Trần Trọng Dương: Kinh Dương Vương – ông là ai?

2 Comments

Nguồn Tia Sáng


Một trong bốn con tem thuộc bộ tem
“Dân gian truyền thuyết – Liễu Nghị truyền thư”
do Bưu cục Quốc gia Trung Quốc phát hành
năm 2004.
Như trong bài viết trước1, chúng tôi đã nhận định Đại Việt sử ký toàn thư (Toàn thư) – bộ sử quan trọng nhất của Việt Nam đề cập những sự kiện từ khởi thủy cho đến thế kỷ XVII – là một tư liệu được biên soạn trên tư duy đa nguyên “văn – sử – triết” của thời Trung Đại. Trong đó, bộ sử này đã sưu tập nhiều huyền thoại dân gian của đời sau để bù đắp cho những khuyết thiếu của sử liệu. Ở bài này, chúng tôi tiếp tục làm rõ hơn nhận định trên thông qua việc phân tích một nhân vật vốn được coi là thủy tổ của người Việt và nước Việt nhưng cứ liệu lại cho thấy chỉ là ảo ảnh diễn hóa từ nhân vật Kinh Xuyên trong tiểu thuyết truyền kỳ của Trung Quốc.

Kinh Dương Vương và tín ngưỡng thờ Kinh Dương Vương

Theo như cách trình bày ở Kỷ Hồng Bàng thị trong Toàn thư, Kinh Dương Vương tên là Lộc Tục, con cháu họ Thần Nông, vị vua khai sáng ra nước Xích Quỷ (quỷ đỏ). Vì thế Kinh Dương Vương được Ngô Sĩ Liên coi như vị thủy tổ đầu tiên của người Việt và nước Việt. Chẳng những thế, Kinh Dương Vương còn lấy con gái của Động Đình Quân tên là Thần Long để sinh ra Sùng Lãm, tức Lạc Long Quân. Lạc Long Quân sau lấy Âu Cơ – con gái của Đế Lai, sinh ra trăm con trai, 50 con lên rừng, 50 con xuống bể. Vị con trưởng được nối ngôi cha, phong là Hùng Vương. Sử gia Ngô Sĩ Liên thế kỷ XV bình luận đoạn này như sau: “Con cháu Thần Nông thị là Đế Minh lấy con gái Vụ Tiên mà sinh Kinh Dương Vương, tức là thủy tổ của Bách Việt. Vương lấy con gái Thần Long sinh ra Lạc Long Quân, Lạc Long Quân lấy con gái Đế Lai mà có phúc lành sinh trăm con trai. Đó chẳng phải là cái đã gây nên cơ nghiệp của nước Việt ta hay sao?”2.

Kể từ sau Ngô Sĩ Liên, phần lớn các bộ lịch sử Việt Nam đều công nhận Kinh Dương vương là thủy tổ của nước Việt. Ví dụ như sách Thiên Nam minh giám (thế kỷ XVII) mở đầu như sau:

“1-     Tượng mảng xưa sách trời đã định,
    Phân cõi bờ xuống thánh sửa sang,
    Nước Nam từ chúa Kinh Dương,
    Tày nhường phải đạo mở mang phải thì.
5-     Tới Lạc Long nối vì cửu ngũ,
    Thói nhưng nhưng no đủ đều vui,
    Âu Cơ gặp gỡ kết đôi,
    Trổ sinh một bọc trăm trai khác thường.
    Xưng Hùng Vương cha truyền con nối,
10-     Mười tám đời một mối xa thư,
    Cành vàng lá ngọc xởn xơ,
    Nước xưng một hiệu năm dư hai nghìn”.3

Đến thế kỷ XVII, Kinh Dương Vương đã chính thức được văn hóa dân gian đưa vào thờ làm vị thủy tổ trong đền ở thôn Á Lữ, xã Đại Đồng Thành, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh (ngày nay). Năm 1840, đền cho dựng bia đá “Kinh Dương Vương lăng”. Năm 1940, đời vua Bảo Đại, đền làm thêm hai đại tự “Nam Tổ miếu” và “Thần truyền thánh kế“. Năm 2000, nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm về thăm đền và để lại bút tích gợi ý tỉnh Bắc Ninh có đề xuất lên Trung ương nâng cấp cơ sở thờ tự của tổ tiên. Năm 2009, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết cũng đến thăm đền và để lại những lời kỷ niệm sâu sắc về cội nguồn dân tộc4. Năm 2012, NXB Văn hóa dân tộc ấn hành cuốn Nam Bang Thủy Tổ Kinh Dương Vương của các tác giả Trần Quốc Thịnh, Đỗ Văn Sơn, Biện Xuân Phẩm, tập hợp các tư liệu từ Toàn thư, Lĩnh Nam chích quái, Thủy Kinh chú… và từ các truyền thuyết, văn bia, thần phả, thần tích cũng như công trình nghiên cứu, tham luận của các học giả.

Ngày 25/2/2013, tỉnh Bắc Ninh tổ chức lễ hội kỷ niệm 4892 năm Đức thủy tổ khai sinh mở nước. Đến dự lễ khai hội có Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Thiện Nhân và lãnh đạo một số Bộ, ngành. Sau lễ dâng hương, Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân dự lễ khởi công Dự án tu bổ, tôn tạo và phát huy giá trị Khu di tích Lăng và Đền thờ Kinh Dương Vương. Theo quy hoạch đã được tỉnh Bắc Ninh phê duyệt, dự án có tổng diện tích gần 40ha, gồm không gian bảo tồn di tích, không gian phát huy giá trị di tích, không gian quản lý và dịch vụ phụ trợ, với nguồn vốn đầu tư gần 500 tỷ đồng5.


Từ nhân vật của truyện truyền kỳ Trung Hoa?

Tuy nhiên, như ngay ở đầu bài viết, chúng tôi có ý nghi vấn, Kinh Dương Vương chưa chắc đã là nhân vật lịch sử có thật. Chứng cớ nào đề chúng tôi có thể đi đến nghi ngờ như vậy?

Chứng cứ nằm ngay trong Toàn thư, sau khi viết về lai lịch, cuộc đời của Kinh Dương Vương, Ngô Sĩ Liên đã viết: “Xét Đường kỷ chép: thời Kinh Dương có người đàn bà chăn dê, tự xưng là con gái út của Động Đình Quân, lấy con thứ của Kinh Xuyên, bị bỏ, viết thư nhờ Liễu Nghị tâu với Động Đình Quân. Thế thì Kinh Xuyên và Động Đình đời đời làm thông gia với nhau đã từ lâu rồi”.6

Chúng ta còn thấy chuyện này được chép trong sách Lĩnh Nam chích quái của Trần Thế Pháp (thế kỷ XIV?)7, rồi sau đó lại được sao chép nguyên vẹn vào trong thần tích của Mẫu Thoải tại Tuyên Quang8.

Cần nhắc lại ở đây ghi chép về nguồn Đường kỷ của Ngô Sĩ Liên là một gợi ý hữu ích cho những người nghiên cứu các đời sau. Từ gợi ý đó, một số học giả đã tìm ra cả chục văn bản văn học Trung Quốc chép câu chuyện này. Lần xa hơn nữa, các học giả đều thống nhất cho rằng, truyện Kinh Dương Vương có sự sao chép từ tiểu thuyết Liễu Nghị truyện (柳毅傳) do Lý Triều Uy sáng tác vào đời Đường9. Truyện có thể tóm tắt như sau: Liễu Nghị là một nho sinh thi trượt, trên đường gặp một thiếu phụ chăn dê xinh đẹp nhưng dáng vẻ tiều tụy. Người phụ nữ ấy nói rằng mình là con gái của Long Vương ở hồ Động Đình, vốn lấy con trai thứ của Kinh Xuyên, nhưng bị bạc đãi, bắt đi chăn dê, nên muốn nhờ Liễu Nghị chuyển thư đến cho cha để báo tình cảnh của mình. Liễu Nghị đem thư xuống Long cung. Em trai Long Vương là Tiền Đường giận quá nên giết con trai của Kinh Xuyên, cứu cháu về, rồi định gả cho Liễu Nghị. Nghị từ chối, xin về, được Long vương ban cho nhiều vàng bạc châu báu. Sau Liễu Nghị lấy vợ, lần nào lấy xong vợ cũng chết. Con gái Long Vương thấy vậy bèn nhớ lại duyên cũ, muốn báo đáp bèn hóa làm người con gái xinh đẹp mà lấy Liễu Nghị làm chồng. Sau hai vợ chồng đều thành tiên10.

Liễu Nghị truyện được coi là một truyện truyền kỳ sớm nhất của Trung Quốc. Từ cuối đời Đường, truyện đã được lưu hành rộng rãi trong dân gian. Đến thời Tống, truyện được Thượng Trọng Hiền chuyển thể sang kịch bản tạp kịch với tên “Động Đình hồ Liễu Nghị truyền thư”11. Liễu Nghị trở thành tích truyện rất được ưa thích trong văn hóa diễn xướng của người Trung Quốc. Hàng loạt các tác phẩm nổi tiếng ra đời, như nhà Tống có “Liễu Nghị đại thánh nhạc”; nhà Kim có “Liễu Nghị truyền thư”; triều Nguyên có “Liễu Nghị Động Đình long nữ”; thời Minh Thanh có “Quất bồ ký”, “Long tiêu ký”, “Long cao ký”, “Thẩn trung lâu”, “Thừa long giai thoại”12. Trong đó, cho đến nay, “Liễu Nghị truyền thư” (còn có tên “Thủy tinh cung”, “Liễu Nghị kỳ duyên”) vẫn được người Trung Quốc coi như là một kịch mục kinh điển của hý kịch Trung Hoa. Từ năm 1952, vở kịch đã nhiều lần được dàn dựng bởi các đạo diễn khác nhau, số lần trình diễn hiện chưa thể thống kê hết được13. Không những thế, tích truyện này còn trở thành đề tài làm tranh khắc ván và thư họa truyền thống (thủy mặc). Ngày 17/7/2004, Bưu cục Quốc gia Trung Quốc đã phát hành bộ tem “Dân gian truyền thuyết – Liễu Nghị truyền thư”, gồm bốn con tem với bốn hoạt cảnh: “Long nữ gửi thư”, “Thư gửi Động Đình”, “Cốt nhục đoàn tụ”, và “Nghĩa trọng tình thâm”14.

Những nhận định của sử gia đời sau

Đến đây có thể nhận định về nguồn gốc của các mô-típ, các nhân vật, cũng như địa danh trong truyện Kinh Dương Vương được chép trong Toàn thư. Ngô Sĩ Liên đã tình cờ đem một số chi tiết của truyện Liễu Nghị để ghép với các huyền thoại khác như Lạc Long Quân – Âu Cơ, và coi đó như nguồn gốc khởi đầu cho sự xuất hiện của Hùng Vương – triều đại mà người Việt ngày nay coi như lịch sử đích thực của mình.

Các nhà Nho Việt Nam trong nhiều thế kỷ hẳn phải biết đến một tác phẩm có ảnh hưởng lớn như truyện Liễu Nghị. Bằng chứng là nhà thơ nổi tiếng Thái Thuận (Tiến sĩ 1475) cũng đã sáng tác bài thơ “Liễu Nghị truyền thư”. Nhưng đó là chuyện của văn học.

Còn với tư cách người viết sử, không ít sử gia thời Trung Đại đã phản đối cách lắp ghép của Ngô Sĩ Liên. Đầu tiên, phải kể đến những nhận định của Ngô Thì Sĩ trong Đại Việt sử kí Tiền biên. Ông viết: “Nay xét phần Ngoại kỉ chép: Năm Nhâm Tuất thì bắt đầu Giáp Tí là năm nào? Ghi chép tên húy Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân sao riêng lược bỏ Hùng Vương? Thời Ngũ Đế trở về trước thì chưa từng gọi là vương. Xích Quỷ là tên nào, mà lại để làm tên nước. Một loạt hoang đường càn rỡ đều là đáng bỏ đi. Cái lỗi ấy lại tại kẻ hiếu sự thấy trong Liễu Nghị truyền thư. Trong truyện nói con gái vua Động Đình gả cho con thứ của Kinh Xuyên Vương, tưởng càn Kinh Xuyên là Kinh Dương. Đã có vợ chồng thì có cha con, vua tôi, nhân đó mà thêu dệt thành văn, cốt cho đủ số đời vua, nhà làm sử theo đó mà chọn dùng, và cho đó là sự thực. Phàm những chuyện lấy từ Lĩnh Nam chích quái, Việt điện u linh, cũng như Bắc sử lấy ở Kinh Nam Hoa và thiên Hồng Liệt đấy.”15

Sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục (1856 – 1883) viết: “Vâng tra sử cũ, danh xưng Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân trong ‘Kỉ họ Hồng Bàng, vốn từ thời Thượng cổ, thuộc thuở hồng hoang, tác giả căn cứ vào cái không và làm ra có, sợ rằng không đủ độ tin cậy, lại phụ hội với Liễu Nghị truyện của nhà viết tiểu thuyết đời Đường, lấy đó làm chứng cứ”16. Chuẩn tâu những lời của sử quan, vua Tự Đức đã nhận định đây là những “câu truyện đề cập đến ma trâu, thần rắn, hoang đường không có chuẩn tắc” và kiên quyết loại Kinh Dương và Lạc Long ra khỏi chính sử bằng cách đưa xuống phụ chú dưới niên kỷ Hùng Vương, để “cho hợp với cái nghĩa lấy nghi truyền nghi”17.

Qua những trình bày ở trên, độc giả đã phần nào mường tượng ra con đường thu nhận biến đổi tích truyện từ truyện Liễu Nghị đến truyện Kinh Dương. Đây sẽ là những tư liệu thú vị để nghiên cứu về tiếp xúc văn học văn hóa giữa Việt Nam và Trung Hoa. Đồng thời cũng là “mẫu sử liệu” thú vị cho giới nghiên cứu khám nghiệm và giám định.

Đến đây, chúng tôi xin mượn lời của giáo sư Liam Christopher Kelley (Đại học Hawaii) để kết thúc bài viết này: Trải qua nhiều thế kỷ, những truyền thống mà họ [các sử gia] sáng tạo đã trở thành cái tự nhiên thứ hai (second nature). Thực tế, trong nửa thế kỷ qua, dưới ảnh hưởng của chủ nghĩa dân tộc, những truyền thống được sáng tạo ấy (invented traditions) đã và đang trở thành những sự thực không thể thay đổi18

—-

1 Đinh Bộ Lĩnh: Huyền thoại và lịch sử (Tia Sáng số 16, ngày 20/08/2013)

2 Chính Hòa thứ mười tám (1697). Đại Việt sử ký toàn thư. Nội các quan bản. Bản khắc in. Bản dịch. 1998. Tập 1. Ngô Đức Thọ dịch chú, Hà Văn Tấn hiệu đính. NXB Khoa học Xã hội. Hà Nội. tr.131-133.

3 Trịnh thị. (1624-1657). Thiên Nam minh giám. tr.4a. (Thư viện Khoa học Xã hội TP Hồ Chí Minh, ký hiệu HNv.006) trang 1a. Tham khảo phần phiên khảo của Hoàng Thị Ngọ, (1994). NXB Văn học. Hà Nội.

4 Thọ Bình – Bá Kiên. Đầu năm thăm lăng Kinh Dương Vương (ông nội vua Hùng). Theo tienphong.vn

5 Việt Cường. Bắc Ninh khai hội Kinh Dương Vương. http://vtv.vn

6 Chính Hòa thứ 18 (1697). Toàn thư. sđd. tr 133

7 Trần Thế Pháp. (XIV?). Lĩnh Nam chích quái. ký hiệu. A.1200 (Viện nghiên cứu Hán Nôm), tr.4a-4b.

8 Nguyễn Thanh Tùng. Giao lưu tiếp biến văn hoá Trung – Việt trong lịch sử: khảo sát sự tiếp nhận tích truyện Liễu Nghị truyền thư ở Việt Nam thời trung đại.

M. Durrand. 1959. Technique et Pantheon des médiems Vietnamien. BEFEO. Vol.XLV, Paris. [chuyển dẫn Ngô Đức Thịnh. 2009. Đạo mẫu Việt Nam. (Tập 1) NXB Tôn giáo. Hà Nội. tr.63- 64.

9 Tiền Chung Liên và cộng sự (tổng chủ biên). Tái bản 2000. Trung Quốc văn học đại từ điển (thượng). Thượng Hải từ thư xuất bản xã. Thượng Hải. tr.277.

10 Tiền Chung Liên và cộng sự (tổng chủ biên). Sđd. Tr.409.

Bản dịch tiếng Việt có thể tham khảo: Lí Triều Uy, Liễu Nghị truyện, Xuân Huy dịch, in trong “Tuyển dịch một số truyện truyền kì ưu tú thời Đường Tống”, Tạp chí Hán Nôm, 1990. – Số 2 (9). – Tr.90-109.

11 Tiền Chung Liên và cộng sự (tổng chủ biên). Sđd. Tr. 831.

12 Tiền Chung Liên và cộng sự (tổng chủ biên). Sđd. Tr. 831.

13 Quý vị có thể copy chữ Hán “柳毅传书” xem các trích đoạn vở kịch này trên http://www.youtube.com

14 http://www.fhstamp.com/bbs/read.php?tid=784

15 Ngô Thì Sĩ (soạn), Ngô Thì Nhậm (tu đính). 1800 (khắc in). Đại Việt sử ký tiền biên. Bắc Thành học đường tàng bản. Ký hiệu A2/2-7. Lê Văn Bảy, Dương Thị The, Nguyễn Thị Thảo, Phạm Thị Thoa (dịch), Lê Duy Chưởng (hiệu đính). NXB KHXH.H.1997. tr.40.

16 Quốc sử quán triều Nguyễn (1856 – 1883), Khâm định Việt sử thông giám cương mục, quyển I, Thư viện Quốc gia Hà Nội, kí hiệu: R.591, tờ 4a- 5b.

17 Quốc sử quán triều Nguyễn (1856 – 1883), sđd.: R.591, tờ 9b-10a.

18 Liam C. Kelley. The Biography of the Hồng Bàng Clan as a Medieval Vietnamese Invented Tradition. Journal of Vietnamese Studies Vol. 7, No. 2 (Summer 2012), p. 122.

Trịnh Y Thư: Tạp bút “Chỉ là đồ chơi”.

3 Comments

DSC01228

Xin chân thành cảm ơn tác giả Trịnh Y Thư đã gửi tặng sách. Hôm nay sách đã về đến Việt Nam. Tôi tin rằng đây sẽ là một quyển sách thú vị và có những điều nên được viết ra, do đó mới xuất hiện entry “đặt gạch” này.

…………………………………

Tôi đọc tạp bút “Chỉ là đồ chơi” khá nhanh, hai ba đêm, một đêm 1-2 tiếng trước khi đi ngủ. Không phải 1-2 tuần như ước lượng lúc đầu. Có lẽ một phần vì các luận điểm tác giả đề cặp có sự lập lại trong các hình thức khác nhau như viết ngắn, phỏng vấn hoặc mạn đàm.

Thực ra tôi biết đến Trịnh Y Thư thông qua bản dịch rất thành công trước đây của ông là “Đời nhẹ khôn kham”. Người Việt nói chung, có sự đồng cảm địa-chính trị nhất định với Kundera, do đó suy tư trong các tác phẩm của Kudera hay được họ nâng niu. Đến với “The Unbearable Lightness of Being” bằng tâm thế đó, Trịnh Y Thư lập tức ghi dấu ấn của riêng mình trong lòng độc giả.

Qua tạp bút “Chỉ là đồ chơi”, người đọc phần nào hiểu thêm tác giả – dịch giả một chút xíu nữa, nhưng với riêng tôi, tôi nghĩ rằng mình đã đoán ra động cơ viết của Trịnh Y Thư.

Bảo văn chương “Chỉ là đồ chơi” ở đầu sách và tựa sách, nhưng rồi lại vật vã thế này trong một bài phỏng vấn:

“Chúng ta ai cũng có quá khứ. Đối với những kẻ lìa bỏ quê hương ra đi khi đã có chút ý thức về đời sống, cái quá khứ ấy trở nên nhọc nhằn, nặng nề gấp bội. Một quá khứ nặng khôn kham. Chúng ta khổ sở suốt đời vác nó trên lưng như con ốc sên vác cái vỏ cứng của nó. Tuy vậy sau một thời gian dài sinh sống nơi nước ngoài, cái đau hoài hương trong lòng chúng ta dần dà phai nhạt để nhường chỗ cho cái đau của sự lạ hoá. Sự việc biến thiên theo chiều nghịch đảo: cái thân quen biến thành cái xa lạ và ngược lại. Trở về thăm viếng nơi mình sinh trưởng sau một thời gian dài xa cách, gần như ai cũng cảm thấy nỗi đau này. Nó lạ lùng một cách tàn bạo. Dù cố gắng cách mấy người ta vẫn không thể tự đánh lừa được cảm giác xa lạ, lạc lõng, tách rời. Mảnh đất nơi mình sinh ra biến thành nơi chốn khác, không còn là của mình nữa. Lịch sử của mảnh đất đó không có chỗ đứng cho mình, nó tàn nhẫn gạt mình ra ngoài lề. Lằn ranh biên giới giữa nhớ và quên như bị xoá sạch, không còn cái gì đáng nhớ, sự lãng quên như bị sai khiến bởi vô thức. Kí ức vẫn còn đấy trong bộ nhớ nhưng nó như bị ảo hoá, trở nên không thực. Sự lạ hoá này cũng thật là tàn bạo bởi cùng lúc nó để hiển lộ khía cạnh hiện sinh của thế giới con người: con người là sinh vật không có bản nguyên, căn tính của hắn không là cái gì bất di dịch. Hắn bị ném ra ngoài thế gian này mà không hề biết tại sao. Hắn như nhà phi hành đi bộ ngoài không gian bị đứt dây buộc với phi thuyền mẹ và cứ thế dật dờ trôi giạt mãi về khoảng không gian huyền tẫn mịt mù”.

Từ khóa là Nostalgia của Kundera. Và tôi đặt các đoạn văn của TYT lại gần nhau (http://damau.org/archives/14093):

Hoài Hương. Bất Tri. Tại sao ông chọn nhan đề quyển tiểu thuyết là Bất Tri khi viết về đề tài Hoài Hương? (Kundera là người cầu toàn, ông rất cẩn trọng trong việc chọn nhan đề sách.) Hoá ra chúng nằm cùng phạm trù. Nó là nỗi đau của kẻ không biết chuyện gì xảy ra bên kia quả địa cầu, không biết cái miền đất cũ kĩ, rách rưới đó bây giờ ra sao và sự trở về luôn luôn là niềm khát vọng ám ảnh khôn nguôi. Với tôi, nó còn là nỗi đau của kẻ muốn quên đi, không muốn nhìn nhận, không muốn biết những gì đang xảy ra nơi đó. Một tâm thức vong thân, hay vong bản, nếu bạn muốn gọi như vậy. Với Kundera, Bất Tri chỉ là không hay biết. Nhưng với tôi, bên cạnh cái không hay biết đó còn là cái Bất Tri của cô gái nước Thương trong “Thương nữ bất tri vong quốc hận, Cách giang do xướng Hậu Đình Hoa.”

Thật là cảm động, và cũng hết sức cảm thông.

………………………………………

Cuối cùng xin được đặt ba câu hỏi gửi đến tác giả TYT:

1. “Quan quan thư cưu

Tại hà chi châu

Yểu điệu thục nữ

Quân tử hảo cầu”.

Thật ra không phải nói về một người con gái giặt lụa, mà đang hái rau hạnh? “Hạnh thái -荇菜” là rau hạnh ở nghĩa đen, nhưng chính là “đức hạnh” trong nghĩa bóng?

2. Theo Trịnh Y Thư, J.K. Rowling có lẽ là nhà văn tỉ phú duy nhất trong lịch sử. Tác giả có lẽ quên mất một người sống rất gần ông, còn giàu hơn Rowling và giàu trước Rowling là Sidney Sheldon?

2. “Chỉ là đồ chơi” nhiều lần nhắc đến “Bất khả tư nghị – 不可思議” nhưng không hiểu sao lại viết thành “Bất khả tư nghì”, có thể là lỗi in ấn, hoặc lỗ hổng kiển thức của chính tôi chăng?

TƯỚNG HƯỞNG, WIKILEAK VÀ CÁC ÔNG MỸ

Leave a comment

Nguồn Blog chị Beo

Tốt nghiệp tiến sĩ luật,  tướng Hưởng có một thời gian rất dài được đào tạo và chinh chiến ở ngoài nước trước khi về nắm cục Mỹ (gọi tắt thế cho dễ nhớ) đầu những năm 90, thế kỉ trước.

Thế nên ông có mặt, dĩ nhiên phía sau hậu trường, gần như xuyên suốt toàn bộ quá trình bình thường hóa quan hệ Việt-Mỹ, từ thuyết phục  Mỹ bỏ cấm vận Việt, thuyết phục …Việt kí kết WTO cho tới bây giờ, khi ông rời bộ Công an sang giữ chức phái viên Thủ tướng.

Hơn 10 năm trở lại đây, tất cả các quan chức ngành ngoại giao Mỹ (ngang cấp) khi vào Việt Nam đều đề đạt yêu cầu được gặp riêng ông. Trong một số cuộc gặp như thế, các nhà báo được ông cho phép tham dự nhưng không được đưa tin.

Wikileak tiết lộ 2 bức điện đánh đi từ sứ quán Mỹ tại Hà Nội, báo cáo nội dung làm việc giữa Tướng Hưởng và phái đoàn Mỹ về Bộ Ngoại giao. Beo sẽ đăng nguyên văn hai bức điện và ngay sau đó là xả băng, cũng nguyên văn, toàn bộ cuộc đối thoại để thấy sự xảo trá đến hài hước của ngành ngoại giao, và chắc chắn không riêng gì ngoại giao Mỹ.

Vì xả băng nguyên văn nên sẽ rất dài, khó theo dõi. Beo sẽ nhấn chữ bold những phần ngược nhau nhất giữa nội dung bức điện và cuộc trao đổi. Băng ghi âm này là của nhà báo Nguyễn Như Phong, hiện là Tổng biên tập báo Năng lượng mới.

Bức điện thứ nhất, đánh đi lúc 14h ngày 11/9/2008, 1 tiếng sau khi cuộc gặp kết thúc. Toàn văn như sau:

TÓM TẮT: Cuộc gặp ngày 11 tháng 9 giữa thứ trưởng Nguyễn Văn Hưởng và Đại Sứ thể hiện sự phấn khởi về phát triển mạnh mẽ của quan hệ song phương. Thứ trưởng Hưởng đưa ra một cách nhìn trái ngược về việc mở rộng khu lãnh sự TP Hồ Chí Minh, phủ nhận việc chính phủ Việt Nam hạn chế hoạt động của các nhà ngoại giao, và phàn nàn về các buổi gặp gỡ với người bất đồng chính kiến. Tướng Hưởng yêu cầu các nhà ngoại giao Mỹ cần phải thông báo trước với Bộ trưởng và chính quyền địa phương về các cuộc gặp “nhạy cảm”. Ngoài ra, Tướng Hưởng còn bày tỏ ý kiến về việc xâm chiến lãnh thổ của Trung Quốc tại vùng biển phía Nam Trung Quốc, và không vui khi thiếu sự hỗ trợ của Mỹ cho Việt Nam. Hưởng nói bộ trưởng Lê Hồng Anh sẽ thăm Hoa Kỳ vào một ngày không xa. KẾT THÚC TÓM TẮT

———————————-

HO CHI MINH CITY CONSULAR DISTRICT

VĂN PHÒNG LÃNH SỰ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

———————————-

Đại Sứ yêu cầu Việt Nam gấp rút công nhận Hồ Chí Minh là khu lãnh sự đầy đủ chức năng, đảm bảo với tướng Hưởng rằng nhân viên lãnh sự sẽ không có mưu đồ đối lập (hidden agenda) khi họ đi ra khỏi thành phố Hồ Chí Minh. Tướng Hưởng công nhận các nhà ngoại giao Mỹ không phải là mối nguy hiểm, nhưng phía Nam Vietnam có những vùng với “đặc tính riêng biệt” bao gồm những nơi tập trung dân tộc thiểu số, đặc biệt là người Khmer. Việc mở rộng khu vực lãnh sự phải chú ý tới những “đặc tính riêng biệt” này. Khi được hỏi, Hưởng phủ nhận việc Việt Nam ngăn cản công tác của những nhà ngoại giao, và nhấn mạnh là các nhà ngoại giao Hoa Kỳ từ Hà Nội và Thành Phố Hồ Chí Minh có thể đi tới bất cứ đâu họ muốn. Tướng Hưởng nói rằng đây là lẩn đầu tiên ông ta nghe tới vấn đề này.

Đồng thời, tướng Hưởng nhắc tới việc Bộ trưởng thường xuyên nhận được những lời phàn nàn của chính quyền địa phương về việc các cuộc gặp giữa nhà ngoại giao Mỹ với người bản xứ. Lấy ví dụ như cuộc gặp gần đây giữa nhân viên tại TP HCM với những người bất đồng chính trị. Tướng Hưởng giải thích rằng những cuộc gặp gỡ như vậy sẽ không mang lại hiệu quả, thúc đẩy những hoạt động phạm pháp, và thể hiện rằng Mỹ hỗ trợ cho những hoạt động chống phá chính phủ. Tướng Hưởng nói rằng chính quyền cấp bộ trưởng (national level MPS officials) hiểu được mong muốn của Hoa Kỳ được gặp những người như thế, nhưng cần phải tôn trọng chính quyền địa phương. Hưởng yêu cầu phía Hoa Kỳ cần phải thông báo trước với chính quyền địa phương về những cuộc gặp như thế, và đề nghị phía Mỹ phải có một công văn trực tiếp và chính thức (direct and official line of communication) cho Bộ trưởng về những cuộc gặp với những “nhân vật nhạy cảm”. Đại Sứ Mỹ giải thích rằng các nhà ngoại giao Mỹ trên thế giới thường xuyên giao tiếp với tất cả thành phần trong xã hội. Hưởng ghi nhận khi sự tin tưởng đang phát triển với Mỹ, Mỹ cần phải hiểu rằng vẫn còn một nhóm người Việt nhạy cảm với vai trò của Hoa Kỳ. Hưởng hứa sẽ cùng Đại sứ giải quyết về vấn đề này.

—————————————–

REGIONAL SECURITY AND THE SOUTH CHINA SEA

AN TOÀN KHU VỰC VÀ PHÍA NAM VÙNG BIỂN TRUNG QUỐC

—————————————–

Hưởng bày tỏ rằng an toàn khu vực, hòa bình và sự thịnh vượng sẽ không đạt được nếu không có sự hiện diện của Hoa Kỳ. Ngoài ra, sự hiện diện của Hoa Kỳ góp phần bình ổn quan hệ khu vực. Hưởng nhấn mạnh rằng Việt Nam muốn tạo những mối quan hệ tốt với tất cả các quốc gia, đặc biệt là các nước láng giềng. Thế nhưng, Việt Nam không thể chấp nhận việc xâm chiếm lãnh thổ của Trung Quốc ở vùng biển phía Nam Trung Quốc. Bày tỏ sự hỗ trợ tuyệt đối của Bộ trưởng cho cuộc hội thoại về an ninh sắp tới vào tháng mười, Hưởng mong muốn cuộc hội thoại sẽ đề cập sâu hơn về vấn đề này. Đáp lại việc không hài lòng của Hưởng về việc Hoa Kỳ không hỗ trợ Việt Nam trong vấn đề vùng biển phía Nam Trung Quốc, Đại sứ khẳng định rằng US hỗ trợ quyền của các doanh nghiệp Mỹ  được làm ăn hợp pháp với Việt Nam.

MICHALAK

———————————————————-

I- Cuộc gặp  của Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng với Thứ trưởng thứ nhất Bộ Ngoại giao Mỹ John Negroponte ngày 11-9-2008

– Chào ông

– Chào ông

Tướng Hưởng:

– Tôi biết Ngài từng ở Sài Gòn khá lâu. Hôm nay gặp nhau, tôi muốn nghe tâm sự của ngài?

Negroponte:

– Lần đầu tiên tôi trở lại Việt Nam kể từ năm 1973 cũng là một thời gian khá dài. Tôi có thời gian làm việc 4 năm ở ĐSQ Hoa Kỳ tại Sài Gòn ngày xưa.

Tướng Hưởng:

– Từ đó ngài đã có lần nào quay lại chưa?

Negroponte:

Chưa, bây giờ quay lại Việt Nam tôi thấy điều kiện và hoàn cảnh đã khác nhiều. Cũng nhờ những nỗ lực của hai chính phủ, chúng ta đã gặt hái được những điều tốt đẹp.

Tướng Hưởng:

– Tôi đồng ý. Tôi rất vui mừng được đón tiếp ngài tại Bộ Công an. Quan hệ tốt của hai nước đã tạo cơ hội cho các cơ quan có cơ hội cùng làm việc. Tôi cũng đã có cơ hội được đến thăm Hoa Kỳ 3 lần, được tiếp kiến ngài Tổng thống và phải nói thực rằng, đánh giá sự phát triển của hai nước chúng ta ngày càng toàn diện. Xin cảm ơn Đại sứ đã gửi tôi bức ảnh chụp với Tổng thống Bush. Tôi biết rằng ngài Thứ trưởng trong chuyến đi Việt Nam lần này giải quyết rất nhiều vấn đề trong quan hệ hai nước. Hôm nay Bộ Công an được tiếp ngài, hy vọng được nghe ý kiến của ngài về quan hệ với Bộ Công an.

Negroponte:

Trước hết tôi thấy rằng hai quốc gia chúng ta còn nhiều lĩnh vực mà chúng ta có thể tiếp tục làm việc, cộng tác với nhau nhiều hơn. Tôi biết cách đây một tuần, cộng sự viên của chúng tôi, ông Kappes đã có dịp được làm việc với ngài. Ngài Kappes với tôi có một thời gian dài được làm việc gần gũi với nhau, khi mà lúc đó đó tôi là Giám đốc tình báo quốc gia. Tôi là người thuyết phục ngài Kappes trở lại làm việc cho Chính phủ vì ngài đó đã về hưu nhưng tôi thuyết phục thì ngài ấy trở lại. Đấy là một trong những lĩnh vực mà chúng ta có thể hợp tác.

Chúng tôi đã làm việc với ngài Bộ trưởng và Thứ trưởng Bộ Ngoại giao để nói lên mong muốn của chúng tôi để những nhân viên của chúng tôi ở Tổng lãnh sự quán ( TLSQ) Mỹ tại TP HCM có được những cơ hội để thực hiện công việc lãnh sự của họ sâu rộng ra. Bởi vì những sự việc giới hạn hiện tại họ đang gặp phải, họ có cơ hội nới rộng những dịch vụ lãnh sự ở những nơi tôi nghĩ họ nên có mặt ở đó. Tôi mong ngài hiểu rằng tất cả những gì chúng tôi muốn làm hoàn toàn không có ý định giấu diếm trong công việc lãnh sự mà bổn phận chúng tôi phải làm. Việc này chúng tôi sẽ làm việc với Bộ Ngoại giao Việt Nam. Chúng tôi muốn nói với ngài là để tất cả nhân viên của Bộ Công an Việt Nam biết được sự di chuyển của nhân viên Hoa Kỳ khi họ thực hiện bổn phận của họ. Tôi nói với ngài để tỏ lòng biết ơn nếu trong tương lai ngài Đại sứ của chúng tôi có cơ hội được làm việc với ngài để giải nghĩa những chi tiết về những việc mà tôi vừa trình bày.

Tướng Hưởng:

– Tôi rất hiểu ý nghĩa của việc TLSQ tiến hành công việc. Trong quan hệ của chúng ta ngày càng phát triển thì việc mở rộng các hoạt động, phạm vi của cơ quan đại diện các ngài thì  tới được các tỉnh, thành phố khác là cần thiết. Tôi thông báo cho ngài rằng, các hoạt động của ngài Đại sứ và bộ phận khác vẫn bình thường, từ trước tới giờ, chúng tôi đã tạo điều kiện cho các ngài tốt và sẽ tiếp tục như vậy.

Chúng tôi không coi hoạt động của nhân viên ngoại giao Hoa Kỳ đe dọa an ninh Việt Nam. Điều này tôi đã khẳng định với ngài Đại sứ trong một dịp làm việc cách đây khoảng một tháng. Tuy nhiên, chúng tôi có tính đến đặc điểm từng vùng miền. Đặc điểm vùng miền này là vùng dân tộc, đặc biệt là dân tộc Khmer. Ở đây cũng có những mối quan hệ về đường biên giới, cho nên những bước mở rộng của chúng ta còn phụ thuộc vào những đặc điểm này và chúng ta phải tính toán những bước đi cho phù hợp.

Chúng tôi khẳng định trong những cái như vậy cũng không có trở ngại gì đối với nhân viên của ngài Đại sứ. Tóm lại, tôi rất ủng hộ ý kiến của Bộ Ngoại giao. Tôi ghi nhận ý kiến của ngài và sẽ có phản ứng tích cực.

Negroponte:

Tôi có một điều muốn làm rõ, nếu tôi nói sai thì ngài Đại sứ sẽ sửa cho tôi. Trong việc lãnh sự, ví dụ như xảy ra tại Cà Mau thì hiện thời  nhân viên lãnh sự của Hoa Kỳ xuất phát từ Hà Nội phải đến Cà Mau làm việc, nhân viên của Hoa Kỳ tại TP HCM lại không được phép đến Cà Mau làm việc.

Tướng Hưởng ( quay sang hỏi các cán bộ giúp việc):

– Có phải như thế không?

Một sĩ quan trả lời:

– Báo cáo anh, không hẳn là như thế. Đứng về mặt phạm vi thì đúng là theo quy định của hai bên thì phạm vi hoạt động lãnh sự của TLSQ tại TP HCM thì chỉ trong phạm vi đấy thôi. Cũng như TLS của ta ở San Francisco thì Hoa Kỳ cũng chỉ cho  trong phạm vi đấy thôi. Thế nên về mặt nguyên tắc thì khó nhưng trên thực tế ta vẫn tạo điều kiện cho họ đi.

Negroponte:

Chúng tôi không giới hạn hoạt động của Tổng lãnh sự quán Việt Nam tại San Francisco. Tôi nghĩ rằng, về việc này chúng ta cần phải có một cuộc đối thoại để chúng ta có thể tìm được một giải đáp thực tế cho vấn đề này. Tôi chỉ đề nghị thế thôi.

Tướng Hưởng:

 Những vấn đề cụ thể tôi sẽ làm việc với ngài Đại sứ nhưng tôi nghĩ không có giới hạn nào. Tôi chưa thấy có việc nào Sứ quán phải cử nhân viên từ Hà Nội vào, tôi nghĩ các nhân viên của Tổng lãnh sự quán  tại TP HCM khi đi thì các ngài có thể thay mặt Đại sứ ở đây, không có gì cản trở. Chúng tôi sẽ kiểm tra lại, chúng ta sẽ điều chỉnh. Tôi nghĩ ngài Đại sứ có thể ủy quyền Tổng lãnh sự quán  đi gặp. Sao phải từ ngoài này vào? Ngày hôm nay tôi mới được nghe thấy việc này. Nếu đúng như vậy thì từ hôm nay, Tổng lãnh sự quán có thể đi thay các ngài từ Hà Nội vào.

Negroponte:

Rất vui mừng. Cảm ơn ngài.

…….. hình như còn tiếp…. 🙂

Phan Việt: Ghi vội từ Trung Quốc

5 Comments

Lời bình: Nhà văn Phan Việt quan sát xã hội TQ rất kỹ lưỡng và có những góc nhìn thật đẹp, thật mới mẻ trong hai entry mới nhất Phần 1 Phần 2.

Cô viết ở đoạn cuối: “Trong ngày hôm nay, cái ý nghĩ lớn nhất của tôi – và không phải một ý nghĩ vui vẻ gì – là sự giống nhau quá mức giữa văn hóa Việt Nam và văn hóa Trung Quốc. Ngoại trừ ngôn ngữ, cách chúng ta ăn mặc, hành xử, suy nghĩ, vv… quá giống người TQ (hoặc là người TQ quá giống ta?). Điều này bản thân nó không phải là một điều xấu tự thân nếu những cái giống đó là những mẫu số chung của một đời sống con người tối ưu; nhưng ở đây có vẻ không phải như vậy. Tôi chưa có thời gian nghĩ kỹ về vấn đề này, chỉ cảm thấy nó hết sức không ổn. Nếu như VN, với tư cách là một dân tộc, muốn có một vị trí và bộ mặt riêng biệt trên thế giới, thì chúng ta phải “thoát TQ” một cách triệt để. Nó không khác gì, làm người phải có tính cách riêng, nhân cách riêng, suy nghĩ riêng; không nên là bản sao bất tự giác của ai khác.”

Phan Việt “tròn mắt” ngạc nhiên cũng dễ hiểu, bởi người Việt Nam nói chung cho rằng họ đã không bị đồng hóa sau một ngàn năm bị nô thuộc và thêm một ngàn năm bị ảnh hưởng. Theo tôi nên cho rằng mảnh đất hình chữ S đã bị đồng hóa gần như hoàn toàn nhưng may mắn giữ được độc lập hàng ngàn năm nay. Phải đứng ở góc nhìn ấy, đất nước Việt Nam mới có cơ may nhìn lại mình rõ ràng nhất, và mới có thể “Thoát TQ” thành công như ao ước của Phan Việt.

————————————————-

Bây giờ là buổi tối ở Thượng Hải. Trời đang mưa, nhiệt độ khoảng 30 độ C, cũng nóng ẩm như ở VN. Chiều nay, khi tôi đến, trời không mưa nhưng không hề nhìn thấy mặt trời. Cả thành phố ở dưới một màn mây màu xám do khói bụi kết lại; không khí lúc nào cũng như phủ sương mù. Tuy thế, ngay từ khi đặt chân xuống sân bay Pudong, tôi lập tức nhận ra Thượng Hải là một thành phố có định hướng quốc tế rất rõ ràng. Những người quy hoạch cho thành phố này có vẻ có ý thức rất rõ việc biến nó thành một trung tâm quốc tế trước hết là ở châu Á và sau đó là cả thế giới. Từ sân bay đồ sộ và hiện đại, tới đường cao tốc nhiều làn, có kẻ biển hiệu giống hệt ở Mỹ, bằng tiếng Trung và tiếng Anh, tới những thứ nho nhỏ như việc người ta cử người xếp các xe đẩy hành lý trong sân bay thành một hàng một trên vỉa hè để cho hành khách có thể dễ dàng lấy xe… Những cái đó thể hiện một tinh thần hướng vào dịch vụ, tiện nghi, hướng vào việc thỏa mãn khách hàng ở mức phổ quát nhất và quốc tế nhất.

Không kể lần đi Hồng Kong năm ngoái thì đây là lần đầu tôi tới Trung Quốc – để dự một hội thảo quốc tế về công tác xã hội và chính sách xã hội mà tôi có một bài thuyết trình, đồng thời là một thành viên của ban tổ chức từ phía Hội những người giảng dạy CTXH châu Á – Thái Bình Dương. Hội thảo này có nhiều bên đồng tổ chức – trường đại học Đông Á ở Thượng Hải, Hội những người giảng dạy CTXH nói trên, Đại học New York, Humboldt Foundation của Đức, và Vụ các vấn đề xã hội của Thượng Hải. Về cơ bản thì phần nội dung là do bên Hội tổ chức; các thành phần còn lại hỗ trợ về mặt kinh phí và hậu cần. Đặc biệt, sự tham gia của ĐH New York nằm trong chiến lược mở một chi nhánh của ĐH New York tại Thượng Hải nhằm đặt một tiền đồn cho thị trường TQ và châu Á – giống như họ đã mở một campus ở Abu Dhabi để đặt một tiền đồn ở khối các nước nói tiếng Ả rập. Theo dự kiến, năm 2013, tức là chỉ 2 năm nữa, campus ở Thượng Hải sẽ khai giảng khóa đầu tiên. Trong vòng một năm qua, kể từ khi tôi bắt đầu làm việc cho Đại học San Jose và triển khai khóa học mùa hè về CTXH cho sinh viên Mỹ tại Việt Nam, tôi nhận thấy rất rõ cái thế của TQ trong thị trường giáo dục Mỹ. Ở Mỹ hiện tại, trong hầu hết các trường đại học, “châu Á” về cơ bản được hiểu là Trung Quốc, Nhật Bản, và Hàn Quốc. Các khoa ngôn ngữ và văn minh châu Á chủ yếu dạy tiếng, văn hóa, lịch sử, vv… về các nước này; toàn bộ phần còn lại của châu Á gần như bị bỏ không.

Từ sân bay về khách sạn mất 40 phút. Đường cao tốc từ sân bay vào thành phố 4-5 làn, xây hiện đại không khác gì ở Mỹ, và xe chạy tương đối quy củ, chắc chắn là hơn hẳn VN. Giá đi taxi ở đây có vẻ cũng rẻ hơn ở Hà Nội. Tôi check-in vào khách sạn, và lập tức được yêu cầu phải trả trước toàn bộ tiền phòng cho 3 tối, cộng với 100 đô la đảm bảo. Mà đây là khách sạn chính thức của hội thảo. Cái tâm lý “ăn chắc mặt bền”, không tin người và luôn đề phòng thủ lợi cho mình trước là một tâm lý rất đáng buồn ở nhiều nước châu Á, bao gồm cả Việt Nam. Về mặt này, tôi buộc phải nói rằng ở Mỹ sống dễ hơn rất nhiều vì không phải nhìn trước ngó sau, không phải suy đoán xem người ta có đang lừa mình không. Bản thân luật và các dịch vụ ở Mỹ cũng thế: hầu hết dựa trên mặc định rằng đa số người ta là tốt và trung thực (hoặc muốn được sống trung thực), phần không trung thực là rất nhỏ; cho nên không nên vì đề phòng phần không trung thực mà tạo ra các loại cơ chế kiểm soát, ngăn ngừa, tra xét rất tốn thời gian và tốn tiền, lại không tôn trọng con người. Cho nên, ở Mỹ, bạn không phải đi xin xác nhận của phường hay của bất cứ ai khi đi đăng ký kết hôn, chỉ cần cái cam kết và chữ ký của chính bạn là đủ. Người Mỹ “thực dụng” thực sự chính là ở những chỗ như thế này: với họ, tính về hiệu quả kinh tế, tin tưởng lẫn nhau thực ra có lợi hơn là đề phòng và tạo các cơ chế kiểm soát mà theo đó ngầm mặc định sự thấp kém của con người.

Phòng khách sạn có internet nhưng không vào được Facebook, Blogspot và nhiều trang khác vì tường lửa. Google và nhiều trang nghiễm nhiên chuyển sang tiếng Trung. Cái cảm giác bị quản lý và theo dõi ở đây rất rõ và lộ liễu. Tôi lập tức thấy mình cảnh giác – nên không vào banking online và hạn chế luôn cả việc vào Internet.

Buổi tối, tôi bắt taxi chạy vào khu trung tâm thành phố. Tính về mức độ sầm uất, mật độ nhà chọc trời, sự phong phú của hàng hóa thì Thượng Hải còn hơn các thành phố lớn của Mỹ và châu Âu. Nhưng xét về mặt dịch vụ và văn minh thì còn một khoảng cách lớn. Một ví dụ đơn giản là việc nhân viên phục vụ nhà hàng ở đây không hề quán xuyến khách – mà cứ phải để khách phải gọi. Một ví dụ khác là việc khi bạn đứng chụp ảnh thì những người đi qua đi lại không hề có ý thức tránh ra giúp bạn; họ cứ thản nhiên đi ngang qua màn hình hoặc thậm chí đứng lại nhìn; hoặc chen ngang chặn trước mặt bạn. Văn minh và sự quý trọng con người phải đến từ hai thứ – một là cái triết lý sống sâu xa của xã hội đó, và hai là quá trình thực hành thói quen sống văn minh. Tôi nhớ hồi năm ngoái, khi bố tôi sang Chicago thăm tôi, sáng nào cụ cũng dậy sớm đi bộ trên mấy con đường quanh nhà, và cụ cứ tấm tắc (gần như kinh ngạc) một việc là khi cụ đi bộ trên vỉa hè, thì những người đi ngược chiều với cụ lập tức tránh qua bên kia từ xa để nhường đường cho cụ, hoặc nếu họ dắt chó thì họ lập tức đứng lại, ghìm dây chó thật chắc và mỉm cười chào cụ, chờ cụ đi qua xong họ mới đi tiếp. Hoặc cụ cứ tấm tắc là khi chúng tôi đi chơi, thì những người đi qua nhìn thấy tôi chụp ảnh cho bố mẹ tôi là họ tươi cười hỏi “Các bạn có muốn tôi chụp cho cả ba người hay không?”.

Đồ ăn ở Thượng Hải nhiều dầu mỡ xào nấu, hầu như chỉ có vị của đồ nêm, không còn có vị nguyên chất của thực phẩm. Ít rau, nhiều thịt, và tương đối cay. Có lẽ vì thế mà người Thượng Hải không đẹp – họ nặng nề, các nét thô, xương to, da thô; cả một ngày, tôi không gặp một cô gái nào mà tôi thấy là đẹp. Ở Hà Nội, mật độ này dày. Bạn tôi nói người Bắc Kinh đẹp hơn.

Trước khi đi ngủ, tôi mở vô tuyến xem truyền hình của TQ. Trong một chương trình gì đó có vẻ là thời sự, người dẫn chương trình đang nói chuyện bàn tròn với hai người đàn ông khác có vẻ là chính trị gia; họ chiếu nhiều hình ảnh hải quân và tàu trên biển – chắc chắn là đang nói về Biển Đông. Trong một chương trình ca nhạc khác, một cô bé khoảng 3 tuổi, mặc quân phục trắng của quân đội, đội mũ quân đội đang cầm một chiếc micro rất to hát sang sảng một bài gì đó chắc chắn nói về tình yêu nước hay tinh thần cách mạng hay cái gì đó đại loại như vậy. Cô bé quắc mắc, giơ nắm đấm lên cao. Khán giả vỗ tay vang dội. Tôi nghe cái âm sang sảng và những tiếng rin rít trầm bổng của thứ tiếng Tàu được phát âm với nhiều cảm xúc mà không khỏi nghĩ đất nước này là một khối tham vọng khẳng định bản thân khổng lồ, kể từ trong cái khí độ của ngôn ngữ trở đi. Bất kể cái tham vọng khẳng định đó có hình thù cụ thể là gì thì cái khối 1 tỷ người khổng lồ này, dưới sự định hướng của chính quyền TQ hiện tại, có vẻ đang rất cần giải tỏa, khai thông nó để tránh làm cơ thể Trung Hoa suy nhược do bế khí. Ở cạnh một khối khí aggressive đang cần khai thông như thế thì không thể nào lơ là việc tập luyện cho mình khỏe lên, lành mạnh lên, vững vàng lên.

Ngày hôm nay là ngày đầu tiên của hội thảo. Buổi sáng, tôi tỉnh từ 5 giờ vì vẫn còn bị lệch giờ với Mỹ. Kéo rèm cửa sổ nhìn ra, bên ngoài trời đã hửng sáng nhưng vẫn không có mặt trời. Bên dưới đường, mặt đất ẩm ướt; có nhiều người đi tập thể dục sớm – họ cũng mặc áo may-ô, quần cộc, đi giày ba-ta, vừa đi dọc các vỉa hè vừa vẩy tay theo lối tập dịch cân kinh mà nhiều người tập thể dục buổi sớm ở HN cũng hay tập. Nhìn thấy thế, tôi lại nghĩ: người dân ở đâu thì cũng như nhau – chủ yếu vẫn chỉ muốn no ấm, khỏe mạnh, nuôi con cái học hành nên người. Rồi lại nghĩ: nhưng không ai được chọn tổ quốc mà mình sinh ra, và số phận của một người không bao giờ có thể tách rời hoàn toàn số phận của tổ quốc họ, dân tộc họ.

Chúng tôi ăn sáng trong khách sạn rồi cùng lên xe ô tô tới đại học Đông Á, nơi tổ chức hội thảo. Bên trong sảnh, cái đầu tiên đập vào mắt tôi là hai dãy bàn lớn bày sách giáo khoa ngành công tác xã hội mà trường Đông Á đã in. Các sách này có một phần là sách của các tác giả Trung Quốc; phần lớn còn lại là sách dịch từ tiếng Anh hoặc sách mà một tác giả Trung Quốc là đồng tác giả với tác giả nước ngoài. Chỉ nhìn thì biết là họ chọn sách rất kỹ và tương đối tốt; ví dụ như sách về family therapy thì dùng của Michael Nichols và Minuchin. Tôi hỏi họ sách này của trường in bằng quy trình và kinh phí như thế nào thì những sinh viên đứng giúp việc bán sách ở đó không biết tiếng Anh đủ để trả lời; tôi rất tò mò vì nhìn vào bìa sách thì có thể suy đoán là dường như trường Đông Á đã lên một kế hoạch đầy đủ về một bộ sách tổng thể mà họ cần dịch, rồi tiến hành dịch và in sách để bán cho sinh viên chứ không dựa vào các nỗ lực manh mún của từng người dịch. Ở VN, điều này chưa xảy ra. Cái mơ ước của tôi cho đến gần đây vẫn là làm thế nào để ra được một bộ sách giáo khoa tương đối chuẩn về ngành CTXH cho sinh viên VN vì số sách hiện có về ngành này ở VN có thể đếm trên đầu ngón tay và chất lượng thấp. Hiện tại, một nhóm giáo viên và sinh viên CTXH mà tôi tham gia đang bắt tay dịch thử một vài cuốn sách mặc dù chưa rõ đầu ra. Việc dịch sách giáo khoa ở VN rất khó: những cá nhân như tôi, dù muốn, không thể đứng ra in sách mà cần phải có một NXB nào đó đứng ra đại diện mua bản quyền. Nhưng các NXB hầu như không muốn làm sách giáo khoa dịch từ nước ngoài vì khó có lãi và mất công. Giá có ai tài trợ cho chúng tôi làm một bộ sách chuẩn thì tốt.

Dĩ nhiên TQ đã bắt đầu phát triển ngành CTXH trước chúng ta khoảng gần 2 thập kỷ. Năm 1978, họ đã phê duyệt việc đào tạo cử nhân về CTXH và đến năm 2010, họ có 200 chương trình cử nhân, 58 chương trình thạc sỹ; mỗi năm đào tạo ra 50 ngàn cử nhân và 15 ngàn thạc sỹ. Chính phủ TQ đặt kế hoạch là đến năm 2020, họ sẽ có 3 triệu nhân viên CTXH. Tuy thế, đây cũng là một dạng quyết định duy ý chí khác. Giáo sư X ở Anh ngồi cạnh tôi trong hội nghị đã có nhiều năm làm việc với TQ; ông nói, chương trình của TQ thực sự là tồi tệ; bởi vì giáo viên không được đào tạo về CTXH lại đi dạy sinh viên; và sinh viên thì hầu như không có thực hành; ra trường rồi ngơ ngơ ngác ngác. Tình trạng này có vẻ không xa lạ. Ở VN bây giờ, chúng ta cũng đang đối mặt với chính những nguy cơ này.

Chúng tôi bắt đầu họp lúc 8 giờ sáng. Trường Đông Á là một trường nhỏ mặc dù khoa CTXH của nó được đánh giá là một trong những khoa rất tốt ở TQ. Xem cách họ tổ chức hội thảo này và cách phát biểu khai mạc của các vị chức sắc trong trường thì thấy người TQ đã tiến hơn VN một bước trong văn hóa họp hành. Họ đã biết học người Mỹ và châu Âu ở chỗ đi thẳng vào vấn đề, nói ngắn gọn, có trọng điểm, theo đúng giờ và chương trình, rồi rút lui. Không trình bày lan man, chung chung, nghe phát chán vì chẳng hiểu người nói nói gì như tôi đã nhiều lần chứng kiến ở VN. Tuy thế, đến phần hỏi đáp, tôi thấy sinh viên TQ và cả cán bộ TQ giống hệt người VN ở chỗ hỏi chủ tọa chủ yếu để thể hiện, và cũng kính thưa kính gửi một cách hết sức dài dòng, e dè. Các câu hỏi được đặt ra đều là những câu hỏi hết sức thông thường theo cái lối không lo lắng về ý tưởng, vấn đề, khoa học, mà thường lo lắng về con người, quan hệ, thể chế, chuyện bên lề. Đấy là những cách tiếp cận vấn đề hết sức phí phạm; nhưng chuyện này nói ra thì dài.

Buổi chiều, hội thảo bắt đầu chia các phiên họp riêng theo lĩnh vực. Tôi ngồi ở phòng hội thảo về phúc lợi trẻ em và gia đình. Có hai giáo sư – một của Trung Quốc, một của Hồng Kông – trình bày về hai vấn đề gần nhau nhưng không trùng nhau là “child abuse” và “child victimization”. Người thứ nhất là một giáo sư trong biên chế của nền giáo dục TQ và người này nói rằng tỷ lệ child abuse ở TQ là 5%; người thứ hai làm một nghiên cứu độc lập theo lối phương Tây và kết luận rằng child maltreatment ở TQ lên tới 28%, riêng sexual victimization là 8%. Hai báo cáo hoàn toàn không liên quan và khi tôi hỏi họ về sự bất đồng các con số và cách họ đo “child abuse” trong cái báo cáo thứ nhất thì câu trả lời đưa ra không nêu rõ nguồn số liệu và cách đo. Tôi rất tò mò muốn biết là TQ đã làm một điều tra toàn quốc nào về vấn đề này chưa, nhất là với lạm dụng tình dục trẻ em. Việt Nam cũng chưa có con số thống kê chính thức về các vấn đề này, nhất là đối với lạm dụng tình dục. Bản thân diễn ngôn về các vấn đề này cũng đang trong giai đoạn hình thành và xã hội hóa (đây đủ là một đề tài khoa học hết sức hay).

Có một bài trình bày đáng chú ý là bài của nhóm tác giả ở ĐH North Carolina về việc ứng dụng một mô hình đào tạo các kỹ năng xã hội-tình cảm cho trẻ em Mỹ vào Trung Quốc. Một bài khác nói về kỹ năng phỏng vấn trẻ em từng bị lạm dụng tình dục. Đối với VN bây giờ, đào tạo kỹ năng và thực hành có lẽ là điều cần hơn cả. Triết lý, lí luận thì người VN có lẽ còn giỏi hơn người các nước; chúng ta phê chuẩn và có đủ loại văn bản đảm bảo phúc lợi trẻ em và gia đình nhưng việc thực hành thì hầu như rất yếu bởi vì thiếu kỹ năng. Tôi nghĩ từ lâu, nếu về nông thôn giảng giải cho người dân về việc không được bạo hành gia đình thì còn lâu mới giải quyết được vấn đề; nhưng nếu dạy cho phụ nữ các kỹ năng đối phó với cơn giận của chồng, hoặc dạy các ông chồng cách quản lý cơn giận, vv… thì có thể xoay chuyển tình thế tốt hơn. Hiện tại, theo các thống kê khác nhau, cứ 2 đến 3 người phụ nữ VN thì có 1 người từng chịu bạo hành gia đình trong cuộc đời họ – bao gồm cả bạo hành thể chất và tinh thần.

Buổi tối có chiêu đãi ở một nhà hàng. Có mấy phòng ăn khác nhau và người nước ngoài nói chung ngồi với người nước ngoài, người TQ ngồi với người TQ, cán bộ to ngồi với nhau, và sinh viên ngồi với sinh viên. Sau một hồi, tôi thấy các lãnh đạo TQ, được tháp tùng bởi cấp dưới, cũng lần lượt đi từng bàn chúc rượu, và uống hết chén này tới chén khác, mặt mũi đỏ văng và có người ngà ngà say. Không khác gì Việt Nam.

Trong ngày hôm nay, cái ý nghĩ lớn nhất của tôi – và không phải một ý nghĩ vui vẻ gì – là sự giống nhau quá mức giữa văn hóa Việt Nam và văn hóa Trung Quốc. Ngoại trừ ngôn ngữ, cách chúng ta ăn mặc, hành xử, suy nghĩ, vv… quá giống người TQ (hoặc là người TQ quá giống ta?). Điều này bản thân nó không phải là một điều xấu tự thân nếu những cái giống đó là những mẫu số chung của một đời sống con người tối ưu; nhưng ở đây có vẻ không phải như vậy. Tôi chưa có thời gian nghĩ kỹ về vấn đề này, chỉ cảm thấy nó hết sức không ổn. Nếu như VN, với tư cách là một dân tộc, muốn có một vị trí và bộ mặt riêng biệt trên thế giới, thì chúng ta phải “thoát TQ” một cách triệt để. Nó không khác gì, làm người phải có tính cách riêng, nhân cách riêng, suy nghĩ riêng; không nên là bản sao bất tự giác của ai khác.

(những ghi chép trên đều là ghi nháp trong ngày)

Nguyễn Hữu Liêm: Thẩm quyền từ một vũ trụ đang hồi sinh

1 Comment

Thẩm quyền cho một trật tự dân chủ thế giới không thể được xây dựng trên bất cứ cái gì ngoài một thẩm quyền vũ trụ được hồi sinh. (Václav Havel)(1)

Thế giới chúng ta đang đi vào một khúc quanh mới.  Tôi linh cảm như vậy. Có rất nhiều dấu hiệu cho thấy là toàn cầu, từ môi trường, khí hậu, kinh tế, nhân sinh, chính trị đến đời sống tinh thần, tất cả đang đi vào một giai đoạn biến động lớn có tính chất xoay chiều cho hướng đi của nhân loại.  Nguyên nhân nào?  Tại sao ở thời điểm này?

 

Chúng ta hãy bước ra ngoài cái “hộp giấy tư duy” để tìm ra một nguyên nhân sâu xa hơn là những hiện tượng mặt nổi, vốn đầy bất ngờ và không tiên liệu được.  Hãy thử nhìn lên bầu trời cao xa kia.  Có phải các hành tinh đang xếp hàng theo một hình thể quyết định đến sự tiến hóa tâm thức con người và sự xoay chuyển của biến cố lịch sử?

 

Đây không phải là lần đầu tôi linh cảm về đổi thay.  Năm 1972, vào khoảng cuối tháng Ba, khi tôi đang ở trong làng ở Triệu Phong, Quảng Trị, trước khi trận đánh kinh hoàng của “Mùa Hè Đỏ Lửa” vốn thiêu rụi và tàn phá toàn diện quê nhà, tôi đã từng có một linh cảm lạ lùng mà tôi còn nhớ rất là rõ ràng.  Năm đó mùa màng rất khởi sắc.  Cây cối xanh tươi lạ lùng.  Từ giàn bí, cây bầu, vạt bắp, đến lùm chuối, hàng cau, thuở ruộng mạ non, tất cả đều trổ hoa, nở trái rất sai và tốt.  Đứng ở đầu làng nhìn ra đồng ruộng, tôi thấy làng quê đẹp tuyệt vời trong ánh nắng cuối xuân.  Nhưng tôi cảm nhận qua trực giác rằng có thể đây là lần cuối mà thôn xóm khởi sắc trước khi đi vào đêm tối huỷ diệt.  Thật vậy.  Chỉ chưa đầy hai tuần sau, làng tôi chìm trong lửa đạn.  Trước khi rời làng đi vào Nam, tôi đã nhìn lại ruộng nương lần cuối và linh cảm rằng không biết bao giờ mình mới trở lại quê nhà.

 

Năm 1975 cũng thế.  Từ cuối năm 1974, đang ở Cần Thơ, tôi đã nhìn thấy những dấu hiệu từ trời đất làm cho tôi trực giác nhận ra rằng có một cuộc thay đổi lớn cho Việt Nam sắp đến.  Tôi không thể suy diễn ra, chỉ cảm nhận riêng cho mình, nhưng rất rõ ràng.  Cái trực quan mơ hồ đó như là một đốm lửa trong đêm tối mà tri thức bình thường không vươn tới, ngôn từ không thể nói ra thành lời – và ngay cả chính mình cũng không thể tin rằng những dấu hiệu vô hình đó có thực hay không.  Có những hình ảnh trong trí mà tôi đã từng hình dung thì sau đó đã trở thành sự thực.

 

Năm 1972 và 1975 vốn là của những thời quán chuyển động cấp địa phương và quốc gia mà tôi linh cảm được.  Không biết là đã có một sự di chuyển của một hay vài hành tinh nào là nguyên nhân của hai biến cố lớn đó, đối với riêng tôi và Việt Nam hay không?  Có phải 2011 kỳ này là một thời điểm giao mùa trên tầm mức thế giới và toàn cầu?  Lại một lần nữa, tôi tin là thế.(2)

 

Nói theo huyền nhân George Gurdjieff, trong cuốn “In Search of the Miraculous” (Đi tìm nhiệm mầu) của P. D. Ouspensky (3) thì điều sai lầm cơ bản của con người thời nay là khi họ cho rằng những biến cố trên thế gian là do con người chủ động.  Thật ra, con người, như là thể loại con người máy móc hiện đại, thì nhân loại chúng ta chỉ là những chiếc “robots” hoàn toàn bị tác động từ một nguyên nhân sâu xa cho một cứu cánh huyền diệu và lớn lao hơn là những chủ đích trần gian.  Gurdjieff nói rằng tất cả chiến tranh, hỗn loạn, cách mạng, đói kém, thiên tai xảy ra không phải vì con người mà chỉ vì ảnh hưởng của các hành tinh ở vào một vị trí nào đó.  Vì vậy, tất cả các biến cố lịch sử trên trái đất này đều có gốc rễ từ vũ trụ – mà vị thế và quỹ đạo chuyển động của các hành tinh trong mối liên hệ đến quả địa cầu là tác năng chính.

 

Có phải đây chỉ là lối suy diễn từ một đầu óc “thiếu khoa học”?  Không hẳn thế. Chúng ta phải nhớ rằng “astrology” (chiêm tinh học) là một khoa học cổ đại về sự liên hệ giữa hành tinh và con người mà bí mật của nó ít còn ai hiểu được.  Ngay cả những triết gia về khoa học lớn như Karl Popper, Thomas Kuhn hay Paul Feyerbend cũng đã không phủ bác khoa học thượng cổ này.  Cái mà khoa học gia thời nay đang theo đuổi, “astronomy” (thiên văn học), chỉ là một khoa học thực nghiệm thuần diễn tả và nhiều thiếu sót.(4)

 

Trong cuốn sách dày và công phu xuất bản năm 2006, “Cosmo and Psyche” (Vũ trụ và Tâm linh),(5) Richard Tarnas đã phân tích rất kỹ về giả thuyết của tính liên hệ giữa hành tinh và lịch sử.  Ông cho biết rằng, căn cứ vào những nghiên cứu thiên văn trong 30 năm qua, thì bắt đầu từ năm 2008 đến 2011, là khoảng thời gian mà ba hành tinh Saturn, Uranus và Pluto sẽ đi vào vị thế “T-square” (T-vuông).  Đây sẽ là một thời kỳ “quan trọng” và “táo bạo” cho những biến cố thay đổi trên toàn cầu với nhiều biến động ảnh hưởng đến toàn bộ lịch sử và tâm thức nhân loại cho thế kỷ 21 này.

 

Từ 2008 đến 2011, Tarnas tiên đoán, sẽ là một thời gian “căng thẳng cực độ,” thay đổi “rung chuyển” và “nổ tung” để xô đẩy những biến cố đến “gia tốc bất thường” cho những hoán chuyển rộng lớn về nhân văn và điều kiện khí hậu đến chính trị, kinh tế toàn cầu.  Thì như chúng ta đã nhìn thấy.  Kinh tế toàn cầu đã đi vào khủng hoảng. Tiếp sau đó, vào năm 2010, khi mà vị thế “T-square” của ba hành tinh trên đã đạt đến cao điểm, thì hai hành tinh, Jupiter và Uranus sẽ đi vào vị thế liên hợp (conjunction).  Thời điểm ấy sẽ là một khúc quanh cho lịch sử nhân loại với những biến cố bất thường lớn lao và toàn diện ở mọi bình diện nhằm đưa nhân loại và địa cầu vào một chân trời lịch sử hoàn toàn mới lạ.

 

Từ cuối năm 2010, thế giới đang đi sâu vào 2011 – và những dấu hiệu đang cho ta thấy rõ rằng thế giới đang đi vào khúc quanh mới và tối quan trọng, mà Richard Tarnas nói đến.  Mọi chuyện sẽ không còn như trước.  Đổi thay trên mọi phương diện sẽ sâu rộng và toàn diện.  Hãy nhìn về Bắc Phi và Trung Đông trong những ngày qua.  Cái gì và ở đâu là kế tiếp?  Theo Tarnas thì  cao điểm sẽ là năm nay và sang năm, 2012.  Chúng ta chờ xem.  Nếu đúng vậy thì Việt Nam và Trung Quốc sẽ không nằm ngoài vòng như một ngoại lệ được.(6)

 

Cũng theo Tarnas và Gurdjieff thì chúng ta vẫn chưa biết nhìn sâu vào nguyên nhân gốc rễ của biến cố trên thế giới như chiến tranh, cách mạng, thiên tai – mà chỉ biết nhìn vào những lý do trên mặt hiện tượng hời hợt.  Với thói quen nông cạn, vì vô minh, thiếu hiểu biết, vốn được giáo dục theo tinh thần thực nghiệm Tây phương, chúng ta sẽ đổ lỗi cho những nguyên nhân bề mặt của hiện tượng – như chính quyền này, quốc gia nọ, chính sách kia, cá nhân đó, hay những lý do mà chúng ta thường hay nói đến là kinh tế, chính trị áp bức, độc tài, xã hội bất công, mâu thuẫn tôn giáo.  Vâng, đó chỉ là những cái cớ phụ thuộc.  Nhân loại thì lúc nào mà không đầy áp bức, bất công, nghèo đói?

 

Vấn đề là cùng với những nguyên nhân bề mặt đó – nhưng con người bắt đầu biết và có can đảm đứng dậy trong tỉnh thức.  Nguyên nhân chính vẫn là yếu tố ý chí con người khi năng lực tâm linh của nhân loại, những góc cạnh sâu thẳm nhất từ tận đáy tim cá nhân, đang bị kích động bởi những siêu lực vô hình từ các hành tinh.  Đây là lúc mà họ không còn ngủ say với thực trạng, không còn ù lỳ, không còn sợ hãi, để can đảm đứng lên mà hòa ca cùng với một vũ trụ đang tỉnh thức từ chính trong nội tâm mình.(7)

 

Từ một chủ thể nhỏ bé như cá nhân, dù là một triết gia hay vị tổng thống, cho đến một quốc gia, khối liên minh đa quốc, hay là một đảng cầm quyền vững chắc, tất cả vẫn chỉ là một hạt cát, những bèo bọt vô nghĩa trong cái đại dương lớn lao của vũ trụ vô vàn.  Nguyên nhân cho biến cố không phát xuất từ quả địa cầu nhỏ bé này, mà ở một tầng trời khác, nơi mà các hành tinh trong vị trí chủ động của Cơ Trời, mới chính là gốc rễ của đổi thay.

 

Khi hành tinh xoay chuyển, nhân loại này sẽ đứng dậy mà đi.  Nói theo Carl G. Jung thì “Tâm ý (psyche) chúng ta được cấu tạo theo cấu trúc vũ trụ, và những gì xảy ra trong đại vũ trụ (macrocosm) thì cũng sẽ xảy ra như vậy trong cõi cực vi (infinitesimal) cũng như trong từng góc cạnh chủ quan sâu thẳm nhất của tâm ý (cá nhân)”.

 

Những ai có mắt và biết nhìn sẽ phải nhận thấy những hệ quả của năng ý Cơ Trời qua các hiện tượng trước mắt.  Khí hậu trái đất đang thay đổi đột biến; kinh tế thế giới vừa qua khỏi khủng hoảng lớn, nhưng tương lai chưa biết sẽ như thế nào.  Trong mấy tuần nay, từ Bắc Phi, Trung Đông, một khối tâm thức nhân loại khổng lồ đang tỉnh thức và đứng lên.  Việt Nam, Trung Quốc có thể sẽ đi vào khủng hoảng kinh tế và xã hội trầm trọng.  Và trước hay sau gì thì khối dân Á Đông thụ động cũng sẽ thức dậy theo tiếng chuông khích động của vũ trụ đang được hồi sinh.  Đây là nguyên nhân mà những người không biết đến  chỉ cho đó là những điều “bất ngờ”.  Trong vũ trụ và trái đất này, không có gì là “bất ngờ” cả.  Tất cả đang cùng đi với Cơ Trời trong một vũ trụ đang tự chính nó nâng cao tầm mức tự-ý-thức cho nhu cầu tiến hóa.

 

Cũng trong cuốn sách trên, Gurdjieff nói rằng, khi mà tâm thức nhân loại, càng đi sâu vào mô hình xã hội Tây phương, bị cuốn sâu vào ý chí vật chất và thuần cảm giác thân xác, đánh mất cứu cánh tính cho hiện hữu, đánh mất tự do ý chí, chỉ còn biết thế gian và đời sống hiện tại là tất cả, thì con người đã đi ngược lại và phản bội cơ năng tiến hóa của tinh thần vũ trụ.  Nếu Cơ Trời bị ngăn trở, thì các hành tinh phải chuyển động – như các con cờ trên bàn cờ chuyển hóa – nhằm kiến tạo lại một cơ năng tiến hóa tâm thức khác bằng  một thể loại văn minh mới.  Theo Gurdjieff thì nền văn minh Tây phương hiện đại chỉ là một thử nghiệm cho một cứu cánh tiến hóa lớn lao.  Tuy nhiên, khối nhân loại và nền văn minh Tây phương này, tức là cả thế giới ngày nay, đã thất bại và đi lạc đường.  Như một chiếc xe đã bị hư hỏng không còn có thể khôi phục hay cải tiến, như là một loại hoa màu đã bị thối rễ và ung thối, văn minh này sẽ phải bị bỏ vào sọt rác thời gian để đào thải.

 

Bi quan hay lạc quan?  Câu trả lời tuỳ theo viễn kiến hiện sinh từ trong mỗi cá nhân.  Mục đích cho cuộc sống là gì?  Chúng ta phải tự hỏi. Liệu những cỗ xe tiến hóa cho nhân loại mà ta từng bám vào xưa nay, như tôn giáo, dân tộc, quốc gia, có còn cần thiết?

 

Nếu như những gì mà Gurdjieff và Tarnas nói là đúng thì thế giới này, kể cả Việt Nam và Trung Quốc, đang chuyển động nhanh chóng và dữ dội về một cơn lốc toàn cầu nguy hiểm – nhưng cũng với nhiều cơ hội phục hưng.  Hay cũng có thể rằng “linh cảm” của tôi lần này, hoặc là học thuyết của Tarnas, cũng chỉ là một loại hư tưởng “thế mạt luận” sai lầm.

 

Dù thế nào, chúng ta hãy mong cho nhân loại này, và cho dân tộc Việt Nam, được tiến hóa đồng nhịp theo đúng nhu cầu “thẩm quyền của một vũ trụ”, nói theo Havel, vốn đang được hồi sinh.

 

_______

Chú Thích:

 

1. Planetary democracy does not yet exist, but our global civilization is already preparing a place for it: It is the very Earth we inhabit, linked with Heaven above us.  Only in this setting can the mutuality and the commonality of the human race be newly created, with reverence and gratitude for that which transcends each of us singly, all of us together. The authority of a world democratic order simply cannot be built on anything but the revitalized authority of the universe.” Václav Havel, “The Spiritual Roots of Democracy. (Trích từ sách đã dẫn của Tarnas)

 

 

2.       Tháng Tư, 2008 tôi đã viết về những thay đổi lớn lao trên thế giới trong vòng từ 2008 đến 2012.  Bài có tựa đề “Thế mạt luận 2008” được đăng trên talawasĐàn Chim Việt ngày 25 tháng Tư. Chỉ hơn ba tháng sau, tháng Tám, khủng hoảng kinh tế và tài chánh toàn cầu đã xảy ra.  Bài này, gần 3 năm sau, là một cập nhật cho bài 2008 trên.

 

3.       P. D. Ouspensky, “In Search of the Miraculous: Fragments of the Unknown Teaching.” (New York: Harcourt, Brace: 1949).

 

4.       Chiêm tinh học (astrology) có giá trị “khoa học” nào không?  Xin đọc “Philosophy of Science and the Occult,” Patrick Grim, Ed., (New York: State University of New York, 1990).  Trong đó, triết gia Paul Feyerbend chỉ trích những khoa học gia đã phản đối chiêm tinh học trong khi họ không hề nghiên cứu hay biết gì về khoa học thượng cổ này.  Ông viết, “The greatest assurance goes hand in hand with the greatest ignorance.” (Sự đoan chắc lớn nhất đi đôi với sự thiếu hiểu biết lớn nhất).  Nhà nghiên cứu về huyền bí thuật Collin Wilson gọi chiêm tinh học là “khoa học của tương lai”.  Cũng nên đọc cuốn sách rất giá trị về đề tài này của Rodney Collin, “The Theory of Celestial Influence: Man, The Universe and Cosmic Mystery.” (London: Penguin Group, 1984).

 

5.       Richrad Tarnas, “Cosmo and Psyche: Intimations of a New World View” (New York: Viking, 2006).  Các trích dẫn của Havel và Jung là từ cuốn sách này.

 

6.        Hiện đang có những giả thuyết về “ngày tận thế” vào ngày 21 tháng 12, 2012 theo lịch Mayan của văn minh thượng cổ Nam Mỹ.  Ở đây chúng tôi không muốn nói đến đề tài nhiều tranh cãi này.  Độc giả nào muốn tìm hiểu thêm thì hãy đọc “The Mystery of 2012: Predictions, Prophecies and Possibilities” của nhiều tác giả, để có một cái nhìn quân bình, tỉnh táo và khoa học hơn.  Hiện tượng tiên đoán “Ngày cuối cùng” hay “Thế  mạt luận” (eschatology) không có gì là mới.  “Ngày Phán Xét”,” Hội Long Hoa”.. chỉ là những huyền thoại hay ẩn dụ.

 

7.      Câu nói “Ý dân là ý Trời” diễn tả đúng ý nghĩa này.  Khi Vũ trụ (Trời) chuyển động, ý chí nhân dân sẽ rung chuyển theo.

 

Nguồn: Tác giả email.

Sứ mạng giáo dục nhân văn: Tâm hồn Việt Nam, con đường thế giới

Leave a comment

Nguyễn Hữu Liêm

(Giới thiệu: Ở Việt Nam hiện nay, trong nỗ lực chấn hưng nền giáo dục đại học, vấn đề “giáo dục nhân văn” đang được các nhà giáo bàn thảo. Để đóng góp cho đề tài này, xin gởi đến đọc giả bài tham luận của tôi trong buổi hội thảo mang chủ đề “Giáo dục nhân văn cho sinh viên Duy Tân cốt lõi là những vấn đề gì?” tổ chức tại Đại học DuyTân, Đà Nẵng, tháng 9, 2010. Mặc dù đề tài chỉ nói về Đại học Duy Tân, nhưng nội dung bài viết thì liên quan đến một vấn đề phổ quát cho các đại học ở Việt Nam.)

Trong tác phẩm triết học lừng danh “Phê phán lý tính thuần tuý” triết gia Immanuel Kant có nêu lên một mệnh đề tri thức cơ bản rằng “Khái niệm mà không có trực giác thì trống rỗng; trực giác mà thiếu khái niệm là mù lòa.” Điều mà Kant nói tới là bản chất nhị nguyên bao gồm hai phương diện, khái niệm và trực giác, hình thức và nội dung, trong cấu trúc tri thức của con người. Khái niệm là phương tiện, là con đường. Trực giác là tánh biết trực tiếp có sẵn trong cơ năng tri thức. Cả hai là cần thiết và hỗ tương lẫn nhau cho sự hình thành của kinh nghiệm và tri kiến. Hãy hình dung ra cơ năng tri thức của con người như là một chiếc phi cơ. Khái niệm là hai cánh; trực giác là động cơ. Chiếc phi cơ chỉ có thể bay khi hội đủ hai điều kiện thiết yếu và hỗ tương này.

Trong truyền thống và ý chí khai mở dân trí mà các tiền nhân xứ Quảng này, những vị như Phan Chu Trinh, Phan Khôi, đã đi trước, tôi xin lấy mệnh đề tri thức nầy của Kant để bàn đến một nội dung giáo dục nhân văn cho thế hệ sinh viên Việt Nam đương thời, đặc biệt là cho miền Trung, và riêng cho đại học Duy Tân mà tôi có được vinh hạnh tham gia giảng dạy.

Nói một cách rất gọn là vậy: Con đường giáo dục nhân văn, như là một dự án hành động cho tương lai của đại học Duy Tân, là tiền đề: Góp phần khai mở và vun đắp một thế hệ sinh viên Việt Nam với những giá trị nhân văn dân tộc và nhân loại xứng đáng với khả năng tri thức được tiếp nhận từ thế giới.

Ở tiền đề này, con người Việt với tâm hồn và bản lĩnh Việt là chính; nhân loại và thế giới là khái niệm, là mô thức và phương tiện cho tâm hồn và trực giác Việt Nam mà chúng ta phải đánh thức và khai sáng. Kiến thức và phương tiện kỹ thuật của thế giới là đôi cánh; tâm hồn Việt là động cơ. Cả hai là cần thiết cho chiêc phi cơ con người Việt Nam có thể bay lên cao trong tiến trình hiện đại hóa đất nước.

Đây là một tiền đề mang tính công thức giáo dục và đào tạo mà thiết yếu tính nội tại của nó không những chỉ nằm trên bình diện triết lý mà phải được mang giá trị giả thuyết vốn đòi hỏi rằng nó phải được thử nghiệm và thực thi trên bình diện chính sách thực tiễn.

Muốn thoả mãn nhu cầu thiết yếu tính chính sách cho tiền đề này thì chúng ta phải trả lời hai câu hỏi chính của nó. Thế nào là tâm hồn và trực giác Việt Nam? Và thế nào là nhân loại và thế giới?

Câu hỏi thứ nhì, theo tôi, thì dễ dàng để trả lời. Trong chiều hướng hiện đại hóa, công nghiệp hóa và hội nhập vào cộng đồng nhân loại chung, thì giá trị thế giới là tập hợp những chọn lựa từ những gì của văn minh đương đại vốn thích hợp và cần thiết cho đất nước và con người Việt Nam.

Ví dụ ngắn gọn: Đại học Duy Tân có thể chọn một mô hình giáo dục theo kiểu mẫu Hoa Kỳ, một mô thức đại học mà theo đó thì huấn luyện, đào tạo là ưu tiên. Chúng ta có thể tham khảo và du nhập mô thức tổ chức, nội dung giáo trình từ một đại học nào đó ở Hoa Kỳ, như Pennsylvania State hay Canergie Mellon. Mô hình chọn lựa này, như là một thí dụ cụ thể và điển hình, là một con đường thế giới, một phương tiện pháp, nói theo nhà Phật, để chúng ta phát huy con người Việt Nam cho nhu cầu cá nhân và xã hội.

Còn câu hỏi thứ nhất, trông có vẻ như là đơn giản, nhưng không phải là dễ để trả lời thỏa đáng. Giống như là mệnh đề của Kant, chúng ta hình như ai cũng nhận ra, hay cảm thấy rằng, mỗi người Việt Nam chúng ta đều mang một tâm hồn, một bản sắc trực giác Việt Nam vốn đặc thù và đơn biệt. Đây không phải là một giả định – mà là một sự thể thiết yếu và hiển nhiên. Bản sắc tâm hồn hay trực giác của người Việt đã phân biệt họ ra khỏi cộng đồng nhân loại và các sắc dân khác. Nó cũng là điều kiện và nguyên nhân cho sự hình thành của lịch sử lập quốc và nhân cách con người Việt Nam xưa và nay. Nhưng nếu có ai hỏi rằng đâu là một định nghĩa về một “tâm hồn” hay ”trực giác” Việt Nam thì câu trả lời cũng vẫn còn là một vấn nạn, một bí ẩn tuy gần nhưng xa, hiển bày nhưng cũng bị vùi kín.
Ở đây tôi xin dựa vào định nghĩa của triết gia Aristotle, cha đẻ của logic, siêu hình học và tâm lý học Tây phương, thì tâm hồn (psyche) là cái nguyên tắc tổ chức và điều khiển các khuynh hướng chọn lựa và hành động của cá nhân. Từ định nghĩa này, chúng ta có thể phân giải phần còn lại của câu hỏi: Cái nguyên tắc tổ chức và điều hướng (psyche) của con người Việt Nam là (những) gì? Định nghĩa của Aristotle là về con người hay cá thể phổ quát, không bị giới hạn bởi không gian, thời gian hay bối cảnh nhân văn, lịch sử, địa lý. Định nghĩa này có thể coi như là một nhận diện về cấu trúc của tâm hồn – nhưng không bàn tới nội dung của tâm hồn đó, tức là những khuynh hướng chọn lựa và hành động nào của một cá nhân đặc thù. Tâm hồn, theo sự nhận diện cấu trúc này, chỉ là một “guồng máy,” hay nói gần hơn với Aristotle, là một năng lực định hướng cá nhân, mà người Việt chúng ta đều chia sẻ một mẫu số chung.

Khi chúng ta thay thế “tâm hồn” bằng định nghĩa của Aristotle thì câu hỏi sẽ trở nên rằng, trong một bối cảnh nhất định có sẵn, cá nhân và tập thể các con người Việt Nam sẽ có một thể loại hay khuynh hướng chọn lựa hay hành động như thế nào? Và khuynh hướng hay cái mode chọn lựa này được đặt trên cơ bản nguyên tắc và nguyên lý nào?

Khi chúng ta nhận diện ra được cái nguyên tắc chọn lựa và hành động của người Việt Nam, trên cơ bản cá thể hay tập thể, thì chúng ta đã nhận ra một bản sắc cho cái gọi là “hồn Việt Nam.” Khi cơ bản tâm hồn Việt Nam đã được định vị và nhận dạng, thì từ đó mà một dự án giáo dục nhân văn mới cho con người Việt Nam có thể sẽ được triển khai.

Vì vậy, bước đầu cho một phác thảo của dự án nhân văn cho sự nghiệp giáo dục của đại học Duy Tân chính là một nỗ lực tự soi sáng chính mình ở nơi tập thể lãnh đạo và nhân viên nhà trường, của đội ngũ giảng dạy, và của tất cả sinh viên và phụ huynh liên đới. Soi sáng chính mình ở đây có nghĩa là mình hiểu thấy được cái bản sắc, cái tâm chất, cái nguyên tắc hướng dẫn cho cuộc sống của chính mình được đặt trên một số những động cơ và giá trị nào.

Hãy trở lại tiền đề giáo dục nhân văn cho Duy Tân. Nó bao gồm hai vế: Một thể loại hay nội dung tâm hồn Việt Nam, vốn cần được khai sáng và vun trồng, đối diện một thế giới và thời đại cần phải được học hỏi và tiếp thu. Tuy là có hai vế, nhưng trên cơ sở logic, tiền đề này phát sinh ra một yếu tính mới: tính liên hệ giữa hồn Việt Nam và con đường thế giới. Nhận chân ra thiết yếu tính của mối quan hệ này để chúng ta định vị và nhận dạng ra tính điều kiện và nhân quả giữa hai vế. Những cá thể mang tâm hồn Việt Nam đang thay đổi và lớn dần, một cách thụ động và bất định, theo một thế giới vốn đang thay đổi nhanh hơn. Đâu là cơ bản giá trị để cho con người Việt Nam có thể chủ động chọn lựa và hành hoạt trước vô vàn khả thể tính mà thế giới và thời đại đang đưa đến?

Bây giờ chúng ta cùng đọc lại “Sứ Mạng của Đại học Duy Tân” mà Hội Đồng Quản Trị đã công bố: “Bằng bản lĩnh Việt Nam, phát huy truyền thống của phong trào Duy Tân trong sự nghiệp đổi mới ngày nay, Đại học Duy Tân bám chặt những yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của miền Trung và đất nước, hướng tầm nhìn ra thế giới hiện đại, mở rộng hợp tác quốc tế, nhanh nhạy đón bắt công nghệ và tri thức mới nhằm đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng, đạt tiêu chuẩn khu vực và quốc tế, phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước.”

Đây là một thông điệp sứ mạng mạnh mẽ, rõ ràng cho mục tiêu hiện hữu của Duy Tân – là một đại học đào tạo và huấn luyện một tập thể lao động có chất lượng trên tiêu chuẩn thế giới nhằm phục vụ cho một nhu cầu của tập thể dân tộc. Nhưng chính vì chủ trương huấn luyện, thay vì nghiên cứu hay lý thuyết, và phục vụ cho sự nghiệp đất nước, thay vì xây dựng cá nhân sinh viên, mà Duy Tân đang nhấn mạnh đến cái vế đôi cánh của “nhân loại và thế giới” mà tiền đề giáo dục trên đã nêu lên.

Vì thế, nay đã đến lúc mà Duy Tân phải khai vực lại cái vế thứ nhất. Đó là sứ mạng giáo dục nhằm khai sáng và vun trồng những “hồn Việt Nam” trên cơ bản nhân văn và ý thức mới trước nhu cầu của đất nước và văn minh nhân loại. Hãy đọc lại “Sứ Mạng” của Duy Tân lần nữa. Nó nói rõ rằng mục tiêu của Trường là đào tạo một nguồn nhân lực có “chất lượng” trên cơ sở “công nghệ và tri thức” thế giới. Vì thế, “Sứ Mạng” này sẽ phải bao hàm một nội dung giáo dục nhân văn theo tiêu chuẩn thời đại của cộng đồng nhân loại, xứng đáng với tầm vóc và mẫu mực con người phổ quát, trên cơ sở tâm hồn Việt Nam, trong ý thức và hành xử văn hóa và nhân bản của những cá thể có khả năng tự ý thức cao nhằm phát huy tối đa tiềm năng của chính mình.

Đây không phải là một luận cứ đạo đức vốn chỉ được đặt trên một giả định đầy tính chất huyền thoại cho một cứu cánh tính về một mẫu người Việt Nam trừu tượng nào đó. Chúng tôi cũng không muốn nêu lên một lý luận mộng tưởng trên một số giả định mơ hồ, không minh bạch về cái gọi là “hồn Việt” trong mỗi cá nhân Việt Nam. Trái lại, khi bàn về tiền đề “giáo dục nhân văn” này chúng tôi nhận chân ra cái nhu cầu khẩn cấp và thiết yếu của cái vế “con người” trên cơ sở văn hóa và văn minh trong dự án “trồng người” mà tổ tiên chúng ta đã hằng từng hoài bảo.

Làm sao để tiếp nhận công nghệ và tri thức thế giới và thời đại nếu chúng ta, như là những cá thể Việt Nam, chưa xứng đáng với giá trị của công nghệ và tri thức nhân loại đang có? Hay hỏi thực tế hơn. Làm sao mà các đại công ty, hay những nhà đầu tư, muốn chuyển giao công nghệ và tri thức tiên tiến đến cho Việt Nam nếu đội ngũ nhân lực chúng ta không đủ khả năng và tầm mức văn hóa xứng đáng để làm chủ công nghệ và sử dụng tri thức đó?

Hỏi như vậy đề chúng ta nhận thức rằng khi chưa xứng đáng với tầm mức nhân văn và khả năng tự ý thức để làm chủ công nghệ và tri thức thế giới thì chúng ta sẽ chỉ còn là những anh thợ, những nhân công khéo tay làm thuê cho chủ nhân ngoại quốc, tức là làm kiếp nô lệ trong một trật tự chủ-nô mới vốn được hóa trang bằng những hình thức hào nhoáng của cái gọi là tiên tiến và văn minh.

Hỏi như thế để chúng ta, những người làm giáo dục, cố gắng khai sáng được cái huyền thoại “tâm hồn” hay “bản lĩnh” Việt Nam nhằm biết được cái tiềm năng, khuynh hướng cũng như những biên độ giới hạn của con người Việt Nam nhằm khẩn cấp thực thi những chính sách giáo dục nhân văn cần thiết và thích ứng.

Ở đây, chúng tôi chưa muốn đưa ra một trả lời về câu hỏi giáo dục nhân văn là gì, hay làm như thế nào. Những cái đó thuộc về phạm vi chính sách mà nhà trường sẽ phải cùng thảo luận và đề ra. Ở đây chúng ta muốn nhấn mạnh đến nhu cầu giáo dục nhân văn cho sinh viên đại học Duy Tân. Vì sao? Xin phép được giải trình rằng chúng ta đang phải đối diện với một khủng hoảng nhân văn khá trầm trọng trong thế hệ sinh viên mới ngày hôm nay. Bản chất của sự khủng hoảng này phát xuất từ sự chuyển hướng tự nhiên của con người Việt Nam trước một thế giới mà tiến trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước đã đưa họ ra khỏi những cơ sở văn hóa và tinh thần truyền thống vốn là căn cứ vững vàng xưa nay.

Từ trong truyền thống của nền văn hóa nông nghiệp mà chúng ta phát xuất, tự nó đã có những bất cập, những khuyết điểm và giới hạn tự nhiên. Khi tâm thức nông dân Việt Nam, bằng hành trang văn hóa dân tộc này, phải đi vào một khung cảnh văn minh công nghiệp của thời đại thì nó phải trải qua khủng hoảng nhân văn. Vì thế, trách nhiệm giáo dục chung là làm thế nào để trang bị cho sinh viên thời đại một hành trang văn hóa dân tộc, linh động nhưng có cơ bản từ một tâm hồn Việt Nam, với năng lực tự chủ, tự do và sáng tạo nhằm xứng đáng ngang tầm với nhân loại ngày nay? Đây là thách thức lớn, không những chỉ ở bình diện lý thuyết mà là phạm vi thực tiễn qua chính sách giáo dục và đào đạo mà Duy Tân phải thực thi. Sinh viên Việt hôm nay khi đi ra với thế giới hiện đại cũng như anh chàng dưới quê đi ra khỏi luỹ tre làng. Làm sao mà cho dù các em có phải đi ra khỏi quê nhà nhưng quê nhà không có rời khỏi các em? Sứ mệnh nhân văn của chúng ta, do đó, là làm sao tạo điều kiện tri thức và nhân cách để cho thế hệ Việt Nam mới không đánh mất cái hồn tinh hoa văn hóa Việt Nam trước thời đại.

Để kết thúc, tôi xin kể một câu chuyện về đạo học huyền nhiệm. Có vị sư giác ngộ vốn mang khả năng nhìn suốt không và thời gian để biết trước cái gì sẽ xẫy ra trong tương lai – kể cả những tin tức về kinh tế tài chánh mà nếu nắm được sẽ là cơ hội làm giàu lớn. Có kẻ doanh nhân nọ muốn có được khả năng kiến thức này xin theo học vị sư để được giàu có. Nhưng vị sư từ chối và đã nói với doanh nhân rằng, muốn được đạt đến trình độ tri kiến này, điều kiện tiên quyết là ngươi phải xứng đáng với nó. Khi sử dụng khả năng huyền nhiệm cho mục tiêu duy lợi vị kỷ thì khả năng tri kiến đó sẽ bị tiêu huỷ.

Ý nghĩa của câu chuyện là rõ ràng. Cá nhân phải được tiến hóa về nhân cách và tâm thức xứng đáng với khả năng tri kiến về phương tiện pháp thế gian. Sự bất cập giữa hai vế, giữa tâm thức nhân văn và khả năng tri kiến phương tiện, là nguyên nhân của mọi thảm họa. Câu hỏi cho chúng ta là, liệu những tâm hồn Việt Nam ngày nay có xứng đáng với khả năng tri kiến mà họ đang hấp thụ từ thế giới hiện đại chưa? Tức là, thế hệ sinh viên mới của Duy Tân có được trang bị bằng một tâm hồn và trực giác Việt Nam đủ xứng đáng với khả năng chọn lựa và hành động trước những gì mà nhân loại và thế giới đang đưa đến? Nguyên lý và giá trị nào để các em sống và hành hoạt khi giòng sông dân tộc đang đi ra hội nhập với đại dương nhân loại?

Soi sáng và hệ thống hóa một cách khoa học các phương cách tiếp cận cho những câu hỏi này sẽ giúp chúng ta bắt tay vững chắc hơn vào sứ mệnh giáo dục nhân văn mà Đại học Duy Tân đang vươn đến vậy.

(Tác giả gửi email)

Hoàng Ngọc Tuấn mặc váy…

16 Comments

Thực ra chỉ có Lý Tống mặc váy, giả làm đàn bà vờ tặng hoa rồi xịt hơi cay vào mắt “văn công” Đàm Vĩnh Hưng. Link youtuble tại đây.

Xâu chuỗi sự kiện trên với “vụ án đạo văn” của Ngô Tự Lập đang sùng sục trên talawas, không khỏi ngậm ngùi.

Thật vậy, cái “tội” lớn nhất của Ngô Tự Lập là dám viết không xấu về cụ Hồ. Nguyên tắc của “lề trái” là phải viết xấu về cụ thì mới là văn đẹp!

Ngô Tự Lập vốn đã cộng tác thường xuyên với Tiền Vệ, nơi Hoàng Ngọc Tuấn làm chủ bút. Nóng máu vì họ Ngô “phạm húy”, Hoàng Ngọc Tuấn bèn ẩn danh dưới tên Nguyễn Tôn Hiệt “xịt hơi cay” Ngô Tự Lập. Họ Ngô cứ tưởng Tiền Vệ khách quan, đấu nhau trận này là trận thứ hai với Nguyễn Tôn Hiệt chứ có phải ít đâu. Ngô gửi bài trả lời nào, Hoàng Ngọc Tuấn đều “ngâm” vài hôm, đến khi nạp xong “hơi cay” đáp từ  thì đăng hai bài liền kề, tung hỏa mù. Công bằng ra phết! Trí thức XHCN “tồ” đến thế là cùng!

Tóm lại: “Vụ án đạo văn” này kịch tính và bùng nổ không khác gì việc Lý Tống hôm qua giả làm đàn bà, vờ tặng hoa rồi xịt hơi cay vào mắt “văn công” Đàm Vĩnh Hưng tại San José. Hoàng Ngọc Tuấn dưới bút danh lạ hoắc Nguyễn Tôn Hiệt chính là anh hùng Lý Tống mặc váy của trường văn trận chữ lề trái.

——————-

Bonus:

Đây là tiểu sử của chủ bút Hoàng Ngọc Tuấn mà tôi vừa search được: “Nguyên chủ bút tạp chí Tập Họp (1987-1989). Nguyên phụ tá chủ bút tạp chí Việt (1998-2001); đồng chủ bút trang Tiền Vệ (2002~). Nhà nghiên cứu, lý luận, phê bình và sáng tác trong lĩnh vực âm nhạc và văn chương; đồng thời là nghệ sĩ trình tấu guitar, diễn viên sân khấu, và kịch tác gia. Hiện sống tại Úc. Từ năm 2004 cho đến nay, là thành viên của Uỷ Ban Văn Chương và Lịch Sử, thuộc Hội Đồng Cố Vấn Nghệ Thuật, Bộ Nghệ Thuật New South Wales. Từ năm 2005, kiêm nhiệm trách vụ thành viên của Uỷ Ban Sách Lược Phát Triển Nghệ Thuật Miền Tây Sydney, cũng thuộc Hội Đồng Cố Vấn Nghệ Thuật, Bộ Nghệ Thuật New South Wales”.

Có cả wiki tiếng anh nữa, tại đây.

Trí thức “nhớn” do bọn tư bổn giãy chết đào tạo cũng “mênh mông” không kém trí thức mậu dịch quốc doanh trong ảnh dưới:

Than ôi!

Older Entries

Nghiên cứu lịch sử

Các bài nghiên cứu, biên khảo và dịch thuật các chủ đề về lịch sử

Le Minh Khai's SEAsian History Blog

Always rethinking the Southeast Asian past

trinhythu

Trịnh Y Thư WordPress.com site

trandangtuan.com

Men lá rượu ngô trong

4th Avenue Café

Free non-fiction translation

WordPress.com

WordPress.com is the best place for your personal blog or business site.

Trương Thái Du's Blog

Văn chương thiên cổ sự - Đắc thất thốn tâm tri...

No More Goat Soup

No goats were harmed in any way while making this blog. (We did kill all the sheep though)