Tàu hải giám Trung Quốc vi phạm lãnh hải Việt Nam

6 Comments

Thiết bị của tàu địa chấn Bình Minh 02 bị ba tàu hải giám Trung Quốc phá hoại. (Nguồn: Internet)
 
Ngày 27/5, trong cuộc trả lời phỏng vấn báo chí tại Hà Nội, Phó Tổng Giám đốc Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (PVN) Đỗ Văn Hậu đã thông báo việc sáng 26/5, các tàu hải giám Trung Quốc đã vi phạm lãnh hải thuộc chủ quyền của Việt Nam, gây thiệt hại lớn về kinh tế và cản trở hoạt động của PVN.

Thực hiện kế hoạch PVN đã phê duyệt chương trình thăm dò khai thác dầu khí năm 2011, Tổng công ty cổ phần Dịch vụ Kỹ thuật Dầu khí, một thành viên của PVN, đã cử tàu địa chấn Bình Minh 02 triển khai khảo sát địa chấn tại khu vực lô 125, 126, 148, 149 ở thềm lục địa miền Trung của Việt Nam.

Cả 4 lô này đều nằm hoàn toàn trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam. Tàu địa chấn Bình Minh 02 đã khảo sát hai đợt tại đây, đợt 1 vào năm 2010 và đợt 2 bắt đầu từ ngày 17/3/2011. Quá trình khảo sát những ngày vừa qua được tiến hành trôi chảy và tàu Bình Minh đã thực hiện tốt nhiệm vụ của mình.

Tuy nhiên, vào lúc 5 giờ 5 phút ngày 26/5, rađa tàu địa chấn Bình Minh 02 đã phát hiện có tàu lạ đang chuyển động rất nhanh về phía khu vực khảo sát và sau đó 5 phút thì phát hiện tiếp 2 tàu nữa đi từ phía ngoài vào. Đó là ba tàu hải giám của Trung Quốc chạy thẳng vào khu vực khảo sát mà không có cảnh báo.

Trên cơ sở tốc độ di chuyển của tàu hải giám Trung Quốc, tàu Bình Minh thấy có khả năng sẽ ảnh hưởng đến thiết bị của tàu nên đã quyết định hạ thấp thiết bị để tránh thiệt hại.

Vào lúc 5 giờ 58 phút, tàu hải giám Trung Quốc đã chủ động chạy qua khu vực thả dây cáp, cắt cáp thăm dò của tàu Bình Minh 02. Vị trí mà ba tàu hải giám Trung Quốc phá hoại thiết bị của tàu Bình Minh 02 của PVN, chỉ cách mũi Đại Lãnh (Phú Yên) khoảng 120 hải lý, nằm hoàn toàn trong vùng lãnh hải thuộc chủ quyền của Việt Nam.

Phó Tổng Giám đốc PVN cho biết thêm ba tàu Hải giám Trung Quốc đã làm ảnh hưởng, cản trở hoạt động bình thường của tàu địa chấn Bình Minh 02; sau đó tiếp tục uy hiếp tàu Bình Minh 02, thông báo là tàu Bình Minh đã vi phạm chủ quyền của Trung Quốc.

Nhưng tàu Bình Minh của PVN cương quyết bác bỏ luận điệu của tàu hải giám Trung Quốc và khẳng định rằng tàu Bình Minh đang nằm trong vùng lãnh hải thuộc chủ quyền của Việt Nam.

Tuy nhiên, việc tiếp tục công việc ngay lúc đó của tàu Bình Minh 02 vẫn bị ba tàu Hải giám Trung Quốc cản trở cho tới 9 giờ sáng 26/5 khi 3 tàu này rời khỏi khu vực khảo sát.

Tàu Bình Minh 02 và các tàu bảo vệ đã phải dừng công việc trong ngày 26/5 và thu lại các thiết bị bị hỏng để sửa chữa.

Dưới sự chỉ đạo của PVN và Tổng công ty Dịch vụ Kỹ thuật Dầu khí, tàu Bình Minh 02 đã sửa chữa thiết bị tại chỗ và tới 6 giờ sáng 27/5, tàu Bình Minh 02 đã trở lại hoạt động.

Phó Tổng Giám đốc PVN khẳng định việc các tàu hải giám Trung Quốc vào rất sâu trong lãnh hải của Việt Nam để phá hoại, cản trở các hoạt động thăm dò khảo sát bình thường của PVN là một hành động hết sức ngang ngược, vi phạm trắng trợn đối với quyền chủ quyền của Việt Nam, gây thiệt hại lớn về kinh tế và cản trở hoạt động của PVN.

PVN đã báo cáo và đề nghị Chính phủ, các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam có các biện pháp phản đối mạnh mẽ nhất có thể đối với phía Trung Quốc; yêu cầu phía Trung Quốc dừng ngay các hành động cản trở hoạt động của PVN, đồng thời hỗ trợ PVN thực hiện nhiệm vụ thăm dò, khai thác của mình.

PVN khẳng định các công việc khảo sát địa chấn ở khu vực này sẽ được tiến hành bình thường vì đây là khu vực thuộc chủ quyền của Việt Nam. PVN sẽ phối hợp chặt chẽ với các cơ quan liên quan để bảo đảm cho hoạt động của tàu Bình Minh 02 được hiệu quả, an toàn.

Tàu địa chấn Bình Minh 02 được PVN đầu tư trang bị từ năm 2008 và đã tiến hành các đợt khảo sát trên vùng thềm lục địa thuộc chủ quyền của Việt Nam./.

(TTXVN/Vietnam+)

ĐỪNG TỰ BIẾN MÌNH THÀNH NHỮNG CON CỜ

3 Comments

Lời dẫn: Bài viết này của con giai chị Beo, một thanh niên trưởng thành hoàn toàn trong môi trường xã hội cũng như nền giáo dục phương Tây. Những luận điểm dưới đây chưa hẳn đã suôn sẻ, song nó mới mẻ và thể hiện nỗ lực khám phá những ngóc ngách chính trị hóc hiểm.

————

Quyền lực là khả năng vận dụng các nguồn tài nguyên và nhân lực để phục vụ cho mục đích của mình. Tài nguyên và nhân lực là có hạn, vì thế, quyền lực của nước này tăng đồng nghĩa với nước khác giảm đi. Do đó, cuộc chiến tranh dành quyền lực giữa các nước ngày càng trở nên căng thẳng khi các nguồn tài nguyên và nhân lực dần dần cạn kiệt.

Quyền lực phải đi đôi với sức ảnh hưởng của mình lên các nước khác. Mình càng mạnh, càng có quyền lực bao nhiêu thì mình càng được sự tôn trọng, ủng hộ, hậu thuẫn của các nước khác bấy nhiêu. Và một khi mình đã được sự tôn trọng, ủng hộ và hậu thuẫn của các nước thì khả năng nới rộng quyền sử dụng lên các tài nguyên và nhân lực sẽ dể dàng hơn.

Thế nhưng, Trung Quốc đang gặp phải một vấn đề rất lớn là quyền lực và sức ảnh hưởng của họ không cân bằng. Mặc dù là nước nắm giữ lượng USD nhiều nhất thế giới, đứng thứ nhì về GDP, và có quân đội đông không nước nào bằng, nhưng mà, Trung Quốc vẫn không được sự tôn trọng của các nước khác mà vốn dĩ phạm vi quyền lực như thế phải mang lại.

Sự mất cân đối giữa quyền lực thật sự và sự tôn trọng của các nước khác là một vấn đề cấp bách cần phải giải quyết nếu Trung Quốc muốn vượt mặt Mỹ trong cuộc đua này. Nó làm chậm lại tiến trình phát triển cũng như ngăn cản Trung Quốc phát huy hết tiềm năng quyền lực của mình.

Mỹ đã thấy được điều đó.

Để ngăn cản bước tiến của Trung Quốc, Mỹ dấy lên phong trào bài Trung. Chống phá Trung Quốc triệt để từ hàng hóa cho đến con người, từ phong tục tập quán cho tới tư tưởng. Tất cả những việc làm như thế nhằm giảm sự tôn trọng của các nước đối với Trung Quốc, đồng nghĩa với việc ngăn không cho Trung Quốc phát huy hết tiềm năng của mình.

Mỹ đã thật sự thành công. Hãy nhìn vào phong trào chống Tầu diễn ra trên thế giới mà thật sự có bao nhiêu người biết từ khi nào mà ta lại ghét Trung Quốc đến thế. Thành công cũa Mỹ phần lớn nhờ vào sức ảnh hưởng của mình lên các nước khác còn rất mạnh, mặc dù quyền lực hiện thời của Mỹ không đáng được tôn trọng như vậy. Giết chết Osama Bin Laden đã chứng minh điều đó – hành động này giống như bluffing trong poker. (bluffing là một cách đánh bài trong poker, khi mình cầm bài nhỏ mà tố lớn để lừa phĩnh những người chơi khác với mục đích trấn áp để họ úp bài mà chịu thua).

Trung Quốc cũng nhận thấy điều đó.

Ngăn cấm tất cả những kênh thông tin có tác dụng xấu tới xã hội là một hành động kịp thời của Trung Quốc để đối phó với cuộc tấn công của Mỹ. Đừng tưởng Facebook, Blogspot, Yahoo! 360 là vô hại. Một khi trình độ dân trí còn thấp, thì đàn áp là cách duy nhất để bảo vệ đất nước. Ít nhất cũng giúp chính phủ Trung Quốc che chở những người dân ngây thơ của mình khỏi công cuộc tẩy não của Mỹ.

Chúng ta chưa nhận thấy điều đó.

Sở Trang tuyệt anh – 楚莊絕纓

1 Comment

故事髮生在我國戰國時期。 有一天, 楚莊王請自己的文武大臣們吃飯, 喝酒喝到興頭上的時候, 莊王就讓自己的妻子許姬給大臣們敬酒助興。

忽然颳了一陣大風, 餐廳內的燈都被吹滅了, 整箇大廳陷入一片黑暗之中。 正在這時候, 許姬突然感到有人拉住了她的手, 她非常生氣, 惱怒的伸手去抓, 結果就扯斷了那人帽子上的纓飾。 許姬悄悄地告訴莊王說:“ 大王, 剛才有人乘亂摸我的手, 我把他帽子上的纓子給扯斷了。 請您一定要處罰他 !” 莊王沉思了很久, 他知道, 依照楚國的法令, 戲弄王族的人是要殺頭的, 難道自己因為這點小事就要去殺人嗎 ?

楚莊王想了很久, 就哈哈大笑, 說道:“ 現在不要點燈, 讓我們大家在黑暗中做一箇游戲。 請大家都把帽子上的纓子給我扯下來, 誰不扯下來我就處罰他。”

大臣們聽大王這麽一說, 都紛紛把帽子上的纓帶扯下來扔在了地上, 莊王這才命人點燈。 就這樣, 所有的人帽子上都沒有纓帶了, 就再也無法辨别到底是誰摸了自己妻子的手了。 那箇大臣也就逃過了一佽懲罰。

許姬非常生氣, 問楚莊王為什麽要放過那箇大臣, 莊王說:“ 也許當時人家是不小心的, 我作為一箇國家的大王, 怎麽能因為一點小事就隨便處罰大臣呢 !”

第二年, 楚國龢鄭國打仗, 楚國有一箇名叫唐狻的將軍帶領士兵拼命殺敵, 為戰爭的勝利立下了很大的功僗。 在慶祝大會上, 楚莊王非常高興, 下令重賞唐狻, 唐狻卻跪倒在地, 流著眼淚說:“ 大王, 您還記得去年的那一佽讌會嗎 ? 摸您妻子手的人就是我啊 ! 我在戰場上拼命打仗, 就是為了報答您去年的恩情 !”

Một bài có cùng nội dung:

Sở Trang Vương

Trung Quốc là một đất nước chú trọng tu dưỡng và khoan dung, mọi người hóa giải xích mích qua sự kiềm chế tối đa. Câu thành ngữ “Sở Trang Tuyệt anh” là để nhắc nhở mọi người khoan dung đối với người khác, giải quyết sự việc với tấm lòng thiện, cuối cùng sẽ được đền đáp.

   Trong thời Xuân thu thế kỷ thứ 7 trước công nguyên, Trung Quốc có nhiều nước Chư hầu. Vua nước Sở-Sở Trang Vương là một vị vua anh minh, quả quyết, dưới sự quản lý của ông, nước Sở từ một nước nhỏ yếu dần dần mạnh lên.

  Một hôm, Sở Trang Vương thết tiệc các quan, cung phi cũng tới dự, mọi người uống rượi, múa hát sôi nổi. Khi đến chập tối, các quan thần vẫn không muốn ra về, Sở Trang Vương liên ra lệnh đốt nến, tiếp tục vui chơi. Sở Trang Vương mời hai người phi được chiều chuộng của mình là Hứa Cơ và Mạch Cơ đi chúc rượi các quan. Bỗng dưng một cơn gió lốc làm tắt nến, mọi người ở trong cảnh đêm tối. Lúc này, cung phi Hứa Cơ cảm thấy có người kéo tay mình liền nổi khủng kéo chiếc trang sức trên mũ gọi là Anh, sau đó trở về bên cạnh nhà vua và nói lúc nãy có người trêu ghẹo tôi, tôi kéo được chiếc Anh trên mũ, lát nữa thắp nến đại vương xem mũ ai không có Anh thì luận tội y. Nào ngờ, Sở Trang Vương nghe xong liên nói to rằng hãy đừng thắp nên, uống rượi trong bóng tôi hay biết bao. Một lúc sau, Trang Vương nói với mọi người rằng: hôm nay ta thết tiệc các người có vui không? Mọi người đồng thanh nói cảm ơn Đại vương. Sở Trang Vương hỏi có thất sự phấn khởi không, nếu chúng ta không tuốt cái Anh trên mũ thì không thể nói là vui được. Mọi người nghe vậy đều hạ mũ và tuốt chiếc Anh trên mũ. Lúc này Sở Trang Vương gọi đốt nến. Mọi người trông thấy mũ của mình chẳng còn ra gì nữa, hình dạng biện đổi và đều bật cười. Mãi tới sáng các quan lại mới ra về.

  Khi về tới cung, Hứa Cơ rất bực tức, nói có người trêu ghẹo mà vua không xử phạt. Sở Trang Vương cười và nói ta mời các đại thần uống rượu mục đích là để mọi người vui. Sau khi uống rượu có những cử chỉ khác lạ là điều bình thường. Nếu ta luận tội thì sẽ làm cho bữa tiệc mất vui, mà còn làm nhục đại thần.

  Sau này, Sở Trang Vương tiến đánh nước Trịnh, có một tướng tên là Đường Giao rất dũng cảm, lập nhiều công, khiến quân Sở rất có khí thế. Quân Sở đánh tới thủ đô nước Trịnh mới thu quân, Sở Trang Vương cũng vì đó mà tiếng tăm lừng lẫy. Thì ra Đường Giao chính là người bị Hứa Cơ tuốt mất chiếc Anh trên mũ, ông dũng cảm giết địch là để báo đáp sự độ lượng và khoan dung của Sở Trang Vương.

  Sở Trang Vương vì bao biện cho đại thần mắc sai lầm đã ra lệnh cho mọi người tuốt Anh trên mũ trong bữa tiệc trở thành “Hội tuốt Anh” nổi tiếng trong lịch sử Trung Quốc, và cầu thành ngữ “Sở Trang tuyệt Anh” cùng có xuất xứ từ đó. Mọi người dùng câu thành ngữ này để khuyên mọi người khoan dung đối sử với người khác.

Nhật Bản – Cách mạng

Leave a comment

Bài của phóng viên báo

Ngày 3-5-2011

Ngày 22 tháng Năm 1907, một cuộc nổi dậy cách mạng gần cảng Triều Châu ở tỉnh Quảng Đông đã đến những ngày tàn. Bị quân đội nhà Thanh bao vây, các nhà lãnh đạo nghĩa quân trốn trong một căn hầm ăn quả dâu trừ bữa.

Một người lấy quần áo thương nhân Nhật Bản mặc cho các đồng chí của mình rồi tất cả tìm cách luồn qua quân lính nhà Thanh để ra chiếc tàu buôn Nhật Bản neo ở cảng, con tàu này đưa họ sang đất Hồng Kông yên lành.

Người đã cứu mạng sống của các nhà làm loạn kia là ông Nagatomo Kayano, một trong vô số người Nhật Bản đã có được cảm hứng từ bác sĩ Tôn Dật Tiên và đã hy sinh đời mình cho cách mạng. Họ đã đem cả sự nghiệp, tiền của, có người còn hy sinh cả mạng sống cho bác sĩ Tôn.

Năm nay nhân cuộc kỷ niệm lần thứ 100 cuộc cách mạng Tân Hợi và thành lập Trung Hoa Dân quốc, câu chuyện những người Nhật Bản ủng hộ Trung Hoa cho thấy một gương mặt khác của đất nước họ. Nếu các lời khuyên của họ đã được (các nhà cách mạng Trung Hoa) theo, thì lịch sử thế kỷ thứ 20 hẳn là đã khác rồi.

“Những người Nhật Bản chiến đấu cho cách mạng Trung Hoa đều nhận được cảm hứng từ lòng nhiệt thành của bác sĩ Tôn Dật Tiên,” Kayano viết trong Hồi ức. “Khi tôi trò chuyện với bác sĩ, tôi nhận thấy rằng ông sẽ chiến đấu tới cùng. Thế là tôi quyết định gia nhập vào cuộc đấu tranh của bác sĩ, quyết sông chết cùng bác sĩ.”

Kayano và các đồng chí đều nhận được cảm hứng từ tầm nhìn của bác sĩ Tôn Dật Tiên về một nước Trung Hoa cộng hòa dân chủ, là điều khả dĩ giúp chấm dứt được sự suy đồi của đất nước và để đất nước thành đồng minh của Nhật Bản chống lại các cường quốc phương Tây. Họ muốn Trung Hoa đi theo tấm gương Nhật Bản – hiện đại hóa, công nghiệp hóa, và giành lấy độc lập.

Sau khi nhà Thanh buộc chính quyền Macau trục xuất bác sĩ Tôn Dật Tiên khỏi thành phố này vào năm 1894, bác sĩ sống 17 năm lưu vong tiếp theo ở châu Âu, Hoa Kỳ, Việt Nam, Singapore, Thailand và chủ yếu là ở Nhật Bản, nơi ông lai vãng 10 lần và lưu lại ở đây gần 10 năm. Ông đã xây dựng một cơ sở ủng hộ cách mạng Trung Hoa với 300 người Nhật.

Một trong những người ủng hộ này, Toten Miyazaki, tin tưởng rằng bác sĩ Tôn có thể làm thay đổi nước Trung Hoa và giới thiệu ông cho những nhà chính trị cao cấp để mong họ tán thành việc để bác sĩ Tôn ở lại Nhật Bản và xây dựng cơ sở hoạt động ở đây.

Chính là tại Tokyo vào ngày 20 tháng Tám năm 1905 bác sĩ Tôn đã thành lập Trung Quốc Đồng Minh Hội, một Liên minh cách mạng Trung Hoa, tổ chức bảy năm về sau đã trở thành Quốc Dân Đảng. Đó là cơ sở cho cuộc cách mạng Tân Hợi. Có tám thành viên của tổ chức này là người Nhật, trong đó có Kayano và Shokichi Umeya, người đã gặp bác sĩ Tôn đầu năm này tại Hồng Kông, ở đó ông là chủ một hiệu ảnh.

Umeya cũng được gợi cảm hứng từ tầm nhìn của bác sĩ Tôn về một Đông Á thịnh vượng và các công dân của khu vực được tự do và bình quyền, và Umeya đã toàn tâm toàn ý lao vào cuộc tranh đấu.

Umeya thuê cho Trung Quốc Đồng Minh Hội một văn phòng ở quận Yurakucho tại trung tâm Tokyo và đi vay tiền để cấp cho tờ báo của Hội “Tiếng nói Nhân Dân”. Trải hai mươi năm tiếp theo, Umeya đã gây quỹ được nhiều tỷ yen để chi phí cho những chuyến đi lại của bác sĩ Tôn và những chi tiêu cho đời sống, mua vũ khí đạn dược cho các cuộc nổi dậy, và đến năm 1915 thì chi phí cho một trường không quân ở Nhật Bản để đào tạo phi công Trung Hoa.

Sau khi bác sĩ Tôn qua đời, Umeya thuê làm bốn pho tượng lớn cao tới 2,5 met, mỗi pho nặng một tấn và gửi về Trung Quốc. Ngày nay những bức tượng đó vẫn đứng ở nguyên những nơi chúng được tặng – lăng bác sĩ Tôn ở Nam Kinh, Học viện Quân sự Hoàng Phố, Đại học Trung Sơn ở Quảng Châu và Ngôi nhà Lưu niệm Tôn Dật Tiên ở Macao.

Umeya cũng thuê làm hàng chục tượng bán thân nhỏ nhưng thiếu tiền. Thế là ông phải lấy tiền từ quỹ riêng dành cho đám cưới con gái ông. Khi bị con gái phản đối, ông trả lời: “biết bao nhiêu ngừoi Nhật kính trọng ông Trung Sơn. Tượng này sẽ bảo đảm các tư tưởng của ông sẽ còn lại mãi mãi.”

Ông còn nghĩ tới việc xây dựng một ngôi chùa thờ bác sĩ Tôn. Sau khi Nhật Bản chiếm Mãn Châu năm 1931, ông công khai chỉ trích chính phủ và bị Hiến Binh thẩm vấn; báo chí gọi ông là “kẻ phản bội”.

Khi đang ốm, ông vẫn đi Tokyo kiện đích danh thủ tướng, nhưng ông bị ngã ở nhà ga xe lửa thành phố và chết ngày 23 tháng mười một năm 1934 thọ 66 tuổi.

Gia đình Umeya vẫn hiện vẫn sở hữu Khách sạn Matsumoto nhìn xuống Công viên Hibiya ở trung tâm Tokyo, gần nơi Trung Quốc Đồng Minh Hội tổ chức mít tinh thành lập. Tại một gian phòng trong khách sạn có một cuộc triển lãm nhỏ dành cho bác sĩ Tôn, trong đó có cả cây đàn piano bà vợ của bác sĩ trước đây vẫn chơi.

Năm nay, Trung tâm nghiên cứu Lịch sử Hiện đại của Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Trung Quốc đã thuê làm một tượng bán thân Umeya, sẽ được đem tặng quê ông ở Nagasaki, để ghi nhớ mãi tình bạn của ông với Tôn Dật Tiên.

Trong số những người Nhật Bản ủng hộ Tôn Dật Tiên, Kayano là người luôn luôn bám gần gũi nhất với tuyến đầu. Sinh ra ở Kochi năm 1873, ông chuyển về ở tại Osaka năm 1890 và trở thành nhà báo làm việc cho hãng Jiji Press, một trong hai hãng thông tấn lớn nhất của Nhật Bản. Ông quan tâm đến các phong trào dân chủ của thành phố và bị cảnh sát theo dõi chặt.

Năm 1892, ông chuyển về làm phóng viên ở Thượng Hải và chỉ ít lâu sau đã rất giỏi tiếng Hoa phổ thông. Ông mặc quần áo Trung Quốc và để tóc đuôi sam, mãi đến tháng 10 năm 1910 vẫn không chịu cắt. Trông ông ai cũng nhận ra sự khác biệt hẳn với người Trung Quốc.

Là nhà báo, ông nhận ra rất nhanh chỗ yếu và sự bất cập của chính quyền nhà Thanh và sự khinh thị của người Tây phương với người Trung Quốc. Trong một cuộc viếng thăm Hồng Kông năm 1895, ông gặp Tôn Trung Sơn và nhận giúp Tôn.

Ông tham gia Trung Quốc Đồng Minh Hội ở Tokyo và tổ chức “Tạp chí cách mạng”, một tờ báo tiếng Nhật để triển khai các tư tưởng của Tôn. Trụ sở cơ quan ông là nơi các nhà cách mạng lui tới cả từ bên Trung Hoa sang cũng như từ các nơi như Việt Nam, Ba lan và Nga.

Năm 1907, dưới áp lực của nhà Thanh, chính phủ (Nhật) trục xuất Tôn Dật Tiên; Kayano đi cùng Tôn sang Hồng Kông, tại đây ông lập kế hoạch khởi nghĩa ở Hoàng Cương. Cuộc nổi dậy này thất bại, Kayano trở về Nhật Bản và gây quỹ mua vũ khí ở thị trường Osaka được tới 2.000 khẩu súng trường, 3.000 khẩu súng lục và 20 gươm nhà binh, tất cả được ông đưa lên tàu chở đến Thành Đô.

Tháng mười năm 1910, ông đến Vũ Xương tham gia khởi nghĩa ở đây và cuối cùng đã lật đổ được nhà Thanh. Tôn mời ông tham gia lễ tuyên bố thành lập nước Cộng hòa tại Nam Kinh và ông đi theo Tôn trong suốt 15 năm chiến đấu cho tới khi ông chết vào năm 1925.

Kayano cúng có vai trò quan trọng trong những cuộc thương thảo lẽ ra đã có thể giúp tránh được cuộc chiến tranh giữa Nhật Bản và trung Quốc. Tháng 12 năm 1931, Thủ tướng Nhật Bản, là bạn của ông, đã cử ông tới Thượng Hải đàm phán bí mật với Trung Hoa về vấn đề Mãn Châu, khi đó bị đạo quân Quân Đông của Nhật Bản chiếm được hai tháng rồi.

Thông qua quan hệ cá nhân với chính phủ (Trung Hoa), Kayano đạt được một thỏa thuận thương lượng việc rút đạo quân Quan Đông, đồng ý tổ chức gặp gỡ giữa các gương mặt quan trọng của Trung hoa và Nhật Bản tại Mãn Châu vào ngày 10 tháng giêng. Nhưng phe quân sự và cánh ngoại giao Nhật Bản đã phát hiện ra các cuộc thảo luận đó và phá chúng.

Thủ tướng Nhật Bản Tsuyoshi Inukai, 76 tuổi, viết một lá thư tuyệt vọng cho trưởng phái đoàn thương thuyết Trung Hoa. “Tôi vô cùng lo lắng vì tình hình nhiễu loạn mà ngài vừa nêu ra. Tôi muốn nhân cơ hội này đề xuất một kế hoạch đi tìm sự thịnh vượng cho toàn bộ châu Á. Đầy là ước nguyện cao nhất của bác sĩ Tôn Dật Tiên và cũng là ước vọng của cá nhân tôi. Tôi hy vọng ngài sẽ làm điều gì đó to tát cho dòng giống da vàng chúng ta.”

Báo Mainichi Shimbun bình luận rằng, nếu phái đoàn hòa bình Kayano thành công, chiến tranh với Trung Hoa hẳn là đã tránh được và lịch sử Nhật Bản hẳn lả đã khác đi.

Nhưng các thế lực thù hận và quân phiệt đã thắng. Kayano chết ngày 14 tháng Tư năm 1947 thọ 74 tuổi, một con người thất vọng sâu xa, người đã nhìn thấy các lý tưởng dắt dẫn cả cuộc đời mình bị hủy hoại trong cuộc chiến tranh kinh hoàng nhất hạng trong lịch sử.

Kẻ tử vì đạo Nhật Bản đầu tiên chết vì cách mạng là Yoshimasa Yamada, người bị quân đội nhà Thanh giết chết trong cuộc nổi dậy bất thành tại Huizhou năm 1900, lúc tuổi đời mới có 32.

Sinh năm 1868, ông đến Thượng Hải làm việc trong công ty thương mại Nhật Bản năm 1890 và nâng cao tiếng Hoa phổ thông đã quá giỏi của ông. Ở đó và ở Bắc Kinh, ông nhận ra những cảnh đời đáng thương của những người Trung Hoa bình thường và đã gặp Khang Hữu Vi là người đề xuất và bảo vệ đường lối cải cách không bạo lực.

Tháng bảy năm 1898, ông gặp Tôn Dật Tiên và tuyên thệ trung thành với cuộc đấu tranh của Tôn. Mùa xuân năm 1900, ông dạy học tại một trường trung học Nhật Bản tại Nam Kinh. Tháng 10, ông tham gia cuộc khởi nghĩa và mất mạng sống của mình tại đó.

Công trình ông tham gia được kế tục bởi người em họ Juntaro, ông này về sau trở thành thư ký riêng của Tôn vào năm 1906 và đã giúp Tôn trong việc thương lượng về khoản nợ Công ty Mitsui 120 triệu “quan” Trung Quốc. Ngôi nhà của ông trong khu tô giới Pháp ở Thượng Hải thành trung tâm hoạt động cách mạng của Tôn Dật Tiên.

Năm 1916, một kình địch về chính trị bắn chết một đồng minh của Tôn khi đó đang ở trong nhà. Hoàng loạn vì tiếng nổ, cô hầu đang bế con nhỏ của Yamada đánh rơi bé xuống đất, làm chau bé bị thương ở vùng ngực, khiến cháu bị tàn tật suốt đời.

Juntaro sống ở Thượng Hải cho tới năm 1948, dạy học và xuất bản báo chí. Sau khi trở về Nhật Bản, ông lập ra một nhà lưu niệm về các hiện vật cách mạng Trung Hoa và hứa hẹn có những mối liên hệ thắt chặt hai dân tộc. Ông chết ở Tokyo năm 1960, hưởng thọ 85 tuổi.

Môth thánh tử vì đạo nữa là Shintaro Kaneko, một sĩ quan bộ binh Nhật Bản ngừioi đã đi theo quân đội cách mạng Trung Hoa năm 1911 và hy sinh trong chiến đấu tại Vũ Hán tháng Mười năm và kết hợp nịnh các bác.

Vợ bấc sĩ Tôn còn lại trên đời

Một trong những tình tiết ít biết đến trong cuộc đời Tôn Dật Tiên ở Nhật Bản là chuyện kết hôn của ông lấy cô học sinh 15 tuổi tên là Kaoru Otsuki vào năm 1903. Họ có một con gái tên là Fumiko sinh ngày 12 tháng Năm, 1905. Cho đến những năm 1950 cô vẫn không biết cha mình là người sáng lập nên Trung Hoa Dân quốc.

Cuộc nhân duyên được giữ bí mật trong nhiều thập kỷ vì cả Đài Bắc lẫn Bắc Kinh đều không muốn cả thế giới biết rằng một gương mặt quốc gia được họ tôn thờ đến thế lại có một cuộc hôn nhân thứ hai với một cô bé thiếu niên ngoại quốc và bỏ rơi cô khi cô có thai.

Hai bên gặp nhau lần đầu tiên vào năm 1898, lúc đó hai người cùng sống trong một tòa nhà trong khu người Hoa ở Yokohama. Thời kỳ đó, Tôn đã có vợ là Lư Mộ Trinh, người cùng quê, trong một cuộc hôn nhân do gia đình thu xếp vào năm 1886, bà này sinh cho ông được một trai hai gái.

Năm 1902, Tôn xin với cha của Kaoru được cưới nàng nhưng bị từ chối, viện cớ hai bên cách nhau những 22 năm tuổi đời và còn bời vì cô nàng quá trẻ. Về sau ông bố vợ cũng đồng ý, và một năm nữa thì hai bên cưới nhau.

Trước khi sinh Fumiko, Tôn phải rời Nhật Bản ra đi. Không sao liên hệ được với Tôn, và do nghèo túng, Kaoru phải cho con gái làm con nuôi một gia đình làm nghề nấu rượu ở Yokohama tên là Miyagawa lúc cô bé mới lên năm và trao cho gia đình kia chiếc nhẫn cưới của Tôn tặng. Bà không bao giờ được nhìn thấy mặt chồng nữa.

Kaoru sau này cưới em trai một chủ ngân hàng giàu có; nhưng khi ông này tìm thấy một lá thư của Tôn trong nhà, ông ta liền ly dị. Thế là cô chuyển đi xa tới quận Tochigi, và lấy viên quản lý một ngôi đền và có với ông này một con trai.

Ông của Fumiko chỉ mãi đến năm 1951 mới cho cô biết những ai là cha mẹ đẻ của cô. Cô có một con trai đặt tên là Toichi. Đấu năm nay, cậu này phát biểu với tờ bào Asiaweek (bản tiếng Hoa), đó là lần đầu tiên cậu trả lời phỏng vẫn tới truyền thông Trung Hoa. Cậu nói rằng vào năm 1956 hai mẹ con cậu có đi đến ngôi đền để thăm Kaoru, và đó là cuộc viếng thăm đầu tiên. “Bà già mà vẫn đẹp, người thấp bé và cười rạng rỡ. Bà nói rằng hai ông bà chọn đến ở Fumi, vì giọng nói ở đây gần gũi với cách nói tiếng Hoa ‘Fumei’, để tỏ cho mọi người thấy mình là con gái Tôn Dật Tiên.” Kaoru qua đời năm 1970, thọ 83 tuổi.

Cậu cũng nói với tờ báo rằng vào tháng sáu năm 1977, cậu có đi cùng mẹ tới Đài Bắc thăm Tòa nhà Lưu niệm Tôn Dật Tiên (Sun Yat-sen Memorial Hall). Fumiko xem xét kỹ bức tượng bán thân của cha mình và nói khuôn mặt nhỏ nhắn và đôi mắt bé của mình là thừa kế của cha.

Tháng mười một năm 1980, hai người được mời thăm Hoa lục, thăm Bắc Kinh và Thượng Hải. Họ thăm lăng Tôn Dật Tiên ở Nam Kinh, họ xúc động bật khóc. “Suốt đời mình, tôi chẳng bao giờ được thấy mặt cha,” Fumiko nói. “Tôi chưa từng khi nào hạnh phúc đến như lúc này và tôi chẳng hối tiếc gì hết. Mẹ tôi không có lựa chọn nào khác ngoài việc giao tôi cho gia đình khác nuôi nấng.” Bà chết vào tháng 5 năm 1990; các hội đoàn ở Nhật Bản có liên hệ với Tôn đều có gửi vòng hoa tới lễ tang bà.

Chen Fu-po, chủ tịch Hội Tưởng nhớ Tôn Dật Tiên của Nhật Bản, nói rằng sau nhiều năm nghiên cứu với những người Hoa cao tuổi sinh sống tại Yokohama, thì được biết một sự kiện lịch sử Tôn còn có tên Nhật Bản là Kaoru Otsuki. “Trong quá khứ, cả Đài Loan và Trung Quốc đều muốn che giấu mảng lịch sử này, nhưng bây giờ thì chẳng cần gì nữa. Sức mạnh của các vĩ nhân nằm trong sự thật. Tôn Dật Tiên là một con người, không phải là ông giời.”

Người dịch: Đại Phúc

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2011

Ảnh: Lịch sử ghi nhớ những thánh tử vì đao người Nhật của Cách mạng Trung Hoa

Nghiên cứu lịch sử

Các bài nghiên cứu, biên khảo và dịch thuật các chủ đề về lịch sử

Le Minh Khai's SEAsian History Blog

Always rethinking the Southeast Asian past

trinhythu

Trịnh Y Thư WordPress.com site

trandangtuan.com

Men lá rượu ngô trong

4th Avenue Café

Free non-fiction translation

WordPress.com

WordPress.com is the best place for your personal blog or business site.

Trương Thái Du's Blog

Văn chương thiên cổ sự - Đắc thất thốn tâm tri...

No More Goat Soup

No goats were harmed in any way while making this blog. (We did kill all the sheep though)