Chúng ta đã rõ Lạc Vương nghĩa là Quốc Vương. Chữ Lạc có tiền ngữ là nước, vùng nước, từ đó được trừu tượng hóa thành lãnh thổ tại ngôn ngữ Austronesian, trong đó Thái – Tráng là một nhánh.

Ngạc nhiên lớn với chúng tôi là Hùng Vương tương đồng hoàn toàn với Quân Vương. Viết về các bộ lạc bản địa sử dụng trống đồng ở vùng Quảng Tây và Bắc Việt Nam, sách Thông Điển năm 801 ghi: 以富為雄 – Dĩ phú vi hùng. Có thể dịch thành “giàu có thì làm thủ lĩnh”. Chữ Hùng 雄 này chính là Hùng trong danh xưng Vua Hùng, Hùng Vương tại tất cả các quyển sử Việt Nam từ xưa đến nay.

Hùng 雄, Hán ngữ cổ đại mang âm [whǝŋ], trung đại khoảng thời Đường đọc là [ɦüŋ]. Âm [ɦüŋ] rõ ràng là sự nặng hóa của phương nam khi đọc âm [kün] của chữ Quân君. Các căn cứ ngữ âm liệt kê như sau: Genghis Khan tức Thành Cát Tư Hãn. Khan âm Mông Cổ là thủ lĩnh, âm KH đi về phương nam trở thành H trong Hãn. Chữ Hảo 好 nghĩa là tốt đẹp, người Hoa Nam đọc rõ chữ H trong khi ở Bắc Kinh chúng tôi nghe được âm KH rất nhẹ. Người Việt cũng có quan hệ bắc – nam như thế trong từ Không ở Hà Nội hay bị biến thành Hông tại Sài Gòn.

Quân 君 âm Hán cổ là [kun], trong văn hiến suốt thời Chu chỉ vua của nước nhỏ, xếp dưới Vương và Đế. Quân 君 xuất hiện nhiều ở giáp cốt văn và bốc tự (lời bói toán) do đó nó thuần Hán. Như vậy nhiều khả năng âm Quân 君 đã được người phương nam vay mượn từ Hoa Hạ phía bắc để chỉ thủ lĩnh bộ lạc từ thời Thương – Ân. Tiếng Thái hiện đại ngày nay vẫn dùng Khun tôn gọi ngôi thứ hai một cách trang trọng.

Đến thời Đường, khi âm chỉ thủ lĩnh của các bộ lạc phương nam là [kün] hao hao giống Hùng 雄 [ɦüŋ], thì từ Hùng 雄 mới được dùng để ký âm ấy. Nói cách khác Hùng Vương trong Hán ngữ chỉ xuất hiện cách đây hơn 1200 năm mà thôi. Cũng nên lưu ý chi tiết về nước Sở, theo Sử Ký vua Sở là người thuộc bộ tộc Hùng 熊, họ Mị 羋 (bộ Dương 羊). Âm cổ đại  của Hùng 熊 là [whǝm], trung đại là [ɦüŋ]. Dục Hùng không thể hiểu là ông vua tên Dục vì âm thời Chu của Hùng 熊 hoàn toàn khác Quân 君.

HungVuong

Ảnh: Hình dung về Hùng Vương của người Việt Nam hiện đại. Cũng nên nhắc đến chi tiết trong Sử Ký: “Bắt đầu từ thời Sở Uy Vương (339 BC – 329 BC), đã sai tướng quân Trang Kiểu theo thượng lưu Trường giang chiếm các vùng phía tây đất Ba và Kiềm Trung. Trang Kiểu là hậu duệ của Sở Trang Vương ( 613 BC – 591 BC). Kiểu đến hồ Điền (Côn Minh – Vân Nam), rộng ba trăm dặm, xung quanh đất đai bằng phẳng phì nhiêu trải dài cả ngàn dặm, dùng binh lính trấn áp rồi gộp vào nước Sở. Kiểu muốn quay về Sở báo tin, nhằm lúc Tần đang đánh Sở để chiếm Ba quận và Kiềm Trung quận (316 BC), đường bị chặn, bèn quay lại xưng vương xứ Điền, đổi cách ăn mặc, sinh hoạt bằng tập quán bản địa như tù trưởng”.

***

Nếu các từ Âu và Lạc chắc chắn là Hán tự ký âm bản địa, bố mẹ gốc Thái, U/Bu gốc Austronesia vẫn còn thấy trải dọc ven biển từ Indonesia lên đến Phúc Kiến đến tận ngày nay, thì ngôn ngữ chính trị bao gồm: Việt (bộ Ấp chỉ quốc gia bên cạnh chữ Việt 戉 ghi âm bản địa) và Hùng (đồng âm đồng nghĩa với Quân ở thời Đường) lại đặc sệt Hoa Hạ. Nó là chỉ dấu cho hình dung nam tiến của các cơ cấu chính trị hậu bộ lạc khu vực từ Dương Tử đến tận Việt Nam:

  1. Việt hầu Vô Dư: Hậu duệ Hạ Vũ vì biến động chính trị phiêu dạt về vùng Giang Nam lập quốc xưng vương.
  2. Dục Hùng: Quan lớn của Chu Thành Vương được phong đất Kinh Sở, nhiều đời sau bành trướng thành một đại quốc bên bờ Dương Tử.
  3. Trang Kiểu: Tướng quân nước Sở, cùng họ với vua Sở, theo lệnh Sở Uy Vương (339 BC – 329 BC) tấn công Vân Nam rồi ở lại làm vua nước Điền.
  4. Úy Đà: Năm 208 BC huyện Úy nhà Tần là Triệu Đà ly khai, thống nhất hai nhánh Âu Việt và Lạc Việt thành lập vương quốc Nam Việt.

Tóm lại, nếu truy ngược lịch sử đến thời Thương – Ân, vua Hùng sẽ là quân trưởng các liên minh bộ lạc phía nam Dương Tử nói chung, nhiều khả năng là quý tộc hay mang dòng máu quý tộc Hoa Hạ, làm vua và ăn mặc theo kiểu bản địa. Văn minh Dương Tử ở đỉnh cao Lương Chử (2200 BC) suy tàn do thiên tai, xã hội cơ bản thụt lùi trở lại hình thái bộ lạc. Sau đó 1000 năm, nền chính trị Hoa Hạ vươn đến. Đó là lý do thuật ngữ Hoa Hạ chỉ lãnh tụ đã thay thế thuật ngữ Dương Tử tương đương trước đó, nếu có.

***

Dù sao đi nữa chúng ta cũng thấy trùng ngữ Quân và Vương trong danh xưng Hùng Vương, lần đầu tiên được nhắc đến là ở Đại Việt Sử Lược (1388). Về bản chất Lạc là ký âm từ chỉ quốc gia trong ngôn ngữ Thái – Tráng đời Hán, Hùng là ký âm quân chủ bộ lạc Hoa Nam thời Đường. Ở phương vị nhất định, trong xã hội Lạc Việt, Lạc Vương và Hùng Vương là một! Việt ngữ hiện đại vẫn dùng cụm từ “xưng Hùng xưng Bá một phương” chính là thể hiện thực nghĩa của chữ Hùng vậy.

Hùng Vương được ghép bởi hai danh xưng khác nhau, ở hai bậc, hai mức độ: Quân trưởng và Vương thượng. Nó đồng nghĩa với lãnh tụ ở ngôn ngữ hiện đại. Câu “Tất cả chúng ta đều là con cháu vua Hùng” tương đương với mệnh đề ông Nông Đức Mạnh từng nói: “Chúng ta đều là con cháu Bác Hồ”. Tôn Trung Sơn là quốc phụ nước Trung Hoa hiện đại, người Mỹ cũng có lớp Cha ông lập quốc (founding fathers), các khái niệm này giống hệt Hùng Vương của người Việt Nam.

Ý nghĩa của mọi thuật ngữ lịch sử đều nằm trước mắt bạn. Tôi chỉ có mỗi nhiệm vụ chỉ ra mà thôi.

(*) Các ngữ âm liệt kê trong đây lấy từ  S. Starostin

@12.2017 T.T.Du