Sự kém quan trọng của trống đồng trong sử Việt

Leave a comment

“Trên con đường đi tìm một căn tính phi Hán của nước Việt Nam hiện đại” – Đó là câu trả lời của cá nhân tôi.

———————————

By Le Minh Khai

Người dịch: Hoa Quốc Văn

Trong nửa thứ hai của thế kỉ XX, trống đồng đã trở thành một biểu tượng về “thời cổ nước Việt”.

Image

Tuy nhiên, từ thời điểm người dân mà chúng ta gọi là Việt bắt đầu ghi chép thông tin về mình cho đến nay – một quãng thời gian đại khái tương ứng với một nghìn năm thuộc thiên niên kỉ thứ 2 sau Công lịch – trống đồng chưa bao giờ là một bộ phận của đời sống văn hoá người Việt. Thay vào đó là những người mà người Việt xem là khác với bản thân họ, và những người người Việt tỏ thái độ kẻ cả, những người dùng trống đồng trong đời sống văn hoá của họ.

Hiểu đơn giản, không người Việt nào trước thế kỉ XX từng xem trống đồng là một biểu tượng về “thời cổ nước Việt”. Thực vậy, trong nhiều thế kỉ, hầu hết người Việt có lẽ đã sống và chết mà chưa từng nhìn thấy, hay nghe nói về một chiếc trống đồng.

Đối với người Việt đã viết về trống đồng trước thế kỉ XX, họ cũng không hề biết tí gì về chúng. Trong nhiều trường hợp, khi họ viết về trống đồng, họ thực hiện việc này bằng cách trích dẫn những nguồn tư liệu “Trung Hoa” hiện có lúc bấy giờ. Đó là bởi bản thân họ không biết gì về trống đồng.

Chẳng hạn, hãy xem xét việc Lê Tắc phải nói về trống đồng trong cuốn An Nam chí lược 安 南志略ở thế kỉ XIV. Trong công trình này, Lê Tắc kết nối trống đồng với một nhóm sắc tộc khác, nhóm Lão/Liêu Tử 獠子, một nhóm người mà Lê Tắc nhắc đến bằng khái niệm có tính miệt thị là “người mọi” (man t 蠻子). Đây là điều mà ông viết:

“Lão/Liêu Tử là tên khác của người mọi. Họ có nhiều ở Hồ Quảng và Vân Nam. Một số phục tùng Giao Chỉ. Cũng có một số dân xăm lên trán và khoan lỗ vào răng. Có một ít kiểu người man khác nhau. Người xưa chép rằng cho loại người Lão/Liêu hình đầu người (頭形獠子 đầu hình Lạo Tử– có lẽ là chép sai từ Lạo Tử đầu bay  飛頭獠子 – phi đầu Lạo tử), Liêu Tử khố đỏ (赤裸獠子 – Xích loã ) và Lão/Liêu Tử uống bằng mũi (鼻飲獠子 – tị ẩm Lạo tử). Họ đều sống ở hang động hoặc ở ổ, hốc. Họ thường uống rượu bằng ống sậy. Họ thích đánh nhau với kẻ thù [thạo bắn nỏ] và họ đánh trống đồng. Họ đánh giá cao những chiếc trống lớn. Khi một chiếc trống mới được hoàn thành, họ đặt nó ở ngoài sân cùng với rượu rồi mời đồng loại đến [ăn mừng]. Họ đến đứng chật cửa [sân]. Con cái của một nhà quý tộc lấy chiếc thoa bằng vàng hoặc bạc đánh vào trống, sau đó cô ta để lại nó cho chủ nhà”(1).

Image

Vậy là trong văn bản này, trống đồng được liên hệ với một nhóm người khác với người Việt – tức người Lão/Liêu Tử, được Lê Tắc gọi một cách miệt thị là “người mọi”. Dễ dàng nói rằng cái tên này chỉ nhóm người mà ngày nay chúng ta gọi là “Lào”, nhưng điều đó có lẽ không chính xác, khi mà việc sử dụng trống đồng dường như không giới hạn ở tổ tiên của nhóm người mà ngày nay chúng ta gọi là Lào.

Dù thế nào, không có chi tiết nào Lê Tắc cung cấp là của bản thân ông. Thay vào đó, chúng có thể được tìm thấy trong những nguồn tư liệu “Trung Hoa” sớm hơn. Một số người sẽ lập luận rằng Lê Tắc có lẽ đã viết bằng cách này bởi ông viết sách này khi ông đang ở “Trung Quốc”, nhưng một văn bản địa dư ở thế kỉ XIX, cuốn Đi Nam nht thng chí 大南一統志, cũng dẫn các nguồn tư liệu “Trung Hoa” để giải thích thế nào là trống đồng.

Có một đoạn văn trong cuốn sách đó nói về một ngôi đền có tên là đền thần Đồng Cổ (Đồng Cổ Thần Từ 銅鼓神祠) mà tôi sẽ viết về nó sau này, và ở cuối đoạn văn, một số văn bản “Trung Hoa” được trích dẫn để giải thích thế nào là trống đồng. Và tôi nghĩ có một điều có ý nghĩa cần lưu ý là bản dịch tiếng Việt của văn bản này đã bỏ qua thông tin này (vâng, một ví dụ nữa về việc vì sao phiên bản quốc ngữ của các văn bản Hán khiếm khuyết một cách vô vọng).

Đây là điều văn bản đó viết:

“Theo sách Hậu Hán thư (Hou Hanshu 後漢書), Mã Viện chiếm được những trống đồng Lạc Việt ở Giao Chỉ. Sách Quảng Châu kí [Guangzhouji 廣 州記chép rằng] dân Lị và Liêu đã đúc trống bằng đồng, chỉ những chiếc cao lớn mới được đánh giá cao, và nó rộng hơn 1 mét. Khi trống đồng mới được đúc xong, nó được treo giữa một cái sân. Rượu được bày ở đó và họ mời đồng loại đến. Con gái của một vị hào phú lấy một chiếc thoa vàng hoặc bạc đánh vào trống, sau đó cô ta để lại nó cho chủ nhân của trống. Sách Tuỳ thư [Suishu 隋 書] cũng [chép] các tộc mọi khác đều đúc trống đồng lớn. Khi có việc gì đó, họ sẽ đánh trống và mọi người kéo đến như mây tụ…”(2)

Image

Vậy là trước thế kỉ XX, trống đồng, cái ngày nay là biểu tượng của “thời cổ nước Việt”, về cơ bản không được người Việt biết đến.

Vậy tại sao chỉ sau khi người châu Âu khai quật được trống đồng từ dưới đất ở thế kỉ XX và giới thiệu khái niệm dân tộc chủ nghĩa cho người Việt, người Việt mới bắt đầu xem trống đồng là biểu tượng quan trọng?

Ồ, tôi nghĩ tôi vừa trả lời câu hỏi của chính mình…

http://leminhkhai.wordpress.com/2013/09/15/the-unimportance-of-bronze-drums-in-viet-history/

Chú thích của người dịch:

(1) Đoạn này sách An Nam chí lược (bản dịch của Viện đại học Huế, 1961) dịch như sau:

Liêu-Tử: là một tên khác của giống man, di, phần đông thống thuộc vềcác tỉnh Hồ-Nam, Lưỡng-Quảng và Vân-Nam, nhưng có một sốphục-tùng nước Giao-Chỉ. Lại có bọn khắc chữ nơi trán, cà răng, chủng loại rất nhiều. Sách cổ chép có thứ Liêu-tử “đầu-hình”, thứ Liêu-Tử xích-côn (váy đỏ), thứ Liêu-Tử tỷ-ẩm (uống bằng mũi), đều ởtrong hang đá, hầm đất, hoặc ởchuồng, ở ổ, hay uống rượu sậy, thích đánh giặc, phần đông biết dùng cung nỏ, và đánh trống đồng. Thứtrống nào cao lớn là quí. Cái trống mới đúc xong, thì đặt giữa sân, thết tiệc, mời cảngười đồng loại cùng tới đầy cửa. Con gái nhà hào phú lấy những chiếc soa bằng vàng bạc, đánh vào trống, xong, đểchiếc soa ấy lại cho chủnhà. Có kẻ nói: trống đồng là chiêng của Gia-Cát-Lượng lúc đi đánh giặc mọi.

Đúng là nguyên bản viết “xích côn” (quần ngắn màu đỏ 赤裩) không phải “xích loã” (trần truồng).

(2) Đoạn này tôi chưa kiểm tra được phiên bản quốc ngữ. Theo nguyên bản Hán văn có thể dịch như sau:

“Theo sách Hậu Hán thư (Hou Hanshu 後漢書), Mã Viện bắt được những trống Lạc Việt ở Giao Chỉ. Sách Quảng Châu kí [Guangzhouji 廣 州記chép rằng] dân Lị và Liêu đã đúc trống bằng đồng, chỉ những chiếc cao lớn là được xem là quý, và nó rộng hơn 1 trượng. Khi trống đồng mới được làm xong, nó được treo ở sân. Rượu được bày ở đó và họ mời đồng loại đến. Con gái của một vị hào phú dùng vàng bạc làm chiếc thoa lớn gõ vào trống, sau đó cô ta để lại nó cho chủ nhân. Lại sách Tuỳ thư [Suishu 隋書] [chép rằng]: các tộc mọi đều đúc trống đồng lớn. Khi có việc gì đó, họ sẽ đánh trống và, người kéo đến như mây tụ…”

The Unimportance of Bronze Drums in Việt History

15Sep13

In the second half of the twentieth century, the bronze drum became a symbol of “the antiquity of Việt nation.”

However, from the time that the people we refer to as the Việt started to record information about themselves until the present – a time period roughly equivalent to the thousand years of the second millennium AD – bronze drums were never part of the cultural lives of the Việt. Instead, it is people whom the Việt perceived to be different from themselves, and whom the Việt looked down upon, who employed bronze drums in their cultural lives.

As such, no Việt prior to the twentieth century ever saw bronze drums as a symbol of “the antiquity of the Viêt nation.” Indeed, for many centuries most Việt probably lived and died without ever having seen, or heard of, a bronze drum.

bd

As for the Việt who wrote about bronze drums before the twentieth century, they also didn’t know anything about them. In the few instances when they wrote about bronze drums, they did so by citing information from extant “Chinese” sources. This is because they did not know anything about the drums themselves.

Let’s look, for instance, at what Lê Tắc had to say about bronze drums in his fourteenth-century An Nam chí lược 安南志略. In that work, Lê Tắc associated bronze drums with a different ethnic group, the Lão/Liêu Tử 獠子, a group of people whom Lê Tắc referred to in derogatory terms as “savages” (man tử 蠻子). This is what he wrote:

“Lão/Liêu Tử is another name for savages. There are many in Huguang and Yunnan. Some serve Giao Chỉ. There are also some who tattoo their foreheads and bore their teeth. There are quite a few different types of them. It was recorded in the past that there are Head-Shaped Lão/Liêu Tử (頭形獠子 – probably a mistake for ‘Flying-Head Lạo Tử’ 飛頭獠子), Red-Pants Lão/Liêu Tử (赤裸獠子) and Nose-Drinking Lão/Liêu Tử (鼻飲狻子). They all live in cliff caverns or nest huts. They drink wine through reeds. They are fond of warring with enemies and they beat bronze drums. They value big ones. When a drum is first completed, they place it in a courtyard with wine and invite their fellow kind. Those who come fill [the courtyard] to the gates. The daughter of a notable takes a gold or silver hairpin and strikes the drum, after which she leaves it with the owner.”

ancl

So in this text, bronze drums are associated with a people who are different from the Việt – Lão/Liêu Tử, whom Lê Tắc derogatorily labeled “savages.” It would be convenient to say that this name refers to the same people that we today call the “Lao,” but that’s probably not accurate, as the use of bronze drums was probably not limited to the ancestors of the people whom we today call the Lao.

In any case, none of the details that Lê Tắc provided were his own. Instead, they can be found in earlier “Chinese” sources. Some people will argue that Lê Tắc probably wrote this way because he wrote this book when he was in “China,” but the nineteenth-century geographical text, the Đại Nam nhất thống chí 大南一統志, likewise cited “Chinese” sources to explain what bronze drums were.

dnntc2 - Copy

There is a passage in that work on a shrine called the Shrine of the Spirit of the Bronze Drum (Đồng Cổ Thần Tự 銅鼓神祠), which I will write about later, and at the end of that passage several “Chinese” texts are cited to explain what bronze drums are. And I think it is significant to note that the Vietnamese translation of this text omits this information (yet one more example of why the quốc ngữ versions of Hán texts are hopelessly flawed).

This is what that text says:

“According to the History of the Later Han [Hou Hanshu 後漢書], Ma Yuan obtained Lạc Việt bronze drums in Giao Chỉ/Jiaozhi. The Record of Guang Region [Guangzhou ji 廣州記] [records that] the Li and the Liao cast drums out of bronze. Only those that are tall are valued, and over a meter wide. When a drum is first completed, it is hung in a courtyard. Wine is placed there and they invite their fellow kind. The daughter of a notable takes a gold or silver hairpin and strikes the drum, after which she leaves it with the owner. Also, the History of the Sui [Suishu 隋書] the various savages all cast large bronze drums. When there was some incident they would sound it and people would arrive like clouds. . .”

dsbd

So prior to the twentieth century, bronze drums, which are now the symbol of “the antiquity of the Việt nation,” were basically unknown to the Việt.

So why is it that it is only after Europeans dug bronze drums out of the ground in the twentieth century and introduced the concept of nationalism to the Việt that the Việt started to see the bronze drums as such important symbols?

Oh, I think I just answered my own question. . .

Trần Trọng Dương: Kinh Dương Vương – ông là ai?

2 Comments

Nguồn Tia Sáng


Một trong bốn con tem thuộc bộ tem
“Dân gian truyền thuyết – Liễu Nghị truyền thư”
do Bưu cục Quốc gia Trung Quốc phát hành
năm 2004.
Như trong bài viết trước1, chúng tôi đã nhận định Đại Việt sử ký toàn thư (Toàn thư) – bộ sử quan trọng nhất của Việt Nam đề cập những sự kiện từ khởi thủy cho đến thế kỷ XVII – là một tư liệu được biên soạn trên tư duy đa nguyên “văn – sử – triết” của thời Trung Đại. Trong đó, bộ sử này đã sưu tập nhiều huyền thoại dân gian của đời sau để bù đắp cho những khuyết thiếu của sử liệu. Ở bài này, chúng tôi tiếp tục làm rõ hơn nhận định trên thông qua việc phân tích một nhân vật vốn được coi là thủy tổ của người Việt và nước Việt nhưng cứ liệu lại cho thấy chỉ là ảo ảnh diễn hóa từ nhân vật Kinh Xuyên trong tiểu thuyết truyền kỳ của Trung Quốc.

Kinh Dương Vương và tín ngưỡng thờ Kinh Dương Vương

Theo như cách trình bày ở Kỷ Hồng Bàng thị trong Toàn thư, Kinh Dương Vương tên là Lộc Tục, con cháu họ Thần Nông, vị vua khai sáng ra nước Xích Quỷ (quỷ đỏ). Vì thế Kinh Dương Vương được Ngô Sĩ Liên coi như vị thủy tổ đầu tiên của người Việt và nước Việt. Chẳng những thế, Kinh Dương Vương còn lấy con gái của Động Đình Quân tên là Thần Long để sinh ra Sùng Lãm, tức Lạc Long Quân. Lạc Long Quân sau lấy Âu Cơ – con gái của Đế Lai, sinh ra trăm con trai, 50 con lên rừng, 50 con xuống bể. Vị con trưởng được nối ngôi cha, phong là Hùng Vương. Sử gia Ngô Sĩ Liên thế kỷ XV bình luận đoạn này như sau: “Con cháu Thần Nông thị là Đế Minh lấy con gái Vụ Tiên mà sinh Kinh Dương Vương, tức là thủy tổ của Bách Việt. Vương lấy con gái Thần Long sinh ra Lạc Long Quân, Lạc Long Quân lấy con gái Đế Lai mà có phúc lành sinh trăm con trai. Đó chẳng phải là cái đã gây nên cơ nghiệp của nước Việt ta hay sao?”2.

Kể từ sau Ngô Sĩ Liên, phần lớn các bộ lịch sử Việt Nam đều công nhận Kinh Dương vương là thủy tổ của nước Việt. Ví dụ như sách Thiên Nam minh giám (thế kỷ XVII) mở đầu như sau:

“1-     Tượng mảng xưa sách trời đã định,
    Phân cõi bờ xuống thánh sửa sang,
    Nước Nam từ chúa Kinh Dương,
    Tày nhường phải đạo mở mang phải thì.
5-     Tới Lạc Long nối vì cửu ngũ,
    Thói nhưng nhưng no đủ đều vui,
    Âu Cơ gặp gỡ kết đôi,
    Trổ sinh một bọc trăm trai khác thường.
    Xưng Hùng Vương cha truyền con nối,
10-     Mười tám đời một mối xa thư,
    Cành vàng lá ngọc xởn xơ,
    Nước xưng một hiệu năm dư hai nghìn”.3

Đến thế kỷ XVII, Kinh Dương Vương đã chính thức được văn hóa dân gian đưa vào thờ làm vị thủy tổ trong đền ở thôn Á Lữ, xã Đại Đồng Thành, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh (ngày nay). Năm 1840, đền cho dựng bia đá “Kinh Dương Vương lăng”. Năm 1940, đời vua Bảo Đại, đền làm thêm hai đại tự “Nam Tổ miếu” và “Thần truyền thánh kế“. Năm 2000, nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm về thăm đền và để lại bút tích gợi ý tỉnh Bắc Ninh có đề xuất lên Trung ương nâng cấp cơ sở thờ tự của tổ tiên. Năm 2009, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết cũng đến thăm đền và để lại những lời kỷ niệm sâu sắc về cội nguồn dân tộc4. Năm 2012, NXB Văn hóa dân tộc ấn hành cuốn Nam Bang Thủy Tổ Kinh Dương Vương của các tác giả Trần Quốc Thịnh, Đỗ Văn Sơn, Biện Xuân Phẩm, tập hợp các tư liệu từ Toàn thư, Lĩnh Nam chích quái, Thủy Kinh chú… và từ các truyền thuyết, văn bia, thần phả, thần tích cũng như công trình nghiên cứu, tham luận của các học giả.

Ngày 25/2/2013, tỉnh Bắc Ninh tổ chức lễ hội kỷ niệm 4892 năm Đức thủy tổ khai sinh mở nước. Đến dự lễ khai hội có Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Thiện Nhân và lãnh đạo một số Bộ, ngành. Sau lễ dâng hương, Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân dự lễ khởi công Dự án tu bổ, tôn tạo và phát huy giá trị Khu di tích Lăng và Đền thờ Kinh Dương Vương. Theo quy hoạch đã được tỉnh Bắc Ninh phê duyệt, dự án có tổng diện tích gần 40ha, gồm không gian bảo tồn di tích, không gian phát huy giá trị di tích, không gian quản lý và dịch vụ phụ trợ, với nguồn vốn đầu tư gần 500 tỷ đồng5.


Từ nhân vật của truyện truyền kỳ Trung Hoa?

Tuy nhiên, như ngay ở đầu bài viết, chúng tôi có ý nghi vấn, Kinh Dương Vương chưa chắc đã là nhân vật lịch sử có thật. Chứng cớ nào đề chúng tôi có thể đi đến nghi ngờ như vậy?

Chứng cứ nằm ngay trong Toàn thư, sau khi viết về lai lịch, cuộc đời của Kinh Dương Vương, Ngô Sĩ Liên đã viết: “Xét Đường kỷ chép: thời Kinh Dương có người đàn bà chăn dê, tự xưng là con gái út của Động Đình Quân, lấy con thứ của Kinh Xuyên, bị bỏ, viết thư nhờ Liễu Nghị tâu với Động Đình Quân. Thế thì Kinh Xuyên và Động Đình đời đời làm thông gia với nhau đã từ lâu rồi”.6

Chúng ta còn thấy chuyện này được chép trong sách Lĩnh Nam chích quái của Trần Thế Pháp (thế kỷ XIV?)7, rồi sau đó lại được sao chép nguyên vẹn vào trong thần tích của Mẫu Thoải tại Tuyên Quang8.

Cần nhắc lại ở đây ghi chép về nguồn Đường kỷ của Ngô Sĩ Liên là một gợi ý hữu ích cho những người nghiên cứu các đời sau. Từ gợi ý đó, một số học giả đã tìm ra cả chục văn bản văn học Trung Quốc chép câu chuyện này. Lần xa hơn nữa, các học giả đều thống nhất cho rằng, truyện Kinh Dương Vương có sự sao chép từ tiểu thuyết Liễu Nghị truyện (柳毅傳) do Lý Triều Uy sáng tác vào đời Đường9. Truyện có thể tóm tắt như sau: Liễu Nghị là một nho sinh thi trượt, trên đường gặp một thiếu phụ chăn dê xinh đẹp nhưng dáng vẻ tiều tụy. Người phụ nữ ấy nói rằng mình là con gái của Long Vương ở hồ Động Đình, vốn lấy con trai thứ của Kinh Xuyên, nhưng bị bạc đãi, bắt đi chăn dê, nên muốn nhờ Liễu Nghị chuyển thư đến cho cha để báo tình cảnh của mình. Liễu Nghị đem thư xuống Long cung. Em trai Long Vương là Tiền Đường giận quá nên giết con trai của Kinh Xuyên, cứu cháu về, rồi định gả cho Liễu Nghị. Nghị từ chối, xin về, được Long vương ban cho nhiều vàng bạc châu báu. Sau Liễu Nghị lấy vợ, lần nào lấy xong vợ cũng chết. Con gái Long Vương thấy vậy bèn nhớ lại duyên cũ, muốn báo đáp bèn hóa làm người con gái xinh đẹp mà lấy Liễu Nghị làm chồng. Sau hai vợ chồng đều thành tiên10.

Liễu Nghị truyện được coi là một truyện truyền kỳ sớm nhất của Trung Quốc. Từ cuối đời Đường, truyện đã được lưu hành rộng rãi trong dân gian. Đến thời Tống, truyện được Thượng Trọng Hiền chuyển thể sang kịch bản tạp kịch với tên “Động Đình hồ Liễu Nghị truyền thư”11. Liễu Nghị trở thành tích truyện rất được ưa thích trong văn hóa diễn xướng của người Trung Quốc. Hàng loạt các tác phẩm nổi tiếng ra đời, như nhà Tống có “Liễu Nghị đại thánh nhạc”; nhà Kim có “Liễu Nghị truyền thư”; triều Nguyên có “Liễu Nghị Động Đình long nữ”; thời Minh Thanh có “Quất bồ ký”, “Long tiêu ký”, “Long cao ký”, “Thẩn trung lâu”, “Thừa long giai thoại”12. Trong đó, cho đến nay, “Liễu Nghị truyền thư” (còn có tên “Thủy tinh cung”, “Liễu Nghị kỳ duyên”) vẫn được người Trung Quốc coi như là một kịch mục kinh điển của hý kịch Trung Hoa. Từ năm 1952, vở kịch đã nhiều lần được dàn dựng bởi các đạo diễn khác nhau, số lần trình diễn hiện chưa thể thống kê hết được13. Không những thế, tích truyện này còn trở thành đề tài làm tranh khắc ván và thư họa truyền thống (thủy mặc). Ngày 17/7/2004, Bưu cục Quốc gia Trung Quốc đã phát hành bộ tem “Dân gian truyền thuyết – Liễu Nghị truyền thư”, gồm bốn con tem với bốn hoạt cảnh: “Long nữ gửi thư”, “Thư gửi Động Đình”, “Cốt nhục đoàn tụ”, và “Nghĩa trọng tình thâm”14.

Những nhận định của sử gia đời sau

Đến đây có thể nhận định về nguồn gốc của các mô-típ, các nhân vật, cũng như địa danh trong truyện Kinh Dương Vương được chép trong Toàn thư. Ngô Sĩ Liên đã tình cờ đem một số chi tiết của truyện Liễu Nghị để ghép với các huyền thoại khác như Lạc Long Quân – Âu Cơ, và coi đó như nguồn gốc khởi đầu cho sự xuất hiện của Hùng Vương – triều đại mà người Việt ngày nay coi như lịch sử đích thực của mình.

Các nhà Nho Việt Nam trong nhiều thế kỷ hẳn phải biết đến một tác phẩm có ảnh hưởng lớn như truyện Liễu Nghị. Bằng chứng là nhà thơ nổi tiếng Thái Thuận (Tiến sĩ 1475) cũng đã sáng tác bài thơ “Liễu Nghị truyền thư”. Nhưng đó là chuyện của văn học.

Còn với tư cách người viết sử, không ít sử gia thời Trung Đại đã phản đối cách lắp ghép của Ngô Sĩ Liên. Đầu tiên, phải kể đến những nhận định của Ngô Thì Sĩ trong Đại Việt sử kí Tiền biên. Ông viết: “Nay xét phần Ngoại kỉ chép: Năm Nhâm Tuất thì bắt đầu Giáp Tí là năm nào? Ghi chép tên húy Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân sao riêng lược bỏ Hùng Vương? Thời Ngũ Đế trở về trước thì chưa từng gọi là vương. Xích Quỷ là tên nào, mà lại để làm tên nước. Một loạt hoang đường càn rỡ đều là đáng bỏ đi. Cái lỗi ấy lại tại kẻ hiếu sự thấy trong Liễu Nghị truyền thư. Trong truyện nói con gái vua Động Đình gả cho con thứ của Kinh Xuyên Vương, tưởng càn Kinh Xuyên là Kinh Dương. Đã có vợ chồng thì có cha con, vua tôi, nhân đó mà thêu dệt thành văn, cốt cho đủ số đời vua, nhà làm sử theo đó mà chọn dùng, và cho đó là sự thực. Phàm những chuyện lấy từ Lĩnh Nam chích quái, Việt điện u linh, cũng như Bắc sử lấy ở Kinh Nam Hoa và thiên Hồng Liệt đấy.”15

Sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục (1856 – 1883) viết: “Vâng tra sử cũ, danh xưng Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân trong ‘Kỉ họ Hồng Bàng, vốn từ thời Thượng cổ, thuộc thuở hồng hoang, tác giả căn cứ vào cái không và làm ra có, sợ rằng không đủ độ tin cậy, lại phụ hội với Liễu Nghị truyện của nhà viết tiểu thuyết đời Đường, lấy đó làm chứng cứ”16. Chuẩn tâu những lời của sử quan, vua Tự Đức đã nhận định đây là những “câu truyện đề cập đến ma trâu, thần rắn, hoang đường không có chuẩn tắc” và kiên quyết loại Kinh Dương và Lạc Long ra khỏi chính sử bằng cách đưa xuống phụ chú dưới niên kỷ Hùng Vương, để “cho hợp với cái nghĩa lấy nghi truyền nghi”17.

Qua những trình bày ở trên, độc giả đã phần nào mường tượng ra con đường thu nhận biến đổi tích truyện từ truyện Liễu Nghị đến truyện Kinh Dương. Đây sẽ là những tư liệu thú vị để nghiên cứu về tiếp xúc văn học văn hóa giữa Việt Nam và Trung Hoa. Đồng thời cũng là “mẫu sử liệu” thú vị cho giới nghiên cứu khám nghiệm và giám định.

Đến đây, chúng tôi xin mượn lời của giáo sư Liam Christopher Kelley (Đại học Hawaii) để kết thúc bài viết này: Trải qua nhiều thế kỷ, những truyền thống mà họ [các sử gia] sáng tạo đã trở thành cái tự nhiên thứ hai (second nature). Thực tế, trong nửa thế kỷ qua, dưới ảnh hưởng của chủ nghĩa dân tộc, những truyền thống được sáng tạo ấy (invented traditions) đã và đang trở thành những sự thực không thể thay đổi18

—-

1 Đinh Bộ Lĩnh: Huyền thoại và lịch sử (Tia Sáng số 16, ngày 20/08/2013)

2 Chính Hòa thứ mười tám (1697). Đại Việt sử ký toàn thư. Nội các quan bản. Bản khắc in. Bản dịch. 1998. Tập 1. Ngô Đức Thọ dịch chú, Hà Văn Tấn hiệu đính. NXB Khoa học Xã hội. Hà Nội. tr.131-133.

3 Trịnh thị. (1624-1657). Thiên Nam minh giám. tr.4a. (Thư viện Khoa học Xã hội TP Hồ Chí Minh, ký hiệu HNv.006) trang 1a. Tham khảo phần phiên khảo của Hoàng Thị Ngọ, (1994). NXB Văn học. Hà Nội.

4 Thọ Bình – Bá Kiên. Đầu năm thăm lăng Kinh Dương Vương (ông nội vua Hùng). Theo tienphong.vn

5 Việt Cường. Bắc Ninh khai hội Kinh Dương Vương. http://vtv.vn

6 Chính Hòa thứ 18 (1697). Toàn thư. sđd. tr 133

7 Trần Thế Pháp. (XIV?). Lĩnh Nam chích quái. ký hiệu. A.1200 (Viện nghiên cứu Hán Nôm), tr.4a-4b.

8 Nguyễn Thanh Tùng. Giao lưu tiếp biến văn hoá Trung – Việt trong lịch sử: khảo sát sự tiếp nhận tích truyện Liễu Nghị truyền thư ở Việt Nam thời trung đại.

M. Durrand. 1959. Technique et Pantheon des médiems Vietnamien. BEFEO. Vol.XLV, Paris. [chuyển dẫn Ngô Đức Thịnh. 2009. Đạo mẫu Việt Nam. (Tập 1) NXB Tôn giáo. Hà Nội. tr.63- 64.

9 Tiền Chung Liên và cộng sự (tổng chủ biên). Tái bản 2000. Trung Quốc văn học đại từ điển (thượng). Thượng Hải từ thư xuất bản xã. Thượng Hải. tr.277.

10 Tiền Chung Liên và cộng sự (tổng chủ biên). Sđd. Tr.409.

Bản dịch tiếng Việt có thể tham khảo: Lí Triều Uy, Liễu Nghị truyện, Xuân Huy dịch, in trong “Tuyển dịch một số truyện truyền kì ưu tú thời Đường Tống”, Tạp chí Hán Nôm, 1990. – Số 2 (9). – Tr.90-109.

11 Tiền Chung Liên và cộng sự (tổng chủ biên). Sđd. Tr. 831.

12 Tiền Chung Liên và cộng sự (tổng chủ biên). Sđd. Tr. 831.

13 Quý vị có thể copy chữ Hán “柳毅传书” xem các trích đoạn vở kịch này trên http://www.youtube.com

14 http://www.fhstamp.com/bbs/read.php?tid=784

15 Ngô Thì Sĩ (soạn), Ngô Thì Nhậm (tu đính). 1800 (khắc in). Đại Việt sử ký tiền biên. Bắc Thành học đường tàng bản. Ký hiệu A2/2-7. Lê Văn Bảy, Dương Thị The, Nguyễn Thị Thảo, Phạm Thị Thoa (dịch), Lê Duy Chưởng (hiệu đính). NXB KHXH.H.1997. tr.40.

16 Quốc sử quán triều Nguyễn (1856 – 1883), Khâm định Việt sử thông giám cương mục, quyển I, Thư viện Quốc gia Hà Nội, kí hiệu: R.591, tờ 4a- 5b.

17 Quốc sử quán triều Nguyễn (1856 – 1883), sđd.: R.591, tờ 9b-10a.

18 Liam C. Kelley. The Biography of the Hồng Bàng Clan as a Medieval Vietnamese Invented Tradition. Journal of Vietnamese Studies Vol. 7, No. 2 (Summer 2012), p. 122.

Động lực kinh tế tiếp theo của thế giới là gì?

Leave a comment

Kinh tế Mỹ đang ở giai đoạn trầm lắng khiến cả thế giới bị kéo theo, đó là điều tất nhiên. Hơn 60 năm nay, cứ mỗi khi giá vàng cao, kinh tế Mỹ lại khốn đốn. Ở góc nhìn ngược lại thì chính vì kinh tế Mỹ ảm đạm, họ mới đẩy giá vàng lên để tìm nguồn tư bản đầu tư khôi phục. Cũng phải thôi, Mỹ dự trữ hơn 8 ngàn tấn vàng, chiếm được quyền “làm giá”. Do đó có thể dùng biểu đồ giá vàng để quan sát sự vận hành tổng quát của kinh tế Mỹ trong 60 năm vừa rồi.

Giá vàng trong lịch sử có thể tham khảo tại đây : (http://onlygold.com/tutorialpages/prices200yrsfs.htm)

Biểu đồ giá vàng 1973-2013

Biểu đồ giá vàng 1973-2013

1. 1945-1971: 37,25 – 44,6 $/Oz (26 năm): Vàng ổn định, kinh tế Mỹ vững chãi. Động lực của kinh tế Mỹ chính là trái ngọt mà họ thu hoạch được khi tham chiến WW2. Động lực ấy được tiếp nối bằng chiến tranh lạnh và chiến tranh Việt Nam.

2. 1972-1980: 63,84 – 594,90 $/Oz (8 năm): Sau thời kỳ tăng trưởng dài kinh tế Mỹ bị phụ thuộc vào túi dầu Trung Đông. Các xáo trộn nơi ấy đầu thập niên 1970 cộng với sự sa lầy trong chiến tranh VN, đã đưa Mỹ đến một cuộc trầm phát kéo dài đến tận 1980. Tôi không nhìn thấy động lực phát triển của Mỹ trong giai đoạn này.

3. 1981-2006: 400,0 – 635,7 #/Oz (25 năm): Giá vàng lại ổn định trong suốt chu kỳ phát triển mới. Động lực kinh tế Mỹ gồm hai nửa, một nửa do họ mở được cửa thị trường Trung Quốc, nửa còn lại nhờ cách mạng IT, tạo nên nhu cầu mới cho nhân loại.

4. 2007 -2012: 836.0 – 1.664.0 $/Oz (5 năm): Đến hôm nay, tháng 9.2013, sự suy yếu của kinh tế Mỹ đã đi được đoạn đường 5 năm. Chắc chắn người Mỹ đang nỗ lực tìm kiếm hoặc xây dựng cho mình động lực kinh tế cho giai đoạn phát triển tiếp theo. Chiến tranh là thành tố quan trọng tạo nên động lực kinh tế Mỹ trong hai giai đoạn phát triển kéo dài hơn 50 năm như đã nói. Tuy vậy nhân loại ngày càng văn minh hơn, các nước khác đã mạnh hơn nhiều, con bài chiến tranh có vẻ không còn an toàn cho chú Sam nữa. Tìm được xu hướng động lực mới của Mỹ sẽ tìm được một mỏ vàng thực sự cho một đời người. Một mỏ vàng lớn hơn nữa là tham dự, can dự hoặc sáng tạo động lực cho nước Mỹ, như Bill Gate, Steve Jobs, Mark Zuckerberg… đã làm.

Yếu tố Trung Quốc trong tương lai kinh tế Mỹ:

Thị trường Trung Quốc đã đóng một vài trò lớn trong giai đoạn thịnh vượng 1981-2006 của Mỹ. Đó là lý do kinh tế trong quyết định bình thường hóa quan hệ Mỹ – Trung của chính trị gia Mỹ thế kỷ trước.

Hiện nay thước đo GDP chỉ ra nền kinh tế Mỹ lớn gấp đôi Trung Quốc, sức mạnh đồng tiền Mỹ gấp 8 lần Trung Quốc (tạm tính bằng bản vị vàng). USD sẽ bị thách thức nghiêm trọng nếu dự trữ vàng trong tương lai của TQ nghấp nghé con số của Mỹ. Tuy nhiên TQ chỉ vừa mới hoàn thành giai đoạn công nghiệp hóa, họ cần hai ba chục năm nữa để có một nền kinh tế tri thức như Mỹ.

Do đó động lực kinh tế Mỹ trong vài năm tới không mâu thuẫn với nền kinh tế TQ, không bị cạnh tranh từ TQ.

Người Trung Quốc lấy Mỹ để làm đích đến, làm động lực phát triển dân tộc, để xây dựng “Giấc mơ Trung Hoa” từng là cường quốc đứng đầu khu vực và nhân loại ở các thời đại hoàng kim như Tần – Hán, Tùy – Đường, Minh. Hiện tại người Mỹ gánh vác trách nhiệm nặng hơn là tìm động lực cho chính mình, để dẫn dắt kinh tế toàn cầu. Họ đã làm được điều đó trong hai giai đoạn 1945-1971 và 1980-2006. Nếu Mỹ thành công, họ sẽ có thêm ít nhất 20 năm rực rỡ trước mắt, có thể bắt đầu từ năm 2014 hoặc 2015.

***

Một nền kinh tế không có động lực sẽ là một nền kinh tế chết. Một quốc gia mất động lực phát triển sẽ suy tàn. Một cá nhân không thể tìm được động lực cho mình trong cuộc sống sẽ dẫn đến tha hóa và nhạt nhòa giữa chúng sinh.

————————————

Sài Gòn 7.9.2013

Cước chú:

1. Ngoài động lực độc lập dân tộc 1945-1954, động lực thống nhất đất nước 1954-1975, động lực cơm áo 1986-1997, người Việt Nam chưa cho thấy mình có động lực phát triển cho hiện tại và tương lai. Họ luôn chứng tỏ mình là những người nông dân lười suy nghĩ và lạc quan trên mảnh ruộng bạc màu ngàn đời nay.

2. Nước Nhật là điển hình của một quốc gia sẽ suy tàn vì không có động lực từ suy giảm kinh tế 1990 đến nay. Họ không đủ rộng, đủ người để nuôi giấc mơ bằng Mỹ, vượt qua Mỹ. Tất cả những gì họ đã làm được để trở nên giàu có, hôm nay người Hàn quốc còn làm tốt hơn họ.

Viết cho Trương Nhã Quỳnh, nhân đoản văn đầu đời của con.

Leave a comment

Con thân yêu,

Tuần này con có bao nhiêu niềm vui phải không? Vào lớp năm, sắp sinh nhật 10 tuổi và bất ngờ được báo Nhi Đồng đăng đoản văn đầu tiên, tác phẩm văn học đầu đời.

Truyentrenbao

Liên quan đến truyện của con, không chỉ có niềm vui của gia đình ta, từ ông bà nội đến các cô chú cũng như các anh chị em họ, mà còn có những điều không đáng vui. Cha ghi nhận lại mọi thứ, như một dấu mốc trên đường đời dằng dặc trước mặt của con.

***

Từ bé xíu con đã thích thơ, thích làm thơ. Có lần con đọc vài câu thơ rất nhí nhảnh và dễ thương, nhưng cha không khuyến khích con lưu lại, mà chỉ cố hướng con đến viết truyện. Cha khuyên con nên đọc nhiều sách, chú trọng sách dịch của phương Tây và Trung Hoa là chính. Con đã “tiêu hóa” xong 10 tập “Ngôi nhà nhỏ trên thảo nguyên” và rất nhiều quyển khác rồi đúng không nào? Cô giáo khen con viết văn “sáng tạo” là vì con luôn đọc sách đấy, và cũng bởi nhà ta không có chỗ cho các chương trình truyền hình nhảm nhí.

Cha nhớ 20.11 năm 2009, thầy giáo thể dục ngồi lẻ loi một góc sân trường đã quá đỗi ngạc nhiên khi được con tặng hoa cùng những lời chúc tốt đẹp nhất. Dưới góc độ người viết văn, cha thấy “sự kiện” ấy khá sâu sắc và đáng nhớ, có thể dựng lên một câu chuyện tình người nơi học đường rất ý nhị. Nhưng có lẽ con nhỏ quá, không hiểu được, không cảm được và quyết không viết theo gợi ý của cha.

Cỡ bốn năm sau, một buổi tối con đột nhiên đưa cha bản thảo viết tay đoản văn “Con chim”. Cha đọc và thật sự ngỡ ngàng. Truyện có ý, có tứ, biết sử dụng nhân vật chính ở ngôi thứ ba, ngôn ngữ giản dị, đúng độ tuổi của con. Cha mừng lắm và bảo con tự đánh máy lại, cha sẽ biên tập một hai câu, sửa một hai từ rồi tạo tài khoản Gmail cho con để gửi cho báo Nhi Đồng.

Banthaodautien

Thuguidi

Con gửi truyện đi từ 14/2/2013 và không hề có một hồi âm nào. Có lẽ mọi thứ sẽ bị quên lãng nếu tối 4/9/2013 con không gào lên phấn khích khi thấy tên mình đường hoàng trên mặt báo, trong một tờ báo biếu gửi thẳng đến trường mà không ai (kể cả con) biết lý do vì sao. Cô giáo chủ nhiệm còn hỏi “Con tham dự đố vui hả” nữa chứ!

Nhưng niềm vui con chưa kịp tiêu hóa hết thì bạn bè và cô giáo chủ nhiệm đã dội cho con một gáo nước lạnh. Ngay trong ngày khai giảng, vài người bạn trong lớp thật thà hỏi con “Ba bạn viết hay bạn viết vậy?”. Còn cô giáo thì truy vấn mấy bận “Cô hỏi thật truyện này con viết hay ba viết?”.

Và cha đã phải cay đắng tâm sự với con: “Ở một xã hội mà sự gian dối là bình thường, thì thị phi có gì bất thường đâu con. Hãy cố gắng học thật giỏi để đi tị nạn giáo dục con nhé”.

Hôm nay đọc số báo tiếp theo số có truyện của con, thì cha không còn trách cô giáo và các bạn con nữa. Chính báo chí phải làm cho họ nghĩ như vậy con ạ. Con hãy xem kỹ hai đoản văn ở trang 19.

Doichung

Không một chút hồn nhiên con trẻ nào cả, cực kỳ gượng gạo, sáo mòn và bóng bẩy. Đặc biệt con chỉ thấy tên tác giả, tên trường nhưng không biết trường đó ở đâu. Việt Nam có hàng trăm ngôi trường mang những cái tên ấy. Tại sao ư? Cha đoán đây là mạo văn học trò của người lớn, để cho kín tờ báo, cho đủ chương mục. Và đặc biệt có lẽ học trò bây giờ không yêu văn, không đọc sách và không viết văn để gửi đến báo như con. Chúng có bao nhiêu thứ rỗng tuếch nhưng cực kỳ bắt mắt trên màn hình vi tính, Ipad, TV để giải trí, để đốt cháy tuổi thơ của mình con ạ.

***

Ngày xưa cha được lên báo trễ lắm, khoảng 19 -20 tuổi, vì không có ai kèm cặp, hướng dẫn từ nhỏ. Cái hôm thấy bút danh trên báo, cha cứ ngỡ mình đã trở thành vĩ nhân, ưỡn ngực đi tới đi lui khoái trá trong thư viện Khoa học Tổng hợp TP HCM, nơi cha đang vào đọc sách, học bài. Hai mươi lăm năm đã trôi qua, cha vẫn chỉ là một người viết tầm thường, hằng ngày phải mưu sinh bằng nghề khác không mấy hứng thú và mong sớm được nghỉ ngơi, quay về với niềm đam mê viết lách.

Cha không đủ trí tuệ và tài năng là một lẽ. Nhưng cha tự hỏi có nhà văn tài năng nào ở xứ sở này lo được cho mình và gia đình một cuộc sống sung túc đủ đầy không? Câu trả lời là không con ạ.

Dù cha rất muốn con sau này trở thành một nhà văn và sống suốt cuộc đời với tình yêu văn chương nhân văn, nhưng ba cũng sẽ chẳng buồn nếu con chọn một nghề khác. Cha chỉ mong con thành đạt, có thu nhập cao và không gượng gạo gắn bó với công việc thường nhật một cách thiếu động lực, nếu không muốn nói là chán nản.

Và con hãy ghi nhớ điều này, nếu con vẫn yêu thích văn chương, trong vài năm tới con phải cố gắng viết văn bằng một trong hai ngoại ngữ mà con đang học. Hình như con đã chứng tỏ mình có chút năng khiếu, nếu cộng thêm đam mê, học hỏi và cần cù lao động, con hoàn toàn có thể trở thành một nữ nhà văn sống được nhờ chữ nghĩa như Trương Ái Linh, Monique Trương, hoặc thậm chí có thể trở thành triệu phú như EL James, Dương Hồng Anh (Yang Hongying).

***

Những điều cha viết cho con, hôm nay có thể con chưa hiểu hết, nhưng nó sẽ mãi mãi tồn tại trên thế giới mạng, để con tìm đến mỗi khi cần một niềm an ủi, vỗ về hay động viên trong cuộc sống. Hãy vững tin và nuôi dưỡng ước mơ trở thành nhà văn con nhé!

Cha của con,

T.T.Du

thôn Sấu

Quê hương yêu dấu (Dọc hành chấm đứng). Xin các bạn vui lòng ghi rõ nguồn và dẫn link đến trang này nếu đăng lại bài của tôi

thienthanh2017.wordpress.com/

Thượng thiện nhược thủy, thủy thiện lợi vạn vật nhi bất tranh - Lão Tử

Học Thế Nào

How We Learn

leminhkhaiviet

About Vietnamese Cultural History and Scholarship

Xuân Bình

Nhà báo tự do

Nguyễn Huy Hoàng

the star is fading

Nghiên cứu lịch sử

Các bài nghiên cứu, biên khảo và dịch thuật các chủ đề về lịch sử

Le Minh Khai's SEAsian History Blog

Always rethinking the Southeast Asian past

trinhythu

Trịnh Y Thư WordPress.com site

trandangtuan.com

Men lá rượu ngô trong

4th Avenue Café

Free non-fiction translation

WordPress.com

WordPress.com is the best place for your personal blog or business site.

Trương Thái Du's Blog

Văn chương thiên cổ sự - Đắc thất thốn tâm tri...

No More Goat Soup

No goats were harmed in any way while making this blog. (We did kill all the sheep though)