Hôm qua đọc sách, thấy câu Mao Trạch Đông nói thâm thúy như một triết gia: “Nguyên nhân bên ngoài là điều kiện thay đổi, nguyên nhân bên trong là căn cứ để thay đổi. Ở điều kiện nhiệt độ thích hợp trứng gà sẽ nở thành con gà, nhưng nhiệt độ không thể biến một cục đá thành con gà”.

Thật tình cờ, tác giả Hoàng Việt vừa gửi một comment là một bài viết, nói về “nguyên nhân bên ngoài”. Tôi xin đưa bài này vào một entry mới, cho xứng đáng với sự đầu tư của tác giả. Xin cảm ơn Hoàng Việt.

—————————————–

“Trước hết việc phải chọn (bất đắc dĩ) ai đô hộ hay bảo hộ đã được nêu lên tại diễn đàn này, diễn đàn khác, nhưng điều đáng chú ý đây chỉ là ý kiến cá nhân của ai đó, chưa bao giờ một chính khách dù thuộc khuynh hướng chính trị nào, dù phát biểu với tư cách cá nhân hay đại diện cho đảng hay nhóm chính trị mà mình đại diện dám nêu lên và sau đó khẳng định sẵn sàng chấp nhận sự đô hộ của nước này vì nước kia xấu hơn hoặc ngược lại. Lý do đơn giản là ai (cá nhân hay tổ chức) nói ra và chủ trương một chính sách như vậy là tự sát về chính trị. Về phương diện quốc gia, đó là sự xúc phạm tinh thần dân tộc, động lực lớn nhất của một đất nước, như cố BTQP Mỹ Manmara đã từng nhận định; và về phương diện quốc tế, điều này đi ngược lại những nguyên tắc phổ biến của luật pháp quốc tế và Hiến chương LHQ như độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và bình đẳng giữa các quốc gia trong quan hệ quốc tế mà tất cả các nước đều thừa nhận.

Chính vì lẽ đó, tôi sẽ không bàn đến việc chấp nhận đô hộ hay bảo hộ của nước nào, mà nêu vài ý kiến để trả lời câu hỏi liệu VN ta nên và có thể dựa vào Mỹ hay TQ để bảo vệ đất nước. Muốn thế cần phân tích: cơ sở bao trùm của việc hoạch định chính sách ngoại giao của một nước, Chính sách của Mỹ và TQ đối với VN, có nên dựa hoàng toàn vào Mỹ hay TQ không, đảng CSVN có đang dựa vào TQ để tồn tại không?

1- Tất cả các nước trên thế giới đều xác định chính sách đối ngoại dựa trên lợi ích của nước mình. Người ta nói: …không có bạn vĩnh viễn, cũng chẳng có kẻ thù vĩnh viễn mà chỉ có ích quốc gia, dân tộc là vĩnh viễn. Nói như vậy cũng có nghĩa là lợi ích quốc gia là cao nhất, là vĩnh viễn. Nó cao hơn các lợi ích khác, kể cả ý thức hệ. Nhìn vào bất cứ mối quan hệ quốc tế nào ta cũng thấy điều đó. Thật vậy, nếu bảo lợi ích ý thức hệ cao hơn thì sẽ không giải thích được vì sao trong thế chiến 2 Mỹ, Anh, Pháp lại liên minh với Liên Sô (ý thức hệ đối lập) để chống Đức, Ý, Nhật, những nước cùng ý thức hệ với họ; De Gaule đưa ra sáng kiến trung lập hóa Đông Dương khi Mỹ đưa chiến tranh ở VN lên cao nhất (tức là chống lại Mỹ); Pháp và một số nước đồng minh của Mỹ không ủng hộ Mỹ đánh Irac; chiến tranh kinh tế, thương mại giữa Mỹ và EU đã và sẽ luôn xảy ra và không kém phần ác liệt. Chúng ta đã từng chứng kiến Mỹ giúp nước này nước kia, phong trào này phong trào nọ hoàn toàn trái với những nguyên tắc dân chủ, tự do mà nước Mỹ luôn đề cao miễn là đạt được lợi ích của họ: Mỹ giúp độc tài Franco ở Tây Ban Nha, Pinochet ở Chi Lê độc tài Pinochet ở Chi lê, đám khủng bố Taliban, Bin Laden ở Afghanistan, quan hệ ngày càng rộng với Hanoi và còn muốn đi xa hơn nữa, trong khi chỉ đưa ra những tuyên bố cho xong chuyện về dân chủ nhân quyền đến nỗi ông Đào Hiếu phải chua chát thốt lên: “……cứ như là có thỏa thuận ngầm với nhau!”.

Về phía cộng sản, nếu ý thức hệ là cao nhất thì cũng không thể giải thích được tại sao Liên Sô và TQ (cùng ý thức hệ) lại choảng nhau ở biên giới 1969, TQ đi với Mỹ để chống đại bá Liên Sô (nên Mỹ mới chơi được con bài TQ những năm 70-80 của thế kỷ trước); Bắc Viet quyết định tiến hành chiến tranh ở Miền Nam khi khả năng tổng tuyển cử để thống nhất đất nước không còn, điều này trái với chính sách của cả Liên Sô va TQ lúc đó : Liên Sô đang theo đuổi chính sách hòa hoãn (détente), cùng trung sống hòa bình, thi đua hòa bình; TQ mới ra khỏi chiến tranh Triều Tiên được vài năm, lại đang rất khó khăn do thất bại của đại nhảy vọt nên cũng muốn có môi trường hòa bình để xây dựng đất nước. TQ va Lien Sô cực chẳng đã phải giúp VN để qua đó tranh giành nhau ngọn cờ lãnh đạo thế giới CS và những nước mới giành được độc lập. TQ không muốn VN đánh lớn và toàn thắng (Chu An Lai nói với Phạm Văn Đồng: chổi ngắn không quét được mạng nhện, Nam VN, Lao, CPC trung lập là có lợi trong khi CS VN vẫn đánh lớn, không chấp nhận một giải pháp chính trị thông qua một chính phủ liên hiệp với ông Duong Van Minh vào những ngày cuối của cuộc chiến do do Mỹ, Pháp, TQ vận động. TQ xâm lược VN 2-79; Tại LHQ, VN luôn bỏ phiếu theo số đông, không có lợi cho Bắc hàn. Lãnh đạo TQ nói với lãnh đạo VN: chúng ta là đồng chí chứ không phải đồng minh (có nghĩa là chúng ta cùng ý thức hệ nhưng không phải chuyện gì cũng bảo vệ nhau, đi với nhau).

Câu “chúng ta là đồng chí chứ không phải là đồng minh” nói lên thực chất quan hệ không chỉ VN-TQ. Nó gần đúng với quan hệ của các nước với nhau, không chỉ cho đến bây giờ mà cả về sau. Trong thời đại toàn cầu hóa, nước này có thể là đồng minh của nước kia mà không nhất thiết cùng chung ý thức hệ khi lợi ích quốc gia của họ song trùng trong một thời gian nhất định và trên những vẫn đề nhất định ( chẳng hạn VN , TQ… có thể coi là đồng minh của Mỹ trong vấn đề chống khủng bố quốc tế, chống ma túy, rửa tiền…., là đồng minh có điều kiện của Mỹ trong vấn đề hạt nhân Triều Tiên …..), nhưng cũng có thể là đối thủ của nhau nếu mâu thuẫn về lợi ích ( VN với TQ là đối thủ của nhau trong vấn đề Biển đông, Trường Sa, Hoàng Sa; VN và các nước ĐNA muốn Mỹ tăng cường sự có mặt, kể cả về quân sự trong khu vực trong khi TQ không muốn vì nhũng lý do dễ hiểu).

2- Đối với VN, cả Mỹ và TQ đều muốn thấy một VN tương đối mạnh và ổn định . Điểm khác nhau cơ bản là mỗi nước muốn VN thân thiện với mình để kiềm chế nước kia. VN tương đối mạnh (đừng mạnh đến mức có thể thách thức TQ), ổn định và thân thiện với TQ sẽ “êm” cho TQ ở biên giới phía nam nước này. Mỹ cũng như vậy còn chế độ chính trị ở VN thế nào , CS hay TB không quan trọng lắm, miễn là đạt được lợi ích của Mỹ. Tất nhiên nếu chế độ chính trị ở VN thay đổi mà không gây mất ổn định lớn và kéo dài thì càng tốt. Mỹ cho rằng VN sẽ phát triển và tiếp tục ổn định nên mới tăng cường quan hệ, viện trợ và đầu tư buôn bán với VN, mới cho VN vào WTO, APEC, không dùng Veto (ngược lại còn ủng hộ tương đối mạnh) để ngăn cản VN trở thành Ủy viên Hội đồng bảo an LHQ, đang lôi kéo VN cùng với Mỹ và nhiều nứoc khác tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của LHQ…

Lịch sử VN từ sau thế chiến 2 đến nay chứng minh khi nào VN độc lập về đường lối chính trị và ngoại giao, không lệ thuộc hẳn vào nước nào, không đi với cường quốc này chống lại cường quốc kia thi VN thành công và ngược lại. Chẳng thiếu gì thí dụ để chứng minh điều này. Sau chiến dịch Biên giới 1950, VN dựa vào TQ nên mới phạm sai lầm tai hại trong CCRĐ. Sau 1975 VN dựa vào Liên Sô trong khi mâu thuẫn Sô-Trung lên đến đỉnh cao nên mới dẫn đến chiến tranh biên giới Viet-Trung. Khi dựa vào một nước lớn, mọi chuyện sẽ tốt đẹp khi nước nhỏ cần cho nước lớn, khi nước nhỏ là một mắt xích quan trọng trong chiến lược của nước lớn; nhưng nếu vai trò ấy yếu đi hoặc không còn nữa, nước lớn sẵn sàng bỏ rơi nước nhỏ. Khi VNCH là tiền đồn để ngăn chặn “làn sóng đỏ ” lan xuống ĐNA theo thuyết Domino thì Mỹ đổ người đổ của vào, gọi TT Ngô Đinh Diệm là churchill của Châu A, nhưng khi Mỹ thấy ông Diệm không còn khả năng thực hiện những mục tiêu vì lợi ích của Mỹ, biết không thể thắng trong cuộc chiến VN, nếu tiếp tục nước Mỹ sẽ càng bị chia rẽ sâu sắc và sẽ chậm chân trong cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân cực kỳ tốn kém với Nga Sô, My rút quân, ép VNCH chấp nhận Hiep dinh Paris trong đó công nhận sự có mặt của quân đội Bắc Viet ở MN, rồi cắt giảm viện trợ dù biết rằng VNCH không thể đứng vững trước sự tấn công của Bắc Việt. Trước khi đưa quân vào CPC, lãnh đạo CSVN đã ký Hiệp ước tương trợ lẫn nhau với Nga Sô với hy vọng Nga Sô sẽ có phản ứng thích hợp nếu TQ tấn công VN, nhưng Nga Sô đã không phản ứng gì đặc biệt, để mặc VN phải tự đối phó khi chiến tranh biên giới 1979 nổ ra.

Dựa hẳn vào nước lớn nước nhỏ có nguy cơ bị mặc cả trên lưng mình. Chính quyền của Cựu hoàng Bảo Đại chẳng có tiếng nói gì tại hội nghị Genève, tất cả do Pháp quyết định. VNCH cũng vậy, tất cả đều được mặc cả và thỏa thuận giữa Mỹ và Bắc Việt, VNCH muốn chống lại cũng không được và buộc phải ký hiệp định dù biết rằng đó là giấy khai tử của chính mình. VN là nước nhỏ, kém phát triển, lợi ích của các cường quốc trong quan hệ với VN không nhiều; càng không nhiều nếu so sánh với lợi ích giữa các cường quốc với nhau. Giữa họ có biết bao vấn đề lớn có thể mặc cả, từ kinh tế, chính trị đến quân sự, chiến lược. Khi cần cường quốc có thể hy sinh lợi ích của những những nước nhỏ để đạt được lợi ích họ cần. MỸ đã bỏ rơi không thương tiếc VNCH ngoài những lý do đã nói ở trên, một phần nữa là trong chuyến thăm TQ cuối 1971, Mỹ đã nhận được tín hiệu là TQ sẽ không cản trở vai trò lãnh đạo thế giới của Mỹ, cắt giảm viện trợ cho Bắc Viet…..

3- Trước đây sức mạnh của một nước dựa vào quân đội. Nước nào có hải quân mạnh còn có thể đi xâm chiếm thuộc địa khắp năm châu (chính sách ngoại giao pháo thuyền). Từ khi xuất hiện vũ khí hạt nhân, các cường quốc có loại vũ khí này tránh đối đầu trực tiếp, chỉ dùng vũ khí hạt nhân để răn đe, tạo thế trong quan hệ, đồng thời ngăn cản các nước khác có vũ khí hạt nhân bằng các hiệp định cấm thử hạt nhân từ thấp đến cao khi các cường quốc hạt nhân đã thử chán chê rồi, và bằng các hiệp định cấm phổ biến vũ khí hạt nhân. Cái gọi là giải trừ quân bị hạt nhân toàn diện và triệt để chỉ là khẩu hiệu để tập hợp lực lượng vì các cường quốc hạt nhân chỉ cắt giảm những vũ khí đã lỗi thời, trong khi vẫn tiếp tục lao vào cuộc chạy đua để có vũ khí hiện đại hơn. Sự xuất hiện vũ khí hạt nhân làm cho chiến tranh thế giới không thể xảy ra, nhưng các cuộc chiến tranh cục bộ, nhỏ lẻ thì tăng lên, kể cả sau khi chiến tranh lạnh đã kết thúc.

Chiến tranh lạnh kết thúc và toàn cầu hóa đã làm thay đổi hoàn toàn quan niệm về an ninh. Theo nhiều nhà nghiên cứu và hoạch định chính sách, ngày nay để giữ hòa bình và an ninh cho một nước, người ta không chỉ dựa vào quân đội mà dựa vào 3 nhân tố: có một nền kinh tế mạnh; có quan hệ rộng rãi và ràng buộc lợi ích với nhiều nước; và có lực lượng vũ trang vừa đủ. Ba nhân tố này có quan hệ chặt chẽ với nhau trong đó nhân tố sức mạnh về kinh tế là quan trọng nhất và chi phối 2 nhân tố còn lại. Sức mạnh kinh tế không chỉ bảo vệ được an ninh quốc gia mà còn có khả năng mở rộng “biên giới mềm”, mở rộng được các mối quan hệ, gắn kết lợi ích với nhiều quốc gia kể cả các cường quốc để tạo ra hình thái nếu đe dọa nước này thì sẽ đe dọa lợi ích của nhiều nước khác, không chỉ về hòa binh, ổn định mà về cả kinh tế. Sức mạnh kinh tế cũng tạo điều kiện tăng cường khả năng quốc phòng để bảo vệ đất nước. Quan niệm mới về quốc phòng dẫn đến sự thay đổi khái niệm đồng minh chiến lược không như trong thời kỳ chiến tranh lạnh. Như trên đã phân tích, đồng minh sẽ hình thành cùng với sự gắn kết về lợi ích giữa các quốc gia và trên cơ sở những giá trị chung như hòa bình, độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, dân chủ, nhân quyền…. Kẻ xâm lược, khác với trước đây luôn được một phe ủng hộ và giúp đỡ để chống lại phe kia, thì nay sẽ bị cộng đồng quốc tế lên án, cô lập thậm chí trừng phạt cả trên phương diện song phương và đa phương ( LHQ và các tổ chức quốc tế). Những năm gần đây TQ, VN…. không công khai khăng khăng ủng hộ Triều Tiên (cùng CS), thậm chí còn bỏ phiếu cùng với tuyệt đại đa số các nước trong đó có Mỹ kêu gọi Triều Tiên ngồi vào đàm phán để giải quyết hòa bình vấn đề hạt nhân của nước này. Một lập trường như vậy rõ ràng gần với Mỹ hơn.

Chiến trannh lạnh kết thúc và toàn cầu hóa càng thúc đẩy các nước chạy đua kinh tế để tránh bị tụt hậu so với đối thủ. Giàu như nước Mỹ mà cũng xác định bất đắc dĩ lắm mới phải tiến hành chiến tranh nhưng hạn chế về không gian, thời gian, thiệt hại lớn về người và nhất là không để bị sa lầy để tránh bị suy yếu nhanh so với các đối thủ. TQ có tham vọng bá quyền từ ngàn xưa, nhưng hiện nay mục tiêu lớn nhất của TQ là tập trung nỗ lực để vươn lên thách thức vai trò siêu cường duy nhất của Mỹ trong vòng vài ba chục năm tới. Để thực hiện tham vọng này, TQ cần có môi trường trong nước và quốc tế thuận lợi. Tiến hành chiến tranh quy mô lớn TQ khó có thể thắng và sẽ bị cô lập lâu dài và nặng nề hơn cả khi xảy ra sự kiện Thiên An môn, và do đó ảnh hưởng đến việc thực hiện giấc mơ sớm trở thành siêu cường của TQ. Tất nhiên không loại trừ khả năng đụng độ vũ trang quy mô nhỏ trong thời gian ngắn, nhất là ở biển đông. Làm như vậy, dù sao hình ảnh của TQ càng xấu hơn với các nước trong và ngoài khu vực đang thực sự lo ngại sự trỗi dậy của TQ và muốn kiềm chế nước này.

4- Một số người cho rằng VN dựa vào TQ để cứu ĐCS. Câu hỏi đặt ra là: ĐCSVN có cần cứu không và TQ cứu ĐCSVN thế nào?

Sau hơn 20 năm đổi mới, tình hình VN đã thay đổi rất nhiều mà không ai có thể phủ nhận. Thu nhập từ gần 200 $ đầu người nay đã lên hơn 1. 100 $. Ngay những người quen chửi đổng, phủ nhận sạch trơn cũng phải gián tiếp thừa nhận: dân Việt đã có của ăn của để và đang mải miết làm giàu còn thời gian đâu mà nghĩ đến dân chủ. Câu này bao hàm 2 nhận xét: : sự phát triển nhanh của VN và sự yếu ớt của phong trào dân chủ trong nước. Bức xúc hiện nay của người dân là vấn đề tham nhũng, nếu không hạn chế được (chứ không thể xóa bỏ hoàn toàn, và không ở đâu có thể làm được như vậy) sẽ là nguy cơ tiềm ẩn đối với ổn định chính tri-xã hội ở VN. Có người bảo 80% dân VN đã chán ghét CS, chỗ này chỗ kia là tử huyệt của chế độ (sao mà lắm tử huyệt thế!); ấy thế mà cho đến nay không có một tờ báo có uy tín nào, một viện nghiên cứu , một định chế tài chính quốc tế, một học giả nổi tiếng, một chính khách nước ngoài nào đánh giá như vậy hay cho rằng VN đang hoặc sắp có khủng hoảng chính trị chứ chưa nói là sắp sụp đổ. Chẳng thế mà các nước đều mong muốn tăng cường quan hệ với VN. Người ta phò anh thịnh chứ ai phò anh suy! Rõ ràng VN mạnh hơn trước nhiều, nhất là so với thời kỳ khó khăn nhất cuối những năm 80, đầu những năm 90 của thế kỷ trước khi nền kinh tế đã xuống tận đáy và chịu tác động dữ dội của sự sụp đổ của Nga Sô và các nước CS đông Âu. Đất nước mạnh lên mà lại bảo đảng cầm quyền sắp đổ, cần nước ngoài cứu. Quả là đánh giá như vậy không ổn!

Thôi thì cứ giả thiết rằng ĐCSVN đang dựa vào TQ để được TQ cứu. Vậy TQ cứu ĐCSVN như thế nào ? Về chính trị có phải cái gì TQ cũng bảo vệ CSVN đâu. Tại Hội nghị UB nhân quyền TQ vẫn phê VN để cho khoảng cách giàu nghèo tăng nhanh đấy chứ. Về lãnh thổ, an ninh, TQ tăng cường hoạt động ở biển Đông, ăn miếng trả miếng đối với những tuyên bố và hành động của VN nhằm khẳng định và bảo vệ chủ quyền ở Hoàng Sa và Trường Sa, bắt bớ đánh đập ngư dân, ngăn cản các công ty nước ngoài hợp tác với VN khai thác dầu khí ở biển Đông ….Những hành động này không chỉ đe dọa an ninh, gây khó khăn cho VN và ĐCSVN mà còn gây nghi ngờ, chia rẽ người dân với ĐCS. Về kinh tế, hãy xem TQ đứng thứ mấy trong số các nước viện trợ cho VN trong khi nguồn viện trợ chủ yếu lại đến từ Nhật bản và Châu Âu. Đầu tư của TQ cũng không thể so sánh với các nước trung bình trong khu vực chứ chưa nói đến Nhật Bản, Đại Hàn, một số nước Châu Âu và Mỹ. Buôn bán giữa hai nước khá lớn nhưng đâu phải để giúp VN, trái lại còn gây khó khăn cho kinh tế và xuất khẩu của VN ….. Rõ ràng TQ không “cứu” ĐCSVN mà tất cả chỉ để phục vụ lợi ích của TQ. Những người CSVN quá hiểu những phiền toái mà TQ gây ra cho mình, phản ứng công khai hoặc âm thầm tăng cường lực lượng nhưng họ ít nói ra để giữ hòa khí nhằm tập trung nỗ lực xây dựng đất nước.

Lợi ích của VN là phải tranh thủ thời cơ để vươn lên càng nhanh càng tốt. Chỉ có tự VN mới làm được việc đó với sự giúp đỡ và hợp tác của cộng đồng quốc tế. Điều chớ trêu là trong sự nghiệp đó, TQ -người đồng chí cùng ý thức hệ- đã và sẽ không giúp được gì nhiều cho VN, thậm chí còn cản trở mà ngược lại những nước giúp nhiều hơn , trực tiếp hay gián tiếp thông qua viện trợ, đầu tư, buôn bán, đào tạo cán bộ, kinh nghiệm quản lý….; ủng hộ công khai hay không công khai VN bảo vệ chủ quyền lãnh thổ lại là Mỹ, Châu Âu và nhiều nước TB khác.”