Bằng trực giác, cách đây gần 20 năm, sau khi đọc kỹ nghiên cứu: “Thử tìm nguồn gốc ngữ nghĩa của từ tố Lạc”, của Nguyễn Kim Thản, Vương Lộc, tạp chí KHXH, 1974; chúng tôi đã tin Lạc 駱 trong Lạc Việt mang nghĩa là Nước. Âm Nước cổ đã được người Hán ký âm bằng Hán tự thành Lạc 駱. Nhân loại nói chung, có hai khuynh hướng gọi địa bàn sinh sống của một cộng đồng dân cư là Nước hoặc Đất, trước khi những khái niệm tiền quốc gia ra đời. Người Mường, một dân tộc gần gũi với các dân tộc Hoa nam, cùng chia sẻ không gian văn hóa trống đồng, sắc dân bản địa được cho là đã từ chối văn minh Trung Hoa tràn xuống đồng bằng sông Hồng sau Công nguyên, gọi nước là [đác], đất là [tấc]. Vẫn theo Sergei Starostin, đáng chú ý nhất là Lạc 駱hiện nay được đọc là [no] ở Trường Sa, và [nû] ở Song Phong. Cả hai vùng này đều thuộc Hồ Nam, ranh giới cũ giữa Nam Việt và nhà Hán. Tiếng Việt gọi quốc gia, chữ quốc ở Hán ngữ, từ state tại Anh ngữ, hậu tố -land khắp nơi trên thế giới, là Nước.

Giả thiết của chúng tôi là: một số nhóm dân tộc Hoa nam thời Tây Hán gọi xứ sở, địa bàn sinh sống của cộng đồng, hoặc phát triển hơn nữa là không gian của những liên minh bộ lạc có quân trưởng, tù trưởng lãnh đạo, bằng một từ mang nghĩa là Nước, đọc rất giống với người Mường và các bộ tộc ít người khác tại Việt Nam cũng như ở Hoa nam. Khi người Hán đến, họ đã ký âm bằng Hán tự là Lạc 駱. Lạc Việt ra đời từ đó. Từ Việt có nguồn gốc lâu đời hơn trong lịch sử Trung Quốc, ban đầu để chỉ một dân tộc phi Hán phía nam Dương tử, sau này nó sử dụng để chỉ toàn bộ các dân tộc phi Hán phía nam Dương tử.

Xin nhắc lại, nếu Lạc là nước, Lạc Việt sẽ là Nước Việt, ghép bởi một từ bản địa được ký âm bằng Hán tự mang nghĩa xứ sở, nơi cư trú và một từ Hán. Lạc Việt sẽ mô tả một tộc người phi Hán phương nam (Việt) có cách gọi cương vực, lãnh thổ của mình là Lạc. Thú vị là ngoài từ Nước, ngôn ngữ Việt hiện nay còn có một từ đẳng lập Đất Nước để nói về quốc gia. Chúng tôi xác định tính chất đẳng lập bởi vì Nước, Đất hay Đất Nước ở tiếng Việt đều chỉ quốc gia.

Dẫn luận này sẽ hé lộ khả năng Âu Lạc có thể là một từ ghép đẳng lập ký âm bằng Hán tự. Sergei Starostin như link đã dẫn, liệt kê âm Âu trong tiếng Miến Điện, Kachin (Bắc Miến Điện) và Trung Quốc hiện nay đều chỉ: cái vại, cái ca, cái bình, nồi nấu lớn, cái vạc, cái âu đựng thức ăn hoặc nước. Nghĩa của nó trong tiếng Việt là cái âu. Nguyên liệu cổ đại tạo nên tất cả những thứ đó là đất. Do đó nếu cho rằng nghĩa cổ nhất của Âu (ít nhất là trước năm 678 BC, khi tiểu quốc Âu Đặng còn tồn tại) là đất thì không có gì hoang đường cả. Thậm chí chỉ có Âu mang nghĩa là Đất (quốc gia) mới thỏa mãn tất cả các quốc danh và vương hiệu gắn với chữ Âu trong sách sử Trung Hoa, kể cả những chữ Âu đồng âm dị tự: Âu Đặng, Âu Việt, Đông Âu, Đông Âu vương, Âu nhân…

Và trong văn hiến Việt Nam, ít nhất hai lần chữ Âu đã xuất hiện, dù chưa thật rõ ràng nhưng vẫn có thể hiểu Âu là Đất, là quốc gia: Vua Trần Nhân Tông năm 1288 đã viết hai câu thơ [社稷兩回勞石馬,山河千古奠金甌 – Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã, Sơn hà thiên cổ điện kim Âu]. Hồ Hán Thương cuối thế kỷ 14 đầu thế kỷ 15 đã đổi tên một ngọn núi ở Thanh Hóa là Kim Âu 金甌. Hầu hết các dịch giả Việt Nam hiện đại đều cho rằng Âu là cái âu, cái chậu; Kim Âu là một điển cố thuần Hán chỉ quốc gia. Hãy bỏ qua chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi và nhìn vào sự kiện một cách khách quan nhất để lựa chọn hàm ý.

Nước Nam Việt của Triệu Đà được thành lập tại điểm gặp nhau của hai nhánh cư dân: Việt cổ từ vùng Giang Hoài ven biển xuống; Lạc Việt cư trú, sinh sống phía nam dọc con sông Tang Kha đổ ra biển tại Phiên Ngu. Phải chăng đó là nguyên nhân phát sinh từ đẳng lập Âu Lạc mang nghĩa đất nước, xứ sở. Hay nói cách khác, Âu Lạc là tên bản địa của nước Nam Việt, là cách người bản địa Nam Việt phi Hán gọi tổ quốc của mình, và hầu như nó đồng nghĩa với Nam Việt trong Sử Ký và Hán Thư.