Trần Trọng Dương: Kinh Dương Vương – ông là ai?

2 Comments

Nguồn Tia Sáng


Một trong bốn con tem thuộc bộ tem
“Dân gian truyền thuyết – Liễu Nghị truyền thư”
do Bưu cục Quốc gia Trung Quốc phát hành
năm 2004.
Như trong bài viết trước1, chúng tôi đã nhận định Đại Việt sử ký toàn thư (Toàn thư) – bộ sử quan trọng nhất của Việt Nam đề cập những sự kiện từ khởi thủy cho đến thế kỷ XVII – là một tư liệu được biên soạn trên tư duy đa nguyên “văn – sử – triết” của thời Trung Đại. Trong đó, bộ sử này đã sưu tập nhiều huyền thoại dân gian của đời sau để bù đắp cho những khuyết thiếu của sử liệu. Ở bài này, chúng tôi tiếp tục làm rõ hơn nhận định trên thông qua việc phân tích một nhân vật vốn được coi là thủy tổ của người Việt và nước Việt nhưng cứ liệu lại cho thấy chỉ là ảo ảnh diễn hóa từ nhân vật Kinh Xuyên trong tiểu thuyết truyền kỳ của Trung Quốc.

Kinh Dương Vương và tín ngưỡng thờ Kinh Dương Vương

Theo như cách trình bày ở Kỷ Hồng Bàng thị trong Toàn thư, Kinh Dương Vương tên là Lộc Tục, con cháu họ Thần Nông, vị vua khai sáng ra nước Xích Quỷ (quỷ đỏ). Vì thế Kinh Dương Vương được Ngô Sĩ Liên coi như vị thủy tổ đầu tiên của người Việt và nước Việt. Chẳng những thế, Kinh Dương Vương còn lấy con gái của Động Đình Quân tên là Thần Long để sinh ra Sùng Lãm, tức Lạc Long Quân. Lạc Long Quân sau lấy Âu Cơ – con gái của Đế Lai, sinh ra trăm con trai, 50 con lên rừng, 50 con xuống bể. Vị con trưởng được nối ngôi cha, phong là Hùng Vương. Sử gia Ngô Sĩ Liên thế kỷ XV bình luận đoạn này như sau: “Con cháu Thần Nông thị là Đế Minh lấy con gái Vụ Tiên mà sinh Kinh Dương Vương, tức là thủy tổ của Bách Việt. Vương lấy con gái Thần Long sinh ra Lạc Long Quân, Lạc Long Quân lấy con gái Đế Lai mà có phúc lành sinh trăm con trai. Đó chẳng phải là cái đã gây nên cơ nghiệp của nước Việt ta hay sao?”2.

Kể từ sau Ngô Sĩ Liên, phần lớn các bộ lịch sử Việt Nam đều công nhận Kinh Dương vương là thủy tổ của nước Việt. Ví dụ như sách Thiên Nam minh giám (thế kỷ XVII) mở đầu như sau:

“1-     Tượng mảng xưa sách trời đã định,
    Phân cõi bờ xuống thánh sửa sang,
    Nước Nam từ chúa Kinh Dương,
    Tày nhường phải đạo mở mang phải thì.
5-     Tới Lạc Long nối vì cửu ngũ,
    Thói nhưng nhưng no đủ đều vui,
    Âu Cơ gặp gỡ kết đôi,
    Trổ sinh một bọc trăm trai khác thường.
    Xưng Hùng Vương cha truyền con nối,
10-     Mười tám đời một mối xa thư,
    Cành vàng lá ngọc xởn xơ,
    Nước xưng một hiệu năm dư hai nghìn”.3

Đến thế kỷ XVII, Kinh Dương Vương đã chính thức được văn hóa dân gian đưa vào thờ làm vị thủy tổ trong đền ở thôn Á Lữ, xã Đại Đồng Thành, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh (ngày nay). Năm 1840, đền cho dựng bia đá “Kinh Dương Vương lăng”. Năm 1940, đời vua Bảo Đại, đền làm thêm hai đại tự “Nam Tổ miếu” và “Thần truyền thánh kế“. Năm 2000, nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm về thăm đền và để lại bút tích gợi ý tỉnh Bắc Ninh có đề xuất lên Trung ương nâng cấp cơ sở thờ tự của tổ tiên. Năm 2009, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết cũng đến thăm đền và để lại những lời kỷ niệm sâu sắc về cội nguồn dân tộc4. Năm 2012, NXB Văn hóa dân tộc ấn hành cuốn Nam Bang Thủy Tổ Kinh Dương Vương của các tác giả Trần Quốc Thịnh, Đỗ Văn Sơn, Biện Xuân Phẩm, tập hợp các tư liệu từ Toàn thư, Lĩnh Nam chích quái, Thủy Kinh chú… và từ các truyền thuyết, văn bia, thần phả, thần tích cũng như công trình nghiên cứu, tham luận của các học giả.

Ngày 25/2/2013, tỉnh Bắc Ninh tổ chức lễ hội kỷ niệm 4892 năm Đức thủy tổ khai sinh mở nước. Đến dự lễ khai hội có Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Thiện Nhân và lãnh đạo một số Bộ, ngành. Sau lễ dâng hương, Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân dự lễ khởi công Dự án tu bổ, tôn tạo và phát huy giá trị Khu di tích Lăng và Đền thờ Kinh Dương Vương. Theo quy hoạch đã được tỉnh Bắc Ninh phê duyệt, dự án có tổng diện tích gần 40ha, gồm không gian bảo tồn di tích, không gian phát huy giá trị di tích, không gian quản lý và dịch vụ phụ trợ, với nguồn vốn đầu tư gần 500 tỷ đồng5.


Từ nhân vật của truyện truyền kỳ Trung Hoa?

Tuy nhiên, như ngay ở đầu bài viết, chúng tôi có ý nghi vấn, Kinh Dương Vương chưa chắc đã là nhân vật lịch sử có thật. Chứng cớ nào đề chúng tôi có thể đi đến nghi ngờ như vậy?

Chứng cứ nằm ngay trong Toàn thư, sau khi viết về lai lịch, cuộc đời của Kinh Dương Vương, Ngô Sĩ Liên đã viết: “Xét Đường kỷ chép: thời Kinh Dương có người đàn bà chăn dê, tự xưng là con gái út của Động Đình Quân, lấy con thứ của Kinh Xuyên, bị bỏ, viết thư nhờ Liễu Nghị tâu với Động Đình Quân. Thế thì Kinh Xuyên và Động Đình đời đời làm thông gia với nhau đã từ lâu rồi”.6

Chúng ta còn thấy chuyện này được chép trong sách Lĩnh Nam chích quái của Trần Thế Pháp (thế kỷ XIV?)7, rồi sau đó lại được sao chép nguyên vẹn vào trong thần tích của Mẫu Thoải tại Tuyên Quang8.

Cần nhắc lại ở đây ghi chép về nguồn Đường kỷ của Ngô Sĩ Liên là một gợi ý hữu ích cho những người nghiên cứu các đời sau. Từ gợi ý đó, một số học giả đã tìm ra cả chục văn bản văn học Trung Quốc chép câu chuyện này. Lần xa hơn nữa, các học giả đều thống nhất cho rằng, truyện Kinh Dương Vương có sự sao chép từ tiểu thuyết Liễu Nghị truyện (柳毅傳) do Lý Triều Uy sáng tác vào đời Đường9. Truyện có thể tóm tắt như sau: Liễu Nghị là một nho sinh thi trượt, trên đường gặp một thiếu phụ chăn dê xinh đẹp nhưng dáng vẻ tiều tụy. Người phụ nữ ấy nói rằng mình là con gái của Long Vương ở hồ Động Đình, vốn lấy con trai thứ của Kinh Xuyên, nhưng bị bạc đãi, bắt đi chăn dê, nên muốn nhờ Liễu Nghị chuyển thư đến cho cha để báo tình cảnh của mình. Liễu Nghị đem thư xuống Long cung. Em trai Long Vương là Tiền Đường giận quá nên giết con trai của Kinh Xuyên, cứu cháu về, rồi định gả cho Liễu Nghị. Nghị từ chối, xin về, được Long vương ban cho nhiều vàng bạc châu báu. Sau Liễu Nghị lấy vợ, lần nào lấy xong vợ cũng chết. Con gái Long Vương thấy vậy bèn nhớ lại duyên cũ, muốn báo đáp bèn hóa làm người con gái xinh đẹp mà lấy Liễu Nghị làm chồng. Sau hai vợ chồng đều thành tiên10.

Liễu Nghị truyện được coi là một truyện truyền kỳ sớm nhất của Trung Quốc. Từ cuối đời Đường, truyện đã được lưu hành rộng rãi trong dân gian. Đến thời Tống, truyện được Thượng Trọng Hiền chuyển thể sang kịch bản tạp kịch với tên “Động Đình hồ Liễu Nghị truyền thư”11. Liễu Nghị trở thành tích truyện rất được ưa thích trong văn hóa diễn xướng của người Trung Quốc. Hàng loạt các tác phẩm nổi tiếng ra đời, như nhà Tống có “Liễu Nghị đại thánh nhạc”; nhà Kim có “Liễu Nghị truyền thư”; triều Nguyên có “Liễu Nghị Động Đình long nữ”; thời Minh Thanh có “Quất bồ ký”, “Long tiêu ký”, “Long cao ký”, “Thẩn trung lâu”, “Thừa long giai thoại”12. Trong đó, cho đến nay, “Liễu Nghị truyền thư” (còn có tên “Thủy tinh cung”, “Liễu Nghị kỳ duyên”) vẫn được người Trung Quốc coi như là một kịch mục kinh điển của hý kịch Trung Hoa. Từ năm 1952, vở kịch đã nhiều lần được dàn dựng bởi các đạo diễn khác nhau, số lần trình diễn hiện chưa thể thống kê hết được13. Không những thế, tích truyện này còn trở thành đề tài làm tranh khắc ván và thư họa truyền thống (thủy mặc). Ngày 17/7/2004, Bưu cục Quốc gia Trung Quốc đã phát hành bộ tem “Dân gian truyền thuyết – Liễu Nghị truyền thư”, gồm bốn con tem với bốn hoạt cảnh: “Long nữ gửi thư”, “Thư gửi Động Đình”, “Cốt nhục đoàn tụ”, và “Nghĩa trọng tình thâm”14.

Những nhận định của sử gia đời sau

Đến đây có thể nhận định về nguồn gốc của các mô-típ, các nhân vật, cũng như địa danh trong truyện Kinh Dương Vương được chép trong Toàn thư. Ngô Sĩ Liên đã tình cờ đem một số chi tiết của truyện Liễu Nghị để ghép với các huyền thoại khác như Lạc Long Quân – Âu Cơ, và coi đó như nguồn gốc khởi đầu cho sự xuất hiện của Hùng Vương – triều đại mà người Việt ngày nay coi như lịch sử đích thực của mình.

Các nhà Nho Việt Nam trong nhiều thế kỷ hẳn phải biết đến một tác phẩm có ảnh hưởng lớn như truyện Liễu Nghị. Bằng chứng là nhà thơ nổi tiếng Thái Thuận (Tiến sĩ 1475) cũng đã sáng tác bài thơ “Liễu Nghị truyền thư”. Nhưng đó là chuyện của văn học.

Còn với tư cách người viết sử, không ít sử gia thời Trung Đại đã phản đối cách lắp ghép của Ngô Sĩ Liên. Đầu tiên, phải kể đến những nhận định của Ngô Thì Sĩ trong Đại Việt sử kí Tiền biên. Ông viết: “Nay xét phần Ngoại kỉ chép: Năm Nhâm Tuất thì bắt đầu Giáp Tí là năm nào? Ghi chép tên húy Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân sao riêng lược bỏ Hùng Vương? Thời Ngũ Đế trở về trước thì chưa từng gọi là vương. Xích Quỷ là tên nào, mà lại để làm tên nước. Một loạt hoang đường càn rỡ đều là đáng bỏ đi. Cái lỗi ấy lại tại kẻ hiếu sự thấy trong Liễu Nghị truyền thư. Trong truyện nói con gái vua Động Đình gả cho con thứ của Kinh Xuyên Vương, tưởng càn Kinh Xuyên là Kinh Dương. Đã có vợ chồng thì có cha con, vua tôi, nhân đó mà thêu dệt thành văn, cốt cho đủ số đời vua, nhà làm sử theo đó mà chọn dùng, và cho đó là sự thực. Phàm những chuyện lấy từ Lĩnh Nam chích quái, Việt điện u linh, cũng như Bắc sử lấy ở Kinh Nam Hoa và thiên Hồng Liệt đấy.”15

Sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục (1856 – 1883) viết: “Vâng tra sử cũ, danh xưng Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân trong ‘Kỉ họ Hồng Bàng, vốn từ thời Thượng cổ, thuộc thuở hồng hoang, tác giả căn cứ vào cái không và làm ra có, sợ rằng không đủ độ tin cậy, lại phụ hội với Liễu Nghị truyện của nhà viết tiểu thuyết đời Đường, lấy đó làm chứng cứ”16. Chuẩn tâu những lời của sử quan, vua Tự Đức đã nhận định đây là những “câu truyện đề cập đến ma trâu, thần rắn, hoang đường không có chuẩn tắc” và kiên quyết loại Kinh Dương và Lạc Long ra khỏi chính sử bằng cách đưa xuống phụ chú dưới niên kỷ Hùng Vương, để “cho hợp với cái nghĩa lấy nghi truyền nghi”17.

Qua những trình bày ở trên, độc giả đã phần nào mường tượng ra con đường thu nhận biến đổi tích truyện từ truyện Liễu Nghị đến truyện Kinh Dương. Đây sẽ là những tư liệu thú vị để nghiên cứu về tiếp xúc văn học văn hóa giữa Việt Nam và Trung Hoa. Đồng thời cũng là “mẫu sử liệu” thú vị cho giới nghiên cứu khám nghiệm và giám định.

Đến đây, chúng tôi xin mượn lời của giáo sư Liam Christopher Kelley (Đại học Hawaii) để kết thúc bài viết này: Trải qua nhiều thế kỷ, những truyền thống mà họ [các sử gia] sáng tạo đã trở thành cái tự nhiên thứ hai (second nature). Thực tế, trong nửa thế kỷ qua, dưới ảnh hưởng của chủ nghĩa dân tộc, những truyền thống được sáng tạo ấy (invented traditions) đã và đang trở thành những sự thực không thể thay đổi18

—-

1 Đinh Bộ Lĩnh: Huyền thoại và lịch sử (Tia Sáng số 16, ngày 20/08/2013)

2 Chính Hòa thứ mười tám (1697). Đại Việt sử ký toàn thư. Nội các quan bản. Bản khắc in. Bản dịch. 1998. Tập 1. Ngô Đức Thọ dịch chú, Hà Văn Tấn hiệu đính. NXB Khoa học Xã hội. Hà Nội. tr.131-133.

3 Trịnh thị. (1624-1657). Thiên Nam minh giám. tr.4a. (Thư viện Khoa học Xã hội TP Hồ Chí Minh, ký hiệu HNv.006) trang 1a. Tham khảo phần phiên khảo của Hoàng Thị Ngọ, (1994). NXB Văn học. Hà Nội.

4 Thọ Bình – Bá Kiên. Đầu năm thăm lăng Kinh Dương Vương (ông nội vua Hùng). Theo tienphong.vn

5 Việt Cường. Bắc Ninh khai hội Kinh Dương Vương. http://vtv.vn

6 Chính Hòa thứ 18 (1697). Toàn thư. sđd. tr 133

7 Trần Thế Pháp. (XIV?). Lĩnh Nam chích quái. ký hiệu. A.1200 (Viện nghiên cứu Hán Nôm), tr.4a-4b.

8 Nguyễn Thanh Tùng. Giao lưu tiếp biến văn hoá Trung – Việt trong lịch sử: khảo sát sự tiếp nhận tích truyện Liễu Nghị truyền thư ở Việt Nam thời trung đại.

M. Durrand. 1959. Technique et Pantheon des médiems Vietnamien. BEFEO. Vol.XLV, Paris. [chuyển dẫn Ngô Đức Thịnh. 2009. Đạo mẫu Việt Nam. (Tập 1) NXB Tôn giáo. Hà Nội. tr.63- 64.

9 Tiền Chung Liên và cộng sự (tổng chủ biên). Tái bản 2000. Trung Quốc văn học đại từ điển (thượng). Thượng Hải từ thư xuất bản xã. Thượng Hải. tr.277.

10 Tiền Chung Liên và cộng sự (tổng chủ biên). Sđd. Tr.409.

Bản dịch tiếng Việt có thể tham khảo: Lí Triều Uy, Liễu Nghị truyện, Xuân Huy dịch, in trong “Tuyển dịch một số truyện truyền kì ưu tú thời Đường Tống”, Tạp chí Hán Nôm, 1990. – Số 2 (9). – Tr.90-109.

11 Tiền Chung Liên và cộng sự (tổng chủ biên). Sđd. Tr. 831.

12 Tiền Chung Liên và cộng sự (tổng chủ biên). Sđd. Tr. 831.

13 Quý vị có thể copy chữ Hán “柳毅传书” xem các trích đoạn vở kịch này trên http://www.youtube.com

14 http://www.fhstamp.com/bbs/read.php?tid=784

15 Ngô Thì Sĩ (soạn), Ngô Thì Nhậm (tu đính). 1800 (khắc in). Đại Việt sử ký tiền biên. Bắc Thành học đường tàng bản. Ký hiệu A2/2-7. Lê Văn Bảy, Dương Thị The, Nguyễn Thị Thảo, Phạm Thị Thoa (dịch), Lê Duy Chưởng (hiệu đính). NXB KHXH.H.1997. tr.40.

16 Quốc sử quán triều Nguyễn (1856 – 1883), Khâm định Việt sử thông giám cương mục, quyển I, Thư viện Quốc gia Hà Nội, kí hiệu: R.591, tờ 4a- 5b.

17 Quốc sử quán triều Nguyễn (1856 – 1883), sđd.: R.591, tờ 9b-10a.

18 Liam C. Kelley. The Biography of the Hồng Bàng Clan as a Medieval Vietnamese Invented Tradition. Journal of Vietnamese Studies Vol. 7, No. 2 (Summer 2012), p. 122.

Nguyễn Hữu Liêm: Thẩm quyền từ một vũ trụ đang hồi sinh

1 Comment

Thẩm quyền cho một trật tự dân chủ thế giới không thể được xây dựng trên bất cứ cái gì ngoài một thẩm quyền vũ trụ được hồi sinh. (Václav Havel)(1)

Thế giới chúng ta đang đi vào một khúc quanh mới.  Tôi linh cảm như vậy. Có rất nhiều dấu hiệu cho thấy là toàn cầu, từ môi trường, khí hậu, kinh tế, nhân sinh, chính trị đến đời sống tinh thần, tất cả đang đi vào một giai đoạn biến động lớn có tính chất xoay chiều cho hướng đi của nhân loại.  Nguyên nhân nào?  Tại sao ở thời điểm này?

 

Chúng ta hãy bước ra ngoài cái “hộp giấy tư duy” để tìm ra một nguyên nhân sâu xa hơn là những hiện tượng mặt nổi, vốn đầy bất ngờ và không tiên liệu được.  Hãy thử nhìn lên bầu trời cao xa kia.  Có phải các hành tinh đang xếp hàng theo một hình thể quyết định đến sự tiến hóa tâm thức con người và sự xoay chuyển của biến cố lịch sử?

 

Đây không phải là lần đầu tôi linh cảm về đổi thay.  Năm 1972, vào khoảng cuối tháng Ba, khi tôi đang ở trong làng ở Triệu Phong, Quảng Trị, trước khi trận đánh kinh hoàng của “Mùa Hè Đỏ Lửa” vốn thiêu rụi và tàn phá toàn diện quê nhà, tôi đã từng có một linh cảm lạ lùng mà tôi còn nhớ rất là rõ ràng.  Năm đó mùa màng rất khởi sắc.  Cây cối xanh tươi lạ lùng.  Từ giàn bí, cây bầu, vạt bắp, đến lùm chuối, hàng cau, thuở ruộng mạ non, tất cả đều trổ hoa, nở trái rất sai và tốt.  Đứng ở đầu làng nhìn ra đồng ruộng, tôi thấy làng quê đẹp tuyệt vời trong ánh nắng cuối xuân.  Nhưng tôi cảm nhận qua trực giác rằng có thể đây là lần cuối mà thôn xóm khởi sắc trước khi đi vào đêm tối huỷ diệt.  Thật vậy.  Chỉ chưa đầy hai tuần sau, làng tôi chìm trong lửa đạn.  Trước khi rời làng đi vào Nam, tôi đã nhìn lại ruộng nương lần cuối và linh cảm rằng không biết bao giờ mình mới trở lại quê nhà.

 

Năm 1975 cũng thế.  Từ cuối năm 1974, đang ở Cần Thơ, tôi đã nhìn thấy những dấu hiệu từ trời đất làm cho tôi trực giác nhận ra rằng có một cuộc thay đổi lớn cho Việt Nam sắp đến.  Tôi không thể suy diễn ra, chỉ cảm nhận riêng cho mình, nhưng rất rõ ràng.  Cái trực quan mơ hồ đó như là một đốm lửa trong đêm tối mà tri thức bình thường không vươn tới, ngôn từ không thể nói ra thành lời – và ngay cả chính mình cũng không thể tin rằng những dấu hiệu vô hình đó có thực hay không.  Có những hình ảnh trong trí mà tôi đã từng hình dung thì sau đó đã trở thành sự thực.

 

Năm 1972 và 1975 vốn là của những thời quán chuyển động cấp địa phương và quốc gia mà tôi linh cảm được.  Không biết là đã có một sự di chuyển của một hay vài hành tinh nào là nguyên nhân của hai biến cố lớn đó, đối với riêng tôi và Việt Nam hay không?  Có phải 2011 kỳ này là một thời điểm giao mùa trên tầm mức thế giới và toàn cầu?  Lại một lần nữa, tôi tin là thế.(2)

 

Nói theo huyền nhân George Gurdjieff, trong cuốn “In Search of the Miraculous” (Đi tìm nhiệm mầu) của P. D. Ouspensky (3) thì điều sai lầm cơ bản của con người thời nay là khi họ cho rằng những biến cố trên thế gian là do con người chủ động.  Thật ra, con người, như là thể loại con người máy móc hiện đại, thì nhân loại chúng ta chỉ là những chiếc “robots” hoàn toàn bị tác động từ một nguyên nhân sâu xa cho một cứu cánh huyền diệu và lớn lao hơn là những chủ đích trần gian.  Gurdjieff nói rằng tất cả chiến tranh, hỗn loạn, cách mạng, đói kém, thiên tai xảy ra không phải vì con người mà chỉ vì ảnh hưởng của các hành tinh ở vào một vị trí nào đó.  Vì vậy, tất cả các biến cố lịch sử trên trái đất này đều có gốc rễ từ vũ trụ – mà vị thế và quỹ đạo chuyển động của các hành tinh trong mối liên hệ đến quả địa cầu là tác năng chính.

 

Có phải đây chỉ là lối suy diễn từ một đầu óc “thiếu khoa học”?  Không hẳn thế. Chúng ta phải nhớ rằng “astrology” (chiêm tinh học) là một khoa học cổ đại về sự liên hệ giữa hành tinh và con người mà bí mật của nó ít còn ai hiểu được.  Ngay cả những triết gia về khoa học lớn như Karl Popper, Thomas Kuhn hay Paul Feyerbend cũng đã không phủ bác khoa học thượng cổ này.  Cái mà khoa học gia thời nay đang theo đuổi, “astronomy” (thiên văn học), chỉ là một khoa học thực nghiệm thuần diễn tả và nhiều thiếu sót.(4)

 

Trong cuốn sách dày và công phu xuất bản năm 2006, “Cosmo and Psyche” (Vũ trụ và Tâm linh),(5) Richard Tarnas đã phân tích rất kỹ về giả thuyết của tính liên hệ giữa hành tinh và lịch sử.  Ông cho biết rằng, căn cứ vào những nghiên cứu thiên văn trong 30 năm qua, thì bắt đầu từ năm 2008 đến 2011, là khoảng thời gian mà ba hành tinh Saturn, Uranus và Pluto sẽ đi vào vị thế “T-square” (T-vuông).  Đây sẽ là một thời kỳ “quan trọng” và “táo bạo” cho những biến cố thay đổi trên toàn cầu với nhiều biến động ảnh hưởng đến toàn bộ lịch sử và tâm thức nhân loại cho thế kỷ 21 này.

 

Từ 2008 đến 2011, Tarnas tiên đoán, sẽ là một thời gian “căng thẳng cực độ,” thay đổi “rung chuyển” và “nổ tung” để xô đẩy những biến cố đến “gia tốc bất thường” cho những hoán chuyển rộng lớn về nhân văn và điều kiện khí hậu đến chính trị, kinh tế toàn cầu.  Thì như chúng ta đã nhìn thấy.  Kinh tế toàn cầu đã đi vào khủng hoảng. Tiếp sau đó, vào năm 2010, khi mà vị thế “T-square” của ba hành tinh trên đã đạt đến cao điểm, thì hai hành tinh, Jupiter và Uranus sẽ đi vào vị thế liên hợp (conjunction).  Thời điểm ấy sẽ là một khúc quanh cho lịch sử nhân loại với những biến cố bất thường lớn lao và toàn diện ở mọi bình diện nhằm đưa nhân loại và địa cầu vào một chân trời lịch sử hoàn toàn mới lạ.

 

Từ cuối năm 2010, thế giới đang đi sâu vào 2011 – và những dấu hiệu đang cho ta thấy rõ rằng thế giới đang đi vào khúc quanh mới và tối quan trọng, mà Richard Tarnas nói đến.  Mọi chuyện sẽ không còn như trước.  Đổi thay trên mọi phương diện sẽ sâu rộng và toàn diện.  Hãy nhìn về Bắc Phi và Trung Đông trong những ngày qua.  Cái gì và ở đâu là kế tiếp?  Theo Tarnas thì  cao điểm sẽ là năm nay và sang năm, 2012.  Chúng ta chờ xem.  Nếu đúng vậy thì Việt Nam và Trung Quốc sẽ không nằm ngoài vòng như một ngoại lệ được.(6)

 

Cũng theo Tarnas và Gurdjieff thì chúng ta vẫn chưa biết nhìn sâu vào nguyên nhân gốc rễ của biến cố trên thế giới như chiến tranh, cách mạng, thiên tai – mà chỉ biết nhìn vào những lý do trên mặt hiện tượng hời hợt.  Với thói quen nông cạn, vì vô minh, thiếu hiểu biết, vốn được giáo dục theo tinh thần thực nghiệm Tây phương, chúng ta sẽ đổ lỗi cho những nguyên nhân bề mặt của hiện tượng – như chính quyền này, quốc gia nọ, chính sách kia, cá nhân đó, hay những lý do mà chúng ta thường hay nói đến là kinh tế, chính trị áp bức, độc tài, xã hội bất công, mâu thuẫn tôn giáo.  Vâng, đó chỉ là những cái cớ phụ thuộc.  Nhân loại thì lúc nào mà không đầy áp bức, bất công, nghèo đói?

 

Vấn đề là cùng với những nguyên nhân bề mặt đó – nhưng con người bắt đầu biết và có can đảm đứng dậy trong tỉnh thức.  Nguyên nhân chính vẫn là yếu tố ý chí con người khi năng lực tâm linh của nhân loại, những góc cạnh sâu thẳm nhất từ tận đáy tim cá nhân, đang bị kích động bởi những siêu lực vô hình từ các hành tinh.  Đây là lúc mà họ không còn ngủ say với thực trạng, không còn ù lỳ, không còn sợ hãi, để can đảm đứng lên mà hòa ca cùng với một vũ trụ đang tỉnh thức từ chính trong nội tâm mình.(7)

 

Từ một chủ thể nhỏ bé như cá nhân, dù là một triết gia hay vị tổng thống, cho đến một quốc gia, khối liên minh đa quốc, hay là một đảng cầm quyền vững chắc, tất cả vẫn chỉ là một hạt cát, những bèo bọt vô nghĩa trong cái đại dương lớn lao của vũ trụ vô vàn.  Nguyên nhân cho biến cố không phát xuất từ quả địa cầu nhỏ bé này, mà ở một tầng trời khác, nơi mà các hành tinh trong vị trí chủ động của Cơ Trời, mới chính là gốc rễ của đổi thay.

 

Khi hành tinh xoay chuyển, nhân loại này sẽ đứng dậy mà đi.  Nói theo Carl G. Jung thì “Tâm ý (psyche) chúng ta được cấu tạo theo cấu trúc vũ trụ, và những gì xảy ra trong đại vũ trụ (macrocosm) thì cũng sẽ xảy ra như vậy trong cõi cực vi (infinitesimal) cũng như trong từng góc cạnh chủ quan sâu thẳm nhất của tâm ý (cá nhân)”.

 

Những ai có mắt và biết nhìn sẽ phải nhận thấy những hệ quả của năng ý Cơ Trời qua các hiện tượng trước mắt.  Khí hậu trái đất đang thay đổi đột biến; kinh tế thế giới vừa qua khỏi khủng hoảng lớn, nhưng tương lai chưa biết sẽ như thế nào.  Trong mấy tuần nay, từ Bắc Phi, Trung Đông, một khối tâm thức nhân loại khổng lồ đang tỉnh thức và đứng lên.  Việt Nam, Trung Quốc có thể sẽ đi vào khủng hoảng kinh tế và xã hội trầm trọng.  Và trước hay sau gì thì khối dân Á Đông thụ động cũng sẽ thức dậy theo tiếng chuông khích động của vũ trụ đang được hồi sinh.  Đây là nguyên nhân mà những người không biết đến  chỉ cho đó là những điều “bất ngờ”.  Trong vũ trụ và trái đất này, không có gì là “bất ngờ” cả.  Tất cả đang cùng đi với Cơ Trời trong một vũ trụ đang tự chính nó nâng cao tầm mức tự-ý-thức cho nhu cầu tiến hóa.

 

Cũng trong cuốn sách trên, Gurdjieff nói rằng, khi mà tâm thức nhân loại, càng đi sâu vào mô hình xã hội Tây phương, bị cuốn sâu vào ý chí vật chất và thuần cảm giác thân xác, đánh mất cứu cánh tính cho hiện hữu, đánh mất tự do ý chí, chỉ còn biết thế gian và đời sống hiện tại là tất cả, thì con người đã đi ngược lại và phản bội cơ năng tiến hóa của tinh thần vũ trụ.  Nếu Cơ Trời bị ngăn trở, thì các hành tinh phải chuyển động – như các con cờ trên bàn cờ chuyển hóa – nhằm kiến tạo lại một cơ năng tiến hóa tâm thức khác bằng  một thể loại văn minh mới.  Theo Gurdjieff thì nền văn minh Tây phương hiện đại chỉ là một thử nghiệm cho một cứu cánh tiến hóa lớn lao.  Tuy nhiên, khối nhân loại và nền văn minh Tây phương này, tức là cả thế giới ngày nay, đã thất bại và đi lạc đường.  Như một chiếc xe đã bị hư hỏng không còn có thể khôi phục hay cải tiến, như là một loại hoa màu đã bị thối rễ và ung thối, văn minh này sẽ phải bị bỏ vào sọt rác thời gian để đào thải.

 

Bi quan hay lạc quan?  Câu trả lời tuỳ theo viễn kiến hiện sinh từ trong mỗi cá nhân.  Mục đích cho cuộc sống là gì?  Chúng ta phải tự hỏi. Liệu những cỗ xe tiến hóa cho nhân loại mà ta từng bám vào xưa nay, như tôn giáo, dân tộc, quốc gia, có còn cần thiết?

 

Nếu như những gì mà Gurdjieff và Tarnas nói là đúng thì thế giới này, kể cả Việt Nam và Trung Quốc, đang chuyển động nhanh chóng và dữ dội về một cơn lốc toàn cầu nguy hiểm – nhưng cũng với nhiều cơ hội phục hưng.  Hay cũng có thể rằng “linh cảm” của tôi lần này, hoặc là học thuyết của Tarnas, cũng chỉ là một loại hư tưởng “thế mạt luận” sai lầm.

 

Dù thế nào, chúng ta hãy mong cho nhân loại này, và cho dân tộc Việt Nam, được tiến hóa đồng nhịp theo đúng nhu cầu “thẩm quyền của một vũ trụ”, nói theo Havel, vốn đang được hồi sinh.

 

_______

Chú Thích:

 

1. Planetary democracy does not yet exist, but our global civilization is already preparing a place for it: It is the very Earth we inhabit, linked with Heaven above us.  Only in this setting can the mutuality and the commonality of the human race be newly created, with reverence and gratitude for that which transcends each of us singly, all of us together. The authority of a world democratic order simply cannot be built on anything but the revitalized authority of the universe.” Václav Havel, “The Spiritual Roots of Democracy. (Trích từ sách đã dẫn của Tarnas)

 

 

2.       Tháng Tư, 2008 tôi đã viết về những thay đổi lớn lao trên thế giới trong vòng từ 2008 đến 2012.  Bài có tựa đề “Thế mạt luận 2008” được đăng trên talawasĐàn Chim Việt ngày 25 tháng Tư. Chỉ hơn ba tháng sau, tháng Tám, khủng hoảng kinh tế và tài chánh toàn cầu đã xảy ra.  Bài này, gần 3 năm sau, là một cập nhật cho bài 2008 trên.

 

3.       P. D. Ouspensky, “In Search of the Miraculous: Fragments of the Unknown Teaching.” (New York: Harcourt, Brace: 1949).

 

4.       Chiêm tinh học (astrology) có giá trị “khoa học” nào không?  Xin đọc “Philosophy of Science and the Occult,” Patrick Grim, Ed., (New York: State University of New York, 1990).  Trong đó, triết gia Paul Feyerbend chỉ trích những khoa học gia đã phản đối chiêm tinh học trong khi họ không hề nghiên cứu hay biết gì về khoa học thượng cổ này.  Ông viết, “The greatest assurance goes hand in hand with the greatest ignorance.” (Sự đoan chắc lớn nhất đi đôi với sự thiếu hiểu biết lớn nhất).  Nhà nghiên cứu về huyền bí thuật Collin Wilson gọi chiêm tinh học là “khoa học của tương lai”.  Cũng nên đọc cuốn sách rất giá trị về đề tài này của Rodney Collin, “The Theory of Celestial Influence: Man, The Universe and Cosmic Mystery.” (London: Penguin Group, 1984).

 

5.       Richrad Tarnas, “Cosmo and Psyche: Intimations of a New World View” (New York: Viking, 2006).  Các trích dẫn của Havel và Jung là từ cuốn sách này.

 

6.        Hiện đang có những giả thuyết về “ngày tận thế” vào ngày 21 tháng 12, 2012 theo lịch Mayan của văn minh thượng cổ Nam Mỹ.  Ở đây chúng tôi không muốn nói đến đề tài nhiều tranh cãi này.  Độc giả nào muốn tìm hiểu thêm thì hãy đọc “The Mystery of 2012: Predictions, Prophecies and Possibilities” của nhiều tác giả, để có một cái nhìn quân bình, tỉnh táo và khoa học hơn.  Hiện tượng tiên đoán “Ngày cuối cùng” hay “Thế  mạt luận” (eschatology) không có gì là mới.  “Ngày Phán Xét”,” Hội Long Hoa”.. chỉ là những huyền thoại hay ẩn dụ.

 

7.      Câu nói “Ý dân là ý Trời” diễn tả đúng ý nghĩa này.  Khi Vũ trụ (Trời) chuyển động, ý chí nhân dân sẽ rung chuyển theo.

 

Nguồn: Tác giả email.

Đỗ Kh. – Xui sao, nước Lào lại không có hải đảo!

5 Comments

Tác giả: Đỗ Kh.

Chuyên mục: Chính trị – Xã hội, Kinh tế – Môi trường
Thẻ:

Vientiane mà tôi biết, 17 hay 18 năm về trước là một nơi rất đỗi hiền lành. Trung tâm phố một vài nơi sao đèn, chỗ nào sáng, chỗ nào lấp lánh thì y như rằng, có thể nói tiếng Việt. Cái hộp đêm (gần như là) duy nhất, mấy cô ca va áo dài ngồi chồm hổm trước lối vào mà ăn me dầm chấm muối trong khi đợi những chàng tài xe tải từ Thanh từ Nghệ từ Thừa đến lốp bốp khui bia. Ở đâu cũng có phở, chí ít là phở Lào, nghĩa là có bánh và có thịt bò với mùi vị đơn giản. Ra khỏi vài con đường chính, thì vỉa hè là đất đỏ, thỉnh thoảng lao xao một cơn gió Cửu Long. Vườn hoa Dinh Chủ tịch còn thả một hai con bò lững thững và ngay cả công an áo vàng có thổi còi cũng là chậm chạp từng quãng ngắn đứt hơi.

Ở tất cả những nơi tôi đã đến, có lẽ Lào là nơi thư giãn nhất, thời gian nhích từ từ như là ở một đảo Nam Thái Bình Dương.

Một tối, từ khách sạn Tàn Lộng Trắng (Le Parasol Blanc), tôi nghe tiếng nhạc rập rình từ xa. Đây ở Vientiane là chuyện lạ và vểnh tai lần theo ồn ào khi được khi mất này sau mươi phút tôi tìm đến một con lộ vắng ngắt và thênh thang. Hai bên đường là những biệt thự lớn chìm trong bóng tối, chỉ có một chiếc nhiều xe con đỗ trước cửa và văng vẳng nói cười. Mấy anh tài và công an hay là bảo vệ gì đó ngồi hút thuốc lập loè trong đêm, nhìn vào bên trong, sau khoảng vườn hoa rộng là một party rộn rã tây đầm. Tôi không có chuyện gì làm và không có ai ngăn cản, nên cũng vào xem chơi, tuy không quen biết ai và dĩ nhiên là chẳng có giấy mời. Nhấc ly rượu, nhón nhén buffet, gật đầu chào người này và cười với người kia, tôi nói chuyện vãn, kiểu tối nay cũng vui và đông đủ nhỉ. Thì ra đó là đại sứ quán Thái Lan (hay tư dinh ông đại sứ tôi cũng không rõ) và tôi đang dự tiệc mừng sinh nhật nữ hoàng của nước láng giềng này.

Nước Lào của tôi mềm như vậy, lây lất hơi Quang Dũng “dữ oai hùm” và những buôn những bản về sau này (tôi nhớ là) của Phạm Tiến Duật.

Bản Lào chúc phúc cho anh

Trắng tinh sợi chỉ hiền lành cột tay

Vientiane, tay tôi ngày ấy cũng có cột một sợi chỉ màu.

Theo một bài báo của tờ Asia Times ngày 8.7.2009 thì nông dân Lào ở tỉnh Attapeu, có lẽ không xa nơi nhà thơ của Binh đoàn 559 từng được chúc phúc, giờ lại đâm ra trở mặt mà than van bị một công ty Việt Nam lấn 60 héc ta đất mà không bồi thường. Theo người dân địa phương, 60 héc ta này trồng cây cao su èo uột chỉ là để làm cảnh, thực ra là để ngụy trang cho việc phá rừng và khai thác lâm sản. Tỉnh Attapeu với 10.000 cây số vuông diện tích có đến 7.000 cây số vuông là rừng chưa khai thác và đến nay đã có 7 công ty nước ngoài đề nghị thuê mướn 67.000 héc ta để trồng cao su. Tại bản Hadsan, cách tỉnh lị Attapeu 20 cây số, một nông dân khác cho biết ông bị cướp 2 héc ta ruộng bởi một công ty khác khiến ông không còn đất để cày. Tháng 5.2007, tại quận Bachieng, tỉnh Champasak, nông dân cho biết một công ty “lạ” dùng xe ủi phá 100 héc ta trồng trọt của họ trước sự nhắm mắt của chính quyền địa phương. Theo Thủ tướng Lào, ông Bouasone Bouphavanh, thì việc cho thuê đất sẽ tạm được đình chỉ diện tích, nhưng sau đó không thấy có động tĩnh gì nữa về việc này. Theo truyền thống thành thật của người Lào, Bộ trưởng Nông nghiệp và Lâm sản thì nói thẳng là chính phủ chưa thể có một đường lối dứt khoát về việc cho nước ngoài thuê đất trồng cao su hay là không cho! Trên nguyên tắc, diện tích khai thác trên 150 héc ta phải được Trung ương duyệt và các đồn điền dưới 150 héc ta chỉ cần chấp thuận của chính quyền các tỉnh.

Tháng 7.2004, Phó Thủ tướng Thongloun Sisolit cho biết nước Lào sẵn sàng cho Việt Nam thuê 50.000-100.000 héc ta để trồng cao su. Công ty cao su Đắc Lắc sau đó đã ký kết một hợp đồng 30 triệu USD để sử dụng 10.000 héc ta tại các tỉnh Champasak, Saravane, Attapeu và Sekong vào việc này. Đến tháng 10.2006, Công ty cao su Đắc Lắc đã trồng được 3.200 héc ta rừng cao su. Công ty Quang Minh thì có hợp đồng 15 triệu USD để thuê 4.900 héc ta tại các tỉnh Sekong và Attapeu. Công ty Viet Nam-Laos Rubber Joint Stock đầu tư 30 triệu vào 10.000 héc ta khác, với giá thuê là 9 USD/héc ta cho một năm. Nhân viên của tổ chức World Rainforest Movement đến thăm làng Makngeo tại tỉnh Champasak cạnh một đồn điền do công ty này khai thác, được dân làng cho biết họ bị lấn đất và trả công khai hoang là 5,25 USD cho 150 mét tức là trên 1 USD một chút cho mỗi ngày.

Phải nói là Việt Nam không có độc quyền thuê đất, Thái Lan ở miền Tây cũng trồng cao su và Malaysia trồng dầu dừa. Chính sách của Trung ương tại Lào là phát triển nông nghiệp bằng cách cho nước ngoài thuê đất, Trung Quốc tại miền Bắc và Việt Nam tại miền Nam nước Lào. Thí dụ gần nhất, tháng 12.2009, công ty cao su Hà Tĩnh ký một dự án khai thác 600 héc ta tại tỉnh miền trung Borikhamsay với Đoàn Thanh niên của tỉnh này, hứa hẹn 30% tiền lời khai thác dành cho đoàn. Trong bản đưa tin Lào bằng Anh ngữ, Công ty cao su Hà Tĩnh bị viết nhầm thành “Ha Tinh Robber (ăn cướp) Company” thay vì “Rubber”!

Theo Bộ Nông nghiệp Việt Nam thì các công ty Việt Nam có 30.000 héc ta đồn điền tại Lào và 2.000 héc ta tại Cam Bốt trên tổng số khai thác năm 2010 là 700.000 héc ta với doanh số xuất cảng hiện nay là 1 tỉ USD. Dự tính cho 2015 là gia tăng diện tích khai thác lên 800.000 héc ta, chưa rõ bao nhiêu là ở nước ngoài nhưng hẳn là sẽ không phải ở… Trung Quốc, mà nghe đâu là Myanmar với lại Nam Phi.

Đối với thế giới thì việc thuê đất nước ngoài của Việt Nam không thấm thía gì bao nhiêu, nếu so với Trung Quốc tại châu Phi, các quốc gia Ả-rập vùng Vịnh cũng tại châu Phi hay là tại Indonesia, Cam Bốt trong tương lai. Đó là không kể đến dự tính bất thành của Hàn Quốc định thuê một nửa diện tích canh tác của Madagascar để bảo đảm nguồn kim chi http://www.fpif.org/articles/global_land_grab!

Nhưng với nước Lào, có lẽ thế cũng là nguy hiểm cho chủ quyền kinh tế và quân sự. Tiếc thay cho nước này, lại không có vài ba hải đảo, nếu không thì đã có cái may được sáp nhập thành một huyện của tỉnh Đà Nẵng hay Quảng Bình?

© 2010 Đỗ Kh.

© 2010 talawas

Bài mới của LS Nguyễn Hữu Liêm

1 Comment

Trí tuệ Gracian: Từ trong chính bạn, hãy chinh phục khuyết điểm của dân tộc mình.

Trong một chiều ngày cuối năm, ngồi trong văn phòng một mình ở trường Đại học Thành phố San Jose, California tôi nhìn ra bãi cỏ xanh và cảm nhận được một nỗi bình an giữa mùa đông đơn giản.  Vươn tay lấy cuốn “The Art of Worldly Wisdom” của Baltasar Gracian nằm trên  kệ sách trước mặt, tôi gác hai chân lên bàn.  Dở nhanh các trang, tôi đọc lại những đoạn văn mà tôi đã gạch dưới.  Lạ thật!  Những điều này tôi đã đọc nhiều lần, trích dẫn rồi, mà vẫn còn như mới.  Tiếng chuông báo thức cần phải reo lên nhiều hồi.

Gracian viết: “Từ trong chính bạn, hãy cố gắng chinh phục được những khuyết điểm của dân tộc mình.  Giòng nước, dù có trong sạch bao nhiêu, cũng phải bị ảnh hưởng bởi đất sỏi mà nó đã chảy qua.  Cũng như thế, con người nhuốm màu sắc văn hóa dân tộc mà mình đã sinh ra và lớn lên. Kẻ thì ít, người thì nhiều, tất cả đều là sản phẩm của văn hóa cộng đồng.  Không có một dân tộc nào mà không mang một số khuyết điểm văn hóa.  Do đó, hãy ý thức được những bản chất tiêu cực văn hóa của mình để mà loại trừ nó ngay trong chính bản thân.  Hay ít nhất thì cũng che đậy chúng.  Mỗi cá nhân là một tập hợp của nhiều khuyết điểm, từ di truyền, gia đình, cộng đồng đến thời đại.  Nếu không nhận thức ra những khuyết điểm này, và nếu không cẩn thận để trau dồi bản thân và kiềm chế chúng, con người sẽ trở thành những dị vật xấu xa.”

Baltasar Gracian là một tu sĩ giòng Jesuit ở Tây Ban Nha vào thế kỷ thứ 17.  Những tư tưởng của ông đã ảnh hưởng đến những vĩ nhân lịch sử, từ Schopenhauer đến Churchill, Nietzsche và Gide. Riêng trường hợp Churchill, người hùng của Anh quốc trong thế chiến thứ Hai, đã từng mang trong túi cuốn sách nhỏ của Gracian, “The Art of Worldly Wisdom.”  Những gì mà trí tuệ của Gracian phát xuất từ mệnh lệnh triết học cổ đại từ Phật Thích Ca, Khổng Tử và Socrates.  Đó là “Know Thyself” – hãy biết đến chính mình; hãy minh tâm kiến tánh.  Và một trong những cái biết quan trọng nhất là hãy biết mình đang không biết gì và đang có những khuyết điểm nào.

Trong tinh thần đó, những trí tuệ về nghệ thuật sống ở đời là sự khai mở những nguyên lý triết học để áp dụng vào thực tế cuộc đời.  Cái quý của Gracian là những lời cố vấn, khuyên nhủ cho con người, ở khắp nơi, và mọi thời, phải sống theo cái đạo làm người mà tiền nhân dù đã khai lối, nhưng vẫn còn mơ hồ cho con người và thời đại hôm nay.

Chúng ta hãy đọc tiếp Gracian từ cuốn sách trên.  Ông nhấn mạnh rằng, đối với mỗi cá nhân, sau khi đã ý thức đến những khuyết điểm của chính mình, thì bước cần thiết kế tiếp là phải tu sửa những khuyết khuyết đó.  Không có ai là con người tốt đẹp hay thành công nếu không mang nỗ lực liên tục không ngừng nghỉ để trau dồi và hoàn chỉnh nhân cách và nghệ thuật sống.  Gracian viết,

“Thiên nhiên và nghệ thuật, vật liệu và tài nghệ.  Không có cái đẹp nào mà không được xây đắp, không có sự ưu việt nào mà không bị rơi vào man rợ, nếu không được cứu vớt bởi nghệ thuật.  Nghệ thuật tế độ cái xấu và toàn hảo cái tốt.  Trạng thể siêu hạng của thiên nhiên thường bỏ rơi chúng ta; vì thế, hãy nương trú vào nghệ thuật.  Cái đẹp nhất của thiên nhiên vẫn là sống sượng nếu không có nghệ thuật, và cá nhân giỏi nhất cũng mất đi một nửa nếu hắn không có văn hóa.  Khi cá nhân, dù nhiều tài nghệ đến đâu, mà không được vun bồi từ giáo hóa, hắn chỉ còn là một kẻ hề vốn cẩn phải được trau chuốt.”

Một trong một nghệ thuật để thăng tiến văn hóa cho bản thân, theo Gracian, là học hỏi trong tinh thần Khổng Mạnh, “Tam nhân đồng hành tất hữu ngã sư.”  Hãy nhìn ra và hiểu được những bài học trong bất cứ trường hợp nào, khi giao du với bất cứ ai.

“Hãy sống với những người mà mình có thể học hỏi; hãy để sự quen biết trở nên một trường đời cho kiến thức, và mối giao thiệp cho văn hóa.  Hãy biến bạn hữu thành những người thầy để biến niềm vui thân thiện thành lạc thú học hành.  Hạnh phúc của những kẻ hiểu biết là hỗ tương, được tưởng thưởng khi phát ngôn tương đồng với những gì được nhận, và những gì họ nghe bằng với cái học được.  Vì lợi ích cá nhân mà họ tìm nhau, nhưng trong trường hợp này, nó được vinh quang lên.  Khi muốn là một con người hiểu biết thì bạn sẽ tìm đến những căn nhà nơi có những cá nhân thanh lịch và chính trực, chứ không phải là vì lòng tự hào hãnh tiến.”

Theo Gracian, mỗi cá nhân, ngoài những khuyết điểm mà dân tộc và giòng họ mình truyền cho, ngược lại họ cũng mang những ưu điểm tự nhiên.  Vì vậy, phát huy sở trường, chinh phục sở đoản là mệnh lệnh tiến hóa.

“Hãy biết đến cái gia tài lớn của riêng mình là gì, tài năng của ta nằm ở đâu, để mà vun bồi chúng.  Bất cứ ai cũng có một số tài năng mà mình chưa tận dụng.  Hãy khám phá chúng để mà khai thác đến tột đỉnh.  Kẻ thì khôn ngoan trong phán đoán, kẻ thì can đảm trong ý chí.  Bởi vì phần đông con người vi phạm sở trường của mình để mà vươn lên trong sở đoản.  Cái gì mà khát vọng được thoả mãn quá sớm thì nó sẽ trở nên quá trễ đến khi nhận ra khuyết điểm của mình.”

Mỗi người đều là một mức độ của giới hạn, từ tiến hóa tâm thức, đến thời đại lịch sử, hoàn cảnh gia đình, khả năng bẩm sinh.  Vì thế từ cột mốc hữu hạn mà mình đang sống, Gracian khuyên,

“Hãy suy nghĩ chính chắn đến cái gì là quan trọng nhất cho đời mình.  Kẻ ngu thường bị mất hướng vì thiếu suy nghĩ, chỉ thấy mơ hồ một ít cái lợi, một ít cái hại, để mà cố gắng, nỗ lực cho cả hai chiều.  Một số thì cố gắng toàn bộ cho những chuyện không đâu, mà lại không có nỗ lực nào cho những chuyện tối cần.  Khi có chuyện đáng suy nghĩ chính chắn thì là lúc họ bị sai lầm nhiều nhất.  Phần lớn họ mất đầu vì họ không có cái đầu.  Kẻ thông minh bao giờ cũng suy tưởng chính chắn về mọi chuyện và phải biết phân biệt cái gì là hay, là quan yếu.  Họ sẽ đào sâu hơn cho triển vọng cuộc đời khi biết rằng mỏ quí bao giờ cũng nằm sâu dưới lòng đất, nhiều hơn là họ biết đến.  Làm như thế, kẻ khôn ngoan là người biến triển vọng thành thực tại.”

Và biết đến cái đức hạnh của tính kiên nhẫn.  Cây cổ thụ mọc lâu hơn là chùm rau cải, nhưng nó sẽ to lớn, vững chắc và trường thọ hơn.

“Kẻ nào biết chờ đợi là kẻ mà trái tim có khả năng kiên nhẫn.  Hãy đừng hấp tấp, nóng nảy.  Hãy làm chủ chính mình để mà làm chủ tha nhân.  Thời gian là khoảng đường mà bạn phải trải qua để đi đến mục đích.  Sự chờ đợi trong cẩn trọng sẽ đem đến thời điểm thành đạt và chín mùi cho những gì đang chờ.  Cây gậy què của thời gian có khả năng hoàn tất nhiều chuyện hơn là cây búa sắt của Hercules.  Tạo hóa không chuyển hóa bằng roi vọt mà bằng thời gian.  Chân lý là như vầy: Thời gian và Ta sẽ chống chọi được với tất cả.  Thời vận sẽ choàng vòng hoa tươi đẹp nhất cho kẻ biết kiên nhẫn, đợi chờ.”

Ai trong chúng ta cũng có những chuyện hằng ngày làm cho không vui, bực bội.  Trong cộng đồng cũng thế.  Nhưng, cái khó là,

“Hãy đừng quan trọng hóa những chuyện vốn nhỏ nhặt.  Có kẻ thường có tật dựng chuyện lớn từ việc nhỏ, luôn làm ra vẻ to tát, bí ẩn với cái vặt vãnh tầm thường.  Biến những chuyện vô nghĩa thành mối quan tâm là không nghiêm chỉnh quan tâm vào chuyện gì cả.  Đó là một thói quen chất vào tim những điều mà ngay cả đôi vai mình cũng không thèm gánh.  Nhiều chuyện ở thế gian này có vẻ như là nghiêm trọng, nhưng thực ra, nếu bạn biết bỏ qua thì chúng sẽ trở thành hư không.  Hãy làm ngơ từ khởi đầu, đừng chờ đến khi ta dính vào quá sâu thì đã trễ.  Có những toa thuốc vô ích chỉ tổ tác bệnh cho mình thay vì chữa lành một cơn đau vốn chưa hề có thật.”

Nuôi cao vọng cho đời, bởi vì, theo Gracian, người không mang lý tưởng cao đẹp và to lớn sẽ không bao giờ nâng chính mình lên với tầm cao của ước nguyện.

“Cao vọng là bước tiên khởi cho kẻ anh hùng.   Nó thôi thúc mình tiến bước, thăng hoa khả năng thẩm mỹ và phán đoán, khơi sáng nhịp tim, quang minh tri thức, cao thượng hóa tinh thần, và nhân phẩm hóa cá tánh.  Cao vọng sẽ soi tỏ từng bước đi, và dù khi mà số phận làm cho bạn ngã xuống, nó sẽ vực bạn dậy để trở lại chiến trường lần nữa, củng cố ý chí, để biến mình, trong mọi nghịch cảnh, trở nên là người tha thứ, rộng lượng, và can đảm.”

Nhưng cao vọng không đồng nghĩa với tham vọng mù quáng.  Cao vọng phải đồng nghĩa, xứng đáng và tương đồng với giá trị tinh thần trong lý tưởng làm người.  Khi cá nhân mang nhiều tham vọng mà không được điều hóa bởi tinh thần cao thượng và trong sạch, hắn sẽ trở nên kẻ ngu xuẩn.  Cao vọng là tinh thần thăng tiến; tham vọng là mâu thuẫn nội tại.

Còn một yếu tố nữa.  Đó là thời vận.  Sông có khúc, người có lúc.  Đừng quên rằng,

“Hãy biết cái mức độ hên xui của mình để mà sử dụng nó – hay là biết rút lui khỏi bàn tay thời vận khi không còn hên.  Khi đang ở trước tuổi 40, bạn là thằng ngốc nếu không biết tham khảo đến Hippocrates (cha đẻ y khoa Tây phương); lại càng ngốc hơn, nếu ở 40 mà bạn vẫn không biết học từ trí tuệ của Seneca (triết gia La Mã).  Muốn lèo lái được vận may, ta phải thật khéo tay, khi thì cần kiên nhẫn, khi thì phải đốc thúc hành động.  Vận may có thời khắc và mức độ của nó, dù khó mà biết, nhưng điều chắc chắn là sự bất thường.  Khi thời vận đã đến, hãy tác hành, vì vận may yêu mến kẻ dám liều, cũng như can đảm thì yêu tuổi thanh xuân.  Kẻ nào biết thời đã đến mà không ra tay thì nên hãy về nghỉ hưu, vì ở đó, vận rủi sẽ chồng chất lên số kiếp của mình.”

Hãy nhận chân ra giá trị trong tất cả sự việc, tốt hay xấu.  Như Chúa Jesus đã nhìn ra hàm răng trắng nõn trong một xác chết của con chó bên đường mà đệ tử của ngài muốn tránh.  Gracian cũng vậy, “Kẻ khôn ngoan biết đến giá trị của mọi thứ bởi vì hắn nhận ra cái đẹp trong mọi việc, và biết đến cái gì cần phải làm cho mọi việc có thể tốt đẹp hơn.”

Còn trong những lúc bất đồng ý với tha nhân, Gracian khuyên làm người có trí tuệ thì,

“Hãy đừng là một kẻ đối thủ rẻ tiền.  Mọi cố gắng để được nổi bật hơn đối thủ sẽ làm cho bạn thấp đi, bới vì bản chất của cạnh tranh là tung bùn đen để làm dơ bẩn kẻ khác.  Rất ít kẻ nào có khả năng tham dự một cách công bằng vào tương tranh, vì bản chất đối nghịch sẽ phơi bày nanh vuốt mà phép xã giao lịch thiệp đã từng che đậy…  Trong nhiệt lượng của trận chiến, người ta sẽ khơi dậy những hận thù đã chôn vùì từ lâu, và đào lên những gì thối tha vốn đã quên lãng.  Tranh đua thường khởi đi từ mạ lỵ và… sự xúc phạm không phải là mục tiêu của chiến thắng, nhưng mà kẻ vang lời xúc phạm cảm thấy hả dạ trong những lời mắng mỏ của họ…  Nhưng, với những con người có thiện ý bao giờ họ cũng sẽ được bình an, và kẻ trọng danh dự là kẻ có thiện ý vậy.”

Và, tối hậu thì vẫn là niềm hạnh phúc.  Cứu cánh của cuộc đời, theo Aristotle, là hạnh phúc và bình an.  Hãy biết an vui cho từng thời khắc hiện hữu giữa thế gian này.  Vì, theo Gracian,

“Ở thiên đàng thì chỉ có an vui.  Ở điạ ngục thì chỉ có buồn đau.  Trên quả địa cầu, vì là ở giữa, nên khi thì vui, khi thì buồn.  Chúng ta chia sẻ cuộc sống trong cả hai cõi.  Thời vận đôi khi lên, có khi xuống.  Thế gian này là con số không, và chỉ có nó mà thôi thì trị giá hoàn toàn vô nghĩa; nhưng khi kết hợp với thiên đàng thì nó trở nên vô giá.  Không màng tới số phận là chuyện đời thường, nhưng mà không ngạc nhiên vì thời vận thì đó mới là trí tuệ.”

Gracian tiếp, “Cuộc đời chúng ta càng sống có vẻ như càng trở nên phức tạp.  Tuy nhiên, sự sống thì thực chất chỉ như là một vở hài kịch, càng về sau càng trở nên đơn giản.  Và nhớ rằng, tất cả các vở hài kịch đều có một kết cuộc thật vui.”

Trong tinh thần của những ngày lễ cuối năm, tôi mong bạn đọc xa gần được một nỗi an vui giản dị.

Nguồn tác giả gửi

thôn Sấu

Quê hương yêu dấu (Dọc hành chấm đứng). Xin các bạn vui lòng ghi rõ nguồn và dẫn link đến trang này nếu đăng lại bài của tôi

thienthanh2017.wordpress.com/

Thượng thiện nhược thủy, thủy thiện lợi vạn vật nhi bất tranh - Lão Tử

Học Thế Nào

How We Learn

leminhkhaiviet

About Vietnamese Cultural History and Scholarship

Xuân Bình

Nhà báo tự do

Nguyễn Huy Hoàng

the star is fading

Nghiên cứu lịch sử

Các bài nghiên cứu, biên khảo và dịch thuật các chủ đề về lịch sử

Le Minh Khai's SEAsian History Blog

Always rethinking the Southeast Asian past

trinhythu

Trịnh Y Thư WordPress.com site

trandangtuan.com

Men lá rượu ngô trong

4th Avenue Café

Free non-fiction translation

WordPress.com

WordPress.com is the best place for your personal blog or business site.

Trương Thái Du's Blog

Văn chương thiên cổ sự - Đắc thất thốn tâm tri...

No More Goat Soup

No goats were harmed in any way while making this blog. (We did kill all the sheep though)