Ghi chú nhỏ về chống tham nhũng

Để lại phản hồi

Bài viết cho Thanh Niên online.

Để chống tham nhũng và tham ô, phải chăng nên bắt đầu từ văn hóa? Một đứa bé xem việc ăn trộm trứng gà là xấu xa, đê tiện; thì khi lớn lên có khả năng rất cao là nó sẽ tránh xa việc ăn cắp cả con gà, hoặc nguyên đàn gà.

tham nhũng;Dương Chí Dũng;Vinalines
Nếu chống tham nhũng không bắt đầu từ văn hóa và giáo dục cơ sở, thì dù có tử hình kẻ tham nhũng này, xã hội sẽ lại xuất hiện kẻ tham những khác – Ảnh: TTXVN

Trước tiên xin bạn đọc thưởng thức ba câu chuyện độc lập:

1. Gối đẹp: Cách đây không lâu tôi được quá giang một chiếc siêu xe của bạn một người bạn. Chiếc xe đến từ trời Âu hoàn hảo từng li từng tí, gây chú ý nhất là mấy chiếc gối nhỏ nền nã để kê lưng hoặc gác tay. Tôi hỏi chủ xe gối này mua ở đâu hay là đồ theo xe. Anh ta cười rất tươi và không giấu vẻ tự hào bảo rằng mấy cái gối này anh ta “chôm” trên máy bay của một hãng hàng không quốc tế nổi tiếng về khoản sang trọng. Việc “chôm chĩa” khá công phu, phải bay đủ mấy chuyến mới có được trọn bộ!

2. Thiên đường: Một thủy thủ Việt Nam bỏ trốn để làm việc chui tại Nhật kể với tôi rằng nước Nhật đã xây dựng xong Chủ nghĩa Cộng sản. Bằng chứng là nơi đó hàng hóa ê hề, tràn ra cả vỉa hè. Chẳng có cửa hàng nào cất hàng và khóa cửa khi đêm về. Cho nên anh ta sướng lắm. Tối nào thèm uống bia, anh lại nhảy lên chiếc xe hơi bãi rác mang biển số giả của mình ra phố. Anh ta chỉ tốn năm mười giây dừng lại để kéo một hai thùng bia “chùa” vào xe và thưởng thức một đêm “ngất ngây con gà tây”!

3. Trí khôn Việt thua tinh thần cảnh giác Nhật: Trên báo Tuổi Trẻ Cười số 86 tháng 3/1991, dưới bút danh Hoàng Minh, giáo sư Cao Xuân Hạo viết:

“Nhiều người kể lại rằng trong một chuyến đi tham quan một thửa ruộng thí nghiệm ở Nhật Bản, GS. Lương Định Của “lỡ chân” bước hụt xuống bùn. Vết bùn này có thể cho biết những bí quyết mới về phân bón. Lập tức có một cô nhân viên Nhật Bản chạy đến xin lỗi rối rít vị khách quý, đưa một đôi giày sạch cho ngài thay và chỉ năm phút sau đem trả cho ngài đôi giày bị lấm bùn đã giặt sạch và đã sấy khô, không còn lấy một phân tử bùn nào. Cho hay đến như một người đã học được cái nghề gián điệp công nghệ ngay ở Nhật mà cũng không thoát được cặp mắt phản gián tinh tường của họ.”

***

Thật lạ lùng, chúng ta không hề thấy trong ba câu chuyện ở trên một chút ngượng ngùng hay xấu hổ, khi hành vi ăn cắp được thực hiện thành công trót lọt nhiều lần, hoặc bị chặn đứng vì sự cảnh giác của nạn nhân. Trái lại, ăn cắp thậm chí được xem như một chiến công “hiển hách”.

Phải chăng đạo đức xã hội đã bị khuyết thủng đâu đó? Hoặc ít nhất cũng có thể kết luận văn hóa Việt Nam có cái nhìn không khắt khe lắm với tật xấu này. Khi một nền văn hóa không dự trữ kháng thể mạnh để chống virus ăn cắp hoành hành, tất yếu xã hội ấy sẽ xuất hiện tham nhũng, tham ô. Bởi vì bản chất tham nhũng và tham ô cũng là ăn cắp.

Như vậy để chống tham nhũng và tham ô, phải chăng nên bắt đầu từ văn hóa? Một đứa bé xem việc ăn trộm trứng gà là xấu xa, đê tiện; thì khi lớn lên có khả năng rất cao là nó sẽ tránh xa việc ăn cắp cả con gà, hoặc nguyên đàn gà.

Nếu chống tham nhũng không bắt đầu từ văn hóa và giáo dục cơ sở, thì dù có tử hình kẻ tham nhũng này, xã hội sẽ lại xuất hiện kẻ tham những khác, mà cấp độ càng ngày càng tăng, chứ không thể giảm đi.

Trong báo cáo của nhà ngoại giao và Hán học Phillarstre gửi Thống đốc Nam Kỳ năm 1878, có đoạn rất đáng chú ý: “Đất nước này hết sức nghèo nàn, chính phủ bị ràng buộc trong tất cả mọi hoài bão có thể có và trong tất cả mọi ý muốn cải cách, bởi những sợi dây không thể cắt đứt mà không làm đổ vỡ hết đồng loạt. Triều đình còn bị kìm hãm bởi những điều mê tín của một xã hội đã được cấu tạo rất chặt chẽ; đối với kẻ cầm đầu, mê tín đó là những cái cớ viện dẫn để bảo vệ những quyền lợi đã có, đối với tất cả mọi người thì đó là khí giới phòng thủ chống lại mọi thay đổi. Mỗi người đều biết mình có lợi gì khi thay đổi, nhưng lại chú ý nhiều nhất tới những gì sẽ mất và đều không muốn bắt đầu từ đấy”.

Chúng ta thấy rằng nhận xét cách đây 135 năm của Phillarstre vẫn còn rất đúng với đề tài chống tham nhũng của bài viết này. Tất cả mọi người đều hưởng lợi nếu toàn xã hội không còn ăn cắp và tham nhũng, nhưng mọi thứ dường như cứ mãi quanh quẩn ở điểm xuất phát, nếu không kể nút thắt là những phiên tòa có án tử, thỉnh thoảng lại diễn ra.

Công ước của Liên Hợp Quốc về chống tham nhũng nêu rõ: “Tham nhũng không còn là vấn đề của địa phương mà là một hiện tượng có tính xuyên quốc gia ảnh hưởng tới tất cả các xã hội và các nền kinh tế, do vậy hợp tác quốc tế nhằm ngăn chặn và kiểm soát tham nhũng là điều vô cùng cần thiết”. Với trường hợp Việt Nam, nên xem xét bao quát cả yếu tố lịch sử và văn hóa trong nạn tham nhũng và hối lộ.

Người Việt Nam, hết đời này đến đời kia, vẫn lặp đi lặp lại câu ca dao nghẹn đắng: “Con ơi nhớ lấy câu này. Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan”. Song nếu ông quan ấy ở trong dòng tộc mình, thì lập tức nó chuyển tông thành niềm kiêu hãnh: “Một người làm quan, cả họ được nhờ”.

Án tử của Dương Chí Dũng vừa qua là chế tài cao nhất của nền pháp trị với tham nhũng. Điều đó là cần thiết, nhưng thật sự chưa đủ. Một cơ thể xã hội khỏe mạnh phải hài hòa giữa dương (pháp trị) và âm (văn trị).

Hãy tưởng tượng một câu chuyện mà tôi tin sẽ xảy ra ở tương lai: Đứa trẻ tiểu học về hỏi cha nó là quan tham: “Cha ơi bài học trong trường nói tham nhũng là xấu xa, là ăn cắp, sẽ tàn phá tan tành đất nước, phải không cha?”. Không ít thì nhiều, câu hỏi đó sẽ điều chỉnh hành vi của người cha tích cực hơn.

Trương Thái Du (*)

* Bài viết thể hiện văn phong và góc nhìn của tác giả, một nhà văn tự do sống và làm việc trái nghề tại TP.HCM

Xe gắn máy và tình trạng vô pháp

Để lại phản hồi

Bài viết cho Thanh Niên Online

Bước ra đường là chúng ta nhìn thấy những hình ảnh chướng tai gai mắt: chạy xe không mũ bảo hiểm, rú ga, đánh võng, lạng lách, giành đường, lấn tuyến, chạy lên vỉa hè, vượt quá tốc độ, bấm còi inh ỏi…, chen chúc cạnh nhau khi chờ tín hiệu giao thông và không tắt máy để cùng hít khói độc.

Tròm trèm đời người, kể từ khi những chiếc xe hai bánh gắn thêm máy rất cơ động và dễ sử dụng được nhập vào Việt Nam. Chắc chắn đã có không dưới một cá nhân rời bảo sanh viện trên xe máy, và nhiều năm sau đó đáp chuyến đi cuối đời cũng bằng xe máy, trước khi nhắm mắt tại một phòng cấp cứu vì tai nạn giao thông.

Trên một tờ báo phía trời Tây, The Guardian, ký giả Abigail Haworth nhìn qua cửa kính xe hơi hạng sang và mô tả về dòng xe máy tại Sài Gòn như sau: “ … motorcycles buzz past like flies outside the tinted windows.” (Tạm dịch: “ … hàng đoàn xe máy phía ngoài vù vù lướt qua như bầy ruồi nhặng…”).

So sánh thật đau lòng và chắc chắn đã khiến không ít người Việt suy tư. Xe máy ở Sài Gòn và Hà Nội đã phát triển thiếu tổ chức như lũ côn trùng vô tri vô giác và bẩn thỉu, không còn hy vọng cải thiện ư?


20 năm trở lại đây, lượng xe máy lưu hành ở các thành phố lớn tăng vọt – Ảnh: Đào Ngọc Thạch

Hai mươi năm trở lại đây, lượng xe máy lưu hành ở các thành phố lớn tăng vọt, cái hay cái dở của “văn minh xe máy” đã được đề cặp nhiều, xin phép không dẫn lại. Bài viết này chỉ đóng khung vài nét nhỏ trong muôn hình vạn trạng các hành vi vi phạm luật giao thông và bế tắc trong chế tài của pháp luật giữa rừng xe máy ở một số đô thị lớn Việt Nam.

Thật vậy, luật pháp bị vô hiệu hóa vì quy mô xe máy đã vượt tầm kiểm soát của các công chức hành pháp. Cứ bước ra đường là chúng ta nhìn thấy hằng hà sa số những hình ảnh chướng tai gai mắt: Chạy xe không mũ bảo hiểm, rú ga, đánh võng, lạng lách, giành đường, lấn tuyến, chạy lên vỉa hè, vượt quá tốc độ cho phép, bấm còi inh ỏi loạn xạ, vừa chạy xe vừa dùng điện thoại cầm tay, bán rong trên xe máy, chở quá tải, cồng kềnh, quá người, chạy xe khi cộ cồn trong máu cao, dừng đậu quá vạch giới hạn nơi giao lộ, vượt đèn đỏ, chen chúc cạnh nhau khi chờ tín hiệu giao thông và không tắt máy để cùng hít khói độc (!?)…

Cảnh sát giao thông không đủ người, không đủ phương tiện và cả không gian để chế tài những vi phạm này. Nó khiến những người sử dụng xe máy càng ngày càng không tuân thủ pháp luật nặng hơn, đại trà hơn, thường xuyên hơn. Nó đặt những người luôn có ý thức pháp luật vào cảnh “không giống ai”, thậm chí bị nguyền rủa giữa đường, giữa chợ.


Luật pháp bị vô hiệu hóa vì quy mô xe máy đã vượt tầm kiểm soát của các công chức hành pháp – Ảnh: Đào Ngọc Thạch

Từ dạo “xe máy nghĩa địa, xe máy bãi rác Nhật” lên ngôi, thấm thoát hai mươi năm xe máy phát triển vô tội vạ. Hai mươi năm cũng là khoảng thời gian để Singapore bước từ thế giới thứ ba lên thế giới thứ nhất với tiêu chuẩn “xanh, sạch, đẹp” nổi tiếng.

Một thế hệ chớm trưởng thành ở Việt Nam gắn liền với văn minh xe máy, cuối cùng chỉ sinh ra đám đông cư dân khinh nhờn pháp luật từ thơ bé, từ khi được cha mẹ long nhong chở đi khắp phố phường không nón bảo hiểm, từ khi được cô chú dạy bấm còi inh ỏi như một cách giải khuây, từ khi ông bà khuyên bảo chạy nhanh an toàn hơn chạy chậm và đừng làm gì khác người để bị gây chuyện đôi co…

Nếu tình cờ ai đó bị dừng xe, bị phạt do vi phạm luật giao thông thì đó chỉ là rủi ro, vận xui, nó có tỷ lệ cực nhỏ, xác xuất cực nhỏ. Và thế là người ta cứ ngang nhiên vi phạm luật giao thông không chút đắn đo, bất kể xuất thân, giới tính, tuổi tác và trình độ văn hóa.

Luật Giao thông gắn bó với con người từ phút đầu đến phút chót cuộc đời, một khi con người đã xem thường nó từ nhỏ, thì thử hỏi còn luật gì nữa trong một xã hội pháp quyền mà chúng ta đang hướng tới, không bị xem thường như vậy trong đời sống? Điều này sẽ dẫn đến đâu, nếu không phải là tình trạng vô pháp toàn diện, một khi xe gắn máy được để tự do tăng số lượng từng ngày.

Các bạn có nản lòng khi xem clip cướp giật hôi của trên đường mới đây không? Sự khinh nhờn pháp luật và cả nhân quả, có giống sự coi thường Luật Giao thông nhan nhản ngoài đường không? Và nó có bắt nguồn từ đó không? Tôi tin những mối liên hệ này ít nhiều tồn tại. Nó là một ví dụ cụ thể, giản dị và dễ hiểu của “hiệu ứng cánh bướm”.

Một anh bạn đồng nghiệp người Nam Á, trong tập đoàn đa quốc gia nơi tôi đang làm việc, từng mô tả về thành phố quê hương anh như sau: “Đường phố như xác thối, người nhung nhúc như chuột, xe máy như ruồi, xe hơi như nhặng. Tất cả bâu vào rỉa rói, giành giật nhau từng gang tay không gian và khí trời”

Dự đoán cảm tính thì tình trạng “giỡn mặt” với Luật Giao thông sẽ được cải thiện tích cực nếu tỉ lệ xe máy giảm xuống khoảng 50% so với hiện tại.

Chúng tôi đã thấy phản ứng trái chiều của nhiều người khi báo chí gần đây đề cặp đến việc “cấm xe máy”. Thật ra nhà nước không cần cấm. Tư duy cấm cản e không còn hợp lý trong xã hội văn minh. Chỉ cần áp dụng một số chính sách điều chỉnh thích hợp để tỉ lệ xe máy dần trở về ngưỡng “an toàn” với giao thông và hạ tầng cũng như tương thích với mật độ dân cư hiện tại, giống Bangkok hay Kuala Lumpur, đã là một thành tựu đáng tự hào.

Xe máy chưa bao giờ là lựa chọn duy nhất của hệ thống giao thông, tại bất cứ quốc gia nào. Trong tương lai gần, chúng tôi hy vọng nhà chức trách sẽ sớm có những giải pháp hợp lý nhằm hạn chế xe máy. Đề mục này hoàn toàn có thể nằm trong định hướng xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền.

Có ai đã tìm hiểu xem bao nhiêu người Việt Nam đang ước mơ được đi làm bằng xe đạp, xe đạp điện? Tất nhiên là trên những cung đường ngắn khoảng chín mười cây số một ngày. Đó sẽ là thể dục, là vận động có ích, nếu môi trường xung quanh quay trở về trong sạch bằng nhiều năm về trước. Đỉnh cao nhân loại hiện nay chính là “văn minh xe đạp”. Loại trừ xe máy, phát triển xe đạp trên nền tảng giao thông công cộng được đầu tư hợp lý, chính là lộ trình đồng hành cùng loài người tiến bộ.

Một anh bạn đồng nghiệp người Nam Á, trong tập đoàn đa quốc gia nơi tôi đang làm việc, từng mô tả về thành phố quê hương anh như sau: “Đường phố như xác thối, người nhung nhúc như chuột, xe máy như ruồi, xe hơi như nhặng. Tất cả bâu vào rỉa rói, giành giật nhau từng gang tay không gian và khí trời”.

Càng thông cảm với anh, tôi – và biết đâu cả bạn nữa – càng tin tưởng rằng hình ảnh đó nhất định không phải là tương lai của Sài Gòn, Hà Nội hay bất cứ thành phố lớn nào của Việt Nam.

Nếu không tuyệt diệt được xe máy như Bắc Kinh, Thượng Hải, Quảng Châu thì cũng phải giới hạn ở mức độ có thể chấp nhận kiểu Bangkok hoặc Kuala Lumpur.

Trương Thái Du

* Bài viết thể hiện văn phong và quan điểm của tác giả, một nhà văn tự do sống và làm việc trái nghề tại TP.HCM