Bắc 北: Vốn đồng âm và đồng nghĩa với chữ Bối 背 tức là lưng. Giáp cốt văn vẽ hình hai người quay lưng lại với nhau (hình 1). Giữa trưa nếu người Trung Quốc cổ đại (ở vĩ độ 34-35) nhìn thẳng về phía mặt trời thì sau lưng họ chính là hướng chính bắc.

Bei

Nam 南: Các nhà nghiên cứu chữ viết xưa nay cho rằng giáp cốt văn của nó là hình một loại nhạc khí. Tuy vậy, ý nghĩa thiên văn rõ ràng của chữ Bắc dẫn đến khả năng giáp cốt văn của Nam mô tả mặt trời ở thời điểm ban trưa nóng nực, thấp thoáng chữ Hỏa (hình 2).

Nan

Đông 東: Chữ Đông giáp cốt vẽ mặt trời nằm giữa một cây cổ thụ, tức mặt trời mới mọc (hình 3).

Dong

Tây 西: Sách Thuyết Văn đời Hán cho đấy là hình chim nằm trên tổ, buổi chiều chim bay về tổ cùng hướng mặt trời lặn. Do đó gọi phương ấy là Tây (hình 4).

Xi

Tất nhiên, Hán ngữ có quá trình phát triển, bồi đắp, thay thế… ít nhất là 4000 năm. Dấu vết thiên văn cổ đại của nó còn nhiều như đã liệt kê ở trên là khá bất ngờ.