Kể từ dòng đầu tiên, trang đầu tiên của An Nam Chí Lược, quyển sử Việt Nam xa xưa nhất còn lưu giữ được đến ngày nay, sử gia Lê Tắc đã mắc phải một sai lầm nghiêm trọng: Cho rằng quận Giao Chỉ đồng nghĩa với khái niệm Giao Chỉ suốt lịch sử Trung Hoa từ thời vị ngũ đế thứ hai là Chuyên Húc (khoảng 2.500 BC).

firstpage

Các nghiên cứu khảo cổ hiện đại ở Trung Quốc hầu như đã thống nhất rằng vào hậu kỳ đồ đá muộn cách đây khoảng 4.000 – 4.500 năm, hình thái thành quốc đa trung tâm mới bắt đầu phát triển và không ngừng cạnh tranh với nhau dọc hai bờ trung lưu Hoàng Hà. Diện tích thành quốc tại di chỉ Đào Tự (2.100 BC) chỉ khoảng 280ha. Đến thời nhà Thương, triều đại chính thức, có khảo cổ xác thực, có 4.500 chữ giáp cốt và một ít kim văn để khảo chứng, niên đại xa nhất là 1.600 BC. Không có bất cứ căn cứ nào cho thấy lãnh thổ Thương – Ân đã vượt qua Trường giang. Nhà Chu tiếp nối sau đó phát triển trên hình thức phong kiến phân quyền, qui mô vượt qua kiểu thành bang (city-state), nó đã tổng hòa mọi trung tâm văn minh nội tại, để cho ra một nền văn minh mới.

Do đó xác định quận Giao Chỉ thời Tây Hán là cực nam cố định của đế quốc Trung Hoa suốt 2000 năm từ Chuyên Húc đến Tây Hán là hết sức vô lý. Chúng tôi hoàn toàn thông cảm với những sử gia ở đầu thiên niên kỷ thứ hai, chứ không thể hình dung nổi ở thế kỷ 20 và 21 mà rất nhiều sử liệu Việt Nam vẫn không chịu hiểu Giao Chỉ ban đầu chỉ là khái niệm.

Các triều đại huyền sử Thuấn – Vũ ghi trong Sử Ký tuy hơi phức tạp nhưng đại khái có thể ước lượng trước thời Tư Mã Thiên khoảng 1900 năm. Nói cách khác, hình như ở buổi ban đầu, lịch sử Việt Nam đã thụ động xác định khởi nguyên của nó từ lúc Thuấn – Vũ vỗ yên Giao Chỉ. Hậu quả là đến đầu thế kỷ 20, thuật ngữ 4.000 năm lịch sử đã ra đời.

Đây là một thuật ngữ rất trái khoáy, nó không dựa vào sự tự ý thức của chủ thể mà lại căn cứ trên ước định sai lầm rằng văn minh Trung Hoa đã biết họ, đã nói đến họ, đã ghi chép về họ, đã đến với họ từ buổi bình minh lịch sử của chính họ, trên mảnh đất tiền Việt Nam, cách đây khoảng 4.000 năm.

An Nam Chí Lược (1.335) định vị điểm xuất phát, tức là bộ xương, ngay sau đó Đại Việt Sử Lược (1.388) đã gia công da thịt, có lẽ bằng dã sử dân gian: “Đến đời Trang Vương nhà Chu (696 BC – 682 BC) ở bộ Gia Ninh có người lạ, dùng ảo thuật qui phục được các bộ lạc, tự xưng là Hùng Vương đóng đô ở Văn Lang, đặt quốc hiệu là Văn Lang, phong tục thuần lương chơn chất, chính sự dùng lối thắt gút.Truyền được 18 đời đều xưng là Hùng Vương”. Dấu mốc “Trang vương” không khớp với truyện cổ tích thánh Gióng đánh giặc Ân, do đó Đại Việt Sử Ký Toàn Thư ra đời sau Đại Việt Sử Lược đã biên tập lùi cuộc gặp gỡ “ngoại giao” đầu tiên giữa Hùng vương và Chu vương qua thiên niên kỷ thứ hai trước công nguyên: “Thời Thành vương nhà Chu (1.063 BC – 1.026 BC), nước Việt ta lần đầu sang thăm nhà Chu (không rõ vào đời Hùng Vương thứ mấy), xưng là Việt Thường thị, hiến chim trĩ trắng. Chu Công nói: “Chính lệnh không ban đến thì người quân tử không coi người ta là bề tôi của mình”, rồi sai làm xe chỉ nam đưa sứ giả về nước”.

Thao tác trên cộng với việc xác lập kỷ Hồng Bàng bắt đầu từ năm 2.879 BC, đã khiến cho 18 đời vua Hùng bỗng nhiên dài ra đến 2.622 năm, trước khi An Dương vương được cho là đã kết thúc triều đại các vua Hùng vào năm 258 BC. Bất chấp mọi quy luật sinh học, đây đó trên nước Việt Nam hiện nay vẫn khẳng định các vua Hùng sống rất thọ, hầu như bất tử, hoàn toàn phù hợp với sách Lã Thị Xuân Thu đã dẫn: Người Giao Chỉ bất tử!

moi-doi-vua-hung-tri-vi-200-nam-hay-20-nam

Đến đây đáng lẽ lịch sử Việt Nam phải sửa thành 4.879 năm hoặc làm tròn 5.000 năm, nhưng người ta vẫn trung thành với con số huyền bí 4.000 năm.

Thực ra Việt sử 4.000 năm đã từng lay động lòng người, đem đến niềm tự hào bất diệt cho nền văn hiến nước nam, nó dõng dạc bác bỏ mệnh đề đầu tiên của nền giáo dục Thực dân Pháp áp đặt lên nước Việt ở đầu thế kỷ 20: “Nos ancêtres sont des Gaulois”, nghĩa là “tổ tiên chúng ta là người Gaulois”[1]!

Gaulois

Ở góc độ nào đó, việc xây dựng “bốn ngàn năm Việt sử” tương tự như cách người ta tạo ra hình tượng Lê Văn Tám sau này. Các sử gia đã hư cấu niềm vinh quang tối cổ, để thôi thúc cả một dân tộc (có tỉ lệ mù chữ rất lớn, trình độ văn hóa nói chung khá thấp) cùng nhau ngẩng cao đầu đứng dậy, từ chối kiếp nô lệ ngoại bang. Sứ mệnh ấy đã hoàn thành rất lâu rồi, đã đến lúc sử học phải cân nhắc một chiều dài hợp lý hơn cho lịch sử Việt Nam.

Trên hoàn cầu, ngoài một số rất ít nền văn minh lớn đi trước, ở thời điểm Công nguyên, những quốc gia tương tự như Việt Nam không phải hiếm. Nước Anh chẳng hạn, trước khi bị đế quốc La Mã chiếm đóng toàn bộ, đặt thành quận huyện vào năm 43, họ không khác gì Việt Nam: có khoảng 20 bộ tộc chưa sáng tạo ra chữ viết, bị nhòm ngó từ năm 55 BC, một bộ tộc ngoại vi đã chấp nhận làm chư hầu cho Julius Caesar. Hai Bà Trưng của người Anh tên là Boudica, bà bị giết, cuộc nổi dậy của bà bị dập tắt khoảng năm 61. Người Anh không vướng bận với quá khứ nhiều lắm. Họ hướng về tương lai. Sau một vài thế kỷ là cường quốc đứng đầu thế giới, hết chiến tranh thế giới thứ hai, họ nhường lại vị thế ấy cho những người anh em ruột thịt cùng ngôn ngữ của mình ở Tân thế giới. Đi thăm những bảo tàng viện lịch sử tại Anh, bạn sẽ không bao giờ bắt gặp sự tự ti trong cách họ mô tả 2000 năm “văn hiến” của mình. Tiếng Anh từng bị La Mã cho là tầm thường, thấp kém, thô tục; ngày nay nó đang ở đâu thì ai cũng biết rồi.


(Trích sách: Khảo chứng tiền sử Việt Nam bằng thiên văn học cổ đại Trung Hoa)

[1] Xin xem bài báo “HAY! CỨ NHÈ PHÚ Ý NGƯỜI TA MÀ SỬA HOÀI!”, tác giả THÔNG REO. Báo Trung lập, Sài Gòn, s. 6721 (4. 5. 1932). Dẫn theo Lại Nguyên Ân.