Nguyễn Khôi: Cách dùng họ và tên của các dân tộc Việt Nam

3 Comments

 

LỜI DẪN :
Nguyễn Khôi vừa cho phát hành cuốn Các Dân Tộc Ở Việt Nam Cách Dùng Họ Và Đặt Tên , Nhà Xuất Bản Văn Hoá Dân Tộc, Hà Nội – 2006 . Cách dùng họ và đặt tên của Việt nam rất độc đáo , nó mang đặc sắc văn hoá Việt Nam qua hàng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước.
Chúng tôi xin trích giới thiệu 6 bài trên 54 bài về giải mã họ và tên 54 tộc người ở Việt nam.

1. Ê Đê
2. Chăm
3. Thái
4. Mường
5. Mông
6. Khơ Me

BÀI THỨ NHẤT – DÂN TỘC ÊĐÊ 
Ê Đê có nghĩa là người sống trong rừng tre . Dân tộc Ê Đê có trên 270 nghìn người , cư trú tập trung ở Đắc Lắc , Gia Lai, Khánh Hoà và Phú Yên.
Các nhóm địa phương gồm : Rađe Đe, Kpa, Adham, Krung, Ktul, Đlie, HrueBlô, Epan, Mdhuna,Bih. Về kinh tế đồng bào này làm nương rẫy , nhóm Bih làm ruộng nước dùng trâu giẫm đất thay cho cày cuốc , ngoài ra là chăn nuôi, săn bắn , dệt…

Tổ chức đời sống chặt chẽ. Làng gọi là ” Buôn” , các địa danh gọi tên rất gợi như ” Buôn chư mơ ga ” 9 nghĩa là làng núi lửa., Sông Đực, Sông Cái , Sông Tóc… Gia đình theo mẫu hệ, chủ nhà là phụ nữ . Con cái mang họ mẹ , con trai không được hưởng thừa kế. đàn ông ở nhà vợ. Nếu vợ chết mà bên nhà vợ không còn ai thay thế thì người chồng phải về ở với chị em gái mình. Nếu chết , được chôn bên người thân của mẹ đẻ.

Nhà ở của người Êđê là nhà sàn và nhà sài. Trang phục màu chàm có điểm các hoa văn sặc sỡ . đàn bà mặc váy áo , đàn ông đóng khố mặc áo . Ngày xa có tục cà 6 răng cửa hàm trên. Người Êđê rất thích uống rượu cần , đặc biệt là vào các dịp lễ tết. Về tín ngưỡng , thờ nhiều thần linh. Người Êđê có kho tàng văn hoá đồ sộ to lớn như các sử thi ” Khan Đam San ” , cồng chiêng cũng rất nổi tiếng , đã được Unesco công nhận là văn hoá phi vật thể của nhân loại. 

Người Êđê có Lễ đặt tên. Khi đứa trẻ sinh ra trong vòng một tháng , gia đình sửa soạn đồ cúng để làm lễ đặt tên cho trẻ.Thầy cúng hướng dẫn gia đình chuẩn bị lễ vật . Họ quan niệm : Khi mới sinh ra , con người cha có hồn , nên lúc đặt tên là lúc nhập hồn cho đứa trẻ . Gia đình sẽ chọn rất nhiều tên trong dòng tộc của ông bà nội ngoại , tên những người tài giỏi , có uy tín được lấy để đặt tên cho đứa trẻ. Ý nghĩa việc này là mong trẻ mới sinh ra được nhập hồn của một trong những người tài giỏi của dòng họ. Muốn làm được như thế , người trong nhà khi đi mời thày cúng sẽ nói trước với thày cúng những tên dự kiến đó để thày cũng nhập tâm . Lễ vật cho lễ đặt tên thường là một con gà , một ché rượu . Lễ được tổ chức vào đêm khuya, khoảng 11-12 giờ đêm., khi cả buôn đã đi ngủ thì bắt đầu làm lễ . Ché rượu được đặt vào cột chính gian trước , lễ vật đặt phía đông. Thày cúng ngồi đối diện với ché rượu , quay mặt về phía đông để cúng.
Thầy khấn: ” Ơ Yàng , hiện giờ gia đình đã dâng lên một con gà , một chén rượu để làm lễ đặt tên cho con. Mời tất cả các Yàng về uống rượu , ăn thịt , giúp đỡ cho trẻ ăn no , chóng khoẻ, không khóc. Mời các ông , các bà trong dòng tộc của gia đình : Mảng , Ma Choá , Mí Thơ, Mí Thơm, Ma Đam … về ăn thịt, uống rượu , giúp đỡ cho trẻ lớn… “. Thày cúng khấn đến tên nào, đứa trẻ không thấy khóc lại tỏ ý thích thúc (vui) thì gia đình sẽ lấy tên đó để đặt tên cho trẻ. Khi cúng xong , cả gia đình và thày cũng sẽ ăn cơm , ăn thịt gà , uống rượu . Sau khi ăn uống xong thì toàn bộ xương , lòng , lông gà , cơm dư thừa sẽ được gói lại cẩn thận, ché rượu úp xuống , bỏ lại gian khách (tiếng ÊĐê là Gah) của gia đình đúng 3 ngày . Sở dĩ làm thế , bởi người Êđe quan niệm rằng con người khi mới sinh còn rất yếu ớt, mới được nhập hồn người chết còn rất mỏng , nên phải giữ tất cả những lễ vật đã cúng đúng 3 ngày rồi mới mang đi thả xuống suối. Khi đó hồn mớí nhập hoàn toàn vào trẻ mới sinh.

Các họ của người Êđê : 

Adrâng, Ayun, Ayun C, Ayun Tul H, Wing Atul, Atul Buon Yah, Buon Krong , Duot, Eban, Eban Rah Lan, Eman, Emo, Enoul, Hđok, Hrue, Hmok, Hwing, Jdrong, Ktub, Kebour, Knul, Kpa, Kpor, Ksor, Ktla, Ktul, Mjao, Mlo, Mlo Duon Du , Mlo Hut, Mlo Ksei, Nie Blo, Nie Buon Dap, Nie Buon Rit, Nie Cam , Nie Mkriek, Nie Mla, Nie Mlo, Nie Sieng, Nie Sor , Nie Sok , Nie To, Nie Trang …

Xin có ví dụ : 

. Nam : Y Ngong Nie Dam ( 4 chữ này có nghĩa là Trai-Tên-Họ – Chi họ)
. Nữ : Hlinh Mlo Duon Du ( 4 chữ này có nghĩa là Gái- Tên-Họ- Chi họ) 

Người Êđê xưng hô : Khi vợ chồng có con thì gọi theo tên con . Tục này có ở nhiều dân tộc , kể cả người Kinh , ví ma Thuột có nghĩa là Bố thằng Thuột. Chính về thế mới có tên ” Buôn Ma Thuột ) tức là làng bố thằng Thuột , nên nay có thành phố Buôn Ma Thuột . Còn nếu gọi Ban mê Thuột là gọi theo tiếng Lào có nghĩa là mẹ thằng Thuột. 
Như vậy dùng tên con để gọi bố mẹ . Thật là độc đáo bản sắc văn hoá Việt nam ./. 

BÀI THỨ HAI – DÂN TỘC CHĂM 
Dân tộc Chăm có trên 132 nghìn người. Sống ở Ninh Thuận ( 50%), Bình Thuận, An Giang, Đồng Nai , Sài Gòn, . Người Chăm là cư dân bản địa lâu đời. 
Đồng bào trồng lúa nước thâm canh có trình độ cao. Các nghề thủ công như đồ gốm , dệt thổ cẩm rất nổi tiếng. Người Chăm theo chế độ mẫu hệ . Mỗi làng có từ 1000 đến 8000 người. 
Văn hoá nghệ thuật rất phong phú với các sử thi, lễ hội, mua hát , ca nhạc… Tháp Chăm là công trình thờ cúng đặc sắc của người Chăm.

Cũng như địa danh làng Palei Chăm , tên người của dân tộc Chăm thường có hai (2) tên : tên khai sinh theo hộ khẩu tương tự như người Kinh và tân dân tộc .
Các họ Chăm : Bá, Bạch , Báo, Bố, Chế, Dương, Đàng, Đạo, Đạt ,Đổng, Fatimah, Hàm , Hán, Hứa, Kiêu, La, Lâm,Lộ, Lu, Ma, Mohâmch, Miêu, Nại , Não, Nguyễn, Ông (ôn), Phú, Qua, Quảng Đại, Samách, Tài , Từ, Thanh, Thập, Thị (nữ), Thiên Sanh, Thiết, Thổ, Trà , Trương, Trượng , Văn.
Ví dụ Tên thường gọi là Phú Trạm (tên dân tộc là Inrasa), Chế Bồng Nga (Ceibingu), Chế Mân (SimhavarmanIII), Phạm Phật (Bhadravarman).
. Nam: Ka Sô Liêng (Họ- Lót – Tên)
. Nữ : Sô Mơ Đinh .
Theo nhà thơ Inrasara thì : Họ ngày xưa của các vua Chăm Pa gồm có :
. Inđra/Indravarzman
. Jaya/Jờyinhavarma
. Cri/Cri Satyavirman
. Maha/MahaVijaya
. Rudra/Rudrravarman…

Ngày nay các họ này vẫn còn được một số người sử dụng :

. Inra/Patra (là biến thái của inđra)
. JayaMrang
. JayaPanrang
. Inrasara (Inra là sấm , Sara là muối)
. Puđradang
Các họ này được phiên âm ra tiếng hán là Chế (Cri) như Chế Mân , Chế Củ, Chế Bồng Nga, Chế Linh , Chế Lan Viên…
. Họ Ong (hay Ông) như: Ông ích Khiêm,Ông Văn Tùng … 
. Họ Ma có lẽ phiên âm từ chữ Maha.
. Họ Trà (có lẽ từ Jaya)

Bốn họ Ông, Ma , Trà, Chế xưa kia là họ Vua.

Họ người Chăm bình dân : ở người Chăm thường thì cứ Ja (Nam) hay M (nữ) được đặt trước tên để phân biệt giới tính, nó như Văn nam Thị nữ của người Kinh , thời xa coi đó là họ ?
Gần đây có khuynh hướng đặt tên cho mình như thế , ví dụ Lờy “nó” làm bút danh như Jantâhrei (nhà nghiên cứu Thiên Sanh Cảnh), Talau (Nhà thơ Trương Văn Lỗu) được coi là đẹp và sang.
Họ người Chăm theo dòng tộc: Như trên đã trình bày , trước đây người Chăm không có họ như kiểu người Kinh như Trần , Nguyễn , Phạm , Lê…, mà người Chăm chỉ có chữ Ja hoặc M (Mng) đặt trước tên mình để phân biệt nam nữ, ví dụ Ja Phôi, Ja Ka (Nam) M Ehava, Mng Thang Ôn (nữ) , giống như Văn Thị của người Kinh .

Người Chăm chỉ có hoàng tộc mới có họ : Ôn, Trà , Ma, Chế . Quan lại thường đựoc gọi bằng chức như Po Klăn Thu (ngài Trấn thủ) , Pô Phok Thăk (ngài phó trấn thủ tên Thak hoặc như Đwai Kabait (ông đội Kabait).
Cũng có dòng họ đặt theo tên vua : họ Po Rome, họ Po Gihlw hoặc đặt theo tên lòai cây trụ trong kut chính , họ Ga dak, họ Mul Pui , nhưng không dùng họ này đặt tên riêng.

Họ và tên còn đặt theo tôn giáo ( Islam) :Thường do sự tiên đoán tương lai của đứa con mà người cha chọn 1 trong 25 vị thánh đặt tên :

. Con trai là Ali, Ibrohim, Mousa, Ysa…
. Con gái là : Fatima,Khođijah,Maryam… 

Cách đặt tên theo giấy khai sinh :
Vào đời vua Minh Mạng ( 1820-1840) , năm thứ 14 , nhà vua ban cho người Chăm các họ theo phong tục Việt Nam :

. Bá
. Đàng
. Hứa
. Lưu
. Lựu
. Hán
. Lộ
. Mà
. Châu
. Nguỵ
. Tử
. Tạ
. Thiên
. Uc
. Vạn
. Lâm
. Hải
. Báo
. Cây
. Dương
. Quảng
. Qua
. Tưởng
. L… 

Số người có công với triều đình được mang họ Nguyễn . 

Như vậy có sự giao lưu văn hoá Kinh – Chăm , nhưng nét đặc sắc của văn hoá Chăm là Họ tộc Chăm là theo Mẫu Hệ , ví dụ Nguyễn Văn Tỷ (khai sinh) , họ mẹ là Po Đăm hoặc Phú Trạm (khai sinh) , họ mẹ là Inrasara ./. 

BÀI THỨ BA – DÂN TỘC THÁI 
Dân tộc Thái có trên 1,32 triệu người, cư trú ở các tỉnh Tây Bắc, Hoà Bình, Thanh Hoá và Nghệ An.
Người Thái có nhiều họ khác nhau. Họ Lò không ăn thịt chim Táng Lò ( vật tổ). Họ Quang kiêng ăn thịt hổ…
Đồng bào Thái thờ cúng tổ tiên , trời , đất, cúng bản Mường , không theo tôn giáo nào.
Văn hoá nghệ thuật Thái rất độc đáo rạng rỡ với nghệ thuật ” Múa Xoè”, ” Múa Nón” , Khèn Thái, Pí Pặp, Quăm Khắp (Hát).
Các tác phẩm truyện thơ nổi tiếng như “Sống Trụ Son Sao ” (Tiếng dặn người yêu – như Truyện Kiều) mà Nguyễn Khôi đã chuyển dịch rất thành công sang thơ Song thất lục bát , tái bản nhiều lần ), Khun Lua – Nàng ủa , Em bé – Nàng Hổ ( như Tấm Cám của người Kinh .
Lối hát giao duyên ” Hạn Khuống” ( như Quan họ Bắc Ninh ) , rất hấp dẫn.
Nhìn chung người Thái là dân tộc phát triển trồng lúa nước , dệt thổ cẩm, làm được súng săn…
Thường được goi là ” người Kinh ” ở miền Núi.Có rất nhiều nhà hoạt động chính trị , tướng tá , văn nghệ sỹ khá nổi tiếng.
Người Thái có các họ : Bạc , Bế, Bua, Bun, Cà, cầm, Chẩu , Chiêu, Đèo , Hoàng, Khằm , Leo, Lỡo, Lềm, Lý, Lò, Lô, La, Lộc , Lự, Lường, Mang, Mè, Nam, Nông , Ngần , Ngu , Nho, Nhọt, Panh, Pha, Phia, Quàng, Sầm, Tụ, Tày, Tao, Tạo, Tòng, Vang, Vì, , Sa, Xin, .
12 họ gốc là Lò, Lường, Quàng, Tòng, Cà, Lỡo, Mè, Lù, Lềm, Ngần, Nông.
Người Thái có một số dòng họ quý tộc ( thường là các họ lớn ) tuỳ theo từng nơi đó là Cầm, Bạc, Xa, Đèo,Hà, Sầm, Lò…
Các tên khác của một số họ :
Họ Lò còn gọi là Lô, La, sau còn đổi là Cầm, Bạc, Điêu (Đèo), Tao (Đào), Hoàng , Lò Cầm (Lò Vàng) , Lò Luông (Lò Lớn).
Họ Lường còn gọi là họ Lương
Họ Quàng còn gọi là họ Hoàng, Vàng.
Cà còn gọi là Sa , Hà , Mào .
Vi còn gọi là Vi, Sa.
Lêm còn gọi là Lâm , Lim.
Ngành Thái đen còn có các họ Cầm , Bạc thường hay giữ các chức vị Chảu Mường . 
Ngành Thái trắng thường là các họ Đèo Lò làm Chảu Mường 
Các tên thường gặp , ví dụ như : 
Lò Văn Muôn (vui) 
Lò Văn ứt (đói) 
Hoàng Nó (vua măng). 
Xưng hô hàng ngày của người Thái thường không gọi tên tục của nhau Thưòng là hai ngưôi ” Cu-mưng ( như ủa- nỉ của Tàu, Toa- moa của Pháp , hiểu đơn giản như Tao-Mày – tôi- anh (chị). 
Thường gọi ” dựa ” con : Đàn ông là ải nọ… , ải kia… , người tôn trọng nhất gọi là “ải ộ”, anh là “ải luông”, bác là “ải lung” rồi ” ải thẩu”; đàn bà là Êm (ếm) nọ …, Êm kia , già nhất là Êm thẩu. 
Các vị chức sắc xưa thì gọi là Tạo nọ , Tạo kia hay Phìa nọ , Phìâ kia ( con cháu những người này cũng được tôn trọng gọi là Tạo con…, Nàng… già là bà Nàng…) 
Sau năm 1945 bà con dân tộc được đổi tên mới , đặt tên không theo truyền thống mà phù hợp với đời sống văn minh hiện đại.Ví dụ nhà văn nhà thơ lấy bút danh như Tòng ín là Ban Pún (Hoa ban nở). 
Dân tộc Thái có Huyền thoại về dòng Họ : Sau nạn hồng thuỷ , chỉ còn sống sót một cặp vợ chồng. Người vợ có một thỏi đồng liền đem ra nấu và đúc thành dụng cụ. Quá trình đúc đồng được chia làm mấy giai đoạn như : lúc đầu làm đồng nguyên , sau nấu gọi là lô, muốn tăng sức nóng thì phải quạt , rồi đảo quấy đều , sau đó thành nước loãng , đem luyện lại , tô luyện thành công cụ rắn chắc . 
Vì vậy khi sinh con , họ đặt cho con đầu lòng mang họ Tông (đồng), con thứ hai là Ló nay gọi là Lò (lô), con thứ ba họ Ví ( quạt) , con thứ tư họ Quá( quàng) , con thứ năm họ Đèo( đồng thành nước), con thứ sáu họ Liếng ( đã luyện ) nay gọi chệch là Lường , con thứ bày họ Cả ( tôi luyên rắn thành công cụ ) , nay gọi là Cà. 
Quá trình phân hoá giàu nghèo nên các họ trên đều có ngày giỗ riêng . 
Đến nay tên đệm Văn cho Nam và Thị cho Nữ khá phổ biến như người Kinh. 
Theo nghiên cứu của chúng tôi thì nét đắc sắc văn hoá dùng họ và đặt tên có thể thấy ở Thanh Hoá, Nghệ An và Lai Châu . 
Người Thái Trắng ở Lai Châu rất chú trọng lễ đặt tên cho con. Đồng bào cho rằng: Trẻ con mới sinh do vía yếu , không muốn người lạ lên nhà người ta gài vào đầu cầu thang một cành lá xanh và giắt tấm phên đan mắt cáo (Ta Leo). Đến ngày trẻ đầy tháng (Hết Hoóng) làm lễ cúng đầy tháng và cũng là lúc đặt tên cho trẻ . Cách đặt tên không trùng với tên gọi ông bà họ hàng nội ngoại là được. 
Ngườì Thái Nghệ an do Lê Thái Tổ cho di từ Thuận Châu vào Miền Tây Nghệ An. 
Người Thái ở Thanh Hoá có câu tục ngữ :” Người có họ , cây có vườn (con mi họ, co mi xuân). Người Thái gọi là ” Chao ” có nghĩa là nòi giống. 
Tại Tây Bắc họ Lường làm thày mo , họ Lò làm Tạo , nhưng ở Thanh Hoá thì họ Hà làm Tạo. 
Người Thái theo phụ quyền (huyết thống cha), ở Việt nam người Thái mang cả tên họ gốc và tên phiên âm sang tiếng Việt , ví dụ Chao Lộc là họ Lục. Đó cũng là nét văn hoá Thái trong cộng đồng 54 dân tộc Việt nam ./. 
BÀI THỨ TƯ – DÂN TỘC MƯỜNG 
Nguyễn Khôi ( Đình Bảng ) Cách dùng họ và đặt tên các dân tôc ở Việt Nam Dân tôc Mường Dân tôc Mường có trên 1,1 triệu người, chiếm hơn 1,5 % dân số Việt Nam 
Ngoài ra có các tên khác gọi : Mol, Mual, Mọi, Mọi bi, Au tá,. Tên Mường mới xuất hiện khoảng hơn một thế kỷ nay, để chỉ cộng đồng dân có nét tương đồng với người Kinh (Việt) sinh sống ở các bản Mường Hoà Bình,Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Sơn La,Thanh Hoá…”Mường” là một loại tổ chức hành chính cơ sở ở vùng núi , trở thành tên gọi của tộc người .Xét về nguồn gốc lịch sử , người Mường là người Việt cổ ( bản địa) từ 3000 năm trở về trước, từ sau thế kỷ 10 có sự cách biệt của nhóm người Việt ở đồng bằng với người ở miền núi nên dần dần có sự khác biệt thành người Kinh – người Mường.

Về kinh tế , đồng bào Mường trồng lúa nước là chính. Trên nương dẫy có ngô, khoai, sắn , đậu , đỗ. Một số nơi trồng tre, luồng, trẩu , gai, sở , đay, bông, quế, mía. Về chăn nuôi có trâu, bò,ngựa, lợn ,gà, ngựa, lợn, gà, vịt. Đồng bào có các nghề thủ công : dệt,đan lát, mộc… Ngoài ra còn thu hái các lâm thổ sản, săn bắt các lọai thú rừng để cải thiện bữa ăn hàng ngày .
.
Xã hội Mường Hoà Bình trước năm 1945 là một xã hội có đẳng cấp , trong đó mỗi con người được ” chính danh định phận “. Quý tộc gọi là Lang , bình dân gọi là Jan ( dan ) . Trong một mương ( Mường) gồm nhiều xóm , quý tộc thống trị đều là thành viên một dòng họ. Ví dụ dòng họ Bạch Công thống trị ở Mường Rếch ( 12 xóm ) . Con trai trưởng thống trị toàn bộ thung lũng 12 xóm gọi là Lang Cun ( cun ) . Lang Cun Mường Rếch là Cun Đếch ( Chiềng Rếch hay Cun Rếch là Cun Đếch ) Chiềng Rếch , tức là Chiềng của Mường Rếch). Các chi thứ chia nhau thống trị các xóm khác ở phạm vi ngoài Chiềng ( ý là trung tâm) . Đứng đầu xóm Đúp là con trai trưởng của một chi thứ của họ Bạch Công , đó là Lang Tạo ( Lang Đạo ) , nói rõ là Tao Tuúp ( Đạo Đúp , tức Lang Đạo xóm Đúp).
Nội bộ bình dân phân hoá thành từng lớp Âu. Người bình dân được cất nhắc vào bộ máy thống trị của Cun ở Chiềng hay Đạo ở xóm chức Âu, cao nhất là Âu Eng ( Âu anh) được ăn phần ruộng tốt nhất , chức nhỏ là Âu ún ( Âu em ) là tay chân cho Lang và các Âu anh sai phái.
Dưới Âu đến nóc dân thường được ăn ruộng công gọi là nhà nưóc , cấp thấp nhất là Noóc K,Loi (Nóc Trọi) sống bằng nước rẫy , đó là Tứa Roong , có ý khinh miệt..
Sau năm 1945 mọi người Mường đều được bình đẳng..
Gia đình Mường tổ chức theo mô hình gia đình nhỏ phụ quyền . Con trai là người được hưởng quyền thừa kế tài sản…

Dân tộc Mường theo hôn nhân một vợ một chồng bền vững , cư trú bên nhà chồng. Tục cưới xin giống người Kinh (chạm ngõ, ăn hỏi , xin cưới và đón dâu)..
Khi trong nhà có người sinh đẻ , đồng bào rào cầu thang chính bằng một phên nứa. Khi trẻ lớn một tuổi mới đặt tên..
Khi có người chết , tang lễ được theo nghi lễ nghiêm ngặt..
Tiếng Mường là một ngôn ngữ thống nhất , là hình ảnh của tiếng Việt ở giai đoạn tiếng Việt- Mường chung với đăc điểm chính là lưu giữ lại quá trình vô thanh hoá các phụ âm đầu. Ví dụ gà (Việt)/ ka (Mường), đi/ti, ba/pa….
Dân tộc Mường chưa có chữ viết riêng. Mo “đẻ đất đẻ nước” là tài liệu văn học dân gian có giá trị nhất trong kho tàng văn học dân gian dân tộc Mường..
Dàn cồng chiêng là nhạc cụ dân tộc đặc sắc nhất của dân tộc Mường. ở Phú Thọ còn dùng ống nứa gõ vào những tấm gỗ trên sàn nhà tạo thành những âm thanh để thưởng thức gọi là Đâm Đuổng.. 
Lễ sinh con; Ngày đứa trẻ ra đời cả gia đình mở tiệc ăn mừng , mời Mo đến cúng cho hai mẹ con khoẻ, bé ăn no chóng lớn . Cả gia đình vui như hội . Thời gian kiêng cữ từ 7-12 ngày . Con trai goi là Thóc giống (lọ me), con gái gọi là Rau cỏ (cách tắc) . Khi ở cữ , phụ sản phải qua tục Sưởi lửa . Bất kể mùa nào cũng phải ngồi bên bếp lửa , với ý là lưu thông khí huyết , ba ngày sau mới được lau tắm thân thể. Sau một tháng mới được ăn thịt gà (chỉ ăn đùi bóc sạch da) nướng với rau bệ. 
Ngay sau khi sinh đặt tên tạm , chờ đến đầy tuổi tôi (12 tháng) mới làm lễ đặt tên chính thức. Để cầu mong cho trẻ hay ăn chóng lớn người ta còn làm lễ cúng Mụ . Lễ vật gồm xôi, rượu , cá chép . Mâm cỗ đặt trên cửa sổ nhà sàn. Gia chủ cầu khấn mong cho đứa trẻ “thốt như cách, mách như đác” nghĩa là :” Tốt như ót , mát như nước”. 
Khi đứa trẻ lọt lòng mẹ , người Mường ở Vĩnh Phúc đặt đứa trẻ trên cái Cúm (mẹt to) có lót lá chuối rừng đã được nướng mềm . Người mẹ nằm ngay bên cạnh con. Nếu là con gái thì lấy cái hông nồi xôi bằng gỗ khoét rỗng (chõ) đập nhẹ xuống sàn , nếu là con trai thì lấy cái chài cũ , đập nhẹ xuống sàn , miệng nói: ” hỡi con trai dậy mà ti chài ti lứa. Hỡi con tứa dậy mà tháo thơ tháo thằm “, đại ý là : “Hỡi con trai dậy mà đi kéo chài, đánh lưới. Hỡi con gái dậy mà kéo tơ, kéo tằm”. Gọi và đập như vậy ba lần chờ đứa bé khóc to mới bế lên quấn tã lót. Ba tháng sau mới làm lễ Vía cho bé. 

Người Mường có họ tên như người Kinh . Do xưa kia, hình thái tổ chức xã hội đặc thù của người Mường là chế độ Lang đạo, các dòng họ Lang đạo (Đinh , Quách, Bạch, Hà) chia nhau cai quản các vùng. Đứng đầu mỗi Mường có Lang Cun , dưới Lang Cun có các Lang Xóm hoặc Đạo Xóm cai quản một xóm. Ngoài bốn họ trên còn có một số họ tiêu biểu như Bùi , Hoàng , Lê, Phạm, Trịnh, Xa, họ Phùng …
Ví dụ như
Đinh Công Vợi, Quách Tất Công, 
Bùi Thị Phệu, Phùng Thị Lợi , 
Hà Công Rộng , Bạch Thành Phong , Bùi Văn Kín./. 

BÀI THỨ NĂM – DÂN TỘC MÔNG 
Dân tộc Mông có trên 784 nghìn người. cư- trú tập trung ở các tỉnh Hà Giang , Lào Cai, Tuyên Quang, Yên Bái,Lai Châu , Sơn La, Cao Bằng , Nghệ An… 
Còn có tên là Mông roi ( Mèo Trắng ) , Mông Lềnh ( Mèo hoa), Mông roi ( Mèo đỏ), Mông đú( Mèo đen) , Mông súa ( Mông mán). Mông có nghĩa Người. 
Dân tộc Mông có bản sắc văn hoá rất độc đáo. Gốc gác ở vùng Quý Châu Trung Quốc , gọi là Miêu Tộc (miêu gồm bộ thảo và chữ điền nghĩa là mạ , là mầm , là dáng diệu xinh đẹp , một tộc người biết trồng lúa từ xa xưa). Do bị phong kiến Hán tộc tàn sát nên di cư- xuống Việt nam… , tên đồng bào tự gọi nhau là H’Mông, có nghiã là Người. 
Từ trước đến nay , các nhà ngôn ngữ học Trung Quốc vẫn kiên trì coi ngôn ngữ nhóm H’Mông – Dao thuộc ngôn ngữ Hán Tạng. 
Người H’Mông , có người nghiên cứu tìm ra có nhiều cái nhất: 
Ngôn ngữ có nhiều thanh nhất 8 thanh chia thành nhiều âm vực ; Vốn từ láy dồi dào . 
Hệ thống âm đầu rất phong phú có từ 51-57 phụ âm đầu ; Âm nhạc H’Mông có tiếng Sáo , Khèn Mèo, đàn môi nổi bật gai điệu ở dạng gãy khúc “nhâp nhô” như- đỉnh non cao mà họ cư- trú . 
Ngoài ra còn có Gạo Mèo, Rượu Mèo, Táo Mèo là ngon nhất; Lợn Mèo , bò Mèo là to nhất ; Cày Mèo, cối xay Mèo bằng đá độc đáo bền nhất, ruộng bậc thang với hệ thống tới tiêu ở lưng chừng núi tuyệt vời nhất; Váy Mèo, áo Mèo sặc sỡ đẹp nhất ; Múa Mèo , hát Mèo vào loại hay nhất; Súng Mèo tự tạo , dao Mèo tốt sắc nhát; Đi bộ leo dốc giỏi nhất; Dũng cảm , vượt gian khó , hiên ngang nhất . 
Tại Việt nam cùng thời với Hoàng Hoa Thám đánh Pháp người H’Mông cũng có Giàng Chỉn Hùng ( Bắc Hà ) Thảo Nủ Đa ( Mù Cang Chải ) Giàng Tả Chay ( Tây Bắc) . Sau nay có Vừ A Dính( Tuần Giáo ) – Kim Đồng ( Cao Bằng ). Nhân vật lịch sử Vua Mèo Vàng Chí Sình ( Bắc Hà ) sau cũng theo Việt Minh đánh Pháp. Thời nay có nhiều người H’Mông học tới Cử nhân , Tiến sỹ , ví dụ Tiến sỹ Thào Xuân Sùng , bí thư tỉnh uỷ Sơn la. 
Về văn học có “Tiếng hát làm dâu” “Tiếng hát mồ côi” nói lên thân phận con người thật là thống thiết , dù ai “cứng lòng” mà đọc cũng phải rư rưng nước mắt! . “Dân ca Mèo”, truyện cổ tích Mèo cũng rất phong phú. Quan hệ dòng tộc rất đặc sắc , mỗi dòng họ cư- trú quây quần thành từng cụm , có một trưởng họ đảm nhiệm công việc chung “đi đâu ở đâu” có họ hàng , sống chết không rời nhau. Có tục “Háy Pú” , cướp vợ rất đặc sắc. Đồng bào có chữ viết riêng. 
Lễ cúng khi sinh đẻ: Đồng bào quan niệm rằng: Con người ta có hai phân (thể xác và linh hồn) , họ không quan tâm nhiều đến phần thể xác. Họ cho rằng con người sinh ra trên cõi đời chỉ cần nhìn thấy ba lần ánh mặt trời cũng là một kiếp     người. 
Một con người có ba linh hồn : 
Hồn thứ nhất ở đỉnh đầu, do đó kiêng xoa đầu trẻ em vì hồn nó yếu , xoa đầu hồn sẽ bỏ đi , vì thế ai xoa thì phải làm lễ gọi hồn về. 
Hồn thứ hai ở vùng ngực , hồn này ít bỏ đi lang thang , nhưng khi đã bỏ đi thì bệnh sẽ nặng 
Hồn thứ ba ở rốn, hồn này cai quản thân xác và nội tạng , hồn này bỏ đi là đau nội tạng , đau bụng (hồn này ở phụ nữ yếu hơn nam giới , nên phụ nữ hay đau bụng hơn , hồn bỏ đi không về sẽ chết). 
Khi chết hồn thứ nhất bay lên tầng cao nhất cùng tổ tiên trên trời (cõi tiên) . 
Hồn thứ hai bay lên chỗ Ngọc Hoàng chờ đầu thai vào kiếp khác (ai xấu sẽ đầu thai làm con vật); Hồn thứ ba gác phần mộ , lởn vởn nơi tầng thấp của Ngưu ma vương , thường bay về quấy nhiễu. Vì thế người H’Mông rất quan tâm đến việc thờ cúng gắn với chu kỳ đời người. 
Khi bà mẹ sắp sinh em bé thì nhà có lễ cúng “đề ca súa” , cầu cho mẹ tròn con vuông. 
Đồng bào cho rằng : Khi trẻ sinh ra chư-a có linh hồn ngay, phải sau 3 ngày mới tổ chức lễ gọi hồn (húp hi) – đây là lễ lớn , thông báo cho sự ra đời của một thành viên trong gia đình . Đây cũng là lúc đặt tên cho trẻ. Tên trẻ không đư-ợc trùng với tên ông bà , tổ tiên , họ hàng . Cuối lễ , thầy cúng xem chân gà “bói” tư-ơng lai cho trẻ. 
Về họ và tên , những người có chung một họ như- Giàng , Vừ , Thào , Lầu , Lý… đều coi nhau như- anh em , dẫu không chung một tổ. 
Người H’Mông ở Lào Cai , Thanh Hoá và Nghệ An có nhiều nét văn hoá đặc sắc. Người H’Mông ở Lào Cai có hơn 30 họ, các họ lấy tên con vật như- Sùng (gấu), Hầu (khỉ) ,Lồ (lừa), Mã (ngựa) Giàng (dê) và Lùng (rồng). Có họ lấy màu sắc đặt họ ví dụ Hoàng (màu vàng), Lù (màu xanh) Hùng (màu đỏ). Có họ lấy tên cây , ví dụ như- Lý (mận) Thào (đào). Họ còn lấy tên đồ vật , ví dụ như- Cư- (trống), Thèn (thùng) . 
Đồng bào đặt tên nhiều lần : 
Khi bé đầy tuổi , có lễ mừng tuổi , Lễ đội tên đệm của bố cùng lúc với lễ mừng con đầu lòng 1 tuổi. Khi ấy con trai tặng nỏ , súng , dao , cháu gái tặng cuốn chỉ thêu, tấm vải . ước nguyện trai tài gái đảm. 
Lễ đặt tên lần thứ hai “Tì bê lầu” , thịt một con lợn tặng bố mẹ vợ nửa , cầu khấn những điều tốt lành , buộc chỉ cổ tay , đặt tên đệm mới cho con rể. Bố mẹ vợ tặng vật kỷ niệm cho con rể thường là đồng bạc trắng , cái địu con . 
Có trường hợp người đàn ông có đến 3-4 tên , khi đau ốm hoặc rủi ro , tai nạn thì lại làm lễ đặt tên lại . 
Đồng bào quan niệm “thùng sếnh, thùng đang” tức là cùng họ cùng ma vì làm ăn làm uống ta có thể học ngư-ời khác , nhưng làm ma thì không thể theo người ta đựơc.
Lễ ma có 4 lễ : 
. Lễ ma tươi 
. Cúng ma bò 
. Cúng ma lợn 
. Cúng ma cửa 
Đúng là , cách đặt 3-4 tên của ngư-ời H’Mông mang bản sắc văn hoá thật độc đáo ./. 
BÀI THỨ SÁU – DÂN TỘC KHƠ ME 
Dân tộc Khơ Me có trên 1 triệu người , sống tập trung ở các tỉnh Sóc Trang , Vĩnh Long, Trà Vinh , Cần Thơ, Kiên Giang , An Giang .
Còn có các tên khác Khơ Me Krom, Cur, Cul , Thổ, Việt gốc Miên .
Tên Khơ Me bắt nguồn từ tiếng Phạn ( Ấn Độ ) Khêmara có nghĩa là “An Vui Hanh Phúc.”
Đây là một cư dân sống lâu đời ở Đồng bằng Sông Cửu Long, sống xen kẽ với người Kinh và người Hoa.
Đồng bào biết thâm canh lúa nước từ lâu đời, biết làm thuỷ lợi và lợi dụng thuỷ triều để thay chua rửa mặn, xổ phèn cải tạo đất.Có địa phương trồng nhiều dưa hấu . Chăn nuôi gia súc , gia cầm , làm các nghề thủ công (dệt , gốm…) và làm đường Thốt nốt.
Dân tộc Khơ Me sống quần tụ thành các phum , sóc( như thôn ấp của người Kinh , gồm từ 17-70 nóc nhà. Trên các phum sóc không có đình mà có chùa , gọi là chùa Khơ Me . Các chùa này có cấu trúc khá giống nhau tuy quy mô khác nhau . Chùa là nơi thờ Phật và là nơi hành lễ của dân làng.
Về trang phục : đàn ông đóng khố sampôt. đàn bà mặc váy xà rồng , dài chấm mắt cá chân , màu gụ, có nhiều hoa văn đẹp . Ngày xưa phụ nữ không mặc áo mà dùng một tấm vải vắt chéo qua vai để che ngực , có thói quen quấn khăn Khrâm lên đầu . Nhà sư cọc trọc đầu , râu và lông mày. Khoác áo cà sa , mang khố vàng màu nghệ và ô trắng hay vàng.
Đồng bào Khơ Me có ba hình thức tôn giáo , theo tín ngưỡng dân gian , đạo Balamon,Phật giáo tiểu thừa . Trong mỗi chùa có nhiều sư sãi( gọi là các ông Lục ) và do sư cả đứng đầu . Con trai Khơ Me trớc khi trưởng thành thường đến ở chùa để tu học, trau dồi đức hạnh và kiến thức. Nhà chùa thường dạy kinh nghiệm sản xuất , dạy chữ. Hiện nay có trên 400 chùa Khơ Me.
Ngời Khơ Me ghi chép lại một nền văn học rất phong phú của mình trên lá buông gọi là Xatra . Văn học dân gian truyền miệng cũng vô cùng phong phú . Nghệ thuật sân khấu gồm nhiều loại Dù kê, Rô băm . Các điệu múa nổi tiếng : Lăm vông, Múa kiếm ( Răm khách ), Lăm Lêu…
Các ngày lễ lớn là Choi Chnăm Thơ Mây( Mừng năm Mới ) , Lễ Phật đản , lễ Đôn ta ( xá tội vong nhân ) , Oóc Bom boóc ( cúng trăng ).
Các họ của người Khơ Me :
Bàn , Binh , Chau , Chiêm , Danh , Dơng, Đào, Điêu, Đoàn , Đỗ, Hiùnh, Hứa , Kỷ, Liêu, Lộc , Lục, Lu , Mai , Neang, Nuth, Ngô, Nguyễn, Panth, Pem, Pham , Sơn, Tăng, Tô, Từ , Tng, Thạch, Thị , Thuấn, Trà , Trần, U, Uônth, Xanh, Xath,Xum…
Các họ tên tiêu biểu của người Khơ Me Danh , Sơn, Kim, Thạch , Châu , Lâm , ví dụ :
Danh út, Ngọc Anh ( Nam )
Lâm Phú Thạch Thị ( nữ). 
Phụ nữ thường phân biệt bằng chữ Thị hoặc Nêang . Người Khơ Me có họ từ thời Nguyễn , vua Minh Mạng , để kiểm kê hộ khẩu dân số. Trước đó người Khơ Me không có họ.
Nét văn hoá đặc sắc trong văn hoá dùng họ và đặt tên của ngời Khơ Me chính là : Để phân biệt những người cùng tên và có quan hệ huyết thống thì người Khơ Me thường gọi kèm tên người cha ( phụ tử liên danh) , tên người cha thành họ của người con./. 

NHÂN ĐỌC BÊN THẮNG CUỘC CỦA OSIN HUY ĐỨC (I)

2 Comments

Nguồn facebook Anhgaupham

Ngày hôm qua tôi đã đọc xong bản điện tử của quyển một (Giải Phóng) của bộ sách mới của anh Huy Đức với tựa đề Bên Thắng Cuộc gần như liên tục trong vòng 9 tiếng. Chủ đề của cuốn sách, những vấn đề mà nó xem xét cũng là những điều làm tôi suy nghĩ vương vấn trong đầu nhiều năm nay.

Là một nhà báo năng động và thành công ở Sài Gòn trong giai đoạn Việt Nam đổi mới, anh Huy Đức có lợi thế gần như không ai có được ở khả năng tiếp cận với các cá nhân đã từng hoặc vẫn đang là giới chức cao cấp hàng đầu của CHXHCN Việt Nam và các nhân sỹ, trí thức và cựu quan chức của Việt Nam Cộng Hòa. Khả năng ngoại ngữ và góc nhìn hướng ngoại của anh cũng giúp anh gặp gỡ với các nhân vật Mỹ có liên quan tới giai đoạn lịch sử thời chiến tranh Việt Nam. Nhờ những lợi thế này anh Huy Đức đã gom góp được một nguồn sử liệu khổng lồ từ các trao đổi cá nhân thu thập từ chính nhân vật lịch sử. Các thông tin nguồn chính này kết hợp với các nguồn tham khảo đồ sộ mà tác giả sử dụng tạo dựng cho cuốn sách này vị thế của một tác phẩm kinh điển tức thì về lịch sử Việt Nam. Tôi tin rằng hàng chục năm nữa người ta vẫn sẽ còn tiếp tục trích dẫn từ cuốn sách này.

Anh Huy Đức không được đào tạo về những phương pháp hiện đại nghiên cứu và tái dựng lịch sử. Anh cũng không được đào tạo bài bản và chuyên nghiệp về báo chí mà đã tự học lên từ thực tế công việc. Biết vậy tôi càng cảm phục hơn tinh thần và nỗ lực làm việc nghiêm túc mà tác giả đã đổ vào tác phẩm đồ sộ này. Tôi dễ dàng cảm nhận thấy từ giọng văn bình thản, lối trình bày thông tin, dữ liệu tương đối cân bằng; cách tác giả không sa đà vào phân tích; cách đặt tên các tựa đề và đề mục là tác giả đã bỏ công nghiên cứu cấu trúc và phương pháp viết sử tương đối khoa học của các tác giả Mỹ viết sử Việt Nam như Stanley Karnow (Vietnam: A History), William Duiker (Ho Chi Minh: A Life), Sophie Quinn-Judge (Ho Chi Minh – The missing years). Tôi tin cuốn sách này đã xác lập chắc chắn vị trí của anh Huy Đức trong số những người viết sử Việt Nam hàng đầu

Tôi muốn nhấn mạnh nhận xét về cách tác giả không sa đà vào phân tích. Điểm này đặc biệt ở chỗ nó khác hoàn toàn văn phong báo chí đã trở nên quen thuộc của chính tác giả. Giống phần lớn người viết Việt Nam học và làm nghề viết trong môi trường không đề cao kỹ năng viết, nhà báo Huy Đức có xu hướng mắc phải những lỗi lập luận đơn giản mà một nhà báo phương Tây chịu sự kiểm tra kỹ càng của công chúng ít mắc. Tôi sơ cử ra hai lỗi đã thấy ở anh Huy Đức: một là trích dẫn một nguồn uy tín và coi đó nghiễm nhiên là sự thật và hai là xuất phát từ định kiến có sẵn khai triển lập luận. Tôi cảm thấy vui mừng khi cảm nhận thấy anh Huy Đức đã áp dụng một cách thức trình bày và phân tích thông tin dữ liệu cân bằng, khách quan và bình thản. Cách tác giả đưa ra một lượng thông tin ngồn ngộn rồi để độc giả tự nghiền ngẫm và quyết định cách phân tích và cảm nhận theo tôi là cách tốt nhất khi viết về một vấn đề vẫn còn gây tranh cãi, chia rẽ, xung đột, và kể cả thù hằn là vấn đề chiến tranh Việt Nam.

Tuy vậy, sẽ là nhầm lẫn nếu suy luận từ sự thiếu vắng phân tích của chính tác giả trong tác phẩm để cho rằng tác giả không có thái độ cụ thể về chủ đề của tác phẩm. Thái độ của tác giả là gì trong trường hợp này là một thứ ý tại ngôn ngoại. Trong hoàn cảnh hiện nay ở Việt Nam, gần như tất cả các vấn đề mà tác giả đề cập đến (cải cách ruộng đất, học tập cải tạo, cải tạo tư sản, vượt biên có bảo lãnh) vẫn còn là những vấn đề cấm kỵ bị tránh né (dù nhiều điều đã là các bí mật mở). Việc tác giả tấn công trực diện từng vấn đề, nêu đích danh tên từng nhân vật, nhiều người vẫn còn sống còn quyền sinh quyền sát thể hiện một thái độ dũng cảm đáng kính trọng của tác giả. Sự dũng cảm này còn được thể hiện trong việc tác giả lựa chọn tự xuất bản sách qua kênh cá nhân như cách tuyên bố về sự độc lập, sự tự chịu trách nhiệm. Đây cũng là một sự cẩn trọng cần thiết đối với một người viết độc lập để giữ được uy tín với công chúng nhằm chống lại những buộc tội vô cớ chắc chắn sẽ đến về việc tác giả bị mua chuộc bởi các thế lực. Thái độ của tác giả trong trường hợp này có thể được so sánh như ý đồ của một nhiếp ảnh gia trưng bày ra một hình ảnh tĩnh của thực tại. Mỗi góc nhìn, mỗi chi tiết được nhấn mạnh, dưới ánh sáng nào, mầu sắc ra sao vv đều được tính toán kỹ và có lý do. Mỗi người chắc sẽ có cảm nhận khác nhau về thái độ của tác giả. Ấn tượng của tôi là về một thái độ tôn trọng sự thật rất đáng cảm phục và học tập.

Khi nhắc đến thái độ tôn trọng sự thật rất “đáng học tập” của tác giả, tôi đã để lòi ra một cái đuôi về một xuất thân giống với tác giả là cùng lớn lên dưới mái trường xã hội chủ nghĩa. “Đáng học tập” hay “đáng biểu dương” hay “nêu gương” là những lời lẽ định hình chỉ trong môi trường thi đua phấn đấu của trường học xã hội chủ nghĩa. Sự tương đồng này dẫn dắt tôi đến một điểm khác đáng chú ý là việc tác giả là một trong số rất ít những người từ “bên thắng cuộc” đưa ra một góc nhìn khác về chiến tranh. Thời nay là lúc lý tưởng cách mạng trong xã hội Việt Nam ta đã nhạt nhòa và người ta không phải quá o ép lời ăn tiếng nói vì thế từ người bình dân tới cán bộ cao cấp ai ai cũng có thể nói những lời xét lại về quá khứ mà không sợ bị trừng phạt.  Tuy thế việc viết ra một cách có hệ thống các quan điểm xét lại này vẫn là điều không được chấp nhận. Một vài người viết như Bảo Ninh với Nỗi buồn chiến tranh, Dương Thu Hương với các suy tư về ngày 30/4/1975 đã gặp rắc rối vì các quan điểm xét lại. Để Huy Đức – một người lớn lên trong xã hội ưu việt miền Bắc, từ nhân dân cần lao mà ra, được giáo dục từ trong trứng nước về tư tưởng anh hùng xã hội chủ nghĩa và tính tất thắng của phe ta, lại từng là lính chiến đấu phụng sự sự nghiệp cách mạng cao đẹp – viết được một tác phẩm xét lại thế này cần một nỗ lực lớn hơn nhiều lần so với một học giả nước ngoài hay “phe họ”. Để một cá nhân đã được lập trình cho quen với vị thế tiện lợi của người chiến thắng, người đúng, phe chính nghĩa phải suy nghĩ lại, phải phân tích duy lý về vị thế đó và nếu thấy cần thì rời bỏ nó đòi hỏi những hoàn cảnh, hiểu biết, tính cách cá nhân nhất định. Một yếu tố quan trọng cần có nhưng khó có ở miền Bắc là óc tư duy phê bình. Những người như anh Huy Đức, như tôi, như thế hệ của chúng tôi lớn lên chỉ được tiếp xúc với thông tin một chiều và sự thật một chiều. Sự thật được đóng gói sẵn, cần là có, rất tiện lợi và ngon lành, việc gì mà phải đi tìm ở đâu nữa? Trong cái hang của Plato được giữ đóng và kín này thì lấy đâu ra hạt giống cho những suy tư khác, cho sự nghi ngờ về việc có tồn tại một thế giới khác bên ngoài hang? Cái nỗ lực của con kén phải rùng mình chui ra khỏi cái vỏ kín tối thực sự là đau đớn. Ngoài ra việc anh Huy Đức mới chỉ là cậu bé 13 tuổi khi kết thúc chiến tranh không có trải nghiệm trực tiếp trong cuộc chiến nhưng vẫn chuyển mình đủ để sau này trình bày gẫy gọn, súc tích, bình thản về những nỗi buồn chiến tranh là một tấm gương tôi thấy đáng học tập.

Trở lại câu hỏi về hạt giống nào của sự thật, trong hoàn cảnh như thế nào đã khởi động quá trình một người thắng cuộc bắt đầu nghi ngờ về vị thế siêu việt của mình. Tôi cho rằng hạt giống của sự thật thường đến trong hình hài của những mâu thuẫn. Suy nghĩ này làm tôi nhớ đến câu cách ngôn đại ý nếu cứ nói thật thì khỏi cần phải nhớ đã nói gì. Trong thực tế cuộc sống thì những thứ không phải là sự thật hoặc chỉ là sự thật một chiều – tôi định nghĩa là thứ sự thật quy ước cục bộ  – sẽ bị thách thức khi không gian quy ước cục bộ bị phá vỡ. Sẽ xuất hiện những bằng chứng về sự mâu thuẫn giữa những thứ không phải sự thật, sự thật cục bộ, quy ước với những sự thật toàn cục kiểm chứng được. Những bằng chứng mâu thuẫn sẽ khiến người ta xem xét lại hệ thống niềm tin sẵn có của người ta. Nhưng trên thực tế để đi từ chỗ bắt đầu xem xét tới chỗ có niềm tin mới là một quá trình rất dài lâu và khó khăn, càng khó hơn trong môi trường thiếu thông tin có sự kiểm soát, áp đặt tư tưởng.

Đối với anh Huy Đức, Dương Thu Hương và cả tôi những bằng chứng mâu thuẫn đầu tiên đến từ chính bên thua cuộc. Những gì chúng tôi được dạy về họ không giống những thứ chúng tôi quan sát được ở họ. Anh Huy Đức, trong tác phẩm này, vừa trực tiếp vừa định hướng, đã đưa ra một số lượng khổng lồ các bằng chứng loại này. Mỗi người đọc có thể tự suy ngẫm và so sánh với niềm tin riêng của mình. Sự thay đổi về niềm tin nếu có phải là một hành trình cá nhân.

Mười tám năm trước có lần tôi tranh luận mười mấy tiếng đồng hồ với một người bạn nước ngoài về vấn đề học tập cải tạo sau chiến tranh. Người bạn đó có một người bạn Việt Kiều ở Thụy sỹ tên là Loan; cha cô Loan đã đi học tập hơn 10 năm. Người bạn tôi nói rằng việc tập trung cải tạo giam giữ lâu dài như thế là không cần thiết và vô nhân đạo. Tôi, bên thắng cuộc, nói rằng người chiến thắng đã hy sinh quá nhiều để giành chiến thắng và có quyền bảo vệ chiến thắng đấy. Bảo vệ chiến thắng bằng cách cho đối phương học tập cải tạo là lựa chọn tử tế và nhân đạo hơn so với việc giết họ đi. Tôi cũng nói đám người vượt biên là đám ô nhục bỏ tổ quốc ra đi vì lý do kinh tế. Cuộc tranh luận bất phân thắng bại kết thúc bằng việc hai bên không ai chịu ai đều khóc. Sau khi lớn lên được tiếp xúc với nhiều nguồn thông tin và nhân vật lịch sử của cả hai bên, được đọc nhiều sách vở bằng ngoại ngữ, rồi được qua Mỹ học về hành chính và qua đó thu thập được những công cụ phân tích cơ sở, tôi đã dần dần tự luận ra được nhiều điều. Giờ đây nhiều năm sau tôi tự cảm thấy đã có những niềm tin khác cân bằng và ôn hòa hơn. Là người sinh ra sau chiến tranh, gia đình không mất ai trong chiến tranh, hiện không hoạt động chính trị hay tham gia đảng phái nào (tôi cũng chỉ có một đảng là đảng Việt Nam), dựa trên những hiểu biết tự thu thập và xử lý, với tuyên bố rằng không ai mua chuộc hay ép buộc tôi, tôi nói nhân danh cá nhân tôi rằng những gì đã xảy ra, đặc biệt trong thời hậu chiến, như anh Huy Đức đã kể ra rành mạch trong tác phẩm này của anh, quả thực là quá oan ức và đau khổ cho miền Nam. Vì điều đó nhân danh chỉ cá nhân tôi tôi muốn được xin lỗi.

DANH HIỆU VIỆN SĨ VIỆN HÀN LÂM PHÁP CỦA GS PHAN HUY LÊ: MỘT SỰ MẠO XƯNG LIỀU LĨNH ?

2 Comments

DANH HIỆU VIỆN SĨ VIỆN HÀN LÂM PHÁP CỦA GS PHAN HUY LÊ: MỘT SỰ MẠO XƯNG LIỀU LĨNH ?

 
Nguyễn Hưng           
 
         Từ giữa thàng 10/2012, sau khi bài Lược khảo về các tên gọi viện hàn lâm và viện sĩ cùng những nhầm lẫn tai hại của tác giả Lê Mạnh Chiến xuất hiện trên  tạp chí Nghiên cứu & Phát triển  rồi được một số website đưa lên mạng Internet, bài báo ấy đã được phổ biến một cách nhanh chóng..  Rất nhiều độc giả cảm thấy sửng sốt khi biết rằng, lâu nay, các tên gọi “viện hàn lâm” và “viện sĩ” đã được hiểu một cách mơ hồ dựa trên sự suy luận theo cảm tính, dẫn đến những  “nhầm lẫn tai hại”. Tiếc thay, những “nhầm lẫn tai hại” ấy lại rơi vào những “trí thức tinh hoa” vốn được coi là những “bậc thầy” trong lĩnh vực văn hóa – giáo dục.
        Tuy nhiên, tác giả bài đó chưa  (hoặc chưa có điều kiện) chỉ rõ, ngoài những  “nhầm lẫn tai hại” còn có sự mạo xưng có tính toán, có đạo diễn kỹ càng. Nay chúng  tôi  đã có  bằng chứng đầy  đủ về vụ mạo xưng liều  lĩnh của GS Phan Huy Lê.. Trước  khi nói về vụ này, chúng tôi thấy cần đúc kết sự phân tích  về những “nhầm lẫn tai hại” trong bài Lược khảo…. và  xin phép bổ sung một số ý nhỏ để làm  rõ nét  hơn về hiện tượng phản văn hóa khá phổ biến này.
 
I.              Những nhầm lẫn tai hại về viện hàn lâm và viện sĩ
 
              Danh tiếng của Viện hàn lâm Pháp (Académie franÕaise)  trong giới trí thức tân học ở nước ta hồi nửa đầu thế kỷ 20 đã khiến cho tên gọi “viện hàn lâm” (tương ứng với Académie, Academy và Akademiya trong các thứ  tiếng Pháp, Anh và Nga) thu hút sự sùng kính và ngưỡng mộ. Tiếp theo đó, tên tuổi lẫy lừng của một số viện sĩ thuộc Viện hàn lâm khoa học Liên Xô trong vài chục năm giữa thế kỷ 20 lại càng làm cho các tên gọi Viện hàn lâm và viện sĩ trở nên cao quý lạ thường. Mặt khác, các khái niệm về viện hàn lâm và viện sĩ thoạt nhìn có vẻ rất đơn giản nên không mấy ai tìm hiểu kỹ càng. Từ đó, dẫn tới những nhầm lẫn lâu dài. Có thể kể ra một số nhầm lẫn phổ biến nhất như sau:
 
1.          Tên gọi “Viện hàn lâm” trong tiếng Việt tương ứng với chữ  Academy trong tiếng Anh (hoặc Académie, Akademya trong tiếng Pháp và tiếng Nga). Tuy nhiên,  các  chữ Academy, Académie, Akademiya …lại còn có những nghĩa khác  như học viện, trường học (trung học, đại học), hiệp hội học thuật, v.v. Ở nước ta, nhiều người khi gặp các chữ này đều dịch là “viện hàn lâm” ngay cả  khi nó có nghĩa là trường học hoặc là hội học thuật. Bởi vậy, có vị giáo sư từng học tại trường đảng của Liên Xô mang tên là Akademiya obshhestvennykh nauk (Học viện khoa học xã hội) thì xưng là đã nghiên cứu tại Viện hàn lâm khoa học xã hội Liên Xô. Phần lớn các trường đại học quân sự ở  Nga (và  Liên Xô trước đây) thường được gọi là Akademiya, nhưng các sĩ quan Việt Nam theo học ở đấy lại gọi  trường học của mình là Viện hàn lâm quân.sự. Lỗi này có lẽ  là do hiểu biết về tiếng Nga quá hẹp.
 
2.          Nhiều người tưởng lầm rằng, hễ mang danh Viện hàn lâm thì mặc nhiên có giá trị rất cao về học thuật, mà không biết rằng, trên thế giới có vô số viện hàn lâm, và ngay ở một nước cũng thường có nhiều viện hàn lâm  nên giá trị của các viện không như nhau, nhiều khi khác xa nhau  “một trời một vực”. Có viện hàn lâm đã có uy tín trên toàn thế giới từ hàng trăm năm. Nhưng cũng có những viện mới mọc ra gần đây ở các nước mới phát triển. nên có giá trị thấp, không mấy ai để ý đến. Ngoài ra, còn có những hội đoàn của tư nhân, đặt tên cho hội của mình bằng chữ Academy cộng thêm một phụ tố nào đó cho có vẻ khoa học và sang trọng  để kiếm nhiều tiền bằng cách kết nạp tất cả những người đồng ý nộp lệ phí để được cấp thẻ hội viên. Không ít kẻ hiếu danh đã tự biến mình thành “viện sĩ hàn lâm” bằng cách đó. Đa số dân ta thường nghĩ rằng viện sĩ là  “to chuyện” lắm, vẻ vang lắm, ai biết đâu rằng “tấm bằng viện sĩ” ấy chỉ là cái thẻ hội viên với giá  trên –dưới 100 USD, tùy từng “viện hàn lâm”loại này.
 
3.          Hầu hết mọi người ở nước ta, kể cả những người biên soạn từ điển tiếng Việt  đều  nghĩ rằng, thành viên của viện hàn lâm tức là viện sĩ. Nhưng theo quy chế của các viện hàn lâm thì hoàn toàn không phải như vậy. Trong một viện hàn lâm ở nước ngoài thường có từ hai ngạch thành viên trở lên nhưng chỉ có ngạch thành viên chủ chốt (gọi là thành viên chính thức, thành viên thực nhiệm) mới được gọi là viện sĩ. Danh hiệu член-корреспондент  ở  Nga đáng lẽ phải dịch là thành viên thông tấn thì suốt hơn nửa thế kỷ vừa qua vẫn bị dịch saiviện sĩ thông tấn. Những người mà lâu nay ở  nước ta gọi viện sĩ của các Viện hàn lâm khoa học ở Liên Xô hoặc ở các  nước  Đông  Âu, thực ra, đều không phải là viện sĩ, mà chỉ là thành viên nước  ngoài của các viện đó (một danh hiệu có ý nghĩa ngoại giao), vì viện sĩ của các nước ấy đều phải gắn liền với quốc tịch của từng nước. Ở Nga hiện nay có khá nhiều tổ chức được gọi là Akademiya (với  nghĩa là “viện”, có thể dịch là “viện hàn  lâm” chứ không phải  là trường học) nhưng Chính phủ Liên bang Nga chỉ cho phép 6 viện như vậy được gọi các thành viên chính thức của mình là akademik (tức là  viện sĩ), đó  là Viện hàn  lâm khoa học Nga và 5 viện hàn  lâm chuyên ngânh, gồm có  Viện hàn  lâm Y học Nga, Viện hàn lâm Nông  nghiệp Nga, vVện hàn lâm Giáo dục Nga,  Viện hàn lâm  Kiến trúc  và  Khoa học xây dựng Nga, Viện hàn lâm Nghệ thuật Nga (xem: mục từ Академик trên từ điển  Wikipedia, tiếng).
              Có một vị giáo sư từng  giữ chức vụ rất to, vẫn tự xưng  là viện sĩ  Viện hàn lâm giao thông Nga.( Российская Академия транспорта, thành lập ngày 26/6/1991). Viện này có 966 thành viên thực nhiệm (966 действительных членов) và 42 đại biểu nước ngoài (xem tại http://www.academtrans.ru). Vì  không  có  quốc tịch Nga  nên ông giáo sư này chỉ có thể thuộc con số 42 đại biểu nước ngoài chứ không phải là thành viên thực nhiệm (tức là thành viên chính thức). Viện này lại không nằm trong  6 viện được phép gọi các thành viên  chính thức của mình là viện sĩ. Vậy thì ông ta  không thể là viện sĩ của Viện hàn lâm giao thông Nga.
             Lại một giáo sư khác từng  là quan to, cũng được gọi là viện sĩ. Có  nơi   nói ông là viện sĩ của Viện hàn lâm khoa học sư phạm Nga (tức Viện hàn lâm giáo dục Nga, Росси́йская акаде́мия образова́ния), nhưng ông lại không có tên trong danh sách 278 thành viên (gồm các viện sĩ và các thành viên thông tấn) của Viện này. Có nơi khác  lại nói ông là viện sĩ của Viện hàn lâm khoa học chính trị Nga (Российская академия политической науки). Chẳng biết có phải như vậy hay không, vì trên website chính  thức của nó không công bố danh sách thành viên, nhưng viện này không nằm trong 6 viện được phép  gọi các thành viên chính thức của mình là viện sĩ, cho nên ông không thể là viện sĩ ở đây. Sự nhầm lẫn của hai giáo sư này là do thiếu hiểu biết hay cố ý.? Chỉ có các ông ấy mới biết, nhưng rõ ràng, đây là những  sự nhầm lẫn khá tai hại.
 
4.          Mọi người đều biết rằng, có vô số viện hàn lâm, mỗi viện đều có một tên riêng, rất cụ thể. Bởi vậy, danh hiệu viện sĩ phải gắn liền với tên của viện hàn lâm, nơi ông ta được bầu. Ở  một nước có nhiều viện hàn lâm (ví dụ: nước Pháp), trong số đó có một viện quá nổi tiếng, mọi ngườì dân đều biết  (ví dụ: ở Pháp có Viện hàn lâm Pháp – Académie franÕaise), chỉ cần nhắc  đến Viện hàn lâm (L’Académie) là người ta nghĩ ngay đến nó và không cần gọi tên đầy đủ của nó. Cho nên, khi người Pháp chỉ viết  Académicien hoặc Membre de l’Académie thì đã có nghĩa  đó  là viện sĩ của Viện hàn lâm Pháp. – Académie franÕaise. Tuy nhiên, các viện sĩ hàn lâm Pháp rất ít khi nêu danh hiệu Académicien hoặc Membre de l’Académie ngay trước họ và tên của mình, mà thường đặt ở phía sau.  Ở Nga (hoặc Liên Xô trước đây), ngay trước tên của nhiều nhà  bác học lớn, chúng ta thường thấy có ghi danh hiệu Akademik (tiếng  Nga, nghĩa là viện sĩ), ví dụ: Akademik I.P. Pavlov, Akademik A.D. Sakharov . v.v. Chữ Akademik ở đây có  nghĩa là viện sĩ của Viện hàn lâm khoa  học Nga (hoặc Liên Xô) – Viện hàn lâm nổi tiếng  nhất trong số rất nhiều viện hàn lâm trên đất nước này. Nếu là viện sĩ của các viện khác  thì không được ghi như thế, mà phải ghi rõ là Akademik của Viện hàn lâm nào. Điều này cũng tương tự như  ở Việt Nam, từ “đảng viên” (mà không kèm theo tên đảng nào) thì chỉ có nghĩa là đảng  viên của Đảng Cộng sản  Việt Nam. Cũng cần nói thêm rằng, trong một nước đã có một viện hàn lâm quá nổi tiếng mà hế nói đến “viện sĩ” tức  là  nói đến thành viên thực nhiệm của viện ây, thì các ông viện sĩ của các viện đàn em hầu như không bao giờ đưa cái danh hiệu “viện sĩ của Viên hàn  lâm X” để khoe hoặc tôn xưng, vì người ta chỉ khoe và tôn xưng những gì thuộc hạng nhất, chẳng ai khoe hoặc tôn xưng  các thứ thuộc hạng hai hay hạng ba. Ví dụ, nếu ông  Lê Văn M. là đại biểu quốc hội thì có thể kèm danh hiệu ấy trước họ và tên của ông ta và viết:: ĐBQH Lê Văn M.. Nhưng nếu chỉ là đại biểu Hội đông  Nhân dân tỉnh, thì chẳng mấy ai nêu cái danh hiệu ấy  trước họ và tên của mình.Hầu  như các  vị đại biểu  HĐND tỉnh  hoặc huyện chẳng có ai ghi danh hiệu ấy trước  họ và tên của mình.
                  Có lẽ vì bắt chước theo người Nga nên ở Việt Nam đã có vài chục ông  giáo sư ghi danh hiệu viện sĩ ngay trước họ và tên của mình,  ví dụ: GS VS Nguyễn Văn  X., GS VS  Đặng Y., v.v, Nhưng, ở Việt Nam thì chẳng có viện hàn lâm nào cả, mà phải có một viện hàn lâm quá quen thuộc, tương tự như Đảng  Cộng sản Việt Nam vậy, thì các ông viện sĩ của viện ấy mới có thể bắt chước cách xưng danh hiệu như  người Nga. Huống chi, cái danh “viện sĩ” của các  ông ấy lại có rất nhiều nguồn gốc, phần  nhiều là  ảo, do sự “nhầm lẫn tai hại” mà có, hoặc nếu không ảo thì lại là viện sĩ của những viện hàn lâm mà không  mấy ai biết đến.
                  Tóm lại, ở Việt Nam ta, dù  là ai, nếu  ngay trước họ và tên của mình có chữ VS (nghĩa là  “viện sĩ”), hoặc viết hẳn  là  Viện sĩ, thì cách viết như vậy là không ổn, chẳng khácgì ta gắn danh hiệu đảng viên cho ông Barack Obama. Đương  nhiên, dù chỉ được bầu làm  viện sĩ của những viện hàn lâm có tên tuổi rất  mờ mịt thì cũng  là  một niềm vinh dự, và vẫn có thể  khoe, nhưng phải viết đúng cách. Ví dụ, nếu viết: Trịnh Văn K., viện sĩ  Viện hàn  lâm khoa  học Thế giới thứ ba thì đúng  là  người có văn hóa, nhưng nếu viết: GS VS  Trịnh Văn K. hay Viện sĩ Trịnh Văn K. thì không những chỉ sai đối với tiếng Việt, mà ở bất cứ ngôn ngữ nào cũng không ổn..
 
 
II.            GS Phan Huy Lê cố  ý mạo xưng Viện sĩ hàn lâm Pháp
 
1.    Khởi đầu từ sự nhầm lẫn
 
         Những nhầm lẫn về “viện hàn lâm” và “viện sĩ”  đã được phân tích trong bài Lược khảo về các tên gọi viện hàn lâm và viện sĩ cùng những nhầm lẫn tai hại, như chúng tôi vừa đúc kết (và có viện dẫn thêm)thành 4 mục nhỏ trên đây đều rất phổ biến, từ các em học sinh cho đến  các giáo sư  hàng đầu các ngành khoa học xã hội và ngôn ngữ đều mắc phải. Điều đó đã dẫn đến những sai lầm rất buồn cười. Thế mà bản thân những người được gán danh hiệu ảo ấy vẫn cảm thấy phấn khởi, tự hào và không muốn rời bỏ nó. Trong số bọn họ, liệu có ai chủ động mạo xưng hay không? Thật khó khẳng định là không có. Nhưng  khi chưa tìm thấy chứng cứ cụ thể về sự mạo xưng, tác giả bài báo ấy chỉ mới nói đến sự “nhầm lẫn tai hại”. Thân trọng như vậy là phải.
 
         Riêng về  GS Phan Huy Lê, chúng tôi mới phát hiện ra rằng, lúc đầu, quả  là ông có những “nhầm lẫn tai hại”, nhưng khi đã có người vạch ra sự nhầm lẫn thì ông quyết không chấp  nhận,  và quyết chí mạo xưng. Sau đây là những chứng cứ cụ thể.
         Trên tạp chí  Xưa & Nay số 383 (phát hành đầu tháng 7/2011) có bài “Giáo sư Phan Huy Lê được bầu làm thông tín viên nước ngoài  của Viện Hàn lâm Văn khắc và Văn học Pháp” chiếm trọn vẹn trang 8, khổ giấy A4 (xem hình ảnh thu nhỏ). Dưới bài  này không có tên tác giả. Vậy, đó  là bài của  Ban biên tập Xưa & Nay. Trang báo  này in hình bức Thư thông báo của ông Jean Leclant, thư ký trọn đời của Viện hàn lâm Bi ký và Mỹ văn ở Pháp báo tin  về việc GS Phan Huy Lê được chỉ định làm thông tín viên nước ngoài (Correspondant étranger), phần  còn  lại gồm khoảng 700 chữ, phác họa   những  nét cơ bản về Viện này.
 
 

  
 
 
 

    Người viết bản  tin ấy hẳn là một biên tập viên thạo tiếng Pháp, đã tra cứu tư  liệu từ website chính thức của  Viện hàn  lâm Bi ký và Mỹ văn nên đã cung cấp được thông tin cần thiết và  mới mẻ.  Ông đã trình bày vắn tắt về lịch sử  (thành  lập năm 1663), quá trình  phát triển, những nhiệm vụ và thành tựu của Viện này qua các thời kỳ.  Bài báo cho biết, hiện tại, Viện này có 55 thành viên và 40 cộng tác  viên ở  nước  ngoài.. Xin nói thêm, theo quy chế hiện nay, Viện có 55 thành viên chính thức, tức là 55 viện sĩ mang  quốc tịch Pháp và 40 thành viên cộng sự người  nước ngoài, tất cả đều  tại vị trọn đời; ngoài ra,  còn có 50 thông tín  viên người Pháp (50 correspondants franÕais)  và 50   thông tín viên nước ngoài (50 correspondants  étranger) tại vị có thời hạn. Ông cũng cho biết “lý  lịch trích  ngang” (thiếu ngày sinh) của 7 thông tín viên nước ngoài  được chỉ  định ngày  27/5/2011, cùng một lần với GS Phan Huy Lê..

          Như vậy, danh hiệu “thông tín viên” cho GS  Phan Huy Lê đã được Ban biên tập của tạp chí Xưa & Nay  tra cứu và dịc rát chính xác, vì Viện hàn lâm Bi ký và Mỹ văn đã xác định rằng, correspondant đảm  nhiệm  vai trò “trạm thông tin khoa học bên cạnh Viên hàn  lâm”. Vậy, correspondant chính  là  là thông tín viên. .
 
           Cũng vẫn tạp chí  Xưa & Nay, nhưng ở số 384 (phát hành cuối tháng 7/2011), tại trang 16 và nửa trên của trang 17  lại có bài  Chúc mừng Giáo sư Phan Huy Lê, với câu mở đầu như sau:
         “Nhân dịp GS NGND Phan Huy Lê được Viện Hàn lâm Văn khắc và Văn học nước Cộng hòa Pháp bầu là viện sĩ thông tấn nước ngoài* , Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển , Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam cùng phối hợp tổ chức buổi gặp mặt thân mật với sự tham gia đông đảo và nhiệt tình của các nhà khoa học, các bạn đồng  nghiệp và sinh viên cũ và mới của GS Phan Huy Lê tại Hội trường Lê Văn Thiêm, 19 Lê Thánh Tông, Hà Nội.”
【Sau mấy chữ “Viện sĩ thông tấn nước ngoài* “ có một dấu sao (*) để ghi chú thích ở cuối bài:
(*) Membre correspondant étranger de l”Académie: Trên Xưa & Nay số 383, chúng tôi sử dụng cách dịch cũ từ những năm 1930 là “thông tín viên nước ngoài”, khi thuật ngữ “Viện sĩ thông tấn” chưa phổ biến trong tiếng Việt. Nay xin được sửa lại cho chính xác là: Viện sĩ thông tấn nước ngoài】..
           Cuộc họp long trọng này diễn ra ngày 25/7/2011.
 
        Độc giả tinh ý  sẽ thấy  ngay rằng, bài “Chúc mừng….” của Xưa & Nay số 384 nhăm mục đich gắn danh hiệu “viện sĩ hàn lâm” cho ông Phan Huy Lê.và  xóa bỏ danh hiệu “thông tín viên”
         
         Hai bài báo trên  Xưa & Nay  (số 383 và 384) cùng với các bản tin trên các báo khác đã giúp chúng ta hình dung động thái của ông Phan Huy Lê trong tháng 7 năm 2011 như sau.          
                        
          Đầu tháng 7 năm 2011, GS  Phan Huy Lê nhận được thư của ông Jean Leclant, thư ký trọn đời của Viện hàn lâm Bi ký và Mỹ văn ở Pháp thông báo về việc ông ta được chỉ định làm thông tín viên nước ngoài (Correspondant étranger) của  Viện ấy. Tạp chí  Xưa và Nay  (của  Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, mà ông Phan Huy Lê là chủ tịch) là cơ quan báo chí được báo tin này rất sớm.. Chữ “correspondant” trong tiếng Pháp (và correspondent trong tiếng Anh, корреспондент trong tiếng Nga) có nghĩa là thông tín viên. Trong Viện hàn lâm khoa học Nga (hoặc Liên xô trước đây) có hai ngạch thành viên: thứ nhất là thành viên thực nhiệm (действительный член) là thành viên chính thức, được gọi là akademik, tức là viện sĩ; thứ hai là thành viên thông  tấn (член-корреспондент, chuyển sang tiếng Pháp là membre-correspondant), không được gọi là viện sĩ.  Nhưng  ở Việt Nam suốt hơn nửa thế kỷ vừa qua, từ член-корреспондент  bị dịch sai thành viện sĩ thông tấn, vì thiếu thông tin về các  ngạch thành viên của Viện hàn lâm khoa học Liên Xô. Bởi vậy, khi được mời làm Correspondant, GS Phan Huy Lê đinh ninh rằng, hẳn đây cũng chính là membre-correspondant, tức là viện sĩ thông tấn..  Ông cũng tin rằng, ai cũng phải hiểu như mình, cho nên chỉ cần đưa bản sao chụp Thư thông báo của ông Jean Leclant cho một người biết tiếng Pháp trong Ban biên tập tạp chí  Xưa & Nay,  tự khắc người  ấy  sẽ giới thiệu ông  Lê là viện sĩ thông tấn.  Không ngờ, người này giỏi tiếng Pháp và cẩn thận hơn hẳn ông Lê nên đã tìm đọc website chính thức của Viện hàn lâm Bi ký và Mỹ văn Pháp để tìm hiểu ngọn nguồn. Nhờ vậy, ông ta đã giới thiệu được những  nét quan trọng của Viện này.và gọi đúng nghĩa của chữ correspondant là thông tín viên. Vì ông Lê cũng  nhầm  lẫn như một số  người khác, nghĩ rằng, Correspondant cũng là Membre correspondant như ở  Nga mà lâu nay người ta vẫn dịch là Viện sĩ thông tấn. Nếu không có sự nhầm lẫn  như thế  thì chắc  hẳn  ông  đã  căn dặn hoặc thương lượng  với Ban biên tập ngay khi ông báo  tin để không bị lộ bí  mật như vậy.
        Danh hiệu “thông tín viên” của GS  Phan Huy Lê đã được giảng giải rất  rành mạch trong bài Lược khảo về các tên gọi.”viện hàn lâm” và  “viện sĩ” cùng nhứng  nhầm lẫn tai hại, với những cứ liệu rút ra từ website chính thức của Viện hàn lâm Bi ký và Mỹ văn Pháp. Đó là sự thực không ai có thể chối cãi, là điều không thể đảo ngược.
 
2. Mạo xưng Viện sĩ hàn  lâm Pháp, đánh  lừa cả  nước
 
         Đến  lúc  đọc bài  báo trên Xưa & Nay số 383, trang 8, ông  Phan Huy Lê mới biết  danh hiệu thực của mình  chí  là thông tín viên, không  phải là viện sĩ như ông  đã hiểu lầm. Sự thật  đó khiến  ông cụt hứng.  Ông bèn  quyết chí mạo xưng  là viện sĩ. Danh hiệu thật của ông Phan Huy Lê bằng tiếng Pháp là Correspondant étranger de l’Académie des Inscriptions et Belles Lettres, ông bèn thêm một chữ Membre ở đàng trước để trở thành  Membre correspondant de l’Académie des Inscriptions et  Belles Lettres rồi từ đó dịch sang tiếng Viêt  là Viện sĩ thông tấn của Viện hàn lâm Văn khắc và  Mỹ văn.  Khi đã lách được cái danh viện sĩ rồi, ông  xưng luôn  là Viện sĩ hàn lâm Pháp. ..
         Việc tạp chí Xưa & Nay đưa tin GS Phan Huy Lê được bầu  làm thông tín viên nước ngoài của Viện hàn lâm Văn khắc và Văn học Pháp là một điều hết sức bất ngờ khiên ông Phan Huy Lê chưng hửng, nhưng đó là sự thực.  Nếu là người trung thực, ông Phan Huy Lê phải  cảm ơn người đồng nghiệp đã “mở mắt” cho mình và tiếp nhận sự thực đó. Nhưng, ông  ta đã không chọn cách ứng xử lương thiện như vậy.  Thế là, ông  lấy lại bình tĩnh, nén nỗi bực tức để bắt tay vào cuộc vận động ráo riết với ý chí sắt đá, quyết  mạo xưng là“viện sĩ hàn lâm Pháp”, rồi bắn tin đến các  cơ quan thông tin mạnh nhất để phổ biến đến khắp mọi ngành, mọi địa phương, mọi người,  Từ ngày 07/7/2011 trở đi, hàng ngàn trang thông tin điện tử  dồn dập  đưa tin về việc GS Phan Huy Lê trở thành Viện sĩ hàn lâm Pháp. Sau đây, xin nêu một số ví dụ:  
 
       Ngày  07/7/2011, báo điện tử VietNamNet đăng bài  Pháp bầu nhà sử học hàng đầu VN là viện sĩ (http://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/29303/phap-bau-nha-su-hoc-hang-dau-viet-nam-la-vien-si.html)
 
   Ngày 07/7/2011, báo điện tử  Đất Việt, diễn đàn của Liên hiệp các hội khoa học và  Kỹ thuật Việt Nam   đăng bài GS Phan Huy Lê chính thức trở thành viện sĩ danh dự Pháp
 (http://baodatviet.vn/Home/congdongviet/ GS-Phan-Huy-Le-chinh-thuc-tro-thanh-vien-si-danh-du-Phap/20117/153916.datviet)
 
     Ngày 08/7/2911,báo điện tử của Chính phủ đăng bài Giáo sư Phan Huy Lê trở thành Viện sĩ hàn lâm Pháp (http://baodientu.chinhphu.vn/Home/Giao-su-Phan-Huy-Le-tro-thanh-Vien-si-han-lam-Phap/20117/91210.vgp)

    Ngày 08/7/2011, trang điện tử  của tạp chí  Tia sáng đăng  bài Giáo sư Phan Huy Lê trở thành Viện sĩ hàn lâm Pháp (http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=62&News=4190&CategoryID=4)

       Ngày 08/7/2011, báo điện tử vnExpress đăng bài GS Phan Huy Lê được vinh danh là viện sĩ Pháp (http://vnexpress.net/gl/khoa-hoc/2011/07/gs-phan-huy-le-duoc-vinh-danh-la-vien-si-phap/)

      Ngày 11/7/2011, bản tin của  Nhà xuất bản tri thức đăng bài Giáo sư Phan Huy Lê trở thành Viện sĩ hàn lâm Pháp ( http://nxbtrithuc.com.vn/viet-nam/145-gs-phan-huy-le-tro-thanh-vien-si-vien-han-lam-phap )

       Ngày 16/7/2011, báo điện tử của Đảng cộng sản  Việt Nam đăng  bài Giáo sư Phan Huy Lê – Niềm tự hào của giới sử học nước nhà, với câu mở đầu  là: Lần đầu tiên có một người của ngành Khoa học xã hội Việt Nam trở thành Viện sĩ Viện hàn lâm Pháp. (http://www.cpv.org.vn/cpv/Modules/News/NewsDetail.aspx?co_id=30129&cn_id=468867).

 
 

        Nên nhớ rằng, ở  Pháp, các  Viện sĩ hàn lâm Pháp được coi là những “Người bất tử” (Immortels), là  những vĩ nhân của nước Pháp và của thế giới.

        Tuy tạp chí  Xưa & Nay số 383 đã cho GS Phan Huy Lê một liều  thuốc đắng vì nó đã tiết lộ chính xác danh hiệu thật ông ta, nhưng dẫu sao, vẫn còn có sự may mắn chô ông, bởi  hai lẽ. Thứ nhất là, tạp chí  này có số phát hành không lớn, số độc giả không nhiều nên “tin xấu” chỉ  loang ra trong phạm vi hẹp. Thứ hai là, tạp chí  này trực thuộc Hội Khoa học Lịch sử mà ông Lê  là chủ tịch, nên khi đã lỡ in ra và phát  hành  một phần  nhỏ, ông có thể hãm  lại ngay. Sau khi ông  Phan Huy Lê cùng  những  người thân tín tổ chức những cuộc họp trọng thể để chúc mừng  ông trở thành viện sĩ hàn lâm Pháp,  vị biên tập viên kia đành phải “đính chính” bản tin đúng của mình, đúng theo ý  muốn của ông Phan Huy Lê.

Qua nhiều ngày nỗ lực thông báo  khắp  nơi, tin về việc  GS Phan Huy Lê trở thành viện sĩ  hàn                  lâm Pháp đã được đồng  loạt đăng trên hàng trăm tờ báo và tạp chí cùng  hàng ngàn bản  tin điện tử.
 
Đến  ngày  25 /11/2011, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển , Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam cùng phối hợp tổ chức buổi gặp mặt thân mật với sự tham gia đông đảo và nhiệt tình của các nhà khoa học, các bạn đồng  nghiệp, sinh viên cũ và mới của GS Phan Huy Lê tại Hội trường Lê Văn Thiêm, 19 Lê Thánh Tông, Hà Nội.” (Xưa & Nay, số 384, tr. 16)

       Cuộc mạo xưng danh hiệu Viện sĩ hàn lâm Pháp  của  GS   Phan Huy Lê, với sự cộng tác đắc lực  của  GS Đinh Xuân Lâm và  của nhiều vị giáo sư đàn  em khác tưởng  như  đã   thành công  mỹ  mãn và đã đánh lừa được cả  nước.  Nhưng, sự gian dối không thể che mắt mọi người mãi mãi. Đầu tháng 10 năm 2012,  bài  Lược khảo về các tên gọi “viện hàn  lâm “ và “viện sĩ” cúng  những  nhầm lẫn  tai hại (đăng trên tạp chí Nghiên cứu  và  Phát  triển số 7 năm 2012 và xuất hiện trên mạng Internet), với   lập luận chặt chẽ cùng những cứ liệu  xác thực, đã chứng minh và khẳng  định rằng GS Phan Huy Lê chỉ  là thông tín viên nước  ngoài của  Viện hàn  lâm Bi ký và  Mỹ  văn ở Pháp, không  phải  là viện sĩ. Sau bài báo ấy, chúng tôi tiếp tục tìm  kiếm các tài liệu  liên quan  và đã  phát  hiện thêm rằng, danh hiệu  viện sĩ hàn lâm Pháp của ông Phan Huy Lê là  một sự mạo xưng liều  lĩnh. Đúng  là lúc đầu, vì thiếu hiểu biết  nên ông Phan Huy Lê đã dịch chữ correspondant (thông tín viên) thành “viện sĩ  thông tấn”. Nhưng khi đã được ông bạn đồng  nghiệp ở tạp chí Xưa & Nay giải  mê và “mở mắt” cho mình, ông ta không vượt qua nổi căn bệnh hiếu danh nên đã  dấn bước vào việc mạo xưng.            

 

              GS Phan Huy Lê và phu nhân cùng chụp ảnh lưu niệm với cán bộ, lãnh đạo Trường  Đại học  KHXH&NV, Viện Việt Nam học và Khoa học Phát triển, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam:  (Ảnh NA/USSH)

        III.  Nhọ nhem lắm rồi, lầy gì lau cho sạch?

        Danh hiệu Thông tín viên  của ông Phan Huy Lê là hoàn toàn chính xác. Ông Phan Huy Lê chỉ là Thông tín viên nước ngoài của Viện  hàn  lâm Bi ký và  Mỹ văn ở Paris. Bài Lược khảo về các  tên gọi ‘viện hàn  lâm “ và  “viện sĩ” …đã chứng  minh điều đó một cách rõ ràng. .Đến  nay, chúng ta còn biết  thêm rằng, ông Phan Huy Lê đã cố ý mạo xưng là viện sĩ thộng  tấn của Viện  hàn  lâm Bi ký và  Mỹ văn, rồi nâng  lên  thành  Viện sĩ  hàn  lâm Pháp. Đó  là  những tội lỗi  rành rành, không  thể chối cãi. hoặc  tẩy rửa. Vậy mà vẫn có  kẻ trơ trẽn tìm cách vu cáo  người khác để lau mặt cho ông Phan Huy Lê.

         Ngày 25/11/2012, trên bản tin điện tử của khoa Văn học và  Ngôn ngữ của trường Đại học Khoa học Xã hội và  Nhân văn t/p HCM , tại địa chỉ

http://khoavanhoc-ngonngu.edu.vn/home/index.php?option=com_content&view=article&id=3681%3Av-nhng-sai-lm-tai-hi-ca-ong-le-mnh-chin&catid=100%3Avn-hoa-lch-s-trit-hc&Itemid=161&lang=vi

đã đăng bài Về “những sai lầm tai hại” của ông Lê Mạnh Chiến  của GS.TS Nguyễn Quang Ngọc (Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển, Đại học quốc gia Hà Nội) để phản bác và lkết  tội tác giả của  bâì Lược khảo về các  tên gọi ‘viện hàn  lâm “ và  “viện sĩ” …
      Ông Nguyễn Quang Ngọc viết:
    ….. Trong bài viết của mình, ông Lê Mạnh Chiến đưa ra cách dịch của cá nhân để loại trừ tất cả những nhà khoa học Việt Nam được các Viện Hàn lâm nước ngoài bầu làm “Membre étranger” (cho chỉ là “Thành viên nước ngoài”) hay “Correspondant étranger” (cho chỉ là “Thông tín viên nước ngoài”). Theo ông tất cả các danh hiệu “Viện sĩ nước ngoài” hay “Viện sĩ thông tấn nước ngoài” đều là “những nhầm lẫn không nhỏ trong việc sử dụng tên gọi Viện sĩ” và Việt Nam chưa hề có ai là Viện sĩ cả, tất cả đều là “gọi nhầm, hiểu nhầm”
          Tôi không bàn luận về toàn bộ bài viết cùa ông Lê Mạnh Chiến mà chỉ đi vào một trường hợp mà tác giả cố tình lấy làm ví dụ cụ thể. Tôi cũng xin được gạt ra ngoài những lời lẽ không được văn hóa của tác giả, để công luận phán xét. Tôi viết về trường hợp GS Phan Huy Lê mà tôi có điều kiện biết khá cặn kẽ. Tuy nhiên, ngay trong trường hợp cụ thể này tôi cũng chỉ tập trung vào một số nội dung cốt lõi mà thôi.
           Sau đó, ông Ngọc đã  căn cứ theo một số cuốn từ điển  như Pháp-Việt từ điển (1936) của GS Đào Duy Anh, Dictionnaire FranÇais-Vietnamien của Ủy ban Khoa học xã hội do Lê Khả Kế chủ biên (1981), Từ điển Việt-Pháp của Viện Khoa học xã hội do Lê Khả Kế, Nguyễn Lân chủ biên (1994) và Từ điển bách khoa Việt Nam của Hội đồng quốc gia chỉ đạo biên soạn từ điển bách khoa Việt Nam (tập IV, 2005).nhằm chứng  minh rằng ông Lê Mạnh Chiến đưa ra cách dịch của cá nhân để loại trừ tất cả những nhà khoa học Việt Nam được các Viện Hàn lâm nước ngoài bầu làm “Membre étranger” (cho chỉ là “Thành viên nước ngoài”) hay “Correspondant étranger” (cho chỉ là “Thông tín viên nước ngoài”).
         Một điều rất đáng  lưu ý là ông Nguyễn Quang Ngọc chỉ dựa vào các cuốn từ điển để phản bác, mà hoàn toàn  né tránh mọi lý lẽ mà tác  giả Lê Mạnh Chiến đã trình bày rất rõ ràng khi dịch các danh hiệu “Membre étranger” thành viên nước  ngoài  và “Correspondant étranger”thông tín viên nước ngoài. Trong khi đó, tác giả Lê Mạnh Chiến đã căn cứ vào quy chế và lời  diễn giải về các  ngạch  thành viên  ở  các viện  hàn lâm để dịch các danh hiệu ấy..
        Về các  ngạch thành viên của Viện hàn lâm khoa học Nga (và Liên Xô trước đây, cũng như của các viện hàn  lâm ở các  nước Đông Âu sao chép  theo khuôn mẫu Liên Xô), tác giả Lê Mạnh Chiến viết:
       【【    Sau đây, tôi xin viện dẫn  mục Члены РАН trong bài  Росси́йская акаде́мия нау́к (Viện hàn lâm khoa học Nga)tại từ điển Wikipedia tiếng Nga (mà mọi người sử dụng Internet đều rất dễ tìm thấy) để diễn giải về các ngạch thành viên của Viện hàn lâm khoa học Nga.. Đó cũng  là quy định của Viện hàn lâm khoa học Liên Xô trước kia.
 
 
    Членами Российской академии наук являются действительные члены РАН (академики) и члены-корреспонденты РАН. Главная обязанность членов Российской академии наук состоит в том, чтобы обогащать науку новыми достижениями. Члены РАН избираются общим собранием академии. Членами Российской академии наук избираются учёные, являющиеся гражданами Российской Федерации. Члены Российской академии наук избираются пожизненно. Действительными членами РАН избираются учёные, обогатившие науку трудами первостепенного научного значения.  Членами-корреспондентами РАН избираются учёные, обогатившие науку выдающимися научными трудами.
      По состоянию на 23 декабря 2011 года среди членов РАН были 531 академик и 769 членов-корреспондентов.
                                (Последнее изменение этой страницы: 15:35, 22 сентября 2012)
                   
  Xin đổi chữ РАН (Росси́йская акаде́мия нау́к) nghĩa là Viện hàn lâm khoa học Nga thành chữ RAS (Russian Academy of Siences) và chuyển đoạn văn trên đây sang tiếng Việt, như sau:
 
       Các thành viên của Viện hàn lâm khoa học Nga
 
      Các thành viên của Viện hàn lâm khoa học Nga (RAS) gồm có các thành viên chính thức (các viện sĩ – akademiki) và các thành viên thông tấn. Trách nhiệm chủ yếu của các thành viên RAS là phải đóng góp cho khoa học bằng những thành tựu mới. Hội nghị toàn thể của Viện hàn lâm bầu ra các thành viên của  Viện. Các nhà bác học được bầu làm thành viên RAS phải là công dân của Liên bang Nga. Các thành viên RAS được bầu suốt đời. Các nhà bác học đã hoàn thành những công trình có ý  nghĩa khoa học hàng đầu để cống hiến cho khoa học  thì được bầu làm thành viên chính thức (trở thành viện sĩ). Các nhà bác học đã góp những công trình khoa học xuất sắc  cống hiến cho khoa học thì được bầu làm thành viên thông tấn.
     Theo tình trạng đến ngày 23/12/2011, trong số các thành viên của RAS đã có 531 viện sĩ và 679 thành viên thông tấn   (LMC dịch)
            (Sự thay đổi gần đây nhất của trang này là vào hổi 15h23’ ngày 22.0.2002)】】
 
    Như vậy, theo từ điển Wikipedia tiếng Nga thì Viện hàn lâm khoa học Nga  có hai ngạch thành viên. Thứ nhất  là  thành viên chính thức  (действительные член, nếu dịch thật sát nghĩa thì gọi là thành viên thực nhiệm), là akademik, là  viện sĩ. Thứ hai là thành viên thông tấn (член-корреспондент), có tư cách thành viên thấp hơn, chưa phải là thành viên chính thức, chưa phải là viện sĩ. Bởi vậy, nếu gọi họ là viện sĩ thông tấn. thì sai, danh hiệu “viện sĩ” (akademịk) phải dành cho thành viên chính thức.
Thực ra, còn có một ngạch thành viên  nữa nhưng có  lẽ ít quan trọng nên từ điển Wikipedia tiếng  Nga  đã  vbỏ qua, đó  là thành viên nước  ngoài (tiếng Nga gọi là иностранные члены), nhưng trên Wikipedia tiếng Anh thì có  nhắc đến
    Theo quy chế của Viện hàn lâm khoa học Nga, có hai điều đáng chú ý:
 
1.        Chỉ  riêng các thành viên thực nhiệm mà tiếng Nga gọi là действительные члены  mời được gọi là академики, là các viện sĩ; các thành viên thông tấn (члены-корреспонденты) không được gọi là академики nên không thể gọi là viện sĩ thông tấn.
2.        Các viện sĩ và các thành viên thông tấn  của Viện hàn Lâm khoa học Nga đều  phải là những người mang quốc tịch Nga
 
       Vậy thì người Việt Nam  không thể là viện sĩ của Viện hàn  lâm khoa học Nga , mà chỉ  có  thể là thành viên nước  ngoài của Viện hàn  lâm này  mà thôi. Đối với các  nước XHCN Đông Âu cũng vậy. .
     
       Về danh hiệu “thông tín viên” của  ông Phan Huy Lê, tác  giả  Lê Mạnh Chiến viết:
 
         【【….tôi tìm đọc bài viết về Académie des Inscriptions et Belles-Letres trong Wikipedia tiếng Pháp. Văn bản này được chỉnh lý lần cuối cùng vào ngày 02/9/2012, trong đó không có một chữ nào nói đến membre-correspondant hoặc correspondant của Viện này. Tôi lại tìm đọc Liste des membres de l’Académie des inscriptions et belles-lettres de l’Institut de France.tức là  Danh sách các thành viện của Viện Bi ký và Mỹ văn ở Pháp, nơi mà các báo đưa tin là GS Phan Huy Lê được bầu làm viện sĩ thông tấn nước ngoài.
        Theo danh sách này, từ khi thành lập (năm 1663) đến  ngày 02/9/2012, cả thảy  có 670 vị  là thành viên người Pháp (viện sĩ), trong đó có ghi rõ chức vụ, nghề nghiệp, lĩnh vực nghiên cứu, năm sinh, năm mất, năm được bầu làm viện sĩ. Năm 2011, Viện đã bầu 3 viện sĩ là FranÕois Déroche (sinh năm 1954), Jean Guilaine (sinh năm 1936) và Véroniquee Schiltz (sinh năm 1942). Năm 2012, Viện cũng bầu  3 viện sĩ là Pierre  Gros (sinh năm 1939), Jehan Desanges (sinh năm 1929) và  Jacques Verger (sinh năm 1943)..
        Bên cạnh danh sách này, còn kèm theo danh sách Associés (chúng tôi tạm dịch là các cộng sự viên, hay thành viên cộng sự), Associés libres (cộng sự viên tự do) và Associés  étrangers (cộng sự viên nước ngoài).Tất cả các danh sách này đều  không có tên GS Phan Huy Lê. Trong danh sách Associés  étrangers, chúng tôi thấy có tên ông Norodom Sihamoni, đương kim Quốc vương  Căm-pu-chia (sinh năm 1953, được bầu chọntừ năm 2008)
        Cần nhớ rằng, từ năm 1663 đến nay, Viện này đã 4 lân thay đổi tên và 5 lần thay đổi quy chế về thành viên, trước đây có khi gồm vài ngạch viện sĩ và vài ngạch cộng sự viên. Hiện nay, có một ngạch viện sĩ người  Pháp và một ngạch thành viên cộng sự, người nước ngoài.
         Như vây, GS Phan Huy Lê không có tên trong danh sách các viện sĩvàcác cộng sự viên (associés)  của Académie des Inscriptions et Belles –Lettres. Vì không có ngạch thành viên thông tấn nên không có gì bám víu để  từ đó có thể cố ý dịch sai, biến ông thành viện sĩ thông tấn. rồi nhích dần lên viện sĩ.
        Để tìm cho rõ danh vị của GS Phan Huy Lê trong Viện hàn lâm Bi ký và Mỹ văn,  tôi phải tìm website chính thức  (Official website) của viện này tại  địa chí: http://www.aibl.fr/?lang=fr )
        Tìm đến  trang chủ của Website này, click vào mục MEMBRES (hoặc tìm trực tiếp tại địa chỉ:: http://www.aibl.fr/membres/?lang=fr  thì sẽ thấy một trang nói rõ về các ngạch thành viên, như sau:
 
Membres       L’Académie des Inscriptions et Belles-Lettres se compose de cinquante-cinq académiciens de nationalité française et de quarante associés étrangers. Elle comprend également cinquante correspondants français et cinquante correspondants étrangers.
     L’Académie des Inscriptions et Belles-Lettres réunit en son sein des personnalités de qualification exceptionnelle, hautement représentatives. Les académiciens sont des savants élus à vie par leurs pairs en raison de la qualité de leurs travaux dans les disciplines relevant de la compétence de l’Académie (archéologie, histoire, philologie et leurs multiples branches et spécialités), de leur puissance de travail ainsi que de leur renommée internationaleLorsqu’un fauteuil d’académicien est déclaré vacant par suite de décès, l’Académie décide, à la majorité des suffrages exprimés, de l’opportunité de pourvoir à son remplacement ; si tel est le cas, le Bureau propose une date pour
l’élection du nouveau membre, sinon, une nouvelle délibération a lieu sur la question après un délai de six mois. Contrairement à une règle généralement de mise dans le monde académique, il n’y a pas d’appel à candidature à l’Académie des Inscriptions et Belles-Lettres, chaque académicien ayant la liberté de proposer un candidat dont il fait distribuer les titres et travaux. L’élection a lieu au scrutin secret et à la majorité absolue des académiciens présents.
       Les associés étrangers, élus selon le même principe et souvent membres des Académies les plus prestigieuses de leur pays, sont choisis parmi les maîtres les plus éminents à travers le monde. Quant aux correspondants, ils assurent un rôle de relais de l’information scientifique auprès de l’Académie et participent à sa vie et à ses travaux; choisis par les académiciens, ils constituent un vivier de personnalités de premier plan parmi lesquelles l’Académie a pris l’habitude de recruter souvent ses nouveaux membres.            (Nguồn: http://www.aibl.fr/membres/?lang=fr)
Dịch sang tiếng Việt:
 
          Các thành viên (của Viện hàn lâm Bi ký và Mỹ văn)
 
     Viện HL Bi ký và Mỹ văn gồm có 55 viện sĩ (académiciens) có quốc tịch Pháp và 40 cộng sự viên nước ngoài. Nó còn bao gồm 50 thông tín viên (corresondants) người Pháp và 50 thông tín viên  nước ngoài.
     Viện HL Bi ký và Mỹ văn tập hợp các nhân vật đạt trình độ nghiệp vụ ngoại hạng  có tính đại diên cao. Các viện sĩ là những nhà bác học được những người đồng đẳng bầu suốt đời do phẩm chất của những công trình của họ trong các bộ môn thuộc thẩm  quyền của Viện (khảo cổ học, lịch sử,  ngữ văn học, cùng nhiều ngành và nhiều chuyên khoa của chúng), do năng lực làm việc và thanh danh quốc tế  của họ.
      Khi một chiếc ghế bành  (fauteuil) viện sĩ  được tuyên bố là khuyết vì chủ nhân đã qua đời, Viện sẽ  theo đa số những ý kiến được bày tỏ để quyết định cơ hội bổ nhiệm người thay thế; trong trường hợp đó, Văn phòng sẽ đề nghị một ngày để bầu thành viên mới, nếu không, thì phải có một cuộc thảo luận về vấn đề này sau thời hạn sáu tháng. Khác với quy tắc thường được áp dụng trong giời học thuật, không có việc kêu gọi ứng cử vào Viện Bi ký và Mỹ văn, mỗi viện sĩ được tự do đề cử một ứng cử viên, giới thiệu các chức vị và các công trình  của người ấy. Việc bầu chọn được thực hiện bằng cách bỏ phiểu kín và theo đa số tuyệt đối của các viện sĩ  có mặt.
      Các cộng sự viên nước ngoài, được bầu theo đúng nguyên tắc như vậy, và thường là viện sĩ của các Viện có uy tín nhất ở nước họ, được chọn trong số những bậc thầy nổi tiếng nhất trên thế giới. Còn về các thông tín viên (correspondant), họ giữ vai trò trạm thông tin khoa học  bên cạnh Viện HL Bi ký và Mỹ văn  và tham gia sinh hoạt cùng các công việc của Viện; họ được các viện sĩ bầu  chọn, họ hợp thành một nhóm nhân vật quen thuộc hàng đầu để từ đó, Viện  tuyển chọn các thành viên mới, theo thói  quen thường  có.   (LMC dịch)
                                                                                                                                 
       Qua đoạn văn trên đây, chúng ta biết rằng, các cộng sự viên nước ngoài (Associés étrangers) là những nhà bác học lớn có tầm cỡ  ngang hàng với các viện sĩ người Pháp, nhưng họ không có danh hiệu viện sĩ vì họ không mang quốc tịch Pháp. Nếu gọi họ là “viện sĩ nước ngoài” thì  chưa đúng về ngôn từ, vì người Pháp không gọi họ như vậy, nhưng đúng về thực chất. Còn các correspondant,  phâỉ dịch chính xác là  thông tín viên, hay người truyền tin vì họ được xác định là các trạm thông tin khoa học bên cạnh Viện HL Bi ký và Mỹ văn. So với viện sĩ, họ có cương vị thấp hơn rất nhiều, họ cũng không được bầu suốt đời (thông tín viên Francisco Rico, người Tây Ban Nha mà GS Phan đã thay thế, sinh năm 1942, vẫn đang sống). Họ cũng không phải là những ứng cử viên sẵn có để chờ khi có viện sĩ qua đời thì sẽ được chọn lựa. GS Phan Huy Lê được chọn làm người truyền tin nước ngoài  ngày 27/5/2011 cùng với 7 người khác. Trước đó một năm rưỡi, ngày 06/11/2009, Viện này cũng đã thay  8 người truyền tin nước ngoài và  8 người truyền tin trong nước.】】
          Xin bổ sung một chút, Ông Francisco Rico đã được bầu làm associé étranger (cộng sự viên nước  ngoài) ngày 04/6/2010, ở  “ghế bành” của  Dietrich von BOTHMER.
     Ông  Nguyễn Quang  Ngọc nên chú ý đến câu này:trong Quy chế về thành viên của viện hàn lâm Bi ký và  Mỹ văn:: Còn về các thông tín viên (correspondant), họ giữ vai trò trạm thông tin khoa học  bên cạnh Viện HL Bi ký và Mỹ văn  và tham gia sinh hoạt cùng các công việc của Viện   (Nguyên văn bằng tiếng Pháp: Quant aux correspondants, ils assurent un rôle de relais de l’information scientifique auprès de l’Académie et participent à sa vie et à ses travaux).
 
        Chỉ riêng việc xác định chức danh “thông tín viên” cho ông Phan Huy Lê, tác  giả Lê Mạnh Chiến đã phải tra cứu từ  Quy chế về  các  loại thành viên của Viện hàn  lâm Bi ký và Mỹ văn, vừa dịch vừa giải thích hết  gần 1400 chữ, kể cả  phần  nói vềcác  ngạch thành viên của Viện hàn  lâm khoa học Nga, tác giả này  đã viết  hơn 2000 chữ. Thế mà ông  Nguyễn Quang Ngọc viết  là  “ông  Lê Mạnh Chiến  đưa ra cách dịch của cá nhân để loại trừ tất cả những nhà khoa học Việt Nam được các Viện Hàn lâm nước ngoài bầu làm “Membre étranger” (cho chỉ là “Thành viên nước ngoài”) hay “Correspondant étranger” (cho chỉ là “Thông tín viên nước ngoài”)….”  Còn ông Ngọc thì cặm cụi  tra từ điển bằng tiếng Việt. để vạch rõ “sai lầm” của ông Lê Mạnh Chiền.  Điều đó đủ thấy trình  độ học lực và  phương  pháp  nghiên cứu của ông  GS TS Nguyễn Quang Ngọc.
         Nên nhớ rằng, trong nghề dịch thuật, các từ điển (nhất  là từ điển song  ngữ) chỉ  là  tài liệu tham khảo, nhiều  khi người ta  phải tra cứu hàng chục bộ từ điển mới tìm được một nghĩa thỏa đáng. Đối với  những  từ  khó, những thuật ngữ phức tạp, có  khi người ta phải tra rất  nhiều bộ từ điển bản  ngữ kết  hợp với văn cảnh cụ thể mà nhiều khi cong lúng  túng.. Vậy mà  ở đây không thấy  ông  Ngọc  sử dụng một bộ từ điển  nào bằng tiếng  Nga  hay tiếng Pháp. Trong các văn bản pháp quy, đối với  những khái  niệm hay những thuật ngữ quan trọng, người ta đều diễn giải rõ nghĩa của chúng, và  nhất thiết phải  căn cứ vào đó để hiểu hoặc để dịch sang ngôn ngữ khác. Cặm cụi tra cứu từ điển (nhất  là từ điển song ngữ) để hiểu và để dịch là công việc của học sinh tiểu học. Học sinh tú tài thời Pháp thuộc chẳng có ai làm công tác “dịch thuật” kiểu  như  thế, chưa cần  nói đến  những  người có  học vấn cao hơn.
          Ông Nguyễn Quang Ngọc đã chỉ trích phê phán tác giả Lê Mạnh Chiến  một cách không đàng  hoàng. Ông ta không  bám theo lý lẽ của tác giả  này để phê phán hay “phản biện”  mà tự “luận tội”  một cách vu vơ, lại còn dám xúc phạm tác giả  này  là  có “những lời lẽ không được văn hóa” nhưng không nêu được bằng chứng gì cả. Bởi thế, bài Lược khảo… của tác giả  Lê Mạnh Chiến vốn từng  được đăng trên bản tin khoavanhoc-ngonngu.edu.vnđã bị gỡ xuống để thay bằng bài của ông Ngọc. Nếu  tác giả Lê Mạnh Chiến đã phạm “những sai lầm tai hại” thì cứ để nguyên bài ấy  cho độc giả đối chứng, sao lại phải xóa đi? Tuy chưa đến  mức gọi là “ngậm máu phun người” nhưng những thứ mà ông  Ngọc phun ra cũng chẳng sạch sẽ gì.
         Điều  tệ hại nhất của ông Ngọc ở đây là sự sai lầm nghiêm trọng về  kiến thức và phương pháp kèm theo sự  vu cáo tác giả  Lê Mạnh Chiến một cách thiếu căn cứ, mờ ám..
           Ông Nguyễn Quang Ngọc và cả ông Phan Huy Lê,  nếu  muốn bác bỏ lời phán xét của tác giả Lê Mạnh Chiến  thì  hãy  đọc cho kỹ  bài Lược khảo về các tên gọi “viện hàn lâm” và  “viện sĩ” cùng  những nhầm  lẫn tai hại, sau đómới liệu sức  liệu tài mà “phản biện” nhé.
           Một chi tiét rất  nhỏ nhưng cũng  cần nhắc đến. Ông Ngọc thấy có chữ “fauteuil” (ghế bành)  ở câu “Viện hàn lâm Bi ký và Mỹ văn đã chỉ định tiên sinh làm Thông tín viên nước ngoài tại  ghế bành  mà trước đây thuộc về Francisco Rico”.trong Thư thông báo gửi tới ông Phan Huy Lê, rồi  coi đó như là bằng chứng về địa vị “viện sĩ” của ông Phan Huy Lê. Xin thưa với ông Ngọc rằng, trong  ngôn ngữ xã giao, về những điều vụn vặt, người ta sử dụng những từ ngữ cho đẹp thêm cũng không sao. Nhưng,  trong “Giấy chứng  nhận” chức danh thông tín viên của ông Phan Huy Lê, có câu
 Nommé le 27 mai 2011 correspondant étranger à la place de Francisco Rico (Được chỉ định ngày 27 tháng 5năm 2011, làm thông tín viên nước ngoài tại vị trí của Francisco Rico). Trong  klhi đó, “Giấy chứng  nhận” của ông Francisco Rico thì ghi: Élu, le 4 juin 2010, associé étranger de l’Académie des Inscriptions et Belles-Lettres, au fauteuil de Dietrich von BOTHMER. (Được bầu  ngày 04/5/2011, làm Cộng sự viên nước  ngoài  của Viện hàn lâm Bi ký và  Mỹ văn, tại ghế bành của ông  Dietrich von BOTHMER.  Thế đấy, ông  GS TS Nguyễn Quang Ngọc ạ.
 
        GS Nguyễn Quang Ngọc đã hét sức cố gắng lau rửa mặt mũi cho GS  Phan Huy Lê. Tuy nhiên, với  phương pháp  không sạch và vật liệu không sạch, làm sao mà lau rửa được.
 
 

2 nhận xét:

  1.  

    Hãi quá!

    Trả lời

  2.  

    Tôi hoàn toàn đồng ý với những kiến giải trên của tác giả bài báo. Ở Liên Xô trước đây và ở LB Nga hiện nay chỉ có действительные члены của Viện hàn lâm khoa học của Liên Xô (trước đây) hoặc của Nga (hiện nay) mới được gọi là Viện sỹ (академики), còn члены-корреспонденты không được gọi là Viện sỹ (академики). Trong tiếng Nga, người ta dùng rất đúng, có phân biệt rất rõ hai chức danh này. Do không tìm hiểu cụ thể nên trong các văn bản dịch член-корреспондент sang tiếng Việt là “viện sỹ thông tấn” là sai hoàn toàn về mặt ngữ pháp, câu chữ, và không đúng ý nghĩa thực.
    Trong khoa học cần phải “chính danh”.
    Không nên “khoác” cho mình cái “danh” không “chính”. Chỉ những người thiếu tự trọng mới hay cố “vơ vào” những cái danh không chính.
    (TS. Nguyễn Thành Sơn)

    Trả lời

leminhkhaiviet

About Vietnamese Cultural History and Scholarship

Xuân Bình

Nhà báo tự do

Nguyễn Huy Hoàng

the star is fading

Nghiên cứu lịch sử

Các bài nghiên cứu, biên khảo và dịch thuật các chủ đề về lịch sử

Le Minh Khai's SEAsian History Blog

Always rethinking the Southeast Asian past

trinhythu

Trịnh Y Thư WordPress.com site

trandangtuan.com

Men lá rượu ngô trong

4th Avenue Café

Free non-fiction translation

WordPress.com

WordPress.com is the best place for your personal blog or business site.

Trương Thái Du's Blog

Văn chương thiên cổ sự - Đắc thất thốn tâm tri...

No More Goat Soup

No goats were harmed in any way while making this blog. (We did kill all the sheep though)