Chúa đã chết hẳn?

11 phản hồi

Friedrich Nietzsche bảo: “Chúa đã chết. Chúa vẫn chết. Và chúng ta đã giết hắn. Làm thế nào để tự an ủi chính chúng ta, những kẻ sát nhân của tất cả những kẻ sát nhân? Kẻ linh thiêng và hùng cường nhất mà thế giới hãy còn công nhận đã chảy máu đến chết dưới những lưỡi dao của chúng ta: ai sẽ lau đi vết máu này đây? Có thứ nước nào để ta tẩy rửa chính mình không? Chúng ta còn có thể bày ra lễ hội xám hổi nào, những trò chơi linh thánh nào nữa đây? Liệu sự vĩ đại của hành động này có quá vĩ đại đối với chúng ta chăng? Liệu chúng ta có nên không trở thành chúa chỉ để tỏ ra xứng đáng với việc đó?”

Sự kiện cấy DNA được tổng hợp bên ngoài tế bào của  J. Craig Venter chỉ là sự tiếp nối hành trình tiêu diệt Chúa của khoa học.

Câu hỏi ở đây là: Một khi nền móng tinh thần của văn minh Tây phương tự hủy, nó có dẫn đến sự sụp đổ của xã hội nơi ấy hay không?

Bài viết của Trì Hạo Điền

4 phản hồi

Đọc bài này mà rùng mình. Chỉ tiếc cuối bài không dẫn link trực tiếp và lại có câu chú thích khó hiểu.

Chính sách hoà bình và phát triển của Trung Quốc

20 năm qua đã đi đến đầu cuối

Thượng tướng Trì Hạo Điền
Nguyên Phó Chủ tịch quân ủy kiêm Bộ trưỏng Bộ Quốc phòng Trung Quốc

I.  Chiến tranh đang hướng tới chúng ta

Khi viết bài này, tâm tư tôi rất nặng nề, bởi vì tiến trình Trung Quốc hoá nhiều lần bị sự đả kích và xâm lược trực tiếp của thế lực nước ngoài mà gián đoạn, trong đó điển hình là cái gọi là “mười năm hoàng kim” 1927-37, nhưng xem ra cái gọi là nhãn quang mưòi năm hoàng kim một chút vàng cũng không có, ở giữa thời gian này có  sự rơi vào tay giặc của Đông Bắc ngày 18-9-1931, có sự thành lập chính quyền nguỵ đông Hà Bắc, thế nhưng nói một cách tưong đối, từ 1927-37 phát triển kinh tế Trung Quốc tương đối nhanh, xây dựng hạ tầng cơ sở có tiến triển tưong đối, xây dựng quân đội cũng có khởi sắc, Trung Quốc có chút hy vọng.

Thế nhưng đó là điều Nhật Bản không thể tha thứ được, đã nuốt ba tỉnh Đông Bắc rồi nhưng vẫn chưa thoả mãn, và đã vội vàmg phát động cuộc chiến tranh xâm lựoc Trung Quốc toàn diện, Trung Quốc buộc phải  dùng chính sách tiêu thổ kháng chiến khổ chiến 8 năm, mặc dù Trung Quốc thắng một cách thảm hại và đã mất Ngoại Mông, nguyên khí bị thưong tổn lớn, tổn thát của cải tới hơn 600 tỷ USD, qua 8 năm bị ngọn lửa chiến tranh tàn phá Trung Quốc vốn đã nghèo yếu lại thêm một nghèo hai trắng, có thể nói xâm lược của Nhật Bản đặc biệt là cuộc chiến tranh xâm lựoc Trung Quốc toàn diện đã làm chậm rất lớn tiến trình Trung Quốc hoá.

Không cho phép Trung Quốc phát triển, cản trở tiến trình Trung Quốc hoá luôn là quốc sách trước sau không thay đổi của các cường quốc đặc biệt là Nhật Bản, chúng ta phải học bài học lịch sử đau khổ nhất từ đó. Giữa các nuớc với nhau có sự hợp tác, nhưng bản chất hơn là cạnh tranh, xung đột và chiến tranh – hình thức cực đoan của xung đột. Hợp tác là tạm thời, cạnh tranh là có điều kiện và xung đột là tuyệt đối, là cái trục chính của lịch sử, vì vậy cách nói cái gọi là hoà bình và phát triển là chủ đề đương đại là hoàn toàn sai lầm (nhiều nhất cũng chỉ có thể coi như một quyền nghi chi kế), cách nói này vừa không có căn cứ lý luận gì có thể chịu nổi sự sàng lọc lại càng không phù hợp với sự thực và kinh nghiệm lịch sử. Chẳng cần nói hai nước Trung Nhật là kẻ thù không đội trời chung về địa lý về lịch sử mà chỉ việc Trung Xô chia rẽ trong những năm 60 cũng đủ để thuyết minh, bất kỳ nước nào đều lấy theo đuổi lợi ích quốc gia làm chuẩn tắc hành động duy nhất, chứ không lưu lại bất kỳ khoảng trống nào cho đạo đức cả. Năm đó Trung Xô có hình thái ý thức chung, đối mặt với kẻ thù chung, hơn nữa trình độ khoa học kỹ thuật thấp khiến Trung Quốc không thể hình thành sự đe doạ với Liên Xô, thế nhưng Trung Xô vẫn chia rẽ, hơn nữa còn tiến tới đối kháng gay gắt.

Có rất nhiều đầu mối, nhưng một nguyên nhân căn bản là Liên Xô không muốn nhìn thấy một Trung Quốc ngày càng phát triển, ngày càng lớn mạnh cùng đứng sát cánh với họ, mà sợ rằng dù đó chỉ là một xu thế  còn lâu mới thành hiện thực cũng không được. Nếu như Trung Xô có chung hình thái ý thức có cùng kẻ thù, một mạnh một yếu mà còn có thể chia rẽ thì cái gọi là hoà bình và phát triển là đầu đề thử nghiệm đương đại, thì tính hư ảo, tính yếu đuối tính nguy hiểm của chính lược, chiến lược và ngoại giao dưới sự chủ đạo của lời chú của cái gọi là hoà bình và phát triển là vấn đề thử nghiệm đương đại càng lộ ra rõ ràng hơn. Chính vì thế mới nói, cách nói hoà bình và phát triển là chủ đề đưong đại là hoàn toàn sai lầm, là một học thuyết có hại có tác dụng làm ngưòi ta mê muội, nguyên nhân như sau: từ kinh nghiệm, bài học của lịch sử cận đại Trung Quốc, và kinh nghiệm lịch sử và bài học của 50 năm nước cộng hoà có thể  thu được một qui luật  lịch sử như thế này, các cường quốc đả kích (kể cả việc dùng thủ đoạn chiến tranh toàn diện) tiến trình Trung Quốc hoá là quốc sách nhất quán của họ. Trong 160 năm quá khứ đã như vậy, trong 160 năm từ nay trở đi cũng vẫn như vậy.

II.  Phát triẻn có nghĩa là nguy hiểm và đe doạ, không có “quyền chiến tranh” thì sẽ không có quyền phát triển

Phát triển có nghĩa là nguy hiểm, đe doạ, đó là qui tắc thông thường lịch sử thế giới, nhưng điều này trpng lịch sử Trung Quốc lại có ngoại lệ đặc biệt, như vưong triều Đại Hán trong cực hạn địa lý đương thời sau khi đánh bại mọi đối thủ đã có thể “đóng cửa lại” phát triển, và tiến tới sản sinh ra “chủ nghĩa thiên hạ”. Bởi vì bất kể so sánh về bất kỳ phương diện nào từ dân số, quân sự, kinh tế, văn hoá, không có bất kỳ quần thể dân tộc nào có thể bằng vai sát cánh với tộc Đại Hán thậm chí nhìn không thấy bất kỳ nhóm dân tộc nào có loại tiềm năng kề vai sát cánh đó.

Trong thời Chiến Quốc, sự phát triển của một nuớc có nghĩa là sự đe doạ đối với một nuớc khác, điều này mới là qui tắc thông thường của lịch sử thế giới, cũng là hạt nhân và nền tảng của ngoại giao phương tây. Thuỷ tổ của ngoại giao phương tây là Hồng y giáo chủ Pháp Richelieu, chính ông ta là ngưòi đầu tiên đi ra khỏi sự “mông muội” trung thế kỷ về ngoại giao, mở ra việc ngoại giao vứt bỏ bất kỳ sự ràng buộc nào về đạo đức và tôn giáo, tất cả đều  lấy lợi ích quốc gia làm trục chuyển động. Chính sách ngoại giao do ông ta chế định đã làm cho nước Pháp được hưởng lợi hơn 200 năm, làm chúa tể châu Âu, còn việc ông ta hoạch định 30 năm chiến tranh đã làm cho sinh linh Đức khốn khổ, nước Đức chia ra thành nhiều nước nhỏ, ở trong sự xáo động lâu dài, mãi cho đến khi Bismarck thống nhất  nước Đức mới thôi. Tiến trình thống nhất Đức cho thấy rõ, nếu không có “quyền chiến tranh” của Bismarck thì sẽ không có thống nhất quốc gia, càng không có quyền phát triển.

III.  Hoá dưới lưỡi lê, sự lựa chọn duy nhất của Trung Quốc

Luận điểm Trung Quốc đe doạ là hoàn toàn chính xác, đó đang là tư duy phưong tây điển hình. “Tôi đóng cửa lại phát triển kinh tế của mình, mời gọi ai, làm phiền ai?” Phưong thức tư duy kiểu Trung Quốc đó không chỉ là ngu xuẩn mà cũng không thể “hoà nhập quốc tế”. Trong thời Chiến Quốc, trước lợi ích quốc gia một cái tàn nhẫn không dung thứ cho bất kỳ tình cảm ôn hoà nào, kẻ nào chỉ cần ôm ấp một chút ảo tưởng là kẻ đó sẽ bị sự trừng phạt vô cùng tàn nhẫn của đại lịch sử, sự phát triển của Trung Quốc đương nhiên là sự đe doạ đối với các nước như Nhật Bản, tự Trung Quốc có thể không thấy như vậy, thế nhưng Trung Quốc không thể thay đổi được tư duy có gốc sâu rễ chắc của các cưòng quốc như  Nhật Bản v.v.. loại đã “hoà nhập quốc tế”. Vì vậy cơ sở  tư duy của chúng ta nên là và cũng phải là: sự phát triển của Trung Quốc là sự đe doạ các nước như Nhật Bản v.v.

Nói theo “lý” thì mỗi nuớc mỗi dân tộc đều có quyền sinh tồn, quyền phát triển, ví dụ như kinh tế Trung Quốc đã phát triển thì cần phải nhập khẩu dầu mỏ, để bảo vệ sinh thái Trung Quốc cần trồng cây đóng cửa rừng, như thế phải nhập khẩu nguyên vật liệu như gỗ v.v. đó là việc rất tự nhiên, rất có “lý”, thế nhưng các cường quốc có “lý” của các cưòng quốc, một nước lớn như Trung Quốc nếu năm 2010 phải nhập khẩu 100 triệu tấn dầu mỏ, năm 2020 phải mua tới 200 triệu tấn, các cường quốc liệu có thể chịu được không?

Tranh cướp tài nguyên sinh tồn có tính cơ bản (bao gồm đất đai, biển) là nguồn gốc của tuyệt đại đa số cuộc chiến tranh trong lịch sử, trong thòi đại thông tin này sẽ có thay đổi, nhưng không thể có sự thay đổi về bản chất. Phát triển, tiên tiến, văn minh như Israel vì một vùng đất lớn hơn (bao gồm cả tranh cướp nguồn nuớc) đã đánh nhau với Ai Cập, Palestin 50 năm, và vẫn chưa một ngày ngừng đánh nhau? Để tranh thủ quyền phát triển không gì chính đáng hơn (trừ phi ngưòi Trung Quốc mãi mãi muốn yên ổn trong nghèo nàn, ngay cả quyền phát triển cũng từ bỏ) thì Trung Quốc phải chuẩn bị chiến tranh, điều này không phải do chúng ta quyết định càng không phải do nguyện vọng thiện lương của một số nhân sĩ thiện lưong trong chúng ta quyết định, trên thực tế điều này do “thông lệ quốc tế” và các cường quốc quyết định.

Chính sách hoà bình phát triển của Trung Quốc 20 năm qua đã đi đến đầu cuối (tận đầu) môi trưòng quốc tế đã phát sinh thay đổi về chất, tức các cường quốc đã chuẩn bị một lần nữa làm đứt đoạn tiến trình hiện đại hoá Trung Quốc, Trung Quốc muốn phát triển, muốn bảo vệ quyền phát triển của mình thì phải chuẩn bị chiến tranh, chỉ có chuẩn bị đánh trận mới giành được sự phát triển có không gian và thời gian, sự phát triển kiểu bài ca chăn cừu đã đến câu kết thúc.

IV. Ngoại giao (lớn) quyết định nội chính

Ngay phái diều hâu nhất của Trung Quốc hiện nay cũng không nhất định chủ trương hiện tại phải đánh nhau, mặc dù chúng ta có lý do đầy đủ, ví dụ như chiến tranh thống nhất quốc gia, ví như vì mục đích bảo vệ quyền lợi Biển Đông. Vì quyền phát triển, cái đáng quí mà 160 năm nay Trung Quốc ít có,  tất cả vì quyền phát triển cực kỳ quí báu đó, thế nhưng vào lúc quyền phát triển này ngày càng bị đe doạ, cũng có nghĩa là lúc chúng ta phải cầm vũ khí bảo vệ quyền phát triển của ngưòi Trung Quốc.

Nội chính quyết định ngoại giao, không sai, nhưng không nên quên rằng trong thời đại Chiến quốc này ngoại giao (lớn) cũng quyết định nội chính. Đó không chỉ là trình bầy thể hiện về lý luận, mà đó càng là sự trình bầy thể hiện những kinh nghiệm lịch sử của  nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, chi phí quốc phòng của Trung Quốc trong những năm 70 vượt hơn tổng mức chi cho khoa học, giáo dục, văn hoá, y tế(do đời sống nhân dân còn tưong đối nghèo nàn). Tất nhiên tôi không hy vọng chi phí cho quân sự của Trung Quốc ngày nay vượt quá tổng mức chi cho khoa học, giáo dục, văn hoá, y tế, vì trên thực tế cái Trung Quốc cần đầu tư nhất là giáo dục. Thế nhưng các cưòng quốc có cho phép không? Chẳng lẽ lại không muốn đầu tư nhiều tiền hơn vào khoa học, giáo dục, văn  hoá, y tế sao?

Có ngưòi nói, căn cứ vào cái gọi là văn kiện giải mật của Liên Xô, chứng minh trong những năm 60, 70 Liên Xô không có kế hoạch xâm nhập Trung Quốc toàn diện, giả sử những văn kiện giải mật này là chính xác thì cũng không thể thuyết minh “sự chân thực của lịch sử” cục diện bàn cờ là tác động lẫn nhau, không có sự chuẩn bị tinh thần và vật chất đầy đủ nhất mà Trung Quốc làm đựơc dưới sự lãnh đạo của Mao chủ tịch , đã gia tăng cực đại rủi ro và giá thành của việc Liên Xô xâm nhập Trung Hoa toàn diện, lịch sử cũng hoàn tòan có thể chuyển ngoặt theo một hướng khác, kẻ yếu đuối chỉ có thể thu hút xâm lựơc, nói từ góc độ đó mới là kẻ bảo vệ hoà bình chân chính

V. Cầu thiện được ác, 10 năm tới Trung Quốc có thể hoà bình không?

Cắt đứt tiến trình Trung Quốc hoá, tước đoạt quyền phát triển của ngưòi Trung Quốc, các cưòng quốc có nhiều con bài để chơi, ba con bài nổi bật nhất là “ba đảo”, trong đó con bài Đài Loan có hiệu quả nhất. Lúc nào cuộc chiến ở eo biển Đài Loan bùng nổ, quyền quyết định vừa không ở trong tay chúng ta cũng không ở trong tay phần tử Đài Loan đòi độc lập, mà ở trong tay Mỹ Nhật. Nếu bùng nổ cuộc chiến ở eo biển Đài Loan, thì không chỉ là cuộc chiến thống nhất, mà ở tầng nấc sâu xa hơn là Mỹ Nhật quyết tâm tước đoạt quyền phát triển của người Trung Quốc, là một lần nữa làm đứt đoạn tiến trình Trung Quốc hoá, đúng như cuộc chiến năm Giáp Ngọ trong lịch sử, Nhật Bản toàn diện xâm  lược Trung Quốc, không chỉ là cắt đất đòi tiền bồi thường mà bản chất hơn là Nhật Bản làm đứt đoạn tiến trình Trung Quốc hoá, giống như tước đoạt quyền phát triển của ngưòi Trung Quốc

Vì thế chúng ta phải lấy cao độ quyết chiến chiến lược để đối xử với cuộc chiến tranh ở eo biển Đài Loan, mà với trình độ vũ lực của chúng ta hiện nay thì đối với Mỹ Nhật mà nói còn chưa bàn được chuyện quyết chiến chiến lược, đặc biệt với Mỹ càng không xứng là quyết chiến chiến lược, bởi vì Trung Quốc chỉ có không nhiều tên lửa vưọt lục địa, trong khi Mỹ đã quyết tâm phát triẻn NMD.

Để ngăn cản, làm chậm thời gian bùng nổ cuộc chiến ở eo biển Đài Loan, trước tiên phải đưa cuộc chiến ở eo biển Đài Loan lên mức “quyết chiến chiến lược đối xứng”, vừa là trình tự cá chết thì lưới cũng rách, nếu chúng ta không thắng được trong cuộc chiến ở eo biển Đài Loan  thì hậu quả chiến bại còn thê thảm hơn cuộc chiến tranh Giáp Ngọ. Vì vậy không đánh thì thôi, đã đánh là phải tiêu diệt toàn diện Nhật Bản, đánh cho Mỹ tàn phế, điều này chỉ có chiến tranh hạt nhân mới làm tròn nhiệm vụ.

Cầu thiện được ác, đó là kết cục cuối cùng của chính sách hiện nay của chúng ta, cầu ác được thiện, chỉ có năng lực tiêu diệt toàn diện Nhật Bản, đánh cho Mỹ tàn phế thì mới giành đựoc hoà bình, nếu không vấn đề eo biển Đài Loan kéo không nổi 10 năm, trong 10 năm tất có đại chiến.

VI.  Bá quyền là đặc trưng bản chất của sự tồn tại của nước lớn

Thế nào là nước lớn?Có bá quyền thì là nước lớn, không có bá quyền thì bị người ta chia cắt xâu xé, số phận bị ngưòi khống chế như con rối, bá quyền trong cái thời đại Chiến quốc này là tồn tại khách quan “là không thể dùng ý cho con ngưoiì chuyển rời”, vấn đề chỉ là anh ý thức được hay không, là chủ động theo đuổi hay là bị động tới gần, mọi vấn đề của Trung Quốc bao gồm vấn đề ba đảo vấn đề phát triển ngành sản xuất chiến lược, vấn đề điều chỉnh lợi ích các tầng lớp giai cấp trong nước, cuối cùng đều là vấn đề vì dân tộc tranh cướp bá quyền.

Muốn tranh bá quyền thì không thể đấu tranh nội bộ không thôi, nội bộ phải ổn định  đoàn kết, nước Anh do lợi ích khổng lồ của thuộc địa hải ngoại nên đã sớm thực hiẹn “quí tộc hóa giai cấp công nhân”, từ Trung Quốc Nhật bản thu được khoản bồi thưòng to lớn và thị trường, không chỉ có lợi cho tầng lớp trê, mà còn khiến tầng lớp dưới của Nhật thu được lợi ích to lớn. Thời đại đã bất đồng, tình hình đất nước cũng không giống nhau, nhưng về thực chất không thay đổi, chúng ta không chỉ cần dùng con mắt bá quyền để nhìn nhận đối xử với vấn đề quân sự ngoại giao, mà càng cần dùng con mắt bá quyền để nhìn nhận đối xử cới các tầng lớp giai cấp trong nội bộ, và vấn đề điều chỉnh lợi ích giai cấp, giai cấp tinh anh tầng lớp trên chỉ hạn chế bóc lột tầng lớp dưới nước mình thì trong cái thời đại Chiến quốc này không thể đại biểu được lợi ích dân tộc, chúng sẽ hủ bại,  đồi truỵ, không có tiền đồ, nên bị hạn chế, bị tiêu diệt. Tầng lớp trên thành thục, trí tuệ mới có thể đại biểu cho lợi ích dân tộc tức thực hiện “chính sách nhượng bộ” đối nội, lãnh đạo tầng lớp dưới cùng thu được lợi ích ở nước ngoài.

Đến đây mạng Milchina.com viết thêm: thưọng tưóng Trì Hạo Điền nói như vậy và cũng làm như vậy, khi tại chức ông là phái diều hâu, phái hàng không mẫu hạm, phái tầu ngầm chiến lựoc hạt nhân, phái không quân hoá hải quân, phái chủ chiến kiên định. Khi tại chức ông đã dùng khoản kinh phí không nhiều trong tay, làm mạnh thêm không quân lục quân, lữ đoàn hải quân lục chiến, đại đội binh chủng đặc biệt, bộ đội tên lửa chiến lược, từ Israel, châu Âu. Nga, thu đựoc rất nhiều trang bị tiên tiến v.v..

Dương Danh Dy (gt)

Nguồn http:// www.milchina.com, ngày 14/05/2010

* Những dòng in nghiêng là theo nguyên văn

VOA: Sự lớn mạnh của kinh tế TQ đem lại cơ hội, thách thức gì cho VN?

3 phản hồi

Trung Quốc đang trên đà trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới và ngày càng gia tăng sự hiện diện của họ tại các nền kinh tế mới nổi trong đó có Việt Nam. Sự lớn mạnh của nền kinh tế Trung Quốc, cũng như sự hiện diện ngày càng nhiều của các công ty Trung Quốc ở Việt Nam đem lại cơ hội, thách thức hay tác động gì tới nền kinh tế của Việt Nam. Mời quí vị nghe ý kiến của nữ Giáo sư Regina Abrami, tại trường đại học Harvard của Hoa Kỳ về vấn đề này.

Thứ Bảy, 15 tháng 5 2010

Giáo sư Regina AbramiGiáo sư Regina Abrami

Thưa quí vị, Giáo sư Regina Abrami có bằng Tiến sĩ về Khoa học chính trị tại Đại học California, Berkely, và hiện là giảng viên của chương trình Thạc sĩ Quản trị Kinh doanh (MBA) tại trường Đại học Harvard của Hoa Kỳ. Bà chuyên nghiên cứu về kinh tế chính trị so sánh, đặc biệt tập trung vào Trung Quốc và Viêt Nam.

VOA: Thưa giáo sư Abrami, được biết bà đang có một cuộc nghiên cứu về những cơ hội cũng như tác động của việc Trung Quốc gia tăng sự hiện diện ở các thị trường mới nổi, xin bà vui lòng cho biết đôi chút về kết quả nghiên cứu tới thời điểm này, đặc biệt là trường hợp của Việt Nam?
GS. Regina Abrami: Việt Nam là một trong số những nước mà tôi đang nghiên cứu và chắc chắn trường hợp của Việt Nam là một trường hợp khá phức tạp bởi lịch sử và mối quan hệ giữa hai nước. Với quan điểm như vậy, khi xét tới sự hiện diện của Trung Quốc ở Việt Nam, thì tôi thấy có nhiều điểm tích cực hơn tiêu cực trong bối cảnh là sự tăng cường quan hệ thương mại và kinh tế giữa Trung Quốc và Việt Nam đã đem lại kết quả là nhiều hàng hóa Việt Nam có cơ hội được xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc. Ngoài ra, sự tăng cường quan hệ kinh tế này cũng khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài cân nhắc đến việc bao gồm hai nước vào một chiến lược đầu tư rộng lớn hơn, và điều đó rất có lợi cho Việt Nam.

Nói về khía cạnh rộng lớn hơn thì sự gia tăng ảnh hưởng của Trung Quốc ở các thị trường mới nổi là một bức tranh hỗn hợp.  Dĩ nhiên là không còn nghi ngờ gì về việc Trung Quốc xuất khẩu công nhân nước họ đến làm việc tại những dự án đầu tư của họ ở nước ngoài như những công trình xây dựng v..v. và nhiều chính phủ cũng như cộng đồng người dân địa phương không ủng hộ điều này, bởi đối với họ, đầu tư nước ngoài là cơ hội để tạo công ăn việc làm cho người dân của chính nước họ. Chính phủ Trung Quốc cũng nhận ra điều này và đang tìm cách điều chỉnh.  Trong khi đó, ngày càng có nhiều chính phủ tại các thị trường mới nổi bắt đầu tiến hành đàm phán các hợp đồng trong đó đưa ra những qui định nhằm hạn chế số công nhân nước ngoài làm việc tại nước họ cho các dự án do Trung Quốc đầu tư.

VOA: Bà vừa nói đến việc Trung Quốc đưa công nhân sang các nước khác, chắc hẳn bà cũng biết về dự án bauxite ở Tây Nguyên của Việt Nam, và Trung Quốc cũng đưa nhiều công nhân của họ sang đó. Do bối cảnh lịch sử của hai nước cũng như những tranh chấp về chủ quyền chưa được giải quyết mà có nhiều người Việt Nam lo ngại về ý định thực sự của Trung Quốc trong những dự án như vậy. Còn ý kiến của bà thì sao?

GS. Regina Abrami: Tôi không nghĩ là họ nên lo ngại về ý định thực sự của Trung Quốc trong việc đầu tư vào Việt Nam, vì nếu là nỗi lo ngại thì cũng nên có những sự lo ngại như vậy đối với Hoa Kỳ. Nếu quí vị lo ngại về những nước trước đây có quan hệ căng thẳng và bây giờ lại đầu tư rất nhiều vào đất nước quí vị thì nỗi lo ngại đó phải được đặt cả vào hai bên. Ở Tây Nguyên cũng có những công ty mỏ của Mỹ đang đầu tư tại đó, nhưng không gây tranh cãi như với trường hợp của Trung Quốc. Tôi nghĩ là người Việt Nam nên xét xem tại sao họ lại đặc biệt thù nghịch với sự đầu tư của Trung Quốc. Tôi nghĩ rằng rủi ro sẽ cao hơn nếu đóng cửa với Trung Quốc thay vì đảm bảo duy trì mối quan hệ kinh tế, quan hệ thương mại vững mạnh, bởi đó vẫn là biện pháp tốt nhất để duy trì một mối quan hệ tích cực.

VOA: Vâng, nhưng thưa bà ngoài lịch sử lâu đời giữa hai nước và những tranh chấp chủ quyền khác thì sự lớn mạnh của quân đội Trung Quốc cũng khiến cho nhiều người có lý do để lo ngại, hơn nữa Trung Quốc lại là một nước láng giềng gần kề Việt Nam.

GS. Regina Abrami: Tôi hiểu điều đó, tôi không phủ nhận rằng nỗi lo ngại ấy bắt nguồn tử lịch sử và tình cảm mạnh mẽ của người Việt Nam. Dĩ nhiên là có một nước láng giềng hùng mạnh ở phương bắc thì người ta sẽ cảm thấy đó là mội mối đe dọa to lớn hơn so với một nước cách Việt Nam cả một đại dương. Nhưng chúng ta biết là những nước có quan hệ kinh tế và xã hội tích cực thì cũng có xu hướng có quan hệ chính trị tốt đẹp hơn. Vì vậy thực tế là bất cứ điều gì ít hơn một chiến lược giao tiếp và làm đối tác với Trung Quốc thì đều không có lợi cho Việt Nam.

Việt Nam phải giao thiệp với Trung Quốc và không nên né tránh nước này, và mối quan hệ đó không cần thiết phải là một mối quan hệ không công bằng. Tôi nghĩ là Trung Quốc hiện không tìm cách thôn tính Việt Nam và chắc chắn là người Việt Nam cũng sẽ không bao giờ cho phép điều đó xảy ra. Vì vậy với tinh thần độc lập mạnh mẽ của hai nước, chắc chắn là hai nước có thể hợp tác rất tốt với nhau thông qua các hoạt động kinh tế và đầu tư trong những thập niên tới, điều này sẽ giải quyết được những vấn đề mà người Việt Nam lo ngại.  Chúng ta cũng cần nhớ rằng về mặt lịch sử trong quá khứ hai nước không chỉ có xung đột mà còn có cả mối quan hệ giao thương với nhau.

VOA: Trung Quốc sẽ vượt qua Nhật Bản để trở thành nền kinh tế lớn thứ nhì thế giới, và theo các phân tích gia thì một trong những nguyên nhân thu hút các nhà đầu tư nước ngoài tới Trung Quốc là do nền kinh tế phát triển nhanh chóng của nước họ, vậy so với Trung Quốc thì Việt Nam có lợi thế cạnh tranh gì trong việc thu hút đầu tư nước ngoài thưa giáo sư?

GS. Regina Abrami: Tôi nghĩ là Việt Nam đã thu hút được một khối lượng đầu tư nước ngoài lớn, nếu nhìn vào số liệu năm 2008, ý tôi là chúng ta chưa nên nhắc đến số liệu năm 2009, vì đó là năm xảy ra cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu vì vậy mà nhiều nền kinh tế bị co cụm.  Nếu nhìn vào số liệu của năm 2007 và 2008 thì Việt Nam đã trên đà thu hút rất nhiều đầu tư nước ngoài và số vốn đầu tư nước ngoài đã tăng một cách đáng kể, tôi cũng dự đoán rằng đầu tư nước ngoài vào Việt Nam sẽ tiếp tục gia tăng.

Về việc Trung Quốc trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới, điều đó đã xảy ra rồi, ý tôi là tùy thuộc vào cách tính toán số liệu, tôi không nghĩ điều này sẽ làm sao lãng các cơ hội thu hút vốn nước ngoài vào Việt Nam. Chúng ta đã chứng kiến nhiều công ty sử dụng chiến lược Trung Quốc + 1 (China +1), vì vậy có thể dự báo rằng Việt Nam sẽ là một đối thủ cạnh tranh với các lợi thế như lao động, giá lao động của Việt Nam rẻ hơn nhiều so với giá lao động của Trung Quốc, điều đó khiến Việt Nam trở nên hấp dẫn hơn đối với các nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực sản xuất.

Thêm vào đó, Việt Nam cũng là một nước thuộc khu vực Đông Nam Á, vì vậy chúng ta sẽ thấy khi một công ty tìm hiểu cơ hội đầu tư vào khu vực này, đặc biệt là với thỏa thuận tự do thương mại (FTA) giữa các nước ASEAN và Trung Quốc, thì họ ngày càng coi Việt Nam như một phần trong chiến lược rộng lớn hơn ở khu vực.  Vì vậy tôi thấy việc Trung Quốc trở thành nền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới sẽ không làm sao lãng các cơ hội thu hút đầu tư của Việt Nam, và cuối cùng thì đầu tư vào Trung Quốc sẽ trở nên tốn kém hơn.

VOA: Thưa bà còn về lĩnh vực xuất khẩu hàng hóa, Trung Quốc lâu nay vẫn bị cáo buộc là giữ giá tiền tệ của họ thấp một cách giả tạo để hàng hóa của họ cạnh tranh tốt hơn trên thị trường thế giới, vậy Việt Nam cần có chiến lược gì để cạnh tranh với hàng hóa Trung Quốc?

GS. Regina Abrami: Tôi nghĩ do giá lao động rẻ nên hàng hóa Việt Nam vẫn mang tính cạnh tranh cao so với hàng hóa Trung Quốc. Về ý kiến cho rằng Trung Quốc có lợi thế cạnh tranh không công bằng nhờ tỷ giá cố định, chúng ta sẽ ngày càng thấy nhiều lời phàn nàn như vậy. Từ trước tới nay chúng ta chỉ thấy Hoa Kỳ và các nước Châu Âu lên tiếng, nhưng thực tế là ngày càng có nhiều nền kinh tế mới nổi cũng cáo buộc Trung Quốc về vấn đề này. Tôi hy vọng là chính phủ Trung Quốc sẽ phải đáp ứng lại những lời phàn nàn này. Hơn nữa, sẽ không phù hợp ngay với bản thân họ nếu tiếp tục trợ cấp cho chính phủ Hoa Kỳ bằng việc mua trái phiếu ngân khố của Mỹ trong khi lại giữ giá tiền tệ của họ thấp hơn trị giá thực tế. Vì vậy tôi không nghĩ là chính sách này sẽ tồn tại mãi mãi.

VOA: Xin hỏi bà một câu hỏi cuối cùng, theo bà thì thách thức trước mắt của nền kinh tế Việt Nam là gì?

GS. Regina Abrami: Thách thức trước mắt của Việt Nam là khả năng nâng cấp cơ sở hạ tầng lên một mức độ hiệu quả hơn và có giá trị gia tăng nhiều hơn. Hiện tại cơ sở hạ tầng của Việt Nam không bằng với Trung Quốc và cũng không bằng với một số nước khác ở Đông Nam Á. Và chừng nào mà Việt Nam không khắc phục được tình trạng này thì Việt Nam sẽ phải đối mặt với nguy cơ sẽ chỉ có thể giậm chân tại chỗ với hoạt động sản xuất hàng hóa cấp thấp mà lại với chi phí vận chuyển cao.  Việc vận chuyển hàng hóa ở Việt Nam do vậy sẽ không thể được thực hiện một cách hiệu quả.

VOA: Còn rất nhiều câu muốn hỏi bà, nhưng vì thời gian hạn hẹp nên hy vọng sẽ có cơ hội trao đổi với bà vào một dịp khác. Xin cảm ơn Giáo sư Abrami rất nhiều.

Trẻ khoe cha, già khoe con…

5 phản hồi

Clip bé T.N.Q chơi đàn dương cầm tại đây.

Một truyện ngắn viết sẵn cho con tại đây. Hư cấu (tức là bịa) hơi nhiều, clip trên mới là sự thật!

Có một người bảo tôi cũng bị Ám ảnh dương cầm. Tôi không phản bác, tôi có thể chỉ ra cái bệnh, đâu đảm bảo cho tôi không bị bệnh.

Vĩnh biệt thi nhân Hoàng Cầm

12 phản hồi