Vài suy nghĩ về biển Đông

4 phản hồi

1. Trong tiểu thuyết lịch sử Hận Lãng Bạc, tôi viết

—————————————–

Trên bệ cao của Giao long thuyền, hai chị em Trưng Trắc ưỡn ngực, ngẩng đầu đứng sát bên nhau. Trưng Trắc phóng tầm mắt một lượt xung quanh rồi ngước mặt lên hét to: “Đất này của mẹ tổ, trời này của mẹ tiên. Mười năm người Âu Lạc chưa giành lại được thì họ sẽ chiến đấu trăm năm, ngàn năm nhằm khẳng định lẽ phải. Làm sao đao kiếm của bọn xâm lăng có thể lấy đi được lòng can đảm và khí tiết của chúng ta”.

Giọng Trưng Trắc vang động khắp non sông. Thời gian ngừng lại khi Hai Bà Trưng buông mình xuống đáy Lãng Bạc, gần ngã ba cửa Hát.

Mã Viện thở dài. Y sai người để ý vớt xác Hai Bà chôn cất cẩn thận, song vô ích. Có lẽ thể phách Trưng Trắc và Trưng Nhị đã tan lẫn vào hồn thiêng sông núi Âu Lạc.

Hán quân đành thỉnh hai thủ cấp nữ chiến binh bất kỳ, gói gém gửi đến Lạc Dương, nói dối là của Hai Bà Trưng.

Ngày nô lệ đầu tiên của Âu Lạc đã trôi qua như thế. Mặt trời sẽ lặn nhiều trăm năm…

——————————————

Với vấn đề biển Đông, có lẽ nội hàm ở trên không còn đúng. Một ngàn năm nữa nhân loại chắc đã phát triển qua giai đoạn không còn nhà nước, không còn quốc gia, không còn biên giới mà chỉ tồn tại những “vùng văn hóa”. Một kiểu hậu liên minh châu Âu như hiện nay.

2. Mùa Đông năm 1972 tôi trùm chăn bông nghe bom Mỹ dội xuống miền bắc Việt Nam. Cảm giác rất thích. Năm 1999 Mỹ và Nato ném bom, bắn hỏa tiễn vào bán đảo Balcan 78 ngày đêm. Cảm giác bất lực và căm giận. Đến năm 2003, ở thời điểm Mỹ giả mạo hồ sơ vũ khí hủy diệt hàng loạt lấy cớ  tấn công Iraq tôi mới ngộ ra rằng công lý luôn thuộc về kẻ mạnh. Mọi tình cảm bột phát hay bức xúc căm giận chả bao giờ có kết quả…

3. Đọc xong bài này của tác giả Trương Nhân Tuấn, do chị Beo giới thiệu, lại thở dài. Đúng là người VN không có tầm nhìn vượt qua lũy tre làng, từ vấn đề giao thông đô thị trở đi (cái thứ mà ai cũng đang hàng ngày trải nghiệm), nói chi đến Biển Đông. Nó cần tầm nhìn nhiều chục năm…

4. Hận Lãng Bạc đã in xong, bắt đầu đến với các nhà sách Hà Nội. Tôi vẫn chưa biết hình hài quyển sách ra sao, cắt chữ nào, thêm chữ nào. Hy vọng tinh thần bất diệt của Hai Bà Trưng mà tôi hy vọng chuyển tải qua quyển sách, sẽ giúp được ít nhiều cho ai đó ở thì hiện tại.

Phan Việt: Ghi vội từ Trung Quốc

5 phản hồi

Lời bình: Nhà văn Phan Việt quan sát xã hội TQ rất kỹ lưỡng và có những góc nhìn thật đẹp, thật mới mẻ trong hai entry mới nhất Phần 1 Phần 2.

Cô viết ở đoạn cuối: “Trong ngày hôm nay, cái ý nghĩ lớn nhất của tôi – và không phải một ý nghĩ vui vẻ gì – là sự giống nhau quá mức giữa văn hóa Việt Nam và văn hóa Trung Quốc. Ngoại trừ ngôn ngữ, cách chúng ta ăn mặc, hành xử, suy nghĩ, vv… quá giống người TQ (hoặc là người TQ quá giống ta?). Điều này bản thân nó không phải là một điều xấu tự thân nếu những cái giống đó là những mẫu số chung của một đời sống con người tối ưu; nhưng ở đây có vẻ không phải như vậy. Tôi chưa có thời gian nghĩ kỹ về vấn đề này, chỉ cảm thấy nó hết sức không ổn. Nếu như VN, với tư cách là một dân tộc, muốn có một vị trí và bộ mặt riêng biệt trên thế giới, thì chúng ta phải “thoát TQ” một cách triệt để. Nó không khác gì, làm người phải có tính cách riêng, nhân cách riêng, suy nghĩ riêng; không nên là bản sao bất tự giác của ai khác.”

Phan Việt “tròn mắt” ngạc nhiên cũng dễ hiểu, bởi người Việt Nam nói chung cho rằng họ đã không bị đồng hóa sau một ngàn năm bị nô thuộc và thêm một ngàn năm bị ảnh hưởng. Theo tôi nên cho rằng mảnh đất hình chữ S đã bị đồng hóa gần như hoàn toàn nhưng may mắn giữ được độc lập hàng ngàn năm nay. Phải đứng ở góc nhìn ấy, đất nước Việt Nam mới có cơ may nhìn lại mình rõ ràng nhất, và mới có thể “Thoát TQ” thành công như ao ước của Phan Việt.

————————————————-

Bây giờ là buổi tối ở Thượng Hải. Trời đang mưa, nhiệt độ khoảng 30 độ C, cũng nóng ẩm như ở VN. Chiều nay, khi tôi đến, trời không mưa nhưng không hề nhìn thấy mặt trời. Cả thành phố ở dưới một màn mây màu xám do khói bụi kết lại; không khí lúc nào cũng như phủ sương mù. Tuy thế, ngay từ khi đặt chân xuống sân bay Pudong, tôi lập tức nhận ra Thượng Hải là một thành phố có định hướng quốc tế rất rõ ràng. Những người quy hoạch cho thành phố này có vẻ có ý thức rất rõ việc biến nó thành một trung tâm quốc tế trước hết là ở châu Á và sau đó là cả thế giới. Từ sân bay đồ sộ và hiện đại, tới đường cao tốc nhiều làn, có kẻ biển hiệu giống hệt ở Mỹ, bằng tiếng Trung và tiếng Anh, tới những thứ nho nhỏ như việc người ta cử người xếp các xe đẩy hành lý trong sân bay thành một hàng một trên vỉa hè để cho hành khách có thể dễ dàng lấy xe… Những cái đó thể hiện một tinh thần hướng vào dịch vụ, tiện nghi, hướng vào việc thỏa mãn khách hàng ở mức phổ quát nhất và quốc tế nhất.

Không kể lần đi Hồng Kong năm ngoái thì đây là lần đầu tôi tới Trung Quốc – để dự một hội thảo quốc tế về công tác xã hội và chính sách xã hội mà tôi có một bài thuyết trình, đồng thời là một thành viên của ban tổ chức từ phía Hội những người giảng dạy CTXH châu Á – Thái Bình Dương. Hội thảo này có nhiều bên đồng tổ chức – trường đại học Đông Á ở Thượng Hải, Hội những người giảng dạy CTXH nói trên, Đại học New York, Humboldt Foundation của Đức, và Vụ các vấn đề xã hội của Thượng Hải. Về cơ bản thì phần nội dung là do bên Hội tổ chức; các thành phần còn lại hỗ trợ về mặt kinh phí và hậu cần. Đặc biệt, sự tham gia của ĐH New York nằm trong chiến lược mở một chi nhánh của ĐH New York tại Thượng Hải nhằm đặt một tiền đồn cho thị trường TQ và châu Á – giống như họ đã mở một campus ở Abu Dhabi để đặt một tiền đồn ở khối các nước nói tiếng Ả rập. Theo dự kiến, năm 2013, tức là chỉ 2 năm nữa, campus ở Thượng Hải sẽ khai giảng khóa đầu tiên. Trong vòng một năm qua, kể từ khi tôi bắt đầu làm việc cho Đại học San Jose và triển khai khóa học mùa hè về CTXH cho sinh viên Mỹ tại Việt Nam, tôi nhận thấy rất rõ cái thế của TQ trong thị trường giáo dục Mỹ. Ở Mỹ hiện tại, trong hầu hết các trường đại học, “châu Á” về cơ bản được hiểu là Trung Quốc, Nhật Bản, và Hàn Quốc. Các khoa ngôn ngữ và văn minh châu Á chủ yếu dạy tiếng, văn hóa, lịch sử, vv… về các nước này; toàn bộ phần còn lại của châu Á gần như bị bỏ không.

Từ sân bay về khách sạn mất 40 phút. Đường cao tốc từ sân bay vào thành phố 4-5 làn, xây hiện đại không khác gì ở Mỹ, và xe chạy tương đối quy củ, chắc chắn là hơn hẳn VN. Giá đi taxi ở đây có vẻ cũng rẻ hơn ở Hà Nội. Tôi check-in vào khách sạn, và lập tức được yêu cầu phải trả trước toàn bộ tiền phòng cho 3 tối, cộng với 100 đô la đảm bảo. Mà đây là khách sạn chính thức của hội thảo. Cái tâm lý “ăn chắc mặt bền”, không tin người và luôn đề phòng thủ lợi cho mình trước là một tâm lý rất đáng buồn ở nhiều nước châu Á, bao gồm cả Việt Nam. Về mặt này, tôi buộc phải nói rằng ở Mỹ sống dễ hơn rất nhiều vì không phải nhìn trước ngó sau, không phải suy đoán xem người ta có đang lừa mình không. Bản thân luật và các dịch vụ ở Mỹ cũng thế: hầu hết dựa trên mặc định rằng đa số người ta là tốt và trung thực (hoặc muốn được sống trung thực), phần không trung thực là rất nhỏ; cho nên không nên vì đề phòng phần không trung thực mà tạo ra các loại cơ chế kiểm soát, ngăn ngừa, tra xét rất tốn thời gian và tốn tiền, lại không tôn trọng con người. Cho nên, ở Mỹ, bạn không phải đi xin xác nhận của phường hay của bất cứ ai khi đi đăng ký kết hôn, chỉ cần cái cam kết và chữ ký của chính bạn là đủ. Người Mỹ “thực dụng” thực sự chính là ở những chỗ như thế này: với họ, tính về hiệu quả kinh tế, tin tưởng lẫn nhau thực ra có lợi hơn là đề phòng và tạo các cơ chế kiểm soát mà theo đó ngầm mặc định sự thấp kém của con người.

Phòng khách sạn có internet nhưng không vào được Facebook, Blogspot và nhiều trang khác vì tường lửa. Google và nhiều trang nghiễm nhiên chuyển sang tiếng Trung. Cái cảm giác bị quản lý và theo dõi ở đây rất rõ và lộ liễu. Tôi lập tức thấy mình cảnh giác – nên không vào banking online và hạn chế luôn cả việc vào Internet.

Buổi tối, tôi bắt taxi chạy vào khu trung tâm thành phố. Tính về mức độ sầm uất, mật độ nhà chọc trời, sự phong phú của hàng hóa thì Thượng Hải còn hơn các thành phố lớn của Mỹ và châu Âu. Nhưng xét về mặt dịch vụ và văn minh thì còn một khoảng cách lớn. Một ví dụ đơn giản là việc nhân viên phục vụ nhà hàng ở đây không hề quán xuyến khách – mà cứ phải để khách phải gọi. Một ví dụ khác là việc khi bạn đứng chụp ảnh thì những người đi qua đi lại không hề có ý thức tránh ra giúp bạn; họ cứ thản nhiên đi ngang qua màn hình hoặc thậm chí đứng lại nhìn; hoặc chen ngang chặn trước mặt bạn. Văn minh và sự quý trọng con người phải đến từ hai thứ – một là cái triết lý sống sâu xa của xã hội đó, và hai là quá trình thực hành thói quen sống văn minh. Tôi nhớ hồi năm ngoái, khi bố tôi sang Chicago thăm tôi, sáng nào cụ cũng dậy sớm đi bộ trên mấy con đường quanh nhà, và cụ cứ tấm tắc (gần như kinh ngạc) một việc là khi cụ đi bộ trên vỉa hè, thì những người đi ngược chiều với cụ lập tức tránh qua bên kia từ xa để nhường đường cho cụ, hoặc nếu họ dắt chó thì họ lập tức đứng lại, ghìm dây chó thật chắc và mỉm cười chào cụ, chờ cụ đi qua xong họ mới đi tiếp. Hoặc cụ cứ tấm tắc là khi chúng tôi đi chơi, thì những người đi qua nhìn thấy tôi chụp ảnh cho bố mẹ tôi là họ tươi cười hỏi “Các bạn có muốn tôi chụp cho cả ba người hay không?”.

Đồ ăn ở Thượng Hải nhiều dầu mỡ xào nấu, hầu như chỉ có vị của đồ nêm, không còn có vị nguyên chất của thực phẩm. Ít rau, nhiều thịt, và tương đối cay. Có lẽ vì thế mà người Thượng Hải không đẹp – họ nặng nề, các nét thô, xương to, da thô; cả một ngày, tôi không gặp một cô gái nào mà tôi thấy là đẹp. Ở Hà Nội, mật độ này dày. Bạn tôi nói người Bắc Kinh đẹp hơn.

Trước khi đi ngủ, tôi mở vô tuyến xem truyền hình của TQ. Trong một chương trình gì đó có vẻ là thời sự, người dẫn chương trình đang nói chuyện bàn tròn với hai người đàn ông khác có vẻ là chính trị gia; họ chiếu nhiều hình ảnh hải quân và tàu trên biển – chắc chắn là đang nói về Biển Đông. Trong một chương trình ca nhạc khác, một cô bé khoảng 3 tuổi, mặc quân phục trắng của quân đội, đội mũ quân đội đang cầm một chiếc micro rất to hát sang sảng một bài gì đó chắc chắn nói về tình yêu nước hay tinh thần cách mạng hay cái gì đó đại loại như vậy. Cô bé quắc mắc, giơ nắm đấm lên cao. Khán giả vỗ tay vang dội. Tôi nghe cái âm sang sảng và những tiếng rin rít trầm bổng của thứ tiếng Tàu được phát âm với nhiều cảm xúc mà không khỏi nghĩ đất nước này là một khối tham vọng khẳng định bản thân khổng lồ, kể từ trong cái khí độ của ngôn ngữ trở đi. Bất kể cái tham vọng khẳng định đó có hình thù cụ thể là gì thì cái khối 1 tỷ người khổng lồ này, dưới sự định hướng của chính quyền TQ hiện tại, có vẻ đang rất cần giải tỏa, khai thông nó để tránh làm cơ thể Trung Hoa suy nhược do bế khí. Ở cạnh một khối khí aggressive đang cần khai thông như thế thì không thể nào lơ là việc tập luyện cho mình khỏe lên, lành mạnh lên, vững vàng lên.

Ngày hôm nay là ngày đầu tiên của hội thảo. Buổi sáng, tôi tỉnh từ 5 giờ vì vẫn còn bị lệch giờ với Mỹ. Kéo rèm cửa sổ nhìn ra, bên ngoài trời đã hửng sáng nhưng vẫn không có mặt trời. Bên dưới đường, mặt đất ẩm ướt; có nhiều người đi tập thể dục sớm – họ cũng mặc áo may-ô, quần cộc, đi giày ba-ta, vừa đi dọc các vỉa hè vừa vẩy tay theo lối tập dịch cân kinh mà nhiều người tập thể dục buổi sớm ở HN cũng hay tập. Nhìn thấy thế, tôi lại nghĩ: người dân ở đâu thì cũng như nhau – chủ yếu vẫn chỉ muốn no ấm, khỏe mạnh, nuôi con cái học hành nên người. Rồi lại nghĩ: nhưng không ai được chọn tổ quốc mà mình sinh ra, và số phận của một người không bao giờ có thể tách rời hoàn toàn số phận của tổ quốc họ, dân tộc họ.

Chúng tôi ăn sáng trong khách sạn rồi cùng lên xe ô tô tới đại học Đông Á, nơi tổ chức hội thảo. Bên trong sảnh, cái đầu tiên đập vào mắt tôi là hai dãy bàn lớn bày sách giáo khoa ngành công tác xã hội mà trường Đông Á đã in. Các sách này có một phần là sách của các tác giả Trung Quốc; phần lớn còn lại là sách dịch từ tiếng Anh hoặc sách mà một tác giả Trung Quốc là đồng tác giả với tác giả nước ngoài. Chỉ nhìn thì biết là họ chọn sách rất kỹ và tương đối tốt; ví dụ như sách về family therapy thì dùng của Michael Nichols và Minuchin. Tôi hỏi họ sách này của trường in bằng quy trình và kinh phí như thế nào thì những sinh viên đứng giúp việc bán sách ở đó không biết tiếng Anh đủ để trả lời; tôi rất tò mò vì nhìn vào bìa sách thì có thể suy đoán là dường như trường Đông Á đã lên một kế hoạch đầy đủ về một bộ sách tổng thể mà họ cần dịch, rồi tiến hành dịch và in sách để bán cho sinh viên chứ không dựa vào các nỗ lực manh mún của từng người dịch. Ở VN, điều này chưa xảy ra. Cái mơ ước của tôi cho đến gần đây vẫn là làm thế nào để ra được một bộ sách giáo khoa tương đối chuẩn về ngành CTXH cho sinh viên VN vì số sách hiện có về ngành này ở VN có thể đếm trên đầu ngón tay và chất lượng thấp. Hiện tại, một nhóm giáo viên và sinh viên CTXH mà tôi tham gia đang bắt tay dịch thử một vài cuốn sách mặc dù chưa rõ đầu ra. Việc dịch sách giáo khoa ở VN rất khó: những cá nhân như tôi, dù muốn, không thể đứng ra in sách mà cần phải có một NXB nào đó đứng ra đại diện mua bản quyền. Nhưng các NXB hầu như không muốn làm sách giáo khoa dịch từ nước ngoài vì khó có lãi và mất công. Giá có ai tài trợ cho chúng tôi làm một bộ sách chuẩn thì tốt.

Dĩ nhiên TQ đã bắt đầu phát triển ngành CTXH trước chúng ta khoảng gần 2 thập kỷ. Năm 1978, họ đã phê duyệt việc đào tạo cử nhân về CTXH và đến năm 2010, họ có 200 chương trình cử nhân, 58 chương trình thạc sỹ; mỗi năm đào tạo ra 50 ngàn cử nhân và 15 ngàn thạc sỹ. Chính phủ TQ đặt kế hoạch là đến năm 2020, họ sẽ có 3 triệu nhân viên CTXH. Tuy thế, đây cũng là một dạng quyết định duy ý chí khác. Giáo sư X ở Anh ngồi cạnh tôi trong hội nghị đã có nhiều năm làm việc với TQ; ông nói, chương trình của TQ thực sự là tồi tệ; bởi vì giáo viên không được đào tạo về CTXH lại đi dạy sinh viên; và sinh viên thì hầu như không có thực hành; ra trường rồi ngơ ngơ ngác ngác. Tình trạng này có vẻ không xa lạ. Ở VN bây giờ, chúng ta cũng đang đối mặt với chính những nguy cơ này.

Chúng tôi bắt đầu họp lúc 8 giờ sáng. Trường Đông Á là một trường nhỏ mặc dù khoa CTXH của nó được đánh giá là một trong những khoa rất tốt ở TQ. Xem cách họ tổ chức hội thảo này và cách phát biểu khai mạc của các vị chức sắc trong trường thì thấy người TQ đã tiến hơn VN một bước trong văn hóa họp hành. Họ đã biết học người Mỹ và châu Âu ở chỗ đi thẳng vào vấn đề, nói ngắn gọn, có trọng điểm, theo đúng giờ và chương trình, rồi rút lui. Không trình bày lan man, chung chung, nghe phát chán vì chẳng hiểu người nói nói gì như tôi đã nhiều lần chứng kiến ở VN. Tuy thế, đến phần hỏi đáp, tôi thấy sinh viên TQ và cả cán bộ TQ giống hệt người VN ở chỗ hỏi chủ tọa chủ yếu để thể hiện, và cũng kính thưa kính gửi một cách hết sức dài dòng, e dè. Các câu hỏi được đặt ra đều là những câu hỏi hết sức thông thường theo cái lối không lo lắng về ý tưởng, vấn đề, khoa học, mà thường lo lắng về con người, quan hệ, thể chế, chuyện bên lề. Đấy là những cách tiếp cận vấn đề hết sức phí phạm; nhưng chuyện này nói ra thì dài.

Buổi chiều, hội thảo bắt đầu chia các phiên họp riêng theo lĩnh vực. Tôi ngồi ở phòng hội thảo về phúc lợi trẻ em và gia đình. Có hai giáo sư – một của Trung Quốc, một của Hồng Kông – trình bày về hai vấn đề gần nhau nhưng không trùng nhau là “child abuse” và “child victimization”. Người thứ nhất là một giáo sư trong biên chế của nền giáo dục TQ và người này nói rằng tỷ lệ child abuse ở TQ là 5%; người thứ hai làm một nghiên cứu độc lập theo lối phương Tây và kết luận rằng child maltreatment ở TQ lên tới 28%, riêng sexual victimization là 8%. Hai báo cáo hoàn toàn không liên quan và khi tôi hỏi họ về sự bất đồng các con số và cách họ đo “child abuse” trong cái báo cáo thứ nhất thì câu trả lời đưa ra không nêu rõ nguồn số liệu và cách đo. Tôi rất tò mò muốn biết là TQ đã làm một điều tra toàn quốc nào về vấn đề này chưa, nhất là với lạm dụng tình dục trẻ em. Việt Nam cũng chưa có con số thống kê chính thức về các vấn đề này, nhất là đối với lạm dụng tình dục. Bản thân diễn ngôn về các vấn đề này cũng đang trong giai đoạn hình thành và xã hội hóa (đây đủ là một đề tài khoa học hết sức hay).

Có một bài trình bày đáng chú ý là bài của nhóm tác giả ở ĐH North Carolina về việc ứng dụng một mô hình đào tạo các kỹ năng xã hội-tình cảm cho trẻ em Mỹ vào Trung Quốc. Một bài khác nói về kỹ năng phỏng vấn trẻ em từng bị lạm dụng tình dục. Đối với VN bây giờ, đào tạo kỹ năng và thực hành có lẽ là điều cần hơn cả. Triết lý, lí luận thì người VN có lẽ còn giỏi hơn người các nước; chúng ta phê chuẩn và có đủ loại văn bản đảm bảo phúc lợi trẻ em và gia đình nhưng việc thực hành thì hầu như rất yếu bởi vì thiếu kỹ năng. Tôi nghĩ từ lâu, nếu về nông thôn giảng giải cho người dân về việc không được bạo hành gia đình thì còn lâu mới giải quyết được vấn đề; nhưng nếu dạy cho phụ nữ các kỹ năng đối phó với cơn giận của chồng, hoặc dạy các ông chồng cách quản lý cơn giận, vv… thì có thể xoay chuyển tình thế tốt hơn. Hiện tại, theo các thống kê khác nhau, cứ 2 đến 3 người phụ nữ VN thì có 1 người từng chịu bạo hành gia đình trong cuộc đời họ – bao gồm cả bạo hành thể chất và tinh thần.

Buổi tối có chiêu đãi ở một nhà hàng. Có mấy phòng ăn khác nhau và người nước ngoài nói chung ngồi với người nước ngoài, người TQ ngồi với người TQ, cán bộ to ngồi với nhau, và sinh viên ngồi với sinh viên. Sau một hồi, tôi thấy các lãnh đạo TQ, được tháp tùng bởi cấp dưới, cũng lần lượt đi từng bàn chúc rượu, và uống hết chén này tới chén khác, mặt mũi đỏ văng và có người ngà ngà say. Không khác gì Việt Nam.

Trong ngày hôm nay, cái ý nghĩ lớn nhất của tôi – và không phải một ý nghĩ vui vẻ gì – là sự giống nhau quá mức giữa văn hóa Việt Nam và văn hóa Trung Quốc. Ngoại trừ ngôn ngữ, cách chúng ta ăn mặc, hành xử, suy nghĩ, vv… quá giống người TQ (hoặc là người TQ quá giống ta?). Điều này bản thân nó không phải là một điều xấu tự thân nếu những cái giống đó là những mẫu số chung của một đời sống con người tối ưu; nhưng ở đây có vẻ không phải như vậy. Tôi chưa có thời gian nghĩ kỹ về vấn đề này, chỉ cảm thấy nó hết sức không ổn. Nếu như VN, với tư cách là một dân tộc, muốn có một vị trí và bộ mặt riêng biệt trên thế giới, thì chúng ta phải “thoát TQ” một cách triệt để. Nó không khác gì, làm người phải có tính cách riêng, nhân cách riêng, suy nghĩ riêng; không nên là bản sao bất tự giác của ai khác.

(những ghi chép trên đều là ghi nháp trong ngày)

Hồng Lỗi, phát ngôn nhân bộ ngoại giao TQ nói gì?

8 phản hồi

Nguyên văn:

问:有报道称,近日越南发生大规模游行,抗议中国在南海的举动。中方对此有何评论?

答:中国对南海诸岛及其附近海域拥有无可争辩的主权。中越双方就妥善处理海上问题,维护南海稳定多次达成重要共识。希望越方为落实有关共识做出切实努力。

Tạm dịch:

Hỏi: Có tin rằng, vừa rồi tại Việt Nam diễn ra cuộc tuần hành lớn phản đối động thái của Trung Quốc trên Biển Nam Hải, ông có bình luận gì vế vấn đề này?

Đáp:  Chủ quyền của Trung Quốc đối với các đảo ở Nam Hải và vùng biển phụ cận là không thể tranh cãi. Hai phía Trung Việt nên xử lý vấn đề trên biển hợp lý, giữ gìn cho Nam Hải ổn định là điều chính yếu. Hy vọng phía Việt Nam sẽ nỗ lực thực hiện điều chính yếu ấy.

Một hành động không thể bào chữa

19 phản hồi

Chắc ai cũng rõ tôi nói về việc đoàn tàu Hải Giám của Trung Quốc cắt cáp khảo sát dầu khí Việt Nam trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam, ngày 26/5/2011. Đây là một hành động đơn phương hết sức nguy hiểm cho an ninh khu vực, cho sinh mệnh và đời sống hàng tỉ con người, từ đại bộ phận nhân dân Trung Quốc yêu chuộng hòa bình đến nhân dân Asean hiền hòa.

Uất ức, căm phẫn là những gì đang trào ra trên màn hình máy tính của những cư dân mạng Việt Nam. Mong sao tình cảm ấy được “quản lý” bởi những khối óc tỉnh táo. Thật vậy, cần phân biệt rõ ràng người dân trên khắp địa cầu này ai cũng yêu chuộng hòa bình, người dân Trung Quốc không bao giờ là ngoại lệ. Trong mỗi chính phủ, luôn tồn tại mâu thuẫn giữa hai khuynh hướng “bồ câu” và “diều hâu”. Không gì dại dột hơn bằng cách qua sự kiện này kết tội tuốt tuồn tuột, từ nhân dân Trung Quốc đến văn hóa và toàn bộ nền chính trị Trung Quốc.

Nếu cụ Hồ đã làm như vậy với người Mỹ, với nền chính trị Mỹ trong thập kỷ 60 thì đất nước Việt Nam có lẽ đã không vượt qua được cuộc chiến tranh khốc liệt 1965 – 1975.

Một khía cạnh khác, không ít cư dân mạng đang ra sức rủa xả chính phủ Việt Nam với những ngôn từ tệ hại nhất. Vấn nạn ở đây là kẻ biết thì không nói và kẻ nói đa số không biết. Điều này rất dễ dẫn đến hiệu ứng đám đông phản ứng vô tri dưới sự thao túng của những âm mưu chính trị bẩn thỉu. Hãy đặt câu hỏi người dân Việt Nam sẽ khốn đốn thế nào nếu chiến tranh xảy ra, ai là kẻ đang mơ ước hưởng lợi trên xương máu đồng bào mình, chúng ta sẽ có ngay câu trả lời.

Nếu các bạn cũng như tôi, là một người đi biển từng gắn bó nhiều năm với biển Đông, bạn sẽ kết luận ngược lại với dư luận hiện nay trên mạng. Nghĩa là chính phủ Việt Nam ngày càng mạnh mẽ hơn, kiên quyết hơn. Ít ai biết rằng từ những năm 1990 trở đi, hoạt động trên biển của tàu thuyền Việt Nam thỉnh thoảng vẫn va chạm với tàu chiến Trung Quốc. Có lần ở ngay cửa vịnh Bắc Bộ tàu hàng Việt Nam đã bị đại liên bắn xối xả lên cabin vì đi quá gần nơi dầu khí Trung Quốc đang tác nghiệp. Còn chuyện các tàu phục vụ khai thác dầu Việt Nam chạm trán với các tàu tuần tra Trung Quốc thì có thể so sánh như cơm bữa. Người dân không biết. Báo chí im lặng. Chính phủ hoặc cố nín nhịn hoặc tìm chưa ra cách giải quyết vấn đề. Những câu chuyện chỉ truyền miệng nhau trong giới, nhiều khi tắc nghẹn vì bức xúc.

Chỉ có nhìn nhận sự việc một cách thấu đáo, biện chứng và đầy đủ thông tin như vậy mới hiểu rằng phản ứng tức thời và đồng bộ của truyền thông Việt Nam sau hành động ngang ngược của ba tàu Hải Giám Trung Quốc là một trang mới, hướng đi mới của chính phủ Việt Nam đối với Trung Quốc trong vấn đề biển Đông.

Cá nhân tôi luôn tin tưởng chính phủ Việt Nam biết cách hành xử để vừa đảm bảo bình yên cho nhân dân, vừa giữ được sự toàn vẹn lãnh thổ. Tôi hy vọng đó cũng là khát khao lớn nhất của nhân dân Việt Nam hiện nay.

Dùng thương thảo giải quyết bất đồng

Để lại phản hồi

* Phóng viên: Xin ông cho biết nhận định của mình về sự vi phạm của tàu Trung Quốc trong thời gian qua.
– Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên: Tôi đã gần 90 tuổi, kinh qua 3 cuộc chiến tranh của dân tộc dài hơn 30 năm, cùng với quân đội và nhân dân đã giành đến thắng lợi cuối cùng. Bất cứ một cuộc chiến tranh nào đều không phải là nguyện vọng lớn của nhân dân Việt Nam cũng như mọi dân tộc khác trên thế giới. Sự kiện tàu hải giám Trung Quốc tấn công tàu thăm dò địa chấn của Việt Nam vừa rồi trên vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam đã từng xảy ra nhiều lần. Theo tôi, đây là chuyện xảy ra giữa hai nước láng giềng anh em, hai nước xã hội chủ nghĩa, hai nước do Đảng Cộng sản lãnh đạo làm tôi rất trăn trở. Tôi cho rằng, để giải quyết mâu thuẫn này nên theo cách “lấy nước chữa lửa” mà không nên “dùng lửa chữa lửa”. Tôi chân thành đề nghị Đảng ta và đảng bạn nên thông qua việc lãnh đạo cấp cao hai bên ngồi lại thảo luận nhiều ngày, nhiều tháng, nhiều năm cũng được và lấy việc thương thảo kiên trì để giải quyết bất đồng. Nếu ai đó muốn sử dụng cách gì khác thì trong lịch sử đã chứng minh, không nên vấp lại những chứng minh không hay trong lịch sử.

* Trong trường hợp Trung Quốc vẫn leo thang hành động trên thì sẽ làm như thế nào?

– Đấy là ý muốn của một phía, còn phía Việt Nam phải có cách tính chủ động, độc lập của mình. Theo tư tưởng của Bác Hồ thì không có gì tốt bằng con đường giải quyết vấn đề tranh chấp một cách hòa bình, có lý, có tình, cuối cùng vẫn đi đến thành công. Họ leo lên đường này, ta sẽ theo đường khác vì còn có pháp luật quốc tế, dư luận quốc tế. Nhưng trên hết luật lệ là tình người, là tình hữu nghị hai nước.

* Như vậy, Trung Quốc làm gì thì còn phải nhìn vào mối quan hệ, tình hữu nghị hai nước được xây đắp từ nhiều năm nay?

 – Đúng là như vậy. Quan hệ hữu nghị là cao nhất, trong khi hai nước là láng giềng, nên tìm cách giải quyết những vấn đề chung. Nếu tình hình xấu đi, cả Việt Nam và Trung Quốc cũng đều không hay cả. Cần phải nhớ rằng tình hình thế giới hiện nay rất phức tạp cả về môi trường, kinh tế, chính trị và quân sự. Nhưng chúng ta cần phải đứng trên các vấn đề này để giải quyết mâu thuẫn.

* Việc ôn hòa, dùng “nước chữa lửa” theo truyền thống nhân văn, yêu chuộng hòa bình của Việt Nam xem ra chưa phải bài thuốc hữu hiệu, thưa ông?

– Đến tuổi này thì tôi vẫn thấy nhân đạo là vấn đề lớn nhất, hòa bình là quan trọng nhất. Vì thế, điều quan trọng nhất hiện nay là hai nước cần ngồi vào bàn thương lượng. Không phải vì Việt Nam sợ yếu, hay kém mà là Việt Nam yêu chuộng hòa bình, nhân đạo, Việt Nam cũng không phải một đất nước hiếu chiến. Việc lấy mạnh đè yếu không phải lúc nào cũng thắng. Thậm chí có lấy giàu, lấy mạnh để đè yếu nếu có thắng thì cũng không có gì vinh quang cả. Nhưng tôi có thể kết luận việc lấy mạnh lấn yếu kết quả đều vấp thất bại vì không có chính nghĩa. Chính nghĩa là sức mạnh dân tộc, chính nghĩa là sự ủng hộ rộng rãi của nhân loại. Nếu vi phạm điều này là có tính chất vi phạm cả chiều rộng lẫn chiều sâu. Chính nghĩa quyết định việc thắng hay bại.

Việt Nam yêu cầu Trung Quốc chấm dứt xâm phạm chủ quyền

Ngày 2-6, đại diện Bộ Ngoại giao Việt Nam đã trao công hàm cho đại diện Đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội phản đối việc lực lượng hải quân Trung Quốc dùng súng uy hiếp ngư dân Việt Nam trong khi họ đang hoạt động nghề cá tại vùng biển thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam, đồng thời nhấn mạnh hành động trên đã xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền và quyền chủ quyền của Việt Nam, không phù hợp với Tuyên bố chung về ứng xử của các bên liên quan ở biển Đông (DOC). Việt Nam yêu cầu phía Trung Quốc chấm dứt ngay các hành động xâm phạm chủ quyền của Việt Nam và cản trở tàu cá lẫn ngư dân Việt Nam hoạt động tại khu vực này.

P.Hồ