Chùm ảnh: ‘Hậu duệ Hai Bà Trưng’ trên đảo Sumatra

3 Comments

Chùm ảnh: ‘Hậu duệ Hai Bà Trưng’ trên đảo Sumatra

Cuộc sống muôn màu
Đăng ngày Thứ ba, 23 Tháng 7 2013 10:32

Các nhà nghiên cứu ở Indonesia tán thành giả thuyết người Minangkabau đến từ Việt Nam. Nhiều đoạn phim quảng bá du lịch cho đảo Sumatra đã tuyên bố tổ tiên người Minangkabau là người Việt đã di cư đến Nam Dương bằng thuyền, nhằm nhấn mạnh sự độc đáo của nền văn hóa Minangkabau.

>> Chùm ảnh: Tộc người rất giống người Việt cổ trên đảo Borneo

>>  Ngắm nhà sàn Indonesia giống hệt hình vẽ trên trống đồng Việt

Theo giả thuyết nhà nghiên cứu độc lập Trương Thái Du đưa ra, sau thất bại của cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, vào cuối năm 43 một bộ phận người Việt đã lên thuyền ra khơi và dạt vào Eo biển Malacca nhờ gió mùa Đông Bắc. Tiếp đó, họ định cư tại khu vực phía Tây đảo Sumatra và trở thành dân tộc Minangkabau ngày nay. Ảnh: Cô dâu và chú rể người Minangkabau trong đám cưới.

Tộc người này theo chế độ thị tộc mẫu hệ giống như người Việt cổ. Người nữ giữ quyền thừa kế trong thị tộc gọi là Turun Cicik, em gái của Turun Cicik nằm trong hàng thừa kế thứ hai gọi là Turun Nyi. Hai danh xưng này rất giống tên gọi của hai chị em Trưng Trắc, Trưng Nhị. Ảnh: Phụ nữ Minangkabau trong trang phục truyền thống.

Kiến trúc truyền thống Minangkabau là những ngôi nhà mái cong vút như cặp sừng trâu, có đường nét giống với nhà sàn hình thuyền trên trống đồng Đông Sơn, được gọi là Rumah Gadang.

Rumah Gadang được thiết kế theo kiểu giống nhà sàn, phần sàn nhà cách mặt đất độ gần 2m, bên trong được chia làm ba phần thông thoáng nhau không có vách ngăn cách, gian chính ngay giữa nhà là gian tiếp khách, còn lại là khu giường ngủ và bếp. Nhà kho chứa nông sản được xây cất riêng, cũng có mái cong như nhà chính.

Những ngôi nhà Rumah Gadang vừa là nơi cư trú, vừa là nơi gặp gỡ hội họp trong gia đình và tiến hành những hoạt động nghi thức cộng đồng. Chúng được truyền đời từ mẹ, sang con gái, và cứ thế nối tiếp đời nọ đến đời kia.

Một nét độc đáo khác thể hiện giá trị văn hóa đặc sắc trong xây dựng là những chi tiết trang trí được thể hiện tinh xảo bằng lối chạm khắc, phối màu sặc sỡ phủ kín quanh nhà từ chân cột lên đến nóc mái. Nhà của trưởng làng – một phụ nữ – thường là ngôi nhà lớn nhất, điêu khắc đẹp nhất.

Người Minangkabau có sự tích về kiểu kiến trúc “sừng trâu” của Rumah Gadang như sau: Ngày xưa có một mối bất hòa giữa người Minangkabau và người Java, và hai bên thỏa thuận chọi trâu để phân định. Người Java đưa ra một con trâu khổng lồ, trong khi người Minangkabau lại dùng một con nghé con, bị bỏ đói nhiều ngày và trên đầu buộc con dao sắc…

Khi vào trận con nghé đói tưởng trâu là mẹ mình, lập tức rúc vào bụng trâu để bú. Con trâu mộng đã bị hạ gục vì dao đâm thủng bụng, và người Minangkabau chiến thắng. Cũng theo sự tích này Minang nghĩa là chiến thắng, kabau là trâu.

Sự tích kể trên tương đồng gần như hoàn toàn với một giai thoại dân gian nổi tiếng của người Việt Nam về chuyện Trạng Quỳnh dùng nghé đấu với trâu chiến của sứ giả Trung Hoa. Phải chăng đây là hai dị bản của một câu chuyện đã có từ thời các cư dân Việt cổ?

Người Minangkabau ngày nay theo đạo Hồi, nhưng tín ngưỡng nguyên bản của họ là thuyết vật linh (thờ linh vật, tin rằng vạn vật có linh hồn). Theo nhiều nhà nghiên cứu, thuyết vật linh là tín ngưỡng đầu tiên của dân tộc Việt, trước khi các đạo Nho, đạo Lão và đạo Phật du nhập. Ảnh: Một điệu múa truyền thống của người Minangkabau.

Cư dân Minangkabau sinh sống bằng nghề trồng lúa từ lâu đời, và họ cũng có tục ăn trầu nhuộm răng cùng nhiếu nét văn hóa khác gần gũi với người Việt.

Các nhà nghiên cứu ở Indonesia cũng tán thành giả thuyết người Minangkabau đến từ Việt Nam. Nhiều đoạn phim quảng bá du lịch cho đảo Sumatra đã tuyên bố tổ tiên người Minangkabau là người Việt đã di cư đến Nam Dương bằng thuyền, nhằm nhấn mạnh sự độc đáo của nền văn hóa Minangkabau.

Ngày nay có hơn 4 triệu người Minangkabau sinh sống tại tỉnh Tây Sumatra, trong khi có hơn 3 triệu người khác sinh sống rải rác tại nhiều thành thị của Indonesia và bán đảo Mã Lai. Nam giới Minangkabau nổi tiếng là những nhà kinh doanh giỏi do phải đi lập nghiệp xa và giao nhà cửa cho người phụ nữ quản lý.

Theo KIẾN THỨC

Trả lời tác giả “Bố tôi chết vì ung thư tử cung”!

3 Comments

IMAG0251
Hai năm rưỡi nay tôi hầu như không viết gì, lâu lâu copy và paste những điều lý thú trên mạng hoặc từ email của bạn bè khắp nơi chia sẻ. Hôm nay giật mình khi nhận được thị phi ở đây:

“Thứ hai là ông Trương Thái Du, một con người điển hình của nói năng điềm đạm, nho nhã, nhưng thật ra vô cùng thâm hiểm. Tôi thấy ông Trương Thái Du chỉ thỉnh thoảng đi đâu đó nói câu này câu kia ra cái vẻ khách quan lắm, như là chỉ phê phán tôi vừa phải thôi, nhưng tôi cũng là người biết quan sát, tôi biết ông Trương Thái Du hả hê lắm. Bởi thật ra, trước đó, đã có lần ông Trương Thái Du nhờ tôi đọc rồi nhận xét hộ truyện ngắn cho ông, thì tôi đã từ chối thẳng. Tôi biết với ông, như thế là một sự sỉ nhục, nhưng tôi xin lỗi, với tôi, sẽ là sỉ nhục nếu phải đọc văn ông. Tôi là người không bao giờ để lộ ra các chi tiết liên quan đến nghề nghiệp, nhưng tôi xin phá lệ một lần để nhận mình chính là người từng bỏ phiếu chống đăng truyện của ông trên một trang web, khi tôi ở trong ban biên tập tại đó. Đến bây giờ, tôi vẫn giữ nguyên quan điểm, văn chương Trương Thái Du là văn chương tôi không thể đọc được.”

Thật là rầy rà và quá đỗi ngạc nhiên.

Là một người viết không chuyên, vô danh, hoạt động chủ yếu trên mạng, điều tôi nhớ rất rõ là tôi từng nhiều lần, ở nhiều thời điểm, gửi bản thảo của mình cho rất nhiều địa chỉ email. Đó có thể là email của một NXB, một chủ trang web, một người hoạt động trong giới văn chương .v.v… Phần lớn các email ấy không được trả lời, một số ít phản hồi, để cuối cùng tôi chỉ có được hơn chục truyện ngắn đăng ở báo Văn Nghệ, Tuổi Trẻ; hai quyển sách ở NXB Lao Động và NXB Văn Học; góp mặt trong một hai tuyển tập của NXB Trẻ.

Điều tôi không thể nhớ rõ là đã email thẳng cho Cao Việt Dũng hoặc là email đến NXB do Cao Việt Dũng phụ trách.

Do đó rất dễ hiểu, tôi không thể có tư thù với Cao Việt Dũng vì anh ta từ chối đọc bản thảo của tôi.

Tôi chỉ mới biết Cao Việt Dũng vài năm trở lại đây, qua các bài lăng xê trên báo và một hai bản dịch. Có lần tôi chê một nhà văn nữ, và được bạn đọc nhắc nhở đó là vợ anh ấy:

“Nhiều cách sống” thì thất bại thảm hại. Vừa đọc vừa chê và quyết tâm gấp chéo những chỗ “lưu ý” để “nhặt sạn”, nhằm hóa cải một quyển sách dở thành “bài học nên tránh”… Phải chăng đây là cách “tiết kiệm” hiệu quả tiền bạc lẫn thời gian?

Tựa sách: Hóa ra là xén một câu của nhà văn hạng hai Nhật Bản Murakami.
Tên nhân vật chính: Lâm Lâm nhé. Bỗng nhớ đến chị hai sến nhão “Em xinh không?” mới đổi bút danh thành Đình Đình. Cảm giác như là bị ép dùng con xe máy Hongda Tàu giả Honda Dream Nhật đi du lịch liên tỉnh vậy.
Nội dung: Nhạt từng xăng ti mét. Hư cấu rất giả tạo từ sự kiện đến tình tiết. Chẳng hạn trang 36, cô gái ngồi ghế trước taxi bốn chỗ (cạnh lái xe) có thể nhìn qua kính chiếu hậu (dành cho lái xe) mà tả cảnh ở băng sau như phim hành động USA.”

Cái kiểu “bẻ kính chiếu hậu” của Nguyễn Quỳnh Trang, gần đây tôi thấy rất giống “Đánh dấu mạn thuyền” của Phan Việt.

“Phan Việt. Tiếng Người (Kindle Locations 2220-2223). trongtk2305@gmail.com (TVE).

Những chiếc côngtennơ đung đưa trong không trung theo chiều xoay của những cánh tay cẩu dài. Mực nước buổi chiều trên sông Sài Gòn xuống thấp, để lộ vạch nước bám trên thân con tàu và hàng chữ ASEAN PREMIER ở mũi. Mũi tàu dốc đứng, vát một vạt nước chéo trên mặt nước đục.”

“Bố tôi chết vì ung thư tử cung” nằm trong hệ thống sai lỗi điển hình của các tác phẩm văn chương Việt Nam, đó là thiếu vốn sống phổ thông.

Nếu đủ vốn sống thì Nguyễn Quỳnh Trang đã biết rằng gương chiếu hậu một chiếc xe hơi chỉ dành cho tài xế chứ không phải người ngồi bên cạnh.

Nếu đủ vốn sống thì Phan Việt phải hiểu rằng con tàu nổi trên nước, cho nên nước lên hay xuống thì cũng là ngấn nước ấy, nó không thể làm lộ cái gì ra cả.

Nếu đủ vốn sống thì Cao Việt Dũng không thể lướt qua câu văn “Bố tôi chết vì ung thư tử cung” một cách cẩu thả như thế.

—————-

“Tiên trách kỷ, hậu trách nhân”, thế mà trong entry dài dằng dặc đã dẫn, chúng ta chỉ thấy Cao Việt Dũng “trách nhân”. Thật đáng tiếc. Đáng tiếc hơn nữa là đã đưa tên một kẻ vô danh vào cuối bảng phong thần để trách, để quảng cáo không công cho nó!

Tất cả những nhận xét đây đó của tôi về anh Cao Việt Dũng, đều xuất phát từ tâm thế một người đọc mà thôi. Những người đọc bình thường như tôi, một khi đã nhìn thấy cái sai lỗi mang tính hệ thống của tác giả – dịch giả, thì hận lắm, đau lắm. Vì mình đã tốn tiền (mua sách), tốn thời gian với những thứ không đáng bận tâm.

Acsimet đã nói: “Hãy cho tôi một điểm tựa, tôi sẽ nhấc bổng quả đất lên”. Cao Việt Dũng nên tựa vào một lời xin lỗi bạn đọc cả nước, bước qua định kiến, tiếp tục làm việc để trở thành một dịch giả lớn.

Nếu không có dũng khí như Dostoevsky, so sánh Raskolnikov với Napoleon, để đưa “Tội ác và trừng phạt” lên tầm nhân loại; thì cũng nên bình thản chơi đùa với “Trái cóc xanh” nhằm tự giễu cợt mình, nhắc nhở mình trên con đường văn chương “Đắc thất thốn tâm tri”!
IMAG0252

Mỹ và Pháp đạo nhạc Trịnh Công Sơn!

66 Comments

Sau entry “Nghi án Trịnh Công Sơn copy nhạc“, phản hồi thật sự nằm ngoài tưởng tượng của tôi. Entry ấy tôi viết trên blog cá nhân, một dạng nhật ký cá nhân với những dấu hỏi và hy vọng được thỉnh giáo giới chuyên nghiệp. Logic rất đơn giản, tôi từng là khách hàng trả tiền cho những sản phẩm âm nhạc của TCS, tôi có quyền đặt câu hỏi. Bạn sẽ làm gì nếu một ngày đi mua trứng vịt lộn mà bị bán cho trứng cút lộn?

Từ nhật ký cá nhân lên Báo điện tử thì vấn đề đã trở nên hoàn toàn khác. Người đọc Báo điện tử không còn là vài chục bạn bè thường ghé qua blog tôi mỗi ngày nữa. VTC khai thác ngay nguồn tin mà không đắn đo được mất. Thanh Niên tinh đời hơn, họ có nửa trang nhất hoành tráng với ảnh lấy từ gia đình TCS và một cái tựa về bản chất chả khác gì VTC nhưng khó bắt bẻ. Được dịp, nhiều nhạc sĩ và ca sĩ đua nhau múa mép một cách đầy cảm tính, đôi khi xỉ vả tôi không tiếc lời.

Tôi đã thầm nhủ chấm dứt từ hôm qua với việc sửa chữ “đạo” thành “copy” cho nó nhẹ nhàng, tuy trong lòng bức bối không kể xiết. Tuy vậy, như người ta thường nói “Ở hiền gặp lành”, “Cây ngay không sợ chết đứng”, hôm nay có hai độc giả của tôi gửi đến cho tôi hai cặp ca khúc có nét giống nhau không khác gì “Con mắt còn lại” và “The syncopated clock”. Rút kinh nghiệm “xương máu” tôi kết luận ngay chính người Pháp và người Mỹ đã đạo nhạc Trịnh Công Sơn. Tôi hy vọng nhạc giới Pháp và Mỹ đừng cảm tính như nhạc giới Việt Nam, trả lời giúp tôi nghi án mới này.

1. The Syncopated Clock đạo Con mắt còn lại.

2 và 3. Domino là bản nhạc mở đầu mà bất cứ người học Guitar nào cũng gặp. Nó đạo bài “Diễm xưa” và “Rừng xưa đã khép” của Trịnh Công Sơn: Hai bản nhạc này cùng giọng, ba nốt làm nên motive chủ đạo lập đi lập lại rất giống nhau SI ĐÔ SI – LA SI LA. Điều khác nhau ở hai bản này chỉ là nhịp 3/4 và 2/4 và những nốt phát triển lên từ motive chủ đạo. Thoạt nghe khó nhận ra hơn “Con mắt còn lại” và “The syncopated clock”.

4. Harlem Nocturne đạo bài “Hạ trắng” của Trịnh Công Sơn: Có hẳn một câu gần giữa, giống như hai trẻ sinh đôi cùng trứng.

5. Boulevard tiếp tục copy “Chiếc lá thu phai“. Kiểu này thì “Hồ sơ thần copy” chắc còn dài lắm.

6. Chủ Nhật Buồn nhạc Tây. Đạo bài Lời buồn thánh của Nhạc sĩ vĩ đại của thế giới – TCS

Extra Bonus: “Blowin in The Wind” của nhạc sĩ, chủ nhân giải Nobel văn học 2016 đã copy ý tưởng “Để gió cuốn đi“.

———-

Xin người đọc tự đánh giá khi nhấn vào các link đã ẩn tại mỗi bài hát. Tôi cấm tất cả những ca sĩ và nhạc sĩ đã bình luận và bênh vực cho TCS trên các báo không được bênh vực người Pháp và người Mỹ trong trường hợp này, để tránh cảm tính “ghét cay ghét đắng” văn hóa tư bản thực dân, dẫn đến những kết luận không tỉnh táo và thiếu lý trí.

Ảnh minh họa: Bên trái, quyển sách cáu bẩn thời gian vì tôi đã sử dụng hồi bé và bây giờ sắp đến con gái 8 tuổi của tôi sử dụng để học đàn Piano. Bên phải là quyển ca khúc TCS thời sinh viên tôi đã mua, giá của nó cao hơn học bổng 40 ngàn đồng tháng của tôi. Hóa ra tôi đã phí tiền mua quyển sách có bài nhạc Pháp kia, vì nhạc sĩ đã đạo bài “Rừng xưa đã khép” của TCS. Tôi sẽ kiện NXB trả lại tiền cho mình.

——————–

Cập nhật 17.04.2011:

Không như lý luận siêu phàm của một số người là tôi rảnh quá, không có việc gì làm nên mới phát hiện Mỹ – Pháp đạo nhạc TCS. 3/4 phát hiện do các bạn đọc blog tôi chỉ ra và báo chí góp phần phát tán tài liệu liên quan. Do vướng liên tiếp các chuyến công tác nước ngoài, tôi không có nhiều thời gian cho đến ngày 29.4. Xin thành thật xin lỗi các bạn nếu không trả lời comment. Ngoài ra số comment chửi bới thỉnh thoảng tôi mới cho lên một cái, để các bạn hình dùng ra chân dung một nhóm fan nào đó của nhạc Trịnh. Đã bước vào thế giới mạng thì phải chấp nhận sống chung với lũ thôi. 🙂

Ảnh: Máy bay vừa hạ cánh xuống Bangkok

Tinh thần Đại Việt

11 Comments

Bài viết này là hàng ế, BBC, Vietnamnet đều không hồi âm… hic… dạo này viết xuống tay quá 😦

—————————————————————————–

Không rõ có ai đã từng tự hỏi từ bao giờ và tại sao đa số người Việt đều cho rằng Việt Nam là một nước nhỏ, thậm chí là nhỏ và yếu. Buổi đầu hiến sử Việt Nam, năm 939, Ngô Quyền ít nhất đã hướng đến một quốc gia độc lập và lớn mạnh, đó phải chăng là lí do ông đặt tên Đại Việt cho vùng đất mình làm chủ? Để ý là diện tích Đại Việt của Ngô Quyền chỉ bằng khoảng một phần ba Việt Nam hiện nay.

 

Từ đó trở đi, quốc hiệu của các triều Đinh, Lý, Trần, Hồ, Lê đều có chữ Đại. Nhà Nguyễn chỉ sử dụng tên gọi Việt Nam từ năm 1802, đến 1838 vua Minh Mạng lại đổi thành Đại Nam. Nhìn rộng ra khu vực ta có Đại Hán, Đại Hàn (Hàn Quốc), Đại Hòa (tên khác của Nhật Bản), Đại Lý (quốc gia cổ của người thiểu số Hoa Nam đã bị diệt vong). Chữ Đại trên không xuất hiện ở các quốc gia Đông Nam Á, điều này khiến ta hình dung thêm một nghĩa nữa của chữ Đại là tôn từ trong khu vực Hán ngữ. Đại trong Đại Việt thể hiện lòng tự tôn của cả một dân tộc, cũng như người xưa tôn trọng ai thì gọi người ấy là Đại nhân.

 

***

 

Khi đã đánh mất lòng tự tôn của ông cha, của hàng ngàn năm lịch sử thì người ta còn lại gì ngoài sự tự ti? Sự tự ti đó có diện mạo như thế nào trong đời sống chính trị xã hội Việt Nam?

 

1. Nước Đại Việt hàng ngàn năm nay nằm cạnh Trung Quốc. Đó chỉ là sự tình cờ chứ không phải thiên mệnh. Thiên mệnh là sản phẩm của những đầu óc tự ti, tự bỉ. Nó thâm căn cố đế trong tiềm thức kẻ hèn nhát, nó chế ngự mọi quyết định của ý thức nơi họ. Rất ít người thấy phản cảm khi nghe lời rên rỉ bi ai: “Một ngàn năm nô lệ giặc Tàu”. Tại sao không thể ngẩng cao đầu và sử dụng mệnh đề tương đương: “Một ngàn năm đánh đuổi giặc Tàu”. Con người chỉ là nô lệ khi họ dễ dàng chấp nhận đời sống nô lệ, mãi mãi đánh mất tự do khi họ xem tù ngục là tổ ấm.

 

2. Để hóa giải “thiên mệnh” ở bên cạnh Trung Hoa, xã hội Việt Nam có hai luồng ý kiến có vẻ trái chiều nhau: Người Việt Nam có gốc Hoa (vì dù gì cũng một ngàn năm nô lệ!) và ngược lại – Người Việt Nam đã di cư lên phía bắc lập nên nước Trung Hoa cổ (ta là bố nó!). Thực ra cả hai nhóm người chủ trương vấn đề này đều ở cùng tầm tư duy thị tộc bộ lạc, còn rơi rớt giữa thời hiện đại trong lề thói làng xã nông nghiệp và sự ganh đua giữa các dòng họ. Người ta lầm lẫn một cách vụng về khái niệm chủng tộc và dân tộc. Rõ ràng người Việt Nam và người Hoa Nam gần như cùng một chủng tộc nhưng thuộc về hai dân tộc khác nhau. Người Trung Quốc di cư sống nhiều đời tại Việt Nam chủ yếu là người Hoa nam, rất dễ dàng bị đồng hóa, đơn giản là vì họ không bước vào không gian của một chủng tộc khác. Có ý kiến cho rằng không nên chọn lãnh đạo Việt Nam nghi ngờ có gốc Hoa vì nguy cơ này nọ là hết sức ấu trĩ. Thử hỏi con cháu Trịnh Kiểm và Nguyễn Hoàng huyết thống tương giao, sao không bắt tay thân thiện hoặc nhường nhịn nhau, “bán nước” cho nhau để quốc gia tránh được binh đao máu lửa mấy trăm năm? Họ Nguyễn Tây Sơn có xem ruột rà máu mủ là gì không? Anh lên ngôi thì em cũng xưng vương, vua Thái Đức Nguyễn Nhạc phải lên vọng đài thành Quy Nhơn than khóc “Bản thị đồng căn sinh” thì Bình Định Vương Nguyễn Huệ mới lui quân.

 

3. Hội chứng “thiên mệnh” sẽ dẫn đến tình cảm yêu – ghét giữa đất nước Việt Nam và Trung Quốc trong quan hệ đối ngoại, đặc biệt ở những vấn đề còn tranh chấp. Trong dân chúng nó sinh ra hiện tượng “bài Hoa”. Ở chính trường nó gây hoang mang, dè đặt, cảnh giác, từ mâu thuẫn biển đảo lan sang các lĩnh vực khác. Người Việt Nam cần tận dụng lợi thế ở cạnh Trung Quốc đang phát triển như vũ bão, hơn là thổi phồng nó lên thành con ngáo ộp rồi bất lực ngóng chờ vận may. Nguy cơ hay cơ hội, phụ thuộc vào góc nhìn chủ quan có sáng suốt và lành mạnh hay không.

 

Trên bàn cờ thế giới, bênh vực kẻ yếu người ta gọi là đạo đức. Nếu không đủ mạnh mẽ, đầu tiên là ở ý chí, thì chắc chắn sẽ chỉ nhận được hàng mớ đạo đức giả mà thôi. Ví dụ gần đây nhất là những gì diễn ra tại Gruzia nửa cuối năm 2008.

 

Ở mức độ hiểu biết hạn chế nhất về lịch sử Trung Quốc mấy ngàn năm nay, cũng nên tin rằng lãnh đạo của họ đã chủ động và cân nhắc rất kỹ lưỡng mỗi lần đưa ra một động thái lãnh thổ với các lân bang. Chúng luôn nằm trong tổng thể trọn gói chính sách chính trị lớn và hoàn chỉnh, chứ không bao giờ đơn giản là ngẫu hứng đơn độc. Đôi khi thất bại ở mắt xích nào đó lại chính là cái người ta mong muốn. Có đủ tự tin mới khó bị cuốn vào tâm điểm ảo và dễ dàng hóa giải thiên la địa võng.

 

***

 

Hàng ngàn năm lịch sử, hơn ba trăm ngàn cây số vuông lục địa, hàng triệu cây số vuông biển đảo, gần chín mươi triệu khối óc, Việt Nam dứt khoát không phải là một nước nhỏ trên bản đồ thế giới.  Tâm thế ấy phải được hoàn nguyên trong tinh thần Đại Việt truyền thống. Nó sẽ là bục lấy đà, là đôi cánh đưa dân tộc Việt Nam tiến về phía trước.

Hồng đậu sinh Nam quốc

6 Comments


Tương tư

Hồng đậu sinh nam quốc
Xuân lai phát kỷ chi
Nguyện quân đa thái biệt
Thử vật tối tương tư.

————————————-

Hôm nay nghe bài hát Hồng đậu sinh Nam quốc. Giọng ca Đồng Lệ lịm ngọt. Chợt nhớ đêm qua quên thắp nhang ngày rằm cho gia tiên và con gái Tiểu Hồng.

Ca sĩ Đồng Lệ

Quả là văn hóa Trung Hoa có những đường dẫn cổ xưa nhưng mãi mãi tráng lệ và hiện đại. Chẳng hạn đọc câu Kinh Thi “Quan quan thư cưu”, ta đã đi xuyên qua trên dưới ba ngàn năm lịch sử của một nền văn học từ dân gian đến hàn lâm.

Bài Tương Tư ở trên của Vương Duy thời Đường. Nó nói về lòng thương nhớ của người vợ có chồng lưu lạc trong những đoàn quân đế quốc nam chinh.

Quả Đậu đỏ còn gọi là Tương tư đậu

Hồng đậu sam

Hồng Đậu là loại đậu đỏ phổ biến ở Lĩnh Nam thời ấy. Nó biểu trưng cho những trái tim đôi lứa tràn đầy yêu thương nhung nhớ, gần giống cách người Pháp đã làm với hoa Tigôn. Giữa ngày xuân, thiếu phụ mơ ngóng về phương nam, nơi những cành đậu đang đâm cành trổ lá. Nàng ước ao chàng sẽ hái thật nhiều Hồng đậu mang về bắc. Ước mơ càng giản dị thì giá trị tố cáo của nó đối với chiến tranh bành trướng và chinh phạt càng cao.

Muôn đời nay nhân dân Trung Quốc và tính nhân văn trong văn hóa Trung Quốc luôn đối lập với các tập đoàn cầm quyền, ít nhất là ở khát khao hòa bình, yêu thương, đoàn tụ.

Chắc ai cũng biết hiện nay Hoa kiều trên thế giới có hai ngày quốc khánh. Trong một khu phố Tàu thương mãi sầm uất điển hình tại Los Angeles chẳng hạn, khi nhóm Cộng múa lân đốt pháo vào ngày 01.10 thì nhóm Quốc vui vẻ ra xem, điều ngược lại sẽ diễn ra sau đó chín hôm. Họ rất ít khi bới móc nhau anh đúng tôi sai .v.v..

Và đặc biệt người Trung Quốc không có ngày chiến thắng trùng với quốc hận. Điều đó không lạ tí nào, nếu bạn biết và thấu hiểu những hình tượng sâu xa trong những bài thơ kinh điển như Tương Tư của Vương Duy, Lương Châu Từ của Vương Hàn.

——————————–

Xem thêm: Bình thơ Lương Châu Từ [https://truongthaidu.wordpress.com/2007/12/07/phe-binh-l%C6%B0%C6%A1ng-chau-t%E1%BB%AB/]. WordPress dạo này không thể add link.

Nỗi niềm hòa bình

2 Comments

21/04/2010 | 7:00 sáng | Chưa có phản hồi.

Chuyên mục: Nhìn lại cuộc chiến 1954-1975
Thẻ: > >

Từ Bắc vô Nam tay cầm bó rau. Tay kia cầm sợ dây, dắt theo con cày.” Không lâu sau ngày 30.4.1975 người Sài Gòn đã hát câu ấy. Họ nhại theo giai điệu mà họ Trịnh truyền qua làn sóng phát thanh đến hàng triệu con tim Việt Nam, ngay sau khi tướng Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng.

Nối vòng tay lớn?

Thời điểm ấy y gần bảy tuổi. Chiếc loa công cộng cuối phố vỡ òa ngôn từ chiến thắng và những bản hùng ca. Song, y nhớ chính xác mẹ mình đã ôm chặt ba đứa con, nức nở nỗi niềm “hòa bình”. “Hòa bình rồi các con ơi!”, mẹ y đã thốt lên như vậy. Y tin chắc rằng các bà mẹ Việt Nam đều giống nhau. Nếu không có hòa bình, vài năm nữa thôi, mẹ y lại phải tiễn các con ra trận, như đã tiễn em, tiễn cháu mình và không chảy nổi nước mắt khi nhận những tờ giấy báo tử vô hồn. Đến bây giờ y mới biết rằng “chiến thắng” và “hòa bình” có khoảng cách rất xa, từ “quan nối đời” đến “dân vạn đại”.

Cái giọng Bắc của anh em y, người miền Tây Nam Bộ xác định là giọng Huế, dân Sài Gòn chính xác hơn: “Bắc Kỳ ăn cá rô cây. Ăn nhằm lựu đạn chết cha Bắc Kỳ”. Văn học dân gian gọi đấy là đồng dao chăng? Y không rõ. Đó là bài ca ưa thích của lũ trẻ dưới mái trường XHCN vừa trưng thu từ Nhà thờ Công giáo. Một trong những con chiên của cái nhà thờ ấy, bằng giọng Bắc 1954, đã xui anh em y cứ vui đùa ngoài xa lộ thỏa thích. Xích lô máy và xe lam nườm nượp xuôi ngược đi và đến Bến xe Miền Đông sẽ tự biết đường mà tránh con “cán bộ”!? Y ngạc nhiên lắm, nhưng không thể lý giải logic kì cục kia. Tuy vậy mỗi khi cha y cẩn thận lau chùi khẩu súng lục được phát để phòng thân, y cảm thấy an toàn lắm lắm. Y luôn hoàn thành nhiệm vụ canh gác gian bếp nhìn ra khoảnh giếng trời chung của mấy gia đình. Mẹ y bảo đã có trường hợp hàng xóm bỏ thuốc độc vào nồi canh đang nấu của một nhà “Bắc Kỳ” nọ.

Xích lô máy Sài Gòn rất ấn tượng, tiếng nổ như súng liên thanh.

Y có người bạn Nam Bộ đầu tiên sau khi trải qua ba bốn cuộc thư hùng chân tay, u đầu sứt trán vì “bất đồng ngôn ngữ”. Bạn bảo: “Cha tao đang đi học tập mút mùa Lệ Thủy ở quê ngoại mày đó”. Y không thấy chút hận thù nào trong đôi mắt kẻ đồng trang lứa với mình. Chỉ có một câu hỏi ngây ngô bị vo tròn, nổi lềnh bềnh trên nỗi buồn trống vắng tinh khôi. Bảy năm sau y mới gặp cha bạn. “Kẻ thù của nhân dân” ăn chay ngay sau khi được tổ dân phố nhóm họp biểu quyết thuận tình trao quyền “công dân XHCN”, sáu tháng kể từ ngày ông được đoàn tụ cùng gia đình. Ông hiền như bụt, không nửa lời trách vợ có dạo phải son phấn đứng đường. Phải chăng “hòa bình” đã khiến gia đình bạn chịu trăm cay ngàn đắng? Bà mẹ nên được xem như gương tiết liệt?

Sau đôi ba ban học, y đã trở thành người Sài Gòn trăm phần trăm, từ giọng nói đến tác phong sinh hoạt. Y hát tân cổ giao duyên không chê vào đâu được: “Tổ quốc ơi, ăn khoai mì mãi mãi. Từ trận thắng hôm nay, ta ăn độn bằng mười. Từ trận thắng hôm nay ta ăn độn nhiều hơn…”. Những ngày đói vàng mắt ấy, đến mùi mỡ sa lợn xề hiếm hoi dậy lên lúc ai đó nấu ăn, cũng làm đám trẻ con ham chơi đùa trong khu xóm bâng khuâng và ao ước.

Khoai mì hay sắn lát, thứ độn cơm một thời.

Chẳng biết có phải do kinh nghiệm trùm chăn bông trốn bom B52 vào mùa đông năm nào, y dễ dàng phân biệt được tiếng gầm đại bác từ biên giới Tây Nam với kiểu nổ bùm bụp của lò ngô bung cùng dãy phố. Bà “cố Tàu” cách nhà y một căn lại không được như vậy, mỗi khi nghe tiếng nổ bà lại cuống quít vài câu Việt ngữ ngọng nghịu: “Giặc lùn đến rồi, Nhật đến rồi. Chạy đi, không chết hết!”. Cuối cùng Hội phụ nữ phường cũng mời họ trao đổi gì đó. Gia tộc bà lặng lẽ về Rạch Giá mua thuyền ra biển lớn, đương đầu với sóng dữ và cướp biển. Mười năm sau y mới ngộ ra giải liễn mồ côi nhưng bắt mắt nhất trong nhà bà vốn là hai câu thơ trong bài Thất bộ thi của Tào Thực: “Bản thị đồng căn sinh. Tương tiễn hà thái cấp”.

*

30.4.1975 mãi mãi là một dấu mốc quan trọng trong đời y, còn hơn cả ngày sinh của y nữa. Không phải nó luôn được nhắc đến mỗi khi y làm giấy tờ đi học hoặc đi làm. Lý lịch cá nhân và gia đình ba đời y đôi khi còn cả mốc trước và sau 1954 nữa. Cứ thêm một ngày 30.4 là y hiểu thêm một chút ý nghĩa nỗi niềm hòa bình của cha mẹ mình, cũng như rất nhiều người Nam Bộ thời ấy, qua những câu chuyện khơi gợi trà dư tửu hậu. Y kết luận rằng có đến 80% người dân Việt Nam nghĩ đến hòa bình và thống nhất, hơn là chiến thắng, trong ngày 30.4.1975. Đáng buồn là, với nhiều cộng đồng và xã hội Việt Nam đây đó trên hoàn cầu, nguyên nghĩa của đa số hay bị đảo pha sang “quốc hận” hoặc “chiến thắng”, như trêu ngươi và âm mưu tiếp tục đối chọi nhau. “Hòa hợp” chưa đủ sức sống, trung thực và dũng cảm để mà đâm chồi trên đau thương cũ.

Thật ra rất khó có thể nhìn cuộc chiến 1954-1975 dưới nhãn quan nhị nguyên đúng và sai được. Y biết rằng luôn luôn tồn tại những cặp nguyên nhân song hành với nhau, chia đều, đứng về phía này và phía kia. Khi còn đứng ở phía này hay phía kia để nhìn nhận cuộc chiến, thì hận thù và chia rẽ sẽ chẳng bao giờ mất đi. Có người còn bảo hãy để những năm tháng dằng dặc bi thương ấy lụi tàn!? Chẳng khác nào những cánh bướm lộng lẫy cần quên thời gian là con sâu xấu xí, nằm trong cái kén xám xịt tối tăm. Thậm chí, nhà thơ Linh Phương đã cố gắng đứng giữa hai bên, nhưng ông vẫn phải nghiền ngẫm cay đắng:

Tôi xin được hỏi đồng bào của tôi

Những người lính Bắc Việt chết – đều được trở về nhà

Những người lính Mỹ chết – đều được trở về Tổ quốc

Những người lính Việt Nam Cộng hòa chết – vẫn còn nằm nơi rừng thiêng – nước độc

Còn nằm bên núi đá lạnh căm căm

Đâu là nhân bản – đâu là nhân văn

Đâu là người Việt Nam cao thượng

Đâu là người Việt Nam anh hùng

Sao nỡ để tồn tại những điều oan trái?

Tôi xin được hỏi đồng bào thân yêu của tôi ở hải ngoại

Tôi xin được hỏi đồng bào thân yêu của tôi ở quê nhà

Ba mươi hai năm cuộc chiến trôi qua

Vì đâu hận thù vẫn còn ở lại?

Giữa những người Việt Nam với nhau, 30.4.1975 hoàn toàn có cơ hội trở thành ngày tụng ca hòa bình, hòa hợp và hòa giải. Cái họ thiếu luôn là thiện chí và lý tính.

Huntington xếp Việt Nam nằm ở vùng biên viễn của “Thế giới Trung Hoa” (http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/story/2008/12/081231_china_truongthaidu.shtml)

Nhìn rộng ra nhân loại, 30.4.1975 ít nhất cũng là bài học lịch sử đắt giá không thể lãng quên cho người Việt Nam. Theo thuyết đụng độ giữa các nền văn minh của Huntington thì Việt Nam nằm ở nơi đứt gãy và liên giao của các nền văn hóa Trung – Ấn – Âu. Ông cho rằng thế kỷ 21 (cụ thể là năm 2010), chiến tranh thế giới có khả năng xảy ra tại đây. Ở góc độ hẹp và được cộng hưởng nào đấy, Huntington hữu lý khi cho rằng Việt Nam từng là điểm nóng của chiến tranh lạnh, nơi hai thế giới tư bản và cộng sản cọ xát.

*

Ba mươi lăm năm đã đi qua như một chớp mắt. Vẫn còn đấy nhiều suy tư lắng đọng và lưu cữu. Người ta sẽ chẳng đi đến đâu, nếu không đặt suy tư ấy trên căn bản của nỗi niềm hòa bình nhân bản và những bài học đau thương trong giai đoạn 1954 – 1975.

Thạch Viên, Nhơn Trạch

18.4.2010

© 2010 Trương Thái Du

© 2010 talawas

Văn hóa phật giáo nền tảng của văn hóa Việt Nam

1 Comment

GS Thái Kim Lan có những suy nghĩ rất giống điều tôi đã thể hiện trong bài viết “Sức mạnh mềm Việt nam”.

———————————————————————————————————-

Thanh Tri thực hiện
Tia Sáng
07:48′ AM – Thứ sáu, 09/04/2010

Giáo sư Thái Kim Lan hiện đang dạy tại Đại học Ludwig- maximilian, Munich, Đức về Triết học và Phật học và là Chủ tịch Trung tâm giao lưu văn hóa Đức – Châu Á. Chúng tôi có buổi trò chuyện với Bà về những vấn đề của văn hóa Phật giáo Việt Nam.

Thưa GS, văn hóa là một vấn đề rất chung nhưng cũng rất riêng và ai cũng có văn hóa nhưng không ai giống ai. Vậy thế nào là văn hóa Phật giáo Việt Nam?

Văn hóa Phật giáo Việt Nam là nền văn hóa lấy giáo lý đức Phật làm trung tâm, xây ra trên đất nước Việt Nam, cho con người Việt Nam, trong xã hội Việt Nam, trong lịch sử Việt Nam… gọi là văn hóa Phật giáo Việt Nam. Cụ thể, nếu ta lấy sự truyền bá Phật giáo vào Việt Nam cách đây 2000 năm thì đồng nghĩa với ta có chừng ấy năm văn hóa Phật giáo Việt Nam. Như vậy, qua thời gian văn hóa Phật giáo đã thấm nhuần vào phong tục tập quán, lối sống, hình thành tư tưởng tình cảm… của người Việt Nam. Tất cả những cái đó gọi là văn hóa Phật giáo Việt Nam.

Văn hóa phật giáo Việt Nam được thể hiện trên rất nhiều phương diện. Vậy trọng tâm của văn hóa Phật giáo Việt Nam là gì?

Đó là đạo đức. Vì văn hóa Phật giáo nhấn mạnh đến cách thế sống của con người trong môi trường xã hội Việt Nam. Nó định hướng cho con người tư duy và hành động để đạt đến mục đích sống cao nhất cho bản thân và cộng đồng xã hội, thậm chí là môi trường thiên nhiên. Đó là tính thiện, tính hướng thiện. Điều này chúng ta có thể dễ dàng bắt gặp qua ca dao tục ngữ: “ở hiền gặp lành”, “ác giả ác báo”, “nhân nào quả nấy”… đó đều là những phạm trù đạo đức.

Xin GS thử định vị trí của văn hóa Phật giáo trong dòng chảy văn hóa Việt Nam?

Nó là nền tảng của văn hóa Việt Nam. Tôi nói nền tảng bởi vì nó là cơ sở để người Việt tồn tại và phát triển trên phương diện quốc gia, dân tộc, tư tưởng… Chúng ta biết sự kiện 1000 năm đô hộ của người phương Bắc. Sự đô hộ tất nhiên diễn ra trên tất cả mọi phương diện, nhưng nặng nề nhất là ở tư tưởng. Nếu sự đô hộ bằng biên giới thì sau khi đanh đuôi kẻ thù ra khỏi biên giới là hết, còn vấn đề tư tưởng nó nằm trong đầu không dễ gì gột rửa được, thậm chí kéo dài cả nghìn năm, và rất nhiều dân tộc trên thế giới bị biến mất bằng mỹ từ đồng hóa.

Trung Quốc đã dùng Nho giáo để khống chế tư tưởng dân tộc ta cho mục đích đồng hóa. Chính lúc đó Phật giáo với những nét gần gũi, dung dị mà sâu lắng phù hợp với dân tộc ta được lựa chọn để làm công cụ đề kháng lại với tư tưởng Đại Hán xâm lăng phương Bắc, cho sự độc lập của dân tộc, điển hình là những trường hợp các vua đời Lý, đời Trần. Có thể nói tuyên ngôn độc lập của những tiền nhân này khởi từ ý thức và trải nghiệm về khái niệm “giải phóng khổ đau”, từ sự vận dụng trí tuệ khai phóng, từ chí nguyện thực hiện từ bi cho người bị áp bức, nghèo khổ, và uy dũng quyết tâm thực hiện chính nghĩa con người.

Một ví dụ nữa. Festival Huế tố chức rất nhiều lần, nhưng tôi cảm giác chưa chạm được đến chiều sâu nhất của văn hóa Huế, điều đó cũng có nghĩa là chưa thành công. Bởi vì sâu nhất của văn hóa Huế là Phật giáo. Văn hóa Phật giáo bàng bạc trong không gian, thấm đẫm trong hồn người sông Hương núi Này chừng nào chưa khai thác, khai thác chưa hết yếu tố này chừng đó Festival Huế vẫn chưa thành công.

Nói Phật giáo là hệ tư tưởng cho độc lập dân tộc. Nhưng Nho giáo là sản phẩm của dân tộc Trung Hoa, Phật giáo là sản phẩm của dân tộc Ấn Độ. Không ảnh hưởng Nho thì ảnh hưởng Phật, bản chất của nó đâu có gì khác nhau?

Khác nhau rất nhiều. Nho giáo đã là hệ tư tưởng của kẻ thù thống trị dân tộc ta, và ra sức đồng hóa dân tộc ta qua con đường văn hóa Nho giáo. Để thoát, khỏi một ảnh hưởng văn hóa phải dùng một hệ thống văn hóa khác xứng tầm. Lúc này văn hóa Phật giáo là duy nhất để lựa chọn. Hơn nữa, Ấn Độ ở rất xa ta và chưa bao giờ xâm lược ta. Mặt khác, ở đây ta xét đến tính nội tại của văn hóa phật giáo. Đó là tính độc lập rất cao. Nó phá vỡ mọi lệ thuộc, đưa con người đến đỉnh cao của chân lý và sáng tạo. Một đặc điểm nữa, Phật giáo là một nền văn hóa mở, ở đó dân tộc ta có thể tìm thấy những điều phù hợp cho mình, và sáng tạo đóng góp vào hệ thống giá từ đó, nên ta mới có Phật giáo Việt Nam, khác với Phật giáo các nước.

Như GS nói Phật giáo có rất nhiều cái hay. Nhưng chúng ta thấy ngày nay đến với Phật giáo chỉ có những người lớn tuổi, người không còn những khát vọng trần thế. Phải chăng Phật giáo ít chia sẻ những giá trị thời đại?

Đúng là hiện nay Phật giáo ít quan tâm đến nhu cầu của giới trẻ để có cách tiếp cận phù hợp nên không thu hút được họ là đương nhiên. Giới trẻ ngày nay nghĩ gì, thích gì, có những đau khổ gì đó là những vấn đề phải được đặt ra, trên cơ sở đó đem tinh thần khế lý khế cơ của Phật giáo ra mà vận dụng đế đáp ứng. Đáp ứng được thì họ theo là tất nhiên. Đây là tại chúng ta chưa vận dụng, không vận dụng, chứ không phải Phật giáo không có khả năng đáp ứng. “phật giáo tại thế gian, bất ly thế gian giác” tôi nghĩ đây là then chốt của vấn đề, và đây cũng là trách nhiệm của ngành văn hóa Phật giáo. Hơn nữa, có ai “mới” và “trẻ” hơn vị Phật Hoàng Trần Nhân Tông cách đây hơn 700 năm, với công án dành cho hậu thế: hãy sử dụng gia tài văn hoá Phật giáo như chìa khoá mở cửa sáng tạo!

Điều tâm đắc nhất GS muốn chia sẻ là gì?

Như tôi đã nói đó là đạo đức Phật giáo. Đạo đức xã hội đang xuống cấp đến mức báo động. Con đánh cha, vợ giết chồng, thầy giáo xâm hại học trò, cán bộ tham nhũng, người dân xem thường pháp luật, giới trẻ ngày càng sa đọa… đó là những biểu hiện băng hoại đạo đức trong xã hội, trong khi Phật giáo có một kho tàng đạo đức đồ sộ được kiểm định chất lượng qua lịch sử dân tộc, được cộng đồng quốc tế công nhận mà không đem ra ứng dụng được thì rất đáng tiếc. Tất nhiên để đi đến tình trạng này có rất nhiều nguyên nhân như chiến tranh và nhiều vấn đề khác nữa. Nhưng đây là thời điểm thích hợp để ta làm những việc này.

Hội nhập là xu thế tất yếu ngày nay, GS nghĩ Phật giáo có thể đóng góp được gì cho xu thế đó?

Rất nhiều. Tôi nói cụ thể, hội nhập với quốc tế là để thế giới thấy được cái hay cái đẹp của Việt Nam, và học hỏi người ta để nâng cao đất nước, con người, văn hóa mình, chứ không phải chìm nghỉm trong bể mênh mông của văn hóa nhân loại. Muốn như thế thì những gì là tinh hoa của ta phải định cho rõ, phải phổ cập cho rộng rãi, phải thấm nhuần cho sâu xa. Ở đây, như tôi đã nói từ đầu, văn hóa Phật giáo qua thời gian đã thấm nhuần trong phong tục, tập quán, trong tâm tư, tình cảm giúp định hình nên cốt cách Việt… đây là điểm rất quan trọng mà ngành văn hóa Phật giáo nói riêng, Giáo hội Phật giáo nói chung phải nắm thật chắc để vun đắp cho cội nguồn văn hóa Việt. Nếu làm được như thế sẽ là một đóng góp vĩ đại nữa của Phật giáo cho dân tộc trong thời đại mới. Tôi xin nhắc một câu của Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông: “đừng để tầm thường xuân luống qua”.

Xin cảm ơn GS về buổi nói chuyện này.

Nguồn: Tia Sáng
Số lượt đọc:  382 –  Cập nhật lần cuối:  08/04/2010 03:18:06 PM

Older Entries

Anle20's Blog

Just another WordPress.com weblog

levinhhuy

Quắc mắt xem khinh nghìn lực sĩ/ Cúi đầu làm ngựa bé nhi đồng

thôn Sấu

Quê hương yêu dấu (Dọc hành chấm đứng). Xin các bạn vui lòng ghi rõ nguồn và dẫn link đến trang này nếu đăng lại bài của tôi

thienthanh2017.wordpress.com/

Thượng thiện nhược thủy, thủy thiện lợi vạn vật nhi bất tranh - Lão Tử

Học Thế Nào

How We Learn

leminhkhaiviet

About Vietnamese Cultural History and Scholarship

Xuân Bình

Nhà báo tự do

Nguyễn Huy Hoàng

the star is fading

Nghiên cứu lịch sử

Các bài nghiên cứu, biên khảo và dịch thuật các chủ đề về lịch sử

Le Minh Khai's SEAsian History Blog

Always rethinking the Southeast Asian past

trinhythu

Trịnh Y Thư WordPress.com site

trandangtuan.com

Men lá rượu ngô trong

4th Avenue Café

Free non-fiction translation

WordPress.com

WordPress.com is the best place for your personal blog or business site.

Trương Thái Du's Blog

Văn chương thiên cổ sự - Đắc thất thốn tâm tri...

No More Goat Soup

No goats were harmed in any way while making this blog. (We did kill all the sheep though)