Tản mạn trong buổi chiều thả diều trước cửa hầm Thủ Thiêm

Hôm nay tại Sài Gòn người ta đang dìm đốt hầm Thủ Thiêm cuối cùng. Tôi thấy cần trao đổi vài ý trong bài viết của Kỹ sư Cơ khí Lê Quốc Trinh (Canada) trên diễn đàn Dân Luận[1].

Tôi hoàn toàn chia sẻ với tác giả họ Lê cảm giác băn khoăn trước những lỗ hổng kỹ thuật đã và đang lộ ra tại công trình xây dựng đường hầm vượt sông Thủ Thiêm. Có lần tôi đã nghĩ mai này đường thông, bản thân mình nên tránh qua đấy cho… lành. Tuy nhiên điều ấy không thể giúp tôi bỏ qua nhiều sơ hở của bài viết kia. Xin liệt kê ra đây mấy ý chính:

Ông Lê viết: “Đến khi nước chảy liên tục tàn phá bê tông và làm rỉ sét các cấu trúc sắt thép bên trong thì sức đề kháng của đường hầm sẽ yếu dần cho đến một ngày toàn bộ công trình có thể bị bong ra, nứt toác nhanh chóng dưới áp lực nước thì thảm hoạ sụp đổ khó lòng tránh khỏi”.

Lời bàn: Đường hầm này chôn sâu tối thiểu 3m dưới lòng sông, bao bọc nó là cát và bùn thì không thể có chuyện nước chảy liên tục tàn phá beton. Ở độ sâu ấy gần như không có oxy nên quá trình rỉ sét các cấu trúc sắt thép cũng không thể diễn ra. Lại càng không có chuyện không khí có chứa oxy sẽ thấm ngược từ vùng áp suất thấp trong lòng hầm lên vùng có áp suất cao (các khe nứt ở thành hầm và vỏ hầm).

Ông Lê viết: “Ở Montréal (30/09/2006), Québec, Canada, một chiếc cầu vượt Concorde bằng bê tông đã bị sụp đổ đè chết năm người đi xe hơi, sáu người bị thương nặng. Nguyên nhân là hơn 20 năm trước, vết nối bê-tông bị nhà thầu thi công ẩu, không theo đúng bản vẽ và kỹ sư không kiểm tra chất lượng, không giám sát công trường, nước mưa và tuyết tan đã làm tan vữa bêtông và làm han rỉ cốt sắt bên trong, cộng với tính chây lỳ vô trách nhiệm của quan chức Nhà Nước khi được dân chúng báo động sớm (hai giờ) trước khi cầu bị sụp đổ’.

Lời bàn: Thật không có gì hài hước hơn là đi so sánh quá trình hủy hoại một cây cầu cạn với một đường hầm chìm.

Ông Lê viết: “Chúng ta thử tính xem: Trọng luợng mỗi đốt hầm khoảng 27000 tấn; Cộng thêm áp suất nước (20m) đè lên trên (áp suất trên mỗi m2 nhân cho cả diện tích bên ngoài); Cộng thêm lưu lượng xe cộ chạy hàng giờ; Cộng thêm những chấn động rung của xe vận tải hạng nặng, chưa nói nếu có tai nạn đụng nhau trong đường hầm, hay xe bốc cháy; Nền móng dưới hầm có đủ chắc (chôn sâu bao nhiêu dưới lòng sông) để đủ sức chịu đựng áp lực vĩ đại đó?”.

Lời bàn: Ông Lê quên rằng hầm chìm này là một kết cấu rỗng, bùn và cát xung quanh nó được xem như môi trường chất lỏng đặc thù, do đó nó có lực nổi. Người ta đã tính toán để lực nổi này cân bằng với sức tải tĩnh và động của hầm cộng với lực nén từ trên xuống. Cho nên lo lắng của ông về “nền móng” là hơi thừa. Có thể ví von là ông đang muốn xây móng cho một chiếc khinh khí cầu!

Ông Lê viết: “Tôi không phải là kỹ sư công chánh, không chuyên nghiệp về cầu đường, nhưng kinh nghiệm hành nghề ở Canada cho phép tôi nhìn vấn đề chi tiết hơn về quan điểm kỹ thuật. Hy vọng những lo ngại của tôi không là tiếng kêu vô vọng trong đêm thâu”.

Lời bàn: Tôi cũng không phải kỹ sư công chánh, cũng không chuyên nghiệp về cầu đường. May mắn thời đi học tôi đã được nghe giảng qua môn sức bền vật liệu, cơ học chất lỏng và thủy văn. Do đó tôi xin tạm nêu ra vài mâu thuẫn cơ bản trong sự hiểu biết hạn chế mang nặng tình tiết sách vở của mình. Rất mong sẽ được độc giả thuộc chuyên ngành liên quan chỉ bảo thêm.

***

Đoạn phân tích dài dòng trên đây có thể tăng lên gấp đôi nếu tôi mổ xẻ chi tiết hơn. Tôi xin dừng ở đây. Những ví dụ kia đã là tương đối điển hình trong một bài viết điển hình của truyền thông Việt Nam nói chung, không phân biệt lề trái hay phải. Đó là sự lấn sân của những người không có chuyên môn trong nhiều vấn đề[2]. Có người đã nói đùa với tôi rằng người Việt rất đa năng, giả như ngài tiến sỹ nọ. Với vụ bauxite ông là chuyên gia luyện kim, môi trường kiêm nhà quân sự thao lược, với vụ đường hỏa xa cao tốc ông là nhà kinh tế vĩ mô sâu sắc, chỉ đến khi vấn đề “dời đô” nóng lên thì bàn dân mới bổ ngửa ông còn là một thầy phong thủy rất mê tín. Oái ăm thay, trong chuyên ngành hẹp ông theo đuổi cả đời, một trang web flickr[3] lại nỡ phong ông là giáo sư “dỏm”.

Cùng một hiện tượng xã hội tương đồng như đã dẫn, blogger DongA gọi là “Thói a dua và mặc cảm dòng chính”[4]. Ông viết: “Mặc cảm dòng chính là khái niệm do tôi nghĩ ra trước đây để chỉ tâm lý tin vào bất cứ thông tin nào có chiều hướng xấu liên quan tới hệ thống chính trị cầm quyền bất kể thông tin đó đúng, sai hay chỉ có một phần sự thật và đồng thời cũng không cần phải bận tâm suy nghĩ, tìm hiểu về tính xác thực của thông tin đấy… Thói a dua và mặc cảm dòng chính nếu chỉ trôi nổi trên mạng thì đành một lẽ. Nhưng một khi mặc cảm dòng chính len vào hệ thống truyền thông của chính hệ thống chính trị cầm quyền thì điều này đặc biệt nguy hiểm cho chính hệ thống chính trị cầm quyền đấy, bởi vì điều đó cho thấy chính ở trong chính bản thân hệ thống chính trị cầm quyền đã tồn tại một mặc cảm về chính nó sâu xa. Mặc cảm này chưa phát tác ra những hệ quả khôn lường bởi vì nó còn bị áp chế bởi những ràng buộc mạnh mẽ và phức tạp của hệ thống chính trị. Một khi những ràng buộc này suy yếu mặc cảm dòng chính sẽ phát tác từ chính bên trong hệ thống chính trị kết hợp với bên ngoài và sẽ phá vỡ hệ thống chính trị đấy”.

Cảm giác sợ hầm ngầm vượt sông của tôi như đã nói, không phải xuất phát từ bài viết của ông Lê Quốc Trinh hay một trang web lề trái nào đó. Nó là kết quả của sự thiếu hụt thông tin của báo chí chính thống trong nước. Chưa bao giờ tôi thấy họ tham khảo ý kiến một chuyên gia có trọng lượng nhưng ở vị thế độc lập, hoặc dẫn chứng và so sánh với những công trình tương tự trên thế giới, khi đề cặp đến các bất cập kỹ thuật của hầm Thủ Thiêm suốt hai năm nay. Tôi tạm cho đây là kiểu làm báo câu khách và vô trách nhiệm, chứ chưa dám liên tưởng đến định nghĩa“mặc cảm dòng chính” của blogger DongA.

Khi mỗi cá nhân tự tôn về quyền năng tri thức và hiểu biết của mình trong mọi lĩnh vực, chỉ có hai khả năng: một là anh rỗng tuếch và a dua, hai là anh tự ti và phủ nhận mọi thứ. Đứng về mặt cộng đồng, nó chỉ ra sự thiếu vắng của đỉnh chóp tư duy phản biện và định hướng, tức là một tầng lớp trí thức đủ năng lực và lương tri cất lên tiếng nói riêng có độ thu hút và thuyết phục rộng rãi.

Trong bộ phim JFK của Holywood về quá trình điều tra vụ ám sát Kenedy, người ta dẫn câu nói của một nhà khoa học tự nhiên Anh: “Một công dân yêu nước là một công dân dám chống lại chính phủ của mình”. Theo logic của phim, tôi thấy sự “chống” kia mang tính xây dựng và hoàn thiện cho chính phủ, hơn là đạp đổ. Ở Việt Nam tôi lại nghĩ tâm lý bài nhà cầm quyền thiên về “hội chứng hậu nô lệ”, hơn là yêu nước. Thật vậy, bài bác mọi chính sách thực dân dù không khôn ngoan lắm nhưng ít ra nó là chất keo gắn kết cộng đồng và nuôi dưỡng ý chí quật khởi của cả dân tộc trong hàng thế kỷ. Còn với chính phủ của người Việt Nam, ít nhất ở phương diện chủng tộc và văn hóa, bài bác là kế sách lỗi thời và vô vọng. Chuyển hóa là quá trình tất yếu và duy nhất khả dĩ. Bí quyết của nó là tri thức và kẻ thực thi chắc chắn là đội ngũ trí thức mà hiện nay rất tiếc là chưa có hình hài.

***

Không rõ ai là người đã đặt tên cộng đồng Việt Nam hải ngoại là “Khúc ruột ngàn dặm” rất tối nghĩa. Ở chiều hướng ngược lại, cái nhìn chủ đạo của Việt kiều dành cho cơ thể chính trị Việt Nam cũng thường thu nhỏ về ruột… già. Nghĩa là tất cả những gì liên quan đến nhà nước Việt Nam đều xấu xa và thối nát (!?). Vụ “Đỗ Ngọc Bích” chấn động dư luận vừa qua rõ ràng là một “bung xung” từ căn nguyên có thật: “Ý tưởng viết bài của tôi xuất phát chính từ cảm giác bực dọc, khó chịu khi phải đọc những lời phỉ báng, lăng mạ của các blogger trong nước và hải ngoại đối với nhà nước Việt Nam…[5]”.

Quan điểm của Mahatma Gandhi đầu thế kỷ trước rất đáng tham chiếu: “Khi tôi trở về từ Nam Phi, tôi đã đi đến rất nhiều vùng đất Ấn Độ. Và tôi biết rằng mình có thể đi như thế nhiều năm nữa, mà vẫn chỉ thấy được một phần rất nhỏ của đất mẹ. Tôi biết những gì chúng ta nói ở đây vô nghĩa với phần lớn người dân Ấn Độ. Chúng ta đọc diễn văn cho nhau nghe và mấy tờ báo tiếng Anh sẽ dành cho chúng ta vài dòng. Nhưng nhân dân Ấn Độ thì không đụng đến. Chuyện chính trị của họ giới hạn trong bánh mì và muối. Họ có thể dốt nát nhưng không đui mù. Họ chẳng có lý do để hiến tặng lòng trung thành cho bọn người giàu có và quyền lực, những kẻ đơn giản chỉ muốn tiếp quản vai trò thực dân dưới mị danh tự do”.

Gandhi đã phải trả giá bằng cả mạng sống của mình cho sự tiến bộ của tổ quốc. Đau đớn là chính người Ấn Độ đã giết ông, chứ không phải thực dân Anh. Và đúng như Gandhi tiên đoán, cuộc đấu tranh giành độc lập đã chia năm xẻ bảy đất nước. Nó đẻ ra những chính thể độc tài không ngừng chia rẽ và đối đầu trên mảnh đất có nền văn minh cổ kính bậc nhất nhân loại.

Thảo Điền 6.2010


[1] http://danluan.org/node/5278

[2] Cho phép tôi tự nhận khuyết điểm, tôi không có chuyên môn sử học nhưng đã mạo muội khảo cổ sử. Thật lòng là tôi rất xấu hổ mỗi khi ai đó gọi tôi là nhà cổ sử.

[3] http://www.flickr.com/groups/giaosudom/

[4] http://donga01.blogspot.com/2010/05/thoi-dua-va-mac-cam-dong-chinh.html

[5] http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/2010/04/100420_dongocbich_comment.shtml