Chúng tôi tin rằng tên CHÍ MINH của lãnh tụ họ Hồ bắt nguồn từ Chu Dịch và nó biểu trưng cho khát vọng độc lập và tự do xuyên suốt lịch sử Việt Nam từ thời Hai Bà Trưng.

Thật vậy, Chu Dịch (1046 BC – 771 BC) viết: 離也者、明也,萬物皆相見,南方之卦也。聖人南面而聽天下,嚮明而治,蓋取諸此也。Âm Hán Việt: Li dã giả, minh dã, vạn vật giai tương kiến, nam phương chi quái dã. Thánh nhân nam diện nhi thính thiên hạ, HƯỚNG MINH nhi trị, cái thủ chư thử dã. Tạm hiểu: Quẻ Li là minh – sáng tỏ, nơi vạn vật đều rõ ràng, đó là quẻ tượng trưng cho phương nam. (Xưa) các thánh đế ngồi hướng mặt về phương nam thiết triều, ý là hướng về lẽ minh bạch mà cai trị muôn dân.

Chữ Hướng (嚮) trong đoạn Chu Dịch ở trên thông nghĩa với Hướng (向) trong Chí Hướng (志向). Chí Hướng nghĩa là lý tưởng, chí nguyện hay ý hướng. Cả hai chữ Hướng đồng âm dị tự đều có chức năng là động từ và đồng nghĩa trong nhiều ngữ cảnh cổ văn. Trong khi đó Chí ở khía cạnh nào đó là danh từ của Hướng. Do đó Chí Minh và Hướng Minh chắc chắn phải có quan hệ liên đới. Nói cách khác, có lẽ cụ Hồ đã dựa vào khái niệm cổ đại Á Đông Hướng Minh để đặt tên cho mình trại thành Chí Minh trước khi đón nhận vai trò lãnh đạo đất nước Việt Nam đứng lên cởi bỏ ách nô lệ ngoại bang.

Nội dung “Nam Diện – Hướng Minh” mang màu sắc tín ngưỡng chính trị và nó có nguyên khởi từ khoa học thiên văn.

***

Có thể mường tượng thiên văn học ra đời khi loài người bắt đầu nhận thức được ngày và đêm, xuất phát từ việc quan sát chu trình mọc lặn của mặt trời. Trong khi đó toán học bắt đầu ra đời khi loài người thu thập số lượng sự vật xung quanh mình: một người, hai người; một con thú, hai con thú săn bắt được… Các số đếm phát triển từ năm ngón tay trên một bàn tay, rồi đến mười ngón tay trên hai bàn tay. Cũng không loại trừ người ta đếm cả ngón chân nữa. Tuy nhiên nó không thuận tiện bằng việc đếm các đốt ngón tay. Sự trùng hợp ngẫu nhiên và kỳ lạ là tháng trăng 28 ngày đúng bằng số đốt ngón tay. Ngày đầu tháng hoặc cuối tháng không trăng của tuần trăng, tùy theo cách gọi của các nền văn minh khác nhau, nằm ngoài các đốt ngón tay ở cả hai bàn tay chúng ta.

Chúng tôi tin rằng nhận thức ngày đêm của con người có trước nhu cầu đếm số, nghĩa là thiên văn ra đời trước toán học, sau đó chúng sẽ cùng vận động phát triển và hỗ trợ cho nhau.

Khi phát sinh nhu cầu số đếm lớn hơn 28, người cổ đại Á Đông đã kết thằng, tức là bện dây thừng rồi thắt các nút tái tạo hình dạng đốt ngón tay của họ. Bộ số thập phân ra đời. Nhu cầu liên quan đến thiên văn của nó chính là số ngày trong một năm gấp nhiều lần tháng trăng 28 ngày.

Quá trình quan trắc, hệ thống hóa quy luật chuyển động tương đối của mặt trời với trái đất vừa giúp con người xác định số ngày trong năm và chia một ngày thành nhiều khoảng thời gian bằng nhau, ngày nay chúng ta gọi là giờ. Để tính giờ chính xác người Ai Cập cổ đại sử dụng định vị thiên văn đông tây (vĩ tuyến), người Trung Hoa dùng trục bắc nam (kinh tuyến). Nhìn vào hai cổ vật đo thời gian tối cổ của Ai Cập và Trung Hoa đặt cạnh nhau dưới đây, một người thành thạo các khái niệm thiên văn sẽ nhận ra ngay là phải đặt đường kính của miếng chỉ thị thời gian Ai Cập bên trái trùng vĩ tuyến người quan sát; đặt trung tuyến đi qua tâm và chia đôi nhật quỹ Tây Hán bên phải trùng với kinh tuyến người quan sát. Có như thế những chiếc đồng hồ cổ đại này mới chỉ đúng giờ.

Chính yêu cầu trên đây đã khiến những công trình hoàng cung và lăng mộ xa xưa ở Ai Cập và Trung Quốc cần phải thiết lập trục chính đạo đông tây hoặc bắc nam. Các bức tường ngang hoặc dọc trùng với vĩ tuyến hoặc kinh tuyến nhằm tạo chỉ thị đông tây hoặc bắc nam chuẩn giúp cư dân thuận theo đó mà đặt đồng hồ xem giờ giấc. Nhu cầu giản dị này sau đấy được khoác lên vẻ thần thánh, linh thiêng và thấm sâu vào các nền văn hóa. Người Trung Hoa gọi đoạn trục này trong hoàng thành hoặc ở khu vực đàn tế trời là ngự đạo, trong hầm mộ hoàng đế là thần đạo (đường lên trời cho thiên tử sau khi băng hà). Người Mỹ xây thủ đô Washington ở thời điểm đồng hồ cơ khí đã rất chính xác, các đồng hồ mặt trời chỉ để nhìn ngắm cho vui, nhưng họ vẫn thiết lập trục thần đạo đông tây, đó chính là đoạn đường từ Lincoln Memorial đến Capital Hill.

Như vậy trục chính đạo ban đầu chỉ là định vị thiên văn hướng bắc nam hoặc đông tây chính xác mà thôi. Đạo Giáo thu nạp Hoàng Đế, ông vua thần thoại đầu tiên, làm ngọc hoàng trên trời. Tín ngưỡng chính trị Á Đông khẳng định vua là con trời. Cả hai hình thức tôn giáo này có thể đều có xuất phát điểm là tục thờ mặt trời cổ xưa và đã đồng hành với thiên văn ở giai đoạn đầu.

Dưới nhãn quan toán học, trục chính đạo nam bắc Trung Hoa hay đông tây Ai Cập chính là cách nhìn và tính toán của con người cổ đại bằng trục tung hay trục hoành của hệ tọa độ Descartes ở thế kỷ 17.

Văn minh Trung Hoa phát tích dọc trung lưu Hoàng Hà, nơi có vĩ độ địa lý khoảng 34 – 35 độ vĩ bắc. Mặt trời đối với họ luôn luôn mọc ở phía đông nam và lặn phương tây nam. Các thiên văn gia thời đồ đá dựng cây nêu quan trắc chuyển động tương đối giữa mặt trời và trái đất để xây dựng niên lịch luôn phải nhìn về phía nam. Thời điểm thiên tử đốt lửa tế trời luôn luôn là chính ngọ – giữa trưa, lúc mặt trời nằm ở hướng chính nam. Chế độ phong kiến phân quyền nhà Chu xem việc độc tôn tế trời và độc quyền phát hành niên lịch cho chư hầu là phương tiện bảo tồn tính chính danh.

Sách Chu Lễ biến vĩ độ tình cờ và tự nhiên của kinh đô Chu, thành tín ngưỡng chính trị. Nó khẳng định chỗ bóng nắng cây nêu giữa trưa ngày Hạ chí dài một thước năm tấc, là Địa Trung, trời đất gặp nhau, bốn mùa chuyển giao, mưa thuận gió hòa, âm dương tương hợp, thế thời tốt đẹp, vạn vật bằng an, là nơi tạo dựng vương quốc, mở mang bờ cõi, bốn phương ngàn dặm phong phân chư hầu.

Từ đó có qui định không thành văn trong thế giới Nho giáo Á Đông: Chỉ thiên tử Trung Hoa mới được quyền xưng đế, được xây dựng cung điện có ngọ môn đúng nghĩa, mọi ngày mặt trời giữa trưa nằm ở hướng chính nam sẽ chiếu thẳng góc vào cổng chính là cổng nam kinh đô. Trái lại nghĩa là thách thức Bắc triều. Di tích thành nhà Hồ ở Thanh Hóa hay thành Huế của nhà Nguyễn đã triệt để tuân thủ qui định này. Mặc dù cửa nam họ vẫn gọi là ngọ môn, nhưng về bản chất nó là tỵ môn thẳng hướng đông nam vì tia nắng mặt trời giờ tỵ sẽ vuông góc với mặt phẳng cửa.

***

Khi sáng lập nhà nước Việt Nam hiện đại, Hồ Chí Minh chưa chắc đã thấu hiểu bản chất thiên văn của trục chính đạo các kinh đô nước Việt xưa, nhưng chắc chắn ông nắm rõ các trói buộc tuy khá hình thức nhưng tuyệt đối bất bình đẳng trong thế giới Nho giáo từ triều Nguyễn trở về trước. Khát khao độc lập và nỗ lực độc lập của người Việt là xuyên suốt từ Hai Bà Trưng đến Hồ Chí Minh, do đó ý hướng tự chủ và tự do của ông là rõ ràng. Là lãnh tụ của một nước Việt Nam mới, ông chọn cái tên Chí Minh ẩn tàng “nam diện – hướng minh nhi trị” vừa phủ nhận trật tự phong kiến xa xưa, vừa hướng về giá trị “nhà nước minh bạch” của thế kỷ 20.

Ở góc nhìn này chúng tôi còn thấy rằng Hướng Minh – Chí Minh với “Độc lập – Tự do” trong tiêu ngữ “Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa – Độc lập tự do hạnh phúc” về cơ bản là tương đồng. Nó hướng đến một nền chính trị dân tộc thuần chất, độc lập với phương bắc nói riêng và các thế lực có mưu đồ xấu ở bất cứ đâu nói chung.

Đây mới chính là cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh.

@Trương Thái Du 2017