu đối với nhóm đảo Măng Sơ, nhưng danh nghĩa đó đã mất hiệu lực và hiện tại không tạo nên được một kết quả pháp lý nào. Quyết định của toà án Pháp năm 1204 được coi là không có hiệu lực thi hành, do các vua nước Pháp không trực tiếp chiếm hữu nhóm đảo vào thời điểm ban hành quyết định đó[74].

Có thể kết luận từ vụ Minquiers rằng, những mối liên hệ phong kiến của nước chư hầu sẽ không ảnh hưởng gì đến các yêu sách đối kháng của họ với nước bá chủ về quyền sở hữu đối với lãnh thổ được trao, với điều kiện là nước chư hầu tiếp tục chiếm hữu lãnh thổ một cách độc nhất và đối kháng sau khi mối quan hệ phong kiến đã bị huỷ bỏ hay chấm dứt. Trong bối cảnh tranh chấp tại quần đảo Trường Sa, công thức này đòi hỏi trước tiên phải xác định rõ, thời điểm mà việc chiếm hữu của nước chư hầu trở thành đối kháng. Nếu như việc ký kết Hiệp định Ly – Fournier tháng 5/1884 được coi là thời điểm quyết định những hậu quả của mối liên hệ phong kiến giữa Trung Quốc và Việt Nam về vấn đề chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa, thì Trung Quốc hoàn toàn có thể biện luận rằng, bất cứ yêu sách nào của Việt Nam về danh nghĩa lịch sử đối với quần đảo Trường Sa, bắt nguồn từ những hành động do nhà nước bảo trợ trước năm 1884, cần phải được coi là thuộc về quyền lợi của Trung Quốc bởi vì, trước thời điểm đó, sự thống trị của Trung Quốc với Việt Nam và những gì thuộc sở hữu của họ vẫn còn được công nhận. Mặt khác, cũng không phải Việt Nam không thể tranh luận rằng, việc gián tiếp công nhận quyền bá chủ của Trung Quốc ngụ ý trong Hiệp định Ly – Fournier chủ yếu chỉ là tượng trưng bởi vì, trước hết, trong vòng một năm Trung Quốc đã có thể từ bỏ yêu sách của mình. Kế đến, Việt Nam có thể tuyên bố rằng, mối liên hệ phong kiến giữa họ với Trung Quốc, chủ yếu là thiết lập bởi việc triều cống ba năm một lần, và việc này vào thế kỷ 19 chỉ là một cử chỉ hư danh[75] và giống như các vua nước Anh trong vụ Minquiers sau năm 1204, thời gian chiếm hữu đối kháng của họ đối với quần đảo Trường Sa đã đủ trước khi Trung Quốc chính thức từ bỏ năm 1885 để thiết lập một yêu sách lịch sử độc lập.

Những vấn đề còn chưa được giải quyết về những yêu sách lịch sử của Trung Quốc và Việt Nam đã khiến cho các học giả tin rằng, dù vị thế lịch sử của mỗi bên có như thế nào, thì cơ sở pháp lý cho cả yêu sách của Việt Nam lẫn Trung Quốc đối với quần đảo Trường Sa đều bắt đầu từ những hiệp định ký vào cuối thế kỷ 19 và từ những hoạt động của những nhà cầm quyền quốc gia quan trọng tại khu vực kể từ thời điểm đó[76]. Bất kỳ một cuộc tranh cãi tiếp theo nào về việc bên nào trong các bên yêu sách có danh nghĩa lịch sử thuyết phục hơn sẽ mãi mãi không đi đến kết quả nào và do đó là vô ích.

c. Các yêu sách lịch sử theo tuyên truyền

Trong khi có thể nhận thấy rõ xu hướng chung trong các tài liệu lịch sử các quốc gia yêu sách đưa ra, là họ đang cố gắng hành động trong khuôn khổ của tiêu chuẩn “chiếm hữu” này, thì có thể thấy, trong các tuyên bố chính thức về quần đảo Trường Sa việc họ tin tưởng vào các yêu sách lịch sử về chủ quyền. Nếu các yêu sách lịch sử như vậy không mấy quan trọng trong dự tính của cộng đồng quốc tế thì điều gì được tính đến cho việc phục hồi những lập luận về các quyền lịch sử trong tranh chấp lãnh thổ như tranh chấp quanh khu vực quần đảo Trường Sa? Vấn đề này có thể được làm sáng tỏ khi xem xét để tìm hiểu xem liệu có phải những biểu hiện kiên trì của các yêu sách này chủ yếu dự định dành cho các thính giả trong nước, nhiều hơn là cho cộng đồng khu vực với hy vọng, những lời kêu gọi về danh nghĩa lịch sử sẽ tỏ ra là công cụ hữu hiệu để động viên tinh thần dân tộc ủng hộ cho các mục tiêu chính sách ngoại giao. Các sự kiện ở cả Trung Quốc và Philippin là những ví dụ.

Sau khi Trung Quốc củng cố việc kiểm soát quần đảo Hoàng Sa vào năm 1974 bằng việc đẩy người Việt Nam ra khỏi những cứ điểm của họ ở đó, chính phủ đã mở một chiến dịch khuếch trương lớn nhằm củng cố thêm yêu sách của Trung Quốc về danh nghĩa lịch sử đối với quần đảo này. Một nhóm khảo cổ đã được cử tới Hoàng Sa để nghiên cứu “lịch sử lâu đời” của Trung Quốc duy trì mối liên hệ và kiểm soát đối với khu vực này. Nhóm này đã biên soạn và xuất bản một tài liệu về các đồ tạo tác tìm thấy ở quần đảo Hoàng Sa, phần lớn trong số đó là các đồ sứ thời đầu nhà Minh. Các “đồ tạo tác” này, lúc đó được miêu tả như sau:

“xác tàu đắm từ nhiều thế kỷ chất lên thành đống, cả tàu nước ngoài và tàu Trung Quốc… (điều này) không xác nhận và cũng không bác bỏ sự hiện diện của Trung Quốc trên quần đảo này, chưa nói tới bất kỳ sự kiểm soát giả định nào đối với các hòn đảo này trong thời cổ đại và trung cổ.”[77]

“Chứng cứ” này đã sớm tạo cơ sở cho nhiều bài báo về lịch sử của quần đảo Hoàng Sa, các triển lãm ảnh về quần đảo và hình ảnh về cuộc sống của những người lính tham gia vào cuộc viễn chinh của Trung Quốc năm 1974 để chiếm đóng Hoàng Sa[78] và thậm chí cả một bộ phim tài liệu do Quân đội Giải phóng nhân dân “PLA” sản xuất năm 1975, với tên “Các hòn đảo của Biển Đông ”. Trong suốt năm 1975, thông tấn Trung Hoa liên tục đưa các câu chuyện và hình ảnh về các đơn vị hải quân PLA và các lực lượng dân quân “anh hùng” ở Hoàng Sa.

Trong khi chủ yếu chiến dịch khuếch trương này rõ ràng nhằm vào những thính giả nước ngoài, thì nó cũng tỏ ra có cùng mục đích đối với trong nước để tăng cường sự ủng hộ của công chúng, không chỉ cho các chuyến đi của Trung Quốc tới Hoàng Sa mà còn cho chính PLA, khi nó trở thành đối tượng phê bình nghiêm khắc của “Bè lũ Bốn tên”[79]. Bằng việc chứng minh “các danh nghĩa lịch sử” của Trung Quốc đối với Hoàng Sa, ban lãnh đạo của PLA đã tìm được một cơ hội, một mặt bảo vệ họ khỏi những lời buộc tội về sự không trung thực trong chính trị và về trình độ kém cỏi trong kỹ thuật và, mặt khác, tạo nên sự đồng tình của công chúng dành cho họ cũng như làm tăng thêm nhuệ khí trong các lực lượng vũ trang[80]. Vì vậy, đáng chú ý là, dù hoạt động trong năm 1974 ở Hoàng Sa được tiến hành theo sự xúi giục của PLA, vì nó cũng được tiến hành dưới khẩu hiệu bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ, nên không bộ phận nào trong giới cầm quyền Trung Quốc, gồm cả cánh “Bè lũ Bốn tên”, dám mạo hiểm về chính trị tới mức chống lại một hoạt động như vậy nếu sự thành công đã chắc chắn[81].

Việc sử dụng quần đảo Trường Sa như một khẩu hiệu lỗi thời để đẩy mạnh chương trình hoạt động trong nước của một nhóm giới chức cụ thể đã được chứng tỏ vào ngày 25 tháng 2 năm 1992, khi Trung Quốc thông qua bộ luật về các vùng nước lãnh thổ mới, tuyên bố, một số quần đảo tranh chấp tại Biển Đông và Nam Trung Quốc, bao gồm cả quần đảo Trường Sa, là lãnh thổ Trung Quốc và bảo lưu quyền sử dụng vũ lực để đánh đuổi những kẻ xâm phạm. Các nhà quan sát đều đồng ý rằng, luật này đã được Quốc hội Nhân dân thông qua dưới sức ép của PLA[82]. Trong những tháng trước khi thông qua luật mới, Phó Chủ tịch tỉnh Hải Nam, Xin Yejiang, đã dẫn đầu một phái đoàn 25 người thực hiện một “cuộc tuần tra” của lực lượng hải quân Trung Quốc quanh Trường Sa –

để dựng lên [một] tượng đài như một biểu hiện nữa về chủ quyền [của Trung Quốc] đối với Trường Sa và vùng nước xung quanh [nó] và như là bằng chứng về quyết tâm (của Trung Quốc) bảo vệ và phát triển quần đảo Trường Sa[83].

Sau khi thông qua luật mới, ngày 22 tháng 2 năm 1992, Chính phủ Trung Quốc tuyên bố, họ sẽ tăng 13,8% ngân sách cho quân đội để phù hợp với chương trình quân sự được trang bị vũ khí kỹ thuật cao và trang thiết bị để tạo nên một hình tượng sức mạnh trên biển[84]. Tháng 4 năm 1992, trong khi tuyên bố đã đến lúc Trung Quốc điều chỉnh lại chiến lược hải quân và cố gắng hơn nữa trong việc giành lại các nguồn tài nguyên dầu lửa và khí đốt trên Biển Đông, Phó Tổng tư lệnh Hải quân Trung Quốc, tướng Zhang Xusan đã khẳng định các kế hoạch của Trung Quốc, dự định trở thành một cường quốc về hải quân trong khu vực thông qua việc phát triển thêm vũ khí hiện đại để bảo vệ các yêu sách của mình đối với các quần đảo trên Biển Đông và để hỗ trợ cho phát triển kinh tế trong vùng[85].

Phản ứng của Phillippin đối với bộ luật mới của Trung Quốc về các vùng nước lãnh thổ cũng phản ánh sự năng động giữa yêu sách của chính họ đối với Trường Sa và những nỗ lực của các bộ phận giới chức địa phương trong việc tạo nên sự ủng hộ trong nước cho các hoạt động ngoại giao khác và mục đích của chính sách quân sự. Trong các cuộc họp do Thượng nghị viện Phillippin tiến hành vào tháng 9 năm 1991, trước khi bỏ phiếu có hay không phê chuẩn hiệp ước cho phép Hoa Kỳ tiếp tục sử dụng quân đội và các căn cứ hải quân tại Phillippine, Bộ trưởng Quốc phòng Renato de Villa trình bày rằng, việc Hoa Kỳ rút quân có thể sẽ gây tác động, làm các nước láng giềng phản đối yêu sách của Phillippin đối với Trường Sa. Sau đó ông nói thêm rằng, Phillippin “chưa được chuẩn bị để đối phó với một cuộc đối đầu quân sự nổ ra tại Trường Sa”[86]. Tổng thống Phillippin Corazon Aquino đã công khai tuyên bố ủng hộ phê chuẩn hiệp ước này, nhưng một nhóm thượng nghị sỹ, có đủ số phiếu làm thất bại việc phê chuẩn, cũng công khai biểu lộ ý định của họ là bỏ phiếu chống lại hiệp ước. Trong khi ấy, Hoa Kỳ tuyên bố, họ sẽ rút 8.000 quân nhân còn lại khỏi Phillippin, nếu Thượng nghị viện không phê chuẩn hiệp ước[87].

Dù cho Thượng nghị viện bác bỏ hiệp ước đề xuất ký kết với Hoa Kỳ, một số nhà hoạch định chính sách của Phillippine vẫn tiếp tục gắn sự bất lực của Phillippin trong việc bảo vệ yêu sách của mình bằng quân sự với sự cần thiết phải giữ lại một hình thức tiếp tục hiện diện nào đó của quân đội Hoa Kỳ tại Phillippine. Việc Trung Quốc ban hành luật lãnh hải mới đã đủ để tạo nên động cơ cho việc mở lại cuộc tranh luận trong giới chức chính phủ Phillippin. Ngày 2 tháng 3 năm 1992, Phó Tổng thống Phillippin Salvador Laurel tuyên bố trong một cuộc phỏng vấn truyền hình rằng, việc rút quân của Hoa Kỳ khỏi căn cứ tại Phillippin, đã để Philippin trở nên “trơ trọi về chiến lược” và có lẽ, không thể đảm trách được việc tự phòng thủ[88]. Trong khoảng thời gian này, những nguồn tin khác từ chính phủ Phillipin gợi ý rằng, dù cho hiệp ước bị bác bỏ và Hoa Kỳ chuyển giao các căn cứ quân sự cho Philippin, Philippin vẫn có thể dành cho Hoa Kỳ một hình thức nào đó để “tiếp tục tiếp cận” các căn cứ đó theo các điều khoản của Hiệp ước Phòng thủ chung giữa hai nước[89].

Dù chưa bao giờ đạt được thoả thuận dàn xếp cho việc tiếp cận này, những nhà hoạch định chính sách Philippin vẫn tiếp tục gắn việc bảo vệ yêu sách đối với Trường Sa của Philippin với cách giải thích của họ về cam kết của Hoa Kỳ theo Hiệp ước Phòng thủ chung. Ngày 3 tháng 3 năm 1992, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng De Villa tuyên bố, Philippin đã bắt đầu một chương trình hiện đại hoá 10 năm để phát triển lực lượng không quân và hải quân của mình. Tuy nhiên, ông nói thêm, dù có sự nỗ lực này, Philippin vẫn còn nhiều khó khăn trong việc tự phòng thủ chống lại sự xâm lược từ bên ngoài, đặc biệt là ở Trường Sa và vì vậy, trong trường hợp bị tấn công, hy vọng “Hoa Kỳ… tới giúp đỡ chúng ta trong việc bảo vệ (Trường Sa)… theo các điều khoản của Hiệp ước Phòng thủ chung.”[90] Điểm này sau đó đã được Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Raul Manglapus nhắc lại[91].

Các điều khoản liên quan của Hiệp ước Phòng thủ chung giữa Hoa Kỳ và Philippin có nêu như sau :

Điều IV

Mỗi bên công nhận, một cuộc tấn công vũ trang tại khu vực Thái Bình Dương đối với bất cứ Bên nào đều là nguy hiểm đối với hoà bình và an ninh của chính họ và tuyên bố, sẽ hành động để giải quyết mối nguy hiểm chung theo trình tự hiến pháp của họ quy định.

Bất kỳ một cuộc tấn công vũ trang nào như vậy và mọi biện pháp được tiến hành do kết quả của việc này, sẽ được thông báo ngay tới Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Các biện pháp này sẽ chấm dứt khi Hội đồng Bảo an áp dụng những biện pháp cần thiết để khôi phục và gìn giữ hoà bình và an ninh thế giới.

Điều V

Vì mục đích của Điều IV, một cuộc tấn công vũ trang được coi là bao gồm việc tấn công vũ trang vào lãnh thổ chính của bất cứ bên nào, hay vào các lãnh thổ trên các đảo thuộc quyền tài phán của họ trên Thái Bình Dương, hay vào các lực lượng vũ trang, tàu thuyền công cộng và máy bay của họ trên Thái Bình Dương[92].

Những điều trên chứng tỏ, Hoa Kỳ không hề có một cam kết rõ ràng sẽ “bảo vệ” Philippin nếu Trường Sa, hay, thực tế là bất kỳ phần lãnh thổ nào của Philippin, bị một lực lượng thứ ba tấn công. Một hành động như vậy sẽ chỉ được coi là “nguy hiểm” khi Hoa Kỳ cho là như vậy và phản ứng phù hợp sẽ phải tùy thuộc vào việc tuân thủ “các trình tự hiến pháp” của Hoa Kỳ. Một lời tuyên chiến, hay thậm chí là một quyết định cử các đơn vị quân đội để giúp đỡ Philippin, đầu tiên phải có sự nhất trí giữa Tổng thống và Thượng nghị viện Hoa Kỳ về sự đúng đắn của hành động đó. Thứ hai, định nghĩa vùng trong Điều V về nơi mà cuộc tấn công vũ trang như vậy bị coi là nguy hiểm, thì cũng khá mù mờ để chứng minh rằng, vùng này không động chạm tới Trường Sa.

Dù Hoa Kỳ đã công khai tuyên bố rằng, họ phản đối việc sử dụng vũ lực bởi bất cứ bên nào để ủng hộ yêu sách của họ đối với Trường Sa, Hoa Kỳ vẫn chưa chính thức ủng hộ yêu sách của Philippin hay bất cứ bên nào khác. Thay vào đó, Hoa Kỳ gợi ý rằng Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (“ASEAN”) huy động áp lực chính trị để ngăn cản bất cứ quốc gia nào muốn hành động như vậy bởi vì,

“về quần đảo Trường Sa, có một lịch sử về các nghĩa vụ quốc tế, các cam kết [mà Hoa Kỳ] đưa ra và chúng giới hạn chính xác những gì [họ] có thể làm.”[93]

Tuy nhiên, có tin rằng, các nguồn tin “không chính thức” từ Đại Sứ quán Hoa Kỳ tại Manila đã thẳng thừng khẳng định, Hoa Kỳ không có nghĩa vụ giúp Philippin nếu Trường Sa bị tấn công vì Trường Sa là lãnh thổ bị tranh chấp[94].

Những thảo luận trên đây chứng tỏ các yêu sách lịch sử có thể hữu ích như thế nào đối với giới chức địa phương, hay các phân nhóm trong giới chức đó, vì họ dễ dàng vận dụng chúng làm các phương tiện tuyên truyền để tạo nên sự ủng hộ cho các quyết định về chính sách đối ngoại, cụ thể qua việc kêu gọi các tình cảm dân tộc chủ nghĩa. Kết quả của việc thực hiện chiến lược này rất đa dạng. Tại Trung Quốc, nó đã giúp củng cố vững chắc cơ sở sức mạnh trong nước của PLA, trong khi tại Philippin có thể nó đã đánh lừa các nhà hoạch định chính sách, khiến cho họ đưa ra những quy kết vô trách nhiệm và nguy hiểm rằng, bất kể mối quan tâm đã bị giảm sút nhiều đối với Philippin của các nhà chiến lược Hoa Kỳ do việc tháo dỡ các căn cứ quân sự và hải quân ở đó, Hoa Kỳ vẫn sẽ ủng hộ về quân sự cho Philippin để đẩy lùi bất cứ cuộc tấn công nào của lực lượng thứ ba vào phần quần đảo Trường Sa mà Philippin yêu sách. Dẫu sao, rõ ràng những lời kêu gọi về danh nghĩa lịch sử này không thể tạo nên một cơ sở chấp nhận được cho việc giải quyết vấn đề chủ quyền đối với việc tranh chấp quần đảo Trường Sa. Do vậy, nên từ bỏ việc kiểm tra các tài liệu lịch sử để chuyển sang phân tích một cách nghiêm túc hơn hai cơ sở pháp lý khác làm cơ sở ủng hộ các yêu sách về chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa.

2. Những yêu sách phát sinh từ các hiệp định quốc tế

Trong một trăm năm qua, các quốc gia tranh giành chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa đã có một số cơ hội để giải quyết tranh chấp bằng cách cam kết tham gia dưới một vài hình thức của hiệp định quốc tế nào đó; đến nay, họ vẫn chưa thể làm được điều này. Mặc dù đã có một vài hiệp định quốc tế có ý định giải quyết quy chế của Trường Sa, cũng như các quần đảo khác trên Biển Đông, nhưng ngôn ngữ được dùng trong các hiệp định đó còn bỏ ngỏ, đến mức một sự phân tích đơn giản theo đúng nguyên văn sẽ không đạt được một giải pháp mong muốn. Ngược lại, sự quá tối nghĩa của chúng đã làm cho các bên tranh chấp có đủ thời gian để giải thích ngôn ngữ của cùng một hiệp định theo cách có lợi cho các yêu sách cụ thể của họ và tất nhiên mâu thuẫn với nhau. Vấn đề trên cho thấy, sự thất bại của các hiệp định quốc tế hiện có về Trường Sa trong việc giải quyết vấn đề về quy chế của nó là hậu quả của việc soạn thảo không chính xác và cũng do những cố gắng có ý thức đã không cản trở được các bên tranh chấp theo đuổi lợi ích chiến lược riêng trong khu vực này.

a. Các hiệp định thuộc địa

Gần cuối thế kỷ 19, mối quan hệ chính trị giữa Trung Quốc và Việt Nam trải qua một sự thay đổi căn bản. Năm 1874, Pháp và nhà Nguyễn đã thoả thuận đặt An Nam dưới sự bảo hộ của Pháp. Năm 1885, Trung Quốc đã ký các hiệp ước với Pháp công nhận hiệp định bảo hộ Pháp – An Nam và từ bỏ yêu sách về chủ quyền đối với An Nam và những vùng mà họ chiếm hữu[95]. Theo các hiệp định đó, Pháp được trao quyền đại diện cho Việt Nam trong tất cả các công việc đối ngoại, cũng như bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam khỏi các mối đe doạ từ bên trong và sự xâm lược từ bên ngoài. Tuy nhiên, phạm vi cụ thể của vùng nằm dưới quyền tài phán của Pháp vẫn chưa được xác định cho tới khi ký kết Công ước Pháp – Thanh ngày 26 tháng 6 năm 1887, ấn định biên giới giữa Trung Quốc và Bắc Kỳ[96]. Để phân chia thẩm quyền lãnh thổ, Công ước Phân định Biên giới 1887 đã quy định, các hòn đảo nằm ở phía Đông của đường kinh tuyến Paris 150043’ kinh tuyến Đông[97], theo hướng đường Bắc Nam đi qua điểm cực Đông của Trà Cổ sẽ thuộc về Trung Quốc, trong khi đảo Cô Tô và tất cả đảo khác nằm phía Tây kinh tuyến đã chỉ định sẽ thuộc về An Nam[98].

Trung Quốc giải thích định nghĩa về đường thẳng trên và duy trì nó, cho rằng tất cả các quần đảo tranh chấp trên Biển Đông đều nằm phía Đông đường ranh giới, như vậy chúng thuộc phạm vi thẩm quyền của Trung Quốc. Việt Nam không công nhận sự giải thích này vì nó trái với mục đích ban đầu của hiệp định. Đầu tiên, phải lưu ý là đường được chỉ định đã không xác định được điểm tận cùng theo vĩ tuyến Bắc và Nam, vì vậy, khi kéo dài vô hạn về phía Nam, có thể cuối cùng sẽ cắt đất liền của Việt Nam[99]. Vì vậy Việt Nam tranh luận, nếu Công ước Phân định Biên giới 1887 có tính đến việc kéo dài đường biên đi qua miền Trung đất đai Việt Nam, thì nên coi việc phân chia quyền tài phán chỉ đối với các đảo kế cận bờ biển miền Trung Việt Nam mà không nên coi đó là sự giải quyết quyền sở hữu đối với các quần đảo giữa đại dương cách bờ vài trăm km[100]. Lập luận của Việt Nam dường như có giá trị bởi thực tế, Công ước Phân định Biên giới 1887 không xác định cụ thể, quần đảo Trường Sa hay quần đảo Hoàng Sa nằm trong số các đảo mà các quốc gia ký kết thoả thuận phân chia. Năm 1895, Trung Quốc và Pháp đã ký kết Hiệp ước Bắc Kinh sửa đổi một số đường biên giới ấn định trong Công ước Phân định Biên giới 1887 theo kiến nghị của uỷ ban kỹ thuật chung được thành lập theo công ước, tuy nhiên, không hề sửa đổi gì về sự xác định đường phân chia các đảo giữa Trung Quốc và An Nam[101]. Thay vào đó, Trung Quốc và Pháp đồng ý duy trì nguyên trạng trong khu vực tới chừng mực nào còn phù hợp với các điều khoản trong Hiệp ước 1895[102], vì vậy đã làm kéo dài mãi việc không xác định chủ quyền đối với các quần đảo trên Biển Đông.

Tính nhạy cảm của Công ước Phân định Biên giới 1887 đối với các cách giải thích mâu thuẫn phức tạp[103] đã tạo ra cho cả Trung Quốc và Pháp những khe hở pháp lý cần thiết để biện minh cho luận điểm của mình trong cuộc tranh luận đang diễn ra về chủ quyền với các quần đảo trên Biển Đông. Tình trạng này bao trùm cho tới tháng 4 năm 1939, khi Nhật Bản, nước có ưu thế về quân sự và sức mạnh hải quân ở châu Á đã chiếm hữu cả quần đảo Trường Sa và quần đảo Hoàng Sa, đổi tên chúng thành “Shinnan Gunto” hay “Quần đảo mới phía Nam” và đặt chúng dưới sự quản lý của Toàn quyền Nhật Bản tại Đài Loan[104]. Nhật Bản đã thành lập các căn cứ không quân, hải quân và trạm sửa chữa cũng như các trạm khí tượng và phát thanh trên quần đảo Trường Sa và sử dụng căn cứ tầu ngầm trên đảo Itu Aba (Ba Bình) để ngăn chặn đường hàng hải quốc tế và để củng cố tầm kiểm soát của mình trên khu vực Biển Đông.

Trong khi việc Nhật Bản chiếm hữu quần đảo Trường Sa, dẫn đến việc thiết lập nhiều căn cứ hạ tầng cơ sở hiện đại, và lần đầu tiên đặt toàn bộ việc quản lý đối với khu vực này dưới một thực thể duy nhất, thì sự thất bại của Nhật Bản sau Thế chiến II lại nhóm lên cuộc tranh cãi đối với các quần đảo trên Biển Đông. Tuy nhiên, vào thời gian này đã có một cơ hội khác cho các quốc gia có liên quan giải quyết dứt khoát vấn đề chủ quyền. Nhưng, cũng như trường hợp vào cuối thế kỷ 19, cơ hội này sau này đã không được sử dụng. Tuy nhiên, hiện nay, quy chế của Trường Sa đã trở thành con mồi cho những động lực thúc đẩy “chiến tranh lạnh”.

b. Hòa ước San Francisco với Nhật Bản

Quy chế của các lãnh thổ do Nhật Bản chiếm đóng trong chiến tranh đã được quyết định trong Hội nghị ký kết Hoà ước với Nhật Bản tổ chức tại San Francisco từ ngày 4 đến ngày 8 tháng 9 năm 1951. Hội nghị này là một hội nghị ký kết, không phải là hội nghị đàm phán. Các điều khoản của dự thảo hiệp ước được trình trước các đại biểu tham dự đã được đàm phán trong một khoảng thời gian 11 tháng, có mặt Hoa Kỳ, với tư cách Lực lượng Chiếm đóng Nhật Bản, chủ trì việc thảo luận với các lực lượng Đồng minh khác[105]. Hoa Kỳ và Anh quốc sau đó cùng nhau bảo trợ cho dự thảo hiệp ước cuối cùng, hiệp ước mà sau đó được 49 trên 52 đại biểu thông qua, coi như văn bản cuối cùng của Hội nghị. Hoà ước San Francisco quy định tại Điều 2, Chương 2 rằng,  Nhật Bản từ bỏ mọi quyền, danh nghĩa và yêu sách đối với 6 nhóm lãnh thổ trên các khu vực Thái Bình Dương và Biển Đông, bao gồm cả Trường Sa và Hoàng Sa[106]. Điểm nổi bật nhất trong việc từ bỏ của Nhật Bản là không hề có sự uỷ thác hoặc để lại quyền kế thừa cụ thể nào các lãnh thổ từ bỏ cho các bên yêu sách. Điều này bất chấp thực tế là, trước và trong Hội nghị Hoà bình San Francisco, Philippin[107] và Việt Nam[108] đã tuyên bố yêu sách về chủ quyền đối với Trường Sa. Cả Trung Quốc và Đài Loan đều không được mời tham gia Hội nghị Hoà bình San Francisco vì Hoa Kỳ, Anh quốc và Liên Xô đã không đồng ý với những điều uỷ nhiệm thư của Trung Quốc đưa ra về các quyền, các danh nghĩa và các yêu sách của Trung Quốc. Tuy nhiên, Liên Xô đề xuất một sửa đổi có thể khiến Hiệp ước Hoà bình San Francisco tạo nên sự thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với Đài Loan, Đông Sa, Pescadores, Hoàng Sa, Trường Sa và Trung Sa[109]. Tuy nhiên, đề nghị này đã bị bác bỏ một cách áp đảo bởi 46 trên 52 nước thành viên tham dự phản đối Liên Xô, Tiệp Khắc và Ba Lan từ chối ký vào Hoà ước[110]. Nhằm bảo lưu các yêu sách của mình, ông Chu Ân Lai đã đưa ra lời tuyên bố tháng 8 năm 1951, đơn phương khẳng định chủ quyền của Trung Quốc đối với các quần đảo tranh chấp[111].

Nhằm bổ sung cho sự im hơi lặng tiếng nói trên của Hoà ước San Francisco, các bên yêu sách đã chuyển sang các hiệp định quốc tế khác mà một vài bên trong số họ đã ký kết từ trước hay sau này, để làm chỉ dẫn cho việc giải quyết vấn đề uỷ thác. Việt Nam tranh luận rằng, nếu các điều khoản của Hiệp ước Hoà bình San Francisco được đọc cùng hai hiệp định trước đó giữa các nước Đồng minh, thì rõ ràng là Trung Quốc không có yêu sách vững vàng đối với cả Trường Sa lẫn Hoàng Sa[112]. Việt Nam trích dẫn Tuyên bố Cairo ngày 27 tháng 11 năm 1943 do Anh quốc, Hoa Kỳ và Trung Hoa Dân quốc của Tưởng Giới Thạch tuyên bố rằng, mục đích của các lực lượng Đồng minh là tước đoạt của Nhật Bản “mọi đảo trên Thái Bình Dương do Nhật Bản chiếm hữu hay chiếm đóng từ đầu Thế chiến I năm 1914, và mọi lãnh thổ mà Nhật Bản đã lấy của Trung Quốc, như Manchuria, Formosa và Pescadores, sẽ được trả về cho Cộng hoà Trung Hoa,”[113]mà không hề đề cập đến Trường Sa hay Hoàng Sa. Việt Nam nhấn mạnh, sự thiếu sót này trong Tuyên bố Cairo, sau đó được xác nhận trong Tuyên bố Posdam do Liên Xô, Anh và Hoa Kỳ đưa ra vào 26 tháng 7 năm 1945[114], đã tạo nên sự công nhận của quốc tế rằng, không có một quần đảo tranh chấp nào là lãnh thổ của Trung Quốc. Bằng sự phân biệt giữa một bên là “các đảo trên Thái Bình Dương” và bên kia là “các lãnh thổ lấy của Trung Quốc”, không bao gồm Trường Sa và Hoàng Sa trong nhóm thứ hai, có thể hiểu là Tuyên bố Cairo chỉ định rằng, những quần đảo này không được coi là lãnh thổ của Trung Quốc. Tuyên bố Cairo có thể cũng loại trừ việc Trung Quốc yêu sách về “các lãnh thổ Nhật Bản lấy của Trung Quốc”, có bao gồm bất kỳ đặc điểm nào chưa được tính đến và tuyên bố này không có ý ngăn trở việc yêu sách lãnh thổ chưa được liệt kê trong đó. Sau khi quy định việc trao trả các lãnh thổ của Trung Quốc, Tuyên bố Cairo tiếp tục chỉ rõ “Nhật Bản cũng sẽ bị đuổi ra khỏi mọi lãnh thổ khác mà Nhật Bản đã chiếm bằng bạo lực hay do tham vọng”[115]. Điều khoản tổng hợp này có thể được hiểu theo gợi ý là những lãnh thổ mà không được chỉ định rõ đã bị Nhật Bản chiếm của Trung Quốc không cần trả lại cho họ sau cuộc chiến.

Bản thân Hiệp ước Hoà bình San Francisco đã khẳng định sự phân biệt giữa các lãnh thổ phải trao trả cho Trung Quốc và các lãnh thổ không cần phải trả lại, vì nó đã quy định riêng rẽ việc Nhật Bản từ bỏ đối với một bên là Hoàng Sa và Trường Sa, và bên kia là Đài Loan và Pescadores. Sự đối xử khác biệt này sẽ ủng hộ cho luận điểm của Việt Nam rằng, trong khi nhóm thứ hai rõ ràng là thuộc lãnh thổ của Trung Quốc, thì nhóm thứ nhất lại có thể biện luận là không phải. Khả năng Nhật Bản từ bỏ lãnh thổ theo Hiệp ước Hoà bình San Francisco không được hiểu là vì quyền lợi cho riêng một bên nào (nghĩa là Trung Quốc), đã được củng cố thêm bằng việc Liên Xô chiếm hữu nhóm đảo Kurile và một số phần của đảo Sakhalin sau khi Nhật Bản từ bỏ trên cơ sở các điều khoản của Hiệp ước Portsmouth ngày 5 tháng 9 năm 1905[116].

Bất kể những điều nói trên, một lập luận ủng hộ cho lợi ích của Trung Quốc có thể được tạo ra dựa trên cơ sở một hiệp ước hoà bình riêng rẽ được Nhật Bản và Trung Hoa Dân quốc Đài Loan ký ngày 29 tháng 4 năm 1952. Hiệp ước Hoà bình 1952 khẳng định lại sự từ bỏ các quyền của Nhật Bản đối với Đài Loan, Pescadores, Hoàng Sa và Trường Sa mà Nhật Bản đưa ra trước đó trong Hiệp ước Hoà bình San Francisco, nhưng cũng không chỉ rõ bên yêu sách nào được hưởng quyền lợi từ việc từ bỏ các lãnh thổ đó. Mặc dù Hiệp ước Hoà bình 1952 cũng không rõ ràng như Hiệp ước Hoà bình San Francisco, thì việc bản thân việc nó có bao gồm một điều khoản về từ bỏ lãnh thổ có thể dẫn đến suy luận rằng, việc Nhật Bản từ bỏ danh nghĩa đối với các lãnh thổ đó là theo hướng ủng hộ quyền lợi của Cộng hoà Trung Hoa[117]. Biên bản các cuộc đàm phán về Hiệp ước Hoà bình 1952 đã gợi ý sự thừa nhận ngầm của Nhật Bản về chủ quyền của Trung Quốc đối với các quần đảo vì chính Nhật Bản đã nhấn mạnh rằng –

“về phía Cộng hoà Trung Hoa, các điều khoản của Hiệp ước hiện nay sẽ được áp dụng cho mọi lãnh thổ mà hiện tại, hay sau này, nằm dưới sự kiểm soát của chính phủ họ.”[118]

Tuy nhiên, tính vững vàng của lập luận này đã bị lung lay bởi Thông cáo chung ngày 29/9/1972 giữa Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa và Nhật Bản, trong đó Nhật Bản xác nhận, Cộng hoà Trung Hoa là chính phủ hợp pháp duy nhất của Trung Quốc và tái khẳng định lại quan điểm của mình là tuân thủ các điều khoản của Tuyên bố Potsdam, Tuyên bố mà khi đề cập đến Tuyên bố Cairo, đã uỷ thác rõ ràng việc trao trả Đài Loan và Pescadores cho Trung Quốc, nhưng không có Trường Sa và Hoàng Sa[119]

c. Việt Nam và các yêu sách của Trung Quốc

Việc giải quyết mơ hồ về Trường Sa trong các hiệp định quốc tế đã thúc đẩy Trung Quốc bác bỏ các yêu sách của Việt Nam bằng việc công khai đưa ra các chứng cớ khác. Ngày 4 tháng 9 năm 1958, Trung Quốc đã đưa ra Tuyên bố xác định lãnh hải 12 hải lý áp dụng với mọi lãnh thổ của mình, bao gồm –

“đất liền của Trung Quốc và các đảo gần bờ cũng như Đài Loan và các đảo quanh nó, nhóm đảo Penghu, nhóm đảo Dongsha, nhóm đảo Tây Sa, nhóm đảo Trung Sa, nhóm đảo Nam Sa và tất cả các đảo khác thuộc về Trung Quốc tách biệt khỏi đất liền và các đảo gần bờ bởi biển cả”[120].

Mười ngày sau, ông Phạm Văn Đồng, Thủ tướng Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, đã gửi công hàm tới Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai, tuyên bố rằng chính phủ của mình –

“chấp nhận tuyên bố này… và sẽ gửi cho tất cả các cơ quan nhà nước các chỉ thị phối hợp nhằm bảo đảm sự tôn trọng tuyệt đối các vùng nước lãnh thổ của Trung Quốc trong giới hạn 12 hải lý, trong mọi mối quan hệ với Trung Quốc trên biển.”[121]

Trung Quốc lập luận rằng, tuyên bố đó tạo nên sự thừa nhận của Việt Nam về chủ quyền của Trung Quốc đối với các quần đảo tranh chấp.[122] Tuy nhiên, Việt Nam khẳng định, công hàm của ông Phạm Văn Đồng không chủ định và không tạo nên sự thừa nhận yêu sách. Bằng sự viện dẫn là trong công hàm của ông Phạm Văn Đồng không hề có đề cập cụ thể gì đến cả Hoàng Sa lẫn Trường Sa, Việt Nam lý giải đó chỉ là hành động bày tỏ tình đoàn kết với Trung Quốc, lúc đó đang cùng nhau chống lại Hoa Kỳ và Trung Hoa Dân quốc Đài Loan được Hoa Kỳ thừa nhận cũng như ủng hộ Bắc Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống sự can thiệp quân sự của Hoa Kỳ trong cuộc chiến tranh Đông Dương. Sau đó, Việt Nam tranh  luận rằng, công hàm của ông Phạm Văn Đồng không còn hiệu lực nữa từ khi Trung Quốc phá vỡ tình đoàn kết đó bằng việc nối lại quan hệ với Hoa Kỳ năm 1972[123] và bằng việc xâm phạm lãnh thổ Việt Nam, đầu tiên là năm 1974 với việc xâm chiếm nhóm đảo Lưỡi Liềm thuộc Hoàng Sa từ lực lượng Nam Việt Nam rồi chiếm hữu nhóm đảo này, và tiếp tục năm 1979, trong cuộc chiến tranh biên giới Việt – Trung[124].

Hiệu lực của các tuyên bố đơn phương của quan chức tạo nên các nghĩa vụ ràng buộc với nhà nước mà họ nhân danh, được công nhận theo luật quốc tế nói chung[125]. Tuy nhiên, vì tính chất ràng buộc của một tuyên bố như vậy sẽ được quyết định theo hoàn cảnh mà nó được đưa ra, và không chỉ kết luận từ việc phân tích nguyên văn, nên Việt Nam đã sẵn sàng để tranh luận rằng, các tuyên bố do các quan chức của họ đưa ra do áp lực muốn thể hiện tình đoàn kết với Trung Quốc trước các quốc gia thứ ba, đặc biệt là Hoa Kỳ, khi Hà Nội cần sự ủng hộ về quân sự của Trung Quốc trong cuộc chiến tranh đang tiếp diễn của họ lúc đó với chính phủ Nam Việt Nam đang được Hoa Kỳ giúp đỡ[126]. Hơn nữa, Việt Nam cũng lập luận một cách chính đáng rằng, các tuyên bố của chính phủ Hà Nội không làm tổn hại đến các yêu sách mà chính phủ Nam Việt Nam khẳng định đối với cả hai quần đảo bị tranh chấp, đặc biệt vào thời điểm đưa ra công hàm Hà Nội, Nam Việt Nam không những đang có chiến tranh với nửa phần phía Bắc của đất nước, mà còn quan trọng hơn, đang chiếm hữu hiệu lực một nửa quần đảo Hoàng Sa.

Vì vậy, rõ ràng thất bại của lực lượng Đồng minh và Nhật Bản trong việc sử dụng các hiệp định quốc tế ký kết sau Thế chiến II để chỉ ra thực thể, hay những thực thể nào được trao quyền đối với các quần đảo trên Biển Đông đã dẫn tới sự vô nghĩa về pháp lý và chính trị[127], tạo nên động cơ thúc đẩy các bên liên quan trong vùng  dựa vào những biểu hiện của việc chiếm hữu liên tục và có hiệu lực như những chứng cứ cụ thể, nhằm ủng hộ các yêu sách chủ quyền của riêng họ đối với Hoàng Sa và Trường Sa.

3. Các yêu sách dựa trên việc chiếm hữu

Trong khi biện hộ cho khẳng định của mình về chủ quyền đối với lãnh thổ tranh chấp, các bên yêu sách nói chung thường liên hệ những nỗ lực mới đây hơn nhằm chiếm hữu hiệu lực lãnh thổ đó với các yêu sách về danh nghĩa lịch sử dựa trên sự phát hiện và khai thác đầu tiên của họ. Điều này thể hiện trong nỗ lực của cả Việt Nam và Trung Quốc nhằm thể hiện sự chiếm hữu hiện tại của họ đối với các phần của Trường Sa là dựa theo các cứ liệu được coi là lâu đời hơn, chứng minh việc khám phá ra các hòn đảo, thông qua vai trò trung gian của sự liên tiếp không gián đoạn trong việc thực hiện các hành vi, và đưa ra các tuyên bố, với tư cách là người có chủ quyền.

Một nỗ lực như vậy có giá trị pháp lý không chắc chắn vì, như sẽ bàn luận ở đây, học thuyết hiện đại về chủ quyền lãnh thổ ngày nay dựa trên việc chiếm hữu có hiệu lực,  hơn là dựa trên chứng cớ về các mối ràng buộc lịch sử. Tuy nhiên, việc các quốc gia yêu sách kiên trì thiết lập mối quan hệ giữa một bên là những yêu sách ban đầu có hiệu lực đối với lãnh thổ, bắt nguồn từ việc phát hiện hay sáp nhập một lãnh thổ vô chủ terra nullius, và mặt kia là sự chiếm hữu thực tế, hiện nay được coi như một tiền đề công nhận tính hợp pháp của danh nghĩa chủ quyền mà họ yêu sách, gợi mở nhận thức rằng, một yêu sách về danh nghĩa lịch sử là một phương tiện hữu hiệu làm xoay chuyển những lập luận rằng, những hành vi chiếm hữu tiếp theo đơn giản chỉ là việc thực thi quyền lực chứ không phải mang lại hiệu lực cho một quyền pháp lý đã tồn tại trước đó.

Nhận xét này được khẳng định thêm thông qua việc kiểm tra các cứ liệu lịch sử, điều này cho thấy, mối quan hệ được viện dẫn giữa các yêu sách về danh nghĩa lịch sử đối với các quần đảo trên Biển Đông và những hành vi của các bên yêu sách nhằm chiếm hữu những quần đảo đó thật mong manh. Hậu quả là, hoàn toàn hợp lý khi nói, công thức “danh nghĩa lịch sử – chiếm hữu thực tế ” mà các bên yêu sách vin vào về cơ bản là sản phẩm của một sự nhận thức muộn màng sau khi sự việc đã xảy ra để hợp lý hoá và thúc đẩy những khẳng định đơn phương của các quốc gia cầm quyền nhằm mục đích mở rộng lãnh thổ quốc gia.

Những mối quan tâm được đề cập trên đây về tính xác thực và chính xác của bằng chứng mà Trung Quốc và Việt Nam viện dẫn, nhằm tạo nên danh nghĩa lịch sử lâu đời của họ đối với các quần đảo ở Biển Đông có sức mạnh như nhau, khi đề cập đến các yêu sách của họ về những hành vi chiếm hữu mà họ viện dẫn là thể hiện tính riêng biệt và liên tục trong việc thực thi chủ quyền đối với những vùng đó.

Ngoài vấn đề về tên gọi đã được bàn luận, việc tranh cãi về tính xác định của các đảo biểu hiện chủ quyền của các quốc gia yêu sách như bằng chứng về sự chiếm hữu thực tế của họ làm nảy sinh thêm hai vấn đề cơ bản và khó khăn. Một vấn đề là, liệu bản chất, mức độ thường xuyên và cường độ của các hành vi do các bên yêu sách thực hiện, có đủ để minh chứng cho khẳng định là chúng tạo nên sự chiếm hữu hiệu lực trên toàn khu vực cấu thành quần đảo Trường Sa hay không, sẽ được xem xét sau.

Nhưng thậm chí giả sử rằng, mức độ chiếm hữu theo yêu cầu đã được đáp ứng, thì vấn đề thứ hai phải được đề cập tới là liệu có bên yêu sách nào chứng minh được, sự chiếm hữu như vậy đã được mở rộng tới toàn bộ phạm vi của quần đảo, và do vậy, chứng minh được yêu sách về tính riêng biệt duy nhất trong việc chiếm hữu của họ. Việc thiếu bất cứ một hình thể xác định rõ ràng để gộp tất cả các bộ phận của quần đảo Trường Sa vào với nhau như một đơn vị tự nhiên, có vẻ đã phủ nhận bất cứ khẳng định nào là việc chiếm hữu một, hay thậm chí nhiều đảo trong quần đảo có thể tạo nên chiếm hữu hiệu lực đối với toàn bộ quần đảo. Việc thiếu một tham chiếu chung về một nhóm đảo trong các văn bản như hiệp ước, văn bản pháp luật hay các quyết định pháp lý để làm cơ sở rút ra các hành vi này gắn liền với mỗi bộ phận trong nhóm đã được chỉ ra trong vụ Minquiers[128]. Tuy nhiên, việc đề ra các tiêu chuẩn cho mức độ chiếm hữu có thể thấy ngay từ vụ trọng tài Palmas, trong đó có phân biệt giữa hành vi phát hiện và hành vi chiếm hữu một nhóm đảo:

“Về các nhóm đảo, dưới các hoàn cảnh nhất định, một nhóm có thể được luật pháp nhìn nhận như một chỉnh thể và số phận của phần chủ yếu trong nhóm có thể quyết định số phận của phần còn lại. Tuy nhiên, ở đây, chúng ta phải phân biệt giữa một mặt là hành vi chiếm hữu lần đầu tiên, hành vi này khó có thể mở rộng đến khắp các phần trên lãnh thổ, và mặt khác là việc thể hiện chủ quyền liên tục và kéo dài, điều này bản thân nó có thể được cảm nhận trên toàn bộ lãnh thổ.”[129]

Thực tế, vụ Palmas đã đưa ra đề xuất rằng, trong các trường hợp không tồn tại đường quy ước để xác định rõ địa hình tại lãnh thổ bị tranh chấp, hoặc nếu có những chỗ gián đoạn trên đường biên giới, việc thực thi thẩm quyền của quốc gia phải được biểu hiện chính xác trong mối quan hệ với lãnh thổ yêu sách[130].

Tuy nhiên, có thể tính chặt chẽ của tiêu chuẩn vụ Palmas sau đó đã bị giảm bớt giá trị do luật pháp sau này. Trong ý kiến tán thành của mình trong vụ Minquers, Thẩm phán Levi Carneiro đã trình bày rõ về thuyết “đồng nhất tự nhiên” đối với việc xác định giới hạn chiếm hữu cần thiết đủ để duy trì một yêu sách chủ quyền lãnh thổ:

“Cũng như trường hợp một quốc gia chiếm hữu bờ biển hay một phần chủ yếu của một hòn đảo thì được coi là chiếm hữu toàn bộ hòn đảo, việc chiếm hữu các đảo chính của một quần đảo cũng được coi là bao gồm việc chiếm hữu các đảo nhỏ hay các mỏm đá trong cùng quần đảo chưa bị quốc gia nào khác thực sự chiếm hữu”[131]

Nhưng việc áp dụng thuyết đồng nhất tự nhiên này đối với Trường Sa đặt ra một số vấn đề kỹ thuật. Vì bản thân ý kiến trong vụ Minquiers không quy định các tiêu chuẩn xác định, liệu có hay không tồn tại một “đồng nhất tự nhiên” trong một nhóm đảo, do vậy cần phải tìm kiếm một số cấu trúc luật pháp có thể đưa ra được những thông số để xác định xem, liệu quần đảo Trường Sa có đủ tiêu chuẩn là một quần đảo để áp dụng nguyên tắc này hay không. Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (“LOS”), ký kết ngày 10 tháng 12 năm 1982, là kết quả của UNCLOS III (Hội nghị Quốc tế về Luật Biển), quy định định nghĩa như vậy trong Phần IV, về Các Quốc gia quần đảo như sau:

“Quần đảo” là một nhóm các đảo, kể cả các bộ phận của các đảo, các vùng nước nối giữa và các thành phần tự nhiên khác có liên quan với nhau chặt chẽ đến mức tạo thành về thực chất một thể thống nhất về địa lý, kinh tế và chính trị, hay đươc coi như thế về mặt lịch sử[132].

Khi áp dụng các thông số của Công ước về Luật Biển, Trường Sa có thể không đủ tiêu chuẩn là một quần đảo riêng biệt hay chỉnh thể. Hình thể địa lý của các đảo không chấp nhận luận điểm là chúng có liên quan mật thiết với nhau. Tài liệu lịch sử ghi nhận rằng, Trường Sa chưa bao giờ được chỉ định hoàn toàn là một nhóm đảo riêng biệt cho tới những năm 1930. Về phương diện kinh tế, chỉ một số đảo tại rìa phía Tây quần đảo được coi là thực sự quan trọng do có các mỏ phân chim ở đó. Có lẽ có thể tranh luận rằng, việc Nhật Bản thiết lập một cơ quan hành chính cai quản “Quần đảo mới phía Nam”, bao gồm Trường Sa và Hoàng Sa năm 1939 đã tạo cho Trường Sa những tính chất tựa như một thực thể chính trị. Nhưng điều này vẫn không thể thoả mãn tiêu chuẩn của Luật Biển vì Trường Sa không vì vậy mà được xác định một cách độc lập với Hoàng Sa. Trong mọi trường hợp, việc thừa nhận Trường Sa là một chỉnh thể về chính trị rõ ràng sẽ không thoả mãn tiêu chuẩn của Công ước về Luật Biển nếu không có một sự thừa nhận tương tự về quy chế của nó như một thực thể địa lý và kinh tế[133].

Hiệu lực của việc chiếm hữu

Bằng chứng về việc thực thi chủ quyền độc nhất đối với Trường Sa trước thế kỷ 20 cũng không mạnh mẽ. Mặc dù có sự thừa nhận chung là Trung Quốc có ưu việt hơn trong việc phát triển các con đường thông thương và việc khai thác các nguồn tài nguyên cho hàng hải trong vùng trong suốt thời kỳ cận đại, vẫn có nhiều chứng cứ chỉ ra rằng Biển Đông không hoàn toàn là một “cái hồ nước của Trung Quốc”. Các sách của Trung Quốc thời cổ đại và trung cổ có ghi chép về hoạt động của các ngư dân và thương nhân Ả Rập, Ấn Độ, Mã Lai và Ba Tư trên các con đường thông thương và đường giao thông thuỷ nơi các hòn đảo trong các quần đảo tranh chấp có chức năng như các điểm trên mạng lưới các con đường thương mại hoặc như các điểm mốc hàng hải[134]. Vào khoảng thế kỷ 15, ưu thế về hàng hải của Trung Quốc bị thu hẹp bởi những thuỷ thủ người Hà Lan, Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha bắt đầu tăng cường sự thống trị trên các tuyến đường biển cùng với sự có mặt của người Pháp vào thế kỷ 17[135]. Chỉ đến cuối thế kỷ 19, vấn đề về chủ quyền đối với các đảo và các con đường biển tương ứng với chúng mới nổi lên, khi Trung Quốc cố gắng tái khẳng định ảnh hưởng của mình trong vùng, chống lại sự thống trị trên biển của lực lượng hàng hải phương Tây như Anh và Pháp, và sau này là Nhật Bản. Điều này cho thấy, vì tầm cỡ chính trị trong vùng bị giảm sút, nên sự quan tâm của Trung Quốc đến các quần đảo tại Biển Đông đã gia tăng với một tỷ lệ tương ứng[136]. Tuy nhiên, vì không có khả năng vật chất để cạnh tranh với các lực lượng hải quân có uy thế mạnh trong một vùng “biển mở”, Trung Quốc quay trở lại viện dẫn khái niệm pháp lý của phương Tây về chủ quyền lãnh thổ hay không gian và gắn nó với một chiến lược nhằm bảo vệ nơi được Trung Quốc coi là lãnh thổ truyền thống của mình[137].  Khi mối quan tâm của họ trở nên có tính chiến lược hơn và mang tính chính trị hơn là tính thương mại ban đầu, triều đình nhà Thanh Trung Quốc đã tiến hành một số bước đi ban đầu để khẳng định yêu sách chính thức đối với các hòn đảo, đầu tiên vào năm 1877, khi Đại sứ Trung Quốc tại Anh tuyên bố, Hoàng Sa thuộc về Trung Quốc, và lần nữa vào năm 1883, khi Trung Quốc phản đối sự hiện diện của đoàn thám hiểm do nhà nước Đức bảo hộ trong khu vực quần đảo Trường Sa[138].

Không giống với triều đình Trung Quốc, triều đình nhà Nguyễn của An Nam đã chính thức thừa nhận các hoạt động của người dân nước mình tại các quần đảo trên Biển Đông. Ngay từ năm 1707, chính phủ đã thành lập “Đội Hoàng Sa” và tuyển quân dịch từ làng An Vinh tại Quang Moi tiến hành các chuyến đi dài 7 tháng tới Hoàng Sa để thực hiện nhiều hoạt động khác nhau (ví dụ, cứu hộ hay thu nhặt các xác tàu đắm, đánh cá, khai thác phân chim. thu lượm đồi mồi, vỏ ốc, nhím biển và các hải sản khác)[139].

Hơn nữa, khác với những nhà cầm quyền triều Thanh của Trung Quốc, các vua triều Nguyễn của An Nam, không chỉ giới hạn ở những tuyên bố khá lập lờ về yêu sách chủ quyền của họ, mà thay vào đó, họ đã có nỗ lực cụ thể và chính thức trong việc thăm dò các quần đảo năm 1834 và năm 1838[140]. Bất chấp những điều nói trên, yêu sách của Việt Nam về chiếm hữu hiệu lực Trường Sa ngay từ đầu thế kỷ 18 không phải là không phản đối được. Đáng chú ý là các ghi chép về hoạt động của Việt Nam tại các quần đảo tranh chấp trong suốt giai đoạn này cho thấy, chúng chỉ tập trung tại Hoàng Sa mà không bao gồm Trường Sa[141]. Hơn nữa, những nhà cầm quyền An Nam không thể thiết lập hay duy trì quyền độc quyền của họ đối với tài nguyên của các quần đảo, bởi các đội cứu hộ được Việt Nam chính thức bảo trợ hoạt động tại các hòn đảo tranh chấp, trong khi các nhà buôn phương Tây và Nhật Bản vẫn tiếp tục sử dụng chúng làm những điểm chỉ dẫn hàng hải và ngư dân Hải Nam vẫn coi các hòn đảo này là cơ sở cho các hoạt động của họ[142].

Về cuối thế kỷ 19, ganh đua về quyền thống trị đối với các con đường hàng hải trên Biển Đông đã trở nên dữ dội, khi các bên trong vùng tranh giành nhau nhằm thực hiện những toan tính cụ thể hơn để chiếm hữu và sáp nhập các quần đảo tranh chấp. Lợi dụng sự tối nghĩa hàm ẩn trong Công ước Phân định Biên giới 1887, Trung Quốc đã tiến hành phục hồi lại ảnh hưởng của mình trong vùng bằng việc cử hai đoàn thám hiểm, lần đầu vào năm 1902 và sau đó vào năm 1907 tới Hoàng Sa nhằm khảo sát các hòn đảo và dựng cột mốc xác định chủ quyền tại đó. Sau cuộc thám hiểm năm 1907, Hoàng đế Quang Tự của Trung Quốc đã chính thức tuyên bố sáp nhập Hoàng Sa vào tỉnh Quảng Đông theo đề nghị của thống đốc vùng này[143].

Không xét tới ngôn ngữ thực sự của Công ước Phân định Biên giới 1887, Pháp viện cớ lấy những yêu sách của các vua nhà Nguyễn làm cơ sở cho hành động của mình, tiếp tục theo đuổi quyền bá chủ đối với các quần đảo trên Biển Đông. Năm 1925, một tàu hải quân Pháp đã đổ bộ lên đảo Woody (Phú Lâm), thuộc quần đảo Hoàng Sa và coi đó là một phần của một cuộc khảo sát khoa học chính thức. Ngày 4 tháng 12 năm 1931, Pháp đã phản đối nỗ lực của Trung Quốc cấp phép cho các hoạt động khai thác mỏ phân chim tại Hoàng Sa[144] và ngày 15 tháng 6 năm 1932, Toàn quyền Pháp tại Đông Dương ra quyết định sáp nhập Hoàng Sa vào tỉnh Thừa Thiên với tên là “Delegation des Paracels”[145]. Chiếm hữu thực tế sớm nhất đối với các đảo trong quần đảo Trường Sa được ghi vào tư liệu vào năm 1927, trong cuộc nghiên cứu khoa học do Pháp bảo trợ[146]. Giữa năm 1930 và 1933, chính phủ Pháp dựa trên lý do cần phải xây dựng các đèn biển và các trợ giúp hàng hải khác cho sự an toàn của hàng hải quốc tế trong vùng, đã đóng các đơn vị hải quân tại những đảo chính của Trường Sa: đảo Trường Sa (ngày 13 tháng 4 năm 1930); Amboyna Cay (An Bang) (ngày 7 tháng 4 năm 1933); đảo Itu Aba (Ba Bình) (ngày 11 tháng 4 năm 1933) và Thị Tứ (ngày 12 tháng 4 năm 1933)[147]. Ngày 26 tháng 7 năm 1933, báo Journel Officiel de la Republique Francais đã chính thức đưa ra thông báo, Pháp đã chiếm hữu quần đảo Trường Sa và các hòn đảo từ đó trở về sau sẽ nằm dưới sự bảo vệ của hải quân Pháp với tư cách là một phần của tỉnh Bà Rịa tại Đông Dương thuộc Pháp[148].

Pháp đã không giải thích cơ sở pháp lý cho yêu sách của họ dựa trên những nguyên tắc nào của luật pháp quốc tế. Trong khi có vẻ họ coi các hòn đảo là đất vô chủ, Bộ Ngoại giao Pháp lại cảm thấy có nghĩa vụ phải khẳng định, hành động của Pháp đã không vi phạm Hiệp ước Washington 9 cường quốc năm 1922, trong đó Pháp đồng ý tôn trọng độc lập chính trị và toàn vẹn lãnh thổ của Trung Quốc[149]. Thú vị là, không một nước ký kết nào, thậm chí cả Trung Quốc, viện dẫn Hiệp ước Washington 9 cường quốc[150].Trung Quốc hình như không có phản đối chính thức nào chống lại hành động của Pháp tại Trường Sa, trái ngược với phản ứng của họ đối với hoạt động của Pháp tại Hoàng Sa[151]. Tuy nhiên, chính phủ Nhật Bản đã lên tiếng phản đối Pháp, năm 1927 nước này đã khởi xướng các cuộc thảo luận với Pháp về quy chế của Trường Sa. Chính phủ Nhật Bản giữ vững ý kiến rằng 12 hòn đảo, bao gồm cả sáu hòn đảo Pháp yêu sách là do năm kiều dân Nhật Bản phát hiện ra vào tháng 5 năm 1920, rằng một công ty phân bón của Nhật Bản đang tiến hành khai thác trên hầu hết các đảo và họ đang xây dựng các kế hoạch cho phần còn lại của quần đảo[152]. Năm 1939, sau thất bại trong việc đạt được một giải pháp ngoại giao về tranh chấp với Pháp, Nhật Bản đã tự chiếm đóng Trường Sa, cũng như Hoàng Sa, và đặt chúng dưới sự quản lý của Toàn quyền Nhật Bản tại Đài Loan với tư cách là Quần đảo mới phía Nam[153].

Sự tăng cường nỗ lực trong suốt giai đoạn giữa hai cuộc chiến tranh của các quốc gia yêu sách chính đối với Trường Sa, nhằm duy trì một sự hiện diện hữu hình về chính quyền hoặc quốc gia trong vùng đã giải thích, bằng cách nào mà các quan điểm được chấp thuận trong luật quốc tế lại có thể được áp dụng nhằm đưa các hoạt động bành trướng vào khuôn khổ của những khẳng định danh nghĩa pháp lý đối với lãnh thổ tranh chấp. Cùng với việc công bố các quyết định trọng tài trong vụ Palmas (ngày 4 tháng 4 năm 1928) và vụ Clipperton (ngày 28 tháng 1 năm 1931), cũng như quyết định của Toà Thường trực Toà án quốc tế trong vụ Đông Greenland (ngày 5 tháng 4 năm 1933), do tiêu chuẩn theo đó các tranh chấp liên quan tới bằng chứng về danh nghĩa pháp lý đối với lãnh thổ sẽ được giải quyết, tính ưu việt của chiếm hữu thực tế và có hiệu lực so với các yêu sách về danh nghĩa lịch sử đã được  thiết lập. Điều này được hoàn thiện bởi thể chế hoá quan điểm về thời hạn, mà khi vượt quá thì mọi yêu sách về chủ quyền đối với lãnh thổ tranh chấp do một quốc gia khẳng định trên cơ sở danh nghĩa lịch sử, sẽ được coi như bị huỷ bỏ bởi quyền do một quốc gia khác thiết lập trên cùng lãnh thổ đó thông qua sự thực thi thực tế hoạt động của nhà nước[154].

Quyết định trong vụ Palmas đã thừa nhận, các yêu sách lịch sử tạo ra lợi thế cho một quốc gia một danh nghĩa ban đầu đối với lãnh thổ được phát hiện, nhưng lại yêu cầu, quyền nói trên sẽ chỉ được hoàn thiện trong “một khoảng thời gian hợp lý”, được đo bằng lượng thời gian cần thiết, trong thời hạn đó bên yêu sách có thể khẳng định và phản đối những khẳng định về các quyền mang tính cạnh tranh của các quốc gia khác[155]. Tuy nhiên, quyết định trong vụ Đông Greenland sau này lại quy định, quốc gia yêu sách chỉ cần thiết lập danh nghĩa của mình đối với lãnh thổ “trong thời gian ngay trước khi chiếm hữu” là đủ[156]. Tuyên bố của luật quốc tế về điểm này đã được Thẩm phán Anzilotti tổng kết trong ý kiến tán thành của mình về vụ Đông Greenland, rằng:

“Các yêu sách lịch sử về quyền chiếm hữu toàn bộ các khu vực – các yêu sách trước đó đóng vai trò quan trọng trong việc phân định chủ quyền lãnh thổ – đã bị mất trọng lượng và dần dần bị từ bỏ, thậm chí bởi chính các quốc gia đã từng dựa vào chúng. Luật quốc tế đã thiết lập một mối liên hệ ngày càng gần gũi giữa sự tồn tại của chủ quyền với việc thực thi nó một cách có hiệu lực và các tranh chấp đã thành công của các quốc gia mà không phải có sự thực thi như vậy.”[157]

Sau đó Anzilotti kết luận rằng, một khi các yêu sách lịch sử bị từ bỏ, việc xác định chủ quyền sẽ trở thành vấn đề chiếm hữu lãnh thổ vô chủ.[158]

Sau khi thừa nhận sự chiếm hữu thực tế là cơ sở cho việc xác định chủ quyền đối với lãnh thổ tranh chấp, độc lập với các yêu sách lịch sử, các quyết định kể từ vụ Palmas đã xác định những thông số như thế nào sẽ được coi là mức độ chiếm hữu cần thiết. Về cơ bản, đòi hỏi việc thực thi chiếm hữu thực tế phải liên tục và hoà bình đối với các quốc gia khác[159], phải riêng biệt[160], và phải có hiệu lực để có thể bảo đảm bảo vệ tối thiểu các quyền mà luật pháp quốc tế trao cho các quốc gia khác cũng như kiều dân của họ trong vùng lãnh thổ tranh chấp[161].

Tuy nhiên, các hành động cụ thể có thể đáp ứng được tiêu chuẩn pháp lý này, có thể thay đổi theo những hoàn cảnh cụ thể của lãnh thổ được yêu sách chủ quyền (ví dụ, vị trí địa lý, khả năng tiếp cận với luồng giao thông quốc tế, mật độ dân cư). Vì vậy, việc tuân theo yêu cầu về tính liên tục, không loại trừ việc có gián đoạn trong thời gian chiếm hữu, ví dụ, nếu lãnh thổ yêu sách không có dân cư hay dân cư thưa thớt, hoặc nếu nó nằm giữa biển cả[162]. Trong khi việc thừa nhận hay chính thức ưng thuận của một bên thứ ba đối với việc thực thi quyền tài phán của một quốc gia là bằng chứng về sự chiếm hữu hoà bình và riêng biệt, một quốc gia yêu sách không cần chính thức thông báo cho tất cả các bên như vậy về sự chiếm hữu lãnh thổ của mình, trừ khi bị ràng buộc bởi nghĩa vụ của một hiệp ước cụ thể[163], và các hành động của nó không bị vô hiệu bởi các văn bản phản đối hay các bảo lưu của bên thứ ba đưa ra[164]. Cuối cùng, sự chiếm hữu của một quốc gia sẽ được coi là có hiệu lực, thậm chí nếu ban đầu nó phải trải qua một quá trình phát triển chậm chạp việc tăng cường quản lý nhà nước[165]. Vì vậy, không cần thiết việc một quốc gia phải chiếm hữu ngay lập tức toàn bộ lãnh thổ yêu sách[166], hay cũng không cần thiết việc quốc gia chiếm hữu phải thiết lập một sự quản lý hành chính đặc biệt cho lãnh thổ đó[167].

Về hiệu lực, luật học quốc tế hiện tại sau này cho phép thừa nhận danh nghĩa đối với các đảo không đến được, thậm chí khi chỉ căn cứ không hơn vào việc phát hiện và “chiếm hữu tượng trưng”, vì mức độ chiếm hữu thích hợp trong hoàn cảnh này được coi là thấp[168]. Điều này được làm rõ trong quyết định vụ Đông Greenland khi Toà Thường trực tự công nhận, luật lệ cho phép áp dụng một tiêu chuẩn thấp về những gì có thể tạo nên sự chiếm hữu thực tế, đặc biệt khi có liên quan tới lãnh thổ chưa có người ở[169].

Một tiêu chuẩn quốc tế như vậy chứng tỏ có lợi cho kế hoạch bành trướng của các cường quốc có ưu thế hải quân trên vùng Biển Đông diễn ra trong suốt thời kỳ giữa hai cuộc chiến tranh. Vì Công ước Phân định Biên giới 1887 đã không quyết định rạch ròi được vấn đề chủ quyền đối với các quần đảo tranh chấp giữa biển, Pháp, và sau này là Nhật, đã sử dụng hải quân của mình nhằm đưa ra các yêu sách đối với Trường Sa, theo đó lợi dụng sự bất lực của Trung Quốc về khả năng thách thức các hành động của họ và trong quá trình đó, loại trừ dần hiệu lực các yêu sách lịch sử của Trung Quốc. Với hướng dẫn nêu ra trong các vụ Palmas và Clipperton như mức độ hoạt động tối thiểu mà quy định này đòi hỏi, chính phủ Pháp và Nhật đã cố gắng đạt được một mức độ hoạt động cao hơn tại Trường Sa, nhằm củng cố cho các yêu sách chủ quyền của họ, rõ ràng là họ tìm cách sáp nhập hai quần đảo, bao gồm số lượng lớn các đảo, thường vẫn chưa được vẽ lên bản đồ, và các hệ cấu trúc khác, nằm trải dài hàng trăm kilômét giữa đại dương, chứ không phải là một đảo độc lập và riêng biệt.

Việc kết thúc Thế chiến II đã tạo ra cho Trung Quốc thời cơ tái khẳng định các yêu sách lịch sử đối với các quần đảo trên Biển Đông. Năm 1945, chỉ huy tối cao quân Đồng Minh tại Thái Bình Dương ra lệnh tất cả các lực lượng của Nhật Bản dàn quân phía Bắc vĩ tuyến 160 đầu hàng Chính phủ Cộng hoà Trung Hoa Dân quốc. Lệnh này áp dụng mở rộng sang Việt Nam và  Biển Đông, đặt mọi lãnh thổ bị quân Nhật chiếm đóng và quân đội của Nhật Bản trên quần đảo phía Bắc Đà Nẵng, Việt Nam, và Hoàng Sa dưới quyền tài phán của Trung Quốc[170]. Tuy nhiên, chính phủ Dân quốc cũng ra lệnh tất cả quân đội Nhật Bản ở Trường Sa đầu hàng tại đảo Hải Nam của Trung Quốc, nhờ đó gián tiếp tái yêu sách chủ quyền của mình đối với Trường Sa[171].

Giữa tháng 7 năm 1946 và thời điểm kết thúc Hội nghị Hoà bình San Francisco tháng 9 năm 1951, Trung Quốc đã khiêu chiến với Pháp để giành uy thế đối với các quần đảo tại Biển Đông khi mỗi bên phái các tàu hải quân thiết lập sự có mặt của mình tại cả quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa[172]. Tháng 1 năm 1947, Trung Quốc ra tuyên bố chính thức về việc chiếm hữu và sáp nhập quần đảo Hoàng Sa. Mặt khác, Trường Sa không được đề cập một cách cụ thể cho mãi tới tuyên bố tháng 12 năm 1947 của Trung Quốc yêu cầu, sáp nhập cả hai quần đảo, cũng như đảo Đông Sa và Trung Sa, vào tỉnh Quảng Đông và thiết lập một khu vực hành chính đặc biệt của Trung Quốc gọi là “Khu vực hành chính quần đảo Tung-Hsi Nan-sha” dưới quyền điều khiển của Hải quân Trung Quốc[173].

Tuy nhiên, năm 1950, tình hình chính trị trong khu vực đã thay đổi đáng kể, làm cho cả hai bên yêu sách phải từ bỏ vị trí trước đó họ đã có được tại quần đảo tranh chấp. Sau khi nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa lục địa được thành lập năm 1949, Quốc dân đảng đã dựng nên một chính phủ lưu vong tại Đài Loan và ra lệnh rút quân đội khỏi Hải Nam, Hoàng Sa và Trường Sa[174]. Cùng lúc đó, Pháp bị lôi kéo vào cuộc chiến tranh giành độc lập ở Inđônêsia, và ngày 15 tháng 10 năm 1950 đã chính thức chuyển giao các quyền đối với Hoàng Sa của mình cho Việt Nam[175]. Đáng chú ý là không có tài liệu nào ghi nhận việc Pháp chính thức chuyển giao các yêu sách của họ đối với Trường Sa, do vậy để ngỏ quy chế các quyền của Pháp đối với quần đảo này[176]. Thực tế, tháng 6 năm 1956, Đại biện Pháp tại Manila đã thông báo cho Phó Tổng thống Philippin Carlos P. Garcia, sau khi ông này nhận được một số thư của Tomas Cloma, là một thương nhân Philippin tuyên bố đã “khám phá” ra “Quần đảo Vùng Tự do” trong khu vực Trường Sa, nói rằng Pháp coi Trường Sa là lãnh thổ của Pháp bởi các hòn đảo đó, khác với Hoàng Sa, chưa bao giờ được chuyển giao cho Việt Nam khi đất nước này giành được độc lập[177].

Sự tái hiện của chủ nghĩa đơn phương, biểu thị đặc điểm lịch sử hành động của các quốc gia trong việc thực thi quyền chiếm hữu đối với Trường Sa và Hoàng Sa đáng lẽ đã có thể được loại trừ bởi một nghị quyết tối hậu về vấn đề chủ quyền này tại Hội nghị Hoà bình năm 1951, tại San Francisco. Thay vào đó, Hoà ước San Francisco ký tại Hội nghị này lại thành cơ sở cho việc tiếp diễn tình trạng vô chính phủ trên Biển Đông. Bằng việc yêu cầu Nhật Bản từ bỏ mọi quyền đối với cả hai quần đảo, nhưng lại không chỉ định ai sẽ được kế tiếp việc thực thi, Hoà ước San Francisco đã tạo ra một môi trường chính trị, trong đó các bên yêu sách chủ quyền truyền thống, như Trung Quốc, Pháp và sau này là một nước Việt Nam mới giành độc lập, có thể dựng lại “các yêu sách lịch sử”, trong khi các quốc gia mới quan tâm khác có thể thiết lập nên các luận điểm mang tính pháp lý mới, mỗi bên chỉ nhằm biện minh cho các nỗ lực tương ứng của họ nhằm đơn phương mở rộng thẩm quyền lãnh thổ của mình trong vùng. Thực tế việc Nhật Bản công khai từ bỏ xảy ra sau khi Nhật Bản đã chiếm hữu có hiệu lực và độc quyền quản lý cả hai quần đảo từ năm 1939 cho tới cuối chiến tranh, và vì vậy có thể cho là đã thoả mãn tiêu chuẩn của vụ Palmas, đưa ra cơ sở nền tảng cho tuyên bố rằng, sau khi Hoà ước San Francisco có hiệu lực, cả hai quần đảo đều trở về tình trạng đất vô chủ và có thể được chiếm hữu bởi bất kỳ quốc gia nào quan tâm.

Những biến chuyển về chính trị trong khu vực đã diễn ra cùng lúc với quyết định của Toà án Pháp lý Quốc tế trong vụ Minquiers và Ecrehos đưa ra ngày 7 tháng 11 năm 1953[178]. Trên cơ sở nền tảng pháp lý được thiết lập từ vụ Palmas, vụ Minquires xử rằng, để giải quyết vấn đề chủ quyền đối với các hòn đảo trên eo biển Măng Sơ mà cả Vương quốc Anh và Pháp đều có yêu sách –

“vấn đề mang tầm quan trọng quyết định (theo ý kiến của Toà án), không phải là những suy luận gián tiếp từ các sự kiện từ thời trung cổ, mà là bằng chứng liên quan trực tiếp tới việc chiếm hữu các nhóm đảo Ecrehos và Minquiers.”[179]

Với tuyên bố này, Toà án quốc tế một lần nữa khẳng định, giá trị pháp lý của việc chiếm hữu thực tế và có hiệu lực như một nguồn của danh nghĩa lãnh thổ, độc lập với chứng cứ về danh nghĩa lịch sử[180]. Bằng việc bổ sung thêm điều này, khi đánh giá các yêu sách cạnh tranh về chủ quyền, Toà án quốc tế có thể gắn giá trị chứng minh riêng biệt cho các hành động liên quan tới việc thực thi quyền tài phán và quản lý địa phương trên thực tế, cũng như tới pháp luật liên quan tới lãnh thổ yêu sách[181], quyết định của vụMinquiers đã đặt ra tiêu chuẩn có thể hướng dẫn cho các hành động đơn phương, mà sau này các bên quan tâm thực hiện ở khu vực Biển Đông.

Như khuôn mẫu đã có trong quá khứ, các quốc gia cạnh tranh tập trung những nỗ lực ban đầu của họ vào việc chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa. Năm 1955, năm năm sau khi lực lượng Trung Hoa Dân quốc từ bỏ các vị trí của họ tại Hoàng Sa, Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa đã phái quân đi chiếm đóng nhóm đảo Amphitrite (Vĩnh An) ở sườn phía Đông quần đảo Hoàng Sa. Đáp lại, quân đội Pháp đã tái chiếm nhóm đảo Crescent (Lưỡi Liềm) ở phía Tây quần đảo Hoàng Sa, bề ngoài là để bảo vệ một phân khu hành chính trong quần đảo được thiết lập bởi một nghị định hành chính do Toàn quyền Pháp ở Đông Dương ban hành ngày 5 tháng 5 năm 1939[182]. Trong năm đó, lực lượng dân quân Nam Việt Nam đã thay thế quân đội Pháp, do Pháp rút lui khỏi Đông Dương theo Hiệp định Geneva năm 1954 công nhận nền độc lập của Việt Nam.[183]

Năm tiếp theo, năm 1956, đã chứng kiến một sự chuyển hướng quan tâm từ Hoàng Sa sang Trường Sa, khi một bên mới tham gia đưa ra yêu sách nhằm tranh giành quyền kiểm soát khu vực Biển Đông. Ngày 15 tháng 5 năm 1956, Tomas Cloma, một thương gia Philippin, là người sở hữu một đội tàu đánh cá và điều hành một học viện tư nhân đào tạo về hàng hải, gửi một bức thư cho Phó Tổng thống, và đồng thời là Bộ trưởng Bộ Ngoại giao của Philippin, ông Carlos P. Garcia, xác nhận rằng, năm 1947, ông ta và đoàn thuỷ thủ của mình đã phát hiện ra, và từ năm 1950 đã chiếm hữu, “Quần đảo Vùng tự do (Kalayaan)”, là một nhóm đảo nằm ngoài các vùng nước của Philippin nhưng, rõ ràng là không nằm trong thẩm quyền tài phán của bất kỳ quốc gia nào khác, như được xác định trong một bản đồ được gửi kèm theo thư[184]. Xác nhận này bao gồm các đảo chính phía Tây Trường Sa gồm các đảo Itu Aba (Ba Bình), Trường Sa, Nam Yết và Thị Tứ. Ngày 21 tháng 5 năm 1956, Cloma gửi cho chính phủ Philippin bức thư thứ hai trong đó, sau khi khẳng định sự xác nhận của mình được đưa ra với tư cách cá nhân và không đại diện cho chính phủ Philippin, tuy nhiên Cloma nói thêm rằng, quần đảo này đã trở thành lãnh thổ của Philippin bởi nó đã được người dân của Philippin chiếm hữu. Cloma sau đó đã chỉ trích chính phủ Philippin không tán thành sự xác nhận của mình trên các diễn đàn quốc tế như Liên hợp quốc, vì điều này có thể khuyến khích sự phản đối từ các quốc gia khác, qua đó gợi ý rằng ông ta đã nhận thấy sự tồn tại của các bên yêu sách khác đối với quần đảo này.[185]

Mặc dù chính phủ Philippin phản ứng chậm chạp với đề nghị của Cloma, các bên quan tâm khác đến Trường Sa, đặc biệt là Đài Loan và Nam Việt Nam, lại có những bước tiến ngay tức thì. Tháng 6 năm 1956, Đài Loan cử hai phái đoàn hải quân tới Trường Sa và ngày 29 tháng 6 năm 1956 đã đóng một lực lượng thăm dò trên đảo Itu Aba (Ba Bình)[186]. Đoàn thuỷ thủ của Cloma quay lại đảo Itu Aba (Ba Bình) và Thị Tứ ngày 8 tháng 6 năm 1956, sau khi phái đoàn hải quân đầu tiên của Đài Loan đã thăm dò vùng này. Sau đó,Cloma đảo ngược quan điểm ban đầu của mình và cố gắng giành sự ủng hộ tán thành của Philippin cho yêu sách của ông ta trước Liên hợp quốc[187]. Sau khi không thuyết phục được chính phủ Philippin, ngày 6 tháng 7 năm 1956, Cloma đã tuyên bố thành lập một chính phủ riêng cho “Lãnh thổ tự do của Vùng đất tự do” với thủ đô là đảo Flat (Bình Nguyên)[188]. Những nỗ lực này đã trở nên vô nghĩa vì ngày 24 tháng 9 năm 1956, Đài Loan đã hoàn toàn đóng quân trên đảo Itu Aba (Ba Bình) và bắt đầu ngăn cản các tàu của Cloma bị họ phát hiện thấy trong các vùng nước gần kề[189].

Về phía mình, mùa hè năm 1956, Nam Việt Nam phái một tàu khu trục đi tuần tra quần đảo Trường Sa, cắm cờ và dựng cột mốc trên các hòn đảo thể hiện sự chiếm hữu, nhưng lại không duy trì sự hiện diện thường xuyên trong khu vực này[190]. Ngày 22 tháng 10 năm 1956, chính quyền Sài Gòn đã ra tuyên bố sáp nhập quần đảo Trường Sa vào tỉnh Phước Tuy của họ[191].

Chính phủ Philippin đã tuyên bố quan điểm của mình về yêu sách của Cloma trong một tuyên bố do Bộ trưởng Garcia thay mặt chính phủ đưa ra tháng 12 năm 1956. Trước tuyên bố này, chính phủ Philippin có những tuyên bố khác về các quần đảo trên Biển Đông là tuyên bố năm 1947 do Garcia, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao lúc bấy giờ đưa ra, và tuyên bố năm 1950, do Tổng thống Elpidio Quirino đưa ra. Cả hai tuyên bố trên đều khẳng định, “Quần đảo mới phía Nam”, thực thể hành chính mà Nhật Bản đã lập nên trong thời gian chiến tranh cho các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, nên được đặt dưới quyền tài phán của Philippin, coi như sự bảo đảm an ninh chống lại sự tái diễn việc Nhật Bản sử dụng chúng làm các căn cứ để xâm lược Philippin khi có chiến tranh[192].

Tuyên bố 1956 của Garcia[193], mặc dù còn thận trọng và lập lờ, chủ yếu cố gắng lập luận rằng, quần đảo Trường Sa là đất vô chủ và vì vậy để ngỏ quyền chiếm hữu cho bất cứ bên nào. Tuyên bố bắt đầu bằng việc phân biệt giữa một bên là quần đảo “Spratly” (Trường Sa) mà Nhật Bản đã từ bỏ mọi quyền hạn của mình theo Hoà ước San Francisco với các đảo, hòn, mỏm, bãi ngầm và bãi cát còn lại nằm trong yêu sách của Cloma. Sau đó, tuyên bố xác định nhóm đầu tiên là lãnh thổ đặt dưới “sự uỷ thác quản lý thực tế của các lực lượng Đồng minh chiến thắng trong Thế chiến II” theo việc thực hiện Hoà ước San Francisco, vì không có sự dàn xếp về vấn đề chuyển giao chủ quyền đối với các đảo sau khi Nhật Bản từ bỏ các yêu sách của mình đối với các hòn đảo đó. Nhóm đảo thứ hai nằm trong yêu sách Cloma được coi là “đất vô chủ”, một số (các hòn đảo) mới xuất hiện, số khác đã được đánh dấu trên bản đồ thế giới chưa được vẽ và sự tồn tại của chúng còn đáng ngờ, và tất cả đều chưa bị chiếm hữu cũng như chưa có người sinh sống. Trong mọi trường hợp, quan điểm rõ ràng của Philippin là quần đảo Trường Sa là bỏ ngỏ cho việc khai thác và định cư của người Philippin.

Mặc dù được đưa ra nhằm bằng cách nào đó giúp chính phủ Philippin tránh việc phê chuẩn chính thức yêu sách của Cloma, đồng thời không làm cản trở khả năng của chính phủ trong việc đưa ra yêu sách đối với Trường Sa, tuyên bố Garcia vẫn có vấn đề. Đầu tiên, việc phân biệt có chủ ý giữa các đảo của quần đảo Trường Sa dường như không ổn. Một mặt, yêu sách Cloma là đơn nhất và bao gồm bản thân đảo Trường Sa. Mặt khác, không có thành viên nào của các lực lượng Đồng Minh trước đó đề cập tới bất cứ hình thức uỷ thác quản lý thực tế nào đối với Trường Sa; ngược lại, khi các lực lượng này dự định thiết lập một sự uỷ quyền quản lý như vậy, họ đã thể hiện rất rõ ràng, giống như trong trường hợp thiết lập sự uỷ thác quản lý của Hoa Kỳ đối với các đảo Ryukyu và Bonin[194]. Thứ hai, Philippin đã đưa ra điều kiện cho sự thừa nhận của mình về tính hợp pháp trong các hành động của Cloma trên cơ sở thấy rằng “chủ quyền độc nhất của bất kỳ quốc gia nào…(đối với Trường Sa)… vẫn chưa được thiết lập”. Nhưng ngay từ thời điểm bức thư đầu tiên của Cloma gửi cho chính phủ Philippin thông báo về “sự phát hiện” của ông ta, đã có biểu hiện Cloma nhận thấy những yêu sách của các quốc gia khác đối với lãnh thổ Trường Sa[195].

Tuy nhiên, sau khi Tuyên bố Garcia nhanh chóng bị phản đối từ phía Trung Quốc, Nam Việt Nam, Đài Loan và thậm chí cả Pháp, chính phủ Philippin đã chuyển sang việc cam đoan ngay lập tức với chính phủ Đài Bắc và Sài Gòn rằng, không phải họ đưa ra một yêu sách chính thức về chủ quyền đối với quần đảo này[196]. Mãi tới năm 1971, Philippin mới thực hiện những hành động tích cực nhằm thúc đẩy các yêu sách của Cloma.

Mặc dù chính phủ Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa đã yêu sách chủ quyền đối với các quần đảo trên Biển Đông ngay từ Tuyên bố năm 1951 của ông Chu Ân Lai, đến năm 1956 họ vẫn không có khả năng về hải quân để chứng tỏ sự hiện diện của mình trong khu vực. Vì vậy, họ chỉ hạn chế ở việc xuất bản các bài bình luận trên các tờ báo như Trung Hoa Nhân dân và Tạp chí Bắc Kinh để lên án các hành động của cả Philippin và Nam Việt Nam là hành động thù địch với Trung Quốc và bị Hoa Kỳ xúi giục, thực hiện chính sách “kìm chế” Trung Quốc qua “sự bao vây” nước này bởi những quốc gia có các chính phủ không thân thiện lãnh đạo[197]. Tuy nhiên, chính phủ Trung Quốc đã không chính thức phản đối việc Đài Loan chiếm hữu đảo Itu Aba (Ba Bình). Chính Trung Quốc không có lực lượng quân đội thiết lập căn cứ trên các hòn đảo này, nên họ hiểu rằng sự hiện diện của Đài Loan ở đó đã tạo nên bằng chứng thực tế cần thiết để giữ vững khẳng định, sự chiếm hữu hợp pháp “của người Trung Quốc” vẫn được liên tục duy trì tại Trường Sa[198].

Kết luận

Việc xem xét trên đây về việc các bên có quan tâm tại khu vực Biển Đông đã sử dụng các quy định của luật pháp quốc tế như thế nào để yêu sách cho tính hợp pháp hoá các khẳng định của họ về chủ quyền đối với Trường Sa đưa tới các kết luận sau:

(a) Các khẳng định về danh nghĩa lịch sử không có giá trị làm bằng chứng cho việc thiết lập hiệu lực cho yêu sách chủ quyền đối với lãnh thổ tranh chấp. Ngay từ đầu, khó có thể giải quyết thoả đáng những hoài nghi về tính xác thực của các ghi chép sớm nhất, cũng như về tính chính xác của các tài liệu tham khảo rút ra từ đó, do những bằng chứng vẫn còn bị tranh cãi do các nguồn tin của các bên cạnh tranh cung cấp. Kết quả là, các danh nghĩa lịch sử chủ yếu chỉ hữu ích cho các quốc gia yêu sách như một phương cách để hợp pháp hoá sự chiếm hữu được thực hiện vào thời gian gần đây hơn. Phán xử trong vụ Palmas thừa nhận, các danh nghĩa lịch sử có thể tạo ra cho một quốc gia một danh nghĩa ban đầu, và sau đó có thể trở nên có hiệu lực thông qua việc thực hiện quyền tài phán đối với lãnh thổ tranh chấp. Tuy nhiên, vụ Palmas, cũng như luật pháp sau đó cũng quy định rằng, chiếm hữu thực tế là một danh nghĩa có giá trị đối với lãnh thổ và hiệu lực của nó không phụ thuộc vào sự tồn tại của danh nghĩa lịch sử trước đó của quốc gia có lợi thế. Do vậy, chủ yếu các quốc gia nói tới “danh nghĩa lịch sử” về nguyên tắc nhằm làm dịu đi việc họ đơn phương sử dụng quyền lực để yêu sách lãnh thổ.

(b) Tuy đã có một vài ví dụ trong lịch sử tranh chấp Biển Đông, trong khi các hiệp định quốc tế đã có thể được coi là những mô hình xác định để giải quyết sự không rõ ràng về vấn đề chủ quyền, những tính toán chính trị của các quốc gia tham gia vào quá trình đàm phán đã tạo ra những văn kiện mơ hồ và bỏ ngỏ mà bất cứ quốc gia nào trong số đó cũng có thể giải thích theo hướng thuận lợi cho chương trình hành động của họ trong khu vực. Các hiệp định quốc tế này đã tạo nên một khung cảnh, trong đó chủ nghĩa đơn phương trong hành động quốc gia, được coi là một cách bành trướng quyền chủ quyền đối với lãnh thổ tranh chấp, trở nên hợp pháp chứ không đưa ra các cơ sở cho việc thiết lập một trật tự khu vực tại Biển Đông.

(c) Khi đã thừa nhận rằng chiếm hữu như một phương thức thức thụ đắc lãnh thổ, có ưu thế so với những danh nghĩa lịch sử không được những biểu hiện tiếp theo của quyền tài phán làm cho có hiệu lực, những quy định pháp luật khởi đầu từ vụ Palmas đã đi theo hướng đạt được những mục tiêu thực tiễn cũng như chính sách. Khái niệm pháp lý về chiếm hữu, một mặt, đã đưa ra một căn cứ chính xác cho một yêu sách về chủ quyền lãnh thổ, thông qua việc quy định tuân thủ các yêu cầu về bằng chứng. Mặt khác, khái niệm này cũng nhằm tăng cường giữ gìn trật tự trong mối quan hệ giữa các quốc gia láng giềng, thông qua việc trao thẩm quyền tài phán cho chủ thể liên tục thể hiện khả năng đảm bảo bảo vệ cho các chủ thể khác các quyền của họ theo luật quốc tế.

Tuy nhiên, những kết quả của việc thực hiện quy định này lại trái ngược với các mục đích đã được tuyên bố. Bằng việc tách rời sự chiếm hữu như một phương thức thụ đắc danh nghĩa ra khỏi yêu sách lịch sử, quy định của vụ Palmas đã mở ra một lĩnh vực cạnh tranh lãnh thổ tranh chấp cho các quốc gia mà sự quan tâm của họ có thể bị kích động bởi những mục tiêu bành trướng xuất hiện gần đây. Tình trạng này còn bị trầm trọng thêm bởi việc chấp nhận một tiêu chuẩn chứng cứ đòi hỏi một mức độ hoạt động tương đối thấp để có thể duy trì một yêu sách về chiếm hữu thực tế. Vì vậy, điều này xúi giục các quốc gia cạnh tranh thực hiện những hành động đơn phương cực đoan nhằm thu thập thật nhiều tài liệu hoạt động, tới mức độ mà họ tin rằng sẽ đủ để chiếm ưu thế hơn hẳn tài liệu của các bên yêu sách khác. Qui định này đã trở thành một công thức cho sự leo thang cạnh tranh căng thẳng giữa các quốc gia quan tâm hơn là giữ gìn trật tự trong khu vực.

Gerardo Martin C. Valero[199]

————

Bài viết  đã được trình bày tại Hội nghị Bàn tròn về “Tranh chấp quần đảo Trường Sa” tổ chức tại Trung tâm Pháp luật của trường Đại học tổng hợp Philippin vào ngày 27/1/1993. Bài viết này là một phần của luận án tiến sĩ của tác giả tại trường Đại học Luật Yale. Thành phần tham gia hội nghị là các học giả và tướng cấp cao Philippin.

Chú thích:

[1] Xem, Tao Cheng “Tranh chấp đối với các đảo ở Biển Đông”, 10 Tạp chí Luật quốc tế Texas 265(1975); Hungdah Chiu và Choon-ho Park, “Quy chế pháp lý của các quần đảo Paracel (Hoàng Sa) và Spratly (Trường Sa)”, 3,Tạp chí Luật quốc tế và Phát triển biển 1(1975); Diane C. Drigot “Mối quan tâm về dầu lửa, một yếu tố trong yêu sách của Philippin và những tranh chấp lãnh thổ trên biển ở Biển Đông”, 8 Luật Quốc tế Yrbk Philippin 39 (1982).

[2] Xem, Peter Polomka, Chính trị biển ở Đông Nam Á (Singapore, Viện Nghiên cứu Đông Nam Á, 1978); Lee Yong Leng, Đông Nam Á và Luật Biển: Một số ý kiến chính trị về địa lý chính trị các biển vùng Đông Nam Á (Singapore, Nxb. trường Đại học tổng hợp Singapore, 1980); Jorge Coquia, “Phân tích thuyết quốc gia quần đảo trong công ước mới về Luật Biển”, trong cuốn Những bài viết chọn lọc về Luật Biển, ấn phẩm của Ban thư ký Uỷ ban Chính phủ về Hiệp ước Luật Biển, chuyên khảo, số 1 (Manila: Nxb. Viện Phát triển Philippin, 1982); Miriam Defensor-Santiago, Khái niệm quần đảo trong Luật Biển: Những vấn đề và triển vọng, ấn phẩm của Ban thư ký Uỷ ban Chính phủ về Hiệp ước Luật Biển, chuyên khảo, số 2 (Manila: Nxb. Viện Phát triển Philippin, 1982); Phiphat Tansubkol, ASEAN và Luật Biển (Singapore: Viện Nghiên cứu Đông Nam Á, 1982); Phiphat Tansubkol, Các quốc gia quần đảo Đông Nam Á: Khái niệm, quá trình phát triển và thực tiễn hiện nay (Honolulu: Viện Nghiên cứu môi trường và chính sách Đông-Tây, 1984); Hội thảo quốc tế về Luật Biển mới ở Đông Nam Á: Những kết quả phát triển và hướng tiếp cận của khu vực, Douglas M. Johnston, và những người khác, biên soạn. (Halifax, Nova Scotia: Chương trình nghiên cứu đại dương Dalhousie, 1985); Kriangsak Kittichaisaree,Luật Biển và hoạnh định ranh giới biển ở Đông Nam Á (Singapore-London-New York: Nxb. trường Đại học tổng hợp Oxford, 1987; Tạo lập ranh giới biển: Các biến động và các vấn đề khu vực, Douglas M. Johnston & Philip M. Saunders, biên soạn. (London-New York: Croom Helm, 1988).

[3] Kittichaisaree, tr.139. Các nguồn tin khác cũng lưu ý rằng, tranh chấp giữa Việt Nam và Indonesia không liên quan đến quyền sở hữu các đảo mà chỉ liên quan đến quyền tài phán đối với vùng nước xung quanh (Douglas M. Johnston & Mark Valencia, Các vấn đề ranh giới biển Thái Bình Dương: Quy chế và giải pháp, Q.16, ấn phẩm về phát triển đại dương (Dordrecht-Boston-London; Nxb. Martinus Nijhoff, 1991), tr.130.

[4] Quần đảo Trường Sa có thể được xác định là gồm các đảo nằm giữa vĩ tuyến 40 và 110 30’B và kinh tuyến 109 30’Đ. Nó trải dài trên khoảng 1.000 km, từ Bắc xuống Nam. Những khoảng cách gần bờ, tính theo cách đo điểm gần nhất bao gồm: 650 km về phía Đông của bờ biển Việt Nam; 750 km về phía Nam của quần đảo Hoàng Sa; 1.000 km từ đảo Hải Nam của Trung Quốc tới điểm tận cùng phía Bắc của quần đảo Trường Sa; 250 km kể từ bờ biển Sabah; 160 km kể từ bờ biển Sarawak của Malaysia và 100 km về phía Tây của đảo Palawan, Philippin. (Xem,Từ điển địa lý, Marwyn Samuels, Cuộc tranh cãi về Biển Đông (New York & London; Methuen, 1982). Tuy nhiên, lưu ý rằng do các đảo ở khu vực này ban đầu là những đảo san hô, do vậy có một quá trình liên tục hình thành đảo đang diễn ra. Ở quần đảo Trường Sa có thể dẫn tới sự hình thành các đảo hay nhóm đảo mới chưa được ghi tên lên bản đồ. Nhằm tránh sự nhầm lẫn khi đề cập đến “đảo Trường Sa” hiện do Việt Nam chiếm giữ và toàn bộ bản thân quần đảo, trong bài viết này sẽ đề cập đến toàn bộ quần đảo là “Spratly archipelago “ (quần đảo Trường Sa) hoặc “Spratlys” (Trường Sa).

Trung Quốc, Đài Loan và Việt Nam yêu sách toàn bộ các đảo thuộc quần đảo Trường Sa. Philippin chủ yếu chỉ yêu sách vùng phía Tây của quần đảo Trường Sa nằm gần nhất với đảo Palawan của họ, nhưng cũng bao gồm hầu hết những đảo lớn của quần đảo này. Malaysia chỉ yêu sách ba đảo mà hiện họ đang chiếm giữ và cả  đảo Amboyna Cay (An Bang) do Việt Nam chiếm giữ.

Ngoài năm nước yêu sách nói trên, Brunei cũng đã nêu yêu sách đối với đá Louisa (Luxia), một trong những “bãi phía Nam” của quần đảo Trường Sa, tuy nhiên, nó thường xuyên ngập dưới mặt nước. (Xem, Tuyên bố của Hoàng tử Mohamad Bolkiah, Ngoại trưởng Brunei, với Reuters, ngày 26/1/1992). Có ý kiến cho rằng Brunei “về mặt địa lý có thể được xếp vào loại” có quyền yêu sách như vậy (Johnston & Valencia, tr.59). Tuy nhiên, do thực tế là đá Louisa (Luxia) gần như là hoàn toàn ngập dưới mặt nước khi triều lên, Brunei không duy trì sự có mặt chính thức về quân sự trên quần đảo Trường Sa (United Press Int’l., ngày 9/2/1992).

[5] Việt Nam đã chiếm giữ 25 đảo với căn cứ chính trên đảo Spratly (Trường Sa). Philippin giữ tám đảo với căn cứ trên đảo Thi Tu (“Pagasa”). Trung Quốc giữ tám đảo. Malaysia có ba đảo và đã mở cửa đảo đá Swallow (“Terumbu Layang-Layang”) – (Hoa Lau) làm một khu du lịch. Đài Loan giữ đảo Itu Aba (Ba Bình), đảo lớn nhất của quần đảo Trường Sa. (Dịch vụ thông tấn quốc tế, ngày 19/7/1991, The Christian Science Monitor, ngày 15/7/1991).

[6] Năm 1971, Philippin đổ quân lên sáu đảo thuộc quần đảo Trường Sa sau khi những phản đối về mặt ngoại giao không ngăn trở được sự phát sinh những sự kiện có dính líu đến đụng độ quân sự với hải quân Đài Loan (Xem, Haydee Yorac, “Yêu sách của Philippin đối với nhóm đảo Trường Sa”, 58, Phil. L.J. 45 [1983]).

[7] Lỗ Chí Kiên, Chính sách của Trung Quốc về những tranh chấp lãnh thổ: Trường hợp các đảo ở Biển Đông (London & New York; Routledge, 1989) tr.146. Quân đội của (Bắc) Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã giành quyền kiểm soát các vị trí của Nam Việt Nam tháng 4/1975.

[8] Các nguồn tin của Trung Quốc cho biết,  Hải quân Trung Quốc đã làm đắm một tầu của Việt Nam và làm hư hỏng hai tầu chở hàng gần đảo Sin Cowe (Sinh Tồn) thuộc bãi Union (Cụm Sinh Tồn) trong “Khu vực nguy hiểm” của quần đảo Trường Sa . Việt Nam đưa tin là có ba người bị thương và 74 người bị mất tích sau trận chiến (Thời báo Los Angeles, ngày 17/3/1988; Reuters, ngày 15/3/1988).

[9] Đảo lớn nhất của quần đảo, Itu Aba (Ba Bình) chỉ có 1,2 km (0,75 dặm) chiều dài và vẻn vẹn 336 m (1.100 feet) chiều rộng. Tất cả các đảo quan trọng nhất, bao gồm: Itu Aba (Ba Bình), ThiTu (Thị Tứ), Loai Ta (Loại Ta), Nam Yit (Nam Yết) và đảo Trường Sa đều nằm ở rìa phía Tây của quần đảo. Dấu hiệu phân biệt chính của chúng là sự tồn tại của nước ngọt, và trong trường hợp đảo Itu Aba (Ba Bình) và Trường Sa là có những mỏ phân chim (Samuels, Từ điển Địa lý).

[10] Choon – Ho Park, “Các tranh chấp ở Biển Đông : Ai là chủ sở hữu của các đảo và các nguồn tài nguyên thiên nhiên?,” 1, Tạp chí Luật quốc tế và phát triển biển 27 (1973), tr.37. Xem thêm, Chiu & Park, tr.20.

[11] Công ước về Luật Biển (“LOS”) được ký kết bởi 155 quốc gia khi kết thúc Hội nghị quốc tế lần thứ III về luật biển UNCLOS III quy định tại Điều 122 rằng, một “biển kín hay nửa kín” là một “vùng biển do hai hay nhiều quốc gia bao bọc xung quanh và thông với một biển khác hay với đại dương qua một cửa hẹp, hoặc là hoàn toàn hay chủ yếu do các lãnh hải và các vùng đặc quyền về kinh tế của hai hay nhiều quốc gia tạo thành.”

[12] Tuyên bố ngày 12/5/1977 về lãnh hải, vùng tiếp giáp, thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế (Bắc Mỹ, châu Á – Thái Bình Dương và sự phát triển của luật biển, M. Nordquist & Choon-Ho Park, biên soạn, tập .2 (London-Rome-New York; Ấn phẩm về đại dương, Inc., 1981). Đoạn 5 của Tuyên bố quy định rằng “các đảo và quần đảo thuộc lãnh thổ của Việt Nam ở ngoài vùng lãnh hải của Việt Nam … đều có lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa.” Ở đây là đề cập tới quần đảo Trường Sa và quần đảo Hoàng Sa vốn đã được gộp vào các tỉnh đất liền của Việt Nam với mục đích quản lý hành chính trong nước.

[13] Nghị định số 1596 của Tổng thống, ban hành ngày 11/6/1978. Luật về sáp nhập quần đảo Trường Sa vào trong đường cơ sở đang có của Philippin, được biết đến với cái tên là Đạo luật của nghị viện số 206, đã bị lưu lại ở Nghị viện Philippin kể từ khi được Chủ tịch Uỷ ban quan hệ quốc tế đệ trình năm 1987.

[14] Nghị định số 1599 của Tổng thống, cũng ban hành ngày 11/6/1978. Lưu ý, Nghị định số 1596 của Tổng thống, tuyên bố việc sáp nhập phần phía Tây của quần đảo Trường Sa không xác định rõ là có phải quần đảo đã được sáp nhập vào bên trong đường cơ sở đang có của Philippin hay không, như được xác định bởi Đạo luật Cộng hoà số 3046(1961) và 5446 (1968), hay được coi là một quần đảo riêng biệt được đưa vào dưới quyền tài phán của Philippin. Vì Nghị định số 1599 của Tổng thống không xác định rõ là vùng đặc quyền kinh tế được xác định như thế nào, do vậy cũng không rõ là các vùng biển quanh quần đảo Trường Sa sẽ được vạch như thế nào.

[15] Tháng 12/1979, lần đầu tiên Malaysia yêu sách đảo Amboyna Cay (An Bang) ở phía Tây quần đảo Trường Sa và đá Swallow (Hoa Lau) và đá Louisa (Luxia) ở phía Nam quần đảo Trường Sa là một phần thềm lục địa của họ (Samuels, tr.163). Một bản đồ về các vùng nước lãnh thổ của Malaysia phản ánh sự hợp nhất này đã được xuất bản vào ngày 14/4/1980 (Các bản tin của Đài phát thanh nước Anh, ngày 14/4/1980).

[16] Các báo cáo của thư viện Reuters, ngày 26/2/1992. Ví dụ như, đạo luật của Trung Quốc đã được áp dụng với các đảo Senkaku hay Diaoyutai nằm ở biển Đông Trung Hoa cách Đài Loan 90 hải lý về phía Đông Bắc mà Nhật Bản và Đài Loan cũng yêu sách.

[17] Các bản tin của Đài phát thanh nước Anh, ngày 3/3/1992.

[18] Các bản tin của Đài phát thanh nước Anh, ngày 23/7/1991.

[19]Sđd.

[20] Thông tấn Pháp, ngày 3/11/1991; Boston Globe, ngày 22/7/1991. Hội nghị Băng Đung là hội nghị tại đó, lần đầu tiên Trung Quốc và Đài Loan đồng ý tham gia những cuộc nói chuyện về vấn đề tương lai của quần đảo Trường Sa (Thời báo Los Angeles, ngày 16/7/1991). Trung Quốc đã tẩy chay một cuộc thảo luận không chính thức tương tự về tranh chấp đối với quần đảo Trường Sa do Hiệp hội các nước Đông Nam Á (“ASEAN”) tổ chức tại Bali, Indonesia vào tháng 1/1991 (Dịch vụ thông tấn quốc tế, ngày 19/7/1991).

[21] Thời báo Los Angeles, ngày 16/7/1991; Tuần báo Nikkei, ngày 27/7/1991.

[22] Tuyên bố của Wang Yingfan, Vụ trưởng Vụ Châu Á, Bộ Ngoại giao Trung Quốc và trưởng đoàn đại biểu Trung Quốc tham gia Hội nghị Băng Đung, theo thông tin từ Dịch vụ Thông tin Kyodo, ngày 18/7/1991; Các bản tin của Đài phát thanh nước Anh, ngày 30/7/1991.

[23] Tháng 4/1988, pháo hạm của Malaysia đã bắt giữ bốn tầu đánh cá của Philippin ngoài khơi đá Comodore (Công Đo), cầm tù 49 dân chài Philippin trên tầu và truy tố họ về tội vi phạm Luật Đánh cá năm 1985 của Malaysia. (Nguồn tin thông tấn quốc tế, ngày 16/9/1988). Mặc dù Toà án Tối cao Malaysia tại Kota Kinabalu, Sabah thấy rằng các tầu này đã đánh cá trong vùng đặc quyền kinh tế của Malaysia, Toà đã tuyên bố họ vô tội do nhầm lẫn (Xem, Quyết định của Hon. Raymond Wong, ngày 1/8/1988). Chính phủ Malaysia tuyên bố sẽ kháng cáo quyết định này, nhưng sau khi có đại diện ngoại giao của Bộ Ngoại giao Philippin, đại diện cho những dân chài bị giam giữ cũng như có lời thỉnh cầu của Tổng thống Philippin, Corazon Aquino tới Thủ tướng Malaysia, Mahatir Mohammad, đã không có kháng cáo nào được đệ trình. Những người dân chài đã được thả ra vào tháng 9/1988 sau khi một người đã chết trong khi bị cầm tù.

Tháng 3/1992, Hải quân Philippin đã bắt giữ bẩy dân chài Trung Quốc vì lý do đánh cá tại khu vực cấm ở ngoài khơi đảo Pag-asa (Thị Tứ), đảo lớn nhất mà Philippin chiếm giữ trong quần đảo Trường Sa (Các bản tin của Đài phát thanh nước Anh, ngày 24/3/1992). Bộ Ngoại giao Trung Quốc phản đối vụ bắt giữ này, tuyên bố rằng “Không có lý do nào để tranh cãi về việc Trung Quốc có chủ quyền đối với quần đảo Nam Sa (quần đảo Trường Sa) và vùng biển xung quanh” (Thông tin kinh tế Nhật Bản, ngày 24/3/1992). Sau “những dàn xếp và hội đàm thân thiện” những dân chài đã được thả ra vào tháng 4/1992 (Reuters, ngày 1/4/1992).

[24] Reuters, ngày 26/2/1992.

[25]  Thông tin kinh tế Nhật Bản, ngày 4/3/1992.

[26] Các quốc gia yêu sách có thể sẽ phải đối mặt với tình cảnh này sớm hơn là họ tưởng. Với một hành động không ngờ, gần đây Trung Quốc đã ký một hợp đồng khai thác dầu lửa, cho phép Công ty Crestone-Energy, một công ty của Mỹ, hoạt động tại một lô 9.700 m2 ở Biển Đông, nơi Việt Nam cũng có yêu sách. Randall Thomson, Chủ tịch Creston tuyên bố rằng, mặc dù công ty đã biết  quyền tài phán đối với khu vực này đang bị tranh chấp, nhưng công ty vẫn ký hợp đồng vì Trung Quốc đã bảo đảm họ sẽ sử dụng toàn bộ khả năng hải quân để bảo vệ cho những hoạt động của công ty. (Thời báo New York, ngày 18/6/1992).

[27] Chiu & Park, tr.20.

[28] Dẫn chứng về tư tưởng này được phản ánh trong những tuyên bố của các vị sau: Ngày 1/9/1991 Reuters đã trích lời của Bộ trưởng Quốc phòng Malaysia nói rằng, tiền của đổ ra để xây dựng Đá Swallow (Hoa Lau) “không là gì khi so sánh với việc bảo vệ chủ quyền quốc gia và tầm quan trọng kinh tế và chiến lược của các đảo san hô”. Ngày 16/6/1991, Thời báo Los Angeles trích lời của Trung tướng Lisandro Abadia, Tham mưu trưởng các lực lượng vũ trang Philippin rằng “ có những biểu hiện rõ ràng rằng, đấu trường tranh chấp trong tương lai có thể sẽ chuyển sang vùng biển, đặc biệt là những tranh chấp về lãnh thổ đối với quần đảo Trường Sa”; Ngày 16/6/1991, Reuters trích lời của Đại sứ Philippin tại Malaysia, Rodolfo Severino rằng, khó có thể phát triển các nguồn tài nguyên ở quần đảo Trường Sa nếu trước tiên không dàn xếp các tranh chấp trên biển; Ngày 28/11/1989, Tân Hoa Xã đã trích lời của lãnh đạo đảng chiếm đa số trong Nghị viện Philippin, Teofisto Guingona, thúc giục đoàn đại biểu của Philippin đàm phán một hiệp định ranh giới biển với Malaysia để khẳng định “các quyền lãnh thổ” của Philippin.

[29] Lưu ý rằng dù thông cáo chung do các thành viên tham gia đưa ra cuối Hội nghị Băng Đung có nói rằng “bất kỳ tranh chấp tài phán và lãnh thổ nào ở khu vực Biển Đông cũng nên được giải quyết bằng các biện pháp hoà bình thông qua đối thoại và đàm phán.” (Tuần báo Nikkei, ngày 22/7/1991). Nhưng Chủ tịch Hội nghị Băng Đung, Ngoại trưởng Indonesia Ali Alatas đã chỉ ra rằng “nếu [các đại biểu] bắt đầu bằng các yêu sách chủ quyền, [hội nghị] sẽ ngay lập tức đi đến chỗ bế tắc.” (Dịch vụ Thông tấn quốc tế, ngày 19/7/1991).

[30]  Samuels, tr.128.

[31] Lỗ Chí Kiên, tr.167, 194; Chiu & Park, tr.4; Kittichaisaree, tr.137-150; Yorac, “Yêu sách của Philippin đối với quần đảo Trường Sa”; Ted L. McDorman, “Các vấn đề về hoạch định ranh giới biển đặc biệt ở biển Đông Nam Á” 10, Phil. Yrbk. Luật quốc tế 52, 65 (1984). Xem thêm, nói chung, Hiran W.Jayawardene, Chế độ các đảo trong luật quốc tế, Q.15 Các ấn phẩm về phát triển quốc tế (Dordrecht-Boston-London: Nxb. Martinus Nijhoff, 1989). Tuy nhiên, lưu ý đến một xu hướng đối ngược rõ ràng trong những ấn phẩm gần đây, Johnston & Valencia, Các vấn đề biên giới biển.

[32] Tham khảo các yêu sách của “Trung Quốc” về danh nghĩa lịch sử đối với quần đảo Trường Sa nên được coi là bao gồm của cả Cộng hoà Nhân dân (sau đây được gọi là Trung Quốc) và Đài Loan, được gọi là Cộng hoà Trung Quốc. Sẽ không sai khi khẳng định, phạm vi yêu sách lịch sử của cả hai thực thể này trùng nhau, vì mỗi bên đều yêu sách là người kế thừa toàn bộ các quyền thuộc về Trung Quốc, trước khi nước này trên thực tế bị phân chia năm 1949. Trung Quốc đã không phản đối việc Đài Loan chiếm giữ đảo Itu Aba (Ba Bình) ở quần đảo Trường Sa, chủ yếu vì mãi cho tới năm 1988, quân đồn trú của Đài Loan trên đảo này là sự tồn tại liên tục duy nhất của “Trung Quốc” trên quần đảo.

Nếu trong tương lai, Đài Loan tuyên bố việc tách biệt về mặt pháp lý ra khỏi Trung Quốc, có vẻ do vậy, Đài Loan sẽ phải từ bỏ các yêu sách của mình đối với quần đảo Trường Sa trên cơ sở danh nghĩa lịch sử, và với tư cách là một quốc gia mới, phải dựa trên các cơ sở khác để thủ đắc danh nghĩa như vậy. Do Đài Loan là quốc gia đầu tiên đóng quân trên đảo Itu Aba (Ba Bình) sau Chiến tranh thế giới II, yêu sách mạnh mẽ nhất của họ về quyền sở hữu đối với quần đảo Trường Sa sẽ dựa trên cơ sở việc chiếm hữu đảo lớn nhất trong quần đảo.

Philippin cũng đã cố gắng thiết lập yêu sách của họ đối với quần đảo Trường Sa dựa trên danh nghĩa lịch sử. Biểu hiện sớm nhất sự quan tâm của Philippin đối với quần đảo Trường Sa được ghi nhận vào năm 1947, khi Bộ trưởng Ngoại giao Philippin, Carlos P. Garcia biện hộ rằng, Quần đảo mới phía Nam, thực thể do Nhật Bản thiết lập để quản lý cả quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa năm 1939 và trong suốt cuộc chiến tranh, được chuyển cho Philippin như một bảo đảm về an ninh. Yêu cầu này dựa trên thực tế là, đảo Itu Aba (Ba Bình) đã được sử dụng làm căn cứ để Nhật Bản xâm lược Philippin trong cuộc chiến tranh (Cheng, tr.270, trích Ta Kung Pao [Thượng Hải], ngày 26/1/1947). Ngày 28/7/1947, vài tháng sau tuyên bố này, Philippin đã chấp nhận một đề xuất của Mỹ về việc triệu tập một hội nghị giữa mười một thành viên của Uỷ ban Viễn Đông để soạn thảo một hoà ước với Nhật Bản (Phòng thông tin quốc gia Mỹ, Q.XVIII, Số 426, ngày 31/8/1947, tr.436). Uỷ ban Viễn Đông đã được thành lập để soạn thảo các chính sách, nguyên tắc và tiêu chuẩn buộc Nhật Bản tuân thủ các nghĩa vụ của mình theo Tuyên bố Potsdam khi đầu hàng (Sđd, ngày 24/8/1947, tr.395). Tuy nhiên, tại Hội nghị Hoà bình San Francisco năm 1951 về dự thảo Hoà ước với Nhật Bản, khác với Việt Nam, Philippin đã không đưa ra yêu sách đối với các đảo ở Biển Đông (Xem, Các ý kiến của Carlos P.Romulo, Bộ trưởng Ngoại gia trong phiên họp toàn thể thứ sáu, Biên bản hội nghị: Hội nghị kết thúc và ký kết hoà ước với Nhật Bản, San Francisco, California, ngày 4-8/9/1951, Phòng xuất bản quốc gia Mỹ, Hội thảo và Tổ chức quốc tế, đợt phát hành II, Viễn Đông ngày 3/12/1951, tr.224-233). Ý kiến của ông Trần Văn Hữu, Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam về quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa đã được đưa ra tại phiên họp toàn thể thứ bẩy (Biên bản hội nghị, tr.263; xem thêm, chú thích 108 ở dưới).

Trong khi những hành vi không rõ ràng này khó có thể tạo nên cơ sở cho yêu sách của Philippin về danh nghĩa lịch sử ngang bằng với Trung Quốc hay Việt Nam, Philippin đã ghi nhận một yêu sách danh nghĩa lịch sử đối với quần đảo Trường Sa khi soạn thảo luật trong nước. Hiến pháp Philippin 1973 và 1987 đều bao gồm định nghĩa “lãnh thổ Philippin” bao gồm những tham chiếu đến “lãnh thổ trên đó [Philippin] có danh nghĩa lịch sử” (Đ.I, Hiến pháp 1973) hay đến “lãnh thổ trên đó Philippine có chủ quyền và quyền tài phán” (Đ.I, Hiến pháp 1987). Điều khoản năm 1973 đầu tiên đề cập đến yêu sách vẫn chưa được giải quyết đối với Sabah, nơi Philippin vẫn đang bảo vệ chống lại Malaysia, kể từ khi Malaysia độc lập năm 1957. Tuy nhiên, với phát kiến năm 1956 của Tomas Cloma về “Các đảo Kalayan” thuộc vùng quần đảo Trường Sa, người Philippin đã mở rộng giải thích của điều khoản này nhằm bao hàm yêu sách của mình đối với cả quần đảo Trường Sa. Theo đó, Nghị định Tổng thống số 1596 ban hành năm 1978 đã khẳng định việc sáp nhập các đảo Kalayaan thành một phần của Philippin trên cơ sở “lịch sử”, và những cơ sở khác.

[33] Tập hợp tài liệu về quan hệ đối ngoại của Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa (Bắc Kinh: Bộ Ngoại giao, 1961), Q.2, tr.32; trích dẫn trong Samuels, tr. 79.

[34] Shao Hsun-Cheng, “Các đảo của Trung Quốc ở Biển Đông”, Nhân dân Trung Hoa, Q.13, tr.27 (1956), trích dẫn trong Samuels, Phụ lục C; xem thêm Lỗ Chí Kiên, tr. 30.

[35] Lỗ Chí Kiên, các trang 34, 113; cũng được trích dẫn trong Samuels, Phụ lục C. “Xisha” là nói tới quần đảo Hoàng Sa và “Nansha” là nói tới quần đảo Trường Sa.

[36] Bộ Ngoại giao Việt Nam xuất bản Sách Trắng I ngày 27/9/1979 và Sách Trắng II ngày 18/1/1982. “Hoàng Sa” là đề cập đến quần đảo Paracels và “Trường Sa” là đề cập đến quần đảo Spratlys.

[37] Sách Trắng I & II; cũng xem Samuels, Phụ lục C. “Biển Đông” là đề cập tới Biển Đông.

[38] Xem, “Phủ biên tạp lục” (Tạp ký về vùng biên) vào khoảng năm 1784, trích trong Sách Trắng II.

[39]  Xem, “Đại Nam thực lục chính biên” (“Biên niên sử chính thức của nước Đại Nam”) vào khoảng năm 1830 và “Đại Nam nhất thống đồ” (“Bản đồ chi tiết của nước Đại Nam”) vào khoảng năm 1838, sử dụng một phần thông tin do một phái đoàn được cử tới nhóm đảo dưới thời vua Minh Mệnh thu thập được, trích dẫn trong Sách Trắng II.

[40]  Lỗ Chí Kiên, tr.31; Samuels, tr.6.

[41] Chiu & Park, tr. 9.

[42] Samuels, tr.23-24.

[43]  Sđd.

[44] Sđd., tr.36. Tuy nhiên Samuels lưu ý rằng, cái tên “Ch’ien – li shih – t’ang” thường là đề cập đến bãi ngầm Macclesfield và rằng, chỉ vì khoảng cách rộng giữa hai nhóm đảo mô tả trong bản đồ đi kèm nên dẫn đến kết luận đó là đề cập tới quần đảo Trường Sa. Xem thêm, Chiu & Park, tr.10.

[45] Tuy nhiên Samuels, tr.38; Chiu & Park, tr.10, đã trích dẫn một ấn phẩm của nhà Minh thế kỷ 16 mang tên “Hai – yu” hay “Trên biển” sử dụng tên “Wan – li chang – sha” để chỉ quần đảo Trường Sa.

[46] Samuels, tr.38

[47] Quần đảo Trường Sa đã được thừa nhận là thường bị nhầm lẫn với quần đảo Hoàng Sa trong tài liệu lịch sử của Trung Quốc. Xem, Chiu & Park, tr.10.

[48] Riêng theo tiêu chuẩn về khoảng cách, một quần đảo này tách biệt với một quần đảo khác khi chúng cách nhau khoảng 230 hải lý. Chiu & Park, tr.5.

[49] Trung Quốc yêu sách rằng nhóm đảo mà Việt Nam xác định là “Trường Sa”, đề cập đến nhóm đảo nằm gần bờ biển phía Nam của Việt Nam, chứ không phải là quần đảo Trường Sa (Tuyên bố của bộ Ngoại giao năm 1980, chú thích 35 ở trên.). Philippin lập luận rằng, “Trường Sa” mà Việt Nam yêu sách chỉ là đề cập đến nhóm gồm 7 đảo, trong đó đảo Trường Sa là lớn nhất và khẳng định rằng, yêu sách của Philippin bao gồm tất cả các đảo khác ở bên ngoài đơn vị địa lý đó. (Xem chú thích 193 ở dưới).

[50] Samuels, tr.40; Tài liệu lịch sử sớm nhất của phương Tây có phân biệt hai quần đảo là kết quả của cuộc khảo sát do đoàn thám hiểm của Kergiaou – Locmaria thực hiện (1887 – 1888) cùng thời điểm với Công ước Pháp – Thanh 1887 về phân định biên giới Đông Dương (Xem Chú thích 96 ở trên), “Yêu sách của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”, Phụ trương đặc biệt, Bộ Ngoại giao Việt Nam.

[51] Douglas M. Johnston, Lý thuyết và lịch sử của việc tạo lập biên giới biển (Kingston & Montreal: Nxb. trường Đại học tổng hợp McGill – Queen, 1998) tr.5.

[52] Xem Chú thích 35, ở trên.

[53] Đảo Palmas, 22 AJIL 867 (1928); Chủ quyền đối với đảo Clipperton, 26 AJIL 390 (1931); Quy chế pháp lý của Đông Greenland, Hudson, Các báo cáo của Tòa án quốc tế, Q.III, tr.148 (1933); Nhóm đảo Minquiers và Ecrehos, 1953 Các báo cáo của Toà án Pháp lý quốc tế (ICJ) 47.

[54]  Choon – Ho Park, tr.36; Cheng, tr.276 – 277.

[55] Palmas, tr.883.

[56] Sđd., tr.884.

[57] Samuels, tr.51.

[58] Sđd., tr.7. Xem thêm, Tzou, Byron N., Trung Quốc và Luật quốc tế (New York – Westport – London; Praeger,1990).

[59] Samuels, tr.40.

[60] Sđd., tr.51.

[61] Sđd.

[62] Sđd., tr.42.

[63] Sđd., tr.24, 47.

[64] D.R. Sar Desai, Việt Nam: Những thử thách và nỗi khổ cực của một dân tộc (Long Beach, California: Nxb. Long Beach, 1988) tr.26 – 27.

[65] Chuyến đi của vua Gia Long đến quần đảo Hoàng Sa đã được một tác giả người Pháp đương thời ghi lại, người này là cố vấn cho vua An Nam. Xem, J.B. Chaigneau, “Le Memoire sur cochinchine” được in trong “Bulletin des amis du Vieux Huej” 1820, trích trong Sách Trắng II. Xem thêm, Chiu & Park, tr.7.

[66] Hiệp ước Hoà bình và Hữu nghị giữa Pháp, Tây Ban Nha và An Nam, ngày 5/6/1862 ký tại Sài gòn, Martens, Nouveau Recueil General de Traites, lần 1. Quyển XVII, tr.169.

[67] Hiệp ước Hoà bình và Liên minh, ký tại Sài Gòn, ngày 15/3/1874 (Martens, Nouveau Recueil General de Traites, lần 2. Quyển II), tr.206.

[68]  Điều 2 và 3, Hiệp ước ngày 11/5/1884, ký tại Thiên Tân, 163 CTS 498.

[69] Sđd., Điều 4.

[70] Samuels, tr.44.

[71] Hiệp định Bảo hộ giữa Pháp và An Nam, ký tại Huế, ngày 6/6/1884, (Martens, Nouveau Recueil General de Traites, lần 2. Quyển XII), tr.624.

[72] Hiệp ước Thiên Tân giữa Trung Quốc và Pháp, ngày 9/6/1885, 166 CTS 196.

[73] Sđd., Điều 2, đoạn 2.

[74]  Minquiers, tr.56.

[75] Trật tự truyền thống của Trung Quốc là theo thứ bậc chứ không phải ngang bằng. Nói chung, mối quan hệ giữa các hoàng đế Trung Hoa và láng giềng, dựa trên cơ sở quan hệ triều cống, theo đó Trung Quốc nhận được sự đền đáp cho việc họ bảo hộ cho các nước láng giềng của mình khi họ còn cường thịnh. Xem, Tzou, B., tr.23. Khi sự ưu việt về chính trị và quân sự của họ lụi tàn vào thế kỷ 19, việc tiếp tục triều cống chủ yếu chỉ còn là hình thức.

[76] Choon – Ho Park, tr.33; Samuels, tr.66; Chiu & Park, tr.6.

[77] Samuels, tr.107.

[78] Xem, các bản tin của Tân Hoa Xã về cuộc triển lãm mang tên “Những bài ca về các hòn đảo Tây Sa tươi đẹp”, ngày 7 tháng 11 năm 1974.

[79] Samuels, tr.107.

[80] Sđd., tr.108.

[81] Lỗ chí Kiên, tr.77

[82] Tin tức quốc phòng, ngày 9 tháng 3 năm 1992; Các bản tin Đài phát thanh Anh quốc, 28 tháng 2 năm 1992; Thời báo Tài chính, 28 tháng 2 năm 1992.

[83] Tin tức chung Tân Hoa, ngày 27 tháng 1 năm 1992; Các bản tin Đài phát thanh Anh quốc, ngày 27 tháng 1 năm 1992; Reuters, ngày 23 tháng 1 năm 1992.

[84] Thời báo New York, ngày 22 tháng 3 năm 1992.

[85] Hãng thông tấn Pháp, ngày 6 tháng 4 năm 1992.

[86] Reuters, ngày 3 tháng 9 năm 1991.

[87]  Sđd.

[88] Reuter, ngày 3 tháng 3 năm 1992.

[89] Tin điện Kinh tế Nhật Bản, ngày 2 tháng 3 năm 1992; Reuters, ngày 15 tháng 3 năm 1992.

[90] Reuter, ngày 3 tháng 3 năm 1992.

[91] Reuter, ngày 13 tháng 4 năm 1992.

[92] Hiệp ước Phòng thủ chung giữa Hoa Kỳ và Philippin, ký tại Manila, 30 tháng 8 năm 1951, TIAS 2529.

[93] Tuyên bố của Frank Wisner, Đại sứ Hoa Kỳ tại Philippin, Reuters, 12 tháng 3 năm 1992.

[94]  Reuters, 13 tháng 4 năm 1992.

[95] Xem chú thích 67 và 71 ở trên. Việc xâm chiếm Việt Nam của Pháp gồm có việc lập Cochinchina (“Nam Kỳ”) làm thuộc địa, lập chế độ bảo hộ đối với An Nam (“Trung Kỳ”) và Tonkin (“Bắc Kỳ”).

[96] Công ước Pháp – Thanh nhằm phân định biên giới giữa Trung Quốc và Bắc Kỳ, ký tại Bắc Kinh ngày 26 tháng 6 năm 1887, sau đây gọi là “Công ước Phân định Biên giới 1887”, 169 CTS 345.

[97] 10803’3’’ kinh tuyến Đông.

[98] Xem chú thích 96 ở trên.

[99] Samuels, tr.66.

[100] Như trên; cũng xem Choon – Ho Park, tr.33. Các đảo ven bờ của Việt Nam bao gồm Cham, Re, Xang, Tre và Thu. Một bài phỏng vấn do Tân Hoa Xã đưa tin ngày 3 tháng 4 năm 1979, đã trích lời Hoàng Tùng, Uỷ viên Ban chấp hành trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam và là Tổng biên tập báo “Nhân Dân”, cơ quan ngôn luận của Đảng rằng, các hiệp ước về biên giới đã quá lâu đời và rắc rối nên khó có thể đưa ra được chỉ dẫn cho việc thiết lập đường biên giới Việt – Trung, đặc biệt là nhiều phần của đường biên đi qua  những phần lãnh thổ có địa hình hiểm trở.

[101] Công ước Phân định giữa Trung Quốc và Pháp, ký tại Bắc Kinh, ngày 20 tháng 6 năm 1895, 181 CTS 375. Cũng xem, Sách Trắng II; Các sự kiện trên tài liệu, Tập san Tin tức Thế giới, 27 tháng 4 năm 1979.

[102] Như trên.

[103] Hiện nay, Trung Quốc và Việt Nam lại đang đưa ra những giải thích trái ngược về Công ước Phân định Biên giới 1887 với nỗ lực thành lập một biên giới biển trong vũng Yingge của Vịnh Bắc Bộ. Trung Quốc tranh luận rằng, Công ước chỉ giải quyết vấn đề quyền tài phán lãnh thổ đối với các đảo trong vùng nhưng Việt Nam khẳng định nó cũng giải quyết cả vấn đề biên giới biển. Xem, Lỗ Chí Kiên, tr.127. Tính vững vàng trong luận điểm của Việt Nam có thể bị suy giảm theo phán xử trọng tài trong vụ giữa Guinea và Guinea-Bissau về việc hoạnh định biên giới biển chung của họ. Trong quyết định ngày 14 tháng 2 năm 1985, Toà Trọng tài đã bác bỏ việc xem xét đường ấn định trong Công ước ngày 12 tháng 5 năm 1886 giữa các quốc gia thực dân bảo hộ của các bên, lần lượt là Pháp và Bồ Đào Nha, nhằm quyết định bên nào có chủ quyền đối với các đảo thuộc quần đảo nằm dọc bờ biển của các bên, cũng như thiết lập một biên giới biển chung. Toà ra phán quyết này sau khi không tìm được chứng cứ chứng minh rằng, trước khi xảy ra tranh chấp giữa họ, không có bên nào, hay những chính quyền thực dân trước đó, giải thích Công ước 1886 ấy cũng là Công ước ấn định đường biên giới biển. (Xem, Guinea và Guinea Bissau, 77 ILR 635, 14 tháng 2 năm 1985).

[104] Samuels, tr.63, trích Kampo (Công báo), Văn phòng Toàn quyền Đài Loan, Taihoku (Đài Bắc), Số 3683, ngày 18 tháng 4 năm 1939; cũng xem, Chiu & Park, tr.13.

[105] Bối cảnh Hội nghị Hoà bình Nhật Bản, Vụ Xuất bản quốc gia Hoa Kỳ, Văn phòng Các vấn đề công, tháng 9 năm 1951.

[106] Hoà ước với Nhật Bản, ký tại San Francisco ngày 8 tháng 9 năm 1951, 138 UNTS 46. Các lãnh thổ mà Nhật Bản từ bỏ là Triều Tiên (Đoạn A), Formosa và Pescadores (Đoạn B), nhóm đảo Kurile và phần của đảo Sakhalin (Đoạn C), các đảo tại Thái Bình Dương trước đây dưới sự quản lý ủy thác của Nhật Bản (Đoạn D), bất cứ phần nào thuộc vùng Nam Cực do Nhật Bản cai trị (Đoạn E), và các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa (Đoạn F).

[107] Xem Chú thích 32 ở trên.

[108] Trần Văn Hữu, Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao của chính phủ Bảo Đại tại Việt Nam đã tuyên bố trong phiên họp toàn thể thứ bẩy của Hội nghị, khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa trên cơ sở lịch sử “để dập tắt các mầm mống của sự bất hoà” liên quan tới quyền sở hữu của họ. Xem Chú thích 32 ở trên.

[109] Sửa đổi do Liên Xô đưa ra đối với Điều 2(b) như sau –

Nhật bản thừa nhận chủ quyền đầy đủ của Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa đối với Manchuria, hòn đảo thuộc Đài Loan (Formosa) cùng với tất cả các đảo gần kề với nó, nhóm đảo Penhuletao (Pescadores), đảo Tunshatsuntao (đảo Đông Sa) cũng như các đảo của Sishatsuntao và Chunshatsuntao (các đảo của Hoàng Sa, cụm Vĩnh An, bãi ngầm Maxfield (nguyên văn là Macclesfield, Trung Sa) và các đảo Nam Sa bao gồm Trường Sa, và từ bỏ quyền, danh nghĩa và yêu sách đối với các lãnh thổ nói trên.”Hồ sơ về các biên bản, tr.119).

[110] Samuels, tr.78; cũng xem Lỗ Chí Kiên, tr.27.

[111] Xem chú thích 33 ở trên.

[112] Sách Trắng II.

[113] Tuyên bố tại Hội nghị của Tổng thống F.D.Roosevelt, Tổng tư lệnh Tưởng Giới Thạch và Thủ tướng W.Churchill tại Bắc Phi, Phòng Thông tin quốc gia Mỹ, Tập. IX, số 232, ngày 4 tháng 12 năm 1943.

[114] Tuyên bố quy định điều khoản về việc đầu hàng của Nhật Bản, Phòng Thông tin quốc gia Mỹ, Tập.XIII, số 318, 29 tháng 7 năm 1945. Đoạn 8 quy định, “các điều khoản của Tuyên bố Cairo sẽ được thực hiện và chủ quyền của Nhật Bản sẽ bị giới hạn ở các đảo Honshu, Hokkaido, Kyushu, Shikoku và các đảo nhỏ mà chúng ta quyết định.”

[115] Tuyên bố Cairo, xem chú thích 113 ở trên.

[116] Hoà ước giữa Nhật Bản và Nga, ký tại Portsmouth, ngày 5 tháng 9 năm 1905, 199 CTS 144. Điều IX quy định về việc, Nga nhượng lại cho Nhật Bản “phần phía Nam đảo Sakhalin và tất cả các đảo kế cận.” Liên Xô và Nhật Bản vẫn còn tranh chấp về quy chế của Kuriles. Việc thiếu một tham chiếu cụ thể về các đảo này trong Hoà ước Portsmouth có thể đã để ngỏ vấn đề về chủ quyền. Xem thêm, Samuels, tr.78.

[117] Hoà ước giữa Cộng hoà Trung Hoa và Nhật Bản, ký tại Đài Bắc ngày 28 tháng 4 năm 1952, 136 UNTS 38. Điều II của Hoà ước này tái khẳng định việc Nhật Bản từ bỏ các lãnh thổ đã được đề cập lần đầu tiên trong Hoà ước San Francisco 1951. Tuy nhiên, chú ý rằng, trong khi sự từ bỏ bao gồm cả Đài Loan và Pescadores, cũng như Trường Sa và Hoàng Sa, thì Điều X công nhận dân tộc Trung Quốc trong số những cư dân ở Đài Loan và Pescadores, và con cháu của họ, và những người đăng ký hợp pháp theo pháp luật và quy định đã, hoặc có thể sau này được Cộng hoà Trung Hoa tại Đài Loan và Pescadores áp dụng.

[118] Công hàm ngày 28 tháng 4 năm 1952 do Toàn quyền Nhật Bản gửi Toàn quyền Trung Hoa, 136 UNTS 48. Cũng xem, Biên bản thoả thuận về Hoà ước 1952, 136 UNTS 53.

[119] Tuyên bố chung của Chính phủ Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa và Chính phủ Nhật Bản, ký tại Bắc Kinh, ngày 29 tháng 9 năm 1972, trong Các hiệp ước của Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa 1949-1978. Biên soạn chú giải. G.Rhode và R.Whitlock (Boulder, Col,: Nhà in Westview, 1980), tr.178.

[120] Tuyên bố của Chính phủ Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa về lãnh hải của Trung Quốc, ngày 4 tháng 9 năm 1958, trong cuốn Nordquist & Park, in lại tài liệu LHQ A/34/712:S/13640, ngày 23 tháng 11 năm 1979. Tài liệu này của Liên hợp quốc thay thế một bản trước đây của Tuyên bố trong đó không sử dụng phương pháp Pinyin để trả lại tên cho các nhóm đảo được đề cập tới.

[121] Công hàm của Phạm Văn Đồng, 14 tháng 9 năm 1958, trích trong Sách Trắng II.

[122] Thông tấn xã hải ngoại Tân Hoa, 12 tháng 4 năm 1988

[123] Tuyên bố chung đưa ra khi kết thúc chuyến thăm Trung Quốc của Tổng thống R.M.Nixon, tại Thượng Hải, 27 tháng 2 năm 1972, trong cuốn Các hiệp ước của Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa.

[124] Sách Trắng II.

[125] Vụ Đông Greenland, tr.186, khi Toà án Pháp lý quốc tế thường trực kết luận, tuyên bố của Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Na Uy rằng, chính phủ của ông ta sẽ không gây khó khăn cho việc chiếm hữu của Đan Mạch đối với sườn Đông Greenland, đã chứng tỏ Na Uy vô điều kiện và dứt khoát không xâm phạm vào lãnh thổ đó và ngăn cản các hoạt động của Đan Mạch tại đó.

[126] Lỗ Chí Kiên, tr.71, 86.

[127] Samuels, tr.69. “Sự vô nghĩa” ở đây, thực tế lđược nhìn nhận bởi Việt Nam, nước đã phê chuẩn Hiệp ước Hoà bình San Francisco ngày 18 tháng 6 năm 1952 (138 UNTS 46) và Philippins, nước đã ký văn kiện thông qua ngày 23 tháng 7 năm 1952 (260 UNTS 450).

[128] Xem ý kiến tán thành của Thẩm phán Basdevant, Vụ Minquiers, tr.79.

[129] Palmas, tr.893.

[130] Sđd., tr.877, 896.

[131] Minquiers, ý kiến tán thành của Thẩm phán Levi Carneiro, tr.99. Việc viện dẫn sự chiếm hữu một phần của một hòn đảo được lấy ra từ quyết định trong vụ Đông Greenland, Toà Thường trực đã xử, Na Uy không từ bỏ –

“việc phải khó khăn chứng minh rằng , việc tham chiếu Greenland trong pháp luật Đan Mạch và các hiệp ước chỉ đề cập đến phần phía Tây đã bị thuộc địa hoá, bởi vì thông thường “Greenland” được cho là nói tới toàn bộ hòn đảo” (tr.173)

mặc dù đã có sự thừa nhận rằng các hành động lập pháp và hành pháp như vậy chỉ gắn với các hành động tiến hành tại sườn phía Tây đã bị thuộc địa hoá của hòn đảo.

[132] Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển, Phần IV, Điều 46, đoạn b. Mặc dù 45 quốc gia ký kết Công ước này đều đã đệ trình văn bản phê chuẩn của mình, Công ước chỉ có hiệu lực khi văn bản phê chuẩn thứ 60 được đệ trình.

[133] Không có tiêu chuẩn khách quan nào khác trong việc xác định, liệu Trường Sa có hay không đủ tiêu chuẩn của một quần đảo chỉnh thể, trừ các điều khoản trong Công ước về Luật Biển cho phép một quốc gia quần đảo được bao gồm các vùng nước trong một đường vành đai, thiết lập bởi việc nối liền các hòn đảo ngoài cùng và các mỏm đá cạn bằng các đường cơ sở thẳng. Phương pháp vạch “các đường cơ sở quần đảo” này sẽ không thích hợp với Trường Sa, vì Công ước chỉ cho “các quốc gia quần đảo”, hoặc các quốc gia có chủ quyền về mặt địa lý cấu thành bởi các nhóm đảo được coi là quần đảo, được phép vẽ những đường cơ sở như vậy (Điều 46, đoạn a). Hơn nữa, theo quy định trong Công ước về Luật biển, không có vẻ là việc áp dụng thuyết quần đảo này đối với Trường Sa sẽ thoả mãn một số tiền đề nhất định về hiệu lực của nó, ví như việc duy trì một tỉ lệ đất – nước từ 1:1 đến 1:9 trong vùng bao bọc bởi các đường cơ sở quần đảo (Điều 47, đoạn 1), hay việc sử dụng đường cơ sở không vượt quá 100 hải lý, với 3% tổng số các đường cơ sở có chiều dài tới 125 hải lý (Điều 47, đoạn 2).

[134] Sách Trắng II.; Chiu & Park gạt bỏ các ghi chép lịch sử được viện dẫn làm bằng chứng về việc các ngư dân Trung Quốc hay Hải Nam độc chiếm sử dụng các quần đảo tại Biển Đông rằng “chỉ là những ghi chép từ thời cổ miêu tả việc sử dụng không thường xuyên các đảo tranh chấp của các ngư dân hay thuỷ thủ của nước yêu sách trong thời điểm này hay thời điểm khác”, tr.6.

[135] Sách Trắng II; cũng xem Samuels, tr.24, 44.

[136] Samuels, tr.24.

[137] Tzou, B., người đã mô tả sự phát triển này như sau –

“Luật quốc tế hiện đại có nguồn gốc từ nền văn minh Cơ đốc. Nó hình thành bên ngoài truyền thống pháp luật tự nhiên của Tây Âu và ban đầu chỉ giới hạn ở các quốc gia này. Sau thế kỷ 19, Trung Quốc đã dần chấp nhận các quy phạm của luật quốc tế và sử dụng nó để bảo vệ các lợi ích quốc gia của mình trong các quan hệ quốc tế” (tr.8).

Cũng xem, Samuels, tr.47.

[138] Samuels, tr.52; Chiu& Park, tr.11, trích báo cáo năm 1933 của chính quyền lâm thời Quảng Đông.

[139] Sách Trắng II; Chiu & Park, tr.7.

[140] Samuels, tr.43.

[141] Sách Trắng II.

[142] Samuels, tr.43.

[143] Sđd., tr.54. Samuels lưu ý, hiện không còn văn bản nào về lệnh của hoàng đế xác định quy chế chính xác của sự sáp nhập này. Ghi chép về sự sáp nhập được lấy từ một bản tóm tắt của Đô đốc Ly Chun về các đề nghị do đoàn thám hiểm lần thứ hai mà ông ta là thành viên đưa ra. Cũng xem, Chiu & Park, tr.11.

[144] Trung Quốc lúc đó vẫn đang cấp phép cho các thương gia Trung Quốc khai thác các mỏ phân chim hay phốt phát tại Hoàng Sa ngay từ năm 1912. Một số thương gia Trung Quốc thậm chí còn bị phát hiện là bình phong cho các công ty Nhật Bản đứng sau. Xem, Vụ Ho Jui-nien, Samuels, tr.55-57.

[145] Sắc lệnh số 156/SC, được xác nhận bởi Sắc lệnh số 10 của Hoàng đế Bảo Đại, ngày 30 tháng 3 năm 1938, trong Chiu & Park, tr.8.

[146] Sách Trắng II; cũng xem Samuels, tr.63.

[147] Sách Trắng II; cũng xem Cheng, tr.269.

[148] Sắc lệnh số 4762, ngày 21 tháng 7 năm 1933, trong Chiu & Park, tr.9, 12.

[149] Cheng, tr.269. Điều I, Hiệp ước Washington 9 cường quốc có phần quy định:

“Các bên ký kết, ngoài Trung Quốc, thoả thuận: (1) tôn trọng chủ quyền, độc lập và sự toàn vẹn về lãnh thổ và chính quyền của Trung Quốc”

Xem, “Các nguyên tắc và chính sách phải tuân thủ trong các vấn đề liên quan tới Trung Quốc”, Hiệp ước giữa Hoa Kỳ, Bỉ, Anh, Trung Quốc, Pháp, Italia, Nhật Bản, Hà Lan và Bồ Đào Nha ký tại Washington D.C, ngày 4 tháng 2 năm 1922, USTS số 723.

[150] Cheng, tr.269.

[151] Samuels, tr.64.

[152] Cheng, tr.269; Chiu & Park, tr.9,12.

[153] Xem chú thích 104 ở trên.

[154] Vụ Palmas, tr.876; Vụ Clipperton, tr.393; Vụ Đông Greenland, tr.170.

[155] Vụ Palmas, tr.884, 908.

[156] Vụ Đông Greenland, tr.170.

[157] Vụ Đông Greenland, Ý kiến tán thành của Anzoltti, tr.202.

[158] Nt

[159] Vụ Palmas, tr.876.

[160] Nt; cũng xem Vụ Clipperton, tr.393.

[161] Vụ Palmas, tr.876.

[162] Nt, tr.893.

[163] Vụ Clipperton, tr.393.

[164] Vụ Đông Greenland, tr.184.

[165] Vụ Palmas, tr.908.

[166] Vụ Đông Greenland, tr.171.

[167] Vụ Palmas, tr.896; Clipperton, tr.393.

[168] M.Reisman, “Cuộc đấu tranh giành Falklands”, 93 Yale L.R. 260, 288 (1983).

[169] Vụ Đông Greenland, tr.171.

[170] Samuels, tr.75, trích Hai-chun hsun-vi Nan-sha hai-chiang ching-kuo (Kết quả tuần tra hải quân tại biên giới đảo Trường Sa) do Hsueh-sheng shu-chu viết (Đài Bắc, 1975); cũng xem Chiu & Park, tr.17.

[171] Samuels, tr.75; Cheng, tr.275, lưu ý rằng, Pháp đã khiêu khích vị trí đóng quân của Trung Quốc tại Hoàng Sa, trong khi Philippin phản đối yêu sách của Trung Quốc đối với Trường Sa.

[172] Pháp đưa một tàu tuần tiễu tới Hoàng Sa vào tháng 5 năm 1946, và vào tháng 7 cùng năm, Trung Quốc đã mở rộng cuộc viễn chinh hải quân đầu tiên của mình trong vùng kể từ khi kết thúc Thế chiến II. Pháp đã dựng một mốc chủ quyền trên đảo Itu Aba (Ba Bình) vào tháng 10 năm 1946. Tháng 12 năm 1946, Trung Quốc cử một phái đoàn hậu chiến thứ hai đến Biển Đông – một đội bốn tàu được chia ra nhằm thăm dò riêng rẽ Trường Sa và Hoàng Sa. Xem, Sách Trắng II; cũng xem Samuels, tr.75-76.

[173] Chỉ thị Chu số 442, trong Chiu & Park, tr.14 trích trong “Ghi nhớ về bốn quần đảo lớn”, Bộ Ngoại giao Cộng hoà Trung Hoa (tháng 2 năm 1974).

[174] Chiu & Park, tr.14.

[175] Sách Trắng I; Samuels, tr.77. Chiến sự giữa Pháp và Việt Nam nổ ra vào tháng 12 năm 1946. Ngày 5 tháng 6 năm 1948, Pháp công nhận độc lập của Việt Nam để đổi lấy việc Việt Nam tham gia vào khối Liên hiệp Pháp với tư cách là một quốc gia thành viên (Xem, Hiệp ước Vịnh Hạ Long, Cuộc khủng hoảng Việt Nam: Một tài liệu lịch sử, tr.117). Ngày 8 tháng 3 năm 1949, Hiệp ước Elysee được ký kết thông qua trao đổi thư giữa Tổng thống Pháp Vincent Auriol và Hoàng đế Bảo Đại của Việt Nam, trong đó Pháp đồng ý tôn trọng khối liên hiệp Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam kỳ với tư cách là nhà nước Việt Nam cũng như quyền duy trì an ninh nội bộ của Việt Nam, quy định rằng, Pháp giữ lại quyền chỉ đạo chính sách ngoại giao của Việt Nam, giữ lại các căn cứ và đồn lính tại Việt Nam và bảo vệ đặc quyền của các kiều bào Pháp (Nt, tr.120). Ngày 4 tháng 6 năm 1954, Pháp công nhận độc lập hoàn toàn của Việt Nam theo một Hiệp ước Độc lập, trong đó quy định tại Điều I rằng, Việt Nam sẽ hoàn toàn độc lập và chủ quyền, tiếp nhận các quyền và nghĩa vụ từ các hiệp ước và công ước quốc tế do Pháp thay mặt, hay nhân danh nhà nước Việt Nam ký kết, hoặc mọi hiệp ước và công ước khác do Pháp nhân danh Đông dương thuộc Pháp ký kết (Sđd., tr.268).

[176] Samuels, tr.68, 77.

[177] Samuels, tr.84.

[178] 1953 Báo cáo Toà án Pháp lý Quốc tế 47

[179] Vụ Minquiers, tr.56.

[180] Điều này được Thẩm phán Alvarez nhấn mạnh trong ý kiến tán thành của mình, như sau –

“Các bên đã quá coi trọng các danh nghĩa lịch sử và họ đã không quan tâm đúng mức tới quy định của luật pháp quốc tế hay các xu hướng hiện tại của nó liên quan tới chủ quyền lãnh thổ… Nhiệm vụ của Toà án là giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng việc áp dụng, không phải luật quốc tế truyền thống hay kinh điển, mà là luật quốc tế hiện tại và những gì phù hợp với các điều kiện mới của đời sống quốc tế và nhằm phát triển pháp luật này với một tinh thần cấp tiến”.

(Xem, Vụ Minquiers, ý kiến tán thành của thẩm phán J. Alvarez)

[181] Vụ Minquiers, tr.56.

[182] Sách Trắng I. Chú ý rằng, vào thời gian ban hành Nghị định của Toàn quyền, Hoàng Sa đã bị quân đội Nhật Bản chiếm đóng hoàn toàn.

[183] Phụ trương ngày 11 tháng 5 năm 1988. Tuyên bố cuối cùng, ngày 21 tháng 7 năm 1954, của Hội nghị Geneva về vấn đề khôi phục hoà bình ở Đông Dương, đã ghi nhận tuyên bố của chính phủ Pháp rút quân đội ra khỏi lãnh thổ Campuchia, Lào và Việt Nam theo yêu cầu của các chính phủ hữu quan (đoạn 10) và tôn trọng độc lập và chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia này (đoạn 11); Xem, Cuộc khủng hoảng Việt Nam: Một tài liệu lịch sử, tr. 305. Không có định nghĩa về vùng lãnh thổ cấu thành nước Việt Nam và cũng không đề cập gì đến bất cứ quần đảo nào bị tranh chấp trên Biển Đông.

[184] Samuels, tr.82, Lỗ Chí Kiên, tr.139-140.

[185] Nt

[186] Samuels, tr.84-85; Lỗ Chí Kiên, tr.142.

[187] Nt

[188] Không chỉ một mình Cloma yêu sách đã khám phá ra quần đảo Trường Sa sau Thế chiến II. Năm 1950, Morton F.Mead, một công dân Hoa Kỳ, yêu sách là đã thành lập một vài khu định cư ở nơi mà ông ta gọi là “Vương quốc của nhân đạo/Cộng hoà Morac – Songhretti – Meads”, ở đâu đó trong vùng lân cận bãi Luconia phía Nam Trường Sa. Chính phủ Philippin đã tiến hành một cuộc điều tra về yêu sách này, nhưng không thể xác định được vị trí của các khu định cư mà ông ta đã khẳng định (Samuels, tr.81). “Vùng đất Tự do” là phiên dịch tương tự từ từ “Kalayaan”, tên Tagalog mà Cloma đặt cho quần đảo Trường Sa.

[189] Samuels, tr.85.

[190] Nt; cũng xem Lỗ Chí Kiên, tr.29, 142

[191] Nghị định số 143/NV, sau này được khẳng định và bổ sung bằng Nghị định số 76/BNV/HC 9 ND ngày 20 tháng 3 năm 1958 và Nghị định số 34/NV ngày 27 tháng 1 năm 1959, Chiu & Park, tr.9. Sách Trắng II.

[192] Lỗ Chí Kiên, tr.138. Có tin đưa là Tổng thống Quirino đã nói, việc chiếm hữu các hòn đảo phía Nam “bởi quân thù” sẽ là điều bất lợi cho nền an ninh của Philippin (Bản tin của Đài phát thanh nước Anh, ngày 28 tháng 5 năm 1950). Xem Chú thích 32 ở trên.

[193] Tuyên bố nêu –

“Về phía Bộ Ngoại giao, Bộ cho rằng các đảo, hòn, mỏm đá san hô, bãi ngầm và bãi cát nằm trong vùng ông gọi là “Vùng tự do”, ngoại trừ những nơi thuộc về nhóm 7 đảo được quốc tế biết đến với tên là Trường Sa, là lãnh thổ vô chủ, một vài đảo trong số đó mới xuất hiện, số khác đã được đánh dấu trên bản đồ thế giới chưa được vẽ và sự tồn tại của chúng là đáng ngờ, và tất cả đều chưa bị chiếm hữu cũng như chưa có người sinh sống; nghĩa là, nói cách khác, chúng vẫn bỏ ngỏ cho việc khai thác kinh tế và định cư của người dân Philippin, những người có đủ quyền theo luật quốc tế, như các công dân của bất kỳ quốc gia nào khác trong việc tiến hành các hoạt động như vậy, chừng nào mà chủ quyền độc nhất của bất kỳ quốc gia nào đối với chúng còn chưa được thiết lập theo các nguyên tắc được chấp nhận rộng rãi của luật pháp quốc tế, hay được cộng đồng các quốc gia trên thế giới công nhận.

Về nhóm 7 đảo được quốc tế biết đến với tên là Trường Sa, chính phủ Philippin coi các đảo đó nằm dưới sự uỷ thác quản lý thực tế của các lực lượng Đồng minh chiến thắng trong Thế chiến II, do kết quả của Hoà ước Nhật Bản, ký kết tại San Francisco ngày 8 tháng 9 năm 1951, theo đó Nhật Bản từ bỏ mọi quyền, danh nghĩa và yêu sách đối với quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, và cho đến nay các lực lượng Đồng Minh không đưa ra dàn xếp lãnh thổ nào về chuyển giao các đảo đó. Nghĩa là, chừng nào nhóm đảo này còn nằm trong quy chế đó, thì còn có cơ hội ngang bằng cho công dân hay bất cứ thành viên nào của Lực lượng Đồng Minh trong việc khai thác kinh tế và định cư trên cơ sở công bằng về cơ hội và đối xử trong các vấn đề xã hội, kinh tế và thương mại có liên quan.

Xét về vị trí địa lý của các nhóm đảo này và các đảo nhỏ nằm trong “Vùng tự do”, sự gần gũi của chúng đối với biên giới lãnh thổ phía Tây của Philippin, những mối liên hệ lịch sử và địa chất của chúng với quần đảo Philippin, giá trị chiến lược to lớn của chúng đối với an ninh và quốc phòng quốc gia, bên cạnh tiềm năng kinh tế được coi là to lớn của chúng về đánh cá, san hô và hải sản, về đá phosphate, chắc chắn chính phủ Philippin không thờ ơ đối với việc người Philippin khai thác kinh tế và định cư trên các hòn và đảo chưa có người sinh sống và chưa bị chiếm đóng đó, chừng nào mà người dân còn tiếp tục đẩy mạnh những lợi ích hợp pháp của họ.

“Vùng tự do: Chính phủ tuyên bố quan điểm về tình trạng phức tạp đối với các đảo”, Philippin mới, tháng 2 năm 1974, tr.6-11.

[194] Điều 3, Hoà ước San Francisco.

[195] Samuels, tr.82-83; Lỗ Chí Kiên, tr.141

[196] “Vùng đất tự do”, 6 Philippin mới, đề cập đến chỉ thị của chính phủ Philippin cho Đại sứ tại Cộng hoà Trung Hoa, giao cho đại sứ thông báo với Chính phủ Đài Bắc rằng “không phải lo sợ vì tình huống này”.

[197] Shao Hsun-Cheng, “Các đảo của Trung Quốc trên Biển Đông”, 13 Trung Hoa Nhân dân 21 (1956); “Tuyên bố về lãnh hải của Trung Quốc” 28 Tạp chí Bắc Kinh 21 (ngày 9 tháng 9 năm 1958).

[198] Lỗ Chí Kiên, tr.38.

[199] Ll.B. (Trường Đại học tổng hợp Philippin, 1987); Ll.M. (Trường Đại học Luật Yale, 1991).