Tạp chí Nhân quyền Việt Nam tháng 6.2010 có bài viết rất đáng quan tâm của tướng Nguyễn Văn Hưởng nhan đề: “Hãy hiểu đúng về vấn đề nhân quyền Việt Nam”. Tướng Hưởng khẳng định nhân quyền phương Tây là cái mà nhiều thể chế dân chủ đa đảng trên thế giới muốn áp đặt tại Việt Nam. Ông viết: “Chính vì vậy, những lý thuyết về nhân quyền, dân chủ theo kiểu phương Tây đã vấp phải sự phản ứng mạnh mẽ của những quốc gia không đồng quan điểm, trong đó có Việt Nam. Các quốc gia này không thể chấp nhận một thứ “dân chủ, nhân quyền” mà nếu đi theo đó, thì đồng nghĩa với tự đánh mất mình, làm thay đổi cả một nền văn hóa của một (hoặc nhiều) dân tộc, và dẫn đến đảo lộn trật tự xã hội, trật tự trong mỗi gia đình”.

Hàng thế kỷ trước văn hào Rudyard Kipling đã viết: “Oh, East is East, and West is West, and never the twain shall meet – Đông là Đông và Tây là Tây, chẳng bao giờ cả hai gặp gỡ”. Đến nay, còn rất ít người tin vào điều đó. Tuy nhiên việc đồng hóa Đông – Tây là một trong những nhãn quan của các chính trị gia phương Tây hiện đại, ít nhất trong vấn đề dân chủ – nhân quyền. Nó hoàn toàn không tưởng về mặt lịch sử, khoa học cũng như xã hội.

1. Về mặt lịch sử:

Nền văn minh Á Đông mà đất nước Việt Nam từng thuộc về đã tồn tại không hề gián đoạn ít nhất là hơn ba ngàn năm nay (thời điểm chữ viết tượng hình hoàn thiện và không thay đổi nhiều cho đến hôm nay), nếu không muốn nói là năm ngàn năm. So với văn minh Hy – La tiền thân của văn minh phương Tây, cấu trúc của Á Đông phải nói là có thời gian thử thách và bền bỉ hơn rất nhiều, nó phát triển theo kiểu xoáy trôn ốc cực kỳ chặt chẽ. Văn minh Trung Hoa, hạt nhân của văn minh Á Đông từng khiến Voltaire ngạc nhiên: “Chúng ta nhận thấy rằng quốc gia ấy tồn tại một cách rực rỡ từ trên bốn ngàn năm rồi mà luật pháp, phong tục, ngôn ngữ, cách ăn mặc vẫn không thay đổi bao nhiêu…[1]”. Văn minh phương Tây hiện đại có thể tính tuổi từ thời Phục hưng cách nay vài trăm năm, là thành quả của sáng tạo phủ định (creative destruction). Đầu tàu văn minh phương Tây hôm nay là nước Mỹ. Sáng tạo phủ định giúp cho xứ sở ấy nhanh chóng vượt lên phía trước về mặt vật chất, nhưng khiến nó trở thành một đứa trẻ choai không có dân tộc tính, các bài học lịch sử nghèo nàn song lại thích võ đoán và áp đặt.

Hai nền văn minh đang đề cặp có những cách khác nhau để tiếp cận tương lai.

2. Các khảo sát khoa học:

Từ năm 2005, tôi đã để ý đến kết quả nghiên cứu do các nhà khoa học của đại học Michigan thực hiện, về cách nhận thức thế giới khác nhau của người Á Đông và người phương Tây[2]. Họ kết luận: “Người Á Đông sống trong mạng lưới quan hệ xã hội phức tạp với những giềng mối định vị bắt buộc. Do đó tập trung vào bối cảnh tổng thể là quan trọng để thực hiện chức năng có hiệu quả. Ngược lại, người phương Tây sống trong một xã hội ít áp lực tác động đến sự độc lập cá nhân, điều đó cho phép họ giảm thiểu sự chú ý đến bối cảnh”. Và: “Con người từ những nền văn hóa khác nhau xác định điều họ quan tâm khác nhau, dù họ có chia sẻ với nhau cùng một không gian sống. Kết quả là chúng ta nhìn thế giới với những diện mạo khác nhau, bằng những cách khác nhau”.

Cũng tại Michigan, trong một thí nghiệm khác, giáo sư Richard Nisbet GIÚP NGƯỜI TA RÚT RA kết luận NHƯ SAU: “Tư duy của phương Tây là tư duy kiểu trắng đen phân biệt rõ rệt, không có vùng đất xám. Có thể nói tư duy kiểu này là tư duy đơn giản một chiều, khá cứng nhắc và có thể dẫn đến những hành động cực đoan, vì nó không tìm cách dung hòa sự bất đồng, không tìm con đường trung dung giữa hai phía để đi. Nó sẽ khăng khăng cho rằng trách nhiệm thuộc về một phía và phía này phải sửa đổi hành vi để cải thiện tình hình. Chính vì trong thực tế cuộc sống không có nhiều tình huống “giấy trắng mực đen rõ ràng” như vậy nên tư duy theo kiểu này không giúp làm cho xung đột khá hơn mà làm cho nó tồi tệ đi, và khi mức chịu đựng giữa hai phía chạm đến giới hạn cuối cùng, bạo động sẽ phát sinh[3]”.

3. Quan sát xã hội:

Để bớt chữ nghĩa, phần này tôi xin dẫn vài tác phẩm tiêu biểu của họa sĩ Trung Quốc Lưu Dương (Yang Liu) trong cuộc triển lãm “Phương Đông gặp gỡ phương Tây” tại Berlin năm 2007[4]. Màu xanh thể hiện phương Tây, màu đỏ thuộc về phương Đông:

Ý kiến

Phương thức sinh hoạt

Tự ngã (cái tôi)

Trẻ em

Người già

Quan hệ xã hội

Phẫn nộ

Ăn tiệc

Xử lý vấn đề

Tôi thích nhất bức poster “xử lý vấn đề”. Nó cho thấy tư duy sáng tạo phủ định thuộc về phương Tây. Ngược lại, người phương Đông đi vòng và vượt qua vấn đề. Ở Việt Nam có câu “sống chung với lũ” rất thông minh và hóm hỉnh.

***

Với tất cả những dẫn chứng điển hình như trên, tôi nghĩ ở Việt Nam nói riêng, Á Đông nói chung, tồn tại giá trị nhân quyền của riêng mình, tương đương với phương Tây, tạm gọi là quần quyền. Tỉ dụ: trước khi văn minh phương Tây quảng bá những điều tốt đẹp của mình ở mảnh đất này, với người phương Đông ngày giỗ luôn quan trọng hơn sinh nhật. Ngày giỗ không hoàn toàn dành cho người đã khuất và tiên tổ. Nó củng cố mối quan hệ của những người đang sống. Nếu sinh nhật như là hành vi cổ xúy nhân quyền thì giỗ kỵ chính là sự tôn vinh quần quyền.

Quay trở lại bài viết của tướng Hưởng, tôi thấy ông có lý khi (tôi) đặt đoạn văn này: “Nếu như hơn 30 năm trước đây, đại bộ phận người dân Việt Nam chỉ nghĩ đến có cái ăn để mà sống và ước mơ “ăn no mặc lành” thì bây giờ khái niệm “ăn ngon mặc đẹp” đã trở thành phổ biến ở Việt Nam”; bên cạnh phân tích của Bill Hayton: “Đầu tư và tài trợ quốc tế không mang lại dân chủ và đa đảng cho Việt Nam; ngược lại, nó giúp cho hệ thống cai trị độc đảng trở nên hiệu quả và hiệu lực hơn. Đó là cách mà Đảng muốn. Cuộc sống trở nên tốt đẹp hơn đối với đa số người dân Việt Nam, và chừng nào xu thế này còn tiếp tục, chừng đó mọi việc vẫn sẽ như bây giờ[5]”.

Mọi việc vẫn sẽ như bây giờ? Bill Hayton một lần nữa chứng minh tư duy nhị nguyên điển hình của người phương Tây. Ở phương Đông, chúng ta luôn nhìn thấy động trong tĩnh và ngược lại. Tôi không nghi ngờ vào quá trình chuyển hóa không ngừng nghỉ của xã hội Việt Nam. Tôi tin bất cứ ai thích thú với cách xử lý vấn đề “sáng tạo phủ định” made in USA sẽ luôn nhận về sự thất vọng mà thôi.

Ở Việt Nam nói riêng và Á Đông nói chung nhân quần quyền là như vậy. Lịch sử đã chứng minh cách mạng chỉ có thể đi vòng qua chướng ngại, vượt lên chướng ngại mà không nên hủy phá. Nếu muốn hủy phá thì trước tiên phải phá tan nền văn hóa cố kết bởi năm mươi thế kỷ. Đó lại là một câu chuyện khác, có lẽ tôi sẽ đề cặp ở một bài viết khác.

Bài viết chào đón chuyến thăm Việt Nam của ngoại trưởng Mỹ,

Hillary Clinton, tháng 7.2010.


[1] Will Durant, Lịch sử văn minh Trung Hoa, trang 20, Nguyễn Hiến Lê dịch, dẫn từ quyển Khảo luận về phong tục của Voltaire.

[2] http://news.bbc.co.uk/2/hi/health/4173956.stm

[3] Dẫn theo: http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=101&CategoryID=37&News=2547

[4] http://yangliudesign.blogspot.com/2007/07/ost-trifft-west-east-meets-west.htmlhttp://www.gabyu.com/2007/09/07/comparaison-allemagne-chine/

[5] http://www.talawas.org/?p=22561