Trong Nam Man Tây Nam Di Liệt Truyện của Hậu Hán Thư, chúng tôi thấy những dấu hiệu totem của các sắc dân xung quanh và giữa lòng Trung Hoa cổ đại như sau: Người Nam Man cổ xưa ở vùng trung tâm nước Sở sau này thờ chó. Tại đó, còn có những chủng người đội nón làm bằng da rái cá cũng thấp thoáng biến thể totem chó, bởi vì Hoa ngữ còn gọi rái cá là chó nước (thủy cẩu). Người bản xứ ở quận Thục có lẽ dùng totem hổ, cho rằng vị vương khai quốc của họ chết hồn phách nhập vào hổ trắng, từ đó có tục hiến tế người sống lấy máu dâng hổ. Đáng chú ý nhất là các bộ tộc Ai Lao cổ, vốn cư trú giữa đầu nguồn hai con sông Trường giang và Mekong lại được sử quan Hán ghi nhận nguồn gốc cha rồng, mẹ nói tiếng chim, phong tục xăm mình vằn vện như con rồng và căng thùy tai. Tiền thân rồng vốn là một gốc cây trầm hương, do đó khả năng người Ai Lao dùng totem trầm hương, nguồn gốc của tục thắp hương đốt trầm[1]. Các nước xung quanh vùng tây nam Trung Quốc đến tận nơi phát tích đạo Phật, ngày nay vẫn được ghi nhận là địa bàn sinh trưởng của giống cây trầm hương. Đặc thù xuất hiện dưới suối một đoạn gốc mục nát phần vỏ, còn lại là phần lõi có hương và rắn chắc trong truyện với thực tế là tuyệt đối trùng khớp. Totem gốc trầm hương của người Ai Lao gần gũi với totem ba đốt tre dưới suối và nguồn gốc họ Trúc của bộ tộc Dạ Lang ở trung lưu Tây giang Hoa nam ngày nay.

Năm 2004 tại Bắc Kinh, tác giả Khương Nhung đã viết một quyển tiểu thuyết rất nổi tiếng mang tên Lang Đồ Đằng, tức totem sói. Về mặt văn hóa, Khương Nhung tin và dùng nhiều dẫn luận chứng minh hình thức bái lang sói, tức loài chó hoang, làm tổ thú là tiền thân của hình tượng con rồng Trung Hoa.

Chó, sói và hổ về hình thể rất gần nhau, phải chăng văn hóa Trung Hoa đã tổng thành những totem tối cổ của các sắc dân, các trung tâm văn minh độc lập trong lãnh thổ của họ để xây dựng hình tượng con rồng hư ảo? Để tượng long, con người cần có trí tưởng tượng vượt qua những quan sát bằng con mắt trần tục, tích hợp vào đó tôn giáo và các hiện tượng tự nhiên có năng lượng lớn như sấm chớp mưa giông bão lụt. Xã hội phải ở một trình độ văn minh nhất định mới có thể sáng tạo và sử dụng hình tượng con rồng.

Theo Viện khảo cổ của viện hàn lâm khoa học xã hội Trung Quốc, tượng hình rồng xưa nhất đã đào được là một cổ vật bằng lam ngọc, xuất lộ tại di chỉ Nhị Lý Đầu, Hà Nam, trong cuộc khai quật năm 2003 – 2004[2]. Niên đại của nó cách ngày nay vào khoảng 3.700 năm (ảnh dưới).

dragon

Nhị Lý Đầu là một quận thuộc Lạc Dương, nằm bên bờ nam Hoàng hà, cố đô Đông Chu nơi Tấn Văn Hầu đã mang theo Thái Cộng Hầu xuất quân đánh nhau với người Man. Người Man Di trong câu chuyện cổ tích Bàn Hồ không thể ở mãi tận bờ nam Trường giang như sử quan Đông Hán định vị. Chắc chắn nó cách Lạc Dương không xa lắm, nó chính là Giao Chỉ cuối thời Tây Chu vậy. Nói cách khác thuật ngữ Man Di trong lịch sử Trung Quốc mang đặc thù văn hóa hơn là chủng tộc. Văn minh Trung Quốc hết đời này đến đời khác gồm thâu nhiều bộ lạc “man di” xung quanh, tiếp thu văn hóa và con người của vùng đất bị khuất phục, cùng người mới tạo dựng một nền văn hóa mới. Chủ nhân nền văn hóa mới ấy sẽ lại gọi những bộ tộc xung quanh chưa hợp nhất với mình là Man Di. Vòng tròn biến hóa ấy lập đi lập lại trong nhiều ngàn năm. Đây chính là hợp đề của triết lý biện chứng trong Kinh Dịch. Do không áp dụng loại trừ, văn minh Trung Quốc đã trở thành nền văn minh duy nhất của nhân loại phát triển tuy có trồi sụt, nhưng không hề gián đoạn hơn 4.000 năm nay.

Một ví dụ điển hình và rất gần đây có liên quan đến Việt Nam là hai mươi năm thuộc Minh của nước Đại Việt đầu TK 15. Quan lại chiếm đóng của Minh triều đã đem về chính quốc không những giá trị vật chất, mà còn tận dụng thứ quý giá nhất là con người Đại Việt. Từ ông quan đầu triều Hồ Nguyên Trừng với các phát minh vũ khí tân tiến, đến đứa trẻ mặt mũi sáng sủa tên là Nguyễn An, sau này bị thiến, trở thành thái giám và góp phần xây dựng Cố cung ở Bắc Kinh.

Giành được độc lập từ giữa thế kỷ thứ 10, qua đến triều Lý, người Việt mới bắt đầu viết sử. Trải suốt ngàn năm ảnh hưởng văn hóa Hán, dấu tích totem của người Việt hầu như mai một gần hết. Tuy nhiên chúng tôi vẫn tìm được hai chi tiết mờ nhạt:

Một là truyền thuyết dân gian vẫn truyền kể vua Đinh Bộ Lĩnh là con của rái cá, ghi lại trong sách Công Dư Tiệp Ký của Vũ Phương Đề vào thế kỷ 18.

Hai là Đại Việt Sử Ký Toàn Thư chép: “Trước ở viện Cảm Tuyển chùa Ứng Thiên Tâm, châu Cổ Pháp có con chó đẻ con sắc trắng có đốm lông đen thành hình hai chữ “Thiên tử”. Kẻ thức giả nói đó là điềm năm Tuất sinh người làm thiên tử. Đến nay, vua sinh năm Giáp Tuất lên làm thiên tử, quả là ứng nghiệm.” Đây là tích viết về vua Lý Công Uẩn. Nhiều ý kiến cho rằng đền Cẩu Nhi giữa hồ Trúc Bạch ở Hà Nội hiện nay là nơi thờ tự con chó con được triều Lý phong là Phúc thần, cùng thời điểm ra đời của kinh thành Thăng Long.

Rất khó để trả lời truyền thuyết con rồng cháu tiên của người Việt Nam phát triển lên từ totem gì. Chẳng lẽ cũng tương tự như người Trung Nguyên từ chó và rái cá? Phải là totem cả đôi mới xứng với rồng – tiên! Thật vô lý, dù có thể cho rằng tiên là biến thể của chim Lạc trên trống đồng. Mặc nhiên biểu tượng rồng – tiên chỉ có thể ra đời sau khi totem biến mất, trong khi đó chó và rái cá vẫn xuất hiện sau thế kỷ thứ mười. Nói cách khác, hình ảnh rồng – tiên nhiều khả năng được sao chép và tổng hợp từ một nền văn hóa khác sau thế kỷ 11. Chính thao tác đưa rồng – tiên về quá khứ rất xa, tạo nên kỷ Hồng Bàng trước đó mấy ngàn năm trong sử Việt, đã chỉ ra đây là một biểu tượng khá cọc cạch và lệch pha. Nó vừa đi trước vừa phủ nhận totem của dân tộc. Rất có thể rồng tiên chỉ là vay mượn và diễn nôm biểu tượng hoàng gia long – phụng của bắc triều mà thôi. Bản chất của nó thiên về củng cố vương quyền phong kiến Việt Nam, nhằm nô dịch nhân dân, hơn là sản phẩm thoát thai từ totem.

Chúng tôi không thể khẳng định totem cổ nhất có thể truy lục được của người Việt là chó và rái cá, cũng như không dám kết nối người Việt hiện đại với người Việt ở Trung Hoa thời chiến quốc qua nét totem rất mờ nhạt. Tuy nhiên totem chó hoặc rái cá lại hoàn toàn phù hợp, đồng đẳng với ngôn ngữ Việt Nam, ít nhất là trong trường hợp từ [Nước] mang gốc bộ lạc để chỉ quốc gia. Từ [Nước] mãi mãi không thay đổi trong tiếng Việt là bởi người Việt không cần sáng tạo ra từ khác thay thế, để chỉ các trình độ phát triển cao hơn của xứ sở mình, nó đã có sẵn và rất tiện dụng ở tiếng Hán Việt rồi. Chẳng hạn: “Nam quốc sơn hà nam đế cư.”

————————————————————————

[1] Hương và đốt hương cúng bái tế tự tồn tại từ rất xa xưa trong mọi nền văn minh lớn, là hình ảnh thu nhỏ của đống lửa khi nhân loại hoang dại còn sùng bái lửa. Có lẽ tục đốt trầm ở Trung Quốc tiếp thu từ các bộ tộc Ai Lao.

[2] http://www.kaogu.cn/en/backup_new/Academic/2013/1026/41367.html

Trương Thái Du

Trích từ sách: KHẢO CHỨNG TIỀN SỬ VIỆT NAM bằng CỔ THƯ và THIÊN VĂN HỌC