Tản mạn đọc và viết

2 Comments

Phân loại người đọc :

Cấp độ 1: Thích đọc kinh, chẳng hạn như Kinh Thánh, Kinh Phật, Kinh Điển… tức là những giá trị đã được đám đông xác tín. Sự đọc của họ chỉ mong tìm ra chỗ khác nhau giữa niềm tin của mình và thứ họ đang đọc. Sau đó họ dùng tất cả tình cảm bồng bột và xốc nổi để xỉ vả, phản bác, đôi khi khá thiếu văn hóa. Thói quen của họ là nhìn tên tác giả, tìm nhanh một luận điểm lỏng lẻo từ câu chữ trở đi để tấn công, nhiều khi làm người ta lầm tưởng họ gặp vấn đề đọc – hiểu sơ đẳng nhất.

Cấp độ 2: Tham khảo tất cả chiều hướng tư duy và logic để luận đúng sai và tự treo cổ mình trong chiếc thòng lọng nhị nguyên.

Cấp độ 3: Mọi thứ đều để tham khảo. Phê phán hay khen ngợi của họ luôn nhẹ tựa lông hồng nhưng sắc xảo. Thích đặt câu hỏi hơn là đưa ra trả lời.

Phân loại người viết:

Cấp độ 1: Dè dặt với điều mình tin, không ngại viết những điều chưa chắc họ đã tin tưởng. Khuấy đảo tư duy người đọc và chính họ, bên ranh giới giữa đúng và sai, để tất cả đi tìm bản chất thật của vấn đề một cách độc lập và không thiếu cá tính.

Cấp độ 2: Viết bất kể thứ gì, không quản bản thân họ có tin tưởng hay không. Họ đầu tư vào sự viết với mục đích ban đầu rõ ràng. Đặc điểm ở cấp độ này là thói vuốt ve dư luận, tát nước theo mưa và thường dùng phương pháp “chửi mất gà” hoặc “nghe mẹ hát”.

Cấp độ 3: Luôn viết về những thứ họ tin tưởng, thậm chí nô lệ. Những bài viết này đôi khi rất xúc động nhưng ít đầu tư chiều sâu. Họ dễ trở thành kẻ truyền đạo hơn là hành đạo.

Đôi lời về nhân quần quyền

6 Comments

Tạp chí Nhân quyền Việt Nam tháng 6.2010 có bài viết rất đáng quan tâm của tướng Nguyễn Văn Hưởng nhan đề: “Hãy hiểu đúng về vấn đề nhân quyền Việt Nam”. Tướng Hưởng khẳng định nhân quyền phương Tây là cái mà nhiều thể chế dân chủ đa đảng trên thế giới muốn áp đặt tại Việt Nam. Ông viết: “Chính vì vậy, những lý thuyết về nhân quyền, dân chủ theo kiểu phương Tây đã vấp phải sự phản ứng mạnh mẽ của những quốc gia không đồng quan điểm, trong đó có Việt Nam. Các quốc gia này không thể chấp nhận một thứ “dân chủ, nhân quyền” mà nếu đi theo đó, thì đồng nghĩa với tự đánh mất mình, làm thay đổi cả một nền văn hóa của một (hoặc nhiều) dân tộc, và dẫn đến đảo lộn trật tự xã hội, trật tự trong mỗi gia đình”.

Hàng thế kỷ trước văn hào Rudyard Kipling đã viết: “Oh, East is East, and West is West, and never the twain shall meet – Đông là Đông và Tây là Tây, chẳng bao giờ cả hai gặp gỡ”. Đến nay, còn rất ít người tin vào điều đó. Tuy nhiên việc đồng hóa Đông – Tây là một trong những nhãn quan của các chính trị gia phương Tây hiện đại, ít nhất trong vấn đề dân chủ – nhân quyền. Nó hoàn toàn không tưởng về mặt lịch sử, khoa học cũng như xã hội.

1. Về mặt lịch sử:

Nền văn minh Á Đông mà đất nước Việt Nam từng thuộc về đã tồn tại không hề gián đoạn ít nhất là hơn ba ngàn năm nay (thời điểm chữ viết tượng hình hoàn thiện và không thay đổi nhiều cho đến hôm nay), nếu không muốn nói là năm ngàn năm. So với văn minh Hy – La tiền thân của văn minh phương Tây, cấu trúc của Á Đông phải nói là có thời gian thử thách và bền bỉ hơn rất nhiều, nó phát triển theo kiểu xoáy trôn ốc cực kỳ chặt chẽ. Văn minh Trung Hoa, hạt nhân của văn minh Á Đông từng khiến Voltaire ngạc nhiên: “Chúng ta nhận thấy rằng quốc gia ấy tồn tại một cách rực rỡ từ trên bốn ngàn năm rồi mà luật pháp, phong tục, ngôn ngữ, cách ăn mặc vẫn không thay đổi bao nhiêu…[1]”. Văn minh phương Tây hiện đại có thể tính tuổi từ thời Phục hưng cách nay vài trăm năm, là thành quả của sáng tạo phủ định (creative destruction). Đầu tàu văn minh phương Tây hôm nay là nước Mỹ. Sáng tạo phủ định giúp cho xứ sở ấy nhanh chóng vượt lên phía trước về mặt vật chất, nhưng khiến nó trở thành một đứa trẻ choai không có dân tộc tính, các bài học lịch sử nghèo nàn song lại thích võ đoán và áp đặt.

Hai nền văn minh đang đề cặp có những cách khác nhau để tiếp cận tương lai.

2. Các khảo sát khoa học:

Từ năm 2005, tôi đã để ý đến kết quả nghiên cứu do các nhà khoa học của đại học Michigan thực hiện, về cách nhận thức thế giới khác nhau của người Á Đông và người phương Tây[2]. Họ kết luận: “Người Á Đông sống trong mạng lưới quan hệ xã hội phức tạp với những giềng mối định vị bắt buộc. Do đó tập trung vào bối cảnh tổng thể là quan trọng để thực hiện chức năng có hiệu quả. Ngược lại, người phương Tây sống trong một xã hội ít áp lực tác động đến sự độc lập cá nhân, điều đó cho phép họ giảm thiểu sự chú ý đến bối cảnh”. Và: “Con người từ những nền văn hóa khác nhau xác định điều họ quan tâm khác nhau, dù họ có chia sẻ với nhau cùng một không gian sống. Kết quả là chúng ta nhìn thế giới với những diện mạo khác nhau, bằng những cách khác nhau”.

Cũng tại Michigan, trong một thí nghiệm khác, giáo sư Richard Nisbet GIÚP NGƯỜI TA RÚT RA kết luận NHƯ SAU: “Tư duy của phương Tây là tư duy kiểu trắng đen phân biệt rõ rệt, không có vùng đất xám. Có thể nói tư duy kiểu này là tư duy đơn giản một chiều, khá cứng nhắc và có thể dẫn đến những hành động cực đoan, vì nó không tìm cách dung hòa sự bất đồng, không tìm con đường trung dung giữa hai phía để đi. Nó sẽ khăng khăng cho rằng trách nhiệm thuộc về một phía và phía này phải sửa đổi hành vi để cải thiện tình hình. Chính vì trong thực tế cuộc sống không có nhiều tình huống “giấy trắng mực đen rõ ràng” như vậy nên tư duy theo kiểu này không giúp làm cho xung đột khá hơn mà làm cho nó tồi tệ đi, và khi mức chịu đựng giữa hai phía chạm đến giới hạn cuối cùng, bạo động sẽ phát sinh[3]”.

3. Quan sát xã hội:

Để bớt chữ nghĩa, phần này tôi xin dẫn vài tác phẩm tiêu biểu của họa sĩ Trung Quốc Lưu Dương (Yang Liu) trong cuộc triển lãm “Phương Đông gặp gỡ phương Tây” tại Berlin năm 2007[4]. Màu xanh thể hiện phương Tây, màu đỏ thuộc về phương Đông:

Ý kiến

Phương thức sinh hoạt

Tự ngã (cái tôi)

Trẻ em

Người già

Quan hệ xã hội

Phẫn nộ

Ăn tiệc

Xử lý vấn đề

Tôi thích nhất bức poster “xử lý vấn đề”. Nó cho thấy tư duy sáng tạo phủ định thuộc về phương Tây. Ngược lại, người phương Đông đi vòng và vượt qua vấn đề. Ở Việt Nam có câu “sống chung với lũ” rất thông minh và hóm hỉnh.

***

Với tất cả những dẫn chứng điển hình như trên, tôi nghĩ ở Việt Nam nói riêng, Á Đông nói chung, tồn tại giá trị nhân quyền của riêng mình, tương đương với phương Tây, tạm gọi là quần quyền. Tỉ dụ: trước khi văn minh phương Tây quảng bá những điều tốt đẹp của mình ở mảnh đất này, với người phương Đông ngày giỗ luôn quan trọng hơn sinh nhật. Ngày giỗ không hoàn toàn dành cho người đã khuất và tiên tổ. Nó củng cố mối quan hệ của những người đang sống. Nếu sinh nhật như là hành vi cổ xúy nhân quyền thì giỗ kỵ chính là sự tôn vinh quần quyền.

Quay trở lại bài viết của tướng Hưởng, tôi thấy ông có lý khi (tôi) đặt đoạn văn này: “Nếu như hơn 30 năm trước đây, đại bộ phận người dân Việt Nam chỉ nghĩ đến có cái ăn để mà sống và ước mơ “ăn no mặc lành” thì bây giờ khái niệm “ăn ngon mặc đẹp” đã trở thành phổ biến ở Việt Nam”; bên cạnh phân tích của Bill Hayton: “Đầu tư và tài trợ quốc tế không mang lại dân chủ và đa đảng cho Việt Nam; ngược lại, nó giúp cho hệ thống cai trị độc đảng trở nên hiệu quả và hiệu lực hơn. Đó là cách mà Đảng muốn. Cuộc sống trở nên tốt đẹp hơn đối với đa số người dân Việt Nam, và chừng nào xu thế này còn tiếp tục, chừng đó mọi việc vẫn sẽ như bây giờ[5]”.

Mọi việc vẫn sẽ như bây giờ? Bill Hayton một lần nữa chứng minh tư duy nhị nguyên điển hình của người phương Tây. Ở phương Đông, chúng ta luôn nhìn thấy động trong tĩnh và ngược lại. Tôi không nghi ngờ vào quá trình chuyển hóa không ngừng nghỉ của xã hội Việt Nam. Tôi tin bất cứ ai thích thú với cách xử lý vấn đề “sáng tạo phủ định” made in USA sẽ luôn nhận về sự thất vọng mà thôi.

Ở Việt Nam nói riêng và Á Đông nói chung nhân quần quyền là như vậy. Lịch sử đã chứng minh cách mạng chỉ có thể đi vòng qua chướng ngại, vượt lên chướng ngại mà không nên hủy phá. Nếu muốn hủy phá thì trước tiên phải phá tan nền văn hóa cố kết bởi năm mươi thế kỷ. Đó lại là một câu chuyện khác, có lẽ tôi sẽ đề cặp ở một bài viết khác.

Bài viết chào đón chuyến thăm Việt Nam của ngoại trưởng Mỹ,

Hillary Clinton, tháng 7.2010.


[1] Will Durant, Lịch sử văn minh Trung Hoa, trang 20, Nguyễn Hiến Lê dịch, dẫn từ quyển Khảo luận về phong tục của Voltaire.

[2] http://news.bbc.co.uk/2/hi/health/4173956.stm

[3] Dẫn theo: http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=101&CategoryID=37&News=2547

[4] http://yangliudesign.blogspot.com/2007/07/ost-trifft-west-east-meets-west.htmlhttp://www.gabyu.com/2007/09/07/comparaison-allemagne-chine/

[5] http://www.talawas.org/?p=22561

HÃY HIỂU ĐÚNG VỀ NHÂN QUYỀN VIỆT NAM!

5 Comments

Bài báo này tôi copy từ blog anhbasam, giữ tại đây làm tư liệu vì tôi đang viết một bài liên quan đến chủ đề này.

Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng,

Thứ trưởng Bộ Công an

Sau khi khối XHCN Đông Âu sụp đổ, chiến tranh lại kết thúc, vấn đề nhân quyền và dân chủ đã được một số nhân vật trong chính giới Hoa Kỳ và một số nước phương Tây sử dụng như một phương tiện hữu hiệu làm chuyển hóa thể chế chính trị ở một số quốc gia, trong đó có Việt Nam. Và hiện nay, nhân quyền đã trở thành vấn đề quốc tế. Các nước phương Tây đưa vấn đề nhân quyền vào trọng tâm chính sách đối ngoại của họ.

Bản chất của vấn đề nhân quyền mà họ đưa ra là gì?

Nếu xét về thể chế chính trị đó là một xã hội có nền chính trị đa nguyên, đa đảng. Và họ luôn luôn đề cao tự do cá nhân, nhân quyền là quyền không có biên giới, không bị phụ thuộc bởi chính trị, địa lý hay chủ quyền quốc gia…

Họ áp đặt những “tiêu chí” về nhân quyền cho các quốc gia mà họ đang muốn chuyển hóa, thay đổi các thể chế chính trị. Họ muốn tạo ra ở các quốc gia này một lực lượng “dân chủ” và sẽ trở thành lực lượng phản kháng, chống đối lại chính quyền hợp hiến. Nếu quốc gia nào không chịu nghe theo thì họ đưa vào danh sách các quốc gia “cần quan tâm đặc biệt”; rồi gây khó dễ cho hoạt động kinh tế, thậm chí cấm vận từng phần…

Chính vì vậy, những lý thuyết về nhân quyền, dân chủ theo kiểu phương Tây đã vấp phải sự phản ứng mạnh mẽ của những quốc gia không đồng quan điểm, trong đó có Việt Nam. Các quốc gia này không thể chấp nhận một thứ “dân chủ, nhân quyền” mà nếu đi theo đó, thì đồng nghĩa với tự đánh mất mình, làm thay đổi cả một nền văn hóa của một (hoặc nhiều) dân tộc, và dẫn đến đảo lộn trật tự xã hội, trật tự trong mỗi gia đình.

Đối với Việt Nam, từ nhiều năm qua, Hoa Kỳ và một số nước phương Tây luôn đặt vấn đề nhân quyền như một điều kiện để “mặc cả”. Họ luôn phê phán chúng ta “không có tự do tôn giáo”; “không có tự do báo chí”; “không có tự do lập hội”… Mỗi khi có công dân Việt Nam vi phạm pháp luật và bị xử lý theo pháp luật, nếu là phóng viên báo chí thì họ cho là “đàn áp báo chí”. Nếu là người theo đạo, người tu hành, thì họ bảo là chúng ta “đàn áp tôn giáo”. Còn với những người cố tình xuyên tạc đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước, có những hành động, âm mưu xâm hại đến an ninh quốc gia bị xử lý… thì họ gọi đó là những người “bất đồng chính kiến”, “những nhà dân chủ”…?

Vậy, thực chất vấn đề nhân quyền ở Việt Nam là như thế nào? Nhân quyền ở Việt Nam khác với nhân quyền phương Tây ở điểm gì? Và phải hiểu nhân quyền ở Việt Nam như thế nào cho đúng?

Nói về nhân quyền ở Việt Nam, có lẽ không gì rõ ràng, đầy đủ và ngắn gọn hơn lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi trả lời các nhà báo nước ngoài vào tháng 1 năn 1946 : “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành…” Và lời khẳng định của Bác “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” .

Trước Cách mạng Tháng 8, dưới ách đô hộ của thực dân Pháp, thì Việt Nam là nước thuộc đia nghèo khổ, bị cướp đi quyền độc lập và không có tên trên bản đồ thế giới. Nhân dân ta phải chịu cái nhục mất nước suốt gần một thế kỷ và trong thời gian đó, khái niệm nhân quyền không hề có với người Việt Nam. Nỗi khát khao độc lập, tự do, có được quyền làm Người khiến cả dân tộc vùng lên đấu tranh, lật đổ ách đô hộ của thực dân Pháp để có được Bản Tuyên ngôn độc lập mà Hồ Chủ tịch đọc khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 2-9-1945. Suốt hơn 30 năm sau đó, dân tộc ta một lần nữa đã trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Hàng triệu người Việt Nam đã hi sinh để giành lại độc lập, tự do, thống nhất đất nước.

Tư tưởng về nhân quyền của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành quan điểm lãnh đạo xuyên suốt của Đảng ta qua các thời kỳ cách mạng về quyền con người.

Đến nay Việt Nam được đánh giá là quốc gia có sự ổn định chính trị nhất, đang hội nhập mạnh mẽ vào kinh tế thế giới. Từ một nước “chạy ăn từng bữa”, nay chúng ta đã trở thành cường quốc xuất khẩu gạo. Và bất cứ ai cũng có thể thấy được sự thay đổi tích cực trong đời sống vật chất và văn hóa tinh thần.

Từ khi Đảng ta bắt đầu công cuộc Đổi mới xây dựng kinh tế đất nước, và cho đến nay chúng ta đã hội nhập rộng rãi vào thế giới thì các tiêu chuẩn về quyền con người càng được củng cố rộng rãi, đời sống của người dân được nâng cao. Tất cả mọi công dân đều có quyền đóng góp ý kiến với tính chất xây dựng, nghiêm túc, có trách nhiệm vào tất cả các chủ trương, chính sách hoặc các vấn đề quan trọng của quốc gia. Người dân đã tự giác, hăng hái tham gia các tổ chức chính trị, xã hội và nghề nghiệp để hội tụ những tấm lòng nhân ái và đóng góp rất to lớn vào việc thực thi các chính sách của Đảng và Nhà nước trong công cuộc xóa đói giảm nghèo. Hiếm có một quốc gia nào mà mỗi khi xảy ra thiên tai bão lụt, người dân hăng hái đóng góp trên tinh thần lá lành đùm lá rách, lá rách ít đùm lá rách nhiều… như ở Việt Nam. Những thành công của Nhà nước ta trong những năm qua về xóa đói giảm nghèo được cộng đồng thế giới coi là một tấm gương mẫu mực cho các quốc gia noi theo. Đói nghèo bởi dân tộc Việt Nam từng là nạn nhân của chế độ phong kiến, thực dân đế quốc. Nhất là các dân tộc thiểu số miền núi hàng ngàn đời sống phụ thuộc hoàn toàn vào điều kiện tự nhiên và chế độ phong kiến thực dân đã đẩy họ đến bần cùng quay về hoang dã. Vậy mà hiện nay những tư tưởng đen tối vẫn tìm mọi cách tuyên truyền lôi kéo họ trở về đời sống đói nghèo vô định, cản trở công cuộc khắc phục hậu quả chiến tranh đầy khó khăn gian khổ… Mặc dầu vậy, Nhà nước và Chính phủ Việt Nam đã tập trung sức lực của cải, tiền bạc bằng những chế độ chính sách cụ thể lo cơm ăn, áo mặc, nhà ở, trường học, bệnh viện, đầu tư trang bị cho mọi nhu cầu đời sống văn minh ti vi, rađiô, sách báo… tạo điều kiện cho bà con hòa nhập với cuộc sống cộng đồng quốc gia và quốc tế. Có lẽ trên thế giới chưa có chính phủ nào làm được việc này. Cách mạng là thế đấy.

Cách mạng là làm cho cuộc sống người dân ngày một tốt hơn. Nếu như hơn 30 năm trước đây, đại bộ phận người dânViệt Nam chỉ nghĩ đến có cái ăn để mà sống và ước mơ “ăn no mặc lành” thì bây giờ khái niệm “ăn ngon mặc đẹp” đã trở thành phổ biến ở Việt Nam.

Không ít những người trước đây đã từng tham gia trong chính quyền Sài Gòn cũ nay trở về Việt Nam đã phải thốt lên rằng  họ không thể tưởng tượng nổi là Việt Nam lại phát triển đến như vậy.

Người dân đã bắt đầu quen với luật pháp, quen với nếp sống kỷ cương. Và ngày hôm nay người dân Việt Nam đang bắt đầu đi vào kỷ nguyên sống và làm việc theo luật pháp. Người dân được tự do sống theo các quy định của pháp luật và họ ý thức được rằng chỉ có những nguyên tắc của pháp luật mới bảo vệ được các giá trị đạo đức, quyền con người khi bị chà đạp. Lợi ích và quyền cá nhân của mỗi người phải được đặt trong quyền lợi chung của cộng đồng, của dân tộc chính vì thế người dân có thể tham gia tích cực vào các vấn đề xã hội và các tổ chức chính trị đoàn thể. Việt Nam hiện nay có hơn 700 đầu báo và tạp chí; 25 triệu người được sử dụng Internet và rất nhiều người trong số đó đã sử dụng Internet để đóng góp ý kiến vào các vấn đề xã hội. Đó chính là tự do, chính là nhân quyền. Người dân Việt Nam chấp nhận sự lãnh đạo của một Đảng cầm quyền, bởi lẽ họ thấy rõ hơn ai hết về những gì mà Đảng Cộng sản đã đem lại cho người dân trong suốt bao nhiêu năm qua. Nhìn sang các quốc gia bên cạch, nếu đa đảng để mà đất nước mất ổn định, lâm vào những cuộc chiến “nồi da xáo thịt”; để mà nạn khủng bố xảy ra thường xuyên thì chắc chắn người Việt Nam không thể chọn cái sự đa đảng ấy. Người dân Việt Nam chắc chắn cũng không thể chấp nhận một sự tự do mà công dân có quyền mang vũ khí rồi xả súng bắn chết học sinh, hoặc tự do chửi bới, bôi nhọ lẫn nhau; phủ nhận các giá trị văn hóa, đạo đức truyền thống…

Họ không thể mang quan điểm nhân quyền của nước họ áp đặt thành tiêu chuẩn cho Việt Nam. Mỗi quốc gia có bản sắc văn hóa riêng, có luật pháp riêng vì thế không thể lấy hình mẫu ‘nhân quyền’ của nước này đem sang nước khác được.

Cũng vẫn còn có những tiếng nói, còn những người không thấy được thành tựu của dân tộc. Họ sao chép những quan điểm, những tư tưởng của nước ngoài đưa vào Việt Nam và rồi nói đó là “phản biện” . Họ không chỉ bày tỏ những quan điểm mà còn mưu đồ tổ chức gây bạo loạn, hoặc móc nối với các tổ chức phản động lưu vong âm mưu lật đổ chế độ. Đó là những người rắp tâm vì mục đích cá nhân của mình mà coi rẻ lợi ích chung của cả dân tộc.

Khi đời sống vật chất được nâng cao thì những đòi hỏi về đời sống tinh thần cũng phát triển theo, đặc biệt là tâm linh. Trong những năm qua, hàng ngàn chùa chiền, cơ sở thờ tự đã được xây cất mới hoặc được trùng tu; các lễ hội văn hóa truyền thống đã được khôi phục ở tất cả các địa phương… Đời sống tín ngưỡng, tôn giáo của người dân ngày càng được phát triển và coi trọng. Người dân đã hoàn toàn tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo.

Tôn giáo chân chính thiêng liêng là khuyến khích con người sống nhân ái, biết thương yêu đùm bọc lẫn nhau. Chúng ta rất tôn trọng và tạo điều kiện cho tôn giáo phái triển nhưng cũng kiên quyết không để xảy ra những âm mưu lợi dụng tôn giáo để hoạt động chính trị, để phá hoại mối đoàn kết toàn dân. Cho nên ai chưa hiểu về nhân quyền ở Việt Nam thì phải biết nhân quyền ở Việt Nam là: Cá nhân vừa phải có trách nhiệm với bản thân nhưng cũng phải có trách nhiệm với cộng đồng xã hội, phải gắn quyền con người với việc thực thi luật pháp thì quyền con người mới được đảm bảo.

Đảng và Nhà nước ta phấn đấu xây dựng một nước Việt Nam công bằng, dân chủ, văn minh và mọi người dân ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành… Chúng ta phấn đấu cho những mục tiêu nhân quyền, dân chủ mà đã được xác định, nhưng cũng không thể chấp nhận cái thứ “nhân quyền, dân chủ” theo kiểu phương Tây.

Mỗi công dân hãy biết quý trọng giá trị, bản sắc của dân tộc mình và hãy nhìn ra nước ngoài để thấy rõ hơn những thành tựu của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta trong lĩnh vực Nhân quyền.

Nhân quyền ở Việt Nam là như vậy!

————-

Hoàng Ngọc Tuấn mặc váy…

16 Comments

Thực ra chỉ có Lý Tống mặc váy, giả làm đàn bà vờ tặng hoa rồi xịt hơi cay vào mắt “văn công” Đàm Vĩnh Hưng. Link youtuble tại đây.

Xâu chuỗi sự kiện trên với “vụ án đạo văn” của Ngô Tự Lập đang sùng sục trên talawas, không khỏi ngậm ngùi.

Thật vậy, cái “tội” lớn nhất của Ngô Tự Lập là dám viết không xấu về cụ Hồ. Nguyên tắc của “lề trái” là phải viết xấu về cụ thì mới là văn đẹp!

Ngô Tự Lập vốn đã cộng tác thường xuyên với Tiền Vệ, nơi Hoàng Ngọc Tuấn làm chủ bút. Nóng máu vì họ Ngô “phạm húy”, Hoàng Ngọc Tuấn bèn ẩn danh dưới tên Nguyễn Tôn Hiệt “xịt hơi cay” Ngô Tự Lập. Họ Ngô cứ tưởng Tiền Vệ khách quan, đấu nhau trận này là trận thứ hai với Nguyễn Tôn Hiệt chứ có phải ít đâu. Ngô gửi bài trả lời nào, Hoàng Ngọc Tuấn đều “ngâm” vài hôm, đến khi nạp xong “hơi cay” đáp từ  thì đăng hai bài liền kề, tung hỏa mù. Công bằng ra phết! Trí thức XHCN “tồ” đến thế là cùng!

Tóm lại: “Vụ án đạo văn” này kịch tính và bùng nổ không khác gì việc Lý Tống hôm qua giả làm đàn bà, vờ tặng hoa rồi xịt hơi cay vào mắt “văn công” Đàm Vĩnh Hưng tại San José. Hoàng Ngọc Tuấn dưới bút danh lạ hoắc Nguyễn Tôn Hiệt chính là anh hùng Lý Tống mặc váy của trường văn trận chữ lề trái.

——————-

Bonus:

Đây là tiểu sử của chủ bút Hoàng Ngọc Tuấn mà tôi vừa search được: “Nguyên chủ bút tạp chí Tập Họp (1987-1989). Nguyên phụ tá chủ bút tạp chí Việt (1998-2001); đồng chủ bút trang Tiền Vệ (2002~). Nhà nghiên cứu, lý luận, phê bình và sáng tác trong lĩnh vực âm nhạc và văn chương; đồng thời là nghệ sĩ trình tấu guitar, diễn viên sân khấu, và kịch tác gia. Hiện sống tại Úc. Từ năm 2004 cho đến nay, là thành viên của Uỷ Ban Văn Chương và Lịch Sử, thuộc Hội Đồng Cố Vấn Nghệ Thuật, Bộ Nghệ Thuật New South Wales. Từ năm 2005, kiêm nhiệm trách vụ thành viên của Uỷ Ban Sách Lược Phát Triển Nghệ Thuật Miền Tây Sydney, cũng thuộc Hội Đồng Cố Vấn Nghệ Thuật, Bộ Nghệ Thuật New South Wales”.

Có cả wiki tiếng anh nữa, tại đây.

Trí thức “nhớn” do bọn tư bổn giãy chết đào tạo cũng “mênh mông” không kém trí thức mậu dịch quốc doanh trong ảnh dưới:

Than ôi!

Đêm Chopin

Leave a comment

Bản ballade

Bồng bềnh trôi trong đêm

Như tấm thảm Ba Tư

*

Gió du dương

Sóng hồ thu mơn man

Bên kia ký ức có phải là thiên đường đã mất?

*

Mười ngón tay gieo bão

Thủy tạ chòng chành

Rượu bồ đào có vị sương cao nguyên

*

Đà Lạt ngày trở về

Em có còn chờ ta cuối dốc

Gậy Bích đào muôn tuổi xù xì

Lại trổ lộc non

Hoàng hạc ơi

Xuân thì ơi

*

Chỉ tại đêm và nhạc của Chopin

Ta lại đôi mươi như truyện thần tiên

*

Chỉ tại ai và một lời hứa

Em mãi không già

vĩnh viễn

trắng trong…

Hoàng Việt: “Dựa vào Mỹ hay TQ để bảo vệ tổ quốc?”

7 Comments

Hôm qua đọc sách, thấy câu Mao Trạch Đông nói thâm thúy như một triết gia: “Nguyên nhân bên ngoài là điều kiện thay đổi, nguyên nhân bên trong là căn cứ để thay đổi. Ở điều kiện nhiệt độ thích hợp trứng gà sẽ nở thành con gà, nhưng nhiệt độ không thể biến một cục đá thành con gà”.

Thật tình cờ, tác giả Hoàng Việt vừa gửi một comment là một bài viết, nói về “nguyên nhân bên ngoài”. Tôi xin đưa bài này vào một entry mới, cho xứng đáng với sự đầu tư của tác giả. Xin cảm ơn Hoàng Việt.

—————————————–

“Trước hết việc phải chọn (bất đắc dĩ) ai đô hộ hay bảo hộ đã được nêu lên tại diễn đàn này, diễn đàn khác, nhưng điều đáng chú ý đây chỉ là ý kiến cá nhân của ai đó, chưa bao giờ một chính khách dù thuộc khuynh hướng chính trị nào, dù phát biểu với tư cách cá nhân hay đại diện cho đảng hay nhóm chính trị mà mình đại diện dám nêu lên và sau đó khẳng định sẵn sàng chấp nhận sự đô hộ của nước này vì nước kia xấu hơn hoặc ngược lại. Lý do đơn giản là ai (cá nhân hay tổ chức) nói ra và chủ trương một chính sách như vậy là tự sát về chính trị. Về phương diện quốc gia, đó là sự xúc phạm tinh thần dân tộc, động lực lớn nhất của một đất nước, như cố BTQP Mỹ Manmara đã từng nhận định; và về phương diện quốc tế, điều này đi ngược lại những nguyên tắc phổ biến của luật pháp quốc tế và Hiến chương LHQ như độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và bình đẳng giữa các quốc gia trong quan hệ quốc tế mà tất cả các nước đều thừa nhận.

Chính vì lẽ đó, tôi sẽ không bàn đến việc chấp nhận đô hộ hay bảo hộ của nước nào, mà nêu vài ý kiến để trả lời câu hỏi liệu VN ta nên và có thể dựa vào Mỹ hay TQ để bảo vệ đất nước. Muốn thế cần phân tích: cơ sở bao trùm của việc hoạch định chính sách ngoại giao của một nước, Chính sách của Mỹ và TQ đối với VN, có nên dựa hoàng toàn vào Mỹ hay TQ không, đảng CSVN có đang dựa vào TQ để tồn tại không?

1- Tất cả các nước trên thế giới đều xác định chính sách đối ngoại dựa trên lợi ích của nước mình. Người ta nói: …không có bạn vĩnh viễn, cũng chẳng có kẻ thù vĩnh viễn mà chỉ có ích quốc gia, dân tộc là vĩnh viễn. Nói như vậy cũng có nghĩa là lợi ích quốc gia là cao nhất, là vĩnh viễn. Nó cao hơn các lợi ích khác, kể cả ý thức hệ. Nhìn vào bất cứ mối quan hệ quốc tế nào ta cũng thấy điều đó. Thật vậy, nếu bảo lợi ích ý thức hệ cao hơn thì sẽ không giải thích được vì sao trong thế chiến 2 Mỹ, Anh, Pháp lại liên minh với Liên Sô (ý thức hệ đối lập) để chống Đức, Ý, Nhật, những nước cùng ý thức hệ với họ; De Gaule đưa ra sáng kiến trung lập hóa Đông Dương khi Mỹ đưa chiến tranh ở VN lên cao nhất (tức là chống lại Mỹ); Pháp và một số nước đồng minh của Mỹ không ủng hộ Mỹ đánh Irac; chiến tranh kinh tế, thương mại giữa Mỹ và EU đã và sẽ luôn xảy ra và không kém phần ác liệt. Chúng ta đã từng chứng kiến Mỹ giúp nước này nước kia, phong trào này phong trào nọ hoàn toàn trái với những nguyên tắc dân chủ, tự do mà nước Mỹ luôn đề cao miễn là đạt được lợi ích của họ: Mỹ giúp độc tài Franco ở Tây Ban Nha, Pinochet ở Chi Lê độc tài Pinochet ở Chi lê, đám khủng bố Taliban, Bin Laden ở Afghanistan, quan hệ ngày càng rộng với Hanoi và còn muốn đi xa hơn nữa, trong khi chỉ đưa ra những tuyên bố cho xong chuyện về dân chủ nhân quyền đến nỗi ông Đào Hiếu phải chua chát thốt lên: “……cứ như là có thỏa thuận ngầm với nhau!”.

Về phía cộng sản, nếu ý thức hệ là cao nhất thì cũng không thể giải thích được tại sao Liên Sô và TQ (cùng ý thức hệ) lại choảng nhau ở biên giới 1969, TQ đi với Mỹ để chống đại bá Liên Sô (nên Mỹ mới chơi được con bài TQ những năm 70-80 của thế kỷ trước); Bắc Viet quyết định tiến hành chiến tranh ở Miền Nam khi khả năng tổng tuyển cử để thống nhất đất nước không còn, điều này trái với chính sách của cả Liên Sô va TQ lúc đó : Liên Sô đang theo đuổi chính sách hòa hoãn (détente), cùng trung sống hòa bình, thi đua hòa bình; TQ mới ra khỏi chiến tranh Triều Tiên được vài năm, lại đang rất khó khăn do thất bại của đại nhảy vọt nên cũng muốn có môi trường hòa bình để xây dựng đất nước. TQ va Lien Sô cực chẳng đã phải giúp VN để qua đó tranh giành nhau ngọn cờ lãnh đạo thế giới CS và những nước mới giành được độc lập. TQ không muốn VN đánh lớn và toàn thắng (Chu An Lai nói với Phạm Văn Đồng: chổi ngắn không quét được mạng nhện, Nam VN, Lao, CPC trung lập là có lợi trong khi CS VN vẫn đánh lớn, không chấp nhận một giải pháp chính trị thông qua một chính phủ liên hiệp với ông Duong Van Minh vào những ngày cuối của cuộc chiến do do Mỹ, Pháp, TQ vận động. TQ xâm lược VN 2-79; Tại LHQ, VN luôn bỏ phiếu theo số đông, không có lợi cho Bắc hàn. Lãnh đạo TQ nói với lãnh đạo VN: chúng ta là đồng chí chứ không phải đồng minh (có nghĩa là chúng ta cùng ý thức hệ nhưng không phải chuyện gì cũng bảo vệ nhau, đi với nhau).

Câu “chúng ta là đồng chí chứ không phải là đồng minh” nói lên thực chất quan hệ không chỉ VN-TQ. Nó gần đúng với quan hệ của các nước với nhau, không chỉ cho đến bây giờ mà cả về sau. Trong thời đại toàn cầu hóa, nước này có thể là đồng minh của nước kia mà không nhất thiết cùng chung ý thức hệ khi lợi ích quốc gia của họ song trùng trong một thời gian nhất định và trên những vẫn đề nhất định ( chẳng hạn VN , TQ… có thể coi là đồng minh của Mỹ trong vấn đề chống khủng bố quốc tế, chống ma túy, rửa tiền…., là đồng minh có điều kiện của Mỹ trong vấn đề hạt nhân Triều Tiên …..), nhưng cũng có thể là đối thủ của nhau nếu mâu thuẫn về lợi ích ( VN với TQ là đối thủ của nhau trong vấn đề Biển đông, Trường Sa, Hoàng Sa; VN và các nước ĐNA muốn Mỹ tăng cường sự có mặt, kể cả về quân sự trong khu vực trong khi TQ không muốn vì nhũng lý do dễ hiểu).

2- Đối với VN, cả Mỹ và TQ đều muốn thấy một VN tương đối mạnh và ổn định . Điểm khác nhau cơ bản là mỗi nước muốn VN thân thiện với mình để kiềm chế nước kia. VN tương đối mạnh (đừng mạnh đến mức có thể thách thức TQ), ổn định và thân thiện với TQ sẽ “êm” cho TQ ở biên giới phía nam nước này. Mỹ cũng như vậy còn chế độ chính trị ở VN thế nào , CS hay TB không quan trọng lắm, miễn là đạt được lợi ích của Mỹ. Tất nhiên nếu chế độ chính trị ở VN thay đổi mà không gây mất ổn định lớn và kéo dài thì càng tốt. Mỹ cho rằng VN sẽ phát triển và tiếp tục ổn định nên mới tăng cường quan hệ, viện trợ và đầu tư buôn bán với VN, mới cho VN vào WTO, APEC, không dùng Veto (ngược lại còn ủng hộ tương đối mạnh) để ngăn cản VN trở thành Ủy viên Hội đồng bảo an LHQ, đang lôi kéo VN cùng với Mỹ và nhiều nứoc khác tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của LHQ…

Lịch sử VN từ sau thế chiến 2 đến nay chứng minh khi nào VN độc lập về đường lối chính trị và ngoại giao, không lệ thuộc hẳn vào nước nào, không đi với cường quốc này chống lại cường quốc kia thi VN thành công và ngược lại. Chẳng thiếu gì thí dụ để chứng minh điều này. Sau chiến dịch Biên giới 1950, VN dựa vào TQ nên mới phạm sai lầm tai hại trong CCRĐ. Sau 1975 VN dựa vào Liên Sô trong khi mâu thuẫn Sô-Trung lên đến đỉnh cao nên mới dẫn đến chiến tranh biên giới Viet-Trung. Khi dựa vào một nước lớn, mọi chuyện sẽ tốt đẹp khi nước nhỏ cần cho nước lớn, khi nước nhỏ là một mắt xích quan trọng trong chiến lược của nước lớn; nhưng nếu vai trò ấy yếu đi hoặc không còn nữa, nước lớn sẵn sàng bỏ rơi nước nhỏ. Khi VNCH là tiền đồn để ngăn chặn “làn sóng đỏ ” lan xuống ĐNA theo thuyết Domino thì Mỹ đổ người đổ của vào, gọi TT Ngô Đinh Diệm là churchill của Châu A, nhưng khi Mỹ thấy ông Diệm không còn khả năng thực hiện những mục tiêu vì lợi ích của Mỹ, biết không thể thắng trong cuộc chiến VN, nếu tiếp tục nước Mỹ sẽ càng bị chia rẽ sâu sắc và sẽ chậm chân trong cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân cực kỳ tốn kém với Nga Sô, My rút quân, ép VNCH chấp nhận Hiep dinh Paris trong đó công nhận sự có mặt của quân đội Bắc Viet ở MN, rồi cắt giảm viện trợ dù biết rằng VNCH không thể đứng vững trước sự tấn công của Bắc Việt. Trước khi đưa quân vào CPC, lãnh đạo CSVN đã ký Hiệp ước tương trợ lẫn nhau với Nga Sô với hy vọng Nga Sô sẽ có phản ứng thích hợp nếu TQ tấn công VN, nhưng Nga Sô đã không phản ứng gì đặc biệt, để mặc VN phải tự đối phó khi chiến tranh biên giới 1979 nổ ra.

Dựa hẳn vào nước lớn nước nhỏ có nguy cơ bị mặc cả trên lưng mình. Chính quyền của Cựu hoàng Bảo Đại chẳng có tiếng nói gì tại hội nghị Genève, tất cả do Pháp quyết định. VNCH cũng vậy, tất cả đều được mặc cả và thỏa thuận giữa Mỹ và Bắc Việt, VNCH muốn chống lại cũng không được và buộc phải ký hiệp định dù biết rằng đó là giấy khai tử của chính mình. VN là nước nhỏ, kém phát triển, lợi ích của các cường quốc trong quan hệ với VN không nhiều; càng không nhiều nếu so sánh với lợi ích giữa các cường quốc với nhau. Giữa họ có biết bao vấn đề lớn có thể mặc cả, từ kinh tế, chính trị đến quân sự, chiến lược. Khi cần cường quốc có thể hy sinh lợi ích của những những nước nhỏ để đạt được lợi ích họ cần. MỸ đã bỏ rơi không thương tiếc VNCH ngoài những lý do đã nói ở trên, một phần nữa là trong chuyến thăm TQ cuối 1971, Mỹ đã nhận được tín hiệu là TQ sẽ không cản trở vai trò lãnh đạo thế giới của Mỹ, cắt giảm viện trợ cho Bắc Viet…..

3- Trước đây sức mạnh của một nước dựa vào quân đội. Nước nào có hải quân mạnh còn có thể đi xâm chiếm thuộc địa khắp năm châu (chính sách ngoại giao pháo thuyền). Từ khi xuất hiện vũ khí hạt nhân, các cường quốc có loại vũ khí này tránh đối đầu trực tiếp, chỉ dùng vũ khí hạt nhân để răn đe, tạo thế trong quan hệ, đồng thời ngăn cản các nước khác có vũ khí hạt nhân bằng các hiệp định cấm thử hạt nhân từ thấp đến cao khi các cường quốc hạt nhân đã thử chán chê rồi, và bằng các hiệp định cấm phổ biến vũ khí hạt nhân. Cái gọi là giải trừ quân bị hạt nhân toàn diện và triệt để chỉ là khẩu hiệu để tập hợp lực lượng vì các cường quốc hạt nhân chỉ cắt giảm những vũ khí đã lỗi thời, trong khi vẫn tiếp tục lao vào cuộc chạy đua để có vũ khí hiện đại hơn. Sự xuất hiện vũ khí hạt nhân làm cho chiến tranh thế giới không thể xảy ra, nhưng các cuộc chiến tranh cục bộ, nhỏ lẻ thì tăng lên, kể cả sau khi chiến tranh lạnh đã kết thúc.

Chiến tranh lạnh kết thúc và toàn cầu hóa đã làm thay đổi hoàn toàn quan niệm về an ninh. Theo nhiều nhà nghiên cứu và hoạch định chính sách, ngày nay để giữ hòa bình và an ninh cho một nước, người ta không chỉ dựa vào quân đội mà dựa vào 3 nhân tố: có một nền kinh tế mạnh; có quan hệ rộng rãi và ràng buộc lợi ích với nhiều nước; và có lực lượng vũ trang vừa đủ. Ba nhân tố này có quan hệ chặt chẽ với nhau trong đó nhân tố sức mạnh về kinh tế là quan trọng nhất và chi phối 2 nhân tố còn lại. Sức mạnh kinh tế không chỉ bảo vệ được an ninh quốc gia mà còn có khả năng mở rộng “biên giới mềm”, mở rộng được các mối quan hệ, gắn kết lợi ích với nhiều quốc gia kể cả các cường quốc để tạo ra hình thái nếu đe dọa nước này thì sẽ đe dọa lợi ích của nhiều nước khác, không chỉ về hòa binh, ổn định mà về cả kinh tế. Sức mạnh kinh tế cũng tạo điều kiện tăng cường khả năng quốc phòng để bảo vệ đất nước. Quan niệm mới về quốc phòng dẫn đến sự thay đổi khái niệm đồng minh chiến lược không như trong thời kỳ chiến tranh lạnh. Như trên đã phân tích, đồng minh sẽ hình thành cùng với sự gắn kết về lợi ích giữa các quốc gia và trên cơ sở những giá trị chung như hòa bình, độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, dân chủ, nhân quyền…. Kẻ xâm lược, khác với trước đây luôn được một phe ủng hộ và giúp đỡ để chống lại phe kia, thì nay sẽ bị cộng đồng quốc tế lên án, cô lập thậm chí trừng phạt cả trên phương diện song phương và đa phương ( LHQ và các tổ chức quốc tế). Những năm gần đây TQ, VN…. không công khai khăng khăng ủng hộ Triều Tiên (cùng CS), thậm chí còn bỏ phiếu cùng với tuyệt đại đa số các nước trong đó có Mỹ kêu gọi Triều Tiên ngồi vào đàm phán để giải quyết hòa bình vấn đề hạt nhân của nước này. Một lập trường như vậy rõ ràng gần với Mỹ hơn.

Chiến trannh lạnh kết thúc và toàn cầu hóa càng thúc đẩy các nước chạy đua kinh tế để tránh bị tụt hậu so với đối thủ. Giàu như nước Mỹ mà cũng xác định bất đắc dĩ lắm mới phải tiến hành chiến tranh nhưng hạn chế về không gian, thời gian, thiệt hại lớn về người và nhất là không để bị sa lầy để tránh bị suy yếu nhanh so với các đối thủ. TQ có tham vọng bá quyền từ ngàn xưa, nhưng hiện nay mục tiêu lớn nhất của TQ là tập trung nỗ lực để vươn lên thách thức vai trò siêu cường duy nhất của Mỹ trong vòng vài ba chục năm tới. Để thực hiện tham vọng này, TQ cần có môi trường trong nước và quốc tế thuận lợi. Tiến hành chiến tranh quy mô lớn TQ khó có thể thắng và sẽ bị cô lập lâu dài và nặng nề hơn cả khi xảy ra sự kiện Thiên An môn, và do đó ảnh hưởng đến việc thực hiện giấc mơ sớm trở thành siêu cường của TQ. Tất nhiên không loại trừ khả năng đụng độ vũ trang quy mô nhỏ trong thời gian ngắn, nhất là ở biển đông. Làm như vậy, dù sao hình ảnh của TQ càng xấu hơn với các nước trong và ngoài khu vực đang thực sự lo ngại sự trỗi dậy của TQ và muốn kiềm chế nước này.

4- Một số người cho rằng VN dựa vào TQ để cứu ĐCS. Câu hỏi đặt ra là: ĐCSVN có cần cứu không và TQ cứu ĐCSVN thế nào?

Sau hơn 20 năm đổi mới, tình hình VN đã thay đổi rất nhiều mà không ai có thể phủ nhận. Thu nhập từ gần 200 $ đầu người nay đã lên hơn 1. 100 $. Ngay những người quen chửi đổng, phủ nhận sạch trơn cũng phải gián tiếp thừa nhận: dân Việt đã có của ăn của để và đang mải miết làm giàu còn thời gian đâu mà nghĩ đến dân chủ. Câu này bao hàm 2 nhận xét: : sự phát triển nhanh của VN và sự yếu ớt của phong trào dân chủ trong nước. Bức xúc hiện nay của người dân là vấn đề tham nhũng, nếu không hạn chế được (chứ không thể xóa bỏ hoàn toàn, và không ở đâu có thể làm được như vậy) sẽ là nguy cơ tiềm ẩn đối với ổn định chính tri-xã hội ở VN. Có người bảo 80% dân VN đã chán ghét CS, chỗ này chỗ kia là tử huyệt của chế độ (sao mà lắm tử huyệt thế!); ấy thế mà cho đến nay không có một tờ báo có uy tín nào, một viện nghiên cứu , một định chế tài chính quốc tế, một học giả nổi tiếng, một chính khách nước ngoài nào đánh giá như vậy hay cho rằng VN đang hoặc sắp có khủng hoảng chính trị chứ chưa nói là sắp sụp đổ. Chẳng thế mà các nước đều mong muốn tăng cường quan hệ với VN. Người ta phò anh thịnh chứ ai phò anh suy! Rõ ràng VN mạnh hơn trước nhiều, nhất là so với thời kỳ khó khăn nhất cuối những năm 80, đầu những năm 90 của thế kỷ trước khi nền kinh tế đã xuống tận đáy và chịu tác động dữ dội của sự sụp đổ của Nga Sô và các nước CS đông Âu. Đất nước mạnh lên mà lại bảo đảng cầm quyền sắp đổ, cần nước ngoài cứu. Quả là đánh giá như vậy không ổn!

Thôi thì cứ giả thiết rằng ĐCSVN đang dựa vào TQ để được TQ cứu. Vậy TQ cứu ĐCSVN như thế nào ? Về chính trị có phải cái gì TQ cũng bảo vệ CSVN đâu. Tại Hội nghị UB nhân quyền TQ vẫn phê VN để cho khoảng cách giàu nghèo tăng nhanh đấy chứ. Về lãnh thổ, an ninh, TQ tăng cường hoạt động ở biển Đông, ăn miếng trả miếng đối với những tuyên bố và hành động của VN nhằm khẳng định và bảo vệ chủ quyền ở Hoàng Sa và Trường Sa, bắt bớ đánh đập ngư dân, ngăn cản các công ty nước ngoài hợp tác với VN khai thác dầu khí ở biển Đông ….Những hành động này không chỉ đe dọa an ninh, gây khó khăn cho VN và ĐCSVN mà còn gây nghi ngờ, chia rẽ người dân với ĐCS. Về kinh tế, hãy xem TQ đứng thứ mấy trong số các nước viện trợ cho VN trong khi nguồn viện trợ chủ yếu lại đến từ Nhật bản và Châu Âu. Đầu tư của TQ cũng không thể so sánh với các nước trung bình trong khu vực chứ chưa nói đến Nhật Bản, Đại Hàn, một số nước Châu Âu và Mỹ. Buôn bán giữa hai nước khá lớn nhưng đâu phải để giúp VN, trái lại còn gây khó khăn cho kinh tế và xuất khẩu của VN ….. Rõ ràng TQ không “cứu” ĐCSVN mà tất cả chỉ để phục vụ lợi ích của TQ. Những người CSVN quá hiểu những phiền toái mà TQ gây ra cho mình, phản ứng công khai hoặc âm thầm tăng cường lực lượng nhưng họ ít nói ra để giữ hòa khí nhằm tập trung nỗ lực xây dựng đất nước.

Lợi ích của VN là phải tranh thủ thời cơ để vươn lên càng nhanh càng tốt. Chỉ có tự VN mới làm được việc đó với sự giúp đỡ và hợp tác của cộng đồng quốc tế. Điều chớ trêu là trong sự nghiệp đó, TQ -người đồng chí cùng ý thức hệ- đã và sẽ không giúp được gì nhiều cho VN, thậm chí còn cản trở mà ngược lại những nước giúp nhiều hơn , trực tiếp hay gián tiếp thông qua viện trợ, đầu tư, buôn bán, đào tạo cán bộ, kinh nghiệm quản lý….; ủng hộ công khai hay không công khai VN bảo vệ chủ quyền lãnh thổ lại là Mỹ, Châu Âu và nhiều nước TB khác.”

Trung Quốc “dằn mặt” Mỹ

9 Comments

Đó là thông điệp nhà báo kỳ cựu Danh Đức mới đưa ra trong bài viết “Thái Bình Dương nổi sóng“. Từ vụ tàu Cheonan của Hàn Quốc bị bắn chìm, tôi luôn theo dõi các động thái quân sự tiếp theo của các bên với hy vọng tìm ra câu trả lời có tính thuyết phục “Ai đã bắn Cheonan và để làm gì?”.

Trước khi đọc bài của Danh Dức, các bạn có thể tham khảo trên BBC loại vũ khí gọi là Aircraft carrier killer. Tôi không tin và cũng không mong bất cứ cuộc xung đột nào ở bờ tây Thái Bình Dương sẽ xảy ra. Tuy vậy tôi tin người Việt Nam cần phải xác định đúng chiều gió nơi đây. Chúng ta hãy quan sát thật kỹ tấn tuồng đang diễn ra ở bán đảo Triều Tiên. Hình như họ đang hồ hởi giúp ngoại bang biến mình thành những quân cờ. Thật đáng buồn làm sao!

—————————————–

TT – Sáng thứ ba (29-6), nhật báo Anh ngữ China Daily của Trung quốc đột ngột loan tin quân đội Trung Quốc sẽ khởi sự tập trận bắn đạn thật trên biển Đông Trung Hoa (East China Sea) từ ngày 30-6.

Cũng theo báo này, quyết định trên mới được đưa ra hôm thứ năm tuần trước nhằm đáp trả việc hải quân Mỹ và Hàn Quốc tập trận trên biển Hoàng Hải. Cùng với loan báo “cấm cửa, bắn đạn thật” trên, China Daily cho biết Hàn Quốc đã loan báo hoãn tập trận sang tháng 7.

Nhìn vào bản đồ sẽ thấy khu vực “cấm cửa” nằm giữa Trung Quốc với Nhật Bản, trong khi biển Hoàng Hải nằm giữa Trung Quốc và Hàn Quốc, chếch lên một chút về phía bắc – Đồ họa: M.TÁNH

Với hai cuộc tập trận Mỹ – Hàn và riêng của Trung Quốc, phải chăng Mỹ và Trung Quốc đang chơi trò rượt nhau kiểu “Tom và Jerry”?

Có thể.

China Daily khi nhắc lại rằng tàu sân bay Mỹ USS Washington sẽ tham gia tập trận với Hàn Quốc, cũng đã nhấn mạnh: “Mọi tàu bè đều bị cấm vào khu vực tập trận từ ngày 30-6 đến 5-7, và phải tuân lệnh hải quân Trung Quốc để đảm bảo an toàn”. Có thể hiểu cảnh báo trên là hải quân Mỹ nên tránh xa, làm sao vào được Hoàng Hải để mà tập trận! Từ chỗ “hăm he” thiên hạ, Mỹ nay bị “dằn mặt”!

Trong “đánh đấm”, từ ngoài đường đến trong chiến tranh, dọa dứ từ cả tháng trước là điều tối kỵ, nhất là “vừa dọa vừa run”! Trung Quốc đã “im lặng” suốt, “phát thanh” hôm trước, hôm sau đã “cấm cửa”!

Thật ra đây cũng là “bản sắc” của hai bên. Một bên thì “nín lặng đề khí, bất ngờ tung chưởng”, một bên thì “công khai, tự do… ngôn luận”. Các viện nghiên cứu chiến lược Mỹ cứ đua nhau công bố các phân tích, đề xuất chính sách của mình. CFR (Hội đồng đối ngoại Hoa Kỳ) là một trong vố số các think tank (tập hợp chuyên gia đầu não) trong tháng 6 đã đăng vô vàn đề xuất chiến lược, chiến thuật về Triều Tiên, Trung Quốc, Afghanistan… Các tướng lĩnh cũng thế. Chủ tịch tham mưu liên quân Mỹ, đô đốc Mike Mullen ở một dạ tiệc tối 9-6 cũng đăng đàn diễn thuyết tuyên bố vung vít: “Trung Quốc là một thủ lĩnh đang lên trong khu vực. Liệu Trung Quốc và Mỹ có thể cùng nhau làm thủ lĩnh để thúc đẩy ổn định khu vực? Câu trả lời của Washington luôn là “có thể”, trong khi của Bắc Kinh thì nay là “có thể”, mai “không””.

Tất nhiên, các nhà phân tích trên đều có lý lẽ của họ, song trong thế giới “đánh đấm” thì đó chính là những dữ kiện giúp các chuyên viên phân tích tình báo “cân đong đo đếm” mà đánh giá, dự báo… Thật khác với Thế chiến thứ hai, ở đâu cũng treo bảng: “Coi chừng! Vách có tai!”! Hậu quả là lần này Mỹ mới chỉ đang “hù” đã dính ngay đòn “Tới luôn, bác tài!”.

Với việc cấm cửa khu vực tập trận trên Thái Bình Dương, trải dài từ Thượng Hải đến phía nam Nhật Bản, cũng có thể xem chính là sự đáp trả việc cựu thủ tướng Hatoyama hồi cuối tháng 5 vì an ninh quốc gia của Nhật đã phải gia hạn căn cứ Okinawa cho Mỹ.

Thật ra, báo chí (và tình báo) Nhật đâu có “ngây thơ” để bị bất ngờ. Tờ Asahi Shimbun (21-6) đã cảnh báo: “Một nguồn tin thân cận giới quân sự Trung Quốc cho biết một khi đặt các căn cứ Mỹ ở Nhật cùng các tàu sân bay của Mỹ trong tầm bắn của tên lửa Trung Quốc, hải quân Mỹ sẽ không tài nào léo hánh được đến bờ đông Thái Bình Dương, vô hiệu hóa hiệp ước an ninh Mỹ – Nhật”. Cuộc tập trận lần này của Trung Quốc cũng như vụ hai chiếc tàu ngầm cùng gần chục tàu chiến khác của Trung Quốc lượn gần đảo Okinawa hồi giữa tháng 5 là chuyện mà hải quân phòng vệ Nhật “thưởng thức như cơm bữa”…

DANH ĐỨC

Nghiên cứu lịch sử

Các bài nghiên cứu, biên khảo và dịch thuật các chủ đề về lịch sử

Le Minh Khai's SEAsian History Blog

Always rethinking the Southeast Asian past

trinhythu

Trịnh Y Thư WordPress.com site

trandangtuan.com

Men lá rượu ngô trong

4th Avenue Café

Free non-fiction translation

WordPress.com

WordPress.com is the best place for your personal blog or business site.

Trương Thái Du's Blog

Văn chương thiên cổ sự - Đắc thất thốn tâm tri...

No More Goat Soup

No goats were harmed in any way while making this blog. (We did kill all the sheep though)